. .

Wednesday, March 25, 2009

MÁU VÀ NƯỚC MẮT TRÊN LƯNG TRƯỜNG SƠN - HẢI TRIỀU

Nhà Văn Hải Triều đang ngồi. hàng đứng, từ phải sang: phóng viên Tuyết Mai, GS Nguyễn Ngọc Bích.
Copyright 2003 by Hải Triều Lê Khắc Hai
All Rights Reserved
Printed in United State of America, June 2007
Bản Quyền : Hải Triều Lê Khắc Hai
Nguyệt San Việt Nam PO. Box 74103 Hillcrest Park. PO Vancouver. BC – V5V 5C8 – Canada nsvietnam@yahoo.com 604. 879. 1179 Trình bày/edit : Lê Khắc Anh Hào Bìa : Hy Phạm In tại nhà in T&L Printing Inc. 17331 Newhope St, Fountain Valley, CA 92708, USA
Phone : 714. 435. 0893

Tủ Sách Việt Nam 2007

Xén nửa vầng trăng trời Thăng Long
Soi nghiêng thành quách dấu tiên rồng
Miếu đền ủ mục mầu hoang phế
Hà Nội cúi đầu em biết không?
Lê Khắc Anh Hào

Nhân đọc Nhật Ký Đặng Thùy Trâm do Hội Nhà Văn Hà Nội phát hành 2005

Chủ trương : Hải Triều/ Nhóm Nhà Văn quân đội
Điều hợp và thực hiện tác phẩm : Hải Triều
Phụ bản : Trần Trung Đạo, Triết Đức Chính, Phạm Tín An Ninh, Ngọc Lan, thơ và các trích dẫn …

MỘT

Nhập Đề
Tôi đọc Nhật Ký Đặng Thùy Trâm khi quyển sách này lọt ra nước ngoài, tập sách do Nhà XB Hội Nhà Văn Hanoi in ấn và phát hành 2005, phát hành gấp rút, vội vã, ào ạt, với một chiến dịch quảng cáo ồn ào trong toàn đảng toàn dân toàn nước. Tập Nhật Ký Đặng Thùy Trâm như một cơn mưa bất chợt trong cơn nắng hạn mà chế độ Hanoi mong chờ, và khi có được, họ tung ra trong nhu cầu tuyên truyền sau ba mươi năm hiện nguyên hình là một chế độ không tự lo nổi cơm áo cho dân, “độc lập tự do hạnh phúc” thành cái bánh vẽ của một thiểu số độc tài, tham nhũng, coi hạnh phúc của muôn dân và biên thổ của tổ tiên như cỏ rác …

Hạnh phúc của muôn dân, ngoài cơm áo sinh sống và mái nhà trú thân, nó còn cả những thứ tự do để con người còn được là con người, trong đó quan trọng hơn hết là Tự Do Tư Tưởng. Chính trị, tôn giáo và báo chí nằm trong lĩnh vực của tự do tư tưởng. Những thứ này bị chế độ Hanoi khước từ, chà đạp và nghiêm cấm.

Trong những năm gần đây, vì nhu cầu kinh tế, để sống còn, chế độ Hanoi phải đối mặt với thực tế, phải nới lỏng cho dân được sinh sống hạn chế dưới cái khung tư bản, và nhờ đó người dân mới được có một chút sinh khí để sống.

Chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa Mác Lê, “tư tưởng” Hồ chí Minh … không đóng bất cứ vai trò gì trong việc người dân trong nước sống khá hơn so với hai thập niên đầu khi cộng sản mới chiếm được miền Nam. Và nên nhớ, nhờ cái khung tư bản “nửa nạc nửa mỡ định hướng xã hội chủ nghĩa” đó mà tập đoàn thống trị cả nước ở VN trở thành những tay tư bản đó bạc triệu bạc tỉ đô la …

Thế nhưng, để bảo đảm những cái gì chế độ Hanoi hưởng dụng, họ phải duy trì hệ thống cai trị độc tài, độ đảng, độc quyền, họ phải kềm chế quyền tự do tư tưởng của muôn dân vì đây chính là lĩnh vực có thể làm nổ tung ra một cuộc cách mạng dân tộc tự phát hay tác động dây chuyền từ những yếu tố kinh tế hay xã hội, mà hậu quả dẫn đến sự sụp đổ hay xóa sạch chủ nghĩa hay hệ thống cộng sản tại Việt Nam, từ đó bao nhiêu tài nguyên của cải vật chất mà tập đoàn thống trị cộng sản vơ vét được từ 1975 đến nay có thể trở thành cát bụi trong cơn lốc uất hận của muôn dân. Họ sợ nhất điều đó.

Đó là lí do vì sao ngay sau khi vào vai trò thủ tướng, và ngay sau khi hội nghị thượng đỉnh APEC bế mạc, nhận chỉ thị của BCT VC, Nguyễn tấn Dũng đã ký Chỉ thị 37CP nhằm kiểm soát và khống chế khắc nghiệt truyền thông báo chí trong nước dưới mọi hình thức thể hiện, trong đó họ tuyệt đối cấm tư nhân ra báo. Tại sao họ lại sợ? trong khi họ đang cầm chìa khóa nhà tù, làm chủ những khẩu AK của binh lính và công an? Họ sợ những tiếng nói kêu gọi tự do có thể dấy lên một cơn bão là vuột khỏi bàn tay “chắn gió” của họ.

Nói chung, tất cả, từ tư tưởng trong đầu con người cho đến cây bút trong tay kí giả, đều phải gom vào trong một tay đảng CS. Sự ra đời của tập Nhật Ký Đặng Thùy Trâm cũng nằm trong mưu đồ này. Nhật Ký Đặng Thùy Trâm hoàn toàn là công cụ tuyên truyền trong tay đảng CS Hanoi, cũng như Đặng Thùy Trâm năm xưa, bị đẩy vào chiến trường miền Nam mà CS gọi là “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Đảng CS Hanoi đã mù lòa và mê muội hóa tất cả bao lớp thế hệ thanh thiếu niên miền Bắc, bao núi máu xương của hàng hàng lớp lớp tuổi trẻ VN đã đổ ra cho cuộc xâm lăng phi nghĩa cưỡng chiếm miền Nam. Đặng thùy Trâm là một trong bao người tuổi trẻ yêu nước cuồng nhiệt bị lợi dụng trong cơn mê muội chủ nghĩa đó.
Trong tập sách “Thép Đã Tôi Thế Đấy” (How the steel was tempered), nhân vật Pavel Korchagin chính là hình ảnh của nhà văn trẻ Nga dưới thời Staline : Nikolai Ostrovsky, nồng nhiệt tin vào chủ nghĩa CS cũng như Đặng thùy Trâm có lần tin vào đảng CS và Ho chi Minh, điểm chung là cả hai đều bị đảng CS, Staline và Ho chi Minh lợi dụng triệt để, điểm chung là cả hai đều bị chết trước khi kịp thấy sự diệt vong của chủ nghĩa CS và mặt thất của đảng CS : dối trá, phản trắc, dã man, giết chóc, tàn bạo. Không biết nước Nga có bao nhiêu Pavel, và “miền bắc XHCN” có bao nhiêu Đặng thùy Trâm?

Máu và nước mắt trên lưng Trường Sơn của hàng hàng lớp lớp thế hệ trẻ VN xa lìa quê hương miền Bắc để đi B vô chiến trường miền Nam chắc chắn cũng nhiều như những cơn mưa rừng đổ xuống núi đồi trùng điệp trên lưng “Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây”, dọc biên giới Lào Việt. Nhưng khi chạm trán với sự thật trên chiến trường miền Nam, những giọt nước mắt đổ xuống lưng Trường Sơn Đông – đổ xuống lưng Trường Sơn Tây của những người bộ đội hoàn toàn không giống nhau. Nước mắt của người bộ đội tên hiệu Huyền Trân trong hai bài thơ “Gởi Mẹ” rõ ràng là không giống với những giọt nước mắt của Đặng thùy Trâm ở núi rừng Đức Phổ, Quảng Ngãi…
Tác phẩm “Máu và nước mắt trên lưng Trường Sơn” ra đời hoàn toàn cốt để nhắm vào đảng CS và nhà cầm quyền Hanoi sau khi chúng tôi đọc tập “Nhật kí Đặng thùy Trâm”. Đặng thùy Trâm là nạn nhân của chế độ CS, Đặng thùy Trâm không phải là đối tượng tấn công của chúng tôi. Về mặt nhân bản và dân tộc, chúng tôi tôn trọng tình cảm hoàn cảnh, và lòng chân thật của Đặng thùy Trâm. Chúng tôi chỉ muốn ngăn chận tác động giả trá của tập Nhật Kí này về mặt tuyên truyền, xâm nhập vào công luận Hoa Kỳ, và giới trẻ VN khi cuốn Nhật Kí này được Hanoi và phản chiến Mỹ chuyển ngữ sang tiếng Anh.

Chúng tôi cố gắng “lật mặt nạ” đảng CS VN để thế giới và người Mỹ biết sự thật và mặt thật của chế độ Hanoi. Đó là lí do tại sao chúng tôi cho phát hành “Máu và nước mắt trên lưng Trường Sơn” bằng cả tiếng Anh, tiếng Pháp lẫn tiếng Việt để cho người Tây phương và các thế hệ VN sinh sau ở hải ngoại có thể tìm đọc và hiểu được những gì đã xảy ra trên quê hương Cha Mẹ các em …

Với mục đích và hoài bão trên, chúng tôi hy vọng rằng tác phẩm “Máu và nước mắt trên lưng Trường Sơn” sẽ giúp mở ra một cánh cửa nhỏ để từ đó, công luận Hoa Kỳ, và các thế hệ trẻ VN trên khắp thế giới, sinh sau 1975, nhận ra phần nào nỗi đau thương nghiệt ngã của dân tộc VN trong cuộc chiến năm xưa, còn kéo dài tới hôm nay ….có gốc rễ cội nguồn từ đâu : Đó chính là do sự ra đời và tồn tại của đảng CS VN trong giòng lịch sử hàng hàng lớp lớp máu xương trên phần đất kéo dài từ Ải Nam Quan tới Mũi Cà Mau.

Sau cùng, nếu có ai cho rằng cuốn sách này có những định kiến và chữ nghĩa kết án nặng nề ông Ho chi Minh và đảng CS VN, thì so ra, dường như nó vẫn còn nhẹ hơn những gì mà Dương thu Hương, Bùi minh Quốc, Trần Khải Thanh Thủy, Lê thị Công Nhân ….viết về cái đảng mà một thời họ đã lớn lên, sống chết, phục vụ, từ tuổi ấu thơ đến hôm nay dưới “khung trời xã hội chủ nghĩa” miền Bắc VN.

Dưới ánh sáng của Sự Thật và văn minh, lịch sử sẽ mở ra những trang Thật khi con người thức tỉnh…

Hải Triều




Xẻ dọc Trường Sơn em vào Nam
Vượt rừng bạt núi rét căm căm
Em đi quên tháng quên năm
Tuổi Xuân tan nát giữa hầm đạn bom

Xẻ dọc Trường Sơn giải phóng ai
Ôi em oan nghiệt tấm hình hài
Hồn em trong gió thở dài
Xác em Hà Nội hay ngoài gió trăng?

Lê Khắc Anh Hào



HAI

Đảng cộng sản Việt Nam : Bóng dáng những vết đen đậm nét …


1

“Một sai lầm khổng lồ đã giết hại hàng trăm ngàn dân vô tội. Hàng ngàn cô nhi quả phụ đeo khăn trắng, từ những làng mạc xa xôi, đã đến văn phòmg LS của tôi, yêu cầu tôi phục hồi danh dự cho vong linh những người đã chết, và đặt vấn đề trách nhiệm của đảng, của những thủ phạm..”
(Un eurreue colossale a couté la vie à des dizaines de milliers d’innocents. Des milliers de veuves er d’orphelins enturebantés de blance son venus à mon cabinet d’avocat, de tous les coin du pays, pour me demander de faire réhabiliter la mémoire des victimes et de soulever la responsabilité du Parti, des coupables …)

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đọc tham luận trước Đại Hội “Mặt trận tổ quốc” của cộng sản ngày 30/10/1956 đã có nhắc tới tội ác của cộng sản trong cái cuộc gọi là “cải cách ruộng đất”. Và gần bốn mươi năm sau, năm 1992, trong quyển “Un Excommunié” xuất bản tại Paris của ông, ông cũng đã kể lại tội ác này trong đoạn văn được trích dẫn trên.


2

Vì ấu trĩ thờ ơ ngu tối
Vì muốn an thân, vì tiếc máu xương
Cả nước đã quy về một mối
Một mối hận thù một mối đau thương
Hạnh phúc niềm mơ nhân phẩm luân thường
Đảng tới là tan nát cả

Lịch sử sang trang, phũ phàng tai họa
Nào đâu chính nghĩa thắng gian tà?!

Nguyễn Chí Thiện




3

Mục Sư Nguyễn Công Chính nói :

“Đảng cộng sản này phạm pháp nhiều nhất. Nhân dân nghèo, nhân dân không biết luật, nhưng nhân dân không phạm luật. Trong khi đó, đảng CS thì viết ra luật nhưng phạm luật vô số kể …Công an Việt Cộng gồm toàn bọn lưu manh ma cô côn đồ, mafia, không chút phẩm chất đạo đức. Bọn chúng chỉ biết ngụy biện để nhằm cướp bức bóc lột. Cộng sản VN chỉ tạo cho người dân nỗi kinh hoàng sợ hãi…”

(Mục sư Nguyễn Công Chính phát biểu trực tiếp từ VN qua phỏng vấn bằng điện thoại ở hải ngoại và được post lên Internet tháng 12/2006)


4

“Chỉ có loài thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại mà chăm sóc cho bộ lông của mình..” – Karl Marx.

Karl Marx phát biểu điều này với cả tấm lòng, và ngày nay lời này ứng nghiệm thực tế vào đảng CS VN : một tập đoàn tội ác đã và đang quay lưng lại với nỗi đau của đồng bào mình, mà chỉ lo chăm sóc cho quyền lực và những đồng đô la của riêng mình trên nỗi khổ hận của đồng bàoHải Triều



BA


Nhật Ký Đặng thùy Trâm, CS Hanoi giết Đặng thùy Trâm lần thứ hai


Tôi, người quyết định thực hiện tập sách “Máu và nước mắt trên lưng Trường Sơn”, là một sỹ quan QL VNCH, một người cầm bút, hiện đang sống lưu vong trên đất khách sau những năm tháng tù đày trên quê hương mình sau 1975, là người cùng thế hệ với Đặng thùy Trâm nhưng mỗi kẻ ở mỗi bên chiến tuyến. Tôi sinh ngày 23 tháng 11 năm 1942, ba ngày trước khi Trâm ra đời, theo như trong tập nhật kí Đặng thùy Trâm thì Trâm sinh ngày 26 tháng 11 năm 1942, nhỏ hơn tôi ba ngày.

Tôi đọc nhật kí Đặng thùy Trâm với cảm giác tội nghiệp cho Trâm, và bỗng có cái cảm tưởng phải chi hai tập nhật kí viết tay của trâm bị mục rã hay bị đốt cháy tại chiến trường Quảng Ngãi, tan biến theo số phận của Trâm, thì ngày nay tôi không sao có được trong tay tập nhật kí này để thấy những trang Nhật Kí và tên của Trâm đã bị đảng CS lợi dụng cho mục đích tuyên truyền.
Phải chi Trâm còn sống, với cái tâm ấy, với tấm lòng ấy, với nhiệt tình ấy, không chừng Trâm, một người con gái có học, con một bác sỹ ở Hanoi, không thuộc giai cấp bần nông, không thuộc thành phần cộng sản sắt máu trong đấu tranh giai cấp …thì có thể hôm nay, Trâm nhận ra mặt thực của đảng CSVN, Trâm có thể là một Dương thu Hương, một Trần Khải Thanh Thủy, đấu tranh không khoan nhượng với đảng cho nền dân chủ của VN cũng không chừng.

Để chuẩn bị cho cuộc chiến xâm lược miền Nam, đảng CS đã tuyên truyền, nhồi nhét, bóp méo miền Nam thành hình ảnh một nửa nước bị áp bức tù đày đói khổ đến nỗi đồng bào miền Bắc hạt muối phải cắn làm hai, hạt gạo cắn làm ba để tiếp tế cho đồng bào và chiến trường miền Nam, để thanh niên và thế hệ trẻ miền Bắc phải “xẻ dọc trường Sơn đi cứu nước”, với quyết tâm “sinh bắc tử nam”, ra đi không hẹn ngày về. Cả một thế hệ thanh niên miền Bắc bị tẩy não để hàng hàng lớp lớp tin theo đảng mà vùi thân dọc theo giải Trường Sơn trên ba vùng biên địa Việt Miên Lào …
Trong cơn mê loạn lịch sử, xâm lược miền Nam đầy gian trá của miền Bắc, người lính miền Nam bị CS miền Bắc gọi là “ngụy” là tay sai đế quốc với vô số tật xấu, còn đối với lính Mỹ là “Ôi, giặc Mỹ chồng bao tội ác của bay đã chất đầy như núi. Còn sống ngày nào, tao thề chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để trả đước mối thù vạn kiếp đó”- đây là bản gốc Nhật Ký Đặng thùy Trâm bị đảng CS cắt ở phân đoạn đầu trang 196, nên không xuất hiện trong bản do Hanoi in và phát hành. Đây là sự cố ý của Hanoi không muốn đoạn văn chống Mỹ nặng nề nầy tác động vào mối bang giao mà chúng đang ve vãn Hoa Kỳ.

Một đoạn khác, Đặng thùy Trâm viết : “…Đường ơi, mỗi lần nhớ đến em là lòng chị lại trào dâng một mối căm thù ngạt thở đối với lũ giặc cướp nước. Phải bắt chúng đền tội, phải trả thù cho em và bao nhiêu đồng chí của ta và bao nhiêu đồng chì đã ngã xuống trong cuộc chiến ác liệt này” –trang 104 phân đoạn đầu bản do Nhà XB Hội Nhà Văn Hanoi phát hành.
Ghi Chú : Lũ giặc cướp, theo Đặng thùy Trâm là quân Mỹ.

Thêm một vài đoạn nữa cho thấy trong đầu Đặng thùy Trâm thì cuốc chiến tranh mà CS miền Bắc phát động vô Nam là cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước” :

“Hôm nọ, gặp mấy chàng trinh sát trẻ măng, nước da trắng dưới lớp lông măng trên má, chắc rằng đó là những học sinh cấp hai mới rời cây bút để nhận khẩu súng lên đường đi chống Mỹ cứu nước, vậy là cả nước lên đường”, hay “trắng một đêm chiến đấu liên tục, ta diệt 14 tăng, 1 HU-A, 15 xe nhà binh, diệt 150 tên Mỹ. Một du kích hy sinh, 2 đồng chí bị thương…” –phân đoạn 2 trang 186, bản do Nhà XB Hội Nhà Văn Hanoi phát hành.

Đoạn văn trong Nhật Kí này cho thấy dưới mắt Đặng thùy Trâm thì du kích VC phải đối đầu, phải đánh, toàn là lính Mỹ…Nhưng chính sự tuyên truyền phi lí này đã rất là lộ liễu y hệt lối nói của đài phát thanh Hanoi và các chuyên viên lừa bịp trong hàng ngũ cộng sản, bởi, đó là một trận đánh mà quân Mỹ chết và thiệt hại nặng nề như nêu trên, mà VC chỉ chết 1, bị thương 2 : Điều này chỉ xảy ra trong mấy cái đầu không tưởng của những kẻ bị nhồi sọ đến mù quáng trong nhận thức. Hơn thế nữa, lính VC gây tổn thất nặng nề cho quân Mỹ như thế kia lại chỉ toàn là du kích mà thôi!
Du kích VC không phải là loại quân chính quy, chẳng thể có vũ khí nào hùng hậu tối tân ngoài khẩu Carbin hoặc cùng lắm là AK, trong khi một trận đánh gây tổn thất cho địch lớn như thế phải cần rất nhiều vũ khí tối tân, và nhất thiết phải là cuộc đụng trận của ít nhất từ cấp quân số từ Tiểu Đoàn tới Trung Đoàn của cả hai bên!!! Sự cường điệu mang tính tuyên truyền, bịa đặt rẻ tiền qua các dòng chữ của Đặng thùy Trâm cho thấy Hanoi đã thành công trong chiến dịch tẩy não thế hệ trẻ miền Bắc.

Về chiến lược tuyên truyền, rõ ràng là Hanoi cố ý tạo ra cho đồng bào, thanh niên miền Bắc, và cả thế giới có cái cảm tưởng là Hoa Kỳ xâm lăng và chiếm cứ toàn miền Nam. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một quân đội chính thống với gần cả triệu quân dưới cờ, đối đầu với Bắc quân để bảo vệ miền Nam tự do trước khi quân Hoa Kỳ vào và sau khi quân Hoa Kỳ rút đi, bị coi như thứ yếu không quan trọng, gần như không có bóng dáng trong tập nhật kí Đặng thùy Trâm do Hanoi xuất bản.

Chế độ CS và những người đứng đầu chế độ Hanoi đã mỵ dân một cách có hệ thống, đã tiêm vào đầu cán binh miền Bắc là vào Nam chống Mỹ cứu nước, để dễ dàng vận động tâm lý thanh niên đi B, và Đặng thùy Trâm là một trong hàng triệu người trẻ miền Bắc đã bị tiêm nhiễm lối suy nghĩ rập khuôn do đảng CS nhồi nhét vào đầu từ thời còn ấu thơ, còn quàng khăn đỏ ở bậc tiểu học.

Gần như trong toàn bộ tập nhật kí này, cuộc chiến long trời lở đất tại miền Nam không hề thấy bóng dáng người lính của QL VNCH. Nhưng, chính QL VNCH mới là đơn vị gây tổn thất nặng nề cho Bắc quân trong suốt cuộc chiến, nhất là trận VC “tổng công kích” Tết Mậu thân 1968, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Trong góc nhìn đó, chúng ta hãy đọc những dòng Nhật Kí Đặng thùy Trâm viết :

“5.5.70 : Cuộc chiến tranh lan rộng khắp Đông Dương. Thằng chó đểu Ních xơn đã liều lĩnh mở rộng điên cuồng thêm cuộc chiến. Chúng ta sẽ phải đương đầu với một khó khăn ghê gớm hơn nữa đây. Nhưng tao đã thề cùng các đồng chí của tao rồi, dù có chết cũng đánh đến cùng…
Ôi căm thù đến bầm gan tím ruột, tại sao cùng là con người mà lại có những con người độc ác tàn tệ muốn lấy máu đồng bào để làm nước tưới cho gốc cây vàng của nó vậy?” –trang 241, phân đoạn 3, Hanoi xuất bản.

“Gần một đêm thức trắng, bọn mình lại ra đi khi trời vừa mờ sáng. Lại ra đi, “cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước còn có thể kéo dài, đồng bào ta còn có thể hy sinh nhiều người nhiều của hơn nữa, song dù sao chúng ta nhất định thắng lợi”
Bác Hồ ơi, di chúc của bác còn bên tai con, và lúc này lời ấy vang lên át tiếng bom đạn, con mang nó trong lòng và ra đi ”–trang 256 phân đoạn 3, Hanoi xb.

“Bất giác mình đọc khẽ câu thơ :
Bây giờ trời biển mênh mông,
Bác ơi có thấu tấm lòng trẻ thơ …”
trang 241, phân đoạn 3, Hanoi xuất bản



Trận Tết Mậu Thân 1968, Bắc quân được Nga sô và Trung cộng trang bị vũ khí tối tân vượt hẳn vũ khí cũ thời thế chiến 2 mà người Mỹ trang bị cho QLVNCH. Và dù bị tấn công bất ngờ khi quân số các đơn vị QLVNCH chỉ còn khoảng 30% có mặt tại đơn vị do trong ngày Tết, thế nhưng hàng trăm nghìn quân Bắc Việt đã gần như bị QLVNCH quét sạch. Trận Mậu Thân là một thất bại thảm hại nặng nề đối với Bắc quân về quân sự, đã làm rúng động chế độ Hanoi. Điều này Đặng thùy Trâm không biết, và đảng CS cố tình bưng bít kín.
Theo như lời giới thiệu của NXB Hội nhà văn nơi trang 5 Nhật Ký ĐTT thì “Thùy Trâm xung phong vào công tác ở chiến trường B, sau 3 tháng hành quân từ miền Bắc, tháng 3/67, chị vào đến Quảng Ngãi và được phân công về phụ trách Bệnh viện huyện Đức Phổ, một bênh viện dân y nhưng chủ yếu điều trị cho thương bệnh binh…” –trang 5, phân đoạn 2 Nhật Ký ĐTT/ NXB Hội nhà văn Hanoi.
Như vậy Đặng thùy Trâm đã có mặt tại miền Nam một năm trước trận tổng công kích miền Nam Tết Mậu Thân 1968, theo đó các cuộc phản công gây thiệt hại khủng khiếp cho bắc quân hầu hết là do QLVNCH đảm nhiệm. Vậy tại sao Trâm chỉ thấy có lính Mỹ trên khắp các chiến trường, tại sao trên trời chỉ thấy máy bay và tiếng pháo của Mỹ mà không hề thấy bóng dáng của máy bay và QLVNCH trong các cuộc hành quân truy lùng cộng sản ?
Qua vài trích đoạn và trình bày ở trên, chúng ta nhận thấy rõ nét là chiến dịch tuyên truyền và lừa mị đồng bào miền Bắc và dư luận thế giới của CS Hanoi là cốt thuyết dụ cho người ta tin :
- Nhân dân và thanh niên miền Bắc tin rằng Mỹ đã xâm lăng và chiếm đóng toàn miền Nam VN
- Nhân dân miền Nam bị đói khổ và áp bức cần được “giải phóng”
- Toàn tập Nhật kí ĐTT chỉ toàn những trận đánh giữa VC và quân đội Hoa Kỳ ,à họ được dạy phải căm thù tận xương tủy, còn QLVNCH vắng mặt, không có.

Và trong các cuộc đụng trận, quân Mỹ bao giờ cũng gặp toàn du kích cộng sản và cũng bị tổn thất nặng nề. Hàng chục sư đoàn chính quy của Bắc Việt hầu như vắng bóng trên chiến trường miền Nam.
Từ những ghi nhận trên chúng ta thấy Đặng thùy Trâm và thế hệ Đặng thùy Trâm cũng như nhân dân miền Bắc bị tuyên truyền, tẩy não nặng nề đến sai lạc về Hoa Kỳ, về miền Nam, sùng bái ông Hồ chí Minh, đảng CSVN đến gần như mù quáng, và từ những khởi điểm đó, chế độ cộng sản miền Bắc đã tung toàn lực cuộc chiến tranh vô Nam mà họ gọi là cuộc chiến tranh “chống Mỹ cứu nước”

Có những khó hiểu trong tập NK Đặng thùy Trâm mà chúng ta không thể bỏ qua :

- Có một điều chắc chắn là chị tôi hi sinh trong tư thế đương đầu với giặc : một vết đạn sâu hoắm ghim ngay giữa trán chị -điều này khi Mẹ và tôi lên vùng núi Ba Tơ để đưa chị về, tôi đã nhìn thấy. Anh Tâm, bí thư huyện ủy Đức Phổ hiện nay cho biết anh được nghe kể lại trước khi ky sinh chị còn hô vang “Chủ tịch Hồ chí Minh muôn năm, đả đảo đế quốc Mỹ”. Tôi cũng không rõ đó có phải là sự thật hay chỉ là một huyền thoại mà người dân Đức Phổ yêu thương chị kể lại cho thế hệ sau nghe về một nữ bác sĩ Hà Nội trẻ trung, xinh đẹp, đã chiến đấu và nằm lại trên quê hương họ- trên mảnh đất Đức Phổ mà chị đã coi là quê hương thứ hai của mình –NK Đặng thùy Trâm, trang 258, phân đoạn 1/ Đặng kim Trâm/ Chương Đàng Sau cuốn nhật ký
Phần trích đoạn trên đây không do Đặng thùy Trâm viết mà do người em, Đặng kim Trâm viết, như một phần của nhu cầu tuyên truyền của DCS bất chấp tính phi lí của sự việc : một vết đạn sâu hoắm ghim ngay giữa trán chị thì làm sao Đặng thùy Trâm còn có thể sống mà hô vang “Chủ tịch Hồ chí Minh muôn năm, đả đảo đế quốc Mỹ” ???
Nên biết rằng, súng M16 mà Quân đội Hoa Kỳ chiến đấu ở VN dùng với loại đạn M16 là loại đạn “công phá ở lỗ ra mục tiêu”, loại đạn mà trên chiến trường người ta gọi là “đạn bác sĩ chê”, trúng xương giò là cưa giò, trúng xương tay là cưa tay, trúng sọ là vỡ sọ, người bị trúng một vết đạn sâu hoắm ghim ngay giữa trán là chết ngay tức khắc, hoặc xuống địa ngục hoặc lên thiên đàng trong một sát na khoảnh khắc, làm gì có chuyện bị trúng một vết đạn sâu hoắm ghim ngay giữa trán mà còn sống để hô khẩu hiệu !!!!!!!!!
Đặng kim Trâm dù cẩn thận viết không rõ đó có phải là sự thật hay chỉ là một huyền thoại thì chính Đặng kim Trâm và những người cộng sản chủ trương tung tập sách này ra công luận cũng mắc cái tội cường điệu, coi thường độc giả và thế hệ mai sau. Bất cứ ai bị đạn M16 bắn vào đầu là vỡ sọ chết liền, chỉ có về sau ĐCS hô khẩu hiệu thế cho Đặng thùy Trâm trên giấy. Đặng thùy Trâm không thể và không hề hô khẩu hiệu.

Một đoạn nhật kí chống Mỹ thật tàn mạt được Đặng thùy Trâm viết trong bản chính của quyển số 1 mà nội dung hoàn toàn giống ngôn từ chống Mỹ của đài phát thanh Hanoi trong hai thập niên 60 và 70 lại “bị” NXB Hội nhà văn Hanoi cắt bỏ : “Và cũng giờ này bao nhiêu gia đình mất nhà mất cửa, con cháu nheo nhóc ở vào đâu?” – trang 196, phân đoạn 1, Hanoi xuất bản
Dòng chữ trong bản chính Đặng thùy Trâm viết còn lưu giữ lại tại Viet Nam Center, Lubbock, Texas, Hoa Kỳ cũng như trong CD bản copy gia đình Đặng thùy Trâm nhận được, còn nguyên một đoạn dài tiếp ngay sau đoạn viết ở trên :
“Ôi giặc Mỹ, chồng bao tội ác của chúng bay đã chất đầy như núi, còn sống đến ngày nào tao thề chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để trả được mối thù vạn kiếp đó”

Chế độ Hanoi đã dạy cho thanh niên miền Bắc căm thù Mỹ mà những giòng chữ trên đây đã đạt tới những gì họ hài lòng, thế tạo sao họ lại cắt bỏ đi???

Tập NKĐTT ra đời 2005 thời điểm mà hanoi cần vô WTO, chuẩn bị đón TT Bush dự Hội nghị thượng đỉnh APEC 11/2006, cần được Mỹ bỏ ra khỏi danh sách CPC (những quốc gia cần theo dõi đặc biệt của Mỹ) …..nên họ không muốn dân Mỹ đọc được câu này ? Cắt bỏ đoạn này khỏi tập nhật kí vì nhu cầu cần Mỹ lúc này, quả là một sự xúc phạm Đặng thùy Trâm ghê gớm, nếu không nói là đã giết Đặng thùy Trâm lần thứ hai vì nhu cầu chính trị hiện tại của chế độ Hanoi. ĐCS VN đã lộ rõ họ mâu thuẫn, lừa dối và cơ hội ngay chính với đồng đội họ.
Những gì Đặng thùy Trâm viết từ lòng thù hận, chính là kết quả từ những kỹ thuật và năm tháng tẩy não của ĐCS với thanh niên miền Bắc về người Mỹ, về miền NamVN lại không được in để giữ nguyên tính trung thực những gì mà Đặng thùy Trâm đã nghĩ và viết ra …. vì sao họ lại mâu thuẫn vậy?

Có một điều khác, mà người viết không thể không nhắc tới, đó là vai trò của các giới truyền thông và thiên tả Mỹ chống chiến tranh VN. 90% sản phẩm loại này ra đời vào thập niên 70 đã đâm sau lưng người lính Mỹ và người lính VNCH, tiếp tay cho CSVN trên báo chí và trong các hệ thống truyền thông Mỹ trong cuộc xâm lăng miền Nam của CS từ bên kia vỹ tuyến 17. Và chính họ cùng với phong trào phản chiến đã khuyến khích Hanoi tuyên truyền xuyên tạc để đẩy hàng hàng lớp lớp thanh niên miền Bắc lên đường vô Nam, “xẻ dọc Trường Sơn”, “sinh Bắc tử Nam” cho cuồng vọng của những người CS theo chủ nghĩa Mác Lê. Đặng thùy Trâm là một trong những người bỏ mình trong cuộc chiến phi nghĩa đó.
Vì thế cộng với phong trào phản chiến và làng báo thiên tả tại Mỹ, hanoi đã tuyên bố là “họ thắng Mỹ ngay trên các đường phố và ngay trong các trường Đại Học tại Hoa Kỳ”


Thân mất nước cuối đời nghẽn lối
Đêm dường nghe tiếng gọi quê hương
Ta như cỏ mọc bên đường
Vẫn như còn ngấm đoạn trường oan khiên
(Lê Khắc Anh Hào)

-------------------


Lời thưa của LTC : Kính thưa bạn đọc, tôi có cuốn Máu & Nước Mắt Trên Lưng Trường Sơn dưới dạng ảnh nên phải đánh máy lại. Type được đến đây thì tình cờ tôi tìm được Weblog của Ms Lê Thy trong đó có cuốn sách này đã được Lê Thy đánh máy hoàn chỉnh. Thật vô vàn cảm kích trước tinh thần và công sức của Lê Thy và nhân đây xin được giới thiệu với quý bạn Weblog quý báu này.
Kể từ đây trở xuống là các phần còn lại của cuốn Máu & Nước Mắt Trên Lưng Trường Sơn được copy lại từ Weblog Lê Thy.
Xin trân trọng cám ơn Ms Lê Thy !

Saigon, 10 hours trước ngày "quốc khánh" của giặc cộng, 2010

LTC
---------------


BỐN


Những cuộc thảm sát dã man quân Miền Nam:
Một vấn đề đặt ra cho lương tâm
và chính nghĩa giả trá của cuộc xâm lăng từ Miền Bắc.
Dưới ảnh hưởng của tuyên truyền và bưng bít do đảng CSVN và Hồ Chí Minh chủ trương trong quá trình cưỡng chiếm Miền Nam, những đoàn quân rời Miền Bắc, “xẻ dọc Trường Sơn” vô Nam “cứu nước” chỉ có trong đầu những hình ảnh to tướng của quân thù là quân Mỹ, bóng dáng người lính VNCH chỉ là những cái gì bàng bạc, không quan trọng. Thế nhưng khi đụng với thực tế, họ nhận ra là chính những lực lượng quân sự bảo vệ Miền Nam gây tổn thất chính cho họ là người Miền Nam, là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Do được dạy căm thù, huấn luyện căm thù, khi dùng biển người và nội gián chiếm được một đơn vị VNCH, họ thẳng tay tàn sát bất cứ ai trong căn cứ, kể cả đàn bà, con nít… Và các sĩ quan, hạ sĩ quan, họ ít khi bắt làm tù binh, họ dùng mã tấu chém bay đầu, chém nát thân thể binh sĩ và những sĩ quan Miền Nam. Hành động dã man này chính là chủ trương và bản chất của người Cộng Sản Việt Nam của thế hệ Hồ Chí Minh. Công ước quốc tế Geneve về tù binh chỉ là mảnh giấy lộn đối với Cộng Sản, dù trước khi vô Nam, họ có học sơ qua. Các hàng binh Cộng Sản hồi chánh QLVNCH cho biết như vậy.
Tháng 7 năm 1973, vị trí một đơn vị QLVNCH cấp Tiểu đoàn của Sư đoàn 9 BB/VNCH đóng quân trên vùng trên lãnh thổ tiểu khu Chương Thiện ( TĐ3/Trung đoàn 53/SD 9BB) đã bị Cộng quân tấn công tràn ngập đơn vị, nguyên nhân do nội tuyến. Địch đánh hai mặt, từ bên trong và từ bên ngoài. Bộ chỉ huy Tiểu đoàn bị vỡ, và thay vì Cộng quân bắt đi các sĩ quan VNCH, họ thẳng tay tàn sát bằng mã tấu, từ vị Tiểu đoàn trưởng trở xuống đều bị chém đứt đầu, trong đó có sĩ quan thám báo Tiểu đoàn Vũ Đình D… xuất thân khóa 9/72 Thủ Đức, Đệ Ngủ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương…
Cuộc tàn sát dã man này của Cộng Sản cho thấy mức độ mất nhân tính của một đạo quân do Hồ Chí Minh và tập đoàn đảng Cộng Sản Việt Nam dựng nên để làm phương tiện cho chủ nghĩa Cộng Sản quốc tế. Yếu tố con người và dân tộc dường như không có trong chiêu bài đi giải phóng. Điều này hoàn toàn khác với những gì người lính Miền Nam đối xử với tù binh Việt cộng.
(Xin đọc phần phụ lục bài viết “Ở cuối hai con đường”, một chuyện có thật của tác giả Phạm Tín An Ninh)
Các sĩ quan VNCH sống sót đều bị chặt đầu trong cơn say máu của Bắc quân cho thấy cái gọi là “giải phóng”, lòng nhân đồng loại, công ước quốc tế Geneve về tù binh… chỉ là thứ cỏ rác đối với đảng Cộng Sản Việt Nam, tác giả xin viết để nhấn mạnh một lần nữa.
Đặng Thùy Trâm và các thế hệ thanh niên Miền Bắc bị lùa vô Nam trong cuộc chiến tương tàn không tim óc này làm sao biết được cái tâm ác độc của ông Hồ và đảng CSVN. Lịch sử dần dần sẽ mở ra những cánh cửa để người Việt Nam “sau cơn mê loạn lịch sử” sẽ thấy Hồ Chí Minh và đảng CSVN không yêu thương gì Miền Nam, họ cũng chẳng không yêu thương gì những cán bộ Cộng Sản Miền Nam… mà chỉ yêu thương giấc mơ thống trị cả nước dưới màu cờ đỏ mà thôi. Cái chết của phó thủ tướng VC Phạm Hùng hiện còn đang là một nghi vấn cho câu hỏi phải chăng Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam muốn khống chế và tàn diệt những người Cộng Sản gốc Miền Nam để dọn đường hay lót đường cho sự cai trị của tập đoàn Cộng Sản gốc Bắc sau khi gồm thu cả nước dưới mầu cờ đỏ, và điều này đang hiện thực tại Việt Nam, tại Miền Nam hiện nay!
Chưa hết, xin độc giả đọc những dòng sau đây:
Bác sĩ Vincent d’Athis Mons, người Việt 100%, có quốc tịch Pháp, thuộc đoàn “bác sĩ không biên giới” trong Phái Bộ Y Tế do nước Pháp gởi sang Việt Nam, nên ý kiến rất là tự do và trung thực. Không cần biết đầu óc ông ta nghĩ như thế nào trước đó, khi tất cả phái bộ của ông được khoản đãi linh đình ở Paris ngày 13/4/1975 trước khi rời nước Pháp để sang Việt Nam, do Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tổ chức, Mặt Trận đã khuyên ông không nên bắt liên lạc với Sài Gòn và hãy tạm nằm ở Vũng Tàu chờ “quân giải phóng”.
Phái bộ nghe theo lời MTGPMN, không vào Sài Gòn mà ra nằm chờ ở Vũng Tàu, thuốc men và dụng cụ y khoa được tạm gởi vào một bệnh viện dân sự của VNCH. Có vài cuộc pháo kích vào thị xã, và người ta mang lại khoản 80 người bị thương vừa thường dân vừa lính nhảy Dù. Họ săn sóc cho những người nầy. Đến lượt những người man rợ đến, có lẽ chưa có chỉ thị của cấp trên, nên họ ra lệnh ngưng tất cả mọi công tác và ý định chữa trị cho những người bị thương nói trên. Rồi một toán khác lại đến, những người nầy có vẻ hiểu biết hơn, nhưng ra lệnh buộc tất cả phải rời khỏi bệnh viện nầy, vì họ đang cần dùng. Vì các “bác sĩ không biên giới” không biết phải đưa những người bị thương mà họ đang chữa trị đi đâu, nên họ từ chối lệnh nầy. Tức thì một người chỉ huy toán “giải phóng quân” nói với bác sỉ Vincent rằng: “Đây rồi chúng tôi đã có cách.” Nói xong ông ta rút súng ngắn ra, kê vào đầu một người bị thương cạnh đó, và bóp cò. Bác sĩ Vincent phản đối. Người ta lôi ông ra chỗ khác… và rồi ông nghe nhiều tiếng súng lục nổ…. đến lúc súng hết nổ thì bệnh viện đã trống, sẳn sàng cho “giải phóng quân” sử dụng!
Đó là một trong những nhân chứng và chứng cớ hiếm hoi của những cuộc hành quyết nhanh gọn. Và người ta phải rất ngạc nhiên lắm mới thấy được sự đứng đắn của những kẻ xâm lăng man rợ nầy. Một người trong phái bộ “bác sĩ không biên giới” phải thốt lên: “Thật là giống y như bọn phát xít Đức hồi năm 1940 !” (Trích chương 8/ La mort du Vietnam/ Đại tướng Vanuxem/ Trang 106 -107) / Bản dịch Việt ngữ “Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử” do Cựu Đại tá Dương Hiếu Nghĩa chuyển ngữ/Nhà xuất bản Đại Nam phát hành)
Xin đọc:
Và chương “Còn tệ hơn là tắm máu” ở phần phụ lục.
Ngoài ra, không kể những trại tù chết người giam giữ quân cán chính, nhất là hàng trăm ngàn sĩ quan Miền Nam trong những trại tù mệnh danh dưới mỹ từ cải tạo mà hậu quả là hàng chục ngàn người bị chết vì thiếu ăn, vì tai nạn, vì bệnh tật, vì bị hành quyết khi trốn trại, người viết không thể không nêu ra những trường hợp điển hình mà sau khi “cướp xong chính quyền”, Cộng Sản đã tàn sát trả thù vô số sĩ quan Miền Nam thuộc QLVNCH. Theo tiến sĩ Lewis Sorley viết trong tác phẩm “The remembrance of Vietnam” thì sau ngày 30/4/1975, Cộng Sản Việt Nam đã trả thù và giết hàng chục ngàn quân cán chính Miền Nam Việt Nam trong đó gồm cả sĩ quan các cấp có trong danh sách trả thù của Cộng Sản. Tính cuồng sát của thời đại Stalin ở Nga được tái diễn trở lại tại Miền Nam Việt Nam dưới bàn tay máu của đoàn quân xâm lăng của họ Hồ.
- Giữa tháng Tư 1975, khi tiến quân vô Phan Thiết bằng quốc lộ 1, một đoàn convoi Bắc quân có chiến xa dẫn đầu, khi gần tời trường bắn Lương Sơn đã bị một đơn vị nhỏ Địa Phương Quân VNCH phục kích bất ngờ bằng M72 gây tổn thất khá nặng nề, hai T54 bị cháy cùng một số Molotova và một số thương vong không rõ. Đơn vị Địa Phương Quân này, ngay lập tức băng rừng mật khu Lê Hồng Phong để về Mủi Né an toàn.
Sau đó, Cộng Sản đã gom một số đàn ông, thanh niên thuộc đồng bào Nùng và người Kinh ở Xóm Ruộng gần trường bắn Lương Sơn đem ra xử tử hàng loạt.
- Cũng gần giống trường hợp trên, gần cuối tháng 4/1975, tức sáng ngày 20/4/1975, Sư đoàn 18BB và các đơn vị tăng phái bất ngờ được lệnh rút khỏi Long Khánh. Khi các sư đoàn quân Cộng Sản ào ạt tiến vào thị xã Xuân Lộc, cánh quân tràn qua địa phận xã Tân Lập vị thiệt hại vì vướng những giây mìn Claymore do quân VNCH để lại, Bắc quân say máu gom khoảng 500 đàn ông, thanh niên trong xã ra xếp hàng bắt nằm dài trên lộ gần chợ Tân Lập và hành quyết hàng loạt, sau đó Bắc quân dùng xe ủi đất trong rừng cao su đào một hố lớn chôn hàng trăm xác đồng bào chung một chỗ.
Tội ác này diễn ra giữa ban ngày, máu đồng bào vô tội chảy như suối hai bên lộ. Sài Gòn sụp đổ 10 ngày sau đó, không có một bức hình, một tin tức nào ghi nhận cuộc thảm sát dã man này.
- Thiếu tá Nguyễn Văn Dư, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 43 Sư đoàn 18 BB, một trong những đơn vị gây thiệt hại nặng nề cho Bắc quân tại mặt trận Long Khánh, sau khi đơn vị tan hàng ngày 30/4 với lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh, đã mặc áo quân thường dân về với gia đnh ông ở Vũng Tầu. Ông có trình diện VC tại địa phương nhưng mấy hôm sau, VC cũng đến nhà bắt ông đi biệt tích. Vợ ông tìm chồng nhưng các cơ quan Cộng Sản nói không biết và bảo với vợ ông là cứ coi như ông đã chết. Gia đình đành làm bàn thờ thờ ông.
Về sau, một cựu quân nhân bị bắt ở tù cùng một lượt với ông cho gia đình ông biết là VC đã hành quyết ông một cách dã man bằng cách đập ông vỡ sọ.
(Chúng tôi có dữ kiện, tin tức về cuộc thảm sát này)
- Đại úy Nguyễn Văn Trò thuộc tiểu khu Bình Thuận, một trong những sĩ quan xuất sắc nhiều lần gây tổn thất cho Cộng Sản trong những cuộc phục kích và đụng trận. Anh bị Cộng Sản treo giá tử hình. Khi Cộng Sản tiến vô Phan Thiết, anh thoát vào Sài Gòn. Sài Gòn mất, hàng ngày anh nghe radio và TV tin tức Cộng Sản công bố chính sách “hòa giải, hòa hợp, 10 điều 7 điểm” do tướng VC Trần Văn Trà công bố. Anh nhớ vợ con, anh mềm lòng, anh lên xe đò mò về Phan Thiết, buổi chiều ăn cơm với gia đình chờ sáng mai trình diện, tối quân quản Phan Thiết đưa xe jeep lại nhà bắt anh đi biệt tích. Vài ngày sau, xác anh được tìm thấy trên một dòng suối cạn ở Phú Bình, khoàng 5 cây số phía Tây Bắc Phan Thiết. Anh bị Cộng Sản đập vỡ sọ…
- Tại xã Lương Sơn, Huyện Hòa Đa, tỉnh Bình Thuận, ông xã Dược là một nhân vật đặc biệt giỏi về cả hoạt động tình báo, quân sự và hành chánh, đã từng làm điên đầu Cộng Sản trong vùng. Lương Sơn dựa lưng mật khu Lê Hồng Phong nên áp lực quân sự của Cộng Sản gần như thường trực đè nặng lên xã này.
Khi Cộng Sản chiếm xong Bình Thuận, ông xã Dược trốn vô Miền Nam. Khi cơ sở hành chánh Cộng Sản thiết lập xong, họ truy lùng ông xã Dược, và một người cán bộ Cộng Sản từng mang ơn cứu tử của ông khi ông tha cho anh ta trong một trận phục kích khi xưa, đã qua gia đình thuyết dụ ông về trình diện. Ông tin lời họ và trở về. Ông đã trở về với cái chết oan nghiệt:
Quân Cộng Sản như thế, đảng Cộng Sản như thế… Liệu chế độ tàn ác đó, cái đảng phi nhân đầy thú tính đó có đáng để Đặng Thùy Trâm và thế hệ của Trâm tôn thờ và hy sinh hay không?

NĂM

Nhật Ký Đặng Thùy Trâm, một sản phẩm dối trá và phản bội…


Đây là tít của một bài viết dài 42 trang của tác giả Thiên Đức lấy từ Vnreview, 13/12/05 được chuyentin6@yahoo.com chuyển lên diễn đàn chinhluan@yahoogroups.com ngày 29 tháng 12 năm 2005. Cái tít này trong bài viết của tác giả Thiên Đức, cũng như toàn bộ tập “Máu và nước mắt trên lưng Trường Sơn” hoàn toàn không nhắm vào Đặng Thùy Trâm và những dòng nhật ký Trâm viết, mà nhắm vào tác phẩm do đảng Cộng Sản Việt Nam dàn dựng thành hình dưới tên “Nhật Ký Đặng Thùy Trâm” vì nhu cầu tuyên truyền của những năm 2005 “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” để đi dần về phía Mỹ… vì nhu cầu đô la.
Với đề tài bài viết như trên, tác giả Thiên Đức đã vào internet qua các trang nhà/web của Vietnam Center ở Lubbock, Texas, tìm ra nguyên bản từ các dòng chữ viết tay của Đặng Thùy Trâm từ tập nhật ký giữ ở Vietnam Center, được đánh máy vào CD/DVD và so sánh cẩn thận với bản in Nhật Ký Đặng Thùy Trâm do Hà Nội phát hành và phát giác ra những điều mà tác giả gọi là “Nhật Ký Đặng ThùyTrâm, một sản phẩm dối trá và phản bội”.
Tác phẩm nhằm mục đích tuyên truyền loại này phải qua sự chăm sóc, kiểm duyệt cẩn thận của đảng Cộng Sản, và người ta đã thấy trong Nhật Ký Đặng Thùy Trâm có vô số những sửa chữa, cắt xén, thêm bớt khi so với bản gốc, đó là chưa kể những sai lạc về ngày tháng… Những điều vừa đề cập này, độc giả có thể mua tập Nhật Ký Đặng Thùy Trâm do nhà xuất bản Hội Nhà Văn Hà Nội ấn loát và phát hành có bán ở các nhà sách ở California, và liên lạc Vietnam Center ở Texas hay vô http://wwww.vietnam.ttu.edu và trang nhà/web http://www.annonymous.online.fr/Upload/NhatkyDangThùyTram để tìm bản chính… Và sau đó đọc kỹ từng trang, độc giả sẽ nhận ra vô số những thứ mà tác giả Thiên Đức gọi là “một tác phẩm dối trá và phản bội”. Hà Nội đã dối trá độc giả và phản bội chính Đặng Thùy Trâm.
Vì giới hạn của trang sách này, chúng tôi chỉ trích đoạn phần đầu bài viết của tác giả Thiên Đức khi ông nhận định thẳng thừng bằng cái tít như trên. Cuốn Nhật Ký Đặng Thùy Trâm của nhà xuất bản Hội Nhà Văn được độc giả trong và ngoài nước chú ý, toàn bộ hệ thống báo chí Việt Nam, thậm chí cả guồng máy chính quyền đều đề cao, tán dương như là một điển hình anh hùng cho thế hệ trẻ Việt Nam, trong lúc đó lại có nhiều tranh cãi tính chính xác thật của nhật ký trên các diễn đàn BBC, Talawas, Đàn Chim Việt…
Sau cùng, 3 tập tài liệu bản thảo Nhật Ký Đặng Thùy Trâm sau đây được lưu trữ tại Vietnam Center:
- Bản sao viết tay nhật ký quyển 1
- Bản sao viết tay nhật ký quyển 2
- Bản in thực tế của nhà xuất bản Hội Nhà Văn.
… “Cảm nhận đầu tiên khi so sánh, đối chiếu bản in Nhật Ký Đặng Thùy Trâm với bản gốc, người viết có cảm giác cuốn sách được xuất bản một cách vội vàng nhằm phục vụ nhu cầu chính trị hơn là phục vụ cho sự thật, cho độc giả…, vì trong cuốn sách có quá nhiều những lỗi lầm sơ đẳng, nhất là đánh máy lộn ngày tháng, hay những đoạn trên đưa xuống đoạn dưới…” (Thiên Đức)
Chúng tôi, người thực hiện tập sách phản biện này, “Máu và nước mắt trên lưng Trường Sơn”, không thể chạy in 42 trang tài liệu trong bài viết của tác giả Thiên Đức, song chúng tôi đồng ý với nội dung cái tít mà tác giả đặt cho bài viết” “Nhật ký Đặng Thùy Trâm, một sản phẩm dối trávà phản bội”.
Nhân đây, tôi cũng nhắc lại một chuyện dối trá của đảng Cộng Sản Việt Nam nhân vụ “Em bé tẩm dầu Lê Văn Tám” bị chính sử gia Trần Huy Liệu bạch hóa trước khi ông qua đời. Trong hơn 2/3 phần đời phục vụ trong hàng ngũ Cộng Sản, có một việc mà ông không thể không nói lại cho hậu thế rõ là chính ông đã bịa ra chuyện “em bé tẩm dầu xông vào kho xăng, lửa cháy bùng lên” để Cộng Sản dùng tuyên truyền chính trị và đưa vào sách sử cho học sinh học.
Trước khi qua đời, sử gia Trần Huy Liệu đã nói với các bạn thân của ông như một lời trối trăn sám hối của một trí thức còn chút lương tri và tâm hồn. Ông đã tiết lộ hai điều mà trong đó, báo chí Hà Nội chỉ miễn cưỡng xác nhận một điều vì không che dấu được: Vụ Lê Văn Tám là không có thật.
Sử gia Trần Huy Liệu được lệnh “chế, bịa” ra Lê Văn Tám chỉ vì nhu cầu tuyên truyền mà thôi. Sau khi tiết lộ này phơi ra ánh sáng, không biết chế độ Cộng Sản Việt Nam có công khai đính chính và bỏ đi chuyện Lê Văn Tám tẩm dầu xông vào kho xăng” trong các tập sử dạy học sinh hay không.
Điều thứ hai không thấy chế độ Hà Nội công khai tiết lộ ra công luận là chuyện sử gia Trần Huy Liệu nói về hiểm họa Tầu phương Bắc. Ông thì thào nói với những “đồng chí” thân cận: “Người phương Bắc đến xứ ta là người phương Bắc ở lại, người phương Tây đến xứ ta là người phương Tây đi. Các đồng chí nhớ kỹ điều này. Ý tôi muốn các đồng chí nhớ là hiểm họa đối với dân tộc ta đến từ phương Bắc!”
(Ghi nhận từ một giáo sư đại học miền Bắc có bút danh Triết Đức Chính hiện ở Canada…. Và chuyện Lê Văn Tám cũng được báo chí Hà Nội đề cập hạn chế.)
Hai điều trên đây, ngày còn sống, Đặng Thùy Trâm không bao giờ biết được sự thật bẽ bàng, dối trá, lừa bịp này.

SÁU

Những người bộ đội nhìn ra sự thật của cuộc chiến xâm lược từ miền Bắc
Trong dòng người bị chế độ Hà Nội đẩy vô Nam, “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” sau khi bị “tẩy não, xuyên tạc” về những điều mà Hà Nội cho là “xấu xa, tội ác của Mỹ Ngụy”, vô số bộ đội Bắc Việt đã nhìn ra sự thật sau khi đi sâu vào phần đất trù phú miền Nam. Một số trong những người này đã hồi chánh với chính quyền miền Nam (Đại tá Bé của Trung Tâm Chí Linh, nhà văn Xuân Vũ, ca sĩ Đoàn Chính ...), một số khác đã bỏ mình trên rừng núi Trường Sơn hay trên trận địa.
- Bài thơ không tới tay người mẹ của người bộ đội Sinh Bắc Tử Nam.
Ngày 2. 8.2002, Diễn Đàn Nước Việt qua Tran Nam Binh tran_nb@yahoo.com đã gửi lên hệ thống internet hai bài thơ của một người bộ đội vô danh bỏ xác trên chiến trường miền Nam. Hai bài thơ đó được tìm thấy trong ba lô bên xác anh dưới bút hiệu Huyền Trân. Anh Phùng Minh Hải gửi bài thơ anh giữ được cho Trần Nam Bình của Diễn Đàn Nước Việt để post lên net với lời giới thiệu của chính anh:
Các bạn thân mến, bài thơ sau đây của một anh bộ đội vô danh nghe theo lời Bác & đảng vào miền Nam “chống Mỹ cứu nước” khoảng năm 1965 – 1966. Việt cộng tuyên truyền rằng miền Nam lúc đó đang bị Mỹ Ngụy kềm kẹp khổ đến nỗi không có chén ăn cơm mà phải dùng gáo dừa… Việt cộng đã lừa gạt, xô đẩy hàng trăm ngàn thanh thiếu niên miền Bắc vào chỗ chết, vào chỗ giết chóc bao nhiêu người dân lành vô tội mà bài thơ của anh bộ đội này tâm sự. Người bộ đội này có bút hiệu Huyền Trân.
( Phùng Minh Hải ghi chú và giới thiệu.)

Từ Buổi Lên Đường (Thư Gửi Mẹ) 1
Từ buổi con lên đường xa mẹ
Theo anh em sang Lào rồi dấn bước vào Trung
Non xanh nước biếc chập chùng
Sớm nắng biển, chiều mưa rừng gian khổ
Tuổi thanh xuân cuộc đời như hoa nở
Từ hoà bình đâu ngại bước gian nguy
Mấy tháng trời đêm nghỉ ngày đi
Giày vệt gót áo sờn vai thấm lạnh
Những chiều Trường Sơn núi rừng cô quạnh
Mẹ hiền ơi, con chợt nhớ quê mình!
Khói lam chiều giàn mướp lá lên xanh
Con bướm nhỏ mái đình xưa nhớ quá!
Vào nơi đây tuy đất trời xa lạ
Nhưng miền Nam cũng cùng một quê hương
Vẫn bóng dừa xanh, vẫn những con đường
Hương thơm lúa ngọt ngào
Vẫn khói lam chiều, con trâu về chuồng, tiếng tiêu gợi nhớ
Đã qua buổi ban đầu bỡ ngỡ
Con nhìn ra nào giải phóng gì đâu?
Buổi chợ đông vui, đồng lúa xanh màu
Lớp học tưng bừng những đàn trẻ nhỏ
Đang nhịp nhàng vui hát bản đồng ca
Và trong vườn cây lá trổ hoa
Đàn bướm nhỏ rủ nhau về hút mật
Xóm dưới làng trên niềm vui ngây ngất
Sao người ta bắt con phải đốt xóm phá cầu
Phải gài mìn gieo tang tóc thương đau
Đã nhiều lần tay con run rẩy
Khi gài mìn để rồi sau bỗng thấy
Xác người tung máu đổ chan hoà
Máu của ai, máu của bà con ta
Của những người như con, như mẹ
Để bao đêm mắt con tràn lệ
Ác mộng về con trằn trọc thâu canh.
Từ Buổi Lên Đường (Thư Gửi Mẹ) 2
Từ buổi con lên đường xa quê Mẹ
Theo đoàn quân đi xâm chiếm miền Nam
Đời chiến binh, bao vất vả gian nan
Ngày vượt suối, đêm băng rừng phá đá…
Đến nơi đây, đất trời tuy xa lạ
Nhưng cũng là non nước của quê ta:
Vẫn ruộng đồng xanh bát ngát, bao la
Con sông nhỏ chảy xuôi về thành phố,
Vườn nhà ai giàn hoa thiên lý trổ
Khói lam chiều nghi ngút tỏa hương đưa
Dưới trời xanh, xanh ngát những bóng dừa
Con cò trắng rủ nhau về tổ ấm.
Vẫn những làng quê, ngôi trường ngói xẩm
Đám trẻ nô đùa, cánh bướm tung tăng
Mặt nước lung linh soi bóng chị Hằng
Làm con chạnh nhớ quê mình ngoài Bắc:
Con đường xưa, những chiều mưa hiu hắt
Gió đông về… lạnh buốt cả thịt da
Khi hè sang… cây gạo trổ đầy hoa
Con với mẹ vẫn buồn trong nắng ấm
Nhưng hôm nay giữa rừng sâu núi thẳm
Nắng miền Nam, con chợt nhớ mẹ Hiền
Mùa Xuân về, soan nở vội ngoài hiên?
Mẹ nhớ bán hoa đào thu năm trước
Con ra đi, biết rằng mình thua cuộc
Lệnh cấp trên! Nào dám cãi được đâu
Đời của con, nay sương gió giãi dầu
Con cảm thấy lòng của mình tê tái
Mỗi lần vấp, là một lần bớt dại
Khiến cho con hồi tỉnh lại tâm can
Nếu họ bắt con đốt xóm, phá làng
Con thà chết để giữ nòi trai Việt
“Bởi miền Nam là non nước Việt Nam”
Huyền Trân/ một bộ đội miền Bắc, tên thật không rõ
(From: “Tran Nam Binh” | This is Spam | Add to Address Book
Date: Fri, 2 Aug 2002 16:00:35 -0700 (PDT)
Subject: [NV] Tu+` Buo^?i Le^n DDu+o+`ng )
* Chúng tôi xin gửi bài thơ này về lại Việt Nam với niềm thông cảm trân trọng. Mong là người thân của anh bộ đội “vô danh” có bút hiệu Huyền Trân nhận ra được những lời thơ chí tình đứt ruột của anh. Hậu quả đau thương của cuộc chiến đấu “giải phóng miền Nam” đã đẩy cả nước lùi cả trăm năm so với các lân bang Đông Á! Anh là người cảm nhận nỗi đau này, và anh đã chết trên rừng Trường Sơn. Những dòng này như một nén nhang viết cho người anh em ruột thịt “sinh Bắc tử Nam”.
Lê Khắc Anh Hào.
(Trích thi tập “Đoạn Trường Lưu Vong”/Lê Khắc Anh Hào/ Viêt Nam 2004/trang 141 – 144).
Ngoài ra, chúng tôi được biết hai bài thơ Từ Buổi Lên Đường của tác giả Huyền Trân mà tên thật không tìm ra trên xác chết người bộ đội “sinh Bắc tử Nam” này cũng thấy được lưu trữ trong Bảo Tàng Viện Quân Sự Alberdeen ở Maryland, Hoa Kỳ…. (theo tiết lộ của nick Nguoi Tu So 200 khi trao đổi trong paltalk ngày 14/01/2007)
- Bài thơ của một người bên kia vĩ tuyến
Tác giả: Một nguời Việt Nam yêu nuớc vô danh từ miền Bắc
Xin Kể Thêm Tôi.
Xin kể thêm tôi thành muời chín triệu một nguời
Trái tim tôi đập về trong nớ
Dòng máu xa nguồn bỗng giận sôi.
Hoàng sa! Hoàng Sa!
Cái tên nghe buồn như thuở ban sơ
Đối với tôi đã là da thịt
Dẫu chỉ là một mảnh san hô
Lại đau chăng vết buốt tự ngàn xưa
Trang sử cũ còn in hằn dấu ngựa
Từ thảo nguyên xa, từ biên ải lửa
Khói tràn về đen thẩm những ước mơ
Đếm biết bao nhiêu nguời vợ đợi chờ
Em ơi, trên từng trang sử nhỏ.
Xin kể thêm tôi
Thành mười chín triệu một nguời
Thành viên gạch hồng tuơi
Làm bức tuờng thành ngăn triền sóng dữ
Làm chiếc vò đựng mùa xuân ngọt lự
Giữ không rơi một giọt mật nào
Mỗi giọt ra đi chính giọt máu đào
Từ cuộc đời cha ông nhỏ xuống.
Nguời bạn Hải Quân miền Nam ơi!
Trên đảo mù sương hôm đó có tay anh cầm súng
Từ những hạm tầu rẽ sóng đại dương
Tôi thấy máu anh dương nòng sừng sững
Cuộc chiến kết thúc dù bi thảm
Bài ca anh hùng vẫn vọng trời cao
Xin cho thơ tôi phát tiếng súng chào
Vĩnh biệt tuần dương chìm dần giữa sóng
Biển âm thầm ngàn năm lạnh cóng
Vẫn mặn nồng lòng Tổ Quốc ta
Xin cho thơ tôi làm thảm sóng ngân nga
Ru giấc ngủ những chàng trai dũng cảm
Tiếng cuời ngày nào còn ran trong nắng
Đôi mắt ngày nào đọng mắt nguời thương.
Tôi biết mùa xuân chưa đến bao giờ
Ngực đảo còn đau ngàn bàn chân lạ
Hoàng Sa xa vời, ơi Hoàng Sa!
Tên nguời ngân buồn như bản thánh ca.
(Vô Danh)
haitran@nethere.com wrote:
Subject: Xin kể thêm tôi.
Nghe tin xẩy ra trận đánh Hoàng Sa, một nguời sống bên kia chiến tuyến đã ngậm ngùi làm một bài thơ để vinh danh các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam đã hy sinh để bảo vệ hải biên của Tổ Quốc. Mới nay, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang đã đề nghị làm bia để ghi danh tử sĩ Hoàng Sa. Đây là những bạn đồng hành khả kính đang cùng đấu tranh để giành từng tấc đất của ông cha ra khỏi nanh vuốt của bọn Tầu đỏ…
Trần Chấn Hải
(Trích thi tập “Đoạn Trường Lưu Vong”/Lê Khắc Anh Hào/ Viêt Nam 2004/trang 145 – 147)
- Hai bài thơ của Chế Lan Viên
(Chúng tôi xin đăng lại 2 bài thơ của Chế Lan Viên rút từ tập “Sổ tay thơ” tập số 5 năm 1987 dĩ nhiên là viết trong Việt Nam. Bài thơ nói lên tấn bi kịch lường gạt của đảng CSVN, thảm kịch của những bộ đội cộng sản bị hy sinh và sống tàn tạ sau chiến tranh. Chế Lan Viên, một trong những nhà thơ nổi danh của cộng sản miền Bắc, nhận lời sám hối, nhưng đảng CSVN thì ngoan cố ù lì trước những đau thương của dân tộc/ Hải Triều)
Ai? Tôi?
Mậu Thân, hai ngàn (2000) người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm còn sống có ba mươi (30)
Ai trách nhiệm về cái chết hai ngàn người đó?
Tôi!
Tôi, người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình trong lúc xung phong!
Một trong 30 người kia ở mặt trận trở về sau 10 năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ
Quán treo huân chương đầy mọi cỡ
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ!
Ai chịu trách nhiệm vậy?
Lại chính là tôi!
Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời.
Tôi ú ớ!
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm
Mà tôi xấu hổ!
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ.
Giữa buồn tủi chua cay tôi có thể cười?!
Chế Lan Viên
Trừ Đi
Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ
Có phải tôi viết đâu! Một nửa!
Cái cần đưa vào thơ tôi đã giết đi rồi!
Giết một tiếng đau, giết một tiếng cười
Giết một kỷ niệm, giết một ước mơ.
Tôi giết cái cánh sắp bay… trước khi tôi viết
Tôi giết bão táp ngoài khơi cho được yên ổn trên bờ
Và tôi giết luôn mặt Trời lên trên biển
Giết mưa và giết cỏ mọc trong mưa luôn thể
Cho nên câu thơ tôi gầy com như thế
Tôi viết bằng xương thôi, không có thịt của mình
Và thơ này rơi đến tay anh
Anh bảo đấy là tôi?
Không phải!
Nhưng cũng chính là tôi: Người có lỗi!
Đã giết đi bao nhiêu cái
Có khi không có tội như mình.
Chế Lan Viên
Nhận định về các bài thơ trên đây, chúng ta nhận ra ba dạng người bên kia chiến tuyến hoàn toàn có những nhận thức khác xa Đặng Thùy Trâm:
-Người bộ đội chết trên rừng Trường Sơn sau khi tham dự chiến trường miền Nam, có bút hiệu Huyền Trân. Trong 2 thư gửi Mẹ tìm được bên xác anh, những người lính miền Nam nhận ra anh đã nhận diện được thực tế, nhận diện ra sự thật của cuộc xăm lăng miền Nam phi nghĩa do cộng sản Bắc Việt chủ trương. Anh đã viết những dòng thơ gửi mẹ, những dòng thơ không bao giờ đến, anh đã chết như lời thơ dự báo của anh:
Con ra đi, biết rằng mình thua cuộc
Lệnh cấp trên! Nào dám cãi được đâu
Đời của con, nay sương gió giãi dầu
Con cảm thấy lòng của mình tê tái
Mỗi lần vấp, là một lần bớt dại
Khiến cho con hồi tỉnh lại tâm can
Nếu họ bắt con đốt xóm, phá làng
Con thà chết để giữ nòi trai Việt
“Bởi miền Nam là non nước Việt Nam”
(Ngày mai, nếu chế độ cộng sản sụp đổ tại Việt Nam, và tôi, Hải Triều, còn sống, tôi sẽ bỏ phần đời còn lại của mình để cố tìm tông tích gia đình người bộ đội sinh Bắc tử Nam có bút hiệu Huyền Trân với một niềm thương cảm sâu xa…để thắp lên bàn thờ anh một nắm nhang.)
-Một thanh niên hoặc một người bộ đội miền Bắc, ở bên kia vĩ tuyến 17, chia sẻ chính nghĩa của của người lính Hải Quân miền Nam trong trận Hoàng Sa chống Bắc phương:
Nguời bạn Hải Quân miền Nam ơi!
Trên đảo mù sương hôm đó có tay anh cầm súng
Từ những hạm tầu rẽ sóng đại dương
Tôi thấy máu anh dương nòng sừng sững
Cuộc chiến kết thúc dù bi thảm
Bài ca anh hùng vẫn vọng trời cao
Xin cho thơ tôi phát tiếng súng chào
Vĩnh biệt tuần dương chìm dần giữa sóng
Biển âm thầm ngàn năm lạnh cóng
Vẫn mặn nồng lòng Tổ Quốc ta
Xin cho thơ tôi làm thảm sóng ngân nga
Ru giấc ngủ những chàng trai dũng cảm…
Và chúng tôi nghĩ tác giả vô danh làm bài thơ trên đây chỉ là 1 trong vô số anh em miến Bắc đau lòng nhìn về miền Nam trong cuộc chiến chống trả Bắc phương trong trận Hoàng Sa, trong lúc đó, toàn đảng cộng sản Việt Nam làm thinh toa rập với kẻ thù phương Bắc. Hay nói cách khác, Đặng Thùy Trâm không ở trong hoàn cảnh hay trường hợp chia sẻ tâm trạng của tác giả bài thơ, dù cả hai đều sống dưới chế độ cộng sản miền Bắc Việt Nam.
- Và trường hợp Chế Lan Viên.
Chế Lan Viên là một trong vài nhà thơ lừng lẫy của miền Bắc cộng sản mà thơ văn của ông trở thành công cụ tuyên truyền được cộng sản tận dụng, ông tiết lộ về cái chết hàng loạt thê thảm của những người lính miền Bắc bị đẩy vào Nam trong trận Mậu Thân năm 1968, ông nhận trách nhiệm của mình trong guồng máy tẩy não, tuyên truyền của nhà cầm quyền cộng sản Bắc miền Bắc và ông đã sám hối, ông đã nhận một phần trách nhiệm:
Mậu Thân, hai ngàn (2000) người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm còn sống có ba mươi (30)
Ai trách nhiệm về cái chết hai ngàn người đó?
Tôi!
Tôi người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình trong lúc xung phong!
Một trong 30 người kia ở mặt trận trở về sau 10 năm
Ngồi bán quán bên đường nuô đàn con nhỏ
Quán treo huân chương đầy mọi cỡ
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ!
Ai chịu trách nhiệm vậy?
Lại chính là tôi!

( Chế Lan Viên)
Vâng, Chế Lan Viên có phải là người đẻ ra chế độ và đảng cộng sản đâu, ông là một nhà thơ có lòng, và chính ông cũng bị cuốn hút vào cơn mê lừa gạt, tẩy não đến có lần đã viết những dòng thơ cho đảng, sặc mùi tuyên truyền, nô lệ Bắc phương:
Dù yêu hương cốm thơm Hà Nội
Không quên Bắc Hải liễu xanh cành
Phương Nam nguyện hái hoa màu lửa
Cho thỏa lòng mơ bạn Bắc Kinh…

( Chế Lan Viên)
Thế nhưng, về sau này, khi chiếm đoạt miền Nam năm 1975 không bao lâu, toàn bộ mặt thật và sự thật về chế độ và đảng cộng sản Việt Nam đã mở ra trước mắt toàn dân và những người trí thức còn có lòng trong hàng ngũ những người cộng sản, trong số đó có Dương Tthu Hương, Chế Lan Viên. Vì thế, trong bài “Trừ đi”, nhà thơ Chế Lan Viên đã tâm sự:
Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ
Có phải tôi viết đâu! Một nửa!
Cái cần đưa vào thơ tôi đã giết đi rồi!
Giết một tiếng đau, giết một tiếng cười
Giết một kỷ niệm, giết một ước mơ.
Tôi giết cái cánh sắp bay… trước khi tôi viết…

( Chế Lan Viên)
Và biết đâu, qua những dòng thơ của Huyền Trân, Chế Lan Viên và người bộ đội hay một thanh niên miền Bắc nào đó đã gửi về Nam bài thơ cảm động cho Hải Quân VNCH trong trận Hoàng Sa… Đặng Thùy Trâm, nếu còn sống đến ngày hôm nay, Trâm có thể sẽ đốt bỏ những dòng nhật ký mà Trâm đã viết năm xưa…?!
Và đây, tiếng thơ của một cựu bộ đội miền Bắc: Nhà thơ Bùi Minh Quốc
Phản Chiến
Tổ quốc trong anh máu thấm tận nguồn
Tổ quốc trong chúng gào đầu lưỡi
Hãy cảnh giác!
Khi anh đắm mình máu mê trận mạc
Chúng đưa con đi du học nước ngoài
Rúc kín lâu đài hú hí trên ngai
Hãy cảnh giác!
Bọn mặt bự dẻo mồm
Thời nào chả nhân danh Tổ Quốc
Cao giọng hùng hồn không tiếc máu xương
Lấy xương xây đỏ nghiệp đế vương
Hãy cảnh giác!
Sau chiến tranh chúng lại chiến tranh
Cuộc chiến tranh một phía
Người sống trở về oằn lưng sưu thuế
Chúng lấy máu đúc vàng
Độc quyền ngự trị nghênh ngang
Độc quyền nghĩ
Độc quyền nói
Độc quyền ráo trọi dân đen chỉ một quyền được… đói
Và thêm nữa là quyền sợ hãi
Triền miên…
Hãy cảnh giác!
Dân đen!
Cảnh giác!
Lòng ta yêu vô cùng Tổ Quốc
Chúng luôn luôn làm bẫy đánh lừa
Sập lại chính đời ta
Vào kiếp chó
Canh túi vàng chúng nó…!
Bùi Minh Quốc

Bài thơ gửi Bùi Minh Quốc
của người lính miền Nam Lê Khắc Anh Hào
Thơ anh có những đoạn trường
Có bom đạn xới, có đường nhục vinh
Có oan khiên, có thất kinh
Có còng sắt đợi, có hình bũa vây
Thơ anh sợi chỉ giăng dài
Vợ treo đầu gánh những ngày lệ tuôn
Nàng rao bán thơ muôn phương
Gánh thơ bất khuất, gánh nguồn lệ đau
Dòng thơ nỗi uất xâu nhau
Dòng thơ cuồn cuộn nát nhầu sử xanh
Dòng thơ vỡ đất nghiêng thành
Dòng thơ máu lệ tan tành ước mơ.
Anh còn giữ ấm hơi thơ
Thì xin vững đợi cuộc cờ chuyển ngôi
Mai kia ngữa mặt nhìn đời
Tự do, thơ sẽ vực trời Việt Nam!

Lê Khắc Anh Hào
(Thi tập Đoạn Trường Lưu Vong/Vietnam 2004/Trang 38/Lê Khắc Anh Hào)



BY


dlkh72

Cuộc tàn sát dân chúng trên Đại Lộ Kinh Hoàng
(Nicholas Ruggieri/Trích Chiến Sĩ Cộng Hòa, số 275 – 01/10/1973)
Chúng tôi xin được chạy đăng lại nguyên văn bài viết của ký giả Nicholas Ruggieri. Bài viết này được chuyển ngữ ra tiếng Việt và chạy đăng trong mục Tài Liệu của báo Chiến Sĩ Cộng Hòa số 275 ra ngày 01-10 -1973. Bài viết cho thấy sự tương phản trong nhận thức giữa Lê Xuân Thủy và Đặng Thùy Trâm khi đối diện với thực tế tại chiến trường miền Nam. Bài viết bắt đầu như sau:
Lần đầu tiên, những chi tiết về cuộc tàn sát dân chúng hồi vào tháng Tư khi họ đang trốn tránh cuộc xăm lăng của Cộng Sản tại Quảng Trị vào thời gian đó, đã được một lính Cộng Sản Bắc Việt từng mục kích và cho biết.
Câu chuyện này được một lính truyền tin quân đội CSBV 22 tuổi, kể lại. Anh cho biết chính cuộc tàn sát vô ích không nương tay đó sau này đã khiến anh quay về với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Anh cũng xác nhận về nhiều chi tiết thuộc về câu chuyện mà hai sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ kể lại trước đây. Hai sĩ quan này từng ở trong khu vực tử thần đó.
Câu chuyện của viên cựu hạ sĩ quân đội Bắc Việt Lê Xuân Thủy kể, đã cho biết thêm những chi tiết sau đây:
1. Các người chỉ huy quân CSBV trong cuộc phục kích đó đã được biết trước về những gì họ sẽ làm.
2. Một số quân lính Bắc Việt tham dự cuộc phục kích đã được chỉ thị giết dân chúng.
3. Cuộc tấn công này kéo dài trong 5 ngày từ 29 – 4 đến 3 – 5/1972 chứ không phải 2 ngày như người ta cho biết trước đây.
Cựu Hạ sĩ Thủy đã trở về với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 31/7/1972.
Anh thuộc tiểu đội truyền tin của Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 2 Sư đoàn 324. Anh được giao công tác thiết lập liên lạc giữ bộ chỉ huy Tiểu đoàn lực lượng CSBV đang hoạt động trong khu vực Cầu Đài, gần quốc lộ 1, và đã chứng kiến hành động tàn sát xẩy ra trong khu vực đặc biệt của anh.
Dường như dân chạy loạn được phép di chuyển trên quốc lộ 1 theo hướng đi về Huế cho mãi tới chiều ngày 29/04, nhưng lính Cộng Sản Bắc Việt trong khu vực này đã bị cấp chỉ huy của họ khiển trách về việc cho phép những người này chạy thoát. Cấp chỉ huy của họ chỉ thị là từ ngày đó không cho phép bất cứ thứ gì di chuyển trên quốc lộ này.
Vì đường đi không có chướng ngại vật, nên cấp chỉ huy Cộng Sản Bắc Việt nổ súng vào bất cứ người nào và bất cứ thứ gì xuất hiện trên đường… Họ sử dụng tới súng máy và súng cối bắn tất cả đàn ông, đàn bà và trẻ em, bất kể họ đi bộ, đi xe đạp, trên xe vận tải hoặc xe tản thương, dù họ cũng có thể phân biệt được mục tiêu họ nhắm bắn là dân sự hay quân sự, theo lời hạ sĩ Thủy cho biết.
Có những trường hợp phụ nữ đi cách xa những người tỵ nạn khác và những nhóm không có đàn ông, nhưng sự phân biệt đó thực sự không được quân lính CSBV chú ý tới. Khi một vài binh lính Bắc Việt phản đối việc nổ súng bừa bãi đó thì cấp chỉ huy của họ đã cho biết là những người tỵ nạn đều được coi là “dân địch”.
Sau đây là lời hạ sĩ quân đội CSBV Lê Xuân Thủy kể:
- “Chúng tôi được lệnh nổ súng vào bất cứ người nào trốn về hướng Nam dọc theo con đường từ Quảng Trị tới Thừa Thiên. Tôi mục kích thấy nhiều xe bị bắn, đủ các loại xe, từ xe đạp tới xe thiết giáp đều bị quân Cộng Sản tấn công. Người chỉ huy trung đoàn đã ra lệnh như vậy. Chúng tôi được lệnh phải bắn tất cả những nam thanh niên, mặc dù họ đi bằng xe đạp hay đi bộ. Chúng tôi không được lệnh bắn phụ nữ đi riêng biệt. Tuy nhiên, môt xe dân sự chở đầy thường dân đã bị tấn công. Những người chỉ huy cho hay là nếu những người nào trốn thoát về Nam thì họ là về phía địch, vì thế họ đã bắn vào những người dân đó.
Cộng Sản cũng còn nổ súng vào những xe thiết giáp chở đầy thanh niên, binh lính và dân chúng. Viên chỉ huy tiểu đoàn ra lệnh bắn súng cối 60 ly và 82 ly vào những xe này bằng những loạt đạn dữ dội. Những súng cối 82 ly được đặt cách đó khoảng 200 thước và súng cối 60 ly được đặt cách mục tiêu khoảng 100 thước. Dân chúng đi thành từng nhóm, trong đó có cả đàn ông thì bị bắn những loạt súng máy.
Cộng Sản được lệnh bắn tất cả đàn ông đi trên đường tuy họ được lệnh không được bắn người già. Tuy nhiên khi những người trẻ đi lẫn trong đám người già thì tất cả đều bị bắn tiêu diệt. Sau khi bắn, quân Cộng Sản đi xét những xác chết và vơ vét của cải của nạn nhân và họ coi đó là chiến lợi phẩm. Tôi đã mục kích thấy nhiều đàn bà già cả và trẻ em chết gục tại đó.
Tôi thấy nhiều người bị thương chạy trốn vào hầm hố để tránh đạn pháo kích. Tôi không thể lưu ý đến họ vì tôi phải sửa chữa đường giây liên lạc. Có lệnh là tất cả những người bị thương đều phải ra khỏi hầm hố vì khu vực này được coi là khu vực quân sự, và không một người nào được phép ở trong đó, mặc dù những trận pháo kích bắn vào từ hai bên đường này.Vì vậy, tất cả dân chúng bắt buộc phải chạy đi nơi khác để tránh nạn, đồng thời bất cứ có binh sĩ nào trong số người này đều bị bắn tức khắc. Tôi đã chứng kiến 5 hoặc 6 người bị quân đội Bắc Việt giết như thế. Những người dân bị thương đều bị bỏ nằm lại dọc đường.
Chiến trận dọc quốc lộ Quảng Trị – Thừa Thiên đã kéo dài từ 7 giờ sáng 29/4 đến tối 3/5. Theo tôi nhớ lại thì ngày 30/4, một đoàn xe chạy trên quốc lộ này trong đó có một số thường dân đi xe hơi và một ít đi bằng xe Hồng Thập Tự. Đoàn xe này bị tấn công. Hôm sau lại một đoàn xe nữa gồm mấy chục chiếc cũng chạy tới và đoàn này cũng bị tấn công nữa. Mấy chiếc xe cứu thương dù có sơn dấu Hồng Thập Tự rõ ràng mà cũng bị bắn. Họ biết dấu Hồng Thập Tự là gì rồi, vì bên lính CSBV cũng có loại xe cứu thương có dấu Hồng Thập Tự như thế. Tôi cũng thấy có một số người nằm chết bên cạnh mấy chiếc xe đạp. Một số lính CSBV hoạt động trong vùng gần chỗ tôi ở đã bắn vào cả những người cưỡi xe đạp lẫn đi bộ.
Tối hôm đó, Cộng quân đã thu được một số chiến lợi phẩm quan trọng, trong đó có cả gạo của những người đã chết, súng, vải vóc, máy thu thanh, đồng hồ đeo tay… Lính CSBV tịch thu những thứ này không phải để để cho lính họ dùng, mà là để cho thượng cấp Trung đoàn Cộng Sản ấy… Họ tịch thu cả tiền, họ lột hết mọi thứ như nhẩn, vàng, bút máy, võng…”
Trả lời câu hỏi về nguyên nhân những vụ pháo kích bừa bãi như thế, hồi chánh viên này cho biết:
- Theo ý tôi, Cộng quân coi tất cả những người bỏ Quảng Trị chạy về phía Nam đều là những người thân chính phủ, mà như thế thì họ còn bị coi là những người chống Cộng và bị bắn, còn những người ở lại thị xã Quảng Trị thì bị Cộng quân cưỡng bách phải đi Vĩnh Linh.
Hồi chánh viên này cho biết là trong thời gian có những cuộc tấn công, anh ấy đã ở với một đại đội pháo binh có nhiệm vụ chọn lựa mục tiêu. Trạm tiền thám đặt tại một nơi cách quốc lộ 1500 thước, còn hai bên bờ quốc lộ đều có lính Cộng Sản phục kích, một bên cách đường 200 thước, một bên cách 400 trăm thước… Anh cho hay Cộng quân đã quét hàng tràng đại liên vào những xe đò chở đầy dân tỵ nạn. Khi có người hỏi phản ứng của anh ra sao khi thấy thường dân bị giết, anh đã đáp:
- Tôi buồn hết sức, điều đó đã làm tôi phải suy nghĩ rất nhiều. Người ta bảo tôi vào Nam chiến đấu chống Mỹ, nhưng khi tôi tới nơi, tôi lại thấy mình đang chống lại người Việt. Cuộc tấn công của chúng tôi nhắm cả người Việt dân sự lẫn quân sự.
- Khi anh tới quốc lộ, anh có thấy có xác trẻ em không?
- Có, chừng 10 em chết và nằm rải rác trên quốc lộ trong một quảng chừng một cây số!
- Anh thấy có bao nhiêu thi thể phụ nữ?
- Cũng chừng 10 xác, nhưng số bị thương thì rất nhiều. Họ ngồi dưới cái rãnh thoát nước hay trong bụi rậm.
- Anh có thấy nhiều người già bị chết hay bị thương không?
- Nhiều…
- Có nhiều người còn trẻ chết không?
- Có nhiều người còn ít tuổi đã chết.
- Họ vận áo thường dân hay quân phục?
- Họ vận đủ thứ quần áo, kể cả quân phục tác chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Quần áo của họ đủ màu, xanh có, đỏ có…
- Theo nhận định của anh thì họ là thường dân hay quân nhân, họ là người quê hay thành thị?
- Theo ý tôi, họ là thanh niên đủ giai tầng xã hội…, thanh niên, học sinh không ở trong quân đội.
Anh nói thêm:
- Khi chúng tôi trở về đơn vị để dự cuộc kiểm thảo thì có nhiều người đã phàn nàn với cấp chỉ huy, họ không đồng ý. Bọn này nói thường dân ấy là một phần của số dân theo địch, và nếu để cho họ thoát thì sau đó họ sẽ cầm súng bắn lại chúng ta. Chúng ta được lệnh bắn bất cứ ai và chúng ta phải thi hành lệnh ấy.
- Có phải sự bắn giết thường dân như thế đã khiến cho anh quyết định hồi chánh?
- Điều tôi nhìn thấy làm cho tôi rất đau buồn. Thảm cảnh người Việt chiến đấu chống người Việt làm cho tôi thất vọng. Tôi muốn phản đối lời biện bạch của các cấp chỉ huy, và có lẽ điều này cũng góp phần thúc đẩy tôi quyết định hồi chánh.
- Anh có biết chính sách 10 điều dân vận của Mặt Trận Giải Phóng?
- Có! Trước khi chúng tôi vào miền Nam, chúng tôi được học tập chính sách đối xử với thương binh và tù binh địch, nhưng tôi nhận thấy chính sách ấy không được áp dụng.
- Có phải anh muốn nói sự khác biệt giữa lý thuyết với thực hành?
- Khác biệt rất nhiều. Trong khi chúng tôi còn ở đất Bắc, người ta bảo chúng tôi là phải đối xử tử tế với tù và hàng binh. Nhưng trên thực tế, những người như thế đã bị ngược đãi. Trong một vài trường hợp, có một số tù binh đã bị bắn ngay khi bị bắt… Khi đem vấn đề đó ra thảo luận, các cấp chỉ huy vẫn khăng khăng một mực là họ đã áp dụng đúng lý thuyết….!
Nicholas Ruggieri

TÁM

Thân phận những người thương binh bộ đội “sinh Bắc tử Nam" trong tay đảng CSVN.

Người viết chưa có dữ kiện hay bằng chứng trong tay liên quan tới hậu quả việc Cộng Sản Việt Nam trút bỏ gánh nặng chiến tranh, chiến trường và ảnh hưởng chính trị tại hậu phương miền Bắc nếu vô số thương binh được chuyển ngược về tràn ngập các bệnh viện ở Hà Nội. Có tin là CSVN đã trút thương binh ra biển và nói rằng chuyển họ ra các tàu bệnh viện của Nga để chữa trị, nhưng trên thực tế không thấy ai được trở về. Tin này được đồn đãi qua các câu chuyện truyền miệng hay trên các “room paltalk”; thế nhưng việc các sĩ quan hay tư lệnh chiến trường Cộng Sản “truy điệu sống” và giết các thương binh của họ vì không di chuyển được khỏi vùng chiến trận và không muốn họ bị bắt khi bỏ lại, không muốn thương binh bị khai thác tin tức… là chuyện đã xẩy ra. Hay nói rõ hơn, các thương binh này bị giết chết để bịt miệng.
(Khi trao đổi với tác giả trên diễn đàn paltalk ngày 13/5/2007, một anh bộ đội từng chiến đấu ở Kampuchea, có nick “vietcong0” xác nhận là Lê Đức Anh, tư lệnh mặt trận 579 đã ra lệnh cho các cấp chỉ huy dưới quyền thanh toán thương binh trên mặt trận để “nhẹ gánh hành quân và di chuyển”. Anh “vietcong0” viết: “tôi là bộ đội, tôi biết các cấp chỉ huy đã giết thương binh bộ đội…!”)
Vào đầu năm 1970, một cuộc hành quân hổn hợp của Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 43 Sư đoàn 18 và các đơn vị bạn trong vùng thượng lưu sông Đồng Nai phía Tây Bắc Định Quán gần cây số 125 giữa Định Quán và Phương Lâm, một bộ đội tên Danh mặc nguyên quân phục của quân đội Bắc Việt đã ra trình diện đơn vị SĐBB và xin hồi chánh. Anh Danh bị thương ở tay trái và không mang theo vũ khí. Trong cuộc tiếp xúc, anh cho biết là anh may mắn còn sống vì chỉ bị thương ở tay và di chuyển được, anh nói các đồng chí bị thương ở bụng, ngực, hai chân… không di chuyển được khi đơn vị phải bỏ vị trí, thủ trưởng đơn vị anh ra lệnh cho “truy điệu sống”, bị xếp hàng bắn hàng loạt, chôn bừa bãi vội vàng trước khi rút. Anh cho biết ngày hôm trước, đơn vị anh đã đụng nặng với một đơn vị quân lực VNCH mà anh không biết tên và đơn vị anh buộc phải rút lui và “thanh toán thương binh” trước khi rút.
Để kiểm chứng nguồn tin khai thác, anh bộ đội tên Danh được yêu cầu chỉ đường cho một đơn vị VNCH vào khám xét vị trí mà các thương binh bộ đội bị “truy điệu sống”. Kết quả là một hầm chôn 26 xác thương binh bộ đội còn nguyên, đúng như lời khai báo của anh Danh. Đơn vị khám xét hầm chôn xác này là ĐĐ3, TĐ2, Trung Đoàn 43 SĐ18BB với sự có mặt của Đại Đội Phó Trần Văn Trung hiện còn sống ở Canada.
Vào đầu năm 1971, một trường hợp tương tự như trên cũng đã xẩy ra trên địa bàn Long Khánh dưới thời Đại Tá Chuyên làm tiểu khu trưởng. Chúng ta biết địa bàn hoạt động của vùng Võ Đắc, Võ Xu nằm trong hệ thống ngang dọc của mật khu Mây Tào thuộc tỉnh Long Khánh mà đơn vị Cộng Sản có mặt hoạt động là Công trường 5, Công trường 7 và Trung đoàn 33 Chính quy.
Nhận được tin tình báo về sự có mặt của một đơn vị thuộc Trung đoàn 33 Chính quy trong vùng, Tiểu khu Long Khánh tung ra một cuộc hành quân bất ngờ với Liên đội 319 Địa Phương Quân (Đại Úy Quang làm Liên Đội Trưởng) phối hợp với Đại đội 133 PRU/Trinh Sát Tỉnh do Đại Úy Nguyễn Văn Bộ từ Dù về làm Đại đội trưởng. Cuộc hành quân trực thăng vận chụp lên đầu các đơn vị Cộng Sản lúc 4 giờ sáng đã làm các đơn vị Cộng Sản không trở tay kịp, phải rút lui biến mất khỏi vùng hành quân sau cuộc đụng trận chớp nhoáng không kéo dài.
Đơn vị hành quân đã phát giác ra một bệnh xá khá lớn và khang trang mà vòm bệnh xá được đan bằng những vòm tre sống bọc trần; từ trên trời, máy bay không thể phát giác được. Bệnh xá có sức chứa khoảng trên 100 bệnh nhân, thương binh. Sàn bệnh xá khá sạch, các giường bệnh và thiết bị y tế khá tốt. Bệnh xá có dấu hiệu vừa có bệnh nhân và hoạt động, nhưng khi các toán Trinh Sát Tỉnh ập vào thì không còn một ai ở đó. Toàn bộ cơ sở và bệnh xá của VC bị đốt và phá hủy sau đó trước khi các đơn vị hành quân rút khỏi vùng.
Mấy ngày sau, một cán binh VC mang quân hàm thiếu úy tên Hoàng ra đầu hàng và hồi chánh với các đơn vị VNCH thuọc tiểu khu Long Khánh. Anh là một người miền Nam chứ không phải là quân chính quy Bắc Việt, tay bị thương còn băng bó. Trong cuộc thẩm vấn và khai báo, thiếu úy VC tên Hoàng cho biết là bệnh xá bí mật trong mật khu tre được thiết lập để đón trên một trăm thương binh từ các mặt trận vùng 3 chuyển về, đặc biệt đa số là sĩ quan bộ đội. Anh là một sĩ quan bị thương tay được gửi về điều trị tại đây.
Anh khai là trước đây mấy hôm, bộ binh và quân trực thăng vận VNCH đổ quân tấn công vào vùng bất ngờ lúc trời còn tối, các đơn vị Cộng Sản được lệnh rút chạy với các thương bệnh binh còn di chuyển được. Riêng hàng trăm thương bệnh binh Cộng Sản không thể tự di chuyển, và đơn vị không có khả năng di chuyển, trong lúc quân VNCH tấn công và súng nổ tiến gần bệnh xá, các sĩ quan chỉ huy của Cộng Sản đã làm lễ truy điệu sống cấp tốc họ và bắn hàng loạt thương bệnh binh, chôn vùi xuống hố và tháo chạy.
Thiếu Úy Hoàng là một trong những người bị thương tay, chạy được cùng với các toán VC, và anh cũng là người chứng kiến cảnh thảm sát hãi hùng các “đồng chí” xấu số bạn anh. Anh không thể tưởng tượng nỗi tại sao các cấp chỉ huy anh lại dã man như vậy. Từ nỗi hãi hùng và ghê sợ VC đó, anh quyết định tách khỏi toán, lẽn vô rừng khi trời còn tối và mấy ngày sau ra hồi chánh. Anh đã khai hoàn cảnh nào anh, một học sinh miền Nam trở thành VC, tại sao anh quyết định hồi chánh.
Theo lời khai và sự chỉ dẫn của anh Hoàng, Liên Đội 319 và Trinh Sát Tỉnh đã được lệnh mở cuộc hành quân trở lại vào vị trí Cộng Sản thảm sát thương binh của họ, và quả đúng như lời khai của thiếu úy VC Hoàng, một hầm cả trăm xác thương binh VC đã được khai quật.
Anh Hoàng về sau được chuyển về Ty Chiêu Hồi Long Khánh. Một hạ sĩ quan trong Đại Đội 133 PRU Trinh Sát Tỉnh tham dự cuộc hành quân và chứng kiến vụ khai quât hầm xác thương binh VC bị cấp chỉ huy giết trước khi tháo chạy, hiện đang sống tại Bắc Mỹ. (*)
Tình trạng giết thương binh bi thảm này gần như là chủ trương và chính sách của đảng Cộng Sản Việt Nam trong suốt chiều dài cuộc chiến xâm lược miền Nam, kể cả những ngày đầu của cuộc chiến của thập niên 1960. Theo tài liệu ghi trong “South Vietnam, US – Communist Confrontationin Southeast Asia, vol. 1,1961 –1965 (A fact on file) page. 23 thì trong thời gian giữa năm 1961, các đơn vị VC ở khu 8 và 9 phải đối đầu với tình trạng quá nhiều thương binh kẹt giữa chiến trường không thể di chuyển bằng thuyền hay cáng. Tài liệu ghi lại cho biết ngày 16/7/1961, một tiểu đoàn hơn 500 quân của VC phục kích và bao vây một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 7 BB/VNCH ở Đồng Thới phía Tây Sài Gòn khoảng 80 dặm. Trận đánh khốc liệt này, số tử vong của VC là 169 người, và theo cố vấn Hoa Kỳ của Sư Đoàn 7 thì trong trận đánh trên, với hỏa lực nặng nề của phi pháo, số thương vong của địch quân có thể lên tới 200 người, số thương binh này đã biến mất trên mặt đất dưới quyết định của đảng ủy Cộng Sản…
Ngoài ra, trong hai năm 1960 –1961, trong khu vực Tiền Giang thuộc lãnh thổ trách nhiệm của Sư Đoàn 7 BB/VNCH, các cuộc hành quân không phát hiện được một trạm xá nào của VC ngoại trừ hai trạm xá trong vùng Đồng Tháp bị phá hủy trước đó. Tình báo của Tiểu khu Kiến Tường cũng không phát giác một trạm y tế VC nào nằm bên kia biên giới Miên Việt.
Vấn đề thương binh bộ đội và du kích VC bị chính các cấp chỉ huy của mình hạ sát trên đường lui quân vì không di chuyển được, vì thiếu phương tiện, vị bị truy kích, vì muốn bịt miệng thương binh để không bị khai thác khi thành tù binh… là một thảm trạng có thật và có chủ trương của Hà Nội. Thảm trạng bi thương, dã man và ô nhục này Cộng Sản Việt Nam đã bưng bít dấu kín trong suốt cuộc chiến, cho cả đến ngày nay.
Con số thương binh bộ đội bị đảng CSVN giết dù không ai biết bao nhiêu, nhưng theo tình hình thực tế của chiến trường và hoàn cảnh chậm tiến, thiếu thốn tiếp liệu trong ngành quân y của Cộng Sản tại miền Nam, con số bộ đội và du kích VC bị thương tật này không thể là một con số nhỏ! Nó chắc chắn phải là con số hàng hàng lớp lớp thây người còn sống bị hạ sát vội vàng, chôn lấp dưới các hố nông sau những giây phút gọi là truy điệu sống của cấp chỉ huy họ.
Cứ nhìn con số thương binh của VNCH tại các quân y viện ở các tỉnh miền Nam và Tổng Y Viện Cộng Hòa ở Sài Gòn trong thời gian cao điểm của những trận đánh Mậu Thân 1968, cuộc hành quân Lam Sơn 719 năm 1971, và Mùa Hè Đỏ Lửa 1972… người ta có thể thấy số thương binh của bộ đội miền Bắc và du kích Cộng Sản trên chiến trường miền Nam nó nhiều ra sao. Con số này khó mà chữa trị hoàn hảo giữa rừng sâu thiếu thốn về thuốc men, phương tiện y khoa và nhân viên y tế nhưng lại dư thừa mưa bom, mưa đạn và những cuộc truy kích liên miên của QLVNCH.
Con số thương binh hàng hàng lớp lớp này nếu được một phép mầu nào đó tải thương được về đất Bắc, nó có thể tràn ngập tất cả các quân y viện CSVN từ bên kia bờ Bến Hải đến Hà Nội, và nếu con số đó hiện hữu trước mắt nhân dân miền Bắc, quân đội miền Bắc sẽ không còn tinh thần để lăn vào con đường “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, và quan trọng hơn hết, mặt thực của cuộc chiến tranh phi nghĩa phát động từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa sẽ phơi trần ra trước mắt đồng bào bên kia vĩ tuyến 17 và toàn thế giới.
Tất cả những lý do này quá đủ điều kiện cho những nhà lãnh đạo Hà Nội đan tâm cho lệnh “hành quyết” hầu hết những thương binh của mình trên chiến trường miền Nam để nhẹ gánh nặng hành quân, nhẹ gánh nặng hậu chiến, nhẹ gánh nặng phải đối diện với sự thật về vật chất lẫn tâm lý chính trị mà bộ máy tuyên truyền của Hà Nội sẽ không kham nỗi.
Và trong muôn ngàn bất hạnh của những thương binh Cộng Sản trên chiến trường miền Nam, may mắn thay, rất nhiều thương binh chưa kịp bị hành quyết bịt miệng này lọt vào tay QLVNCH và họ được chuyển về các quân y viện để chữa trị và cứu sống. Những tù binh này về sau được trao trả cho miền Bắc, hồng hào và khỏe mạnh, một hình ảnh trái ngược với những thương binh và tù binh xương bọc da bị VC bắt và trao trả cho VNCH trong những đợt trao trả tù binh hai bên.
(Xin đọc phần phụ lục truyện có thật “Ở cuối hai con đường”của tác giả Phạm Tín An Ninh)
Những dữ kiện và tài liệu thực trên đây không hề được Đặng Thùy Trâm nhận ra hay ghi nhận trong “Nhật Ký Đặng Thùy Trâm”, có lẽ cái bệnh xá của Đặng Thùy Trâm chưa gặp phải tình huống như những thương binh VC bị các “đồng chí” cấp trên truy điệu sống và giết chết, chôn vùi khi lui quân trên chiến trường miền Nam. Đặng Thùy Trâm làm sao biết được điều này, vã chăng, có thể nhật ký nguyên bản của Đặng Thùy Trâm khi qua tay đảng và “nhà xuất bản Hội Nhà Văn Hà Nội” đã bị cắt xén, gọt dũa và thanh lọc hầu sau đó có thể cho ra đời tập “nhật ký Đặng Thùy Trâm” phù hợp với nhu cầu tuyên truyền chính trị của CSVN.
Đây là một sự thật nếu chúng ta đem “nhật ký Đặng Thùy Trâm” do Hà Nội xuất bản so với nguyên bản viết tay của Đặng Thùy Trâm được viết trước khi Trâm chết, và nay còn lưu giữ tại Vietnam Center, Lubbock, Texas, Hoa Kỳ. Quả thực đã có những cắt xén, sắp xếp và thêm bớt trong quá trình cho ra đời tập “nhật ký Đặng Thùy Trâm” năm 2005 tại Hà Nội.
Trong quá trình xua hàng hàng lớp lớp thanh niên và vũ khí, đạn dược vô chiến trường B (miền Nam), ngoài đường mòn Hồ Chí Minh mà Hà Nội gọi là “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, chế độ Hà Nội còn dùng đường biển mà thông dụng nhất là ghe và thuyền mà Cộng Sản thường gọi là “đường mòn trên biển”, hay “đường mòn Hồ Chí Minh trên biển”, con đường lênh đên sóng nước này rất dễ chết, vì đụng đối phương trên biển hay găp bão tố.
Khoảng giữa năm 1968 đến 1970, có lần Lưu Quý Kỳ, Phó Ban Tuyên Giáo Trung Ương đảng CSVN đến nói chuyện với giáo sư và sinh viên trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội về đề tài thời sự, trong cuộc nói chuyện này, ông ca tụng sự hy sinh của những bộ đội ra đi không hẹn ngày về trên lộ trình “đường mòn trên biển” trong đó, Lưu Quý Kỳ công khai tiết lộ là các đồng chí bộ đội của ông ta đã được “tế sống” trong một buổi lễ dàn dựng trang nghiêm. Thành phần được “tế sống” này quả thật đã bị tẩy não, mê hoặc trong cơn mê cuồng bằng những kỷ thuật tuyên truyền tinh vi dài hạn của đảng CSVN.
(Tiết lộ của một giáo sư Đại Học Tổng Hợp Hà Nội dự buổi nói chuyện của Lưu Quý Kỳ. Vị giáo sư này hiện sống ở Canada… Nhân chứng sẳn sàng đối mặt với bất cứ nhân vật Cộng Sản nào về tiết lộ nói trên/Hải Triều ghi chú)
Cũng trong phần liên quan tới lộ trình xua quân vào Nam, Nhà xuất bản Hà Nội năm 1995 có xuất bản một tác phẩm “Có một con đường mòn trên biển Đông” của tác giả Nguyên Ngọc trong đó có viết lại chuyện một thuyền trưởng con tàu không số, Đại tá VC Nguyễn Đức Thắng mà trong Nhật Ký Đặng Thùy Trâm có trích một đoạn như sau: “… Các anh ạ, tôi phải kể các anh nghe một chuyện này, có thể hơi lạc đề một chút, không trực tiếp dính dáng nhiều đến con đường Biển Đông…. Hai giờ chiều hôm ấy, mười mấy anh em thủy thủ xơ xác chúng tôi đến được trạm xá của chị Trâm… Chúng tôi ở lại chỗ chị Trâm đúng một tháng rồi bắt liên lạc theo đường giây dọc Trường Sơn trở ra Bắc.”
(Nhật Ký Đặng Thùy Trâm trang 298- NXBHNV Hà Nội)
Đến nay, không có một tài liệu chính xác nào được Cộng Sản phơi bày ra ánh sáng về con số cán binh Cộng Sản chết trên các “con đường mòn trên biển Đông” với mức độ hiểm nguy, và tổn thất kinh khiếp ra sao mà Hà Nội đã phải cho những cán binh này được hay bị truy điệu sống trước khi xuống thuyền hay tàu vào Nam…
Tuy nhiên, như đã đề cập ở phần đầu chương này về chuyện Cộng Sản trút thương binh ra biển, chúng tôi không có tài liệu, số liệu cụ thể trong tay, nhưng chúng tôi không loại bỏ những cuộc thảm sát loại này khi lịch sử chưa mở ra những trang man rợ, bi đát.
Đây là một công tác giết người tối mật mà cả Hoa Kỳ lẫn Cộng Sản giữ kín chìa khóa và chưa mở ra vì lý do chính trị tế nhị và phức tạp giữa Hà Nội và Washington, nhưng xin độc giả hãy bình tâm suy nghĩ và lắng nghe đoạn audio sau đây được đọc lại từ một bài viết đầy nước mắt gửi ra từ trong nước và được phát trên đài phát thanh ở hải ngoại: (*)
http://lichsuviet.cjb.net/view_article.asp?id=2734&cat=6


CHÍN

-->
Đường mòn Hồ Chí Minh (theo cách gọi của người phương Tây, ở Việt Nam ngoài cách gọi này con đường còn có tên khác là đường Trường Sơn) là tên gọi của mạng lưới giao thông quân sự chiến lược mà chính quyền Bắc Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà) xây dựng tại miền Trung Việt Nam và Lào để chi viện cho những người Cộng Sản miền Nam trong 16 năm (1959–1975) của thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Về mặt quân sự Đường mòn Hồ Chí Minh là một chiến trường vận chuyển giữa quân đội miền Bắc và khối đồng minh quân sự Mỹ – Việt Nam Cộng hòa.
Sự hình thành Đường mòn Hồ Chí Minh
Đường mòn Trường Sơn trở thành một con đường nối liền Bắc Nam trong những năm đầu của cuộc Chiến tranh Đông Dương khi nó là một trong những tuyến đường đưa cán bộ di chuyển giữa hai miền để tránh sự truy quét của quân Pháp. Tuy nhiên, khi ấy nó chỉ là một con đường có tính cách chiến thuật. Sau khi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ra đời, dưới sự hậu thuẫn của Mỹ, đã phủ nhận Hiệp định Geneve về Việt Nam năm 1954, chia cắt đất nước. Để tiếp tục chi viện cho những người Cộng Sản miền Nam, chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã quyết định xây dựng những con đường chiến lược. Trên cơ sở đó đã có 2 tuyến đường được xem xét là tuyến đường bộ qua dãy Trường Sơn và tuyến đường biển trên biển Đông. Cả 2 đều có tên gọi là đường Hồ Chí Minh. Riêng tuyến đường bộ, do đoàn cán bộ đầu tiên chỉ huy xây dựng tuyến đường này được thành lập vào tháng 9 năm 1959, nên con đường còn có mật danh là đường 559.
Đường mòn Hồ Chí Minh nối liền miền Bắc với miền Nam, bao gồm các hệ thống đường đất ở phía Đông và Tây dãy Trường Sơn, hệ thống đường ống dẫn xăng dầu. Quân đội miền Bắc triển khai các đơn vị công binh, hậu cần, y tế, bộ binh và phòng không để đảm bảo hoạt động của đường mòn này. Miền Bắc dùng đường mòn này để vận chuyển bộ đội, vũ khí, xăng dầu, đạn… vào phía Nam và vận chuyển thương bệnh binh ra Bắc.
Trong khi đó, lực lượng quân sự Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa ngăn chặn bằng các hành động quân sự bộ binh, không quân. Lực lượng quân sự Mỹ còn sử dụng các máy móc điện tử phát hiện thâm nhập, thường được gọi là “hàng rào Điện tử McNamara”, để xác định các khu vực có hoạt động của quân đội miền Bắc.
Trên thực tế, đường mòn Hồ Chí Minh trải dài gần suốt các tỉnh miền Trung với các hoạt động quân sự tập trung ác liệt nhất ở Quảng Bình và Quảng Trị. Trong Chiến tranh Việt Nam ước lượng đã có 3 triệu tấn bom đổ xuống Lào mà chủ yếu là để cắt đứt giao thông trên đường mòn này. Tính đến ngày 30-4-1975, đường Trường Sơn đã tồn tại gần 6000 ngày đêm.
Ngoài ra, hoạt động vận chuyển của quân đội miền Bắc còn được thực hiện trên biển, tạo nên đường mòn Hồ Chí Minh trên biển ít nổi tiếng bằng.
Sau chiến tranh đường mòn Hồ Chí Minh không còn được sử dụng và hầu hết các con đường chỉ có ý nghĩa quân sự đã nhanh chóng trở nên hoang phế. Những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, để kỷ niệm con đường, tên gọi Đường Hồ Chí Minh được dùng để gọi con đường mới, là đường thứ hai sau đường quốc lộ 1A, xuyên suốt Việt Nam.
Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển
Theo báo Quân Đội Nhân Dân thì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, để chi viện cho chiến trường miền Nam, cùng với con đường vận tải bộ vượt Trường Sơn, quân VC còn có con đường vận tải chiến lược vượt biển Đông. Đó là “Đường Hồ Chí Minh trên biển”, con đường gắn liền với “Đoàn tàu không số”, với gần hai nghìn lần tàu thuyền vượt trùng khơi, trải qua muôn vàn hy sinh gian khổ, để vận chuyển gần 160 nghìn tấn vũ khí, cập 19 bến bãi thuộc địa bàn 9 tỉnh miền Nam.
Từ “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh”…
Trước sự phát triển lớn mạnh của VC, từ năm 1959, cùng với việc thành lập đoàn vận tải 559 vượt Trường Sơn, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương VC quyết định nghiên cứu mở tuyến đường vận tải trên biển chi viện trực tiếp cho chiến trường miền Nam. Người đầu tiên được truyền đạt chủ trương và giao nhiệm vụ này cũng chính là người đoàn trưởng đầu tiên của Đoàn 559: Võ Bẩm. Ông quê ở Quảng Ngãi, theo “cách mạng” từ trước năm 1945. Ngoài kinh nghiệm mở đường vận tải xuyên Trường Sơn, trong kháng chiến chống Pháp, ông đã từng chỉ huy tàu gỗ vượt biển chở vũ khí về chi viện cho chiến trường Khu Năm…
Võ Bẩm kể: “Giữa lúc đang tập trung rải quân lập tuyến giao liên đường bộ thì Bộ gọi tôi lên giao nhiệm vụ nghiên cứu mở thêm tuyến vận tải trên biển. Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh nói với tôi: “Đúng là rất mạo hiểm, khó khăn, nhưng cũng chính vì vậy mà kẻ địch sơ hở, chủ quan. Ta nên triệt để khai thác điều đó. Vả lại, chỉ cần một vài chuyến đi trót lọt, cũng bằng hàng nghìn người mang vác đường rừng, lại vào được tận Nam Bộ”…
Theo đó, tháng 7-1959, tiểu đoàn vận tải biển 603 VC được thành lập, đóng tại cửa biển sông Gianh-Quảng Bình, với tên gọi là “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh”. Khẩn trương và bí mật là hai “yêu cầu” gắt gao nhất. Thuyền phải giống thuyền đánh cá của ngư dân miền Nam, từ hình dáng đến ngư cụ. Thậm chí vải buồm, dây thừng cũng nhờ trong đó mua chuyển ra. Một số cán bộ VC Khu Năm cũng được điều động ra bổ sung cho đơn vị để khi gặp địch ứng xử cho “y chang” ngư dân Nam Trung Bộ. Trong đó có Huỳnh Ba, người Quảng Nam, giấy căn cước giả mang tên Nguyễn Nửa. Sau một thời gian tập luyện, thăm dò và chuẩn bị mọi mặt, đêm ba mươi Tết Canh Tý (27-1-1960), chuyến tàu đặc biệt đầu tiên xuất phát do Nguyễn Bất chỉ huy.
Những người ở lại bồn chồn chờ đợi. Một ngày, hai ngày… rồi một tháng, hai tháng… vẫn bặt vô âm tín. Ở miền Nam thông báo không đón được tàu.
Chuyến đi đầu tiên không thành. Sau này, Nguyễn Bất từ nhà tù Côn Đảo trở về kể lại: Xuất phát được một hôm thì tàu gặp gió lớn chuyển hướng, dạt vào đảo Lý Sơn-Quảng Ngãi. Loay hoay thoát nạn thì gặp phe Việt Nam Cộng Hòa tuần tiễu, đành phải phi tang để giữ bí mật. Cả sáu người bị phe Việt Nam Cộng Hòa bắt, tuy không khai thác được gì nhưng phe Việt Nam Cộng Hòa vẫn giam cầm mỗi người một nơi…
Sau ngày 30-04-1975, VC đã cố sức tìm kiếm nhưng vẫn không rõ tung tích những người còn lại. Mãi gần đây, một nhà văn hải quân VC mới lần tìm được một người nữa và có lẽ cũng là người duy nhất còn sống sót vì Nguyễn Bất cũng đã từ trần. Người đó chính là Huỳnh Ba, tức Nguyễn Nửa, nay đã ngoài 80 tuổi, sống ở quê nhà…
Đến “Đoàn tàu không số”
Tàu Không Số
VC tiếp nhận vũ khí từ "tàu không số" ở Năm Căn- Cà Mau
Chuyến vận tải đầu tiên của “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh” không thành công nhưng đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ mở đường trên biển. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương VC chỉ thị cho các tỉnh Nam Bộ chuẩn bị bến bãi và cử những chiếc thuyền vượt biển ra miền Bắc, vừa thăm dò mở đường, vừa trực tiếp báo cáo tình hình chiến trường. Tổng cộng đã có 5 đoàn thuyền của các tỉnh vượt biển ra miền Bắc thành công. Đó là cơ sở quan trọng để ngày 23-10-1961, Bộ Quốc phòng VC ra quyết định thành lập Đoàn vận tải 759, còn gọi là “Đoàn tàu không số”, có nhiệm vụ vận tải chi viện cho miền Nam bằng đường biển. Đến tháng 1-1964, đoàn 759 được đổi thành đoàn M25 trực thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân VC.
Tàu Không Số
Tàu không số của "Hải quân Bắc Việt" vận tải hàng vào miền Nam do vệ tinh quân sự Mỹ chụp
Ngày 16-2-1965, một chiếc tàu không số vào đến Vũng Rô thì bị Việt Nam Cộng Hòa phát hiện và tấn công. “Đường Hồ Chí Minh trên biển” bị lộ. Việt Nam Cộng Hòa tiến hành phong tỏa ráo riết các cảng miền Bắc và bịt chặn các đường biển vào Nam. Từ đó, những chuyến hàng của “Đoàn tàu không số” phải cải dạng thành tàu hàng, tàu đánh cá nước ngoài, xuất phát từ nhiều bến dã chiến và phải hành trình theo hải đồ quốc tế. Nhiều chuyến không thể vượt qua sự đeo bám, ngăn chặn quyết liệt của Mỹ, buộc nổ súng chiến đấu và hủy tàu. Nhiều người chết từ những “Đoàn tàu không số” . Tiêu biểu như Phan Vinh.
Phan Vinh
Phan Vinh, một trong vô số cán bộ VC bị chết trên biển.
Trong muôn vàn những câu chuyện được kể lai về “Đoàn tàu không số”, có một sự kiện gần đây được chắp nối, chứng minh. Đó là câu chuyện về “tàu không số” (thực chất là số hiệu C43) bị Việt Nam Cộng hòa tấn công ngày mồng một Tết Mậu Thân (1-3-1968) ở vùng biển Quảng Ngãi, đã được một số người ở Đức Phổ-Quảng Ngãi cưu mang và nữ bác sĩ Đặng T. Trâm cứu chữa, vượt Trường Sơn trở ra miền Bắc, tiếp tục những chuyến vận tải vũ khí về Nam…
Ghi chú:
- Bài viết trên đây được trích đăng trên trang nhà “Lịch Sử Việt Nam” của tác giả Trịnh Quốc Thiên
- Trong tài liệu ghi chú dưới tấm hình ghi: “Tàu không số của “Hải quân Bắc Việt” vận tải hàng vào miền Nam do vệ tinh quân sự Mỹ chụp.”
Điều này cho thấy Hoa Kỳ biết và theo dõi các hoạt động của Cộng Sản trên biển mà họ gọi là “đường mòn Hồ Chí Minh trên biển”. Trên rừng Trường Sơn khó phát giác và khó ngăn chận hơn trên biển. Một chiếc tàu không số xuất phát từ miền Bắc làm sao qua mắt được máy bay và vệ tinh quân sự Mỹ. Thế nhưng tại sao hàng ngàn tấn vũ khí của Cộng Sản lại có thể vượt đường biển vào Nam mà không bị chận bắt?
Khi tàu xâm nhập bị phát giác trên biển rộng mênh mông không địa đạo, không rừng núi thì làm sao thoát. Vệ tinh quân sự Mỹ đã chụp được những chiếc ghe, tàu từ miền Bắc xâm nhập miền Nam, và họ có chuyển tin tức này cho tình báo VNCH hay không? Hàng ngàn chuyến hàng đã lọt vào miền Nam từ đường biển dưới mắt của vệ tinh quân sự Mỹ. Đây là một nghi vấn cần đặt ra, cũng như tại sao Hoa Kỳ gần như để mặc cho các sư đoàn Bắc quân tiến quân vô Nam, đồng thời muốn bó tay QLVNCH trong khả năng phản công ra Bắc?!
(“Phía VNCH không hề biết rằng trong những cuộc mật đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ ngày 16/8/1971, Hoa Kỳ đã hứa rút hết quân đội Mỹ trong vòng 9 tháng, sau khi có hiệp định…”/Trích Hồ sơ mật Dinh Độc Lập trang 29, phân đoạn 2/Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter.)
Cũng xin ghi nhận thêm, chiếc tàu không số của Cộng Sản từ miền Bắc xâm nhập vô Nam bị bắt ở Vũng Rô, Khánh Hòa hoàn toàn do Hải quân QLVNCH phát giác. Người ta có lý do nghi ngờ người Mỹ đã dấu VNCH về những tin tức mà họ biết được liên quan tới những chuyến xâm nhập bằng “đường mòn HCM trên biển” vì âm mưu chiến lược của Hoa Kỳ, như ngày nay chúng ta được biết nội dung các cuộc mật đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ năm 1971 và sau đó với Chu Ân Lai năm 1972: Bỏ rơi miền Nam Việt Nam cho Cộng Sản.
Trong suốt cuộc chiến đăng đẳng hơn 3 thập niên, CSVN đã hy sinh bừa bãi, hy sinh quá nhiều thanh niên miền Bắc Việt Nam với chiến thuật biển người thí quân trên các mặt trận miền Nam, nếu tất cả những thương binh được đưa về Bắc thì Hà Nội không đủ bệnh viện để chứa, Hà Nội sẽ tràn ngập những phế binh thương tật… Nhưng tại miền Bắc thì sao? Rất ít thương binh, trừ những thương binh trong trận chiến Hoa Việt 1978 – 1979. Thương binh từ chiến trường miền Nam đẫm máu và ác liệt chắc chắn phải là con số vô cùng lớn lao, nhưng tại sao họ vắng mặt trên đất Bắc? Câu trả lời vì sao, độc giả có thể đoán được.
Điển hình là trong trận đánh giữa Chi đoàn 1/8 Chiến xa của Thiết Kỵ Lê Quang Vinh với cả Trung đoàn quân Bắc Việt. Trận chiến ác liệt trên 3 ngọn đồi trọc gần căn cứ Alpha trên đất Lào trong chuyến hành quân đoạn hậu đơn độc (gần như bị hy sinh, bị bỏ rơi …) để bảo vệ đoàn quân hàng ngàn người thuộc các đơn vị lui quân trên đường 9 Nam Lào về Lao Bảo ( cuộc hành quân Lam Sơn 719 năm 1971), trong trận tập kích đó, nguyên gần 2 tiểu đoàn Bắc quân bị quét sạch, xóa sổ. Con số thương vong của Bắc quân tại chiến trường trong trận đánh này phải nói là vô cùng nhiều, nhưng theo lời thân nhân anh Vinh tại miền Bắc kể lại khi thăm nuôi anh lúc anh ở tù ngoài Bắc sau 75, thì các đơn vị Cộng Sản đánh thiết giáp VNCH trên 3 ngọn đồi trên không một ai còn sống, kể cả mấy người anh em bà con anh Vinh trong đơn vị Bắc quân. Con số thương binh chắc chắn không nhỏ, nhưng họ biến đi đâu mà không ai được trở về đất Bắc?!
(Những Trận Đánh Không Tên Trong Quân Sử tập 2 năm 2006/ Chi Đoàn 1/8 Chiến Xa và đường vào Nam Lào oan nghiệt/ Trang 192 – 216/ Việt Nam xuất bản)
Hàng trăm thương binh bộ đội trong trận này liệu có mấy ai còn sống đến ngày nay? Thân nhân những người bô đội tội nghiệp này có bao giờ nghĩ đến thảm cảnh con em thương binh của họ bị “truy điệu sống” và tàn sát để các đơn vị rãnh tay lui quân hay không? Thương binh CSVN sau 1975 đa phần là thanh niên miền Nam bị lùa đi nghĩa vụ quân sự và thanh niên xung phong trên chiến trường Miên – Việt Cộng.
Cuộc tàn sát thương binh trên đất Bắc năm xưa trong cuộc chiến tranh Việt Pháp (?)
Chuyện Cộng Sản Việt Nam tàn sát thương bệnh binh của họ trong chiến tranh Việt Nam trước 1975 dường như nó có nguồn gốc lâu hơn, xa hơn, phát xuất từ chủ trương của đảng Cộng Sản Việt Nam do Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo. Hay nói rõ hơn, thảm trạng giết thương binh dã man để trút bỏ gánh nặng chiến trường, gánh nặng chính trị, gánh nặng xã hội… phải do chính Hồ Chí Minh chỉ đạo. Tôi xin trích một đoạn tài liệu sau đây:
… “Lúc ông Hồ trở về Hà Nội, không rõ bộ Thương Binh Liệt Sĩ đã kiểm kê được bao nhiêu tử sĩ, thương binh, đến nay vẫn chưa công bố rõ rệt. Riêng Điện Biên Phủ, theo tài liệu của Pháp, Viêt Minh bị thiệt hại khoảng 20.000 người, một nửa bị chết (*). Theo ước lượng của một nhân viên Bộ Thương Binh, tính vào cuối năm 1957, số thương binh còn sống rất ít, một điều rất lạ lùng là không còn bao nhiêu thương binh qua các trận lớn như Vĩnh Phúc Yên, Mạo Khê, Bờ sông Đáy và Điện Biên. Ty Thương Binh ( Xã Hội Lao Động) là ty nhàn nhạ nhất ở các tỉnh…”
(Việt Nam 30 Năm Khói Lửa – Cuộc chiến tàn sát thương binh lần thứ nhất 1945 -1963/ Cao Thế Dung/ trang 438 – 439/ nhà xuất bản Alpha 1991 phát hành)
(*) H.Navarre, Sđd.tr228 – 229: Theo Vĩnh Thiều, một cán bộ Viêt Minh tập kết ra Bắc và ông Phạm Đình Sơn, một người tham dự trận Điện Biên Phủ đồng ý và công nhận về điều nói ở trên.
Như vậy, vô số thương binh nói trên biến đi đâu trong cuộc chiến tranh năm xưa đến cuộc chiến tranh tại miền Nam Viẹt Nam là một câu hỏi phải đặt ra, và chúng ta đã có thể hay có lý do nói rằng đó là chủ trương có chỉ đạo từ Hồ Chí Minh và Chính Trị Bộ đảng Cộng Sản Việt Nam.
Những bi thảm, dã man về vụ giết thương binh trong phần này chính là một trong những tội ác của đảng CSVN mà thời gian và lịch sử chưa được khai quật ra ánh sáng, và dĩ nhiên Đặng Thùy Trâm và bạn bè thuộc thế hệ của Trâm không làm sao có thể biết được những u khuất man rợ này trước ngày Trâm nhắm mắt.
MƯỜI
Vài nhận xét tiêu biểu về Cộng Sản Việt Nam của người Cộng Sản cũ bỏ đảng:
Nhà văn Xuân Vũ nhìn ngược chiều Đặng Thùy Trâm.
Nhà văn Xuân Vũ từ Nam tập kết ra Bắc theo tinh thần hiệp định Geneve 54 chia đôi đất nước, anh phải được coi là một đồng chí cũ miền Nam của Đặng Thùy Trâm, nhưng anh đã thấy Cộng Sản có một cái gì không ổn khi hiểu sự thật của Cộng Sản trong những ngày sống trên đất Bắc. Anh không bị đẩy vào con đường hoang tưởng thù hận như Đặng Thùy Trâm, nên khi trở lại miền Nam, anh đã bỏ hàng ngũ Cộng Sản để về với quốc gia.
Những dòng trích đoạn ngắn trong một số tác phẩm của anh hoàn toàn đối nghịch với những cảm quan và tư tưởng của Đặng Thùy Trâm trong tập Nhật Ký được Hà Nội cắt xén và phát hành:
- Không người kháng chiến nào dù còn theo đuổi hay bỏ về thành mà không hận kháng chiến… ( kháng chiến tức hàng ngũ Cộng Sản/ghi chú của Hải Triều)
(Đồng Bằng Gai Góc trang 47/Xuân Vũ)
- Cuộc kháng chiến này là một sự phản bội, nuôi dưỡng nó để nó trở lại hại mình, giống như một thứ chó điên cắn cả chủ nhà.
(Đồng Bằng Gai Góc/Trang 68 / Xuân Vũ)
- Khi ra đó vài tháng, chàng thanh niên Xuân Vũ này lại cũng mần thơ, nhưng không dám đăng báo:
Mười năm rõ mặt Bác Hồ Là con quái vật miệng hô mắt lồi.
( Đồng Bằng Gai Góc trang 50/Xuân Vũ)
- Tôi theo cách mạng để nhìn thấy những cảnh nát đất, nát nhà và nát cả tim. Cách mạng dần dần đối với tôi trở thành vô nghĩa và thù hận.
(Đồng Bằng Gai Góc trang 230/Xuân Vũ)
- Lỡ tay đã nhúng chàm rồi khó rửa sạch, cũng như theo Cộng Sản không dễ gì rút ra. Cộng Sản không rộng lượng như người quốc gia. Chúng là loại người đê tiện nhất thế gian. Chúng có thể làm bất cứ việc gì để trả thù.
(Đồng Bằng Gai Góc trang 281/Xuân Vũ)
- Về cái chết thê thảm của nhạc sĩ Hoàng Việt, người đồng hành với tác giả Xuân Vũ suốt cuộc vượt Trường Sơn, Xuân vũ đã chua xót so sánh anh với vợ của Lê Đức Thọ, vợ của Nguyễn Chí Thanh và vợ bé của Lê Duẩn:
“Hoàng Việt là nhạc sĩ có sáng tác nhiều nhất và hay nhất trong suốt 9 năm kháng chiến Nam Bộ. Anh là hạt ngọc của Việt Nam, chứ không phải riêng của Cộng Sản.
Đến năm 1965, theo tôi biết thì ở miền Bắc chỉ có Hoàng Việt là người độc nhất có khả năng sáng tác nhạc giao hưởng. Từ Bungari về với mái tóc bạc quá nửa, anh được đưa vào trường vác gạch chuẩn bị đi Nam với tiêu chuẩn của một binh nhì, (trong lúc) tổng bí thư Lê Duẫn có vợ bé bị vợ lớn đánh đuổi phải đem gửi cho Mao chủ tịch, mỗi lần sang thăm vợ bé, tốn ít nhất là 10 năm lợi tức của một xã viên”.
(Đồng Bằng Gai Góc trang 100-101/Xuân Vũ)
- Sau khi đã thuật lại những điều tai nghe mắt thấy và nêu lên bằng chứng về người về việc sống động trong chế độ xã nghĩa, tác giả đã viết ở gần cuối sách:
“Đảng Cộng Sản sinh ra để làm hai việc: Nói láo và làm bậy. Hễ chúng nói là nói láo, hễ làm là làm bậy. Xin độc giả nhớ giùm cho như vậy. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi. “
(Đồng Bằng Gai Góc trang 335/Xuân Vũ)
- Trong tập truyện Thiên Đàng Treo tác giả có thuật lại hai câu chuyện thương tâm tại hợp tác xã, hai người đàn bà lăng mạ nhau bằng những lời tục tĩu, rồi ấu đả nhau chỉ vì cái hố phân, hai người đàn ông chém giết nhau chỉ vì vài con cá. Rồi kết luận:
Cuộc sống ở miền Bắc trong một thời gian ngắn, đã cào tuốt tất cả những mộng tưởng tốt đẹp trong đầu tôi có được từ quyển Au pays de Staline, về nông trường, về hợp tác xã, về cái hạnh phúc thiên đàng với tới được dễ dàng mà ông Tây đã vẽ ra kia.
(Thiên Đàng Treo trang 147/Xuân Vũ)
- Và ở trang sau:
Nhờ đó tôi nghe được tiếng dân than tự đáy lòng: “Bây giờ khó sống hơn thời Pháp”. Tôi bật ngửa ra. Hóa ra thế! Lúc ấy chủ trương hợp tác xã đã thi hành được đâu hơn ba năm rồi. Đọc báo nhân dân thì thấy phấn khởi lắm.
(Thiên Đàng Treo trang 148/Xuân Vũ)
- “Tự Vị Thế Kỷ”, tập truyện ngắn xuất bản năm 1990 gồm 18 chuyện về Cộng Sản trong đó độc giả sẽ thấy: “tàn bạo, vô luân, xảo quyệt, dâm ô, lưu manh, rởm, đểu… Ngay lời tựa ông viết:
Dùng sức dân để phá ngục Bastilles để xây ngục Bastilles khác lớn hơn để nhốt dân. Đó là Cộng Sản. Không đợi đến biến động xảy ra ở Đông Âu tôi mới “sáng mắt và sáng lòng”. Năm 1956, tức là sau khi ra Bắc được một năm, tôi đã lên ủy ban quốc tế để xin về Nam theo đúng tinh thần hiệp định Giơ Ne Vơ. Vì sao? Vì tôi thấy cái xã hội chủ nghĩa nó kỳ cục thế nào ấy. Thuở ấy mới 26 tuổi chưa biết Cộng Sản là cái quái gì nhưng thấy mặt mũi nó hiện lên tôi hết ham. Nó không phải là chân dung người đẹp của tôi mong đợi. Cảm giác đầu tiên là cảm giác đúng nhất. Kỳ cục là cảm giác của tôi đối với Cộng Sản.
Bây giờ lưu vong. Sống xa Cộng Sản một vạn cây số, và sống trên một nước tự do, tôi thấy Cộng Sản càng kỳ cục. Nhiều nhà văn, nhà chính trị, nhà trí cho rằng Cộng Sản là loại người… không có nhân tính. Tôi đồng ý hoàn toàn. Nhưng chúng giỏi che giấu và giỏi lừa bịp. Cho nên con quỷ khát máu mang bộ mặt người vẫn sống chung được với loài người thậm chí còn được loài người tin yêu mới lạ chứ. (…)
MƯỜI MỘT
Tính nhân bản của người lính Việt Nam Cộng Hòa:
chiến đấu tự vệ và bảo vệ tự do của miền Nam…
so với sự chiến đấu đầy thù hận và xâm lăng của người lính miền Bắc.
Ngày 12/05/1968, Đặng Thùy Trâm viết trong tập Nhật Ký những dòng chữ như sau:
“…. Hội nghị Paris! Đây là những ngày tháng của năm 1954 đấy chăng? Mình hồi hộp theo dõi tin tức, biết chắc chắn rằng thắng lợi có được trong hội nghị phải do thắng lợi trên chiến trường quyết định. Vậy thì hãy chuẩn bị tinh thần để bắt đầu một đợt chiến đấu quyết liệt cuối cùng rồi sao đó ai còn ai mất hãy hay. Dù còn dù mất cũng là những ngày vui bất tận khi hòa bình chân chính trở lại trên đất nước chúng ta. Hơn hai mươi năm rồi, khói lửa đau thương vẫn trùm lên giải đất hiền lành. Nước mắt chúng ta chảy nhiều rồi. Chúng ta có tiếc gì đâu để đổi lấy độc lập tự do.”
(Nhật Ký Đặng Thùy Trâm trang 47/ NXB/Hội Nhà Văn Hà Nội 2005)
Ngày 05/05/1970, Đặng Thùy Trâm viết một đoạn về quân Mỹ:
… Chúng ta sẽ phải đương đầu với một khó khăn ghê gớm hơn nữa đây, nhưng tao đã thề cùng các đồng chí của tao rồi, dù có chết cũng quyết đánh cho đến cùng…
Ôi! Căm thù đến bầm gan tím ruột. Tại sao cũng là con người mà lại có những con người độc ác tàn tệ muốn lấy máu đồng bào để làm nước tưới cho gốc cây vàng của nó như vậy?
( Nhật Ký Đặng Thùy Trâm trang 241/ Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn Hà Nội 2005)
Trên đây là hai trong những dòng chữ tiêu biểu trong tập Nhật Ký Đặng Thùy Trâm, nó cho thấy tính cuồng nhiệt căm thù của Trâm đối với người Mỹ, hậu quả của những tháng năm Cộng Sản miền Bắc và Hồ Chí Minh nhồi nhét thù hận vào đầu thế hệ trẻ miền Bắc, mà mục đích là dọn đường đẩy từng lớp người trẻ vào con đường “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.
Cộng Sản ngoài việc tạo cho thế hệ trẻ tư tưởng căm thù Mỹ, họ còn vẽ trong đầu giới trẻ miền Bắc hình ảnh người lính Việt Nam Cộng Hòa mà họ gọi là “quân Ngụy” như những kẻ gian ác, tàn nhẫn, đáng ghét. Trong nghệ thuật tuyên truyền, tẩy não và bịa đặt, Cộng Sản Hà Nội đã thành công với Đặng Thùy Trâm và vô số thanh thiếu niên miền Bắc Việt Nam trong quá trình đẩy họ vào chiến trường miền Nam với tinh thần cuồng nhiệt, mù quáng.
Thật ra, Miền Nam có cần miền Bắc giải phóng không? Không! Miền Nam có bần cùng, nghèo đói ăn cơm bằng gáo dừa, bị áp bức tù đày hơn miền Bắc không? Không! Miền Nam có bị Mỹ đô hộ, chiếm đóng không? Không! Miền Nam, Việt Nam Cộng Hòa là một miền Nam tự do có bang giao với nhiều quốc gia trên thế giới, có cơm ăn áo mặc đầy đủ, có tự do, có nhân quyền… có những thứ mà miền Băc xã hội chủ nghĩa có mơ trăm năm cũng không thành sự thật thì đâu cần ai giải phóng.
Miền Nam dù sau bao năm chinh chiến bị miền Bắc xâm nhập người phá hoại, tàn phá, từng ngày, từng giờ… nhưng ngay sau khi Sài Gòn sụp đổ, những người Cộng Sản còn chút lương tri và tri thức khách quan vào Nam, như Dương Thu Hương chẳng hạn, đã kinh ngạc về một nền kinh tế tự do, một xã hội khai phóng, nhân bản, sung túc mà miền Bắc xã hội chủ nghĩa không có lấy một phần. Khi Cộng Sản chiếm Sài Gòn, một phần lịch sử đã mở ra để cả nước thấy được một chút ít sự thật oan nghiệt, tang thương của thân phận cả một dân tộc…
Vì ấu trĩ, thờ ơ u tối Vì muốn an thân, vì tiếc máu xương Cả nước đã qui về một mối Một mối hận thù, một mối đau thương Hạnh phúc, niềm mơ, nhân phẩm, luân thường Đảng tới là tan nát cả Lịch sử sang trang, phủ phàng tai họa Nào đâu chính nghĩa thắng gian tà!?…
(Vì Ấu Trĩ/ thơ Nguyễn Chí Thiện)
Những dòng thơ trên đây, một phần ý thơ muốn quy trách người miền Nam đã ấu trĩ, đã thờ ơ, đã u tối, đã tiếc máu xương nên đã thua cuộc chiến đấu chống Bắc quân mà hậu quả là “cả nước đã qui về một mối, một mối hận thù, một mối đau thương dưới chế độ Cộng Sản để “hạnh phúc, niềm mơ, nhân phẩm, luân thường; đảng tới là tan nát ca!”. Nhưng câu giá trị nhất trong dòng thơ tập chú vào câu “Nào đâu chính nghĩa tháng gian tà!?” Khi viết đến dòng này, người viết nhớ lại một lời phát biểu thẳng thừng tại Sài Gòn của thượng nghị sĩ John Mc Cain ngày 28/04/2005 rằng “I think that the wrong guys won!”.
Khi viết những dòng thơ trên, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện còn sống ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa và ngậm ngùi tuyệt vọng khi Sài Gòn sụp đổ, ông không hề biết Quân Lực Việt Nam đã hy sinh và chiến đấu bi hùng trong suốt 30 năm để bảo vệ tự do cho phần đất còn lại ở phía Nam sông Bến Hải, và đã bị bức tử, hy sinh năm 1975 do những âm mưu chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ.
Người lính miền Nam “đã không an thân, đã không tiếc máu xương”, đã chiến đấu ngày đêm trong thế tự vệ để bảo vệ bờ cõi, họ chiến đấu không thù hận, họ không bị đầu độc và huấn luyện căm thù… Cuộc chiến đấu của họ đầy tính chính nghĩa và nhân bản, hoàn toàn khác với những người lính miền Bắc bị xua vào Nam lòng đày ắp thù hận mà họ tưởng là họ có chính nghĩa. Đặng Thùy Trâm là lớp tuổi trẻ điển hình rõ nét nhất trong trường hợp này.
Một trong những hình ảnh người ta dễ thấy sự khác biệt giữa quân đội VNCH và Bắc quân Cộng Sản là các cuộc trao đổi tù binh. Tù binh Cộng Sản được VNCH chữa trị, nếu bị thương, và nuôi dưỡng đầy đủ trong thời gian bị giam giữ, nên khi khi trao trả cho Cộng Sản, họ mập mạp, hồng hào hơn cả lúc họ ở đơn vị của họ; trái lại, tù binh VNCH khi trao trả, họ là những bộ xương gầy ốm, bệnh hoạn. Hình ảnh của Đại Tá Nguyễn Công Vĩnh khi nhận hay đoạt từ tay Cộng Sản gần như là một cái xác không hồn.
Tôi nhớ khoảng năm 1969 hay1970, đơn vị của tiểu đoàn tôi tập trung 2 đại đội thuộc Tiểu đoàn 5 An Ninh Thiết Lộ mở cuộc hành quân nhỏ giới hạn quanh vùng Sông Lòng Sông, phía Tây Chi khu Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận… yểm trợ cho toán hỏa xa sửa cây cầu thiết lộ Sông Lòng Sông bị Việt Cộng đặt mìn phá hủy. Trong thời gian hoạt động ở trong vùng này, toán thám sát của Đại đội 51/ANTL có bắt được một bộ đội Bắc Việt đang núp ven rừng quan sát đoàn tàu. Người bộ đội mặc quân phục bộ đội miền Bắc, còn rất trẻ, khoảng dưới 20 tuổi, người Nam Định tên Vũ Quang (?). Buổi chiều, trong khi hỏi cung sơ khởi và chờ làm thủ tục chuyển giao tù binh cho tiểu khu Bình Thuận, người tù binh bị bịt mặt và được hỏi:
- Anh có đói không?
- Thưa có ạ!
Anh được chuyển cho một tô mì gói và vì hai tay còn bị trói, anh được người lính Việt Nam Cộng Hòa đút từng đũa mì…
- Anh thích uống cà phê không?
Mắt người bộ đội sáng lên:
- Dạ thích ạ!
Anh được người lính VNCH “phục vụ” một ly cà phê.
- Anh muốn hút thuốc không?
Người tù binh trả lời ngay:
- Dạ thích ạ! Cám ơn các chú, các bác!
Và lại người lính VNCH đưa điếu thuốc vào miệng người tù binh và quẹt lửa châm thuốc. Khói thuốc quyện từng vòng bốc lên cao trong khi hai tay anh vẫn bị cột, hai mắt anh vẫn bị che bằng mảnh vải đen. Mắt anh phủ một màu đen, nhưng có thể hình ảnh người lính VNCH hung ác, tàn bạo như anh từng bị đảng CSVN nhồi nhét… đã không còn… Người lính miền Nam chiến đấu không hận thù trong một cuộc chiến tự vệ chính danh, chính nghĩa để bảo vệ tự do cho phần đất phía Nam sông Bến Hải.
Trường hợp rõ nét tương tự cũng được thể hiện trong bài viết “Ở Cuối Hai Con Đường” của tác giả Phạm Tín An Ninh khi người sĩ quan thiết giáp Bắc quân bị thương, bị đồng đội bỏ lại chiến trường và được một đơn vị Sư Đoàn 23 cứu sống, chữa trị khỏe mạnh và được trao trả tù binh.
(Xin xem phần phụ chương ở phần cuối sách…)
MƯỜI HAI
Những tội ác của đảng Cộng Sản Việt Nam
trong dòng lịch sử đen tối của dân tộc
mà thế hệ Đặng Thùy Trâm chưa biết và nên biết…
Tôi có một người quen người miền Bắc, anh kể lại một chuyến về thăm quê hương ở Sơn Tây và bỏ tiền ra tổ chức một ngày giỗ kỵ linh đình cho ông Bố. Trong lễ giỗ, người nhà anh mời cả làng, cả bà con và những viên chức nhà nước Cộng Sản địa phương. Bố anh chết trong vụ “cải cách ruộng đất” năm xưa trên đất Bắc do chính những người theo Cộng Sản trong làng năm xưa, họ đã lôi ông đem ra đấu tố theo chủ trương của Hồ Chí Minh rập khuôn theo Cộng Sản Tầu.
Sau phần giới thiệu chủ khách và vị thân nhân “Việt kiều” về từ California, mọi người vui vẻ ngồi vào bàn ăn. Buổi lễ giỗ kỵ trở nên vui nhộn, ồn ào. Bỗng một bà cụ, chị ruột anh “Việt kiều” kéo anh ra một góc nhà nói nhỏ, nói một cách nghiêm trọng và tức tối:
- Cậu có nghe ai kể lại chuyện bố bị giết trong vụ “cải cách ruộng đất” khi xưa không?
- Thưa lúc đó em còn bé, sau này nghe nói bố bị đấu tố chết chỉ vì bố có mấy mẫu ruộng ông bà để lại, bố bị đấu tố chết vì tội địa chủ. Chi tiết ra sao em không rõ!
- Hôm nay, giỗ bố, chị vẫn còn đau lòng. Lúc bố bị đấu chết, chị đã14,15 tuổi và thấy rất rõ ai đã đấu bố, và nay họ vẫn còn sống, và nay họ cũng có mặt trong ngày giỗ bố!
- Ai chị?
- Em nhìn cho rõ! Hai cái ông ngồi ăn ở cuối bàn bên kia, bên cạnh bác B, chính là hai người khi xưa đã đấu bố dã man. Họ nay là quan quyền cán bộ tại địa phương nên nhà mới mời, nhưng chị căm lắm!…
Người chị ông “Việt kiều” chậm nước mắt:
- Thôi em ở Mỹ về, chị chỉ nói cho em biết họ là ai, và nhà mình không quên cái chết đau đớn của bố năm xưa!
Câu chuyện thật trên đây là một trong hàng nghìn thảm cảnh năm xưa trên đất Bắc của cái thời “Tôi đi không thấy phố, không thấy nhà. Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ” (Trần Dần). Và nó cho thấy người dân miền Bắc không quên tội ác của Cộng Sản và Hồ Chí Minh, dù tội ác đó đã diễn ra trên hơn nửa thế kỷ qua trên đất Bắc.
o O o
Năm 1968, sau khi chiếm thành phố Huế hơn một tuần lễ, quân Cộng Sản bị đánh bật ra khỏi thành phố, trong cái hoang tàn đổ nát còn để lại những vết đạn, những hố bom, Huế bỗng chìm ngập thêm trong một mầu tang đẫm ướt máu và nước mắt với vô số những mồ chôn tập thể đầy xác người bị Cộng Sản Việt Nam hành quyết khi chiếm Huế và trước khi rút lui.
Cuộc thảm sát Mậu Thân giết hại hàng ngàn đồng bào vô tội là một tội ác, một vết nhơ bi thảm, tàn bạo, dã man của những người Cộng Sản mà cả thế giới đều biết, vì ngoài đồng bào Việt Nam, họ còn tàn sát cả những người ngoại quốc và tu sĩ bị họ bắt. Đến nay, chế độ Hà Nội vẫn chưa chính thức thừa nhận tội ác hiển nhiên của mình trước đồng bào và lịch sử. Nên nhớ, chính Hồ Chí Minh đã đọc thông điệp “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua….” mở màn cho cuộc tổng công kích Mậu Thân năm 68 ở toàn cõi miền Nam, thành ra tội ác này Hồ Chí Minh phải gánh chịu cùng với đảng Cộng Sản Việt Nam.
o O o
Năm 1975, ngày 22 tháng Tư khi Sư đoàn 18 BB được lệnh rút khỏi Long Khánh để về tăng cường bảo vệ vòng đai Sài Gòn, các đơn vị Nghĩa Quân và Địa Phương Quân cũng rút đi… song các đơn vị lui quân này để lại toàn bộ các mìn bẫy phòng thủ với vô số mìn Claymore giăng mắc khắp các tuyến phòng thủ. Các đơn vị thuộc các sư đoàn Bắc quân ào ạt tràn vào khoảng trống diện địa và hết lớp này đến lớp khác, họ vướng mìn và chết rất nhiều.
Để trả thù cho các tổn thất này, một cánh quân của một sư đoàn Cộng Sản bị tổn thất nặng vì mìn, khi tiến vào xã Tân Lập, đã bắt hàng trăm thanh niên và những người đàn ông xếp hàng trên một con lộ trước trụ sở xã Tân Lập và hành quyết hàng loạt bằng súng AK vào một buổi trưa tháng Tư. Vì số người chết lên tới mấy trăm người nên máu chảy tràn xuống bờ mương hai bên lộ thành một suối máu. Sau đó, Bắc quân trước khi tiếp tục tiến vào thị xã Xuân Lộc và hướng tiếp về Sài Gòn, đã dùng xe ủi đất trong rừng cao su đào một hố chôn tập thể dồn gần mấy trăm xác người xuống hố và lắp đất lại thành một ngôi mộ lớn.
Dấu tích tội ác này nay vẫn còn. Nhân chứng, người đàn bà Long Khánh trốn trong rừng cao su gần nơi thảm sát, chứng kiến trọn vẹn cảnh giết người của Bắc quân nay vẫn còn, hiện định cư tại Bắc Mỹ.
Cuộc thảm sát man rợ này về con số nạn nhân thua xa vụ Mậu Thân năm 68 ở Huế, nhưng vì diễn ra giữa ban ngày trước những con mắt hãi hùng của gia đình thân nhân nạn nhân và đồng bào, nên người ta không tưởng tượng nỗi mức độ tàn bạo của những bộ đội gọi là vô Nam để giải phóng đồng bào.
Bài viết về cuộc thảm sát này, tác giả bài viết này, Hải Triều, đã tung lên internet và được chuyển ngữ ra Anh ngữ để gửi đến các cơ quan truyền thông của Hoa Kỳ và có chạy đăng trên các mạng internet (*) Xin vào www.nsvietnam.com
o O o
Và cũng trong năm 1975 và vài năm sau đó, sau khi Cộng Sản chiếm trọn miền Nam, ngoài một số vụ hành quyết trả thù các sĩ quan miền Nam như vụ Đại Úy Nguyễn Văn Trò ở Phan Thiết, vụ hành quyết Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn… bên cạnh những trấn lột tài sản đồng bào miền Nam do Đỗ Mười chỉ huy trong các cuộc Cộng Sản gọi là đánh “tư sản mại bản”, Cộng Sản Việt Nam do chỉ thị và chủ trương từ Hà Nội, đã gom thu vô số vàng bạc của đồng bào Việt gốc Hoa trong các chuyến tầu đăng ký ra nước ngoài… rồi cho nổ mìn cho tàu chìm ngoài biển. Xác người tấp vào Vũng Tàu, nhất là cửa Đại, Bình Đại, Bến Tre đến thối nhiễm cả dòng sông…
MƯỜI BA
Còn Tệ Hơn Là Tắm Máu
(Chương 8/ La mort du Vietnam/ Đại tướng Vanuxem)
Không có xảy ra một cuộc tắm bằng máu như người ta hằng trông đợi. Và một điều hết sức ngạc nhiên khi người ta thấy những người man di mọi rợ, trong khi được dân chúng đón tiếp bằng một sự khinh bỉ ra mặt, đang thử làm quen với thành phố Sài Gòn rộng lớn nầy, dân chúng thì bất thần nghiêm mặt lại, làm như không có chuyện gì vừa xảy ra, trong khi thật sự thì không còn có gì còn giống như ngày hôm qua nữa. Làm gì có chuyện tắm máu, đó không phải là thói quen của người Cộng Sản! Và người nào có ý muốn chờ xem chuyện đó thì có thể tin được như vậy. Còn quá tệ hại hơn thế nữa kia!!!
Thật vậy, người ta nghe nói có nhiều vụ xử tử sơ khởi, đó đây không có chứng cớ: “Tại Ban Mê Thuột họ cho ám sát tất cả những cấp chỉ huy và cựu quân nhân thuộc các dân tộc thiểu số miền thượng du Bắc Việt đã chạy Cộng Sản di cư vào Nam từ năm 1954-1955.”
Bác sĩ Vincent, d’Athis Mons, người Việt 100%, có quốc tịch Pháp, thuộc đoàn “bác sĩ không biên giới” trong Phái Bộ Y Tế do nước Pháp gởi sang Việt Nam, nên ý kiến rất là tự do và trung thực. Không cần biết đầu óc ông ta nghĩ như thế nào trước đó, khi mà tất cả phái bộ của ông được khoản đãi linh đình ở Paris ngày 13/4/75, trước khi rời nước Pháp để sang Việt Nam, do Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tổ chức. Mặt Trận đã khuyên ông không nên bắt liên lạc với Sài Gòn và hãy tạm nằm ở Vũng Tàu chờ “quân giải phóng”. Phái bộ nghe theo lời MTGPMN, không vào Sài Gòn mà ra nằm chờ ở Vũng Tàu, thuốc men và dụng cụ y khoa được tạm gởi vào một bệnh viện dân sự của VNCH.
Có vài cuộc pháo kích vào thị xã, và người ta mang lại khoản 80 người bị thương vừa thường dân vừa lính nhảy dù. Họ săn sóc cho những người nầy. Đến lượt những người man rợ đến, có lẽ chưa có chỉ thị của cấp trên, nên họ ra lệnh ngưng tất cả mọi công tác và ý định chữa trị cho những người bị thương nói trên. Rồi một toán khác lại đến, những người nầy có vẻ hiểu biết hơn, nhưng ra lệnh buộc tất cả phải rời khỏi bệnh viện nầy, vì họ đang cần dùng.
Vì các “bác sĩ không biên giới” không biết phải đưa những người bị thương mà họ đang chữa trị đi đâu, nên họ từ chối lệnh nầy. Tức thì một người chỉ huy toán “giải phóng quân” nói với bác sĩ Vincent rằng: “Đây rồi chúng tôi đã có cách.” Nói xong ông ta rút súng ngắn ra, kê vào đầu một người bị thương cạnh đó, và bóp cò. Bác sĩ Vincent phản đối. Người ta lôi ông ra chỗ khác… và rồi ông nghe nhiều tiếng súng lục nổ…. đến lúc súng hết nổ thì bệnh viện đã trống, sẳn sàng cho “giải phóng quân” sử dụng!
Đó là một trong những nhân chứng và chứng cớ hiếm hoi của những cuộc hành quyết nhanh gọn. Và người ta phải rất ngạc nhiên lắm mới thấy được sự đứng đắn của những kẻ xâm lăng man rợ nầy. Một người trong phái bộ “bác sĩ không biên giới” phải thốt lên: “Thật là giống y như bọn phát xít Đức hồi năm 1940 !”
Những gì xảy ra tại Sài Gòn đều giống y như đã xảy ra tại HàNội. Và những ai đã từng có “sống” tại Bắc Việt vào những năm 1954-1955 đều phải buồn lòng và sửng sốt mà thấy vở tuồng cũ năm xưa đang được họ diễn lại tại Sài Gòn.
Về sau nầy, để tránh nhân chứng gây trở ngại cho những cuộc hành quyết, ở xa trung tâm thành phố và ở vùng ngoại ô hay vùng thôn quê, lần lần bắt đầu có những cuộc thanh trừng dưới hình thức các tòa án nhân dân, xử và hành quyết ngay tại chỗ, xử những người nào bị bất cứ ai (vì tư thù hay vì đãng vụ) tố giác hay gán cho cái tội “có hành vi phản cách mạng”, hay “là kẻ thù của nhân dân”, không cho người tù nhân có cơ hội hối cải. Thế mà dân chúng phải buộc lòng ưng chịu, sau đó hoặc là tử hình, hoặc được đưa đi “trại cải tạo”, nơi đó người ta phải chịu chết dần chết mòn, vì tinh thần bị lụn bại còn tệ hại hơn là thể xác bị hao mòn.
Những ai vẫn còn tưởng rằng Cộng Sản và thể chế độc tài chuyên chính của họ là nhân đạo, thì bằng cớ rành rành ở đây sẽ chứng minh một lần nữa là không phải như vậy. Người ta có thể cho những hành động vô nhân đạo nầy là của một giống dân khác, ở một quốc gia khác, có một thời tiết khác, nhưng cho dù từ miền Trung Âu hay Đông Âu, đâu đâu cũng vậy, chỉ có một âm điệu giống nhau mà thôi !
Không có gì có thể thay đổi được tính ác độc trong một guồng máy chánh quyền chỉ biết dựa vào hệ thống tố giác đê tiện và sự kềm kẹp của bộ máy công an. Vậy hỡi những ông bạn của Thế Giới Tự Do! Các bạn đã biết yêu tự do và biết giá trị của hai chữ “Tự Do” là thế nào rồi, các bạn hãy coi chừng !!!
Cũng như tại Hà Nội năm 1954, mặc dầu bộ máy chánh quyền cũ không còn nữa và có một sự lộn xộn hỗn tạp xảy ra sau đó, người ta cũng rất đổi ngạc nhiên mà thấy người Cộng Sản lúc nào cũng hòa nhã ân cần khi đón tiếp người dân, mặc dầu họ khó chịu vì những câu hỏi tuy có hóc búa nhưng cũng dễ trả lời; cũng có khi người ta phải chịu khó điền vào một số quá nhiều giấy tờ như bộ máy hành chánh Cộng Sản thường đòi hỏi, nhưng không bao giờ người ta được trả lời dứt khoát,”không”, mà chỉ được hẹn lại một ngày nào đó để họ có thời gian điều tra và nghiên cứu qua hệ thống tố giác của nhân dân, có lẽ “chắc ăn” hơn là từ chối thẳng thừng ngay lúc đó …
(Trích chương 8/ La mort du Vietnam/ Đại tướng Vanuxem/ Bản dịch Việt ngữ “Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử” do Cựu Đại tá Dương Hiếu Nghĩa chuyển ngữ/Nhà xuất bản Đại Nam phát hành)
Với những dẫn chứng đậm nét không thể biện giải, không thể phủ nhận như vừa trình bày trên đây, làm sao Đặng Thùy Trâm và thế hệ thanh niên miền Bắc cùng thời với Đặng Thùy Trâm có thể hiểu nỗi, có thể lý giải về tính chính danh, chính nghĩa khi họ hàng hàng lớp lớp lao mình vào chiến trường miền Nam mà họ gọi bằng mỹ từ “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước!”???
Những anh em miền Bắc thế hệ Đặng Thùy Trâm may mắn còn sống còn đến hôm nay, nếu nhìn ra sự thật của cuộc chiến phi nghĩa mà anh em đã đi qua mà tuổi xuân nay đã mòn thành thế hệ 60, tóc trên đầu bạc trắng đủ khôn và tỉnh táo để nhìn lại dĩ vãng, và liệu có ai dám hỏi hai chữ tại sao khi đối mặt với đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay?!
Tôi nghĩ rằng, với cái tâm và cái lòng như của Đặng Thùy Trâm, nếu Trâm còn sống, có thể nàng sẽ có câu hỏi như tôi vừa nêu ra, như người luật sư trẻ Hà Nội Lê Thị Công Nhân đã dõng dạc cất tiếng nói bất khuất của mình giữa lòng Hà Nội, hang ổ của bộ máy cưỡng chiếm miền Nam năm xưa, mà nay còn nguyên những bàn tay tàn độc ma quái đối với những thế hệ đàn em Đặng Thùy Trâm như Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Vũ Bình…
MƯỜI BỐN
Chiếc Ba-lô Trên Lưng Người Lính Chiến
Hai Miền Nam Bắc…
Tôi không nói những trang bị khác nhau về vật chất, lương thực, súng ống, đạn dược… trong những chiếc ba-lô trên lưng người lính hai miền Nam Bắc, tôi chỉ muốn viết ra cho độc giả và người Tây phương biết người lính miền Nam mang cái gì trong ba-lô, người lính miền Bắc mang cái gì trong ba-lô về mặt trách nhiệm và tinh thần khi nhập ngũ, rời mái ấm gia đình “lao vào nơi gió cát”, “hòn tên mũi đạn”.
Tôi nói về người lính miền Nam trước. Người lính miền Nam khi vào quân ngũ anh không mang trên lưng gánh nặng gia đình nhiều như người lính miền Bắc. Về mặt vật chất, anh có lương bỗng cho bản thân, có lương bỗng phụ cấp cho vợ con, khi anh hy sinh ngoài mặt trận hay trong công vụ, anh có tiền tử tuất cho vợ con. Nhưng có lẽ điều quan trọng mà người viết muốn chú trọng và muốn trình bày ở đây là trách nhiệm liên đới với gia đình, gồm cả vợ con, cha mẹ, dòng họ với người lính Việt Nam Cộng Hòa.
Người lính miền Nam sống trong một thể chế tự do, pháp trị, có luật lệ phân minh và chịu trách nhiệm chỉ cho riêng những gì mình làm. Khi anh vào lính, anh không ràng buộc gia đình, vợ con cha mẹ vào tên anh, vào chiếc ba-lô của anh. Nếu anh phạm luật, chỉ mình anh chịu trách nhiệm về những hành động của mình, nếu anh bỏ đơn vị đào ngũ, chính quyền và đơn vị anh không đụng tới vợ con, cha mẹ, anh em… của anh; không có chuyện nhà cầm quyền phong tỏa nồi gạo của gia đình anh, bêu xấu dòng họ anh, đuổi con anh, em anh khỏi trường học, và ghi sổ đen dòng họ, gia đình anh vào hồ sơ công an địa phương để theo dõi và làm khó dễ trong đời sống… Ở miền Nam, không có cảnh “quýt làm, cam chịu.”hay “mũi làm dại, lái chịu đòn”.
Người lính miền Bắc, nhân dân miền Bắc dưới chế độ Cộng Sản không được cái may mắn dể thở như vừa trình bày trên đây. Miền Bắc xã hội chủ nghĩa của ông Hồ Chí Minh và những người nối tiếp con đường Mác Lê Nin mà ông Hồ theo đuổi, dưới sự cai trị của Đảng Cộng Sản độc tài toàn trị, mọi người phải là công cụ của Đảng; công cụ của Đảng nghĩa là tất cả được vận dụng dưới chiêu bài Tổ Quốc, yêu nước, xã hội chủ nghĩa, giải phóng dân tộc… mà thực ra nó chỉ là mưu đồ hay tham vọng của thiểu số tập đoàn Cộng Sản do ông Hồ Chí Minh xây dựng ra trong hệ thống là một bộ phận của phong trào Cộng Sản quốc tế.
Hàng triệu thanh niên miền Bắc bị xua vào Nam để tiến hành chiến tranh xâm lược cũng phát xuất từ những mưu đồ và cuồng vọng vừa nói trên. Họ đã trở thành những nạn nhân oan nghiệt. Ngay sau khi Cộng Sản chiếm trọn miền Bắc, họ đã phân loại gia đình từng người dân, phân loại theo tôn giáo, phân loại theo tài sản, vô sản, tư sản, địa chủ, phân loại theo quá khứ làm việc với Pháp, phân loại theo diện có gia đình vô miền Nam, phân loại theo đảng phái chính trị như Đại Việt, Quốc Dân Đảng hay theo Việt Minh Cộng Sản…
Nói chung, người dân miền Bắc bị soi mói, kiểm soát, theo dõi… dưới lăng kính của chuyên chính vô sản và chủ nghĩa Mác Lê, và họ trở thành những con cá bị sắp lớp lang trong những chiếc hộp có ghi dấu xanh, đỏ, tím, vàng trong hồ sơ công an.
Chính vì thế mà những thanh niên bị đẩy vào hàng ngũ bộ đội vô Nam cũng bị dòm ngó gắt gao. Đặng Thùy Trâm cũng thuộc diện gia đình tiểu tư sản, dù là tình nguyện, cũng không thoát khỏi định số này. Trong tập nhật ký viết tay, không thiếu những dòng chữ cay đắng đã được chính tay Đặng Thùy Trâm viết ra:
“26.05.68.
Những ngày u uất của tâm hồn. Có gì đè nặng trên trái tim ta? Đâu phải chỉ có một nỗi buồn của vết thương rỉ máu của con tim đó đâu? Những sự thiếu công bằng vẫn còn trong xã hội, vẫn diễn ra hàng ngày; vẫn có những con sâu, con mọt đang gặm dần danh dự của Đảng, những con sâu mọt ấy nếu không bị diệt đi, nó sẽ đục khoét dần lòng tin yêu với Đảng. Rất buồn mình chưa được đứng trong hàng ngũ của Đảng để đấu tranh cho đến cùng. Có lẽ vì thế mà những người đó vẫn chần chừ không dám kết nạp mình mặc dù tất cả đảng viên trong chi bộ và rất nhiều người có trách nhiệm trong huyện, trong tỉnh này đã đôn đốc, thúc giục việc giải quyết quyền lợi chính trị cho mình.
Càng nghĩ càng buồn. Muốn tâm sự với những người thân về về nỗi bực tức ấy, nhưng rồi mình lại lặng thinh. Nói ra liệu có ai hiểu hết cho mình hay không? Có ai phải sống những ngày nặng nề, u uất như mình hay không? Sống giữa yêu thương mà không hề cảm thấy hạnh phúc, bởi vì luôn luôn có người ghen ghét trước lòng yêu thương mà nhiều người đã dành cho mình. Đành rằng đời bao giờ cũng có hai mặt tốt và xấu, không bao giờ có toàn một mặt tốt, vậy mà sao Thùy cứ xót xa cay đắng mãi hở Thùy?
(Nhật Ký Đặng Thùy Trâm trang 49 – 50/ Nhà xuất bản hội nhà văn Hà Nội 2005)
Theo như trong phần giới thiệu ở trang 5 của tập Nhật Ký Đặng Thùy Trâm thì sau khi ra trường Y Khoa Hà Nội năm 1966, Đặng Thùy Trâm xung phong vào chiến trường B ( miền Nam) và sau 3 tháng hành quân từ miền Bắc, đến tháng 3 năm 1967, Trâm đến Quảng Ngãi và làm việc tại bệnh viện Đức Phổ, sau đó được kết nạp vào Đảng Cộng Sản ngày 27 tháng 9 năm 1968.
Như vậy, Đặng Thùy Trâm đã rời đất Bắc đầu năm 1967 và mãi cuối tháng 9 năm 1968, gần 2 năm sau mới được kết nạp thành đảng viên. Hy sinh cả một cuộc đời son trẻ của mình, “xẻ dọc Trường Sơn” vào sinh ra tử đến Quảng Ngãi, ròng rã gần 2 năm mới được đứng vào cái đảng mà Đặng Thùy Trâm tưởng là một vinh dự với cái đảng thần thánh mà về sau này sau khi chiếm xong miền Nam, nếu Đặng Thùy Trâm còn sống, có thể Đặng Thùy Trâm sẽ thấy đó là cái đảng Mafia đội lớp dân tộc tàn hại muôn dân và Tổ Quốc. Đặng Thùy Trâm đã phải trải qua những ngày phấn đấu cay đắng vì Trâm là con của một gia đình trí thức tiểu tư sản không tuổi đảng: Bố là bác sĩ Đặng Ngọc Khuê và Mẹ là dược sĩ Doãn Ngọc Trâm! Dường như Đặng Thùy Trâm không biết điều này. Và ngay cả sau khi được vô Đảng Cộng Sản hơn một năm sau, ngày 8/1/1970, trong tập nhật ký viết tay, Trâm cũng đã viết những dòng cay đắng:
Chỉnh huấn đảng. Thấy sai lầm của đồng chí mà mình rùng mình. Đừng bao giờ nghe Th! Đừng bao giờ để chi bộ phải có những cuộc họp như vậy đối với Th…”
Th. chính là Thạc, một đảng viên bạn Trâm, hay chính là Đặng Thùy Trâm. Trâm hoàn toàn ngây thơ, không biết hết những gian trá trong chủ trương và hệ thống áp bức, tuyên truyền tàn độc của Đảng Cộng Sản Việt Nam, cái đảng mà nàng tin tưởng như thần thánh!
Đặng Thùy Trâm vô Nam chiến đấu, và chiến đấu, phấn đấu vô đảng sẽ là một trong những yếu tố giúp gia đình Trâm ở Hà Nội, “cái tội”, cái lý lịch trí thức tiểu tư sản của gia đình nhờ Trâm đi B, vào đảng mà nhẹ đi. Cũng như hầu hết tất cả bộ đội đi Nam để giúp cho gia đình ở lại được bảo đảm có tên hạng cao trong danh sách phân phối thực phẩm, lương thực, được địa phương cho điểm tốt, ít bị dòm ngó… hay nói rõ hơn, người đi hy sinh cho người ở lại, cho cha, cho mẹ, cho con cái, cho anh em, cả về miếng ăn trong sổ lãnh hàng đến miếng miếng cơm trong bếp.
Thế nhưng, nếu bộ đội vô Nam bị hy sinh, gia đình còn lại cũng chẳng được giúp gì, đó là chưa kể chế độ dấu biệt tin tức, cho dù chết vì đạn bom, bệnh tật hay chết vì bị cấp trên hạ sát trước khi rút quân.
Người lính miền Nam thì hoàn toàn trái hẳn, gia đình được thông báo, xác được phủ cờ và mang về quê, thân nhân được trả tiền lương cuối và tử tuất, sĩ quan đơn vị thăm viếng và an ủi gia đình. Liệu gia đình người lính miền Bắc chết trận có được hưởng những thứ an ủi này hay không?
Khi người lính miền Bắc đào ngũ hay hồi chánh, nếu đơn vị hay các cấp đảng biết được, số phận của những người thân ở miền Bắc sẽ gánh hết hậu quả: sổ mua hàng và lương thực bị thu hồi hay làm khó khăn, việc học hành của con em bị ảnh hưởng, gia đình bị phường khóm phê bình, khinh rẻ, công ăn việc làm bị khó khăn rắc rối… Và về mặt chính trị, gia đình bị vào sổ đen cho công an dòm ngó. Và vì thế mà gia đình đồng bào miền Bắc có con em bị đẩy vô Nam chiến đấu, ngày đêm canh cánh hai cơn ác mộng: Cái chết của con em trên chiến trường, nhưng có lẽ cơn ác mộng thứ hai này mới thê thảm, đó là toàn gia đình bị phong tỏa hộ khẩu, miếng ăn và công ăn việc làm nếu con em mình đào ngũ hay hồi chánh chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.
Trong Nam, dù người lính VNCH, vì lý do nào đó đào ngũ, kể cả đào ngũ theo VC, gia đình họ vẫn không hề bị chính phủ làm khó dễ. Ai làm nấy chịu, gia đình không là đối tượng bị trả thù như trong chế độ miền Bắc.
Nói tóm lại, thân phận ngưới bộ đội miền Bắc vô cùng tội nghiệp, họ bị đẩy vào lò công cụ của Đảng Cộng Sản Việt Nam, và trên lưng họ, mang cả nồi cơm, danh dự và tương lai của cả gia đình mà họ bỏ lại sau lưng. Xét về điểm này, nó cũng chính là một trong những tội ác phi nhân, phi dân tộc của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Hồ Chí Minh.
Để độc giả hiểu thêm về phần trình bày trong mục này, chúng tôi xin được trích đăng một trích đoạn một thư độc giả gửi đăng trên diễn đàn Viet Land ngày 26/09/2006 dưới titre: “Nỗi lòng của một cựu cán binh Cộng Sản Bắc Việt” do tác giả tên Django tóm lược và trình bày:
Thưa các bạn !
Đã từ rất lâu, trong thâm tâm tôi muốn nói về chính bản thân tôi, tôi từng là một bộ đội cụ Hồ, từng tham gia đi B vào chiến đấu trong chiến trường miền Nam, từng hy sinh xương máu, thân thể cho cách mạng.
Tôi nhận thấy hiện nay vẫn còn những người tin theo Đảng một cách mù quáng, vẫn còn những lời binh vực ấu trĩ vì nghe qua những khẩu hiệu mị dân v.v… Những gì tôi sắp nói lên đây không hề có ý nghĩ xuyên tạc hay nói xấu Đảng và nhà nước XHCN hiện nay. Mà đó là sự thật, một sự thật không thể chối cãi.
Tôi sinh ra và lớn lên tại miền Bắc vào giữa thập niên 1940. Gia đình thuộc loại trung lưu, đủ ăn (so với XHCN). Do đó Đảng và Nhà Nước CS ghép vào diện gia đình cần phải quan tâm.
Vào cuối năm 1966 Đảng kêu gọi nhân dân, thanh niên hăng hái tham gia đầu quân vào bộ đội chính quy Bắc Việt. Lịnh tổng động viên ban hành kèm theo những lời kêu gọi vì “đồng bào miền Nam ruột thịt” đang bị Mỹ Ngụy kềm kẹp rất khổ sở, dân chúng phải sống dưới gầm cầu, không có nhà cửa nương tựa, trú thân v.v… Mọi thanh niên tuổi từ 16 trở lên đều “có quyền” đăng ký nghĩa vụ quân sự. Đồng thời với những lời hứa hẹn gia đình nào có con em tham gia nghĩa vụ quân sự xâm nhập vào miền Nam sẽ được mọi ưu tiên của các cấp chính quyền địa phương như :
- Ưu tiên được…”phân phối” lương thực , thực phẩm trước tiên trong mỗi tháng.
- Được phong là gia đình gương mẫu, tiêu biểu v.v…
Lòng yêu nước bừng lên trong mỗi thanh niên và cũng để giải quyết tạm thời những khó khăn mà gia đình đang phải gánh chịu vì chính sách phân phối này của nhà nước.
Trong số những người này có tôi và một anh bạn chung xóm rủ nhau đi đăng ký…
( Xin nói rõ hơn là trước đây muốn gia nhập bộ đội chính quy để xâm nhập miền Nam không phải là chuyện dễ…)
Nhà nước chia ra những thành phần sau đây không thể cho vào tham gia bộ đội hay những cơ quan chính quyền khác , và cũng để tránh những thành phần này lợi dụng xâm nhập vào Nam mà…vượt tuyến một cách hợp pháp.
- Những gia đình theo đạo Thiên Chúa Giáo
- Thành phần địa chủ , tư sản , tiểu tư sản v.v..(trong diện này có tôi)
- Những gia đình đã có thân nhân vào Nam năm 1954.
……………….
Sau một thời gian ngắn huấn luyện cơ bản, hai đứa tôi được phép về thăm nhà vài hôm trước khi lên đường xâm nhập miền Nam. Chúng tôi mỗi đứa được phát một phiếu…uống bia (tất nhiên là bỏ tiền ra mua chứ không phải miễn phí). Trưa hè nắng gay gắt, anh em tôi đến cửa hàng ăn uống để thưởng thức cái hương vị của bia xem thế nào mà trong cuộc đời TN ( thanh niên?/ghi chú của Hải Triều) chúng tôi chưa hề được biết.
Đến nơi tôi nhận thấy đã có vài chục người đang chen lấn nhau để mua. Tôi hiên ngang gạt những người này tiến vào quầy (vì tôi có thẻ…ưu tiên mà). Thế nhưng tôi cũng không ngờ là số người này ai cũng…giống tôi cả. Nghĩa là họ cũng sắp sửa đem nướng thân mình cho lửa đạn để an ủi trước khi lìa đời hưởng được cái hương vị bia kia thế nào cho…thoả mãn đời trai!!! Hai chúng tôi biết là đến lượt mình sẽ không còn bia để đáp ứng nên đành rủ nhau ra về.
Bắt đầu cuộc hành trình vượt tuyến quả là đầy sự chết chóc. Đơn vị chúng tôi khoảng trên dưới 200 người, lưng đeo ba-lô “con cóc”, súng đạn và… cần phải có một cây gậy để chống chứ không thì không tài nào đi nỗi.
Dọc đường đói khát mà thức ăn chủ yếu của chúng tôi là muối. Và là muối cục chứ cũng đào đâu ra muối bọt như bây giờ. Gạo khi có khi không. Anh em bứt tạm lá cây rừng để ăn, nhất là lá tàu bay. Lá này đem nấu canh, cho một ít mì chính (bột ngọt) và ném vào đó một nắm muối cục (tất nhiên là khi có gạo nấu cơm mới ăn). Chủ yếu là sắn (khoai mì), mỗi khi đi đến bãi sắn, anh em chúng tôi nhổ lên tìm củ để ăn đỡ. Có khi chỉ là rễ cái thôi vì khoai mới trồng chưa đủ thời gian phát triển cũng đành ăn tạm cho qua cơn đói.
Chịu không nỗi những cực nhọc do thiếu ăn, thêm phần sốt rét rừng hành hạ mà thuốc men thì vô cùng khan hiếm. Vì vậy đa số đã rớt lại, các đồng chí không thể nào đèo theo được đành phải để nằm lại chờ…chết. Đó là những cái chết bình thường thôi chứ tôi chưa nói đến những lần bị B52 thả bom đấy.
Tám tháng sau chúng tôi đến được đơn vị chính hoạt động. Nói thật ra tôi và người bạn cùng xóm tốt phước lắm mới đến nơi đây được. Bởi trên dưới 200 người kia đã… anh dũng hy sinh vì…. đói rét và bom B52 dọc đường Trường Sơn hết cả rồi.
Đơn vị chúng tôi thuộc Tỉnh Đội Long An, tầm hoạt động cũng chỉ là pháo kích đại vài quả mỗi đêm để gây tiếng vang mà thôi chứ chẳng có chiến đấu cái con khỉ gì hết.
Mục đích chính là hàng đêm bố trí vài đồng chí xâm nhập vào những hộ dân quanh đấy để tuyên truyền, tìm lương thực thực phẩm do người dân cống nạp để được yên ổn cày cấy trong vùng hoạt động của chúng tôi. Đồng thời cũng không quên chuyện bắt những thanh niên khoẻ mạnh (bất kể nam nữ) vào bưng theo chúng tôi làm cách mạng; và cũng để bổ sung quân số trong những lúc thiếu hụt trầm trọng này.
Việc gì đến rồi cũng phải đến… Trong một trận càn của QLVNCH, tôi bị trúng đạn gãy xương đùi. Các đồng chí thân thương của tôi bỏ chạy hết, để mình tôi nằm lại chơ vơ. Tôi bất tỉnh một thời gian khá dài, khi hồi lại tôi thấy mình đang nằm dưới một vũng sình. Biết rằng sẽ không qua khỏi, tôi cố lết lên trên một gò đất cao ráo và nghĩ là nếu có chết chỗ này vẫn còn sạch sẽ hơn dưới vũng sình hôi thối kia. ( Hết trích)
………
Thời gian dù có trôi qua với những lớp sóng phế hưng làm biến đổi tình hình và bộ mặt Việt Nam, nhất là sau hơn 30 năm Cộng Sản gom trọn hai miền Nam Bắc chung vào một mối, “một mối hận thù, một mối đau thương”, chế độ Cộng Sản ngày nay dù có giao tiếp và mở cửa ra bên ngoài, có được chút ánh sáng văn minh do chấp nhận một số sinh hoạt kinh tế thị trường… thì bản chất trí trá, tàn độc, khủng bố người dân và những người yêu nước vẫn không có gì thay đổi. Và ngày nay, dưới ánh sáng của nền văn minh nhân loại rọi chiếu vào Việt Nam, các bản chất nói trên cũng lại xuất hiện rõ nét hơn trong những vụ đàn áp dân oan, đàn áp những người đấu tranh cho dân chủ mà trường hợp mới đây rất điển hình là vụ Linh Mục Nguyễn Văn Lý ở Huế, luật sư Lê Thị Công Nhân ở Hà Nội và kỹ sư Đỗ Nam Hải ở Sài Gòn.
Đem cả cha mẹ già yếu bệnh tật, con cái, chị em… toàn gia đình người ta vào đồn công an để bịt miệng, trấn áp người ta là hành động của một đảng cướp, một đảng khủng bố, nó không thể là hành động, chủ trương, chính sách của chế độ có văn minh, có đạo lý; nhưng buồn thay, cái chế độ không văn minh đó lại vênh vang ngồi chễm chệ trong ghế thành viên chính thức của Liên Hiệp Quốc, của APEC, của WTO mà dường như các tổ chức quốc tế này vẫn nhắm mắt làm ngơ trước tội ác đê tiện của chế độ Hà Nội đối với người dân Việt Nam, đối với dân tộc Việt Nam…
Đặng Thùy Trâm ơi! Ở một nơi nào đó bên kia thế giới, nếu trở về Hà Nội mà hiển linh Trâm gặp Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy… vô Sài Gòn gặp Đỗ Nam Hải… biết sự thật, biết mặt thật của Đảng Cộng Sản Việt Nam, có lẽ Trâm sẽ ân hận hối tiếc đã một thời lầm lẫn hy sinh cả tuổi thanh xuân của mình cho một thứ Đảng Cộng Sản không ra gì!
MUỜI LĂM
Tâm Sự Của Một Người Bộ Đội Cộng Sản Sau Năm 1975
đến Mặt Thật Của Cái Gọi Là “CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG”.
Người chủ trương tập sách này, Hải Triều, đã giữ bức thư nhầu nhòe của một anh bộ đội suốt thời gian trốn chui nhủi ở Việt Nam trong những ngày Hải Triều tìm đường vượt thoát. Bức thư còn vì người giữ bức thư còn sống khi vượt trùng dương vạn dậm, và còn giữ đến hơn 30 năm nay kể từ ngày anh bộ đội viết từ núi rừng Kontum ngày 11/12/1976. Bức thư 4 trang giấy khổ nhỏ chằng chịt những dòng chữ vừa như tâm sự, vừa như oán trách, vừa như những dòng nhật ký của một người cô đơn muốn viết ra và để lại cho đời. Và bức thư không qua tay Đảng, không qua kiểm duyệt, không mang bất cứ vóc dáng nào của Nhật Ký Đặng Thùy Trâm.
Anh là một chiến sĩ, một bộ đội thật sự, khác với Đặng Thùy Trâm là một bác sĩ. Và cuối thư, anh yêu cầu người nhận hủy đốt lá thư anh viết, vì anh là một người Cộng Sản! Như một định số, người nhận đã không hủy thư như theo lời yêu cầu của anh để hôm nay, thư anh xuất hiện trong tập sách này như tiếng nói của một chứng tích ngoài vòng tay đảng Cộng Sản Việt Nam..
Đó là những dòng thư của anh Chu Quang Hĩu, một bộ đội không rõ cấp bậc thuộc một đơn vị của Sư Đoàn Sao Vàng (?) được lệnh đóng lại ở xã Lương Sơn, Bắc Bình, Bình Thuận vào những tháng giữa năm 1976 , một năm sau khi miền Nam lọt vào tay Cộng Sản.
Các đơn vị Cộng Sản không có doanh trại, không xây doanh trại. Nhà cầm quyền Cộng Sản tại địa phương ra lệnh cho mỗi gia đình đồng bào phải nhận từ 4 đến 5 bộ đội ở trong nhà. Gia đình tôi, người thực hiện tập sách này, nhận 4 người. Trong tình người, cha mẹ tôi đối xử tử tế với họ, cho họ thức ăn khi thấy họ ăn uống thiếu thốn, không phải vì sợ hay vì có con đang ở trong trại tù “cải tạo” của Việt cộng, mà hoàn toàn vì tính hiền hòa, nhân đạo của người miền Nam.
Khi tạm trú trong nhà, nhóm họ không có gì phiền hà gia đình tôi, chỉ trừ có việc làm Ba Mẹ tôi lo sợ là mỗi đêm họ bắt đài VOA và BBC oang oang ngay trong nhà tôi, và có lần du kích nhào vô nhà tôi khám nhà đụng độ với bộ đội! (Kể cả việc họ hát nhạc Sài Gòn mà họ gọi là nhạc vàng lén nghe từ miền Bắc hay trên rừng Trường Sơn…)
Ở lâu thì thấy họ cũng dễ thương, và dường như nhóm họ tương đối có chút ít học vấn, chữ nghĩa nên Ba Mẹ tôi có cảm tình với họ. Sau một thời gian vài tháng, khi chiến tranh Miên Việt bắt đầu đổ máu nặng dọc biên giới thì bất ngờ, một phần đơn vị của những người bộ đội này được lệnh chuyển quân đến ga Sông Lũy để ra Trung và đi Cao Nguyên. Và đây là nguyên văn bức thư của một trong những người bộ đội vào Nam sau 1975:
Đơn vị ngày 11/12/1976.
Rừng núi Công Tum một chiều buồn
Chị Tuyết
Trường Sơn hôm nay về thăm mọi người nơi miền quê tươi đẹp và anh hùng. Tới nay cũng đã một tháng xa gia đình và mảnh đất Lương Sơn thân yêu, thế mà em cứ ngở là như là mới ngày hôm qua, với hình ảnh của tất cả cứ hiện ra chước mắt em hoài thôi, vậy mà em cần bặt ngay lấy tờ giấy chắng này, thay cho tâm hồn em bay về bằng những dòng chữ thô sơ, cùng nhiều lời lẽ mộc mạc, tâm tình, dễ hiểu, dễ nhớ.
Lời đầu, theo lối cổ chuyền của dân tộc, em xin chúc toàn thể gia đình luôn có một sức khỏe dồi giàu, qua đó chuyển lời cho em thăm hỏi tới đầy đủ sức khỏe của anh hai, anh cường, chị ba, anh Tứ. Lần này ông bà già và nói chung toàn thể gia quyến đều được an mạnh cả chứ chị Tuyết.
Ông già ở dẫy có lẽ ít về nhà lắm nhĩ. Anh Tứ, Hương, Chín có hay về chơi không. Lương Sơn cảnh cũ đã có gì thay đổi chưa hở chị. Bộ đội đi hết có lẽ vui tợn. Còn chị Tuyết vẫn khỏe tợn đấy chứ, đến bao giờ thì… Nhớ để phần bánh ngọt cho em đấy. À hai anh lính còn ở nhà đấy chứ, họ xắp chuyển đi nơi khác chưa.
Bọn em ra đi mà nhiều người họ múa tay trong túi, em cũng như mọi thanh niên khác, vậy thì làm xao, có lẽ chỉ vì màu xanh mà họ không muốn nhìn, muốn chúng em khuất đi để họ khỏi ngứa mắt. Mỗi khi bọn lính chúng em gặp những bước đường dan khổ, thì họ lại vỗ tay cười dồ lên. Thế là thế nào. Mầu áo của em có mang hận thù gì với một người nào đâu, và cũng chẳng mang nợ máu với ai chên cái đất Việt này. Em cũng chỉ làm cho nhà nước để một tháng lấy 5 đồng uống nước thôi chứ có mang về nhà được gì đâu, chỉ thêm cho gia đình những cảnh chia lìa, mẹ thì cạn nước mắt, bố thì cứ ngày ngày ngóng tin con. Vậy mà còn không cảm thông cho bọn em: đó là một điều mà em thật thắc mắc.
Muốn nói với họ thật nhiều để họ hiểu màu xanh là gì. Chên đây em muốn nói chuyện với chị về những người chưa có con mắt tinh để nhìn vào cái mầu hiếu chiến này, chứ còn chị có lẽ đã hiểu nhiều về em, nên đừng chấp làm gì.
Phần chên này, chúng em đều khỏe cả, vẫn cảnh cũ, chưa có gì thay đổi. Chị Tuyết nối hộ em nhịp cầu nam bắc có được không. Nhớ Lương Sơn lắm, làm xao quên được, nhất là những sự cố gắng của gia đình giúp đỡ chúng em chong lúc chưa có nơi chú ẩn, những việc này mà Thày mẹ em biết được, chắc rất mừng. Và xóa thế nào được cái tối xau hết. Thật nhiều cái quyến luyến. Trong bóng đêm quay lại nhìn chị mà nghẹn ngào, hôm đó muốn nói thật nhiều với chị, thế mà cuối cùng cũng chỉ nói được xơ qua, đó có phải em không muốn nói đâu, bởi súc động, và cũng ảnh hưởng một phần là lo nghĩ về ngày mai của cuộc đời xẽ mờ dần, tuổi xuân bón cho cây rừng Trường Sơn. Thật sợ hãi.
À em kể sơ về Công Tum, bây giờ mới tạm nghỉ lại Tân Cảnh, tức tỉnh Gia Công hiện nay. Khí hậu ở đây khác với Lương Sơn, lạnh lắm, thường nhiệt độ 12, 15, có khi 24 là cao, giét ở đây khô khó chịu bởi gió bắc tợn nên khô lắm, gia tái cứ mát xa. Về đời sống hàng ngày, tất cả đều thiếu thốn, những lá dau ở dưới đó cho heo ăn, thì chên này lại không có. Về tinh thần cũng chẳng được thoải mái, tình cảm của dân chúng cũng khô khan, họ ấn tượng với bộ đội lắm. Sắp tới đây, chúng em xẽ đi tới chỗ có lẽ gặp nhiều điều chẳng lành. Vậy chị Tuyết xin qua Phật, Thượng đế giúp em đi được bình an, cám ơn chị nhiều. Có lẽ thư cũng hơi dài, xin phép được dừng bút, cuối cùng một lần nữa, xin chân thành kính chúc toàn thể mọi người luôn khỏe, vạn sự như ý, và thành công tốt đẹp chên con đường đang tiến.
Chị chuyển lời cho em thăm và chúc sức khỏe của chị Tài, chị Mai, chị Lí, anh gì mà hay đến chơi nhất, cô Gái, Hương và Thu. Xin chào tạm biệt tất cả, hẹn ngày mai khi ngừng tiếng súng, nếu còn sống, sẽ chở về thăm Lương Sơn, lúc đó chị đừng đuổi em.
Tái bút: Chình độ có hạn, nên chong thư có gì xai xin chị bỏ qua và cảm thông cho em. Có lẽ xem xong, chị Tuyết xẽ đốt đi ngay, bởi vì em là Cộng Sản. Đừng dận em nhé. Hĩu Hiển và anh Chương có lời hỏi thăm gia đình. Thời gian hơi có hạn nên không biên thư được. Nhận được thư báo sớm biết với.
Chu Quang Hĩu.
(Hết phần đánh máy lá thư)
Toàn bộ bức thư viết tay được đánh máy lại như nguyên bản, các dấu chính tả sai và lỗi văn phạm cũng như từ ngữ dùng của miền Bắc không sửa đổi để giữ đúng nguyên văn phong và tinh thần của lá thư.
Về bao thư, ngoài những dòng chữ gửi cho người nhận ở Photo Thủy, đường Trần Hưng Đạo, Phan Rí Cửa, Bắc Bình Thuận Hải, chúng tôi thấy thư được chuyển về thành phố Hồ Chí Minh, dấu bưu điện đề 13H – 26-2-1977. Tem thư trên góc mặt thấy đề chữ “Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” giá tem 12 xu, nhưng lại kèm theo ba dòng chữ in “Việt Nam độc lập thống nhất xã hội chủ nghĩa”. Vậy là “Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” của Huỳnh Hữu Thọ/Nguyễn Thị Bình… được tráo thành “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” của nhóm Lê Duẩn/ Lê Đức Thọ… Những chi tiết trên bao thư cho thấy đến năm 1977, đảng Cộng Sản Việt Nam còn dùng tem của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, một công cụ của Hà Nội, trong tem thư bưu điện, và điều nghịch lý là nước gọi là nước “Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” lại được cai trị bởi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của miền Bắc Cộng Sản rồi sau đó trở thành nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Chưa hết, trên mặt con tem của “Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” lại in “Việt Nam Độc Lập Thống Nhất Xã Hội Chủ Nghĩa”. Đúng là một thứ giải phóng gian trá lừa bịp dân tộc và lịch sử !!!
Về nội dung bức thư, đọc và suy ngẫm, chúng ta thấy gì? Người bộ đội Chu Quang Hĩu đặt chân sâu vào phần đất miền Nam sau ngày Sài Gòn sụp đổ; qua lá thư, cho thấy anh hoàn toàn khác Đặng Thùy Trâm.
Tháng 3/1967, Đặng Thùy Trâm vào đến Quảng Ngãi, miền Trung Việt Nam thuộc chiến trường B với tất cả những nhiệt huyết và lý tưởng của một người yêu nước, căm thù ứ tim, nghĩ rằng cuộc chiến đấu của Trâm là chính nghĩa, ông Hồ là “thần thánh”, đảng Cộng Sản là tuyệt vời.
Tháng giữa năm 1976 đến Lương Sơn, Bình Thuận, sau đổi thành Thuận Hải, đóng quân và rồi di chuyển tiếp lên Kontum tháng 12/1976 chuẩn bị tiến qua Miên, Chu Quang Hĩu đã ở trên đất miền Nam không còn là chiến trường B, đã không có bất cứ điều gì giống như trong đầu Đặng Thùy Trâm trong những ngày ở trong rừng Đức Phổ, Quảng Ngãi.
Về mặt con người và tình cảm, Chu Quang Hĩu như một người Việt Nam có tình cảm, có đạo lý khi tiếp cận với đồng bào miền Nam, anh không có bất cứ điều gì canh cánh trong lòng về mặt hận thù, chính trị và phân biệt. Bà già tôi mỗi buổi cơm chiều, nhìn nhóm Hĩu ăn uống thiếu thốn, cam khổ chỉ cơm với rau muống pha muối và bột ngọt, bà cụ không đành lòng, đã cho họ cá canh… và đó là những cái gì mà Hĩu và bạn anh vô cùng cảm kích về tình người miền Nam. Anh đã thư về Bắc cho gia đình nói hết về những gì đầm ấm, tốt đẹp của miền Nam và đồng bào, đã nói hết những gian khổ của bộ đội đi B và cảm thấy tủi thẹn khi nhìn rõ cảnh vật và đời sống sung túc của miền Nam, dù là một miền Nam trong chiến tranh và sau chiến tranh.
Trong đầu người người bộ đội Chu Quang Hĩu, so với miền Bắc, miền Nam là một miền Nam trù phú, tươi đẹp, no ấm và đầy tình người hơn hẳn miền Bắc… đâu có cái gì cần phải giải phóng. Trong đầu Đặng Thùy Trâm, so với miền Bắc, miền Nam là một miền Nam bị áp bức, tù đày, đói khổ không cơm ăn áo mặc, đầu đường xó chợ… nên miền Bắc “anh hùng” phải hạt muối cắn làm hai, hạt gạo cắn làm tư để chia cơm xẻ áo cho miền Nam, để huy động thanh niên “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” và hàng trăm ngàn thanh niên hy sinh trên chiến trường “sinh Bắc tử Nam”! Cái bất hạnh của Đặng Thùy Trâm là đã ngã xuống ngày 22/06/1970 để phải mang xuống tuyền đài những ảo vọng mà đảng Cộng Sản tuyên truyền, những sự thật giả trá mà đảng Cộng Sản nhồi nhét, những căm thù ứ tim do đảng Cộng Sản tôi luyện vào tim óc Trâm trước khi nàng có cơ hội nhìn một miền Nam như cái nhìn thực của Chu Quang Hĩu.
Đọc những dòng thư của Chu Quang Hĩu, người viết thấy thương và tội nghiệp cho anh. Anh đã nhận xét thực, anh đã có những thắc mắc thực và anh đã viết ra giấy từ rừng núi Kontum những gì anh nghĩ sau khi rời Lương Sơn. Anh đã viết gì?
- Lương Sơn cảnh cũ đã có gì thay đổi chưa hở chị. Bộ đội đi hết có lẽ vui tợn….!
- Bọn em ra đi mà nhiều người họ múa tay trong túi. Em cũng như mọi thanh niên khác, vậy thì làm sao? Có lẽ chỉ vì màu xanh mà họ không muốn nhìn, muốn chúng em khuất đi để họ khỏi ngứa mắt. Mỗi khi bọn lính chúng em gặp phải những bước đường gian khổ, thì họ lại vỗ tay và cười dồ lên. Thế là thế nào? Mầu áo của em có mang hận thù gì với một người nào đâu, và cũng chẳng mang nợ máu với ai trên cái đất Việt này. Em cũng chỉ làm cho nhà nước để một tháng lấy 5 đồng uống nước thôi, chứ có mang về nhà được gì đâu, chỉ thêm cho gia đình những cảnh chia lìa, mẹ thì cạn nước mắt, bố thì cứ ngày ngày ngóng tin con. Vậy mà còn không cảm thông cho bọn em. Đó là một điều mà em thật thắc mắc…
- Nhớ Lương Sơn lắm, làm sao quên được, nhất là những sự cố gắng của gia đình giúp đỡ chúng em trong lúc chưa có nơi trú ẩn, những việc này mà Thày mẹ em biết được chắc rất mừng… Hôm đó muốn nói thật nhiều với chị, thế mà cuối cùng chỉ nói được sơ qua, đó có phải em không muốn nói đâu, bởi xúc động, và cũng ảnh hưởng một phần lo nghĩ về ngày mai của cuộc đời sẽ mờ dần, tuổi xuân bón cho cây rừng Trường Sơn. Thật sợ hãi.
- Về đời sống hàng ngày, tất cả đều thiếu thốn. Những lá rau dưới đó cho heo ăn thì trên này lại không có. Về tinh thần cũng chẳng được thoải mái, tình cảm của dân chúng cũng khô khan, họ ấn tượng với bộ đội lắm. Sắp tới đây chúng em sẽ đi tới chỗ gặp nhiều điều chẳng lành…
- Xin chào tạm biệt tất cả, hẹn ngày mai khi ngừng tiếng súng, nếu còn sống sẽ trở về thăm Lương Sơn…
- Tái bút: Trình độ có hạn nên trong thư có gì sai, xin chị bỏ qua và cảm thông cho em. Có lẽ xem xong, chị Tuyết sẽ đốt thư đi ngay, bởi em là Cộng Sản…
Trên đây là một số trích đoạn quan trọng gần như là “linh hồn” của lá thư. Người viết có sửa một số lỗi chính tả trong phần vừa trích để độc giả hiểu trọn ý các đoạn trích mà không ngộ nhận. Tinh thần, hay còn gọi là “linh hồn” lá thư nói lên cái gì?
Trước nhất chúng ta thấy đây là một lá thư rất tình cảm và chân thành của một người bộ đội miền Bắc đối với một gia đình đồng bào miền Nam đã giúp họ trong thời gian đầu họ tiếp cận đồng bào miền Nam, thế nhưng những điều nổi bật (người Cộng Sản gọi là nổi cộm) cốt lõi của lá thư là:
- Những người bộ đội miền Bắc thấy rõ miền Nam sung túc, giàu đẹp, đầy tình người.
- Đồng bào miền Nam, từ đồng bằng đến Cao nguyên không thích bộ đội, không thích “được giải phóng”. Dân miền Nam đâu có mong, đâu có mừng, đâu có chào đón bộ đội vào Nam giải phóng. Họ có “ấn tượng” với bộ đội, và bộ đội miền Bắc biết rõ…
- Người lính bộ đội miền Bắc bị đẩy vô chiến trường miền Nam để đồng bào miền Bắc… “chỉ thêm cho gia đình những cảnh chia lìa, mẹ thì cạn nước mắt, bố thì cứ ngày ngày ngóng tin con.” Đồng bào miền Bắc đâu chia sẻ cuồng vọng xăm lăng miền Nam của đảng Cộng Sản.
- Sau gần 2 năm Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam bằng vũ lực do Hoa Kỳ bó tay và bức tử Việt Nam Cộng Hòa, ở trên đất miền Nam trong tư thế kẻ chiến thắng, nhưng tại sao người bộ đội miền Bắc còn… “lo nghĩ về ngày mai của cuộc đời sẽ mờ dần, tuổi xuân bón cho cây rừng Trường Sơn. Thật sợ hãi.”? Và “…Sắp tới đây chúng em sẽ đi tới chỗ gặp nhiều điều chẳng lành… Xin chào tạm biệt tất cả, hẹn ngày mai khi ngừng tiếng súng, nếu còn sống sẽ trở về thăm Lương Sơn…”
Điều này về sau, người bộ đội miền Bắc sống sót trên chiến trường miền Nam, nhà thơ Bùi Minh Quốc đã viết thẳng thong trong bài thơ “Phản chiến”:
….
Sau chiến tranh chúng lại chiến tranh Cuộc chiến tranh một phía Người sống sót trở về oằn lưng sưu thuế Chúng lấy máu đúc vàng Độc quyền tự trị nghênh ngang Độc quyền nghĩ Độc quyền nói Độc quyền ráo trọi Dân đen chỉ một quyền được đó… đói Và thêm nữa là quyền sợ hãi Triền miên…
(Bùi Minh Quốc)
Thư anh Chu Quang Hĩu viết cho gia đình tôi ( Hải Triều) là một lá thư không bị kiểm duyệt, chính vì thế nó có giá trị thực, phản ảnh một tình huống chính trị liên quan tới cuộc chiến tranh phi nghĩa từ miền Bắc. Nội dung lá thư này, dù không dài bằng “Nhật Ký Đặng Thùy Trâm” nặng tính căm thù, tuyên truyền và xa sự thật, nhưng từng dòng chữ trong thư có đủ tính thuyết phục cho một nhận định rõ nét rằng cuộc chiến tranh xăm lăng miền Nam nhân danh cái gọi là “áp bức, đói khổ, giải phóng”… là thứ “giải phóng” gian trá, lừa đão, vô nghĩa và không cần thiết. Hơn thế nữa, tại sao “giải phóng” miền Nam gần cả 2 năm sau mà người bộ đội lại phải “lo nghĩ về ngày mai của cuộc đời sẽ mờ dần, tuổi xuân bón cho cây rừng Trường Sơn. Thật sợ hãi.”? Và “… Sắp tới đây chúng em sẽ đi tới chỗ gặp nhiều điều chẳng lành… Xin chào tạm biệt tất cả, hẹn ngày mai khi ngừng tiếng súng, nếu còn sống sẽ trở về thăm Lương Sơn…
Chúng tôi xin nhắc lại đoạn này một lần nữa để thấy Cộng Sản Hà Nội mở thêm cuộc chiến tranh qua tận Kampuchea. Và đúng như anh bộ đội Chu Quang Hĩu dự đoán, Cộng Sản Việt Nam đã hy sinh thêm 50 ngàn thanh niên Việt Nam trên chiến trường Kampuchea do cuồng vọng của những nhà lãnh đạo đảng CSVN hay do chỉ đạo của Cộng Sản quốc tế từ Mạc Tư Khoa?! Tôi không biết trong số trên 50 ngàn thanh niên Việt Nam chết trên đất Miên có anh Chu Quang Hĩu hay không, nhưng Bùi Minh Quốc hoàn toàn đúng qua những dòng thơ vừa trích dẫn trên đây… Bùi Minh Quốc đã thấy rõ chân dung toàn diện của đảng Cộng Sản Việt Nam sau năm 1975 mà cả thế hệ Đặng Thùy Trâm lẫn Chu Quang Hĩu không có cơ hội nhìn thấy. Thật là tội nghiệp cho hàng triệu thanh niên miền Bắc đã ngã xuống trên các con đường mòn Hồ Chí Minh dọc Trường Sơn hay đường mòn Hồ Chí Minh trên biển rộng…
Đồng bào miền Bắc không được cho biết điều này. Những người bộ đội “sinh Bắc tử Nam” xong, còn sống sót lại trở thành “sinh Bắc tử Miên” cũng không dự liệu chuyện này, và dĩ nhiên lớp thanh niên thế hệ Đặng Thùy Trâm cũng không biết chuyện này. Đó là một mảnh đau thương của dân tộc. Đó là một mảnh tội ác của đảng Cộng Sản Việt Nam trong dòng lịch sử máu và nước mắt Việt Nam…!
Theo tôi được biết, ngày nhận lệnh chuyển quân lên Cao Nguyên để chuẩn bị đưa quân vào chiến trường Miên, một số sĩ quan bộ đội Cộng Sản đã tức giận lôi tên một số tướng lãnh Cộng Sản ra nguyền rũa trước mặt gia đình tôi.
Viết những dòng này hơn 30 năm sau kể từ khi người bộ đội Chu Quang Hĩu viết dòng đầu thư “Rừng núi Công Tum một chiều buồn ngày 11/12/1976”, tôi cảm thương không biết anh còn sống hay anh đã chết trên rừng Trường Sơn, hay trên đất Miên xa lạ mà anh không có nghĩa vụ “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu Miên”. Anh biệt tăm từ đó. Anh viết “xin hẹn ngày mai khi ngừng tiếng súng, nếu còn sống, sẽ trở về thăm Lương Sơn”, anh em chúng tôi sau những năm tháng tù tội, đã thoát khỏi Việt Nam bằng đường biển đầu năm 1980, vẫn không có một tin tức gì từ người bộ đội năm xưa mà anh đã một lần “quyến luyến, nghẹn ngào” khi rời Lương Sơn bằng Molotova lên ga Sông Lũy chờ đi Cao Nguyên. Lá thư cảm động của anh hôm nay còn nguyên trong tay tôi như một kỷ niệm khó quên… Và tôi cầu mong anh còn sống! Cầu mong nếu còn sống, sẽ có ngày gặp lại anh.
Bản chụp bức thư gởi từ Rừng Núi Kontum của anh Lê Quang Hỉu
Vuquanghiu_thu
Bì thư
Vuquanghiu_p1
Trang 1
Vuquanghiu_p2
Trang 2
Vuquanghiu_p3
Trang 3
Vuquanghiu_p4
Trang 4
MƯỜI SÁU
LỜI CUỐI VÀ KẾT
Lịch sử đau thương của dân tộc Việt Nam còn rất nhiều trang chưa mở ra. Đã hơn 32 năm sau ngày miền Nam lọt vào tay Bắc quân Cộng Sản, những trang sử máu và nước mắt, thay vì chấm dứt, nhưng nó lại kéo dài thêm, tiếp tục kéo dài bắt đầu ngay từ ngày 30/04/1975 với chiến dịch đánh tư sản miền Nam, với hàng trăm ngàn người dân và sĩ quan miền Nam bị đày đọa trong các trại tù gọi là “cải tạo”, với hàng triệu người bỏ nước ra đi và hơn nửa triệu người vùi thân giữa biển rộng, với hàng triệu gia đình ly chia cách biệt…; và còn nữa, cuộc chiến tranh đắnh qua Miên đã để lại máu xương trên đất Chùa Tháp hơn 50 ngàn xác người gồm cả thanh niên miền Bắc và miền Nam. Nhân tai Cộng Sản như những bóng đêm ma quái, oan nghiệt phủ chụp trên đầu người dân từ Nam tới Bắc sau ngày Sài Gòn sụp đổ hiện con đang kéo dài không biết bao giờ mới chấm dứt. Từ trong bóng đêm vô tận đó, người ta chỉ thấy thêm những mõi mòn, tuyệt vọng, oan ức và cùng đường. Từ trong bóng đêm đó, mọi khát vọng tự do lóe lên trong nước đều bị đảng Cộng Sản Việt Nam dập tắt dã man, tàn bạo… Lịch sử cận đại của dân tộc Việt Nam là một chuỗi dài bất hạnh và liên tục, nó kéo dài đậm nét hơn từ ngày đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời, và nó tiếp tục tồn tại tới ngày hôm nay. Những gì được người viết trình bày và viết thẳng trong tập sách này chỉ là những chứng tích nhỏ nhoi, không trọn vẹn, in rọi từ những dòng máu, những dòng nước mắt của bao nhiêu thanh niên đổ xuống lòng đất Việt Nam bất hạnh, mà trong thực tế, nó là sông hồ, là biển cả đau thương trùng trùng lớp lớp. “Máu và nước mắt trên lưng Trường Sơn” hoàn toàn không nhắm vào Đặng Thùy Trâm, mà nhắm vào tập đoàn Cộng Sản đang giăng phủ oan nghiệt trên quê hương Việt Nam. Đặng Thùy Trâm chỉ là nạn nhân trong cái vòng oan nghiệt không lối thoát đó. Hải Triều và Nhóm Nhà Văn Quân Đội chân thành cảm tạ những đóng góp và phê bình của độc giả Việt Nam trong và ngoài nước, bây giờ và mai sau với một niềm tin sắt đá rằng, khi sự thực và tội ác được mở ra trước ánh sáng, thì lịch sử sẽ có câu trả lời. Trong phần phụ chương, chúng tôi xin được chạy một số bài viết liên quan xa gần tới tập Nhật Ký Đặng Thùy Trâm và cuộc chiến Việt Nam với những dữ kiện và góc nhìn không thể bỏ qua khi phân tích toàn bộ tác phẩm Nhật Ký Đặng Thùy Trâm do Hà Nội xuất bản. Bài viết của Trần Trung Đạo là một trong vài đóng góp xúc tích, giá trị và có ý nghĩa. Chúng tôi chân thành tri ơn những tác giả đóng góp thêm thư liệu hay cho phép chúng tôi sử dụng một số bài viết giá trị nhằm tăng cường cho nội dung và tác dụng của tác phẩm.
PHỤ CHƯƠNG 1
Từ THÉP ĐÃ TÔI THẾ ĐẤY
đến NHẬT KÝ ĐẶNG THÙY TRÂM:
NHỮNG ƯỚC MƠ BỊ PHẢN BỘI
Trần Trung Đạo
“Ôi miền Bắc xa xôi bao giờ ta trở lại?”
Đó là dòng chữ hay tiếng nấc cuối cùng của một bác sĩ 28 tuổi ghi lại trong nhật ký của chị ngày 16 tháng 6 năm 1970. Một tuần sau, chị bị một đơn vị lính Mỹ phục kích và bị giết. Cuốn nhật ký của chị được chuyển đến Frederic Whitehurst, gọi tắt là Fred, sĩ quan quân báo Mỹ, để phân tích. Và theo đề nghị của Nguyễn Trung Hiếu, một thượng sĩ quân đội Việt Nam Cộng hòa, Frederic Whitehurst đã giữ lại hai cuốn nhật ký thay vì đốt bỏ sau khi không tìm thấy các dữ kiện liên hệ đến tình báo quân sự. Năm 1972, Fred về nước, trong hành lý của anh có thêm hai kỷ vật chiến tranh: hai cuốn nhật ký của bác sĩ Đặng Thùy Trâm.
Mấy chục năm và nhiều lần cố gắng tìm thân nhân của chị Thùy Trâm để hoàn trả không thành công, Frederic Whitehurst đã tặng hai cuốn nhật ký cho viện lưu trữ về Việt Nam Lubbock tại đại học Texas. Trong hội nghị hàng năm về chiến tranh Việt Nam vào trung tuần tháng 3 năm 2005, chính Frederic Whitehurst, chàng sĩ quan quân báo ngày xưa nay trở nên một tiến sĩ hóa học và một luật gia, đã đến dự và lần nữa nhắc đến nhật ký của chị.
Cuối cùng, từ phòng họp của Trung tâm Việt Nam thuộc đại học Texas này, một bản sao cuốn nhật ký của chị Đặng Thùy Trâm đã tìm được đường về quê hương sau 35 năm lưu lạc. Ba tháng sau, hai cuốn nhật ký được in chung trong một tác phẩm dưới tựa Nhật ký Đặng Thùy Trâm.
Hành trình của cuốn nhật ký, từ dòng chữ nghiêng nghiêng đầu tiên trên giấy trắng kẻ ô ngả vàng của chị cho đến ngày được in thành sách chẳng khác một cuốn phim truyện với nhiều tình tiết ly kỳ nhưng lại rất thật, rất cảm động và đầy ắp tình người.
Như bụi phong lan sinh ra và dưỡng nuôi bằng những hạt mưa rừng trên nhánh sồi khô giữa rặng Trường Sơn, nhật ký của chị Thùy Trâm sống sót trong khói lửa đạn bom do bàn tay săn sóc của đại diện cho cả ba bên tham dự cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong lịch sử Việt Nam. Ba yếu tố: những dòng chữ chân thành có một chút mộng mơ của nữ bác sĩ trẻ tuổi, lòng nhân hậu của người lính miền Nam và sự trân trọng của viên sĩ quan quân báo Mỹ, đã gặp nhau như một nhân duyên kỳ diệu để ngày nay Nhật ký Đặng Thùy Trâm, dấu tích của một cuộc chiến tranh tàn khốc, có mặt trong tủ sách chúng ta. Điều đó cho thấy, những ý nghĩ chân thành, những rung động thật từ trái tim bao giờ cũng dễ được cảm thông, không chỉ trong những người cùng thời, cùng chiến tuyến mà ngay cả những người đứng bên kia chiến tuyến.
Trong hai tháng qua, Nhật ký Đặng Thùy Trâm được xem là cuốn sách bán chạy nhất tại Việt Nam. Theo báo Tuổi Trẻ, chỉ trong vòng một tuần lễ, 14.200 cuốn đã được bán ra, riêng trong ngày Chủ nhật 31 tháng 7 đã phát hành 3.800 cuốn. Theo tổng kết mới nhất, Nhật ký Đặng Thùy Trâm đã vượt tất cả kỷ lục sách Việt Nam với hàng trăm ngàn cuốn được in trong một thời gian rất ngắn. Đây không phải là lần đầu tiên một nhật ký chiến tranh được in ra, nhưng chưa nhật ký nào trở nên một hiện tượng trong sinh hoạt văn học và tạo nên một làn sóng tình cảm mạnh mẽ trong nước như nhật ký của chị Thùy Trâm. Tại sao? Ngoài những suy nghĩ chân thành chị viết ra, một phần không nhỏ bởi vì chị là một trí thức trẻ, một người con gái tuổi hai mươi và hành trình khá gian nan của bản thân cuốn nhật ký.
Phản ứng và nhận xét về tác phẩm Nhật ký Đặng Thùy Trâm thì rất nhiều, từ ông cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, ông Thủ Tướng Phan Văn Khải đến các nhà văn, nhà thơ, những người bạn cùng chiến đấu với chị trước đây và ngay cả một người như tôi, nhỏ hơn chị hơn một giáp tuổi và sống xa nửa vòng trái đất, cũng muốn viết vài cảm nghĩ về chị.
Đối với các cấp lãnh đạo Đảng, Đoàn, đây là cơ hội vàng son để đóng khung tô màu lên tấm bảng “Lý tưởng Cộng Sản” mà chính họ cũng cảm thấy ngượng ngùng mỗi khi ngó đến. Ông Phan Văn Khải, trong lá thư gởi báo Tuổi Trẻ ngày 4 tháng 8 viết: “Tôi nhớ lại điều đã nêu thành chủ đề của bài phát biểu nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước:”Đưa đất nước tiến kịp thời đại với ý chí mãnh liệt như ý chí giành độc lập thống nhất”. Tấm gương của Thùy Trâm và Thạc làm cho khát vọng đổi mới và phát triển đất nước càng thấm sâu trong mọi người Việt Nam ở trong nước cũng như nước ngoài, tạo khí thế mới trong lao động học tập và rèn luyện vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
Trên báo Tuổi Trẻ ngày 23 tháng 8 năm 2005, ông cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu cũng viết những lời kêu gọi thanh niên như được trích ra từ một nghị quyết nào đó: “Lớp tuổi 20 hiện nay hãy thể hiện lòng biết ơn, sự ngưỡng mộ của mình với những người đi trước, những anh hùng, liệt sĩ bằng hành động và trái tim của tuổi trẻ. Đó là sự cống hiến sức lực, trí tuệ, tài năng của mình cùng cả dân tộc đưa Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới, đưa vinh quang, hạnh phúc cho mọi người, của mọi người. Nối tiếp truyền thống anh hùng của cha anh, góp phần vào thắng lợi của công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm cho dân tộc ta bước lên lâu đài hạnh phúc. Đó chính là giá trị đích thực của lẽ sống tuổi trẻ Việt Nam trong thời kỳ mới.”
Những khẩu hiệu tuyên truyền thời chiến tưởng đã quên đi chợt bừng bừng sống dậy. Gần hai tháng qua, báo lớn, báo nhỏ, báo già, báo trẻ trong nước, những bài viết nặng mùi tuyên truyền lại được đăng ngay trên trang nhất để ca ngợi chị Đặng Thùy Trâm.
Thế nhưng không phải ai cũng nhắm mắt vỗ tay theo những lời hô hào, ngợi ca sáo rỗng “Đưa đất nước tiến kịp thời đại”, “Chủ nghĩa anh hùng cách mạng”, “Bước lên lâu đài hạnh phúc”… của ông cựu Tổng Bí thư và ông Thủ tướng, những tiếng nói bộc trực, thẳng thắn của những người cùng thế hệ với chị Thùy Trâm cũng vang lên từ trong nước như những lời cảnh giác dành cho thế hệ trẻ.
Báo Tuổi Trẻ ngày 7 tháng 8 ghi lại câu trả lời của nhà văn Bảo Ninh: “Lần đầu tiên nhìn thấy cuốn nhật ký, tôi đã rất xúc động. Đó là một phần tuổi trẻ của tôi. Đó là những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời tôi. Cái đẹp của sự xả thân. Cái sự xả thân của chị Trâm, anh Thạc hồi ấy sao mà đơn giản thế. Đừng vội gán cho chị Trâm những lý tưởng to tát như vì Đảng, vì dân, cũng đừng cường điệu chị lên, đừng bắt chị phải vác cái huy hiệu “anh hùng”. Bởi theo tôi, chị rất đỗi bình thường. Trước cái chết, nếu “không run sợ” tức là đang nói dối! Có lẽ chị Trâm chỉ nghĩ đơn giản là mình nổ súng đánh lạc hướng thì mấy người thương binh sẽ có chút thời gian chạy vào rừng… Phản ứng của độc giả trẻ là hoàn toàn chân thật. Đừng nghĩ thanh niên Việt Nam không thèm quan tâm đến quá khứ mà chẳng qua vì “chúng” không thích những bài giảng sáo rỗng đấy thôi!”
Nhà thơ Bùi Minh Quốc viết trên talawas: “Tôi, người may mắn sống sót sau những hy sinh của Dương Thị Xuân Quý, Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Giá, Chu Cẩm Phong cùng hàng triệu đồng bào đồng chí của tôi, từ 1975 trở đi càng ngày càng thấy nhân dân tôi đã lâm vào một bi kịch thê thảm nhất, cay đắng nhất, quái gở nhất: vì độc lập tự do mà cuồng nhiệt tự nguyện dốc cả sông máu núi xương để rồi “tự do” tự nguyện choàng lên cổ mình một cái ách nô lệ “vàng son” mang tên là sự lãnh đạo của Đảng, mà thực chất chỉ là sự cai trị độc đoán của hơn một trăm Ủy viên Trung ương, thậm chí chủ yếu là mười mấy Ủy viên Bộ Chính trị. Nô lệ đến mức người ta bảo bỏ phiếu cho ai là ngoan ngoãn bỏ cho người ấy, chẳng biết người ấy tốt xấu thế nào. Nô lệ đến mức muốn nói điều mình nghĩ, mình thấy, mình biết cũng không báo nào đăng cho, cỡ như cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt trả lời phỏng vấn mà cũng không được đăng trọn vẹn. Nô lệ đến mức người ta áp đặt cái đường lối sai lầm dựa trên một kiểu lý luận nói lấy được (chữ dùng của tướng Trần Độ) là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” cũng không biết mà cãi, hoặc biết mà không dám cãi, hoặc muốn cãi thì cũng không có diễn đàn mà cãi.”
Thật vậy, thế hệ trẻ ngày nay hình như không thể tìm thấy chút thành thật nào từ những kẻ đang sống, đang lãnh đạo đất nước nên quay sang lắng nghe tâm sự của những người chết, vì ít ra, người chết không nói dối và không biết sợ.
Giống như nhà văn Bảo Ninh, nhà thơ Bùi Minh Quốc và có lẽ rất nhiều người khác, tôi đọc “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” với một tấm lòng trĩu nặng. Tôi nghĩ về chị như một người thân dù chúng tôi xa cách nhau về mọi mặt. Tôi hình dung căn hầm nhỏ nơi chị ngồi, mái tóc học trò của chị, những giọt mưa rơi trên mái lá, tiếng trực thăng bay trên đầu. Chị trải lòng mình trên trang giấy trong những phút riêng tư và cô đơn tột cùng như thế. Tương tự như nhận xét của anh cựu chiến binh Mỹ Robert Whitehurst, tôi nghĩ chị không viết để gởi lại cho đời sau, và cũng không cần ai thương hại, xót xa hay vinh danh mình.
Ngoại trừ hai chữ Th. và M., viết tắt tên của chị và người yêu, có lẽ những chữ lập lại nhiều nhất trong hai cuốn nhật ký của chị là hai chữ “buồn” và “nhớ”. Ngày 4-6-68, chị viết: “Mưa vẫn cứ rơi hoài. Mưa càng thêm buồn thắm thía, và mưa lạnh làm cho người ta thèm khát vô cùng một cảnh sum họp gia đình. Ước gì có cánh bay về căn nhà xinh đẹp để cùng ba má và các em ăn một bữa cơm rau muống và nằm trong tấm chăn bông ấm áp ngủ một giấc ngon lành”, và trong nhật ký ngày 18-12-68 chị viết những dòng rất tội, rất đau: “Đêm nay ngồi trực, ngọn đèn mờ trong căn nhà nhỏ, tiếng rên của người bệnh nhân làm mình buồn lạ lùng. Hơn bao giờ hết nỗi nhớ thương trào lên thiết tha cháy bỏng. Hỡi những người thân yêu, đêm nay có ai hiểu hết lòng mình hay không?”
Không giống như chị Sứ trong “Hòn Đất” của Anh Đức, chị Diệu trong phim “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm” của Hải Ninh được tiểu thuyết hóa đến mức thần thánh và dàn dựng thành phim ảnh chỉ nhằm mục đích tuyên truyền, chị Đặng Thùy Trâm là một người có thật và chính tay mình ghi lại những suy nghĩ rất thật của mình. Nữ bác sĩ 28 tuổi xinh đẹp và hiền từ Đặng Thùy Trâm đã sống và đã chết trên đất nước Việt Nam thân yêu. Nhật ký chị viết dưới những cơn mưa rừng hòa lẫn tiếng mưa bom ở bịnh xá Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, như số phận giọt nước mưa lăn trên mái tóc học trò của chị, trôi xa nhiều ngàn dặm trước khi về lại với quê hương.
Chị dành trang đầu để trang trọng ghi lại câu văn trích từ tác phẩm “Thép Đã Tôi Thế Đấy” của Nikolai Ostrovsky, một nhà văn Sô-Viết qua đời vì bạo bịnh vào tuổi 32: “Cái quí nhất của con người là cuộc sống, đời người ta chỉ sống một lần, phải sống sao cho khỏi phải xót xa ân hận vì những năm tháng sống hoài sống phí, cho khỏi phải hổ thẹn vì những năm tháng sống hoài sống phí, để khi nhắm mắt xuôi tay ta có thể nói rằng: “Cả đời ta, cả sức ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời: Sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người”".
Nhân vật Pavel Korchagin, chiếc bóng của cuộc đời nhà văn Nikolai Ostrovsky, một thời là biểu tượng cho ý chí vươn lên của tuổi trẻ tại nhiều quốc gia Cộng Sản. Tác phẩm “Thép Đã Tôi Thế Đấy” được xem như là viên đá tảng của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa và là cuốn sách gối đầu giường của thanh niên Cộng Sản khắp thế giới. Stalin đã tận dụng từng ý, từng câu trong tác phẩm để kích thích các thế hệ thanh niên Sô-Viết lao vào những cuộc chém giết đẫm máu. Nikolai Ostrovsky bịnh nặng rồi chết sớm nên không có dịp chứng kiến tội ác của Stalin đối với dân tộc Ba Lan mùa xuân năm 1940, với đối thủ chính trị của ông ta và với 20 triệu người dân Sô-viết bình thường bị đày ải vào những trại tù xa xôi miền cực Bắc, một nửa số đó đã không bao giờ trở lại. Không ai trách Nikolai Ostrovsky đã viết nên tác phẩm có tác dụng tiếp tay cho tội ác.
Khát vọng bao giờ cũng là một màu xanh vô tội, chỉ có những kẻ lợi dụng khát vọng hồn nhiên của tuổi hai mươi, xô đẩy những mái đầu xanh vào vực thẳm hận thù mới là những kẻ có tội. Ngày nay tác phẩm “Thép Đã Tôi Thế Đấy” bản tiếng Anh “How The Steel Was Tempered”, vẫn còn bày trong nhiều thư viện, vẫn còn được đọc, khác chăng, không phải đọc để hun đúc chí thanh niên mà để học từ những hoang phí đắng cay của một thời thanh xuân lầm lỡ.
Cả Nikolai Ostrovsky và chị Đặng Thùy Trâm đều phấn đấu để trở thành người Cộng Sản, nhưng cuộc đời của Nikolai Ostrovsky khác nhiều so với đời chị Thùy Trâm. Nikolai Ostrovsky hy sinh cho chủ nghĩa Cộng Sản, ngoài khát vọng tuổi trẻ mà ông tin, còn là một hình thức trả ơn. Trong lá thư gởi cám ơn Stalin sau khi được trao tặng huân chương Lenin, Nikolai Ostrovsky bày tỏ lòng biết ơn Đảng Cộng Sản đã vực ông dậy từ những nghèo nàn và bạc đãi của xã hội và biến một kẻ thiếu học như ông thành một nhà văn Sô-Viết.
Chị Thùy Trâm thì khác. Chị sinh ra và lớn lên trong môt gia đình trí thức. Gia đình chị bị xếp vào giai cấp tiểu tư sản, thành phần xã hội mà Friedrich Engels trong tác phẩm “Cách Mạng và Phản Cách Mạng” ở Đức định nghĩa là những kẻ chỉ biết: “khoe khoang, không có khả năng hành động và lẩn tránh một cách nhút nhát khi cần phải làm một cái gì nguy hiểm.” Đa số các buổi chỉnh huấn đảng được ghi lại trong nhật ký, chị đều bị phê bình: “Tính tiểu tư sản vẫn còn”. Chính chị cũng thừa nhận điều đó khi viết cho Thuận, em nuôi của chị, trong nhật ký ngày 18-5-69 những dòng lãng mạn và tinh nghịch: “Em ơi, bao giờ chị cũng thương em vô hạn, nhưng tình thương đâu phải chỉ là những buổi sáng nắng hồng rực rỡ, những buổi chiều êm ả hay những đêm trăng mênh mông trên đồng lúa yên lành. Mà tình thương còn là những cơn giông sau những ngày hè êm ả. Vậy đó, làm bạn với một đứa tiểu tư sản thật là phức tạp”.
Dù chế độ có nhào nặn thế nào vẫn không xóa hết được những tình cảm tự nhiên trong tâm hồn người con gái nhiều mơ mộng Đặng Thùy Trâm. Trong nhật ký ngày 1-9-68, mặc dù phần trên chị chép lại một câu văn nặng tính đảng của ai đó: “Hãy giữ vững tinh thần của người Cộng Sản, tinh thần trong suốt như pha lê, cứng rắn như kim cương và chói lọi muôn ngàn hào quang của lòng tin tưởng”, thì ngay trong hàng kế chị lại viết: “Nói vậy mà vẫn thấy xót xa, cay đắng và cô đơn lạ thường”.
Chị Thùy Trâm phấn đấu để được vào Đảng, vì đơn giản đó là nơi duy nhất chị được dạy để tin vào, để dựa vào, để vươn lên và đó cũng là chiếc thang xã hội mà mọi người, trong đó có chị, phải tìm cách trèo lên chứ chưa hẳn phát xuất từ tình yêu giai cấp. Nếu để ý, chúng ta sẽ thấy chị viết về tình yêu, tình người, tình chị, tình em tự nhiên, ngọt ngào hơn nhiều khi viết về tình đảng. Cái nhiệt tình, đúng ra là háo hức mang tính thời thượng của một người trẻ mong được trở thành đảng viên Cộng Sản cũng nguội lạnh dần ngay khi chị đưa tay tuyên thệ làm một đảng viên. Nhật ký của chị trong ngày gia nhập Đảng 27-9-68: “Còn niềm vui, sao nhỏ nhoi quá so với ý nghĩa của ngày vui. Vì sao vậy hả Thùy? Phải chăng như hôm nào Thùy đã nói như một đứa con khát sữa mẹ khóc đã mệt rồi, miếng sữa nuốt vào không còn nguyên hương vị thơm ngon và cái thú vị của nó nữa.”
Trong những ngày phấn đấu gian nan chị đã cảm thấy Đảng không phải là nơi tập trung những kẻ “sống vì mọi người” như chị được dạy trong môi trường giáo dục ở miền Bắc. Ngày 15-6-68, chị viết những dòng đanh thép: “Điều đáng buồn nhất là trong những hy sinh gian khổ ấy, Th. chưa thấy được sự công bằng, sự trung thực. Chưa có sự đấu tranh để thắng được những cái ti tiện, đớn hèn cứ xảy ra làm sứt mẻ danh dự của hai chữ Đảng viên và làm mòn mỏi niềm vui say công tác của mọi người trong bệnh xá. Cả mùa khô ác liệt không một lúc nào mình thấy bi quan, mình luôn cười trong gian khổ vậy mà bây giờ mình đau khổ quá đi. Kẻ thù phi nghĩa mình không sợ, mà sợ những nọc độc của của kẻ thù còn rớt lại trong đồng chí của mình”.
Đọc đoạn văn trên tôi chợt nhớ đến câu trả lời của nhà văn Dương Thu Hương với phóng viên Evan Williams của đài truyền hình Úc trước đây. Giống như chị Thùy Trâm, chị Dương Thu Hương cũng nói về những con người ti tiện: “Tôi không thể tin tưởng một chút gì về chính phủ của mình vì đây là những con người cực kỳ hèn hạ và thấp kém. Họ không có một tí nhân cách nào để tôi tin tưởng cả. Tôi hiểu rất rõ về họ. Họ chỉ hoàn toàn là những con người ti tiện. Những lớp người tốt mà ngày xưa còn chút lý tưởng đã chết, chết hết rồi. Bây giờ chỉ còn lại những người thế chân; đấy là những kẻ đê tiện, những kẻ ăn cắp một cách trắng trợn gian manh”.
Và tôi chợt tiếc, phải chi chị Đặng Thùy Trâm còn sống đến hôm nay, trong văn giới Việt Nam hẳn có thêm một Dương Thu Hương can đảm khác.
Như hàng triệu thanh niên lớn lên trong một đất nước qua phân, ngăn cách, chị Thùy Trâm khao khát một ngày hòa bình. Chị viết trong nhật ký ngày 4-6-68: “Đêm qua mơ thấy Hòa bình lập lại, mình trở về gặp lại mọi người. Ôi, giấc mơ Hòa bình, Độc lập đã cháy bỏng trong lòng cả ba mươi triệu đồng bào ta từ lâu rồi. Vì nền Hòa bình Độc lập ấy mà chúng ta đã hy sinh tất cả.” Vâng, không riêng gì chị Thùy Trâm mà tuyệt đại đa số người Việt Nam đều mơ ước hòa bình. Giọt nước mắt già nua của mẹ đợi chờ bao nhiêu năm chỉ để khóc trong mừng vui cho ngày con trở lại. Tiếc thay, chị Đặng Thùy Trâm chết sớm nên không có dịp chứng kiến một đất nước hòa bình trong máu và nước mắt chứ không phải trong nụ cười đoàn viên dân tộc mà chị hằng mơ ước. Đất nước không còn tiếng súng nhưng hàng triệu người dắt nhau đi ăn xin trên quê hương vừa thống nhất trong điêu tàn đổ nát. Bóng đêm của nghèo đói phủ trùm lên số phận một dân tộc đã phải chịu đựng hơn một phần tư thế kỷ chiến tranh và tàn phá. Những chuyến đi đày vào những trại tập trung xa xôi đã thay thế cho những giấc mơ hồi hương trong ấm êm hạnh phúc. Những đêm mưa gió bão bùng trên vùng kinh tế mới đã thay cho những giờ phút an vui, quây quần bên bếp lửa gia đình. Là một người có trái tim nhân hậu, nếu còn sống, chị Thùy Trâm sẽ nghĩ sao và làm gì trước những cảnh này?
Không phải chỉ người dân miền Nam thôi mà cả thanh niên miền Bắc cũng là nạn nhân của chế độ. Đọc đoạn nhật ký nói lên ước mơ hòa bình của chị tôi chợt nghĩ đến tâm sự cô đơn, trống vắng của người lính miền Bắc trở về trong bài thơ “Ngày hòa bình đầu tiên” của nhà thơ Phùng Khắc Bắc:
Những sợi nắng xuyên qua nhà mình Thành những mũi tên Thành những viên đạn, Bắn tiếp vào anh không gì che chắn Phải nhận tất cả, Van anh. Hôm qua chưa nhận được một viên đạn Hôm nay nhận những lỗ thủng Anh về quê không mang súng Vũ khí lúc này hai bàn tay Mẹ giục: - Ăn cơm, con! Hòa bình trong canh cua, mồng tơi, cà Và Mùi ổ rơm.
Tôi vẫn nhớ ngày đọc xong bài thơ của Phùng Khắc Bắc, tôi dò hỏi về tiểu sử của anh và biết anh đã qua đời sau một thời gian sống trong bịnh hoạn, nghèo nàn, túng quẫn. Đọc tâm sự của một nhà thơ bộ đội trong ngày hòa bình đầu tiên của đất nước để hiểu rằng những xót xa này không phải của riêng ai.
Chị Đặng Thùy Trâm chết trên mảnh đất miền Nam, nơi mà chị cảm thấy “thiết tha gắn bó vô cùng” nhưng chị chưa thực sự sống trong lòng một miền Nam đúng nghĩa. Những công sự tối tăm, những căn lán nhỏ ở Đức Phổ không thể đại diện cho miền Nam. Miền Nam thật sự không có những người “đang rên siết dưới gọng kèm đế quốc”, đang thoi thóp chờ “hạt gạo chẻ làm đôi” mang vào từ miền Bắc như giới lãnh đạo Đảng nhồi nhét vào tâm hồn đa cảm của chị. Chị và hàng ngàn thanh niên miền Bắc tình nguyện vào “giải phóng miền Nam” cũng chỉ vì tin như thế. Miền Nam chị chưa gặp là những cánh đồng bát ngát, những dòng sông nhuộm đỏ phù sa, những vườn cây sai trái, những con người chơn chất hiền hòa. Miền Nam chị chưa đến có những con đường phượng đỏ, hàng me xanh tình tự, những tà áo trắng hồn nhiên, những bài hát đượm tình yêu quê hương và đôi lứa. Miền Nam có hàng triệu người như anh thượng sĩ Nguyễn Trung Hiếu, những người phải chiến đấu trong một cuộc chiến tự vệ vô cùng khắc nghiệt nhưng lúc nào cũng có trái tim nhân hậu dành cho chị và những người cùng máu mủ dù đang phải đứng đầu trong cuộc chiến đau lòng này. Chị Đặng Thùy Trâm chết sớm nên không có dịp nhìn thấy hàng triệu đồng bào miền Nam thân yêu của chị phải dắt dìu nhau ra biển tìm tự do, và chị không còn sống để có cơ hội hiểu được thực chất của chế độ mà chị đã đem hết tuổi thanh xuân để phục vụ.
Chị căm thù lính Mỹ, những người mà chị có lần hằn học miêu tả trong nhật ký ngày 19-1-69 là “bọn quỷ khát máu vẫn đang giày xéo lên quê hương”. Đó cũng là điều dễ hiểu. Là một bác sĩ trẻ, rất dễ buồn và đa cảm, mỗi ngày chứng kiến cái chết của bạn bè, anh em, của Khiêm, của Thuận, những người thân thiết nhất trong ngày tháng xa nhà của chị, lòng thù hận dâng cao trong lòng chị là điều không tránh khỏi.
Thế nhưng, sinh ra và lớn lên trong môt xã hội đóng khung trong bốn bức tường chuyên chính như con chim non trong lồng sắt, làm sao chị biết được ngoài kia trời đang nắng hay mưa. Suốt 28 năm bị rèn dũa trong một hệ thống giáo dục chỉ trang bị cho chị những câu trả lời mà không cho chị cái quyền được hỏi, làm sao chị hiểu được ai thực sự là những kẻ đang dày xéo quê hương. Làm sao chị hiểu được rằng năm 1959, khi giới lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam quyết định mở đường Trường Sơn “giải phóng miền Nam bằng phương tiện võ lực”, số lượng “giặc Mỹ xâm lược” tại miền Nam cũng chẳng nhiều hơn so với số cố vấn Trung Quốc, cố vấn Liên Xô ở miền Bắc. Làm sao chị hiểu được rằng, vào những năm đầu của thập niên 60, võ khí của Mỹ viện trợ cho miền Nam cũng không nhiều hơn so với võ khí của Trung Quốc và Liên Xô đang ào ạt vận chuyển vào cảng Hải Phòng. Làm sao chị hiểu được rằng khẩu hiệu “Độc lập tự do” chỉ là chiếc bánh vẽ mà dân tộc ta mấy chục năm nay chẳng thể nào ăn được. Làm sao chị hiểu được rằng dù có Mỹ hay không có Mỹ, dù bằng phương tiện hòa bình hay phải “đốt cháy cả dải Trường Sơn” thì chủ nghĩa Cộng Sản độc tài chuyên chính vẫn phải được thiết lập trên toàn cõi Việt Nam. Và chị làm sao hiểu được nỗi đau của đồng chí, bè bạn, anh em chị còn sống sót, những người đã một thời tin vào Đảng như tin vào ánh sao Hôm sẽ dẫn lối về nhà. Ba mươi năm qua họ vẫn thức dậy mỗi đêm nhìn ánh sao Hôm mà thầm trách lấy chính mình. Trên giá sách họ cũng có những cuốn nhật ký dày và chân thật như của chị, dấu tích của những tháng ngày bão lửa chưa phai, nhưng khác chăng những nhật ký như thế sẽ không bao giờ xuất bản.
Cầu xin hương linh chị phò hộ cho đất nước chúng ta sớm qua đi thời đại của độc tài, hận thù, rẽ chia, ghen ghét, xin chị phò hộ cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau được sống trong dân chủ, tự do, no ấm, biết yêu thương nhau và che chở cho nhau.
Nếu giới lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam còn chút tình nghĩa nào dành cho những người đã chết thay cho họ, xin hãy để chị Thùy Trâm ngủ yên với những ước mơ xanh của chị. Đặng Thùy Trâm đã chết một lần rồi, đừng bắt chị phải chết thêm lần nữa.
Trần Trung Đạo
PHỤ CHƯƠNG 2
Sứ Mệnh Lịch Sử
của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
GS Nguyễn Thế Tiến
(Để đóng góp thêm những dữ kiện tích cực tăng cường các luận điểm trong tác phẩm “Máu và nước mắt trên Lưng Trường Sơn” nhằm bác bỏ những tuyên truyền của CSVN trong tác phẩm Nhật Ký Đặng Thùy Trâm, chúng tôi mạn phép chạy đăng vào phần phụ trương bài nói chuyện của GS Nguyễn Thế Tiến tại cuộc Hội thảo chính trị tại Vietnam Center ở Lubbock, Texas vào 2 ngày 17 & 18/3/2006/Vietnamese Spring 2006 Conference/ARVN: Fleetions and Reassessments after 30 years / video section 1.30PM-3.00PM – Session7: The Death of the South Vietnamese Army với moderator:Jay Veith, diễn giả CPT Do Kiem, Hai Trieu, Nguyen The Tien.) (*)
Bài nói chuyện của GS Nguyễn Thế Tiến, một cựu giáo sư Đại Học Bách Khoa Hà Nội và các diễn giả được lưu trong video/audio trong trang nhàwww.ttu.edu> search Vietnam Center>Vietnamese Spring 2006 Conference>Session7.
Gs Tiến nói chuyện bằng tiếng Anh, cùng lúc phổ biến bản tiếng Việt. Để tôn trọng ý của tác giả, chúng tôi quyết định chạy nguyên văn bài viết của Gs Tiến với những chữ được dùng có dụng ý khi viết tên “hồ”, “mao”, “đồng” viết bằng chữ thường (không viết hoa).
Bài viết như sau:
Với tư cách của một cựu giảng viên đại học 27 năm trong chế độ “hồ-cáo”, tôi xin phép qúi vị được đóng góp ý kiến trên quan điểm triết lý, đạo lý, lịch sử và đưa ra một vài sự thật mà tôi nghĩ rằng quí vị chưa được nghe.
I. Sứ Mệnh Lịch Sử của Việt Nam Cộng Hòa:
“Việt Nam Cộng Hòa” và “Việt Nam dân chủ cộng hồ” song song tồn tại từ 1956 đến 1975 trong hoàn cảnh chiến tranh nóng và lạnh giữa Thế Giới Tự Do do Hoa Kỳ đứng đầu và phe cộng sản do Liên Xô lãnh đạo. Suốt hai chục năm trời, VNCH đã ngoan cường chiến đấu để giữ nền độc lập dân tộc theo tinh thần quốc gia truyền thống, đồng thời góp phần bảo vệ và củng cố TGTD (thế giới tự do/ ghi chú của Hải Triều). Ngược lại, VNDCCHỒ (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa/ghi chú của Hải Triều), dưới danh nghĩa bịp bợm là chống đế quốc Mỹ xâm lược, thực chất là đem nướng xương máu dân Việt để cho Nga cho Tàu hưởng lợi.
Đối với sự hưởng lợi của Nga, tôi xin dẫn chứng bằng lời nói tổng kết vào đầu tháng 9/ 1975 cuả ông Hoàng Tùng – khi đó là tổng biên tập báo Nhân Dân – trước hơn 1000 đảng viên và thầy giáo của trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội : “Trong cuộc chiến này, Mỹ đã tiêu tốn mấy trăm tỷ US-dollars mà chưa lấy về được một dollar nhỏ nào cả. Ngược lại, Nga chỉ bỏ ra 4 tỷ dollars mà đã thu về được 9 tỷ dollars tiền mặt do Hoa Kỳ bị chảy máu dollars. Ngoài ra, cuộc chiến Việt Nam đã kìm chân Mỹ để cho Nga có điều kiện vượt lên trong lĩnh vực du hành vũ trụ. Thêm nữa, Nga được hưởng lợi về các bí mật kỹ thuật, như là các thiết bị của hàng rào điện tử, các bí mật trong máy bay cánh cụp cánh xòe và trong máy bay B52.”
Còn Trung Hoa hưởng lợi thế nào? Năm 1956, đi dự Đại hội Đảng Liên Xô lần 20 về qua Bắc Kinh, “hồ” đã bị “mao” giam lỏng để có bằng được thỏa thuận về “hữu nghị quan” thì mới được về nước. “Bản tuyên bố về thềm lục địa của Tàu” năm 1958 đã được “hồ” và “đồng” gởi công văn thừa nhận; hồ và đảng hồ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về việc bán biển của Việt Nam cho Tàu từ đấy! Khoảng năm 1969-70, nhà sử học Trần Huy Liệu, trước khi lià đời đã trăn trối lại rằng: “Đừng lo phương Tây, hãy lo phương Bắc. Phương Tây đến, phương Tây đi; phương Bắc đến, phương Bắc ở!”
Năm 1974, “đảng và chính quyền hồ” đã “trao Hoàng Sa của Việt Nam cho Tàu” giữ giùm, tức là đã bán đứng Hoàng Sa cho Tàu. Những năm gần đây, Tàu cộng đã cướp được 700 Km2 đất dọc biên giới Việt Trung, đã cướp không 11,000 Km2 trên biển của Việt Nam.
Tổng hợp lại, Tàu Hán bành trướng đã tóm được gáy Việt Nam rồi! Đó là tội muôn đời của “hồ” và của “đảng hồ” đối với tổ quốc và dân tộc. Tổng Thống Ngô Đình Diệm lập ra VNCH và đưa Việt Nam đi theo qũy đạo Hoa Kỳ là đúng theo “Luật Tiến Hóa nghĩa rộng” và đúng với như câu châm ngôn của Việt Nam: “Ở với nhà giàu, đau răng ăn cốm; ở với kẻ khốn, ốm lưng chịu đòn”. Nếu VNCH không tồn tại trong bấy nhiêu năm, với cái đà bán nước dâng dân của “hồ” và của “đảng hồ” như thế, thì cả nướcViệt Nam có thể bị đã Tàu nuốt từ lâu rồi! Ngày nay Việt Nam chẳng còn gì để mà gìn giữ, khôi phục và phát triển nữa!
II. Quân lực Việt Nam Cộng Hòa là cái cột cái của tòa nhà Việt Nam Cộng Hòa.
1. Kỳ tích oanh liệt của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Tôi xin kể ba câu chuyện minh họa. Mặc dù gian manh lật lọng, quân Cộng Sản Bắc đã bị Quân Lực VNCH đánh cho thảm bại về quân sự trong chiến dịch Tết Mậu Thân. Tôi xin đưa ra đây mấy dẫn chứng.
- Trong tháng 12/ 1967, các cán bộ người miền Nam đã được chuẩn bị sẵn sàng về Nam các cơ quan sẽ được tiếp nhận; chuyện đó đã được cho lặng lẽ chìm xuồng cuối mùa xuân 1968.
- Trong nửa cuối năm 1968, các sĩ quan cấp úy và cấp tá được chuyển ngành về các cơ quan dân sự và về các xí nghiệp rất đông. Một thiếu tá (anh bạn rể của tôi) đã cho tôi biết lý do là: các sĩ quan đó đã mất tinh thần trong chiến dịch Tết Mậu Thân, nên phải thay thế họ.
- Tháng 12/ 1968, tôi gặp một sĩ quan tùy tùng trẻ trong sư đoàn bộ cuả sư đòan quân Bắc đánh Huế. Cậu này cho tôi hay rằng, sau khi bị đẩy ra khỏi Huế rồi và bị chặn mất đường về, sư đoàn đó đã phải vòng xuống Nam Lào để rồi ra Bắc. Khi ra được đất Bắc rồi thì quân số của nó chỉ còn 800. Sau đó, ngoài Bắc đã vét tuyển tân binh xuống đến 15-16 tuổi và lên đến tuổi 30.
(Chi tiết này hoàn toàn phù hợp với nội dung bài thơ “Ai? Tôi!” của Chế Lan Viên ở ngay 2 câu đầu: “Mậu Thân, 2 ngàn người xuống đồng bằng. Chỉ một đêm còn sống có ba mươi…”/ Xem trang 16/ “Máu và nước mắt trên lưng Trường Sơn”.)
2. Quân lực Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn xứng đáng với niềm tự hào đã giữ cho Việt Nam Cộng Hòa đứng vững trong 20 năm trước sức mạnh tổng hợp của toàn khối CS thế giới, bảo tồn được bản sắc dân tộc và văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Hơn nữa, mặc dù trong điều kiện chiến tranh, VNCH vẫn phát triển được một nền kinh tế thịnh vượng vào bậc nhất trong vùng Đông Nam Á Châu. Chính Cộng Sản Bắc đã phải giật mình và rất nhiều cán bộ cộng “hồ” đã “phản tỉnh” khi vào Sài Gòn năm 1975.
Cuộc chiến đấu anh hùng của QLVNCH trong hơn 20 năm trời đã đóng góp xứng đáng vào sự việc làm sụp đổ các nước XHCN Đông Âu và Liên Sô những năm 1789 – 1990.
[Toàn gia đình 3 thế hệ (vợ, chồng, con cái, dâu rể và các cháu) đều đã thoát khỏi gông cùm Cộng Sản hồ-cáo và đang được sống trong thế giới tự do Âu-Mỹ. Tôi mang nặng công ơn của Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (như tôi đã phát biểu trên diễn đàn Đại Hội Tập Thể Cựu Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa toàn Canada, tháng 11/ 2004, tại Vancouver. VỚI LÒNG BIẾT ƠN SÂU NẶNG, VỚI LÒNG KÍNH PHỤC CHÂN THÀNH, và VỚI LÒNG KHIÊM CUNG ĐẦY ĐỦ, tôi xin phát biểu một vài đề xuất trong phần cuối của bài diễn văn này. Tôi thật tình mong mỏi nhận được sự thông cảm cuả quí vị.]
III. Nhiệm vụ và hành động trước mắt của Tập thể Cựu Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa nóí chung, và của TTCCS Việt Nam Cộng Hòa nói riêng, với tư cách hạt nhân trong sự nghiệp tranh đấu chính trị với Cộng Sản hồ-cáo và trong vai trò phối hợp chiến lược chiến thuật với Hoa Kỳ.
1. Chúng ta phải khẳng định bằng được ở các thế hệ trẻ (dưới 60 tuổi) sự hy sinh to lớn và vinh dự lớn lao của Việt Nam Cộng Hòa và của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cho dân tộc Việt Nam và cho Thế Giới Tự Do.
2. Chúng ta phải nuôi cho được ở các thế hệ trẻ Việt Nam Hải Ngoại cái quyết tâm quyết chí đi tiếp con đường của cha anh:
- Khuyến khích các thế hệ trẻ học và nghiên cứu “chiến lược chiến thuật chính trị và quân sự” chớ không chỉ tập trung vào khoa học kỹ thuật và kinh tế. + bằng tài trí, vận dụng phương pháp hòa bình tranh đấu hóa giải bằng được chế độ “độc đảng trị mác-lê-hồ” ở Việt Nam.
- Kiên quyết không mắc bẫy “hòa hợp hòa giải” cuả chúng, để Cộng Sản lợi dụng trí tuệ và tiền vốn cuả Cộng Đồng Việt hải ngoại nhằm củng cố chế độ độc tài đảng trị hiện hữu trong nước.
- Bẻ gẫy mọi thủ đoạn thực thi cái nq.36 thâm độc của chúng tại hải ngoại.
Tôi nghĩ rằng, nếu chúng ta chỉ “ôn cố” mà “không tri tân” thì đám Cộng Sản chóp bu độc tài sẽ còn khư khư thay nhau “ôm chân Tàu”; và do đó Việt Nam sẽ thành nô lệ cuả Tàu trong thế kỷ này!
3. Chúng ta phải tạo cho được sự hợp đồng của các cơ sở theo sự chỉ đạo của trung ương; ít nhất là trong TTCCS Việt Nam Cộng Hòa. Cộng Sản hồ rất gian manh quỷ quyệt, có chính quyền độc tài công an trị trong tay, có kế hoạch đào tạo các lớp con cháu kế thừa, có Tàu cộng chỉ đạo sát sao. Nếu chúng ta cứ phân tán, không ngồi lại được với nhau, không có bộ tham mưu chính trị chung, không có được sự phối hợp chặt chẽ với chiến lược của Hoa Kỳ, không tạo dựng được lực lượng kế thừa, thì làm sao thành được nghiệp lớn khi thời cơ tới!
Xin hãy nhìn gương Israel, sau 2000 năm người ta còn dựng lại được nước! Xin hãy khắc ghi lời dạy của tổ tiên “Trồng tre nên gậy; nuôi dưỡng cháu con rửa nhục hờn” để áp dụng với “Cộng Sản hồ” và với “Tàu bành trướng”!
4. Cuộc chiến Nam-Bắc đã kết thúc hồi tháng 4/ 1975; sứ mệnh bảo vệ tổ quốc và dân tộc Việt Nam trước nguy cơ Tàu Hán bành trướng vẫn còn nguyên đó, sứ mệnh xoá ách thống trị trên toàn dân cuả nền độc tài độc đảng (Cộng Sản) trị vẫn đè nặng trên tâm tư tình cảm của những người quốc gia chân chính – đặc biệt là các “SĨ PHU HƯŨ TRÁCH CỦA DÂN TỘC”!!!
Chúng tôi xin hết lời ở đây.
Xin kính chúc qúi vị luôn mạnh khỏe, chân cứng đá mềm trên con đường tranh đấu và tìm kiếm sự thật lịch sử.
GS Nguyễn Thế Tiến
PHỤ CHƯƠNG 3
Tiếng nói của thế hệ đàn em Đặng Thùy Trâm
trước sự thật của đất nước được mở ra.
Ngọc Lan, nữ du sinh Việt Nam.
Kính thưa quý đồng hương.
Dưới đây là bài nói chuyện của một du sinh Việt Nam tên Ngọc Lan, hiện đang theo học tại một trường Đại học Boston, tiểu bang Massachsetts. Ngọc Lan năm nay 20 tuổi và đến Mỹ cách đây 18 tháng.
Sau khi được tiếp xúc với đồng hương Việt Nam ở đây và tìm hiểu thêm về Việt Nam, Ngọc Lan đã xúc động nói lên cảm tưởng của mình trong buổi lễ kỷ niệm ngày Quốc Hận 30/4/2007 được tổ chức tại Boston City Hall. Chúng tôi kính chuyển bài nói chuyện này đến tất cả quý đồng hương và mong tất cả mọi người tiếp tay chuyển bài này về Việt Nam. Chúng tôi cũng nhờ tất cả quý vị trong ngành truyền thông tiếp tay phổ biến rộng rãi lời phát biểu này đến các du sinh và giới trẻ VN trong và ngoài nước.
LLQDVN
*
Sinh ra và lớn lên trong Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, những gì tôi được giáo dục ở nhà trường về Đảng Cộng Sản Việt Nam, về Nhà Nước Việt Nam Cộng Hòa khác xa với những điều mẹ tôi, người sống cả hai thế hệ thường dạy bảo tôi ở nhà. Lúc ấy, một phần vì tôi còn quá non nớt với thời cuộc, một phần vì những điều tôi được học từ những đầu tiên cắp sách đến trường đã quá ăn sâu trong đầu tôi, nên tôi vẫn nghĩ rằng đó là do mẹ tôi quá bảo thủ, không chấp nhận được cái mới. Rất may mắn cho tôi khi tôi có được cơ hội đi du học ở Mỹ để mở rộng tầm mắt.
Khi đặt chân đến đây, lần đầu tiên tôi mới có dịp nhìn lại về Nhà Nước Việt Nam để có cái nhìn toàn diện hơn. Những sự kiện như cha Lý bị bắt, các sư bị đàn áp ở Việt Nam, hay cái sự thật đằng sau hiệp định Geneva, đến bây giờ tôi mới được nghe nói đến. Tôi cũng không hề biết được một thực tế đau lòng rằng rất nhiều những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã bị tra tấn, xúc phạm nặng nề đến chết trong trại giam Cộng Sản hằng mấy chục năm trời. Cái sự thật đáng kinh sợ đằng sau cái động từ hoa mỹ nào là “học tập cải tạo”, nào là “tẩy não”, thật ra là sự phô trương thanh thế, đáng sợ hơn nữa, đó là sự trả thù tàn ác của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Những người anh hùng trở thành kẻ phạm nhân, còn những người không qua trường lớp đào tạo thì lại nghiễm nhiên nắm chính quyền. Chính quyền đó chính là cái chính quyền chống lại tự do tôn giáo. Cái hình ảnh cha Lý bị hai người công an còng tay kéo đi trở thành nỗi day dứt không yên của tôi. Đúng như cha Nguyễn Văn Hùng đã từng nói rằng: “Cha Lý bị bịt miệng không nói được”.
Quả thật như vậy, không chỉ có cha Lý bị bịt miệng không nói được, mà rất nhiều người như cha Lý, cả một lớp người, cả một thế hệ bị bịt miệng không nói được. Thế nên, có rất nhiều người không nghe được những điều mà họ nên nghe, không biết được những điều mà họ nên biết. Đến bây giờ tôi mới biết được rằng Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không hề độc lập, tự do, hạnh phúc. Liệu người dân có hạnh phúc được hay không khi họ không có tự do nhân quyền, cái quyền mà một con người bình sinh đáng phải có?
Đến bây giờ tôi mới khám phá ra sự khôn khéo tài tình của Nhà Nước Việt Nam. Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn tìm cách che đậy, hoặc bóp méo những thông tin không có lợi cho họ sợ rằng sẽ kích động lòng dân. Thế nên không chỉ có tôi mà rất nhiều những người như tôi đã bị che mắt, bịt tai, không biết đến sự thật, không biết đến những điều chúng tôi cần phải biết. Tự do nhân quyền không hề tồn tại ở thế kỉ 21, liệu rằng có tàn ác quá không?
Trước đây, khi nghe nói đến tự do nhân quyền, tôi cứ tưởng chuyện ấy ở nơi nào xa xôi lắm, chứ không phải là vấn nạn ở Việt Nam. Hoăc giả, đó chỉ là vấn đền liên quan đến việc buôn bán phụ nữ, trẻ em. Tôi không hề biết được rằng cái xã hội mà tôi đang sống lại đang xúc phạm nghiêm trọng đến tự do nhân quyền. Ở ngay trong lòng Sài Gòn, ngay trung tâm văn hóa, chính trị, tôn giáo của Việt Nam mà tôi không hề biết đến những chuyện như cha Lý bị bắt, các sư bị đàn áp, những người luật sư bị kết án trong trại giam, hay chuyện chú Lý Tống rải truyền đơn. Những bài giảng văn hay văn học sử tôi được học suốt 12 năm cắp sách đến trường luôn đả kích chế độ Việt Nam Cộng Hòa.
Thế nhưng, những người sống giữa hai thế hệ luôn luôn nuối tiếc một chế độ cũ, nơi mà miền Nam Việt Nam đã được một thời là chốn phồn hoa, thịnh vượng, là “Hòn Ngọc Viễn Đông”, bỏ xa Thái Lan, Singapore. Đến bao giờ Việt Nam mới có thể tìm lại vị thế cũ? Đến bao giờ Việt Nam mới đuổi kịp tốc độ phát triển của Thái Lan? 20 năm hay 30 năm? Ngày hôm nay , ngày 30-4 khi tôi nhìn lại, tôi cảm thấy vô cùng hổ thẹn cho những suy nghĩ sai lạc của mình trước kia.
Tôi chân thành cảm ơn những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã cho tôi biết đúng, biết sai, cho tôi một cái nhìn đúng đắn. Tôi hy vọng rằng nhân dân Việt Nam sớm có được tự do nhân quyền. Muốn như vậy, tất cả chúng ta phải cùng nhau hành động, đó không chỉ là công việc của tôi, của bạn, của cộng đồng Việt Nam, mà đó là việc của tất cả chúng ta. Hãy đem tất cả khả năng mình có, kiến thức, nhiệt huyết mình để tham gia các hoạt động cộng đồng, để biến kiến thức của mình trở nên có ích, có ích cho mình, giúp ích cho xã hội và giúp cho những người dân Việt Nam, thế hệ như tôi nhận biết được con đường mà họ nên đi cho Việt Nam sớm có được tự do nhân quyền.
*
I was born and raised under a communist regime in Vietnam. What was related to me about the Vietnam War and the communist system which I was taught in school was completely different from what my mother told me. What I have learned does not paint a clear picture about what happened to my beautiful country until I had the opportunity to research and explore about it more in America.
Here, I have a chance to have a more appropriate view about the Vietnamese society. It was the first time I have known that Father Ly, a 60-year-old priest, who previously spent more than a decade in prison for criticizing the present government because all his criticisms go against the Communist Society. It was the first time I noticed that all the information goes against the government in Vietnam was locked.
Two years ago, when I heard about human rights; the freedom of speech and religion, I thought that these rights pertain to some country other than Vietnam. I didn’t know that those problems were inside Vietnam itself. Now, I’m really disappointed knowing that human rights, the natural rights guaranteed for the people, do not exist in Vietnam. When I was in Vietnam, the present government always criticizes The Republican of Viet Nam. However, it turns out that Vietnam was wealthier before 1975. The South of Vietnam was named for “Hon Ngoc Vien Dong”. I’m wondering when Vietnam can go back to that core promised land.
As of April 30th today, I’m really shameful for my ignorance in the history of my country Vietnam. I am indeed grateful for the soldiers of The Republican of Vietnam, who had given me the opportunity to explore different perspectives and points of views about these events. As I continue to meet and speak with those whom I consider as brothers and sisters of a common heritage, I begin to find a common bond with them, who recently are trying to fight for human rights in Vietnam. I’m proud of what we are doing to improve the conditions in Vietnam.
Life becomes more meaningful when you realize that you can use your knowledge to help people. In order to make Viet Nam gets better, not only the Vietnamese community, but all of us need to take action. We have to communicate with the Vietnamese youth, who were born and raised after 1975, to let them know the truth about the present government.
Ngọc Lan
PHỤ CHƯƠNG 4
Ở CUỐI HAI CON ĐƯỜNG
Phạm Tín An Ninh
(Câu chuyện cảm động có thực nói về tính nhân bản đầy tình người của người lính miền Nam được thể hiện rõ nét qua bài viết của tác giả Phạm Tín An Ninh, một sĩ quan QLVNCH và là một trong những “người tù cải tạo” bị giam ở miền Bắc sau 1975, tình cảm chân thật của Thượng úy Nguyễn Văn Thà, một sĩ quan thương binh bộ đội miền Bắc. Bài viết này được chuyển lên các hệ thống internet toàn cầu, được đọc trên các room paltalk với giọng đọc nghẹn ngào của các em thuộc thế hệ Việt Nam chưa hay không biết chiến tranh là gì. Chúng tôi xin được chạy đăng bài viết “Ở cuối hai con đường” vì nó phù hợp với luận điểm và nội dung cùa tác phẩm “Máu và nước mắt trên lưng Trường Sơn”: Cuộc chiến đấu tự vệ chính nghĩa và nhân bản của miền Nam Việt Nam so với cuộc chiến tranh xâm lược của cộng sản Việt Nam từ miền Bắc.
Cám ơn anh Phạm Tín An Ninh đã cho chúng ta một lời nói công đạo chí tình, một câu chuyện vô cùng xúc tích và cảm động./Hải Triều.)
Những năm “cải tạo” ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa đến trại Hang Dơi, nằm sâu trong núi. Đây là một vùng sơn lâm chướng khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đã có hơn 20 người bạn tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới sườn đồi.
Sau đó, tôi được chuyển về trại 6/ Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại, và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lãnh miền Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trám cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn.
Ngày nhập trại, sau khi “biên chế” xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào một cái láng lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ “đồng chí cán bộ quản giáo” đến tiếp nhận.
Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào láng. Điều trước tiên chúng tôi nhìn thấy là anh ta chỉ còn một cánh tay. Một nửa cánh tay kia chỉ là tay áo bằng kaki Nam Định, buông thỏng xuống và phất phơ qua lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ: “Đây mới đích thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho đủ?”
Nhưng bất ngờ, người cán bộ quản giáo đến trước chúng tôi, miệng nở nụ cười. Nhìn khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng bớt lo âu.
Bằng một giọng đặt sệt Nghệ Tỉnh, anh quản giáo giới thiệu tên mình: Nguyễn văn Thà, rồi “báo cáo” một số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh đưa cho anh đội trưởng một tập vở học trò, phát cho anh em mỗi người một tờ giấy để làm bản “lý lịch trích ngang”.
Tôi đang ngồi hý hoáy viết cái bản kê khai lý lịch ba đời với bao nhiêu thứ “tội” dưới biển trên trời mà tôi đã thuộc lòng từ lâu lắm – bởi đã phải viết đến cả trăm lần, ngay cả những lần bị đánh thức lúc nửa đêm – bỗng nghe tiếng anh quản giáo hỏi:
- Trong này có anh nào thuộc Sư 23?
Tôi im lặng giây lát rồi lên tiếng:
- Thưa cán bộ, có tôi ạ!
- Anh ở trung đoàn mấy?
- Trung Đoàn 44!
- Vậy anh có tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở KonTum đầu mùa hè 1972?
- Vâng, có ạ!
Anh quản giáo đưa cánh tay bị mất một nửa, chỉ còn cái tay áo đong đưa lên:
- Tôi bị mất cánh tay này trong trận đó!
Nhìn qua anh em, thấy tất cả mọi con mắt đều dồn về phía tôi. Để lấy lại bình tĩnh, tôi làm ra vẻ chủ động:
- Lúc ấy cán bộ ở đơn vị nào?
- Tôi ở trung đoàn xe tăng thuộc Sư 320!
Anh quản giáo rảo mắt nhìn quanh, rồi hạ giọng tiếp tục:
- Trận ấy đơn vị tôi thua nặng. Cả một tiểu đoàn tăng của tôi còn có 2 chiếc. Chiếc T54 của tôi bị bắn cháy. Tôi thoát được ra ngoài, nhưng bị các anh bắt làm tù binh.
- Sau đó cán bộ được trao trả?
Tôi hỏi.
- Tôi bị thương nặng lắm, do chính đạn trong xe tôi phát nổ. Tôi được các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị. Nhờ vậy mà tôi còn sống và được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lê.
Dạo đó, miền Bắc, đặc biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn, trời lạnh lắm. Mỗi láng được đào một cái hầm giữa nhà, đốt những gốc cây được anh em nhặt ngoài rừng, sau giờ lao động, mang về sưởi ấm. Tối nào, anh quản giáo cũng xuống sinh hoạt với anh em. Gọi là sinh hoạt, nhưng thực ra anh chỉ tâm tình những chuyện vui buồn đời lính, thăm hỏi hoàn cảnh của anh em tù, và khuyên anh em nên cố gắng giữ gìn sức khỏe, đừng làm điều gì sai phạm để không phải nghe mấy ông cán bộ nặng lời. Anh thường nói:
- Tôi rất đau lòng, khi thấy các anh phải nghe những lời thô lỗ. Tôi biết các anh đều là những người có trình độ văn hóa và ai cũng đã từng chỉ huy.
Mùa đông, không trồng trọt được, nên khẩu phần ăn của một người tù chỉ có một miếng bánh mì đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát bắp hạt. Phần thiếu ăn, một phần ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên nhiều anh em tù bị bệnh kiết lỵ. Thuốc men hoàn toàn không có, nên bệnh kéo dài lâu ngày. Nhiều người đứng không vững.
Một buổi chiều cuối đông, mưa phùn rả rích, sương mù giăng kín cả thung lũng trại tù, cả đám tù chúng tôi ngồi co ro trong láng, cố nhai từng hạt bắp cứng như viên sỏi, nhìn ra cánh đồng phía trước, thấp thoáng một người mang áo tơi (loại áo mưa kết bằng lá cây) chạy lúp xúp từ chỗ này đến chỗ khác, cho đến khi trời tối.
Đêm đó, như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ anh đội trưởng:
- Tôi để một giỏ cá đàng sau láng. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào, chia cho mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng. Nhớ giữ kín, đừng để trên biết!
Bây giờ anh em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là quản giáo Thà. Ai cũng cảm động.
Biết là anh em tù bị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng đầu mùa xuân, quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xã nào đó. Sắn đầu mùa, củ còn nhỏ. Anh chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn còn nguyên; đào mấy cái bếp “Hoàng Cầm” để luột sắn mà không ai phát hiện có khói. Anh dắt hai anh tù xuống đồi xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luộc sắn ăn cho no. Anh đích thân ở lại đứng gác, nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh “chuẩn bị đi về”, anh em tức khắc dấu hết “tang vật” xuống một cái hố đã đào sẵn. Dường như đó là cái ngày duy nhất mà 50 người tù chúng tôi được no, dù chỉ là no sắn.
Không biết tối hôm ấy, trong giờ “giao ban”, quản giáo Thà đã báo cáo với ban chỉ huy trại là đội tù của chúng tôi đã phát được bao nhiêu hecta rừng? Mỗi lần ra bãi thấy anh em lao động nặng nhọc, anh Thà bảo nhỏ:
- Anh em làm việc vừa phải, khi nào mệt thì ta nghỉ. Nhớ giữ gìn sức khỏe, vì thời gian cải tạo còn dài lắm!
Vào một dịp Tết, cầm giấy nghỉ phép trong tay, nhưng anh không về nhà, mà ở lại với anh em. Số tiền lương vừa lãnh được, anh mua mấy bánh thuốc lào, vài ký kẹo lạc, biếu anh em ăn tết. Lần ấy, anh tâm sự thật nhiều với anh em:
- Lần bị thương năm 1972 ở Kontum, tôi nghĩ là tôi đã chết. Vết thương quá nặng, lại phải nằm trong rừng rậm một mình, không có thức ăn, nước uống. Trong lúc tuyệt vọng nhất, tôi bất ngờ được một đơn vị của Sư 23 các anh phát giác. Các anh băng bó vết thương, cho tôi ăn uống, tận tình săn sóc tôi như một người đồng ngũ. Các anh luân phiên khiêng tôi ra khỏi khu rừng rậm, gọi máy bay tản thương đến đưa tôi về bệnh viện.
Trời tối, máy bay chưa xuống được, đảo mấy vòng, thì vị trí bị lộ. Các anh bị pháo kích, may mà không có ai bị thương. Các anh lại phải vội vàng di chuyển đi nơi khác. Cả khu rừng chỉ có một khe đá là nơi trú ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán mỏng. Tôi được hai anh y tá săn sóc suốt cả đêm. Người chỉ huy hôm ấy là một anh rất trẻ, mang quân hàm trung úy, mấy lần ôn tồn hỏi thăm tôi và khuyên tôi cố gắng để được đưa về quân y viện chữa trị. Anh còn cho tôi nửa bao thuốc lá còn lại của anh, bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn đau của vết thương. Sáng sớm hôm sau, tôi được máy bay tản thương đưa tôi về quân y viện Pleiku.
Ở đây, mặc dù tôi phải nằm riêng, nhưng được bác sĩ các anh chăm sóc tận tình. Tất cả đã đối xử với tôi như người đồng đội. Có lần, một phái đoàn đến ủy lạo thương binh các anh, họ cũng đến thăm, cho tôi quà, và an ủi tôi thật chân tình. Vết thương vừa lành, thì tôi được lệnh trao trả tù binh. Khi chia tay, bệnh viện còn cho tôi nhiều thuốc men và một số đồ dùng. Lòng tôi tràn ngập cảm xúc. Tôi nghẹn ngào trước tình con người, tình dân tộc mà các anh đã dành cho tôi. Tình cảm ấy tôi chôn chặt tận đáy lòng, không dám tâm sự cùng ai, vì lòng tôi lúc nào cũng nghĩ đến vợ con tôi, và nhất là người mẹ già gần tuổi 80 đang ngày đêm mong chờ tôi trở về. Anh cố gắng giữ bình tĩnh, nhưng rõ ràng là giọng nói của anh sắp nghẹn ngào.
- Khi về lại ngoài Bắc, người ta có còn tin cậy anh không?
Một anh tù hỏi.
- Ngay sau khi được trao trả, tôi phải vất hết thuốc men và những thứ các anh cho. Tôi cố dấu mấy viên thuốc trụ sinh phòng nhiễm trùng, nhưng họ khám xét kỹ quá, tôi phải tìm cách vất đi. Trước khi đưa về Bắc, chúng tôi được học tập hơn một tháng, làm kiểm điểm và lên án sự đối xử tàn ác của các anh. Tôi thấy xấu hổ lắm khi nói điều ngược lại, nhưng rồi ai cũng thế, không thể làm khác hơn. Chính vì vậy mà lòng tôi cứ dằng vặt mãi cho đến hôm nay.
Thời gian vàng son của năm mươi người tù đội 4 trại 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn, kéo dài không quá sáu tháng.
Một buổi sáng sớm, khi sương mù còn vương trên thung lũng trại tù, một người đạp chiếc xe đạp vội vã rời ban chỉ huy trại. Sau xe đèo theo một cái rương bằng gỗ và một túi đeo lưng bộ đội.
Một vài anh em nhận ra anh Thà và báo cho anh em. Cả một đội năm mươi người tù vừa mới thức dậy, còn ngái ngủ, chạy ùa ra sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không nhìn lại, đưa cánh tay chỉ còn một nửa lên vẫy vẫy, rồi biến dạng trước cổng trại.
*
Chiếc thuyền nhỏ mang theo trên 30 người vượt biển, trong đó có tôi và ba người bạn cùng tù ở Nghĩa Lộ ngày trước, ra đến hải phận quốc tế hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của vương quốc Nauy, trên đường từ Nhật sang Singapore, cứu vớt. Hai ngày đêm trên tàu là cả một thiên đường. Từ vị thuyền trưởng đến anh thủy thủ, chị bác sĩ, y tá, đều hết lòng săn sóc lo lắng cho chúng tôi. Hôm rời tàu để được chuyển đến trại tị nạn Singapore, chúng tôi quá xúc động không ai cầm được nước mắt. Tất cả thủy thủ đoàn đều ra đứng thành hai hàng dài trên boong tàu, ai nấy đều khóc sướt mướt ôm lấy từng người chúng tôi mà chia tay.
Rồi những ngày sống trong trại, chúng tôi được thầy cô giáo và ông đại sứ Nauy, thường xuyên có mặt lo lắng cho chúng tôi đủ điều. Chúng tôi vừa xúc động vừa đau đớn. Nỗi đau của một người vừa mới bị anh em một nhà hành hạ, đuổi xô đến bước đường cùng, phải bỏ nhà bỏ xứ để thoát thân trong cái chết, bây giờ lại được những kẻ xa lạ không cùng ngôn ngữ, màu da, màu tóc, lại hết lòng đùm bọc yêu thương. Mang cái ân tình đó, chúng tôi chọn Nauy là nơi tạm gởi phần đời còn lại của mình.
Bốn anh em, những người cùng tù Nghĩa Lộ năm nào, được sắp xếp ở gần nhau. Mỗi ngày gặp nhau đều nhắc lại những năm tháng khốn khổ trong tù. Đặc biệt khi nhắc tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi cũng ngậm ngùi, nghĩ đến một người không cùng chiến tuyến mà còn có được tấm lòng. Sau lần bị “hạ tầng công tác” ở trại tù Nghĩa Lộ, không biết anh đi về đâu, nhưng chắc chắn là bây giờ cũng vất vả lắm.
Sau hai năm theo học, tôi được nhận vào làm trong ngân hàng bưu điện trung ương. Tại đây, tôi quen với Kenneth Hansen, một bạn đồng nghiệp còn trẻ tuổi, lại ở gần nhà, nên sau này trở nên thân tình. Anh ta là sinh viên đang theo học về kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ học. Làm chung gần một năm, thì anh bạn Nauy này lại được nhận vào một công ty lớn và sang làm việc ở chi nhánh bên Ấn Độ.
Bẵng đi vài năm, bất ngờ một hôm anh gọi điện thoại báo là sẽ đến thăm tôi và đem đến cho tôi một bất ngờ. Và đúng là bất ngờ thật, vì cùng đến với anh là một người con gái Việt nam. Anh giới thiệu với vợ chồng tôi, đó là vị hôn thê của anh.
Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông. Gặp chúng tôi ở một nơi xa lạ, cô vui mừng lắm, nhưng khi nhìn thấy tấm ảnh của tôi treo trên tường, mang quân phục và cấp bậc của quân đội VNCH, cô có vẻ ái ngại. Biết vậy, chúng tôi cũng niềm nỡ, đùa cợt cho cô được tự nhiên. Cô cho biết cô là bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người còn đi học ở Hà Nội. Sau sáu năm du học ở Đông Đức, rồi Liên Xô, cô được sang thực tập tại Ấn Độ. Chính tại đây cô có dịp gặp và quen với chàng trai Nauy này. Khi ấy cô đã có chồng và một đứa con trai. Người chồng trước cùng du học ở Liên Xô, sau này trở thành một cán bộ cao cấp trong ngành dầu khí tại Hà Nội. Sau thời gian thực tập ở Ấn Độ trở về, cô được bạn bè và người thân cho biết là anh chồng đã cặp một cô gái khác chỉ một vài tuần sau ngày cô đi. Cô đem việc này nói phải trái với chồng, lại bị anh ta hành hung và nói những lời thô lỗ. Cô vừa buồn vừa giận, bỏ chồng, xin sang học tiếp chương trình Tiến sĩ tại một đại học ở Đông Đức.
Sau ngày bức tường Bá Linh ô nhục bị nhân dân Đức phá sập, nước CHND Đức (Đông Đức) bỗng chốc không còn nữa. Cô không về nước mà tìm cách trốn sang Tây Đức. Qua một thời gian hết sức khó khăn, cô may mắn liên lạc được với anh Kenneth Hansen, để được bảo lãnh sang Nauy. Biết cô thuộc gia đình một đảng viên cộng sản cao cấp, bởi cô được du học ở nhiều nước thuộc khối cộng sản trước đây, nhưng tôi không hỏi vì sợ cô ngại. Sau này chính Kenneth Hansen cho biết bố của cô trước kia là đại sứ Việt Nam tại Liên Xô cũ. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan vỡ của toàn khối cộng sản Đông Âu, ông xót xa nhìn ra được một điều gì đó. Trở về Việt Nam, ông không còn được nhà nước Cộng sản trọng dụng, trở thành kẻ bất mãn, cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai.
Sau một thời gian, được cấp quốc tịch Nauy, cô Đoan trở về Việt Nam thăm gia đình, đặc biệt là người cha già đang ốm nặng. Nhân tiện xin mang đứa con trai sang Nauy với cô.
Việc cô Đoan trở về Hà Nội, làm tôi nghĩ đến anh quản giáo Nguyễn văn Thà thuở trước. Tôi cùng với mấy người bạn tù cũ, góp một số tiền khoảng 800 đôla, nhờ cô Đoan về Nghệ Tĩnh tìm và trao lại cho anh, như để tỏ chút lòng biết ơn một người bao nhiêu năm sống trong đám bùn lầy nước đọng mà vẫn còn giữ sạch được tấm lòng. Việc tìm anh không phải dễ dàng, vì chúng tôi không biết nhiều về anh. Trong mảnh giấy nhắn tin, chỉ vỏn vẹn vài chữ: “ông Nguyễn văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng năm 1979 là thượng úy, làm quản giáo trại tù cải tạo số 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn”. Cô Đoan vui vẻ nhận lời và hứa sẽ tìm đủ mọi cách để gặp hoặc liên lạc anh Thà. Cô cũng cho biết là cô có ông chú họ hiện làm việc tại bộ quốc phòng. Cô sẽ nhờ ông ta tìm hộ.
Một tháng sau, cô Đoan trở lại Nauy, báo cho chúng tôi biết là ông chú của cô không tìm thấy tên Nguyễn văn Thà trong danh sách sĩ quan. Ông đoán là anh ta đã bị phục viên từ lâu lắm rồi. Cô đã đích thân vào Nghệ Tĩnh, hỏi thăm mọi cơ quan, nhưng không ai biết. Cuối cùng cô phải thuê mấy tờ báo địa phương đăng lời nhắn tin, trong đó có ghi số điện thoại của tôi. Cô còn cho biết là nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh thì cô nhờ họ thôi, chứ không có nhiều hy vọng gì, vì chỉ một ít người ở thành phố có báo đọc.
Thời gian trôi qua, bận bịu bao nhiêu việc làm ăn, lo cho con cái, để kịp hội nhập vào đời sống trên quê hương mới, chúng tôi không còn ai nhắc đến chuyện anh Thà.
Bỗng một hôm, khi đang say ngủ, nghe tiếng điện thoại reo, tôi giật mình tỉnh giấc. Xem đồng hồ, hơn hai giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt độ bên ngoài cửa sổ chỉ – 20 độ C. Tôi ái ngại. Giờ này mà ai gọi điện thoại thì phải có điều gì khẩn cấp lắm. Tôi bốc ống nghe. Đầu giây bên kia là giọng một cô gái, nói tiếng Việt rất khó nghe. Cô hối hả, nhưng rất lễ phép, xin được gặp tôi. Cô cẩn thận nhắc lại tên tôi hai lần, với đầy đủ họ và tên.
- Xin lỗi, cô là ai và đang ở đâu ạ? Tôi hỏi.
- Dạ, cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu đang ở Ba Lan ạ.
Tôi im lặng. Thoáng lục lọi trong trí nhưng tôi không nhớ là mình đã quen ai tên Hà. Bên kia đầu giây, cô gái lên tiếng:
– Bác có còn nhớ ông Thà, làm quản giáo ở Nghĩa Lộ không ạ?
- Ông Thà, Nguyễn văn Thà, bác nhớ, nhưng cô là gì của ông Thà, và sao lại ở Ba-Lan?
- Dạ, ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan với một đứa em trai. Bọn cháu khổ lắm Bác ạ!
Tiếng cô gái sụt sùi.
- Cháu cho bác số phôn, bác gọi lại ngay, để cháu khỏi tốn tiền.
Tôi gọi lại, và nghe tâm sự não nề của cô gái. Cô và em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan. Sau khi chính quyền cộng sản Ba-Lan bị cuốn theo làn sóng dân chủ ở Đông Âu, chị em cô cùng hầu hết những người được chính quyền Việt Nam gởi sang lao động, đã không về nước, trốn ở lại. Vì sống bất hợp pháp, nên không tìm được việc làm chính thức. Hầu hết làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp bóc hoặc tống tiền chính những người đồng hương, đồng cảnh. Số người Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho những chính quyền mới ở các nước Đông Âu.
Hai chị em cô Hà thuê một căn gác nhỏ trong thành phố Warszawa, nhận thuốc lá của một người khác, mang đi bán. Nhưng mỗi lần dành dụm được một ít, chưa kịp gởi về giúp gia đình thì bị cướp sạch. Một hôm, cậu em trai nhận thuốc lá mang đi bán, bị cảnh sát bắt và phát hiện là số thuốc lá kia vừa bị mất cắp tại một cửa hàng Ba-Lan. Vì vậy cậu em trai bị nhốt vào tù, còn cô Hà thì đang bị truy nã. Việc xảy ra một ngày trước khi cô Hà gọi điện thoại cho tôi.
- Bây giờ cháu đang ở đâu?
Tôi hỏi.
- Cháu đang trốn ở nhà một người bạn, nhưng cô ta không dám chứa cháu lâu. Cháu không biết phải làm sao, thì bất ngờ nhớ đến lá thư của ba cháu gởi cho cháu cách nay vài tháng. Ba cháu bảo cháu trong trường hợp rất cần thiết mới gọi cho bác!
- Ba cháu bây giờ làm gì?
- Ông bị ốm nặng. Cách nay hai năm bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, nên chỉ nằm một chỗ. Vì vậy nên chị em cháu trốn ở lại đây để kiếm tiền gởi về cho bố cháu điều trị và sống qua ngày bác ạ!
Tôi ghi số điện thoại, địa chỉ người bạn của Hà, tên nhà tù mà Tĩnh, em trai của Hà đang bị giam giữ, trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong một ngày rất gần ở Ba-Lan.
Tôi nhớ tới một người bạn Ba-lan, anh Zbigniew Piwko. Chúng tôi quen khá thân lúc cả hai vừa mới đến Nauy. Anh ta lớn hơn tôi ba tuổi. Trước kia là một đại tá không quân, chỉ huy môt không đoàn chiến đấu thuộc quân đội cộng sản Ba-Lan. Về sau, anh ta ngầm ủng hộ Công Đoàn Đoàn Kết do ông Walesa lãnh đạo. Hành tung bại lộ, trong khi bị truy bắt, anh đã lấy một chiếc trực thăng, chở gia đình, gồm người vợ và hai đứa con, bay sang Tây Đức. Theo sự thỉnh cầu của anh, gia đình anh được chính phủ Nauy đặc biệt nhận cho tị nạn chính trị.
Anh và tôi học tiếng Nauy cùng một lớp, và sau đó có một thời gian chúng tôi cùng làm thông dịch cho Sở Cảnh Sát. Nhưng chỉ hơn một năm sau, thì tình hình chính trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ. Công Đoàn Đoàn Kết của ông Walesa lãnh đạo đã thắng lợi vẻ vang. Ông được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của nước Ba-Lan dân chủ. Anh Piwko, người bạn tị nạn của tôi, được mời về nước để giữ môt chức vụ khá lớn trong ngành cảnh sát.
Vào những dịp Giáng sinh, nhớ đến tôi, anh gởi thiệp mừng giáng sinh và năm mới. Anh kể đủ thứ chuyện về xứ sở của anh, về niềm vui và hy vọng của người dân Ba-Lan bây giờ. Sau tấm thiệp không đủ chỗ nên lúc nào anh cũng viết kèm theo vài trang giấy. Anh mời vợ chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi với gia đình anh vài hôm và xem đất nước Ba-Lan của anh đang hồi sinh trong dân chủ. Sáng hôm sau, tôi tìm lại số phôn và gọi cho anh. Anh rất vui mừng khi nghe tôi báo tin sang thăm. Vì đi vội, nên tôi chỉ đi một mình. Vợ chồng anh đón tôi ở phi trường, nơi dành cho VIP (thượng khách). Anh chị còn cho biết là rất thú vị khi có dịp được dùng lại ngôn ngữ Nauy để nói chuyện với tôi. Tôi thực sự xúc động trước sự tiếp đón nồng hậu mà gia đình anh đã dành cho tôi. Tôi ngại ngùng không dám nói với anh những điều muốn nhờ anh giúp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi cũng phải tâm tình cùng anh về chuyện anh quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa Lộ năm nào, và hoàn cảnh khốn cùng của hai đứa con hiện đang ở tại đây, ngay trên đất nước Ba-Lan của anh. Nghe tôi kể, anh ngậm ngùi giây lát rồi đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết lòng giúp tôi về việc này.
Anh đưa tôi đến gặp hai chị em cháu Hà. Đưa Hà về nhà ở với gia đình anh. Hai hôm sau anh làm thủ tục bảo lãnh Tĩnh, em của Hà từ trại tù về.
Trước khi về lại Nauy, tôi đã thức trọn một đêm để tâm tình khuyên lơn hai chị em Hà, biếu cho hai cháu một số tiền để tạm sinh sống và chuyển về Việt Nam biếu anh Thà, bố hai cháu. Trên đường đưa tôi ra phi trường, vợ chồng Piwko bảo tôi yên tâm, anh chị xem hai chị em Hà như là cháu trong nhà và sẽ tận tình lo lắng cho hai cháu.
Hơn một tháng sau, Piwko gọi phôn báo cho tôi tin mừng: hai chị em Hà đã được Piwko bảo trợ, được cấp giấy tờ chính thức cư trú tại Ba-lan. Hai cháu đang được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà, vì lớn tuổi, nên sẽ xin việc làm. Tĩnh, em Hà, sẽ được tiếp tục theo học tại một trường trung học.
Các Anh thân quí,
Khi ngồi viết nhừng dòng này cho các anh, thực tình tôi không còn nhớ mặt các anh, nhưng tôi còn nhớ rất rõ thời gian tôi làm quản giáo ở trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh còn nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu Hà từ Ba-Lan gởi về, cùng với số tiền của các anh gởi cho, lòng tôi cảm xúc đến nghẹn ngào. Tôi và gia đình xin muôn vàn cảm tạ. Các anh làm tôi nhớ tới một câu nói của Các-Mác: “Chỉ có loài súc vật mới quay lưng trước cảnh khốn khổ của đồng loại”. Ngày nay, cả thế giới đều lên án Mác, những nước một thời lấy chủ nghĩa Mác làm ánh đuốc soi đường, bây giờ cũng đã từ bỏ Mác, chỉ còn một vài nơi lấy Mác làm bức bình phong để che đậy những mục nát ở phía bên trong, nhưng câu nói trên kia của Mác, với tôi, vẫn mãi mãi là một lời vàng ngọc. Điều tệ hại là những kẻ một thời theo Mác đã luôn luôn làm ngược lại lời nói này của Mác.
Chúng tôi mừng cho các anh đã đưa được gia đình ra khỏi nước. Mặc dù tôi biết một người phải bỏ quê hương mà đi, còn đau đớn nào hơn. Ngay cả con cái chúng tôi, vất vả biết chừng nào, mà tôi cũng đành khuyên các cháu phải ra đi để may ra còn tìm được một chút tương lai, giá trị nào đó của kiếp con người.
Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị điều ra mặt trận phương Bắc, trong thời kỳ giặc bành trướng Trung Quốc tràn qua biên giới. Nhờ thương tật, tôi được bố trí một công tác lặt vặt ở hậu cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên về nhà, tiền phụ cấp không đủ nuôi chính bản thân. Tôi chỉ còn một cánh tay mà phải phát rẫy trồng rau để phụ giúp gia đình. Hơn ba năm nay, tôi bị ốm nặng, nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về nuôi tôi và cả gia đình, tôi mới còn sống được đến hôm nay. Biết trốn lại Ba Lan, không có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng vẫn còn hơn là về lại bên này. Có làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà nhờ các anh hết lòng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi nào chúng tôi mới trả được cho các anh đây.
Tôi biết mình không còn sống bao lâu. Cuối đời một con người, tôi nghiệm rõ được một điều: Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian…”
*
Không ngờ lá thư đầu tiên này cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận được từ anh Thà. Anh đã qua đời sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại. Khi hấp hối, anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương, anh được cấp trong thời chiến tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm thì: xin hãy chôn chặt hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó lại. Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ?
Phạm Tín An Ninh
(Vương Quôc Na-Uy)
PHỤ CHƯƠNG 5
mvnmtlts1
Không có gì để tự hào!
Tôi Không có gì để tự hào về miền Bắc nước ta “thời đại Hồ Chí Minh” Thời đại Hồ Chí Minh Xuất hiện dưới hai hình Mã tù và mã lính ( *) Thời đại mà người dân phải xếp hàng để mua một cây đinh Cái thời miền Bắc không xây được một cái dinh Gia tài cả miền Bắc chỉ có câu nhật tụng “đảng ta quang vinh” Câu nhật tụng được ấn vô đầu dân lành Những cái đầu luôn luôn bị công an soi mói, mò rình.
Cái thời Cuộc sống muôn dân như cây như cỏ, Vất vưởng, đơn sơ Cơm ăn không đủ no Ngày hai bữa khoai, ngô Những ngày lao động mệt phờ Nhạc thổi vô tai, tuyên truyền nhồi sọ Đêm ngủ nằm mơ Thấy đảng là thơ Sáng dậy Vần thơ tan vỡ qua những ngày đấu tố Từ đầu đường đến cuối phố Người dân cùng khổ Ngâm thơ Trần Dần: “Tôi đi không thấy phố, không thấy nhà Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ!” Nhìn quanh Người sống lấm la lấm lét như mấy con thỏ Co ro Sợ từng tiếng ho Lo từng tiếng hắng Em ơi! Những Đặng Thùy Trâm! Suốt cuộc đời em, âm thầm, cay đắng Một thời để nhớ Là một thời người ta dạy em ngày đêm mơ chiến thắng Nhưng em ơi! Sau ngày Sài Gòn chết lặng Chiến thắng nào đã vùi Tổ Quốc tuột thẳng xuống bùn nâu Chỉ những kẻ vô lương mới ngẩng mặt cao đầu Trước nỗi đau trùng trùng của dân tộc Chỉ những kẻ vong thân mới bịt mắt che tai để không còn nghe tiếng khóc Của hàng triệu dân lành quằn quại đau thương “Hạnh phúc – Niềm mơ – Nhân phẩm – Luân thường Đảng tới là tan nát cả Lịch sử sang trang Phủ phàng tai họa Nào đâu chính nghĩa thắng gian tà…?!” (*) Lời thơ Nguyễn Chí Thiện còn vọng tận trời xa Hơn 30 năm đã trôi qua Đau thương như sóng tràn biển cả Mà sao nhiều người như chưa một lần mở mắt, xót xa! Kể cũng lạ!
Lê Khắc Anh Hào
(Nhân đọc một bài thơ trong tập “Một Thời Để Nhớ” vừa phát hành tháng 7/06 ở Vancouver) (*) Thơ Nguyễn Chí Thiện
Xẻ dọc Trường Sơn,
bài thơ gửi những người bộ đội sinh Bắc tử Nam và Đặng Thùy Trâm
Xẻ dọc Trường Sơn, em vỡ đá Em lâm trận chiến giữa lưng đèo Bên dòng nước lạnh trong veo Máu em nhuộm đỏ bọt bèo nổi trôi!
Xẻ dọc Trường Sơn em về Nam Vượt rừng, bạt núi, rét căm căm Em đi quên tháng quên năm Tuổi xuân tan nát giữa hầm đạn bom!
Xẻ dọc Trường Sơn giải phóng ai Ôi em oan nghiệt tấm hình hài Hồn em trong gió thở dài Xác em Hà Nội hay ngoài gió trăng?
Xẻ dọc Trường Sơn, bàn tay thon Vai em đảng chất một núi hờn Em đi chân lệch vai sờn Đảng dùng em dấu chân son lót đường!
Lê Khắc Anh Hào
o O o
NHỮNG ĐIỀU KHÔNG THỂ QUÊN KHI NHÌN LẠI LỊCH SỬ ĐAU THƯƠNG CỦA DÂN TỘC
1.
Chỉ có thú vật mới quay lưng với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình.
Marx.
(Marx đúng khi phát biểu điều này. Và Marx đúng khi phát biểu điều này với Cộng Sản Việt Nam, những người tôn thờ ông nhưng không hiểu ông! - Hải Triều)
2.
… “Phái đoàn VNCH tại Paris đã không hề được thông báo gì về những cuộc họp kín giữa Kissinger và Lê Đức Thọ cho mãi đến khi TT Nixon tuyên bố vào tháng Giêng 1972 rằng đã có những cuộc mật đàm ấy.
Phía VNCH không hề biết rằng trong những cuộc mật đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ ngày 16/8/1971, Hoa Kỳ đã hứa sẽ rút hết quân đội Mỹ trong vòng 9 tháng sau khi có hiệp định…”
Trích “Hồ sơ mật Dinh Độc Lập”/Trang 29, phân đoạn 1 và 2/ Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter.
3.
“Quân lực Hoa Kỳ và QLVNCH không thua cuộc chiến tại Việt nam, mà chính những nhà hoạch định chính sách và các thành viên trong quốc hội Hoa Kỳ đã buộc chúng ta thua cuộc chiến đó. Tôi đã cùng chiến đấu với các anh trong 4 năm; tôi kính phục các anh và giờ đây tôi vẫn tiếp tục kính phục các anh.
Theo tôi, tự do và dân chủ cuối cùng sẽ thắng…”
(Thống tướng Westmoreland phát biểu trong cuộc hội thảo chính trị quốc tế tại Dirksen Senate Building, Washington, DC ngày 2/5/1995/ với chủ đề “Prospects for Democracy in Vietnam after 20 years of Totalitarian Misrule/ do tổ chức International Commitee for a Free Vietnam/ ICFV tổ chức tại Thượng Viện Hoa Kỳ)
4. Thời Luận phỏng vấn tướng Westmoreland.
Hỏi:
Là tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam, thống tướng nhận xét thế nào về khả năng chiến đấu của quân đội Mỹ và quân đội miền Nam khi đối đầu với quân Cộng Sản Bắc Việt?
Đáp:
Tôi kính trọng tinh thần chiến đấu của quân đội miền Nam Việt Nam. Về phía quân đội Hoa Kỳ, tôi thấy không có gì để nói thêm. Bởi vì cuộc chiến Việt Nam chấm dứt phát xuất từ vấn đề chính trị chứ không phải là vấn đề quân sự.
(Thời Luận số ra ngày 11/05/1995 về cuộc Hội thảo chính trị quốc tế 2/5/1995 – Nguyễn Vạn Hùng phỏng vấn tướng Westmoreland.)
5.
Họp Hội Đồng Nội Các trong Bạch Cung ngày hôm sau, Kissinger báo cáo: “lúc này toàn thể quân đội Bắc Việt đang ở trong Nam… Chỉ một lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến cũng có thể chiếm được hết Bắc Việt. Hiệp định Ba Lê đã bị vi phạm một cách nghiêm trọng!”
Những tuần lễ đầu tiên trong tháng Tư cũng tạo cơ hội cho những cố gắng trong hậu trường để lật đổ Tổng Thống Thiệu. Diễn tiến sự kiện cho thấy cuối cùng Nam Việt nam phải đối đầu với hai kẻ thù: Cộng Sản và Hoa Kỳ.
(Larry Berman/”Không hoà bình, chẳng danh dự. Nixon, Kissinger và sự phản bội ở Việt Nam”/ trang 2 bìa trong)
Ghi chú:
Chỉ một lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến? Và ít nhất là 4 sư đoàn tổng trừ bị thiện chiến của QLVNCH còn nguyên. Tại sao Hoa Kỳ không đánh tràn ra Bắc chiếm cả Hà Nội? Hoa Kỳ đã không làm gì cả.! - Hải Triều.
6.
Sau này, Vernon Walters được hỏi sao Bắc Việt không bao giờ chịu cung cấp một danh sách tù binh đầy đủ. Ông trả lời rằng: “ Lê Đức Thọ nhìn vào mặt Kissinger trong cuộc thương thuyết ở Ba lê và nói rằng: Tôi không hiểu tại sao tôi lại điều đình với ông. Tôi mới nói chuyện với thượng nghị sĩ Mc Govern trong suốt 6 giờ. Phong trào phản chiến của các ông sẽ bắt các ông trao cho tôi điều tôi muốn!”
(Larry Berman/ “Không hòa bình, chẳng danh dự” trang 142 – 143/tài liệu giải mật)
7.
… Chúng ta đến Việt Nam trước nhất là để giúp đỡ người dân Nam Việt Nam chứ không phải để chiến thắng Bắc Việt. Chúng ta chìa tay ra và người Nam Việt Nam đã đón nhận. Giờ này, họ cần bàn tay giúp đỡ đó hơn bất cứ lúc nào. Trên mọi tiêu chuẩn, 20 triệu con người ( Nam Việt Nam) đã nói lên với thế giới sự đe dọa đè nặng trên mạng sống của họ, nói lên nỗi gắn bó tha thiết của họ với những giá trị trong cuộc sống không Cộng Sản, và nói lên ước mơ của họ mưu tìm con đường để tiếp tục lối sống không giống lối sống của những người đang chịu đựng luật lệ của Bắc Việt.
Mức yểm trợ hiện nay của Hoa Kỳ bảo đảm sẽ đưa chính phủ Việt Nam đến chỗ thất trận. Số 150 triệu đô la còn lại trong ngân khoản 750 triệu của tài khóa 1975 chỉ đủ dùng trong một chuyến tiếp vận lớn, trong một thời gian ngắn. Cơ may thành công cũng chỉ có thể có được nếu có ngay một ngân khoản phụ trội 722 triệu để tạo cho Nam Việt nam khả năng phòng thủ tối thiểu chống lại cuộc xăm lăng (của Bắc Việt) được Nga và Trung cộng yểm trợ. Sự yểm trợ phụ trội của Hoa Kỳ không đi ngược với tinh thần và đường hướng của Hòa Ước Ba Lê, văn kiện căn bản cho những thỏa thuận hòa bình tại Việt Nam…
Uy tín của Hoa Kỳ, như một quốc gia đồng minh, đang bị thử thách tại Việt Nam. Để bảo vệ uy tín, chúng ta cần yểm trợ Việt Nam tối đa, và ngay lúc này.
Fred C. Weyand – Đại tướng Tham Mưu Trưởng Lục Quân Hoa Kỳ / Phúc trình Tổng Thống của tướng Weyand ngày 4/4/1975
Ghi chú : (Phúc trình và khuyến cáo của đại tướng Weyand lên TT Hoa Kỳ đề ngày 4/4/1975 khi Bắc quân mới tới địa đầu vùng 2. Thế nhưng, Hoa Kỳ đã quyết định buông tay, dù tướng Weyand chỉ xin một ngân khoản viện trợ phụ trội 722 triệu đô la. Tham dự một trận chiến mà không muốn đạt tới chiến thắng, mà phải hy sinh hơn 50 ngàn quân Mỹ ở chiến trường Việt Nam là một điều phi lý, nghịch thường. Bức tử và hy sinh miền Nam Việt Nam và QLVNCH rõ ràng là một sự “phản bội cúi mặt chiến lược” của Hoa Kỳ / HT ghi chú)
8.
“Nam Việt Nam đã chống cự hữu hiệu trong 25 năm và không phải luôn luôn được người Mỹ giúp đỡ. Tôi nghĩ không có quốc gia nào có thể chịu đựng một cuộc chiến dai dẳng và tàn khốc đến như vậy… Rốt cuộc, quân lực ấy đã tài giỏi hơn sự ước lượng của mọi người…”
Peter Kahn/ The Wall Street Journal/May 2. 1975 “Truy Điệu Nam Việt Nam.”
9.
“Tất cả những sự thất bại lịch sử và những hèn nhát tồi tệ của biết bao nhiêu nhà lãnh đạo Tây Phương đều chồng chất lên lưng những người lính Nam Việt Nam… Thật là bất lương và bất công. Sự nhục nhã là của chúng ta chứ không phải là của quân đội Việt Nam Cộng Hòa.”
David Halberstam/ Newsweek.
10.
“Ngày nay, đảng CSVN không còn xem việc cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam trước đây vào năm 1975 là một chiến thắng của họ nữa. Nếu chủ nghĩa Cộng Sản là không tưởng và những đề hứa hẹn chỉ là hão huyền khi dựng nên một cuộc chiến, hy sinh hàng triệu người để áp đặt chủ nghĩa đó lên trên một đất nước, quả thật đó là điều lầm lẫn, và hơn thế, đó là một điều đáng nguyền rũa.
Nhưng điều quan trọng hơn hết, cuốn sách sẽ chứng minh miền Nam Việt Nam đã đánh bại những người Cộng Sản tại chiến trường, trong làng mạc, nơi rừng xanh…”
(Trích “Cuộc chiến thắng bị bỏ lỡ”/Victory Lost của GS Stephen Young/Lời mở đầu, trang 15)
Ghi chú:
Các ghi chú từ số 2 đến số 10 trích trong tập Những Trận Đánh Không Tên Trong Quân Sử, trang 5 và 6 tập 2, năm 2006/Nhóm Nhà Văn Quân Đội/Hải Triều
11.
… “Trong cách xử thế và cầm quyền, nhân tính không phải là điều làm họ thắc mắc, nhân tình không ngăn bước họ. Mục đích biện minh phương tiện là phương châm nằm lòng, là tâm lý hành động, nên họ không từ nan hành động tàn ác nào để đạt mục đích. Điều lợi là lẽ phải, là sự thật, là đạo đức, trong cách họ phán đoán sự việc. Vì thế, suy luận chỉ một chiều, họ không bao giờ chùn bước. Khí thế đang lên, họ không thấy cần thay đổi cách nhìn theo hoàn cảnh đất nước đã thay đổi. Chế độ miền Bắc đã có sẳn đường lối: cách mạng, có sẳn phương pháp trị nước: đấu tranh giai cấp, có sẳn phương tiện trị dân: chuyên chính vô sản. Tất cả dựa trên sức mạnh võ đoán.”
Trích ”Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm và Mặt Trận Giải Phóng”/Trang 216, phân đoạn 4/Hồ Sĩ Khuê/ Nhà xuất bản Văn Nghệ 1992
12.
Cách mạng muốn trả thù miền Nam đến cùng, nhưng còn chùn chân phần nào để đo lường sức phản ứng nên chưa vội lăng nhục quần chúng không thuộc hệ thống nhà nước Sài Gòn. Người đường phố thủ đô vốn tinh ranh, nhất là bọn trẻ, đã hiểu trước sau cũng đến lược mình. Nên thanh niên nam nữ ngoài phố gặp nhau, nheo mắt chào: “ngụy dân!”
Thắng lớn quá, người Cộng Sản đâm ra kênh kiệu huênh hoang. Trên xe bus, cán bộ từ Bắc vào Sài Gòn chỉ ngay hành khách người Nam mà hỏi nhau ngon ơ: “Sao bọn này còn được cho ở lại thành phố?”
Trích ”Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm và Mặt Trận Giải Phóng”/Trang 402, phân đoạn 5/ Hồ Sĩ Khuê/ Nhà xuất bản Văn Nghệ 1992.

No comments:

Post a Comment

Enter you comment ...