. .

Thursday, March 19, 2009

NGÀY LONG TRỜI ĐÊM LỞ ĐẤT-Tiểu thuyết về Cải Cách Ruộng Đất của TRẦN THẾ NHÂN

TRẦN THẾ NHÂN


NGÀY LONG TRỜI ĐÊM LỞ ĐẤT

Tiểu thuyết
Tập 1
Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam, tháng 9-2010

MỤC LỤC
Mục lục tập 1
Lời giới thiệu của Khối 8406 trang 05
Lời Nhà xuất bản Tổ hợp Miền Đông Hoa Kỳ 06
Khúc dạo đầu 10
Chương 01 đến chương 24 12-108
Mục lục tập 2
Chương 25 đến chương 46 04-93
Lời bạt (Nguyễn Quảng Tâm) 94
Suy ngẫm khi đọc “Ngày long trời đêm lở đất” (Nguyễn Minh Cần) 94


THƯ CHO PHÉP CỦA TỔ HỢP XB MIỀN ĐÔNG HOA KỲ



Kính thưa Quý vị

Thật là một vinh-dự cho Tổ Hợp XBMĐ Hoa Kỳ khi được Khối 8406 yêu-cầu được in lại và phổ-biến cuốn tiểu-thuyết NGÀY LONG TRỜI ĐÊM LỞ ĐẤT của tác-giả Trần Thế Nhân ở trong nước.

Mục-đích của một nhà xuất bản như Tổ Hợp ở ngoài này không nhằm gì ngoài một ước-vọng giữ được tiếng nói trung thực của người Việt chúng ta cho hôm nay và cho mai sau.

Cuốn tiểu-thuyết NGÀY LONG TRỜI ĐÊM LỞ ĐẤT là một tiếng nói như vậy. Do đó, Tổ Hợp rất trân trọng nó và xin, với lá thư này, thuận để cho Khối 8406 in lại và phổ-biến ở trong nước như một chứng-từ giá trị hàng đầu về một giai-đoạn đau thương trong lịch-sử nước nhà. Những oan-hồn của vụ Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc cần phải được chiêu tuyết. Lịch-sử cuối cùng bao giờ cũng sẽ rất công bằng: Ai đắc tội thì tất yếu sẽ phải ra trả lời trước vành móng ngựa của "bia miệng ngàn năm."

Và chắc chắn tác-giả Trần Thế Nhân cũng cùng một ý nghĩ đó mà thôi.

Thân kính,

Nguyễn Ngọc Bích và Trương Anh Thụy

Đại diện Tổ Hợp XBMĐ Hoa Kỳ

Ngày 27 tháng 8, 2010




LỜI TRI ÂN CỦA KHỐI 8406

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Tác giả và Tổ hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ đã vui lòng cho phép chúng tôi phổ biến tác phẩm quý giá này đến Đồng bào quốc nội. Chúng tôi cũng xin cảm ơn vị Thân hữu đã giới thiệu và gởi tặng tác phẩm cho chúng tôi vì mong muốn nó được tới tay Người dân trong nước.

Khối 8406 Quốc nội

Lời giới thiệu của Khối 8406

Kính thưa toàn thể Đồng bào, nhất là Đồng bào quốc nội, Cuộc Cải cách Ruộng đất là một biến cố quan trọng đánh dấu lịch sử tộc Việt, đồng thời là một thanh sắt nung đỏ dí lên trái tim dân Việt.

Nó chính là “tác phẩm rợn người” của Hồ Chí Minh và đồng đảng Cộng sản trong thập niên 50 của thế kỷ trước. Nhiều tác giả đã viết về nó trên phương diện sử học lẫn phương diện văn học.

Trên phương diện sử học thì có giám mục Lê Đắc Trọng, các ông Bùi Tín, Minh Võ, Nguyễn Minh Cần, Trần Gia Phụng, Võ Trường Sơn, Vũ Thư Hiên... Trên phương diện văn học thì có các nhà văn Hoàng Minh Tường (Thời của Thánh Thần), Ngô Ngọc Bội (Ác mộng), Nguyễn Khoa Đăng (Nước mắt một thời) Tô Hoài (Ba người khác)…

Hồ chí Minh, Tên Tội Đồ Số 1 Của Dân Tộc Việt Nam, thủ phạm chính của CCRĐ


Thế nhưng xem ra các tác giả này chưa lột tả được tất cả sự tàn ác và thâm độc của cuộc CCRĐ.

May thay, gần đây xuất hiện tại hải ngoại một cuốn tiểu thuyết nhan đề “Ngày long trời, đêm lở đất” của một tác giả đang còn ở trong nước mang bí danh Trần Thế Nhân. Văn phong tác phẩm này hết sức đặc biệt: vừa hư cấu vừa tả thực, vừa như tiểu thuyêt vừa như hồi ký, dùng cõi âm để nói cõi dương, người chết hiện hồn về kể lại các chuyện của mình khi sống. Giọng văn có lúc mô tả, có lúc triết lý, có lúc suy niệm. Lời lẽ khoan hòa nhân hậu pha với ngôn ngữ cay đắng mỉa mai.
Tất cả xoay quanh cuộc CCRĐ lở đất long trời và số phận đớn đau của một nạn nhân tiêu biểu mang tên Mai Duy Vỹ cùng với thân thuộc của đương sự. Rất nhiều máu và nước mắt dùng để diễn tả cảnh người hành hạ người, kẻ quyền lực giết chết đám thảo dân. Và trên bối cảnh bi thương đó hiện ra chân dung của một nhân vật mang tên “Hoàng Thượng ngự Ngai Rồng Đỏ, tự nhận là Đấng Chí Tôn, Chí Linh, Chí Thánh, Chí Thần…” nhưng hành động cực thâm, cực đểu, cực hung, cực bạo… mà người đọc đều nhận thấy đó là thủ phạm chính của biến cố kinh thiên động địa, máu lệ chan hòa này: Hồ Chí Minh.
Khốn nạn cho Dân tộc là những gì tên đại tội đồ này đã làm cách đây hơn nửa thế kỷ, nay chính đồng đảng và đồ đệ của ông ta tiếp tục thực hiện ở mức độ tàn bạo hơn và rộng rãi hơn, qua bao cuộc cướp bóc đất đai của cá nhân lẫn tập thể, của dân thường lẫn tôn giáo.
Chúng tôi may mắn được một người bạn ở hải ngoại vừa tặng cho tác phẩm giá trị này vừa mong muốn nó được phổ biến tại quốc nội.
Điều này hẳn cũng không ra ngoài ước vọng của chính tác giả. Thành thử chúng tôi xin kính gởi nó đến Đồng bào, nhất là Đồng bào tại VN, đặc biệt trong dịp CS rùm beng nhắc lại cái gọi là “Thân thế sự nghiệp của Hồ Chủ tịch” nhân kỷ niệm ngày mất của ông ta (02-09)

Khối Tự do Dân chủ cho Việt Nam 8406

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

NGÔN NGỮ của loài người hình như bất lực trước sự thô bạo của con người một khi nó đã thành thú. Bởi con thú không ác, chỉ có con người mới ác với người. Con thú khi đói thì đi tìm mồi, khi no nó để yên cho các đồng loại và cả những sinh vật yếu kém hơn được “chung sống hoà bình.” Ngay cả khi phải giết để sinh tồn, con vật cũng không tìm cách kéo dài cái đau, đay nghiến con mồi cho nó thêm khổ sở. Và hiển nhiên, vì không có ngôn ngữ nên cũng không có vấn đề làm cho con mồi phải chịu nhục, chịu cực hình tâm lý hay nghe những điều phi lý được thốt ra về mình, về gia đình, tổ quốc, hay lý tưởng của mình.

Có lẽ vì thế mà mỗi khi có sự đổi đời, ngôn ngữ của một dân tộc thường phải trải qua như một cuộc lột xác. Người ta đã nhắc đến văn học Đức sau thời Đức Quốc Xã, cũng như văn học Nga sau thời Stalin, các tác giả đến sau đều đã phải đẻ ra một ngôn ngữ mới vì những từ ngữ cũ đã hoàn toàn bị vét cạn[1] ý nghĩa để trở thành vô dụng. Song sự lột xác này không dễ dàng, thường phải là cả tập thể của một cộng đồng ngôn ngữ bỏ ra hàng chục năm, đôi khi mất cả thế kỷ rồi mới tạo dựng lại được một ngôn ngữ “khả tín.”

Những chuyện tương tự không phải là đã không xảy ra trong tiếng nước ta. Trong lịch sử tiếng Việt, để cho một từ như chữ “tôi” mà nghĩa đầu là “tôi tớ, tôi đòi, tôi mọi” chuyển thành một chữ “tôi” ngang ngạnh, xấc xược, ngang hàng của ngày hôm nay (nhất là khi được nói ra trước người có vai vế, chức vị hơn mình) thì nó cũng đã phải trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, thậm chí có thể đến cả hàng ngàn năm.

Người Cộng sản khi vào tiếp quản Hà Nội cuối năm 1954 hay sau này, khi vào thành ở miền Nam năm 1975 làm đảo lộn chữ nghĩa như thế nào thì chúng ta cũng đã kinh qua đủ rõ để biết nó hại tới đâu cho sự trao đổi trong xã hội. Sự kiện một người gác cổng, với sự khuyến khích của nhà cầm quyền mới, hôm trước hôm sau có thể gọi chủ mình là “anh” thì không những chỉ có nghĩa là đã có một sự đổi ngôi, một sự lên voi xuống chó trong chữ nghĩa mà còn có cả một sự đảo lộn trật tự xã hội mà trong đó người biết việc thì mất vai trò lãnh đạo (ông giám đốc hết làm giám đốc) còn người dốt đặc lên làm “đỉnh cao trí tuệ,” làm “cha” thiên hạ.

Nhưng không phải đợi đến khi họ vào thành. Ngay từ những ngày mới phát động phong trào đấu tố trong Cải cách Ruộng đất, họ đã bắt các nông dân, nhiều khi chỉ là lớp tôi tớ, hôm trước còn gọi chủ mình là “ông, bà,” hôm sau đã phải gọi chính những người đó là “thằng nọ, con kia,” rồi còn bắt người chủ tự xưng là “con” để “thưa ông, thưa bà” với các “ông bà” bần cố kia. Thậm chí một đứa trẻ con cũng có thể bắt một7 “địa chủ” xưng “con” với mình, để “ông con” hành hạ ngay chính bố mẹ nuôi của mình… chơi. (Tệ hơn nữa, ở trong lãnh vực bang giao quốc tế, nhiều cán bộ và dân chúng được dạy cho quen miệng để gọi những nhà lãnh đạo ở các nước mà VNCS không thích là “thằng,” là “con” một cách rất láo xược và có thể nói thẳng là “mất dạy”).

Có lẽ cũng vì thế mà người Cộng sản Việt Nam, khi họ theo chỉ thị của Nga Tàu (nhận mệnh lệnh của Stalin và rập khuôn theo mẫu thức “Thủ ti Cải cửa” của Mao Trạch-đông và Lưu Thiếu-kỳ) họ cũng đã có lý phần nào khi gọi cách mạng ruộng đất của họ là “cuộc cách mạng long trời lở đất.” Kết quả là như một bộ lịch sử kinh tế trong nước gần đây đã thú nhận, số nạn nhân chính thức của cách mạng ruộng đất ở mới 16 tỉnh, [2] chưa đầy một nửa nước ta hồi bấy giờ (1953-56), đã lên đến 172.008 người, trong đó 70% được xem là vô tội, nghĩa là đã bị bắt lầm, tố điêu, đánh đập, tra tấn, tàn ác dã man rồi giết oan.

Sự thực lịch sử là như thế, có nghĩa là đã có diệt chủng ở nước ta, bởi định nghĩa của diệt chủng (“genocide”) chính là giết người vô tội vạ, “sự sát hủy có hệ thống và có kế hoạch một nhóm người dựa trên chủng tộc, tín ngưỡng, chính trị hay văn hóa của họ.”
Sự thực là thế nhưng làm sao nói lên được sự thực đó trong văn chương lại là cả một vấn đề. Vì muốn vẽ nên cuộc sống thật trong tất cả những vi mạch của nó không thể là những con số khô khan, trong đó không thấy đâu là máu và nước mắt và sự phản bội và niềm tin đặt nhầm chỗ (như đêm Mai Duy Vỹ tỏ lộ hết niềm tin của mình vào một con người huyền thoại [3] khi nằm bên cạnh vợ, một con người còn hơn cả Chúa lẫn Phật), không thấy đâu là tiếng cười, là đói khát, ăn cả cỏ, đụt khoai, cào cào, châu chấu, giun dế, cóc nhái, chuột… để rồi chết, có khi còn tệ hơn cả một con vật.
Văn học Việt Nam biết nhưng đã bất lực trước những đòi hỏi nghệ thuật ghê gớm quá của một thực tế quê hương như vậy. Không ít người đã thử vật lộn với đề tài nhưng hình như không thành công, kể cả một tài năng lớn như Tô Hoài (Ba Người Khác), nhưng vì không phải là nạn nhân nên ông chỉ nhìn được từ bên ngoài, từ trên xuống, từ góc nhìn của “đội cải cách,” những điều hủ bại ở trong đó, mà không nằm trong da thịt của một Mai Duy Vỹ, một người suốt đời trong sáng, sống chết cho lý tưởng, cho nhân quần.

Người ta nói muốn viết thuyết phục, cần có thời gian để ta nhìn lại với đủ độ xa, cần có khoảng không gian để ta đủ cách mà cân nhắc được mọi sự. Năm mươi năm hơn đã qua từ những “ngày long trời, đêm lở đất” đó thì may ra cũng có thể có người đủ xa cách để có cái nhìn viễn cận đầy đủ mà viết lại thật sâu sắc về giai đoạn kinh dị và bi thương này của lịch sử -dù là chỉ viết dưới dạng tiểu thuyết.8

Chúng tôi đâu ngờ, để có được cái nhìn chính xác, vấn đề không phải là năm tháng hay không gian trên trần thế. Chúng tôi ở nhà xuất bản đã sửng sốt khi nhận được bản thảo từ quê nhà. Thì ra tác giả tiểu thuyết chúng ta cầm trong tay đã phải dùng đến thế giới bên này và thế giới bên kia, nghĩa là không còn biên giới không-thời-gian nữa, mới nói lên nổi cái thảm kịch “cải cách ruộng đất” ở quê ta. Đây là một giải pháp mà thỉnh thoảng văn học thế giới cũng phải dùng đến để nói lên những sự thật không thể nói bằng cách nào khác được: Đó là những “linh hồn chết” của Gogol, đó là những hồ ly tinh của Bồ Tùng-linh trong Liêu trai chí dị.

Trong tay Trần Thế Nhân, những hồn ma kia, vì kiếp trước chính là chúng ta, nên giờ đây tuy họ không còn ở thế giới bên này song họ vẫn không khác ta là mấy. Một Mai Duy Vỹ, vì là người thật bằng da bằng thịt trước kia nên cũng không khác ông A ông B đi giữa chúng ta.

Nhà báo Nguyễn Minh Cần đã hơn một lần ngỡ ngàng khi nhận ra những nhân vật trong truyện chính là những người ông đã từng biết rõ khi còn ở trong nước, còn một số người khác tuy có thể vì một vài lý do đã bị đổi thay tên một chút song vẫn không che giấu được căn cước thật ngoài đời của họ. Câu chuyện, tuy là tiểu thuyết, song vẫn thật tới mức đó.

Đó chính là sự thành công của tác giả.

* * *




Trong tác phẩm Le degré zéro de l’écriture (“Độ không của chữ viết”), Roland Barthes đã nói: “Sự bùng vỡ của ngôn ngữ văn chương đã là một thể hiện của ý thức” [4] và chính ý thức đau thương của mình đã dẫn người viết đến “cái bi đát của chữ viết.” Song cái “bi đát của chữ viết” cũng sẽ không thuyết phục được ai nếu nó không dựa được lên trên những sự thật mà không ai có khả năng phủ nhận, những sự thật đôi khi thật tầm thường nhưng vẫn làm nên cái lớn của một tác phẩm, thậm chí, theo Tolstoi, làm nên một đại tác phẩm.

Tiếp tay tác giả Trần Thế Nhân để cho cuốn sách này ra mắt độc giả trước hết là một sự ngẫu nhĩ. Có lẽ chỉ có chữ “duyên” của nhà Phật mới giải thích nổi tại sao chúng tôi, một nhà xuất bản hải ngoại, lại có được một bản thảo lạ kỳ như tiểu thuyết này ở trong tay. Song vì sức hút vĩ đại của nó nên gần ngay sau đó, chúng tôi ở Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ đã có được sự cộng tác chi li và cặn kẽ của hai người bạn của Tổ Hợp, ông Nguyễn Quảng Tâm, và nhà biên khảo Nguyễn Minh Cần ở Mạc Tư Khoa -một đàn anh mà chúng tôi đã được may mắn biết trong nhiều năm qua.

Nhờ sự cặm cụi săn sóc của hai ông, chúng ta đã có được một tư liệu thật xác đáng về một đề tài lớn của quê hương, và có thể của cả nhân loại, kể cả sự kiện ông tìm ra cho được những bức9 hình chụp ngay tại hiện trường trong cải cách ruộng đất ở Việt Nam hồi năm 1955 do nhà nhiếp ảnh Liên Xô Dmitri Baltermants.




Nguyễn Ngọc Bích

Đại diện

TỔ HỢP XUẤT BẢN MIỀN ĐÔNG HOA KỲ

Đầu Xuân Canh Dần 2010
Chú thích:
[1] Có người nhắc nhở chúng tôi là chữ “vét cạn” này quá nhẹ. Thực ra, dưới thời Cộng sản, phải nói là chữ nghĩa nhiều khi bị đảo lộn hoàn toàn để trở thành nghịch nghĩa. Thí dụ, ông Hồ Chí Minh nói, “Luật CCRĐ chí nhân, chí nghĩa, hợp lý hợp tình…” trong khi xem ra, cuộc cải cách đó đã tỏ ra “CHÍ ÁC, PHI NGHĨA, TRÁI ĐẠO LÝ, TRÁI TÌNH NGƯỜI.”
[2] Đích xác là ở 3563 xã thuộc 16 tỉnh với dân số trên 10 triệu người (lúc bấy giờ dân số toàn miền Bắc VN khoảng 15 triệu, đến năm 1960 cuộc điều tra dân số cho biết miền Bắc VN có 16 triệu người). Nếu chỉ nói đơn giản là “16 tỉnh” thì người đọc có thể hiểu lầm là đã có cải cách ruộng đất ở các tỉnh lỵ hay ở các thành phố, trong khi ở những nơi này thì lại có đổi tiền, có “cải tạo tư sản” là những cách giết tiềm năng sản xuất của một thành phần khác của dân tộc. Quy mô và phạm vi vùng thực hiện CCRĐ là toàn bộ nông thôn miền Bắc VN, chưa kể vùng miền núi -cũng làm CC nhưng nhẹ hơn ở đồng bằng. Và tỷ lệ là phải tìm cho ra được 5% dân số là địa chủ. Nói cách khác, người CS dưới sự lãnh đạo tối cao của ông Hồ Chí Minh đã tìm cách giết 5% dân số những người giàu và có khả năng nhất để trên danh nghĩa là phân phát cho người nghèo nhưng đích thực, như ta sẽ thấy mấy năm sau, chính là để cướp hết của dân trên toàn quốc để đưa vào tay đảng CSVN -để nông dân trở thành tá điền cho Đảng, công nhân trở thành giai cấp bị Đảng bóc lột thay vì các chủ tư bản. (Chúng tôi xin cảm ơn ông Nguyễn Minh Cần đã chỉ cho những chi tiết trên đây.)

[3] Con người huyền thoại này trong truyện được mô tả là “một con người được tôn vinh là Đấng Chí Linh, Chí Thánh, Chí Thần còn hơn cả Chúa lẫn Phật,” một con người mà trên bốn ngàn năm chưa có ai bằng.

Đây không phải chuyện tiểu thuyết ngoa ngôn, mà chính là cách mà đám lãnh đạo từ Trung ương đến các địa phương đều học nhau mà nói như vậy.


[4] Nguyên văn trong tiếng Pháp là “l’éclatement du langage littéraire a été un fait de conscience” (Le degré zéro de l’écriture, 1953, trang 57).



KHÚC DẠO ĐẦU

(PRELUDE)




Bạn đọc hỡi!

Bạn là ai?

Là người Bên Này hay Bên Ấy?

Bên Ấy hay Bên Này?

Mới ngày qua còn thoáng thấy Bên Này?

Sao hôm nay thoắt đã về Bên Ấy?

Bên Này - Bên Ấy bao xa

Hai bên rồi cũng chỉ là một bên!

Xin đừng phân cách rẽ chia

mà đau lòng người đi kẻ ở

Bể khổ trần gian đã không bến không bờ

lại càng bao la hút sâu thăm thẳm

Tội ác bọn Quỷ Thần vòi vọi

chồng chất đỉnh Muôn Năm!

Luật Nhân Quả bao trùm khắp thế gian

Ác Giả rồi Ác Báo!

Những gì trái phản với Tự Nhiên

dù bay có cố công vẽ tô xây đắp

thành đầu lâu Núi Tháp

rồi cũng tới ngày rã tan đổ sập!

Chỉ cần nỗi oan khốc của một người đàn bà

ngây thơ chân thật

cũng đủ góp phần vào tiêu tan cả Ác Nghiệp

của một Quỷ Vương Chí Linh Chí Thánh Chí Thần!

Chẳng có ai sống đời đời muôn năm!

Không tội ác nào được bóng tối bít bưng

mây mù che vĩnh viễn!

Vậy Nó là Ai?

Là Ai?

Mà ai chống Nó - Nó giết!

Ai yêu Nó - Nó giết!

ước mơ được hóa thân thành Nó

Nó cũng giết!

Giết! Giết! Giết!11

Và ai đây?

Người đứng ra kể lại câu chuyện này?

Xin thưa cùng quý bạn… Ai?

Người ấy hẳn phải là người đã chết

Chết thật rồi

mới dám nói

Và Nói Thật!

Thời Gian Giải Ảo

Vô Thường Giải Ngộ

Có hai người đàn bà

Mai Lệ Uyên và Phan Thùy Dương

Chị em kết nghĩa

Tên tuổi họ đã được ghi vào Sổ Siêu Thoát

Một lần cuối trước khi đi vào Cõi Vĩnh Hằng

Họ cùng nhau trở lại Bên Này

Tìm về chốn quê hương

Gặp lại cha mẹ, người thân…

Dẫu chết rồi họ vẫn là Con Người

Còn Con Người hơn Con Người nữa!

Khi kể lại cho bạn đọc nghe

“NGÀY LONG TRỜI ĐÊM LỞ ĐẤT”

Họ cũng là Sóng là Hạt

Là Không - Thời Gian nhiều chiều

Hãy lắng nghe!

Chuyện Bên Này - Bên Ấy Chuyện Bên Ấy - Bên Này

Và khi… cần thiết

Bạn biết không?

Thượng Đế cũng đứng ra

Kể thay cho Họ?

Còn tác giả?

Tôi ư?

Tôi chỉ là… Vô Ngã.

= = =


CHƯƠNG 1




TỪ BÊN ẤY SANG BÊN NÀY. TRÊN ĐƯỜNG VỀ

HAI CHỊ EM GẶP MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ LẠ

- Ta đi đâu bây giờ, chị Uyên ơi?

Tiếng ai cất lên nghe vừa quen vừa lạ. Rõ ràng cô em Thùy Dương vẫn ở bên cạnh Lệ Uyên, bước đi nghiêng ngả làm cho cả hai liêu xiêu như cùng trượt trên băng.

Lệ Uyên nói mà cứ ngỡ như ai nói:

- Hay là chị em mình lại trở về chỗ cũ thôi?

- Chỗ cũ là chỗ nào hở chị?

- Chỗ cũ….

Cả hai cùng dừng lại nhìn nhau. Họ vẫn nhận ra nhau với hai khuôn mặt mang hai tên khác nhau. Chỉ có cái Bể Khổ làm bằng nước mắt của nhân loại chúng sinh bao quanh Khối Cầu lớn - giọt lệ đau vẫn đi mãi đường vòng cô đơn trong Vũ trụ… Họ cảm thấy những giọt lệ từ mắt mình trào ra, rơi xuống cũng có hình dáng như thế.

Lệ Uyên cầm tay Thùy Dương cố hình dung ra nhịp đồng hồ kỳ lạ thời gian nào chị đã lắng nghe ở trong cơ thể mình, các con mình và cả ở một vì sao xanh phía chân trời? Có lẽ Cái Chết cũng chỉ là tên gọi mà cuối cùng mỗi một con người, ai rồi cũng được nhận danh cho chính mình ở một thời khắc tính đếm bằng KHÔNG (0) và trước đó là vô thủy, sau đó là vô chung?

Thùy Dương đặt một bàn tay lên trán, cau mày hỏi:

- Chị có nhớ chúng ta vừa từ chỗ nào ra tới đây không?

- Không.

- Chúng ta vừa từ biệt một người nào?

- Ai nhỉ? Ngoài chị với em ra còn có ai đâu?

- Lạ thật. Em hỏi thật chị nhé, chị có nhìn thấy em nữa không?

- Em nói gì nghe đến buồn cười. Này, chị Uyên mô tả em Thùy Dương của chị. Em đứng cao hơn chị gần nửa cái đầu, cặp lông mày nhíu lại, hàm răng vừa hé ra rất đều và một lọn tóc thả xuống vầng trán

mà em mới đưa tay vuốt lên. Đúng chưa? À quên, lại còn một vết sẹo nữa nhỏ vừa bằng cánh hoa nhài bên má… Phải tinh mắt mới quan sát được…

- Cái sẹo đó là món quà tặng của mụ vợ lão Hướn-Mộ-Đức-cắt-cu.

Mụ nằm đè lên người em, cắn vào má em…Thùy Dương bật cười.

- Em vẫn trông rõ chị chứ?

- Thì chị vẫn thế. Nhưng mà… lạ thật. Hình như em quên hết mọi13

thứ. Em đang quên, đang quên…

- Quên sao em lại nhắc tới mụ vợ lão Hướn-Mộ-Đức-cắt-cu?

- Vợ lão Hướn-Mộ-Đức-cắt-cu nào? Vớ vẩn!

- Chị thấy mình như đang rơi xuống một cái vực sâu nào, lại thấy mình đang bay lên cao, cao cao… Một nơi nào đó… Thùy Dương hãy nắm tay chị, đừng buông ra… Chị cũng đang quên đây. Con người

không thể quên được bản thân nó; đó chính là nỗi đau khổ lớn nhất.

Nhưng tất cả rồi sẽ đi qua, chìm vào quên lãng. Phải chăng lại là điều may mắn cho chúng ta?

Đột nhiên, trước mắt họ từ xa hiện ra một đốm sáng đỏ. Đốm sáng chuyển dịch dần về phía họ mỗi lúc một gần. Rồi loé cháy lên thành ngọn đuốc hồng. Ngọn đuốc thẳng đứng, cao lên, chập chờn theo một vũ điệu xưa vùng rừng núi. Hai chị em sửng sốt đứng nép vào nhau, cảm thấy lạ hơn là sợ. Ngọn đuốc tới gần, lững đững trước mắt họ.

“Con ơi! Con ở đâu rồi? Mẹ đây… Mẹ của con… Mẹ thương nhớ con… Sao người ta nỡ bắt con tôi mang đi! Nó có tội tình chi… Hãy trả con cho tôi!”…

Tiếng than khóc, gào la của ai đang rền vang bên tai họ?

- Lệ Uyên ơi - Thùy Dương nói - Chị có trông thấy và nghe cái gì

không?

- Một đuốc lửa… Ma trơi! Kìa!

Lệ Uyên trả lời, lạc hẳn giọng, giơ tay chỉ.

- Không phải ma trơi! Một con người.

- Một người ư?

- Một người đàn bà…. như chúng ta!

Đuốc lửa vừa đi qua, bỗng nhiên dừng lại. Sắc đỏ của ánh lửa lúc sậm lại, khi bợt đi tựa hồ theo nhịp thở của một sinh linh thoi thóp, run rẩy. Rồi, với cử động của một hình nhân, đuốc lửa có vẻ như muốn mời gọi hai chị em hãy tới gần…

- Các chị ơi! Lại đây!

Có tiếng người kêu. Bàn tay ai đang giơ lên vẫy vẫy kìa? Hai chị em ngơ ngẩn nhìn nhau. Lệ Uyên còn phân vân lưỡng lự không biết có nên lại gần đuốc-lửa-người hay không, Thùy Dương đã nắm tay chị lôi đi.

- Chào các chị!

Đuốc lửa rơi rụng, tàn dần… Chỉ còn một đốm lửa đỏ hiu hắt, khi tắt khi sáng. Và kìa, một người đàn bà hiện ra như đứng trong mây khói nhìn hai chị em.

- Chào hai chị!

Lệ Uyên và Thùy Dương lúng túng không biết nên trả lời, xưng hô như thế nào cho phải lẽ bởi người đàn bà này tuổi chỉ vào khoảng hai14 mươi, hăm mốt? Cô? Em? Chị? Vậy mà điều lạ lùng là cả hai đều linh nghiệm thấy phái yếu này ra đời ở Bên Ấy trước mình chắc đã lâu, lâu lắm… May mà họ còn nhớ ra cách đáp lễ tiện lợi nhất mà các vị thầy chùa vẫn thường làm khi giao tiếp là cúi đầu, chắp hai tay lại, khẽ nhếch miệng…

Người đàn bà có vẻ ngỡ ngàng, sợ sệt. Nàng nói giọng phương Bắc:

- Các chị sang đây đã lâu chưa?

- ?!…

- Được bao lâu rồi?

- Bọn này mới sang… Thế còn đằng ấy sang đây từ khi nào, đã bao lâu?

- Không, không biết.

Hai chị em ngạc nhiên. Có phải một người điên đang đứng trước mặt họ? Người đàn bà hình như hiểu ý, khẽ cười, cười không thành tiếng, từ khoé miệng một vệt ánh sáng lạ loé ra, thắp sáng cả khuôn mặt

hiền hậu, thật thà, buồn đau khiến chẳng ai có thể hoài nghi về lời ăn tiếng nói của mình.

Lệ Uyên nói:

- Chúng ta có thể ngồi xuống đây trò chuyện được không? Người đàn bà đứng ngây ra.

- Tôi không ngồi xuống được nữa.

- Sao vậy?

- Tôi đi. Đi thành thói quen rồi. Từ lúc ở Bên Ấy sang tới Bên Này là tôi đi. Lúc nào tôi cũng đi. Không có ngồi. Cũng chẳng nằm. Đi suốt bao năm. Lúc nào không đi thì đứng.

- Sao lại thế?

- Tôi đi tìm con tôi.

- Cháu là trai hay gái?

- Trai.

- Cháu tên gì?

- Không biết.

- Nó đang ở Bên Này à?

- Không biết.

- Ủa? Thế thì… Lúc cô sang Bên Này nó đang ở đâu?

- Không biết.

- Như vậy nghĩa là làm sao?

- Người ta bắt nó mang đi khi nó mới hơn hai tuổi. Tôi đi tìm khắp nơi từ lúc còn Bên Ấy, có lẽ nó đang ở Bên Này…? Tôi đi tìm….

- Cô không thể ngồi xuống đây được một lát sao? Ai lại đứng như thế này. Ngồi xuống đi!15

Lệ Uyên nói như cầu xin. Thùy Dương với tay người đàn bà định cầm lấy nhưng nàng đã vội lùi lại, noảng sợ.

- Đừng! Đừng! Tôi chỉ có thể đi… và đứng lại như thế này thôi. Tôi đi tìm con tôi mà!

- Xin lỗi. Cô tên là gì? Cho bọn này biết quý danh?

- Không biết.

- Ơ? Cô đùa bọn này ư?

- Không. Tôi không đùa. Ở Bên Ấy, hồi mới sinh ra tôi cũng có một cái tên do cha mẹ đặt. Nhưng rồi người ta cấm tôi không được xưng tên.

Nếu tôi xưng tên ra với ai đó mà người ta biết được, họ sẽ giết cả hai mẹ con… Mà tôi thì muốn sống để đi tìm con. Lâu ngày, không ai gọi tên tôi, tôi cũng không xưng tên, thành ra tôi quên mất tên mình.

- Xin lỗi. Nếu vậy cô có thể cho chúng tôi biết cô là ai, làm gì, ở đâu không?

Người đàn bà cúi đầu, yên lặng như cân nhắc điều gì; Nàng đặt một bàn tay lên ngực, rùng mình rồi nói:

- Tôi… Tôi là cung phi triều nhà Nguyễn.

Hai chị em cùng ố lên một tiếng rồi trố mắt ra nhìn. Họ cố liên tưởng lại những vai hoàng hậu, công chúa, cung nữ trên sân khấu cải lương hồi còn ở Bên Ấy họ vẫn thường ngáp ngắn ngáp dài kêu la làm sao tối thứ bảy mà VTV3 cứ hành tình hành tội bắt bà con phải tiêu hoá những món ăn tinh thần dân tộc đó vào trong cái cơ thể đã mệt mỏi, rệu rã suốt cả tuần rồi….

Người đàn bà này chẳng có dấu vết, biểu hiện gì của một cung nữ cả. Cung nữ gì mà ăn mặc quá sơ sài dân dã; cái áo màu xanh chàm kiểu bà ba không có túi, cái váy dệt thổ cẩm dài sát đất và đôi hài trông giống như dép Bitis có quai hậu, lại cũng na ná dép Trường Sơn của các chú bộ đội… Phải tinh mắt lắm mới nhận ra dấu hoa văn rất nhỏ, in hình một con rồng thêu bằng chỉ đỏ quấn quanh cổ áo. Hai chị em nhìn kỹ hai cái “góc” con người nàng: mái tóc dày đen được búi sơ sài có một cây trâm bằng sừng trâu cài xuyên qua; hàm răng vừa chợt hé ra sau làn môi mọng, dù hai chiếc răng cửa phía trên có hơi to một chút vẫn đều đặn dễ thương như để phát ra những lời lẽ thật thà nhân hậu; không phải như hàm răng Thùy Dương, dẫu đều đặn sít sao hơn, nhưng chỉ để găm giữ lại hoặc bộc phát ra những ngôn từ gian manh, thô bạo…

Lệ Uyên đâm ra băn khoăn về tiêu chuẩn cái đẹp mà những vương triều xưa đã tuyển chọn các cô gái mới choai choai từ khắp miền vùng quê thị thành để đưa vào cung cấm. Tây Thi, Dương Quý Phi, Ỷ Lan, Đặng Thị Huệ… nếu đạt điểm 10 thì nô tì này chỉ đạt 7,5 hoặc 8… Thế thôi. Nhưng dù không có được cái đẹp lộng lẫy nghiêng nước nghiêng thành, cô nàng lại có nét hiền hậu dễ thương đến gần như dại dột, và vẻ đẹp của đôi mắt huyền hơi có quầng buồn buồn, dưới hàng mi cong mơ màng khép mở… khiến cho những gã đàn ông nào bôn ba phiêu bạt dễ ham muốn thèm khát. Cái cổ cao ba ngấn trắng ngần làm mái đầu nàng tựa đầu con hươu sao vừa cúi xuống dòng suối trong thượng nguồn uống nước, chợt ngẩng lên nhìn cánh rừng già trước mặt trời ban mai. Một vẻ đẹp sơn dã thâm u.

Nàng khóc. Khóc nấc lên mà vẫn không thành tiếng. Những giọt lệ ứa ra; và kìa, cứ mỗi giọt rơi xuống lại sủi sôi lên, lặn đi, rồi hiện ra thành một dấu chấm đỏ.

Hai chị em căng mắt ra nhìn. Trời ơi! Những giọt máu. Đúng là những giọt máu.

Thùy Dương rùng mình, nói:

- Bạn đáng thương ơi! Chắc bạn có điều gì đau đớn trong lòng lắm. Hãy nói cho bọn này biết.

Lệ Uyên cũng tiếp lời:

- Bạn ơi! Trước hết xin hãy tha lỗi cho chị em chúng tôi, bởi vì không biết phải xưng hô với bạn như thế nào cho phải lẽ. Cứ theo lời bạn mà suy, nếu tính về thời gian tuyệt đối thì chúng tôi thuộc lớp hậu duệ con cháu của bạn rồi; còn nếu căn cứ vào thời gian tương đối, thời gian tâm lý, thời gian Vũ trụ… thì với hai mươi, hăm mốt xuân… bạn còn quá trẻ, thuộc lớp thanh niên so với hai kẻ nạ dòng tuổi tác này. Thật là nghịch lý và trớ trêu! Tuy nhiên, nỗi đau của bạn chắc sẽ gần gũi và thân thuộc với chúng tôi, những kẻ đã sống quá nửa thế kỷ loạn lạc và tàn phá… Sinh cùng thời với Tố Như Tử, chắc bạn cũng biết tới hai câu thơ, lời than của nàng Kiều: Đau đớn thay phận đàn bà…

Người cung nữ vội lắc đầu nói:

- Tôi rất sợ những câu nói chữ, những lời ghi trong sách. Người ta có dạy tôi… Số chữ tôi biết được rốt cục lại cũng chỉ để đọc tên của Hoàng Thượng và ghi vào giấy tờ tên của tôi. Nhưng tên tôi, tôi đã quên mất rồi. Tôi chỉ còn nhớ láng máng tên của Đức Vua?

Thùy Dương bực bội nói:

- Chị em chúng tôi cần biết tên của bạn thì bạn lại không nói. Còn tên của Đức Vua thì biết để làm cái chó chi! Mấy ngàn năm loạn lạc chinh chiến thử hỏi có được ông vua nào hiền lành tử tế, toàn dâm gian độc đểu ba que xỏ lá cả. Mà giả sử có được một ông vua hiền rồi trái gió trở trời, lắm lúc ông ấy cũng đểu, cũng ác kinh khủng. Nhớ làm cứt chi những ông vua cho chật óc, mệt người! Tôi không biết Hoàng Thượng của bạn là ai? Cho dẫu ông ấy có là cha hiền của muôn dân thì bọn tay chân thuộc hạ, mấy thằng hoạn quan chúng cũng núp bóng Hoàng Thượng mà cắt đầu xẻo chim những người trung hiếu; còn đám con đỏ dân đen chúng ta thì cấm không cho ăn, cấm không được nói… Cuối cùng, Đức Vua có biết chăng nữa rồi cũng tảng lờ, cho qua, không coi là chuyện hệ trọng quốc gia đại sự. Bạn có xem phim Tàu không? Tể Tướng Lưu gù, Mộng đoạn Tử Cấm Thành…

Lệ Uyên ngăn lại:

- Thùy Dương, em nói năng gì lạ thế? Thời Nguyễn làm gì có chiếu phim! Hồi ấy chỉ có nhã nhạc cung đình, hát bội, hát chèo… Đừng làm cho nàng bối rối, mất tự nhiên. Bạn ơi, trần gian Bên Ấy dù có là bể khổ thì không vì thế chúng ta có quyền bỏ sót, lãng quên đi… một giọt đau thương của con người!

Người cung nữ trân trân nhìn Lệ Uyên:

- Các chị muốn tôi kể lại câu chuyện này ư? - Nàng nói, giơ ngón tay trỏ chỉ vào đầu mình - Óc bên phải tôi dập nát, tung toé, vương vãi ra đất hết rồi, chỉ còn chút ít bên trái thôi. Có một cái cục gì màu đen đen, tôi cảm thấy thế, đông cứng lại đằng trước trán này. Lại còn hai bên thái dương, cứ như hai cái lỗ có nắp đậy khoá kín lại. Các chị có cách gì đập vỡ hoặc làm chảy cái cục đen đen ấy, mở thông hai nắp hai bên này ra giúp tôi… may ra tôi có thể nhớ lại được!

Hai chị em xích lại gần, quan sát đầu người cung nữ. Khác nào một em bé vừa bị ngã đau, được người trong nhà đỡ dậy, chỉ trỏ cho họ biết bé bị đau ở chỗ nào để người ta xoa bóp rồi bắt đền… Nàng thuận lòng mặc cho Thùy Dương đưa tay sờ chạm, gạt sang bên những sợi tóc còn dâm dấp máu, có sợi dính bết vào nhau… để lộ từ gờ trán lên tới đỉnh đầu, chạy xuống tới sau gáy một vết nứt toác. Vết nứt toác này khác nào vết nứt toác của một quả dừa bị bổ ra làm hai, có thể thấy rõ được cùi dừa, lớp đục trắng nhờ nhờ máu bên trong. Thảo nào, ông bố cựu chiến binh của Thùy Dương rất ít khi gọi cái đầu mà chỉ gọi là cái gáo.

Đột nhiên Thùy Dương nói to:

- Em có cách…

Lệ Uyên ngạc nhiên:

- Cách gì?

- Chị đứng xê ra, lui lại… để em làm. May quá, em còn nhớ…

CHƯƠNG 2
KHÍ CÔNG DÂN TỘC BÙI LONG THÀNH
THẦN KỲ. HỌC TRÒ VÀ ĐỆ TỬ XUẤT SẮC
PHAN THUỲ DƯƠNG

Thùy Dương lấy tay đẩy Lệ Uyên sang bên, kéo lui lại chừng dăm bước chân rồi ngồi xuống, loay hoay tìm hướng, chắp hai tay trước ngực, miệng lầm bầm khấn: “Kính lạy Đức Phật từ bi cứu độ! Kính xin thầy Thiên Địa Long cho con được thụ khí…”

Kể từ lúc Bên Ấy sang Bên Này, một thời gian dài ả không luyện tập môn võ thuật khí công họ Bùi cho nên đã ngồi một lúc lâu vẫn chưa thấy có dấu hiệu gì tỏ ra đắc khí cả. Ả xoay đi trở lại người mình đến mấy lần, hai tay vẫn chắp trước ngực, mặt mày căng thẳng bấn loạn khiến Lệ Uyên cũng đâm ra sốt ruột.

Ả lầm bầm khấn tiếp: “Kính lạy Thầy Bùi Long Thành, vị đạo sư lừng lẫy khí công dân tộc Việt Nam! Thầy còn nhớ em không? Phan Thùy Dương, đệ tử, học trò khoá hai của Thầy ở Nhà văn hoá, Câu lạc bộ Lao động Thành phố đây! Em kính xin Thầy hãy truyền thẳng khí công vào người em, ngay chỗ huyệt đan điền đây nè; em đang cần dương khí của Thầy Bên Ấy, cùng hoà vào âm khí của em Bên Này, tổng hoà âm dương, đắc khí rồi em sẽ dùng liệu pháp thần kỳ để giải toả cho một con bệnh đặc biệt… Gọi là con bệnh kể ra cũng chưa thật đúng, một nạn nhân bị thương tổn nghiêm trọng, bị ức chế bưng bít tất cả các luân xa. Thầy ơi! Thầy cứu giúp chúng sinh với!”…

Quả nhiên, chỉ chờ thêm một chút nữa, Lệ Uyên thấy đầu ả khẽ lắc lư, toàn thân động cựa, nghiêng ngả, hai tay rung giật rồi tách đôi ra… Cứ thế mười ngón tay ả vung vẩy đập vào bụng, vào ngực, vào hai vai, hai bên má, gõ gõ lên đầu trông chẳng khác gì một con điên, người động kinh. Khí của thầy Bùi phát ra từ Bên Ấy, truyền vào Thùy Dương mạnh đến nỗi ả từ từ đứng dậy thở đặc trị, tập dịch cân kinh rồi chuyển sang múa Thất tinh quyền. Ả nhảy cò cò như chim, bò qua lăn lại mấy vòng như rắn, bạnh mồm nhe răng nhăn nhở như khỉ, giơ tay cào cào cấu cấu như báo… Mười ngón tay ả xoè ra rồi co quắp lại, răng nghiến trèo trẹo, miệng thở phù phù, ả nhảy chồm tới rồi giật lùi lại như hổ vồ mồi, và đột nhiên trở lại thư thái, mềm mại, hai tay đưa cao vẫy vẫy như đôi cánh hạc đang bay lên…

Tuyệt vời!

Cảnh tượng lạ lùng kỳ thú này khiến người cung nữ mắt sáng, khoé miệng động đậy nhách ra có vẻ như cười. Một dấu hiệu tốt lành! Nàng ngẩn ngơ nhìn. Cánh rừng sương mù của ký ức chợt loé lên một tia chớp nhỏ. Thuở ấu thơ có một thầy mo nào đã nhảy múa quanh nàng, quất roi dâu đuổi con ma sốt rét và ỉa ra máu ra khỏi cơ thể cô bé…? Nhưng màn sương mù nặng cùng bão giông nhằng nhịt lại kéo tới phủ lấp, che kín đến nỗi Thùy Dương từ từ tiến lại, đứng sát trước mặt mà nàng vẫn không hay.

- Hỡi người đàn bà đáng thương! - Thùy Dương đặt một bàn tay lên trán người cung nữ - hãy nghe ta! Đây là lời truyền đi từ Vũ trụ của Đấng Chí Tôn, Chí Cao, Chí Linh… đến cho ngươi! Hãy làm theo ta! Ngồi xuống!

Cung nữ đứng yên không nhúc nhích.

- Ngồi xuống!

Nàng khẽ rùng người, vai nghiêng lệch, đầu lắc lư.

- Ngồi xuống!

Đôi chân nàng rung rung, cố trụ cho toàn thân khỏi sụt xuống.

- Ngồi xuống!

Đầu gối nàng co lại, kéo gập hai ống chân; tấm thân cứng ngắc trở nên mềm mại, tà tà hạ… Nàng bó gối theo kiểu dân tộc ngồi trên bờ ruộng, nhà sàn.

- Hãy ngồi lại như ta đây, theo kiểu dáng Phật ngự trên toà sen…

Nàng loay hoay, chật vật lắm mới tạo được kiểu ngồi vắt chéo, xếp bằng gần giống như Thùy Dương.

- Chắp hai tay lại!

Nàng nắm mỗi tay thành một quả đấm từ từ giơ lên.

- Chắp tay lại!

Lóng ngóng, xoay trở một lúc nàng mới xoè được bàn tay, rồi úp hai lòng bàn tay vào nhau; mấy ngón vẫn khum khum còng queo như càng cua…

- Nhắm mắt lại!

Thùy Dương đi quanh nàng chín vòng. Cung nữ lờ đờ, chao đảo như người say sóng. Thùy Dương nhìn cung nữ. Cái nhìn như phóng sâu, khoan xoáy… Ả chìa một cánh tay ra, mồm thở phù phù, răng rít. Vừa truyền khí vào người cung nữ, ả vừa nói những lời mà thầy Bùi năm xưa đã dạy cho đệ tử, mấy học trò yêu của mình biết thụ khí cây, thụ khí Mặt Trăng trên núi Yên Tử… Giọng nói của Thùy Dương nghe y chang, nỏ khác chi giọng Bình Định - Tây Sơn của võ sư Bùi:

- Hãy mở rộng tất cả các cánh cửa của 6 giác quan ra! Mở ra! Mở ra! Hãy nạp năng lượng Vũ trụ vào mình! Tự cứu lấy mình! Hãy cười đi! Cười đi!

Cung nữ nhăn nhó mặt một lúc như chống lại cơn đau thắt trong người rồi đột nhiên nhoẻn một nụ cười rất dễ thương.

- Hãy mở 7 luân xa ra! Mở hết! Mở hết! Nghị lực vô biên! Năng lượng vĩ đại! Chuyển động cơ mặt. Đưa máu lên não! Khí dẫn toàn thân… Dẻo dang mềm mại, khéo léo cực kỳ! Ta là Vũ trụ đây! Vũ trụ chính là ta! Du thủy hành vân. Bám chặt lấy chân khí. Đừng sợ! Tôi đang trở về con người thật của mình! Cảm giác khoan khoái! Trí lực tràn đầy! Tiến lên! Chỉ có tiến công mới giành được thắng lợi!

Hãy tự mình cấu xé đập vỡ cục đen đặc kết đọng trên đầu, trước trán của ngươi! Đó là nỗi buồn đau căm uất của ngươi trong quãng thời gian đày đọa Bên Ấy kết tụ lại. Nghiền nát đi! Nghiền nát đi!

Cung nữ nghiến răng, hai tay giơ lên trước trán xoắn vặn, cào cấu. Đoạn nàng quăng ném cái vật vô hình gì xuống rồi dùng chân chà đi chà lại. Cử chỉ của nàng rất chi là đàn bà trẻ con, thật đáng yêu!

Thùy Dương vẫn rít răng, truyền khí:

- Tôi đang chuyển động mạnh lên đây! Tôi gia tăng sức mạnh lần thứ 5, thứ 6… Chù chù! Chíu chíu! Chuyển lên! Chuyển lên! Chuyển cả thể chất! Chuyển cả tinh thần! Tôi gia tăng sức mạnh lần thứ 7! Chủ động tấn công tiêu diệt ổ bệnh đi! Dũng mãnh lên! Tự mình cứu lấy mình! Tiến lên! Quyết định vận mệnh mình! Giải toả cơ bắp! Giải toả tâm lý! Buồn đau ư? Thì khóc to lên! Nếu đã thấy vui trong lòng thì cười to lên! Chù chù! Chíu chíu! Thắng lợi đang chờ đợi phía trước kia!

Hãy nhận lấy năng lượng vĩ đại của Vũ trụ! Tiếp năng lượng Vũ trụ qua đường lỗ miệng, lỗ mũi! Tôi đang tấn công nghiền nát ổ bệnh, nỗi đau đây! Tôi đang trở về con người thật của tôi đây! Tôi tìm thấy tôi rồi!

Hãy dùng cái chìa khoá Tự Do mở toang hai cánh cửa Ngục tù ở hai bên thái dương của ngươi đi! Mở đi! Mở đi!

Thùy Dương thét lên. Người cung nữ gần như bấn loạn. Dần dần trở lại trạng thái cân bằng, nàng tà tà giơ hai tay lên, xoay vặn, làm cái động tác y như ai đó cầm chìa khoá mở khoá xe đạp hay khoá cổ xe honda. Mở xong phía thái dương bên trái nàng đưa tay sang mở phía thái dương bên phải; động tác sau cùng y hệt mở khoá một cánh cửa vậy.

Thùy Dương cúi mình xuống như để nhìn cho rõ hơn người cung nữ. Ả nói với một giọng dịu dàng nhỏ nhẹ, cái âm tố chọ chẹ xứ Nghệ nặng người khổ tai lâu nay bây giờ không hiểu sao lại mềm mại điệu nghệ kiểu cố đô Huế, vừa dễ lọt tai lại vừa ngọt ngào:

- Nào nghe đây… Ngươi đang cầm trên tay ba mũi tên Thời gian: mũi tên nhiệt động học, mũi tên tâm lý học, mũi tên Vũ trụ học. Có đúng không?

Người cung nữ gật đầu, xoè bàn tay ra rồi bóp giữ lại.

Ngươi hãy bắn đi mũi tên tâm lý, có thể bắn thêm mũi tên nhiệt động nữa. Hai mũi tên cùng nhắm về một hướng, cùng lao về Quá Khứ! Nào bắn đi! Phóng đi! Lao vút đi!

Thùy Dương vỗ tay ba lần.

Người cung nữ quỳ hai đầu gối xuống, một tay nắm đưa ra phía trước, tay kia kéo lui lại phía sau, tựa hồ như kéo căng sợi dây cung… vẻ mặt thẳng căng, môi mím…

Phựt! Phựt! Nàng làm hai lần như thế.

Hai mũi tên bắn đi đã cùng lao về một hướng - Thùy Dương nói - Quá khứ sẽ hiện ra!

Người cung nữ mệt nhoài, đầu lắc lư, ngồi không vững nữa.

Thùy Dương lại gần đặt bàn tay lên trán nàng.

- Bây giờ ngươi hãy thu khí công về đan điền! Từ từ! Chậm rãi! Vững chắc! Hãy nằm xuống đi! Thư giãn toàn thân! Đi vào giấc ngủ! Tôi đang ngủ đây! Tôi đang ngủ đây! Ngủ đi! Ngủ đi! Sâu hơn! Sâu hơn! Dài hơn! Dài hơn!

Cung nữ lim dim mắt nhìn Thùy Dương. Vẻ mặt ngây thơ như em bé đang nhìn ai từ trong nôi… Nằm duỗi chân tay, khoan khoái ngáp dài, mí mắt từ từ nhắm lại… Nàng ngủ ngay trước mặt hai chị em.

Thùy Dương bắt đầu đếm từ số 1 đến số 99 thì người cung nữ mở mắt ra. Nàng ngồi dậy ngơ ngác nhìn hai người đàn bà đang hiện diện trước mắt mình, rụt rè bẽn lẽn hỏi:

- Các chị người ở đâu ta? Có phải dân Việt Nam mình không?

Lệ Uyên khẽ gật đầu, mỉm cười. Thùy Dương vẫn lầm bầm đếm những con số 7. Cung nữ rùng người một cái, cười theo, mắt sáng lên:

- Tôi nhớ lại rồi các chị ạ. Như vậy là từ ngày ở Bên Ấy sang tới Bên Này, tôi đã đi suốt 180 năm tính theo thời gian tâm lý, vị chi là 43 năm tính theo thời gian 3 chiều. Cảm ơn các chị nhiều. Bây giờ xin kể cho hai chị nghe chuyện đời của tôi…

- Khoan đã - Lệ Uyên nói - Trước khi kể nàng có thể cho bọn này biết quý danh của mình không?

Người cung nữ lắc đầu:

- Bây giờ tôi đã nhớ ra tên tôi, tên con trai tôi… nhưng tôi không thể nói cho các người biết được đâu; bởi vì nếu tôi nói ra, e chừng cơ sự lại hỏng hết cả. Tôi còn phải ở Bên Này đi tìm con trai tôi, hoặc chờ đợi tới lúc gặp được nó…

Thùy Dương nói nghe như gắt:

- Lệ Uyên! Chị thật buồn cười. Đúng là bà giáo. Có phải ai cũng là học trò của chị cả đâu mà bắt người ta xưng tên.

Người cung nữ cúi đầu trước Thùy Dương, chắp hai tay lại:

- Ngàn lần cảm ơn chị, người đã giúp em hồi sinh… Từ Địa ngục Bên Ấy sang tới Bên Này không phải tất cả ai cũng đều là ác quỷ tinh ma cả; hoá ra vẫn có những người tốt, những người còn là Con Người…

Thùy Dương chắp tay lại, cúi đầu:

- Xin nàng đừng nói thế. Đó là nghĩa vụ và bổn phận của mỗi một con người chúng ta. Bây giờ nàng hãy kể lại câu chuyện của đời mình. Nào, bắt đầu…

b>CHƯƠNG 3
CHUYỆN KỂ CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ
KHÔNG TÊN BỞI VÌ NGƯỜI TA GIẤU KÍN
TÊN TUỔI CỦA NÀNG
Cũng chỉ vì cái đêm trăng ấy….


Người cung nữ kể.

Buổi chiều tháng Tám, năm con Rồng Nhâm… sau Trung Thu, trời đổ mưa. Cơn mưa rừng xối xả làm những con suối ngập nước, không thể lội qua được; lại thêm đường rừng đất nhão dính bám vào xe làm đoàn ngự giá không sao đi tiếp… Lệnh trên truyền xuống cho chúng tôi biết đêm nay Hoàng Thượng và đoàn ngự giá sẽ ở lại rừng, sáng mai mới trở về Kinh Đô.

Trong người tôi tự nhiên nôn nao một cảm giác lạ lùng. Có điều gì đây mách bảo rằng đời mình sắp có một biến động chẳng rõ là buồn hay vui, lành hay dữ? Tôi phấp phỏng sợ lo….

Năm con Rồng này tính theo tuổi bà mụ tôi đã 19. Nếu không vì ông dượng tôi, quan Tham Tri Bộ Hình, tiến cử cháu mình vào cung, có khi tôi là vợ của chàng rồi, đã bế ẵm trong tay đứa con yêu quý… Chắc chàng oán giận tôi lắm, cho rằng tôi đã khinh thị chàng, một chân tú tài, thầy đồ dạy con trẻ trường làng đi đánh đổi mối tình thôn dã để được bén hơi Rồng, ôm ấp mộng Quân Vương! Ôi chao! Thật oan cho thiếp quá chàng ơi! Giả sử chàng không phải là chân tú tài đi nữa, mà chỉ là anh nông phu cày ruộng thôi, thì thiếp đây cũng sẽ vui vẻ bế con, đưa cơm ra cho chàng tận ngoài ruộng… Bên thảm lúa vàng, chàng nghỉ buổi gặt trưa, ngồi rít điếu cày nhả khói thuốc lào thả hồn say lên mây trong khi con chúng ta bi bô chuyện, thiếp cũng đã thấy đời sướng vui mãn nguyện lắm rồi. Còn hơn là sống cái kiếp đi đày, ở tù nơi cung cấm thâm nghiêm đã ba năm rồi mà đến cái vảy Rồng cũng chưa được chạm tới, một thoáng hơi Rồng cũng chưa được hít hà. Nói thầm than vụng, gởi gió nhờ mây đưa về chốn làng quê yêu dấu, chỉ nơm nớp sợ đao phủ cung đình, sấm sét Thiên Tử cao xanh biết mà giáng bổ xuống đầu đen vô tội khốn khổ này!

Đêm…

Sau khi cắt cơn mưa, cả rừng cây tắm gội xong, người cùng vạn vật như hồi tỉnh lại trong hơi khí mát tươi của đất trời. Đã lâu lắm tôi mới được đứng ngâm chân dưới một con suối như thế này. Đang cúi mình, lấy tay vốc nước rửa mặt, bắt chợt ngẩng đầu lên tôi nhìn thấy Trăng. Hay Trăng nhìn thấy tôi? Vầng trăng mười sáu tròn to đến nỗi tôi phân vân đời mình rồi có tròn to như vậy không hay là… Và kìa, Trăng lỏn lẻn đậu trên cành thông. Trăng nhìn tôi như mỉm một nụ cười ý nhị, thầm kín.

Tôi đứng sững. Bỗng nhiên có tiếng gọi tên tôi đằng sau lưng. Quay lại nhìn, tôi nhận ra quan Thượng Thư Bộ Hình. Ngài bảo, tối nay vào giờ Tuất, sau lúc bãi triều, tôi được lên gặp Hoàng Thượng. Thoạt nghe, tôi giật mình hoảng sợ hơn là vui mừng. Trái tim trong lồng ngực đập mạnh đến nỗi choáng người, tôi phải trấn tĩnh để lấy lại cân bằng. Thật thà ngây dại, tôi run run thưa với quan Thượng Thư rằng tôi phải chuẩn bị những gì đây, sẽ phải hoàn thành nhiệm vụ gì, xin Ngài chỉ giáo cho. Ngài nheo mắt cười tinh quái và đểu giả (không hiểu sao tôi cảm nhận như vậy, mình đâu dám xúc phạm tới ai?) bảo rằng, khỏi phải chuẩn bị cái gì hết, ngoài tấm thân ngọc ngà trinh trắng sẵn có, Thị cứ một mình tay không theo ta tới nơi Thiên Tử ngự. Lẽ ra nếu ở dưới Kinh Đô, bọn thị vệ sẽ đặt tôi lên kiệu mà khiêng đi; nhưng hoàn cảnh đặc biệt nơi rừng xanh sơn cước này, tôi phải tự mình đi bộ tới cùng với sự kèm cặp của Ngài… Ngài dặn thêm, nếu không tắm được nước thơm nấu bằng hoa và thảo dược quý, thì thôi tạm thời về tắm nước suối trong. Và rất nên, cầm trên tay hoặc cài vào mái tóc một nhành hoa huệ, thứ hoa Hoàng Thượng rất mê, nhưng thôi ở chốn rừng núi này khó tìm ra hoa huệ, ta thay vào một đoá phong lan, thứ lan rừng mà Hoàng Thượng cũng đặc biệt yêu thích. Quan Thái Giám sẽ sai người đưa tới cho tôi nhành phong lan đó.

Dặn dò xong, Ngài bụm miệng cười. Cười trong mồm, găm lại không thành tiếng. Dáng người bè bè gân guốc của Ngài đã khuất sau lùm cây rồi mà ánh mắt dâm đểu còn móc cắm vào thân thể tôi. Tôi vừa căm ghét vừa ghê sợ Ngài.

Trăng càng lên cao càng sáng. Trăng sáng đến nỗi tôi đâm ra hoảng sợ. Bước chân mình vừa giẫm phải một cành cây khô nằm ngáng lối đi; tiếng gẫy của thân gỗ mục đè lên lá khô như tiếng tim mình nát vỡ dưới chân?

Ngôi nhà Hoàng Thượng nghỉ tạm qua đêm là nhà quan Tri Châu ở vùng này. Lính thị vệ canh gác từ trong ra đến ngoài hết sức cẩn mật.

Thiên Tử đang ngồi bên một cái bàn đặt cạnh cửa sổ. Ly rượu Mao Đài vừa cạn, Người tự mình nghiêng bình rót thêm một ly nữa. Ngọn nến rưng rưng cháy. Cây bút lông gác trên nghiên mực cạnh bên tờ giấy hoa tiên có mấy dòng thơ chữ Hán đang thảo dở chừng. Hoàng Thượng mặc bộ quần áo dân dã may bằng lụa tơ tằm của Thiên Triều.

Thấy tôi vào, Người vẫn tự nhiên điếu thuốc Cẩm Lệ ngậm mồm, nhả khói rồi quay đầu lại nhìn, thần trí lâng lâng…

Năm ấy Người đã 66 xuân. Mới trông ai cũng tưởng Người còn già hơn số tuổi bởi tóc râu đã bạc trắng hết. Tuy nhiên, để bù lại, đôi mắt sáng vầng trán cao của Người không chỉ gây ấn tượng kính phục mà còn có sức lôi cuốn hấp dẫn đặc biệt; lại thêm điệu cười sảng khoái hiền hoà như xoá sạch đi dấu vết già nua và sự ngăn cách lứa tuổi con người. Ai cũng mơ có được một người cha như thế và sẵn sàng đi theo, hiến dâng tất cả vì Người, cho dân, cho nước…

Thấy tôi cúi đầu, quỳ xuống lạy, Thiên Tử nói khẽ: Miễn lễ!

Đoạn Người giơ tay chỉ một cái ghế bảo tôi ngồi. Khoảng cách giữa tôi và Hoàng Thượng áng chừng vừa bằng cái đòn gánh.

Tôi ước lượng thế bởi từ thời thơ ấu, tôi thường nghe mẹ tôi tính đo theo kiểu cách như vậy.

Hoàng Thượng hỏi thăm sức khoẻ tôi, quan tâm tỉ mỉ đến cả bữa ăn thường ngày của bọn cung nữ. Tăng khẩu phần rau củ quả lên là đúng, Người nói, nhưng cắt giảm bớt cá thịt đi, lại còn nhét đầy thêm những rau muống, cà pháo, mắm ruốc, chao ớt là không nên. Ăn mặn quá hại gan thận, lại ảnh hưởng tới tim mạch, nước da… Người sẽ nhắc bên Bộ Lại, kiểm tra chặt chẽ công việc của các quan thái giám, ngự y về việc này.

Sáu năm trước, Triều đình đã xử chém ngang lưng một viên quan tổng kho. Dẫu y là công thần, đã từng theo gót chân Thiên Tử xông pha nơi lam chướng ngàn trùng, vào ra trong máu lửa, tên khuyển nho đầy tớ hoang dâm vô độ này đã biển thủ công quỹ và xài phí tài sản vương quốc để cung phụng tiệc cưới xa hoa của hắn….

Xử chém tên quan này không chỉ treo một tấm gương nhật nguyệt trên xứ sở Lư Giang mà còn vằng vặc trên toàn cõi An Nam vương quốc để tất cả quan dân, những ai đang có ý đồ nuôi sâu bọ tham nhũng trong máu mình hãy trông đó mà tu sửa nhân cách.

Người hỏi thăm sức khoẻ của cha mẹ tôi. Nghe nói song thân tôi không được khoẻ, nhà neo đơn vắng bóng, từ khi con gái lên Triều đình để phụng sự quốc gia, hoàn cảnh lại còn khó khăn hơn; Người xúc động bảo, Triều đình sẽ sắc phong cho ông bà tấm bằng tưởng thưởng lòng trung với dân, hiếu với nước và công lao đóng góp; còn hơn thế, quan tri huyện bản địa sẽ thừa lệnh, ưu tiên cấp đất ruộng cho gia đình tôi một mẫu thâm canh hai vụ có xác nhận sổ vàng, còn riêng phần tôi sẽ được cấp hai mẫu, dự phòng trường hợp tuổi già, lúc không còn phụng sự ở Triều đình được nữa.

Tôi cúi đầu, quỳ xuống lạy tạ ơn mưa móc của Thiên Tử.

Người khẽ nhắc lại một lần nữa “miễn lễ” và cho phép tôi được tự nhiên hơn.

Tôi rưng rưng nhìn Hoàng Thượng, lệ ứ đầy tròng mắt. Nhiều lần nghe thiên hạ nói, có người chỉ mới được tin mình sắp đi gặp Thiên Tử, vậy thôi mà đã nghẹn ngào khóc nấc lên rồi, tôi hơi lấy làm lạ. Bây giờ thì đúng là tôi muốn khóc thật.

Tôi rụt rè hỏi thăm sức khoẻ của Hoàng Thượng. Mắt Rồng sáng lên. Người cười sảng khoái, hai tay giang rộng trước mặt. “Tốt! Tốt! Vẫn như thanh niên, còn đang trai…” Cái lối vui đùa, tự nhiên, suồng sã của Người làm tôi vui lây bởi sự gần gũi hiếm thấy xưa nay. Các bậc cha mẹ, ông bà làng quê tôi chẳng mấy ai có được dáng vẻ tự nhiên, giản dị như thế. Ngoài trời lúc bấy giờ hình như trăng sáng lắm. Trăng sáng đến mức độ cả rừng cây đang thiếp ngủ bỗng bừng thức dậy. Cơn gió mát nổi lên, xào xạc lay động cành cây ngọn lá, lộp bộp rơi xuống những giọt mưa còn đọng lúc ban chiều… Một con dế cất tiếng gáy tỉ tê. Một đôi rắn bò đi nghe như tiếng giải lụa kéo trên lá khô. Có con chim gì bay qua gần cửa sổ như chiếc lá đen chập choạng rồi vụt biến. Đàn nai rừng đạp giẫm trên lá vàng khô, ngơ ngác theo nhau xuống suối tìm nước. Chúng đang nhảy một điệu vũ động tình, giao phối mà chỉ giác quan của người vùng sơn cước mới cảm nhận ra được. Nhưng rồi tất cả những âm thanh rừng đêm ấy đột nhiên lặng dần, lặng dần. Chỉ còn tiếng suối tuôn róc rách, nỉ non…

Ngọn nến đã nhỏ đến giọt lệ cuối cùng. Tôi định thắp ngọn nến khác. Hoàng Thượng như chợt tỉnh nói: “Thôi mà, khỏi cần thắp nến. Trăng sáng đến thế mà nãy giờ không tắt nến đi, đúng là có lỗi với chị Hằng”. Người cười. Tiếng cười nghe trầm ấm ung dung.

Quả thật, lúc bấy giờ trăng sáng lắm. Trăng sáng đến nỗi tôi có cảm giác trong đời mình chưa thấy đêm nào trăng sáng như thế. Đầu óc tôi trong suốt. Toàn thân rạo rực. Ngực nặng căng. Đầu vú kích thích. Khó thở…

Hoàng Thượng cất giọng trìu mến hỏi tôi: Khanh có nghe tiếng suối chảy không? Tôi dạ, thưa rằng có. Người chậm rãi nói như để cho mình mình nghe. “Tiếng suối róc rách như tiếng trẻ thơ đùa, nỉ non như lời thiếu phụ than. Chị Hằng suốt đêm không ngủ đắm say nhìn thế giới kỳ diệu xinh tươi. Riêng Trẫm không ngủ được…”.

Người đưa mắt nhìn tôi dò ý. Tôi khép nép chắp hai tay lại đặt trên đầu gối, tránh nhìn ánh mắt của Đấng Tối Cao, dù biết rằng cái nhìn đó đang ngự trị, chiếm lĩnh cả thể xác tâm hồn tôi. Kính lạy Thiên Tử! Xin Người xót thương con, thân phận nhỏ nhoi, hèn mọn…

Thiên Tử vẫn miên man dòng suy tư:

- Lòng Trẫm nặng một nỗi thương đau. Khanh có biết chăng? Trẫm thương những con dân cơm chưa đủ no, áo chưa đủ ấm, bầy trẻ lớn lên chưa được cắp sách tới trường… Đất nước ngàn năm loạn lạc chinh chiến; may Trời cho còn lại được ít ngày thái bình yên vui… Vậy mà nay ngoại bang quay trở lại xâm chiếm, cắt chia. Chiến tranh lại tiếp nối chiến tranh. Nghe tiếng suối khóc, lắng tiếng gió than, lòng Trẫm càng não nề xót xa. Trăng càng sáng, nước non xinh đẹp càng tang thương, lòng Trẫm càng nặng nỗi lo cho dân, chua xót niềm đau cho xứ sở. Trẫm làm sao nhắm mắt ngủ yên?

Tôi nhìn Hoàng Thượng lòng rưng rưng, cảm kích. Đúng như lời các quan trong Đại Nội nói: bốn ngàn năm từ thuở Hùng Vương dựng nước đến nay mới có được một vị vua hiền, Đấng Minh Quân thương dân yêu nước đến như vậy.

Đã bước sang giờ Hợi. Mình Rồng xem đã mệt mỏi, ủ ê… Hoàng Thượng bảo tôi trải nệm, treo màn để Người đi nằm.

Làm xong những việc Người sai bảo, tôi khép nép đứng, chắp tay cúi đầu xin phép Thiên Tử được cáo lui. Người nhìn tôi có chiều đắn đo. Bỗng nhiên, mắt Rồng sáng lên. Người bước tới bên cầm tay tôi ân cần nói:

“Khanh đừng về. Ở lại với Trẫm cho trọn đêm nay…”

Thoạt nghe, tôi hoảng sợ. Nhưng ánh mắt vui tươi, nụ cười đùa nghịch của Đấng Con Trời đã cuốn hút tôi, làm nhịp tim tôi êm đằm lại, dịu đi.

“Dẫu có là Thiên Tử đi nữa thì cũng chỉ là con người. Ta là con Dân, từ Dân mà ra…”. Người bước tới đứng sát trước tôi. “Nhìn xem nào… cũng tai, mắt, tay, chân… như mọi con người, có khác gì đâu…” Người dùng ngón tay trỏ chỉ vào mình bông đùa. “Không thừa ra cái nào, nỏ thiếu mất cái chi. Đúng không? Y như mọi anh đàn ông trên thế gian! Đêm nay Trẫm tạm bỏ ngai vàng với mũ triều thiên… Ngoài trời kia có trăng, trong nhà này có ái khanh. Ta với ái khanh nằm bên nhau, cùng say giấc mộng vàng…”

Tôi vẫn chưa hết sợ. Còn nhớ lời cố ngoại tôi dặn con cháu: “Trong phúc đà có họa, trong họa có khi lại mang phúc…” Tôi chưa biết nên ứng xử như thế nào, Thiên Tử đã áp sát người vào ngực, vào bụng tôi… Người choàng một tay ra sau lưng tôi kéo tôi lại phía giường….

“Cởi ra! Cởi hết ra! Nằm xuống…”

Người vừa nói vừa thở… Như đứa trẻ, tôi nhắm mắt lại mặc kệ cho người lớn muốn làm gì thì làm.

“Cởi ra! Cởi ra… Can chi mô mà xấu hổ”… Mà tôi xấu hổ thật. Tự mình cởi tháo ra trước mặt Đấng Con Trời, lồ lộ thân thể giống cái đàn bà còn hơn là xấu hổ, là vô lễ, bất kính nữa. Tôi nhắm mắt. Người tự tay sờ soạng cởi hàng khuy nút, tháo cái áo ra khỏi vai lưng tôi… Người dừng lại. Khẽ búng nhẹ vào hai đầu vú làm tôi giật nẩy, ưỡn người lên. Người cười khẽ. Rồi bập môi, ngoạm vào hai trái dừa tiên. Người vừa mút vừa bú. Tôi ưỡn quẫy người, vẫn còn sợ hơn là thích, vội mở mắt ra. Mái đầu bạc, chòm râu trắng đang trăn qua trở lại trên ngực, trên bụng tôi. Hai tay tôi vẫn nắm giữ đai lưng quần.

“Cởi ra! Cởi ra! Còn tiếc chi nữa mà chẳng mở ra. Nào…”

Tôi vẫn giữ chặt. Người nhìn tôi, ánh mắt không tỏ ra tức giận mà còn có vẻ thích thú. Tôi thấy yên tâm hơn. Đột nhiên, Người gục đầu xuống rồi hậc lên một tiếng. Tôi hoảng sợ, tưởng Người khóc nấc. Lầm! Hàm răng Người đã ngoạm lấy giải rút quần tôi, đầu nghiêng qua nghiêng lại cắn xé. Tôi vội buông tay, mặc Người tuỳ ý. Thật ra tôi cũng chẳng biết làm gì hơn, bởi theo thói quen ông bà cha mẹ dặn, giữa thời buổi loạn ly, giặc và quỷ đầy đường, dây rút quần con gái còn trinh là phải luôn bền chắc và buộc chặt…

Người dừng lại thở. Ánh mắt dịu sáng, suy tư. Có lẽ phải mở một đợt tấn công mới? Quyết đánh và quyết thắng! Y như rằng lần này quyết liệt hơn, vũ bão hơn. Mái đầu bạc, chòm râu trắng lại vục xuống, răng nghiến rứt… Đai lưng hình như đang nhão ra, nát thành sợi. Phựt! Tôi nghe rõ tiếng dây quần đứt tung kèm theo tiếng xé toạc một đoạn nửa gang tay cái váy thổ cẩm dệt, ngay phía dưới rốn trên bầu bụng… Người khẽ xuýt xoa. Tôi sợ Người long gẫy răng và nổi cơn thịnh nộ. Nhưng kìa, Người cười… Thắng lợi cuối cùng đã về ta! Có thế chứ!. Phải tiến công, tiến công. Dù có dừng lại rồi cũng để tấn công, tấn công!

Bây giờ thì món ăn ngon nhất của trần gian không thể nào cất kín; cái quý nhất của giống cái, cái lạ nhất của đàn bà, là Thế giới, là Vũ trụ của tôi đang bày ra trước mặt Thiên Tử. Người nhẹ nhàng kéo cái váy thổ cẩm của tôi, lôi từ từ ra khỏi hai ống chân ngà ngọc…

Người dừng lại ngắm… Nụ cười toả sáng cả gương mặt Rồng. Bây giờ thì tôi chờ đợi và hồi hộp. Hồi hộp đến tim muốn ngừng đập. Tôi mỉm cười, nhắm mắt lại… Bỗng nhiên một cảm giác nhồn nhột khắp người khiến tôi phải mở mắt ra. Thiên Tử đã trần truồng thành một con Rồng ôm quấn tấm thân trinh trắng của tôi. Người lè lưỡi liếm hai đầu vú, khẽ nghịch cắn hơi đau một chút rồi nhả ra, tụt đầu Rồng xuống, lè lưỡi tới tấp liếm vào Trái Cấm. Trời! Người liếm đi liếm lại rất lâu, rất trường kỳ… Tôi không chịu nổi, hấc một tiếng rồi ưỡn người lên. Người thích thú, cười khẽ.

Tôi lại nhắm mắt. Bây giờ thì, một con rắn dài từ Mình Rồng bò ra, tuồn sâu, chui thẳng vào con người tôi. Đau quá! Tôi hét lên! Tưởng chừng ngất đi. Người bật lên cười. Hí hí hí… Khẹc khẹc… Con rắn cứ làm theo kiểu của Thiên Triều chín lần cạn, một lần sâu… Cơn đau dịu dần…

Ngai vàng, cung đình trùm lên đè xuống. Luỹ tre làng quê tơi tả, mái tranh thôn dã cuốn bay.

…Đêm ấy tôi đã làm cho Hoàng Thượng mãn nguyện. Chính tôi cũng thấy mình hạnh phúc. Có lẽ Hoàng Thượng cũng cảm nhận được cái điều vỡ lòng trên trần gian: khi ân ái với người đàn bà thì bất luận kẻ đó là ai, có là Thiên Tử đi nữa cũng phải quyết tâm làm được cái việc, hoàn thành cái nhiệm vụ mà một anh đàn ông phải thực hiện. Còn nếu như không làm được thì túp lều tranh và cái cuốc cùn còn sáng giá hơn cung điện ngai vàng; chàng ngư phủ đực rựa lại nghễu nghện đứng trên vai đấng cao cả Hoàng Đế!

Hoàng Thượng đã căn bản làm được công việc đó. Dẫu chưa hoàn thành vượt mức, Người cũng đã giành được thắng lợi nhất định, không đến nỗi hổ thẹn với lời tự thú, tự khoe rằng mình vẫn còn xuân và đương trai…

Tỉnh dậy. Ngoài trời đầy trăng. Quanh mình tôi - một vũng trăng.

Cung nữ dừng lại. Người nàng bợt bạt, lởn vởn lớp màn che phủ mù sương. Hai chị em nhìn chỉ còn thấy tròng mắt lờ đờ nửa nhắm nửa mở và những giọt lệ trào rơi xuống. Máu! Máu...! Toàn là máu.

Thùy Dương nói:

- Nàng mệt lắm phải không? Nghỉ một lát đã…

Cung nữ gục đầu, tựa cằm trên gối, hai vai rung giật…. Nàng khóc không thành tiếng.

Lệ Uyên nói:

- Bạn thương yêu ơi! Bọn này chỉ mới mường tượng ra cái đầu ngôi Sao Chổi của câu chuyện, còn cái đuôi dài hàng triệu cây số nữa, chắc vậy. Xin nàng nghỉ lấy sức rồi kể tiếp… Có người đồng cảm với mình thì một biển khổ đau cũng có thể nghiêng đi, san bớt; dù chỉ cạn vơi một ly đời cay đắng vẫn dịu nhẹ cho ta nỗi khổ đau trong lòng. Thế rồi sau cái đêm hôm ấy đêm gì, Đấng Minh Quân của nàng, Đấng Chí Tôn của muôn dân có còn đoái hoài gì tới mảnh trăng giữa rừng không?

Người cung nữ ngẩng đầu, chớp chớp mắt. Hàng mi cong còn ướt lệ khác nào bờ cỏ đọng sương mai trong nắng xuân. Vẻ đẹp dịu hiền ngây thơ không chút làm điệu khiến người cùng giới cũng phải động lòng thương yêu.

Nàng ngập ngừng nói:

- Có nên kể tiếp nữa không hay là thôi…?

Hai chị em ngồi yên lặng. Nài ép người đàn bà này kể tiếp khác nào nghiền nát thêm trái tim đã tan vỡ… Nhưng nàng đã mỉm cười lượng thứ trước cõi lòng bè bạn, chị em… Lại tiếp nối câu chuyện bằng giọng nói của đàn bà phương Bắc, dẫu hơi xưa cũ nhưng rất dễ nghe… 




CHƯƠNG 4
CHUYỆN SAU CÁI ĐÊM HÔM ẤY ĐÊM GÌ…

Bây giờ xin ngắn gọn lại thôi, bởi có kéo dài ra mấy đi nữa cũng không hết được chuyện; hơn thế đau cái lòng này lắm…

Tôi biết mình có thai… từ ngay cái đêm hôm ấy. Đứa con của Hoàng Thượng chưa biết là trai hay gái, đang là hạnh phúc thiêng liêng, lại là nỗi lo sợ phấp phỏng… trong mình?

Trở về lại Khiêm Trang Viện thâm nghiêm tôi mang bầu tâm sự u uất, nỗi nhớ mong Hoàng Thượng. Hai tháng trời trôi qua, Đấng Minh Quân dẫu ngự rất gần đây mà sao vẫn vắng bóng, bặt tin? Đã hai lần trăng mười sáu đi qua rọi sáng thềm cung điện, tấm thân lẻ chiếc trong phòng khuê này thức ròng rã cùng mảnh gương lạnh giá ngoài trời, hố mắt sâu trào lệ năm canh…

Hoàng Thượng đâu rồi? Sao bỏ mặc mẹ con tôi chẳng đoái hoài? Mẹ con tôi đang ở chín tầng cao Thiên Đường hay chìm sâu dưới Địa ngục?

Trăng mười sáu thứ ba đi qua. Tâm thần tôi bắt đầu hoảng loạn. Chắp hai tay lại cầu xin, tôi nhắm mắt thả hồn bay theo khói trầm lan để may chăng, đến được nơi Người ngự, gợi thức lòng ai nhớ lại mảnh trăng tủi phận hờn duyên ngày nào giữa rừng khuya.

Sau này, có nhà thơ bạc mệnh, cháu gọi bằng dì của một người cung nữ sống bên tôi, biết chuyện đã ghi lại cảnh ngộ thân phận của chúng tôi hồi ấy.

Xin đọc các bạn nghe nhé!

Trầm ngán nghê bay trong lãnh cung
Xuân thơm bối rối ngọt vô cùng
Chao ôi, Thánh Thượng vô tâm quá
Lòng thiếp buồn như một tấm nhung.
Ở đây châu báu vô tri cả
Pho sách quần phương lộ ý nhiều
Thử tìm hoa mọc trong cung cấm
Xem thử tên hoa có mỹ miều?
Ngoài kia Xuân đã chớm duyên chưa?
Trời ở trong đây chẳng có mùa
Không có niềm trăng và ý nhạc
Có người cung nữ ước mơ Vua.

Bước sang tháng thứ tư… Đột nhiên, quan Thượng Thư Bộ Hình và quan Thái Giám đến thăm tôi. Nói đến thăm cũng chưa đúng, thực ra họ đến để làm việc với tôi. Sau khi lục vấn tra hỏi về mẹ con tôi; họ cho biết, để bảo toàn mạng sống cho cả hai, mẹ con tôi cần được đưa ra gấp khỏi Khiêm Trang Viện!

Chuyện gì kỳ lạ vậy? Tôi mơ hồ rồi giật mình nghĩ ra những mưu mô thâm độc đang rập rình sắp đặt, những tai ương thảm khốc sẽ ập xuống đầu mẹ con tôi. Thảo nào ba tháng trôi qua, sự im lặng của Đấng Minh Quân đã vây bủa quanh tôi một bức màn ma quái. Có lẽ nào?

Tôi cúi đầu chấp nhận xin Triều đình gia ân, được phép về quê nhà sống cùng cha mẹ để báo hiếu song thân những ngày cuối đời. nhưng quan Thượng Thư Bộ Hình cười bảo, thai nhi đang ở trong bụng tôi là con của Thiên Tử đâu phải là con của thường dân! Triều đình đã có phương án tối ưu, hiện tại tạm đưa mẹ con đến một nơi… sau khi tôi sinh hạ, mẹ con sẽ được đón về Kinh chăm sóc và ưu đãi đặc biệt. Hài nhi này, nếu là con trai mai sau lớn lên là niềm tự hào chung của nòi giống Tiên Rồng; rất có thể, nó sẽ lên ngôi báu, trị vì đất nước Lạc Hồng!

Sau một ngày dài ngồi xe song mã mui che bịt kín, đúng vào lúc nửa đêm mù mịt tăm tối, gió mưa tầm tã, họ đưa tôi đến một ngôi nhà vùng rừng núi phía Tây.

Cửa nhà mở. Vợ chồng viên quan Tri Châu kinh ngạc lạ lùng khi thấy chúng tôi bước vào. Quan Thượng Thư Bộ Hình, quan Thái Giám không để cho sự lạ lùng, bỡ ngỡ kéo dài. Họ báo cho chủ nhà biết rằng từ giờ phút này trở đi, ông bà chủ được vinh dự đón nhận người đàn bà này làm thượng khách tá túc ở trong nhà. Triều đình và Bộ Hình giao nhiệm vụ cho các ngươi, quan Thượng Thư nói, được hầu hạ chăm sóc người đàn bà này cho đến kỳ sinh nở mẹ tròn con vuông. Trong thời gian Thị còn ở đây, gia đình tuyệt mật giữ kín không cho ai biết. Con cháu trong nhà mồm miệng mà bép xép, để lộ ra ngoài, gây chuyện xôn xao bàn tán trong dân thì… liệu mà giữ lấy cái đầu! Quan giơ tay làm điệu, ra hiệu xử chém! Hoàn thành nhiệm vụ của Thượng cấp giao cho, các ngươi sẽ được Triều đình ghi công và trọng thưởng!

Cất giấu cây kim trong bị dù sao vẫn dễ làm hơn là tàng chứa một người đàn bà lạ mang thai trong nhà mình. Vậy mà vợ chồng viên quan lại địa phương và gia đình đã ra sức phấn đấu, hoàn thành xuất sắc công việc đó.

Ngay trong đêm ấy, tôi được đưa vào riêng một buồng kín. Hai hôm sau, họ chuyển tôi tới một căn lều nhỏ, giữa vườn đồi có rào ngăn, không lối người qua lại. Khu vườn này nằm trong điền trang của họ nên ngoài vợ chồng và cô con gái lui tới, may chăng chỉ có những con ong lạc lối bay, tìm hoa hút mật mới lọt vào được.

Các ân nhân của tôi đối xử với tôi rất tốt. Ngoài nhiệm vụ Triều đình giao mà họ phải thi hành một cách cẩn mật chu toàn, là mối tình thân thương ruột thịt bà con họ dành cho tôi. Coi tôi như người gặp nạn, mặc dầu cố giấu tình cảm đó, tôi vẫn nhận ra được từ ánh mắt nụ cười của họ. Hình như họ linh cảm rằng, người đàn bà hồng nhan bạc mệnh này, Trời chẳng để cho sống trên trần thế được bao lâu nữa; Tử thần nay mai sẽ đến cắt hái nốt những ngày xuân cuối cùng mang về Bên Ấy… họ không tiếc một cái gì hết để tôi được sống những ngày bình an vui vẻ!

Đúng 9 tháng có dư mấy ngày, đứa con của Hoàng Thượng ra đời! Nó là con trai! Mọi người mừng vui đến rơi lệ. Vậy mà lòng tôi vẫn đầy lo sợ. Tại sao nó không là con gái? Không có ai đến làm chứng, nhận mặt cho nó cả? Ôi đứa con Thiên Tử, con đầu lòng của tôi!…

Rồi mùa Thu tháng Tám nữa lại trôi qua. Tôi chờ.

Cuộc sống mẹ con tôi lâu ngày ở trong khuôn viên của quan Tri Châu cũng trở nên bình dị tự nhiên. Chẳng còn ai nhìn chúng tôi bằng con mắt dò la nghi vấn nữa. Một số người dân trong vùng cũng tới làm quen chơi thân với chúng tôi. Sữa tôi không nhiều, lắm hôm con trai tôi phải đi bú thêm, bú chui sữa bầu của mấy cô mấy bà trong vùng. Trong con mắt họ con tôi cũng giống như mọi đứa trẻ làng quê, chẳng có gì khác để phân biệt cả. Tôi cầu mong lâu dài được như vậy.

Có lúc tôi đã nghĩ đến chuyện hay là mình bế con tìm đường về nhà cha mẹ đẻ. Ôi hạnh phúc xiết bao! Nhưng biết tìm đường nào mà lần về, hỏi ra thì xa cả ngàn dặm; mẹ con cô độc ngu dại làm sao vượt qua được cạm bẫy hiểm nghèo bủa giăng khắp nơi khắp chốn? Làm thế khác nào mình chống lại Triều đình, phạm tội khi quân? Nghĩ vậy mà giật mình, ớn lạnh toàn thân. Thôi đành vậy, cứ nương nhờ núp bóng gia đình quan Tri Châu ở đây, chờ đợi tháng ngày.

Chắc người ta quên hẳn mẹ con tôi rồi. Càng hay. Trong cái họa vậy là đã có cái phúc chăng?

Một hôm tôi ra suối giặt giũ quần áo về thấy có cỗ xe song mã đỗ ngay trước sân. Tôi giật mình run sợ đến nỗi xuýt làm rớt đồ giặt xuống đất, chân run run chẳng dám bước vào nhà.

Quan Thượng Thư Bộ Hình và quan Thái Giám vừa mới tới, theo sau còn có hai người lính cưỡi ngựa đi kèm. Họ ở lại một đêm, sáng mai sẽ hộ tống mẹ con tôi về Kinh.

Theo lời quan Thượng Thư nói với quan Tri Châu (người ta đâu thèm hạ cố tới tôi), Hoàng Thượng đã biết tất cả, ghi nhớ mọi chuyện, rất quan tâm tới mẹ con tôi; nhưng vì việc dân việc nước bộn bề, Thiên Triều luôn dòm ngó, ngoại bang gây chiến xâm lăng toàn cõi, Đấng Minh Quân chẳng còn phút giây nào rảnh rang để có thể đến với mẹ con tôi… Nay Triều đình thừa lệnh Đức Vua, sai các quan đến đón ái phi và hoàng tử về Kinh.

Sáng hôm sau mẹ con tôi từ giã gia đình quan Tri Châu. Trước lúc lên đường tôi nói với ông bà và cô con gái:
“Hai năm trời chung sống, bao kỷ niệm buồn vui, bây giờ đây biết lấy gì để đền ơn cưu mang nuôi dưỡng của ông bà và gia đình ta? Chỉ còn dòng lệ tuôn ướt má thấm khăn chứng cho lòng thành này buổi biệt ly! Mai sau thể phách dẫu mất đi, tinh anh này còn trở về theo ngọn gió xuân run rẩy trên cành đào kia, lẫn vào khói hương tan, nguyện cầu phù hộ cho gia đình ta luôn được an vui hạnh phúc. Vĩnh biệt!”

Cỗ xe và hai kỵ mã chạy tròn một ngày đường. Chiều tối, họ đưa mẹ con tôi vào một huyện đường. Đường về Kinh Đô còn theo lối nào, cách bao nhiêu dặm xa? Quan Tri Huyện sở tại người béo mập, tuổi ngoài bốn mươi, nói giọng miền Trung. Cúi rạp người trước các thượng quan, tay xoa xoa khúm núm, y nhìn tôi cười nụ vừa tinh quái vừa dâm dê. Thì cũng khác gì đâu các đấng bề trên của y? Bè lũ quân tử mọt dân thời bây giờ nhung nhúc, ở đâu mà chẳng có. Gặp mặt chúng ai người ta cũng sợ, liệu hồn mau mau tìm cách tránh cho xa!
Bữa đại tiệc Tri Huyện sở tại chiêu đãi các thượng quan hình như đã được chuẩn bị từ trước. Chỉ riêng món óc khỉ là phải làm ngay trong tiệc rượu. Người ta trói một con khỉ vàng trước công đường, đập mấy chày vào đầu cho vỡ toác ra rồi nạo khoét lấy óc đem chưng cách thủy với mười vị thuốc bắc…

Quan Tri Huyện mời tôi dùng thử. Tôi rùng mình, từ chối. Tự nhiên linh cảm biết đâu thân phận mình rồi cũng giống như con vật khốn khổ kia? Máu con khỉ cũng được lấy ra bát, hòa với rượu thuốc dâng lên các quan. Từ chối mọi thứ cũng không tiện, tôi đành phải chấp nhận uống một thứ khác, ly sâm nhung nhỏ họ dành riêng cho tôi… Mấy năm ở vùng sơn cước, thỉnh thoảng tôi cũng uống rượu cần với gia đình quan Tri Châu. Uống rượu cần vào thấy trong người êm ái dễ chịu…

Ngoài trời đêm lúc bấy giờ đang mưa phùn, gió bấc.

Đến giờ đi ngủ, mẹ con tôi được đưa vào một buồng riêng. Buồng này là phòng ngủ đặc biệt dành cho các thượng quan có dịp đi công tác trên đường ghé lại, bây giờ để quý phi và hoàng tử tạm qua đêm.

Sau một ngày đường ngồi xe song mã, vừa đặt lưng xuống giường mẹ con tôi đã lăn ra thiếp ngủ. Tôi mường tượng hình như mình chưa gài cửa, muốn ngồi dậy bước ra, gạt kéo ngang chốt lại… Nhưng chín phần hồn, bảy phần xác tôi đã chìm vào Cõi Âm; chỉ còn biết ôm lấy con trong cánh tay mệt mỏi. Và cánh tay cũng như cành cây nào đang dần dần rã xuống, lìa khỏi thân xác…

Tôi mơ thấy mình trở về nhà cha mẹ ở quê hương.

Làng tôi sao bây giờ khác quá, không còn dấu vết gì của thôn dã nữa. Đường sá ngập tràn ngựa xe qua lại, dân chúng ăn mặc như ở chốn kinh kỳ. Nhưng ngôi nhà thân yêu nơi tôi sinh ra vẫn y nguyên như vậy. Vẫn ba gian gỗ, mái lợp cọ, ngoài hiên lát mấy hàng gạch và cái sân đất nện có rải sỏi ven lối đi…

Bế ẵm con suốt cả một ngày đường, hai tay mỏi rời, tới cổng nhà, tôi thả con xuống để nó chập chững đi vào, cốt làm sao cho ông bà ngoại phải ngỡ ngàng ngạc nhiên.

Kìa! Từ trong nhà cha mẹ tôi đang lật đật vội vã bước ra đón con cháu. Cha mẹ ơi! Chúng con đã về đây! Con đúng là đứa con vô phúc bất hiếu với cha.

Tôi kêu to. Tôi reo lên. Mẹ cha tôi đây rồi! Hình dong mặt mũi vẫn như ngày nào, có gì đổi thay đâu! Tôi nhìn song thân. Ông bà nhìn tôi. Những gương mặt nhoà đi sau màn mưa lệ. Tôi cúi xuống bảo con: “Con ơi! Chắp hai tay lại, cúi chào lạy tạ ông bà ngoại đi! Con ngoan lắm. Đúng là con cháu của ông bà, dòng họ ta. Hoàng tử của mẹ ơi, mai mốt con có ngồi trên ngai vàng trị vì muôn dân, thì cả giang sơn, gấm vóc, cung đình vàng son cũng không bằng ba gian nhà gỗ mái lợp cọ này đâu! Ngồi ngự trên ngai vàng cũng không bằng ngồi vào lòng ông bà ngoại, những người đã sinh ra mẹ con! Mẹ con mình sẵn sàng đánh đổi tất cả! Con có đồng ý như thế không?”

Con trai tôi gật đầu. “Mẹ ơi, thằng bé bập bẹ nói, con chẳng thích làm hoàng tử đâu! Con chỉ muốn làm con của mẹ, cháu của ông bà. Làm hoàng tử chán lắm. Không được bốc đất, đi chơi, bắt chuồn chuồn, ăn khoai luộc với cà”…

Nghe con nói mà mát mẻ gan ruột, nở nang mặt mày. “Mẹ ạ, con trai tôi lại tiếp lời, con cũng chẳng thích làm Vua. Làm Vua ở nước ta cực nhục lắm. Thiên triều kè kè sát nách, nhất cử nhất động của mình đều không qua khỏi con mắt ác thú của họ. Mấy ngàn năm qua, bao giờ họ cũng xem mình như tôi tớ, là cái đuôi ngoe nguẩy theo họ. Đến như Hoàng Thượng cha của con cũng vậy thôi. Đã được họ tấn phong cho phép ngồi trên ngai vàng rồi, vẫn phải cúi đầu ăn theo, nói theo, làm theo Thiên triều đến nỗi đầu óc u mê tăm tối đâm ra lừa người, dối dân! Mẹ coi, cứ mỗi lần được bệ kiến Hoàng Đế của họ là cha con ôm ghì lấy, mồm ngoạm vào má, môi mút chùn chụt, hút hít hơi thở Rồng Bắc Phương để rồi trở về An Nam quốc lại tuân lệnh làm những việc bất nhân, thất đức, đổ máu oan bao người vô tội! Không! Con chẳng thích làm vua đâu!”

Tôi ngạc nhiên sửng sốt. Ồ con tôi học nói tự bao giờ, ai bày cho con phát ngôn những điều kỳ lạ đó? Thảo nào quan Tri Châu có lần nhìn ngắm con trai tôi, tắm tắc gật đầu khen: Đúng là giống nòi Thiên Tử! Rồi quỳ rạp xuống chân con mà lạy.

Nhưng, ơ kìa, sao song thân tôi cứ đứng giữa sân nhìn tôi trân trân như người lạ từ đâu tới?

Bỗng dưng cha tôi lắc đầu thiểu não nói: “Con ơi, sao tóc trên đầu con bạc trắng hết cả thế kia?”

Tôi đưa tay lên sờ đầu, ngơ ngác: Đâu?

Mẹ tôi cũng giơ tay chỉ lên đầu tôi nói: “Chẳng còn sợi nào đen nữa, trắng xóa hết. Thử nhìn vào gương mà xem!”

Tôi nhìn vào tấm gương ai đó treo ngay trước mặt mình mà phát hoảng. Đúng là đầu tóc tôi trắng xóa, khuôn mặt chẳng hiểu sao bẹp nát ra như trái lê rớt xuống đất vừa bị ai giẫm xéo lên.

Vội cúi xuống nhìn con thì trời ơi, lạ lùng chưa, toàn thân nó bỗng chốc nhỏ dần, nhỏ dần rồi hoá thành một con chim trắng. Tay chưa kịp giơ ra nắm bắt lấy con thì nó… con chim gì chẳng rõ, đã đập cánh bay lên, vượt qua mái nhà, chấp chới trên ngọn cây, tít tắp theo đám mây trắng trên bầu trời rồi mất biến.

Cứu tôi với! Cứu con tôi với! Làng nước ơi!

Tôi thét lên, loạng choạng ngã xuống, nằm lăn ra trước sân nhà.
Đúng vào lúc ấy bừng con mắt dậy, tôi biết mình nằm mơ.

Ngoài trời… Mưa. Gió. Bàn tay gió luồn vào buồng đang mở ra rồi khép lại cánh cửa? Hình như có ai bước vào? Nhìn sang bên chẳng thấy con tôi đâu, tôi giật mình sờ soạng; định ngồi dậy xem nó còn ở trên giường không hay lăn lóc dưới nền nhà? Nhưng chưa kịp ngồi dậy thì một tấm chăn, rồi cả khối thịt người trùm lên đè xuống. Tôi hét lên. Tấm chăn đã phủ kín mặt, bàn tay đã bịt đè kín miệng. Tôi ú ớ. Cố vùng ra. Tôi cắn vào tay ai đó, cắn cả vào cái má nung núc thịt, cái cằm bạnh lởm chởm râu… Chỉ mình hắn thôi hay còn ai đó nữa nhét đầy vào mồm tôi chiếc khăn, ấn sâu vào; rồi cởi áo, tuột váy tôi ra khỏi thân xác… Bất lực và yếu đuối. Chẳng còn thiết sống nữa nhưng không thể chết ngay được. Mình đâu có bằng một con vật. Nếu có kiếp sau xin đừng để chúng sinh này phải hóa thành người!

Ác mộng trong ác mộng! Ác mộng tiếp liền ác mộng! 




…Mở mắt ra tôi thấy mình đang nằm trên một manh chiếu rách có lót rơm rạ ở dưới. Trời rét buốt. Ánh lửa cháy gần bên góc nhà làm tôi mường tượng ra một cái bếp đun củi. Tôi đang ở đâu thế này? Con ơi! Con đâu rồi? Mẹ đây… Nghe tiếng tôi ú ớ, hai người ngồi bên bếp lửa vội vàng đứng dậy, bước tới. Nhìn thấy người, tôi kinh hoàng những muốn thét lên. Chắc con người lại định giết tôi một lần nữa. Còn con tôi, họ đã giết nó hay bắt nó đưa đi đâu rồi? Nhưng không, hai khuôn mặt người đang cúi nhìn tôi kia lại có dáng vẻ khác hẳn. Già nua, tiều tụy, đói khát, sạm nắng gió, nhăn nheo, nứt nẻ đất ruộng. Và giọng nói vừa phát ra khàn đục, ốm đau… Xem chừng cũng khổ ải, xót xa, chân thiệt như bà con làng quê tôi. Họ vừa cứu sống chứ không phải giết tôi đâu. Nhưng còn con tôi, ai đã giết nó, bắt nó đi đâu rồi? Ối, con ơi!

Tôi lại ngất đi trong cơn mê sảng…

Đến chiều tối tôi mới mở được mắt ra. Sau khi nuốt mấy thìa cháo loãng ông bà già bón vào miệng, dần dần hồi tỉnh, giương cặp mắt ráo khô nhức như kim châm nhìn ân nhân, tôi nghe họ kể lại đầu đuôi câu chuyện.

Chiều hôm kia, ông già cùng mấy người hàng xóm đi đào củ nâu trong rừng về. Họ bắt gặp tôi đang nằm trong bụi lau sậy ngay lối rẽ đi xuống đường cái quan. Lúc đầu họ đâu có chú ý mà cũng không nhận ra. Đi qua rồi, ông già chợt nghe và nhớ hình như có tiếng ai rên rỉ ú ớ, mới lấy làm lạ bảo mấy người kia quay trở lại. Tôi đang nằm sấp, hai tay bị trói trật cánh khuỷu sau lưng, mồm ngậm khăn, quần áo bị xé toạc, ngực và mặt xây xát máu, tay chân bầm tím, kiến nhọt đầy người…

Cởi trói xong, khiêng vác về nhà, tìm thuốc lá đắp vào vết thương… họ chẳng biết tôi là ai, từ đâu tới? Mấy ngày sau, dẫu óc não gần như điên loạn, tôi vẫn còn chút ít tỉnh táo để giấu kín tên tuổi và kể cho họ nghe những tai ương bất hạnh của mình theo chiều hướng dễ hiểu, thuận tai hơn.

Tôi ở lại nhà ấy 3 tháng 14 ngày… Nhà có hai con trai đều chết trận cả hai. Ông bà coi tôi như con và tin rằng Trời, Phật sai tôi xuống trần gian để an ủi, chăm sóc tuổi già của họ.

Lẽ ra tôi đã nên chấp thuận làm con của một gia đình cùng khốn; dẫu bị nhấn chìm dưới vực thẳm đói khổ, nhưng được lũ ma quỷ vương triều quên đi, xóa gạch tên tuổi cung nữ phi tần bất hạnh tai ương này khỏi bộ nhớ độc địa dai dẳng của chúng, mà kinh tởm nhất là quan Thượng Thư Bộ Hình, kẻ đã nhiều lần hãm hiếp tôi… Nhưng ước muốn được trở về làng quê với cha mẹ già cứ luôn canh cánh bên lòng, hơn nữa tôi còn phải tìm con trai tôi… Một người mẹ sinh con ra mà để người ta cướp mất con đi, thì bất luận thế nào, cũng không còn được gọi là mẹ nữa! Một kẻ có tội! Một người mang tội lớn!

Lạ thật, lúc tỉnh khi mơ, bất chợt ở trong nhà ngoài đường, tự nhiên tôi nghe tiếng con tôi: “Mẹ ơi! Con đây…” Rõ ràng tiếng con tôi. Thế là, tim tôi dừng lại, sững sờ rồi oà lên gào thét: “Con ơi! Mẹ đây… Con của mẹ ơi! Con đang ở đâu?”

Nghe mấy bà trong xóm nói ở làng Bái Long gần hồ Cổ Mã, ngay đầu đường vào chùa Thiền Tâm có một ông thầy coi số rất hay. Mấy lần tôi đã định đến tìm Thầy…

Sáng ngày 11 tháng 2 năm Đinh Dậu, chẳng hiểu sao trong người thấy nôn nao. Ngủ dậy vừa mở cửa không rõ cánh chim hay cánh dơi đen thui từ ngoài trời vụt bay vào, loạng choạng va vào cây cột, rơi bịch xuống nền nhà… Mắt mình chưa kịp nhận dạng nó đã gượng dậy, đập cánh bay ra khỏi cửa…

Thấy tôi cắp nón sắp bước ra sân, ông bà hỏi ngay: Con đi đâu? Tôi thưa rằng con đi đây có chút việc. Họ nói, hôm nay “dương công kỵ nhật”, một trong mười ba ngày xấu của năm, đi đâu nhớ phải cẩn thận… Đắn đo giây lát nhưng cái lòng đã định rồi, tôi phải đi tìm Thầy, xin Thầy chỉ cho biết con tôi hiện nay ở đâu? Thế là tôi ra đi…

Bước chân như có ma đưa quỷ dẫn, ra khỏi nhà rồi là không thể nào dừng, chẳng còn cách gì quay trở về được nữa! Cơn gió lốc nổi lên. Gót chân nhẹ tênh, thoăn thoắt chẳng mấy chốc đã ra tới đường cái. Hồ Cổ Mã kia! Con đường theo lối rẽ tới chùa Thiền Tâm đó! Nghe nói nhà Thầy núp bóng dưới cây thị, hỏi bà con quanh đó chắc dễ tìm ra. Thầy ơi! Cái số con là cái số khốn số nạn! Có hai con mắt sáng sờ sờ mà rồi chẳng tìm thấy con đẻ của mình ở đâu. Còn Thầy, hai mắt tuy mù nhưng lại xuyên thấu cả màn đêm, chiếu rọi cả sáu cõi tâm linh… Kính xin Thầy chỉ cho con nơi chốn bọn ác quỷ vương triều cất giấu thằng bé ở đâu? Con cắn rơm, cắn cỏ… lạy Thầy!

Bỗng nhiên trước mắt tôi nổi lên một trận cuồng phong, ù ù cuộn tung đám bụi mù. Cơn lốc này dữ dội, khủng khiếp đến nỗi mấy người đang đi lại trên đường phải chạy rạt, đứng nép, run rẩy như những chiếc lá khô sắp bứt ra khỏi cành. Cỗ xe nào đang lao tới? Định thần lại, tôi cố hình dung ra xem có phải cỗ xe song mã ngày nào đã chở mẹ con tôi đi? Không phải! Đây là cỗ xe tứ mã. Những bốn con ngựa kéo! Cỗ xe này chẳng phải từ Thiên đình xuống, nó vừa mới từ Địa ngục lên.

Cỗ xe lao tới trước tôi rồi dừng lại. Tôi hét lên, định quay lui tháo chạy. Không kịp nữa rồi! Từ trên xe hai con quỷ vận toàn đồ đen, trùm kín mặt, nhảy xuống… Chúng ôm ngang lấy người tôi, vật ngửa ra; con cầm hai tay, con nắm đôi chân… và mau lẹ đến nỗi tôi chưa kịp nhìn, đã thấy mình bị tung lên, ném gọn vào trong xe rồi.

Cỗ xe lại rùng rùng chuyển bánh. Giải băng đen bịt mắt, buộc quấn quanh đầu chặt đến nỗi tôi tưởng hai con ngươi mình bật máu.

Xe dừng. Bọn quỷ lại xốc ôm tôi xuống, đưa tôi vào một căn nhà. Tôi biết là căn nhà bởi có tiếng chân ghế kéo lui xịch tới trên nền nhà. Chúng ấn tôi ngồi xuống trên một cái ghế đẩu không có chỗ dựa. Tôi loạng choạng. Chưa kịp lấy lại cân bằng, con quỷ đứng trước đã giữ lấy hai vai tôi để tôi khỏi ngã và lựa thế cho con quỷ đứng sau choàng tấm chăn đen trùm kín xuống đầu tôi. Tôi hét lên: “Cứu mẹ với, con ơi, cứu mẹ với!”. Dẫu chỉ còn là tiếng ú ớ từ trong chăn trùm kín, bọn quỷ hình như nghe thấy. Tôi đoán vậy, vì chúng dừng lại... Một con cười khẽ. Con kia nói nhỏ. Rồi chúng đưa đẩy, chuyền tay nhau vật gì đó. Tôi lại cố lần nữa hét lên: “Con ơi, cứu mẹ với! Con ơi! Con có nghe lời mẹ không?”. Tiếng kêu của người mẹ từ Địa ngục vọng về chắc con mình phải nghe thấy? Tôi tin như thế. Và kìa, tiếng con tôi, đúng tiếng con trai tôi, không thể lầm lẫn vào đâu được, vọng lên bên tai: “Có! Có! Mẹ ơi! Con đây!… Con nghe rõ lời mẹ…”

Một nhát búa từ phía sau bổ xuống, qua đầu, trượt xuống vai. “Con ơi!”… Tôi còn muốn kêu lên. Nhưng nhát búa thứ hai từ phía trước, tiếp liền, đã bổ xuống chính giữa đầu tôi.

Địa cầu vỡ đôi. Vũ trụ nổ tung. Máu và óc phọt văng, tung toé…

Từ Bên Ấy tôi sang tới Bên Này. Câu chuyện đời tôi là vậy.

Người cung nữ từ từ đứng dậy. Nàng ý tứ kéo váy lên để khỏi vướng chân, khẽ rùng mình.

- Tôi phải đi đây.

Hai chị em cũng đứng dậy.

- Tạ ơn các chị! Ngàn lần tạ ơn! Nhờ các chị mà tôi phục hồi được trí nhớ. Lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tôi kể chuyện này… Thôi xin phép, tôi đi…

Hai chị em cùng chắp tay lại, ấp úng:

- Bạn ơi! Có lẽ nào…

Người cung nữ cúi đầu, cắn môi. Ngẩng đầu lên nàng cười chúm chím, giơ ngón tay trỏ chỉ vào họ.

- Ơ? Cái vòng tròn sáng đang bao quanh đầu các chị kìa! Có thấy không?

Hai chị em ngơ ngác nhìn nhau, chẳng hiểu nàng nói gì.

- Vòng tròn sáng mờ mờ, chốc chốc lại lấp lánh - Nàng lại giơ tay chỉ - Các chị sắp… hạnh phúc, sung sướng!

Chúc mừng nhé… Thôi, tôi đi.

Vừa dứt lời, cung nữ đã vội bước. Trong thoáng chốc nàng trở lại nguyên hình đuốc lửa đỏ, hình như có xanh hơn, rồi nhỏ dần, nhỏ dần chỉ còn một đốm lửa…

“Con ơi! Con ở đâu rồi? Mẹ của con đây… ”

Tiếng nàng vọng lại cũng nhỏ dần, nhỏ dần.

Tắt.

CHƯƠNG 5
CHIỀU THỜI GIAN - THINK DIFFERENT!
HÃY NGHĨ KHÁC ĐI!

Lệ Uyên hỏi Thùy Dương:

- Này em, thử nhìn chị một tí xem chị thế nào?

Thùy Dương sững lại:

- Ơ! Chị… chị làm sao thế?

- Không biết nữa.

- Ừ nhỉ! Em cũng vậy.

Cả hai cùng cười. Nghe như hai giọt sương. Hai giọt trăng. Cùng rơi.

- Ồ lạ thật. Em có nhớ những gì về mình không?

- Không.

- Thế chị có biết những gì về mình không?

- Không.

Im lặng. Bỗng nhiên họ nghe tiếng ai đó vọng lên:

“Đời là sân khấu của những tấn bi hài kịch. Bốn ngàn năm lịch sử, cái người đóng kịch tài ba điệu nghệ nhất là ai các con có biết không? Nó kia kìa! Các con không thấy sao? Khi phải cười, nó cười; lúc cần khóc, nó khóc. Cứ y như thật. Và sân khấu ngập tràn máu, nước mắt. Nó là người, chỉ là người thôi. Vậy mà ma xui quỷ khiến thế nào, ai cũng coi nó là Chí Thần, Chí Thánh? Các con chẳng nhớ sao? Nỗi nhớ nào cũng ẩn chứa một niềm đau. Tất cả rồi sẽ qua đi và chìm vào quên lãng. Cũng có thể đó là điều may mắn cho chúng ta chăng?…”

Ai vừa nói gì thế nhỉ?

- Chị có nhớ chúng mình mới từ đâu tới không?

- Không.
- Còn ngọn lửa… đốm sáng ấy đâu rồi?

- Đốm sáng nào? Chẳng rõ…

- Kìa!

Trước mắt họ hiện ra những đốm sáng đang chuyển dịch về mọi phía. Một vài đốm sáng đi về phía họ. Đúng vào lúc hai chị em chập chờn nhận ra những hình người, vẻ mặt dường như đã gặp ở đâu đó một lần thì những cây đuốc người ấy lại đột ngột rẽ ngoặt vào một lối khác.

Hai chị em nắm tay nhau, cùng muốn đi tới, nhưng chẳng hiểu sao cảm thấy hình như đang đi ngược chiều lại phía sau. Thoạt tiên họ tưởng mình quay lưng, giật lùi? Đâu có! Rõ ràng họ đang đi ngược chiều thời gian. Cảm giác thật buồn cười nhưng thú vị, không khỏi làm họ bồn chồn. Thùy Dương nhận ra sự biến dạng kỳ lạ ở bà chị mình: vẫn là Lệ Uyên, nhưng Lệ Uyên này mới mười chín đôi mươi. Lệ Uyên cũng bất chợt nhận ra sự chuyển đổi của cô em: một Thùy Dương ở độ tuổi mười lăm…

Không có cái gương nào ở trước mắt để cho họ soi; đành vậy, người này chỉ có thể nhận ra người kia thôi. Tuy nhiên, cả hai cùng ý thức được một điều kỳ lạ là, ở Bên Ấy con người ta sống để rồi già đi, còn ở Bên Này, con người vẫn giữ nguyên hình dáng cũ hoặc có thể còn trẻ lại nữa!

Đột nhiên những đuốc lửa người hồi nãy vừa biến đi, bây giờ lại hiện ra. Họ hướng về phía hai chị em mà tiến tới. Lệ Uyên hoảng sợ ôm lấy Thùy Dương.

- Chị làm sao thế? - Thùy Dương khẽ gỡ tay Lệ Uyên ra - Họ cũng như chúng ta đây thôi, có khác gì đâu!

- Chị sợ quá, em ơi!

- Thì họ nhìn chúng ta chắc cũng như chúng ta nhìn họ. Chị tưởng chúng ta khác với họ lắm sao? Vớ vẩn!

Những đuốc người đến cách hai chị em chừng dăm chục bước chân rồi dừng lại. Cánh lửa rụng rơi lả tả quanh mình để hiện dần những thân người nguyên vẹn cả hình thể, vóc dáng từ đỉnh đầu tới gót chân. Ôi! Những con người, bà con anh em của chúng ta! Họ đang nhìn hai chị em bằng ánh mắt buồn nhớ và đau khổ. Nét mặt ai cũng hiền lành, tiều tụy, nhẫn nhục. Không thấy ai nở nụ cười trên môi. Cái thời cấm không cho ăn, cấm chẳng cho nói mà! Những con người tội nghiệp kia dẫu có lúc phải tính toán mưu toan, nhưng sự yếu đuối mệt mỏi đã nhận chìm, nhường chỗ cho vẻ chân quê, thực thà đến đau lòng.

Cũng có những người chẳng hiểu sao cúi đầu xuống, trông rất quen, như cố giấu khuôn mặt mình, tách ra khỏi đám đông, lặng lẽ đi lùi về phía sau?

Lệ Uyên nhìn theo những người này, cảm thấy hình như họ có mối liên hệ gì đây với mình. Ô kìa! Có lẽ nào...?

Có phải cái ông Đơ - Bí thư chi bộ xã kia, hồi ấy đã phê bậy bạ vào tờ khai lý lịch của con bé Mai Lệ Uyên, là gia đình địa chủ phản động có nợ máu với cách mạng, cấm cửa không cho vào đại học?

Có phải anh chàng Tốn, giáo viên cấp hai xứ Nghệ, học cùng khoá Sư phạm Vinh, Bí thư chi bộ lớp, đã tấn công, ngỏ lời yêu cô sinh viên Lý năm thứ nhất Mai Lệ Uyên nhưng không được cô này đồng ý chấp thuận…

Để trả thù, đồng chí Tốn lớp trưởng đã gửi thư về địa phương cô, trình bày hạnh kiểm, báo cáo tác phong tư tưởng Mai Lệ Uyên có vấn đề chính trị nghiêm trọng, đến nỗi quê hương Thanh Hoá anh hùng, một lần nữa lại gửi công văn vào bắt buộc Phòng Tổ chức, khẩn thiết yêu cầu Ban Giám hiệu Sư phạm Vinh phải mời Lệ Uyên ra khỏi trường, trở về quê tiếp tục lao động cải tạo!...

Cả hai con người khốn nạn, chẳng mấy may mắn đó mới vừa cháy lên trong bộ nhớ của Lệ Uyên đã lụi dần. Còn những hình nhân bí hiểm kia nữa, chị đang cố nhận ra, cũng rã dần, chỉ còn là những đốm lửa rồi tắt biến…

Bỗng nhiên, Thùy Dương cuống quít, kêu to:

- Anh Tiến!

Người ả vừa gọi là anh Tiến đó hiện nguyên hình trong bộ quân phục Trường Sơn, lính Cụ Hồ, binh chủng đặc công, mặt mày còn lem luốc đất cát và khói bom; một vệt máu chảy từ thái dương xuống cằm…

- Anh Tiến! Anh ruột của em… Anh Tiến ơi! Em, Dương đây…

Tiến sững lại, nhìn bất động, nghe tiếng ai gọi như từ xa lắm, nỗi buồn đau thương nhớ lan toả trên khuôn mặt gầy, hỏm hóp, già trước tuổi hai mươi, đang hoá dần thành đá tượng đài… Anh lính Giải phóng ngẩng đầu lên như kiểu “Rõ! Có tôi!”, rồi trở về vị trí, hoà vào hàng ngũ bước đi.




- Anh Tuấn! Anh Tuấn!

Thùy Dương lại bắc loa tay, kêu lên:

- Anh Tuấn! Người yêu… Mối tình đầu của em… - Thùy Dương lắp bắp - Chị Uyên ơi! Dạo đó, 1967, Tuấn đang là sinh viên Thủy lợi năm thứ tư. Cái đêm hôm ấy… trước ngày lên đường vào B, em đã tình nguyện hiến dâng tất cả cho Tuấn. Nói ra chị đừng cười, em đã giải toả hết quần áo trên người, ghì riết anh ấy vào lòng như thế này này… Vậy mà Tuấn vẫn không dám, co rụt người lại, cứ một hai rằng đừng đừng… Ý anh ấy là muốn cho Thùy Dương trinh trắng, trọn vẹn kẻo sợ sau này làm khổ em. Tội nghiệp! Một khối linh hồn nhân đạo, trong sáng! Ôi! Cái thời ấy, sao con người ta họ đạo đức, nghiêm túc, cao cả đến thế hả chị?

Người có tên gọi là Tuấn đó, cũng như Tiến, là lính Cụ Hồ, nhưng vóc dáng có vẻ thư sinh hơn. Đầu đội mũ tai bèo, khuôn mặt Tuấn tròn bầu, đôi mắt hồn nhiên ngây thơ đến nỗi tưởng đâu anh chàng này còn ở tuổi “tiến lên đoàn viên theo Đảng tiền phong”. Vệt máu dài từ cổ chảy xuống ngực trông như đuôi khăn quàng đỏ…

Tuấn dừng lại, vẻ sửng sốt. Nét mặt của cậu học trò bị thầy giáo bắt quả tang vì một trò nghịch ngợm trong lớp, ngây thơ sợ sệt khiến người đứng ngoài lớp nhìn vào thấy thương thương lạ! Có thể con người này còn trong trắng hơn thế. Anh chàng sống theo kỷ luật, tổ chức, phơi phới lý tưởng Cộng sản, không dám ăn Trái cấm, giữ nguyên vẹn khối linh hồn trong trắng để vác súng đi vào cuộc chiến đấu giải phóng Miền Nam…

Tuấn đâu có hay rằng Trái cấm của chàng hai mươi năm sau, cái đám người ngợm thời Đổi mới Kinh tế thị trường đã thay nhau đớp ngoạm, cắn xé điên dại hả hê…

Anh lính Giải Phóng hơi rướn người lên, giơ cao mũ tai bèo khoát khoát như chào tạm biệt, tiếp tục bước, miệng vẫn vang ca: Trường Sơn ơi! Trên đường ta đi không một dấu chân người… Có chú nai vàng đang nghiêng tai ngơ ngác… Rồi cũng mất biến.

Thùy Dương ngây đờ người ra. Đau khổ và hờn giận. Ả có ngờ đâu gặp lại người thân ở Bên Này thật khác xa với trí tưởng tượng của ả và anh chồng ngạo ngược hồi còn Bên Ấy.

- Chị ạ. Em mong gặp lại thầy em quá!

- Chị cũng vậy.
Thùy Dương có lúc cũng gọi cha mình là Thầy làm cho Lệ Uyên thấy gần gũi và xúc động. Hoá ra hai miền quê Thanh - Nghệ có những tập tục giống nhau.

- Em cảm thấy hai Cụ hình như ở gần đâu đây?

- Hay là ta cứ ngồi chờ…

- Không! Phải đi chị ạ. Đi thì may ra mới tìm gặp được. Em nóng ruột, sôi gan rồi!

Trên đường từ Đồng Trâu tới nhà họ vẫn đi về với tốc độ tâm linh. Bây giờ họ trôi về quá khứ với tốc độ cổ điển chậm rãi hơn, mắt người thường ở Bên Ấy có thể dõi theo được như nhìn thấy một vệ tinh nhân tạo trên bầu trời sao những đêm ít mây vậy.

Qua Đèo Rù Rì, Đèo Cả, Đèo Hải Vân, Đèo Ngang… họ đã tới rặng Hồng Lĩnh.

Qua Sông Lam. Bước trên mặt sông, Thùy Dương cúi mình lấy tay vốc nước rửa mặt. Ả còn dùng chân đá nước cho tung bọt sóng lên.

- Hồi nhỏ, tụi em vẫn ra sông này tắm, đùa giỡn té nước vào mặt nhau. Một lần, xuýt chết đuối…

Ả cười trong trẻo, hồn nhiên kể lại bàn chân ả hụt hẫng, mồm ngậm nước, may sao anh Tiến đã lội ra, nắm tay kéo vào… Ghé Nam Đàn, Thùy Dương dừng lại nhìn núi non, đồng ruộng, xóm làng. Ả bưng mặt khóc.

- Bây giờ em mới hiểu - Ả nghẹn ngào, tấm tức - Em mới cảm nhận được vì sao vùng quê em người ta gọi là địa linh nhân kiệt! Nơi đây Đất Mẹ đã hun đúc nên bao con người mang thể chất anh minh, phẩm giá cao cả, ngoại trừ em, đứa con hư hỏng bỏ đi. Ôi nhục nhã xấu xa! Cái con khốn nạn này…

Ả vung tay tát rồi vỗ vào mặt, nỏ khác chi gã nô tài trong phim Tàu tự tay tát vào mặt mình trước Hoàng Thượng để cầu mong được tha tội vậy.

Lệ Uyên đề nghị:

- Chị em mình ghé qua nhà Thùy Dương một chút đi!

Thùy Dương lắc đầu:

- Không! Không! Nhà em làm gì còn ở đó nữa. Nhà cũng chẳng còn mà người thân, bà con hàng xóm bỏ làng đi kiếm sống khắp mọi miền đất nước rồi…

Vòng về Diễn Châu họ ra Thanh Hoá.

Giáo xứ Ba Làng - Tĩnh Gia… Sông Ghép - Quảng Xương. Thị xã Thanh Hoá thấp thoáng…

- Thùy Dương ơi! Em có thấy cái gì kia không?

- Cái gì hở chị?

- Hòn Vọng Phu. Người đàn bà đứng trông chồng hoá đá trên đỉnh núi Nhồi. Ôi chị xúc động quá!

Lệ Uyên nhắc lại chuyện ngày xưa mẹ kể. Một người đàn bà xứ Thanh có chồng bị vua quan bắt đi lính; chiều nào nàng cũng dắt đứa con nhỏ đứng ở đầu núi nhìn ra Biển Đông trông đợi chồng về. Ngoài xa kia, sóng biển lô nhô… Chiều dần tắt. Có vài con thuyền trông như chiếc lá dạt trôi. Người chồng vẫn biệt mù tăm hơi. Chinh chiến triền miên… Biết khi nào chồng nàng mới trở về? Nàng vẫn chờ, vẫn chờ. Nắng dội, mưa tuôn…

Một hôm Trời nhìn xuống thấy nàng mà mủi lòng xót xa. Mưa ngàn xối xả hay dòng lệ nhớ thương chàng nườm nượp tuôn đẫm ướt mình nàng? Và tóc nàng xoã bay rũ rượi hay mây trời trắng xoá? Ôi tấm lòng người thiếu phụ trung trinh, son sắt! Đâu chỉ riêng nàng ở xứ Thanh này, còn bao người vợ trẻ khắp hai miền đang ngóng chờ chồng đi chiến trường trở về. Dẫu không ra đứng ở đầu non họ cũng đang vò võ một mình, đêm ngày khoá chặt cửa nằm trong buồng kín, lấy khăn che mặt hoặc trùm kín chăn nức nở!

Trời quyết định cho nàng thiếu phụ đứng ở đầu non này được hoá đá để làm gương cho tất cả mọi người; trẻ già lớn bé, đàn ông đàn bà… lấy đó mà soi chung. Từ ấy… nàng trở thành tượng đài tự nhiên - Hòn Vọng Phu vời vợi trên đỉnh núi Nhồi.

Ở miền Nam ra, từ ngoài Bắc vào…. Bất cứ ai đi qua đây, dừng lại đường cái quan ngước nhìn lên cũng thấy nàng Vọng Phu trên núi Nhồi xứ Thanh.

Thùy Dương nghe chị Hai kể say sưa… Theo ngón tay chỉ của Lệ Uyên, ả nheo mắt nhìn, gật gật đầu:

- Thật giống như đúc, y chang người đàn bà dắt tay con đứng trông chồng! Người nàng cũng cao ráo, không thấp lùn, mặc áo dài…

- Áo tứ thân đấy em ạ - Lệ Uyên giảng giải - Không phải áo dài dân tộc, thời trang mô đen bây giờ đâu!

- Tổ tiên mình, các cụ xưa bao giờ cũng mực thước đứng đắn. Chị xem, vạt áo đàng trước từ cổ ngực buông thẳng xuống chân, rộng rãi mà kín đáo…

Ả còn hậm hực chưa nguôi mối hận về áo dài mô đen, quần đầm bó… trong khi Lệ Uyên đang dõi nhìn về núi bà Vọng Phu. Chị nói:

- Đố Thùy Dương biết nàng Vọng Phu đầu choàng khăn gì?

- Khăn vuông…

- Nói cho thật đúng lời các cụ xưa là khăn mỏ quạ, thứ khăn choàng của các bà ngoài Bắc; cũng là đội nắng che mưa nhưng khác với khăn rằn của các má trong Nam… Bà nội của chị, mẹ chị ngày xưa cũng trùm khăn này. Họ là những nàng Vọng Phu. Nhìn núi lại nhớ người! Ôi! Những người muôn năm xưa! Nghĩ tới các người là thương nhớ xót xa, lòng rưng rưng muốn khóc.

- Em đố lại chị: Việt Nam mình có mấy Hòn Vọng Phu?

- Hai ba hòn chi đó… Hình như vậy. Nghe nói nàng Tô Thị Vọng Phu ở Lạng Sơn cũng giống lắm, đẹp lắm. Tô Thị Vọng Phu tay bế ẵm con; còn Vọng Phu núi Nhồi thì tay dắt con… Cả hai cùng đứng trông chồng. Chị chưa bao giờ lên tới Lạng Sơn…. Hồi còn là công nhân đường sắt, đơn vị chị có lần đóng quân ở đây.

Nhiều hôm đang gánh đá sửa đường tàu, đội nón trùm khăn, mồ hôi đầm ướt, chị cũng ngước nhìn ai kia, Vọng Phu đứng trên núi Nhồi. Chị còn ngồi trước hiên, trong sân, ngoài đường nhìn nàng Vọng Phu trong sấm chớp gió mưa, trong trăng lên huyền ảo và cả trong lửa bom B 52…

- Chị của em làm thơ?

- Đâu có! Nghĩ gì nói vậy. Chị kể chuyện thực mà!

CHƯƠNG 6
MÍ ĐỒ ĐỒ ĐỒ PHÁ… XỨ THANH HOÁ

Thị xã Thanh Hóa hiện dần ra với những dãy nhà tranh nối nhau san sát, lác đác chen vào một vài nhà ngói… Nhà nào cũng có bốn cây luồng dài, móc nối từ trên nóc, kéo níu mái nhà xuống, chốt đóng cọc dưới đất để chống bão. Đường phố “rộng thênh thang tám thước” còn lổn nhổn sỏi đá, hai bên là rãnh nước. Người qua lại trên đường đi chân đất, dép cao su, mặc áo quần nâu… Lâu lâu, một vài chiếc xe đạp kính coong bóp chuông qua đường.

Đầu ngã Ba Bia có một chiếc ô tô của Liên Xô đậu. Xe bốn bánh, đầu nhỏ mõm ngắn, sơn màu xanh lá cây đang được đám đông người vây quanh bu lại xem. Nhiều người lần đầu tiên trong đời được thấy ô tô, cái vật không có người đẩy mà vẫn chạy, xem ra họ mê mẩn thích thú lắm…

- Xe Mô-lô-tô-va - Có ai đó reo lên - Liên Xô đưa sang giúp ta đấy!

Đám đông đang sôi nổi bàn tán.

- Trung Quốc đã có xe ô tô chưa?

- Chưa. Chưa có… Nhưng họ đông người lắm. Những sáu trăm triệu dân! Họ giúp ta người, gạo. Chỉ cần mỗi người dân Trung Quốc nhổ một bãi nước bọt là cả Đài Loan, các nước đế quốc chìm nghỉm và chết đuối! Bác Mao bảo thế.

- Liên Xô có xe tăng, máy bay, bom nguyên tử. Liên Xô có Xiết-Ta-Liên!

- Trung Quốc có Mao Trạch Đông!

- Việt Nam ta có Bác Hồ!

Đám đông tự động giãn ra rồi quây lại thành vòng tròn người ngồi dưới đất; một thanh niên dáng dấp nửa bộ đội nửa dân, đứng giữa vung hai tay, cầm càng bắt nhịp cho mọi người cùng hát. Họ vỗ tay rộp rộp, miệng ca vang:

Dân Liên Xô vui hát trên đồng hoa
Đây bao la non nước vui chan hoà
Hoa bay qua Triều Tiên khói lửa
Hoa lan sang đồng Việt Nam ta
Gió đưa hoa về ngập miền Dân Chủ
Cánh hoa muôn màu đẹp đời Tự Do!

Hai chị em bước vào đứng trong đám đông. Cả hai phải nắm tay nhau để khỏi bị tách rời, xô dạt mỗi khi quần chúng nhân dân chuyển đổi các tiết mục văn nghệ, trò chơi liên hoan.

Một cô gái mặc áo quần nâu có miếng vá bên vai, tuổi mới hai mươi, tóc buộc sau gáy, thả dài xuống quá mông đít, giơ tay “xung phong” xin được hát một bài.

Người cầm càng văn nghệ hỏi:

- Đồng chí đơn ca bài chi?

Cô gái trả lời:
- Cái bài tôi thích nhất: Mùa xuân không đến với đế quốc!

Rồi đứng nghiêm theo kiểu quân sự, thẳng người, đầu hơi ngẩng lên, cất giọng ngân nga:

Mùa xuân không đến với đế quốc
Nhưng đến với dân ta
Khắp nơi nở hoa…
Rập! Rập! Rập!

Tất cả đồng loạt vỗ tay.

Có hai anh - Lê Văn Xà và Nguyễn Hữu Cột - từ hồi nãy giờ ngồi tụt phía sau, hơi lùi vào một góc đang nhỏ to tranh cãi.

Xà: Mỗi năm có bốn mùa… Mỗi mùa có ba tháng. Chẳng riêng gì nước ta, khắp thế giới, nơi nào Xuân cũng đến rồi Xuân lại đi. Châu Âu, châu Á, châu Mỹ, châu Úc, châu Phi... xem ra nơi nào cũng có mặt đế quốc cả. Thế thì… Xuân không đến với đế quốc nghĩa là làm sao? Xuân nó đi đằng nào, về đâu?

Cột: Yên, để ta nói cho mà nghe… Mùa Xuân là mùa đẹp nhất. Đồng ý không? Nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới, các nước Cộng sản trong phe Xã hội chủ nghĩa anh em rất yêu mùa Xuân. Còn các nước tư bản thì bọn đế quốc ngày đêm chỉ âm mưu chiến tranh, đưa quân đi xâm lược, đem bom bỏ khắp nơi. Chúng nó chỉ thích mùa hè, mùa đông thôi. Mùa hè thì nhởn nhơ tắm biển, mùa đông thì nằm dài ra ngoạm thịt gà, uống bơ sữa. Nhân dân lao động các nước này đói khát cùng cực, còn hơi sức nào mà vui Xuân, đón Xuân? Cho nên, mùa Xuân nó mới từ mặt lũ đế quốc Mỹ, Anh, Pháp, nó kiềng mặt các nước tư bản phản động áp bức, nô lệ, bất công… Xuân mới đi thẳng sang Liên Xô và các nước anh em trong phe Xã hội chủ nghĩa, có Việt Nam ta… Nhân dân các nước vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản tưng bừng cờ hoa, reo mừng hát ca, hân hoan chào đón, mùa Xuân nó mới phấn khởi, say sưa tìm đến chứ?! Nó dại gì mà đến với bọn đế quốc! Hả?

Xà: Đồng chí nói bè lũ đế quốc chỉ thích mùa Hè, mùa Đông. Thế còn mùa Thu?

Cột: Có hai mùa thu. Mùa thu lũ lụt, lúa khoai chìm nghỉm, mùa màng mất trắng thì dứt khoát là nhân dân ta không có ưa. Còn mùa Thu cách mạng thì nhân dân dĩ nhiên là vỗ tay, hân hoan chào đón! Bởi thế, bọn đế quốc tư bản chúng nó cũng chẳng thích mùa thu!

Xà: Còn mùa đông? Hình như Cách mạng tháng Mười Nga lại nổ ra vào mùa Đông?

Cột: Thì đúng rồi! Vào mùa đông bọn Nga Hoàng phản động móc nối với bè lũ đế quốc, chúng nó mới đú đởn ngóc đầu dậy. Cho nên nhân dân Nga dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Nga mới quật cho tơi bời, nện cho tan tành cả lũ. Và khi thành lập chính quyền Xô Viết xong, bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa Cộng sản… Lê Nin vừa tuyên bố là… mùa Xuân đến! Ở Việt Nam ta cũng vậy. Hễ khi nào hết mùa đông giá rét, Bác Hồ vẫy tay gọi ấy là mùa Xuân tới!

Xà: Nhưng mùa Xuân, đã gọi là Xuân thì dù ở đâu Xuân cũng chỉ đến có một lần, trong 3 tháng. Còn sau đó, lại là hè…?

Cột: Khổ quá! Đồng chí quan niệm thế nào là Xuân? Xuân ở đây là Xuân trong lòng, Xuân Cách mạng, Xuân Độc lập, Tự do, Hạnh phúc, Xuân cả bốn mùa, Xuân đời đời, Xuân muôn năm, Xuân Cộng sản!

Xà: Nhưng mà…

Cột: Không nhưng, chẳng mà cái gì hết. Đồng chí tự kiểm điểm bản thân, đánh giá lại tư tưởng chính trị, quan điểm giai cấp của mình đi xem nó thế nào? Lơi là, bấp bênh, không đứng vững trên lập trường cách mạng là hỏng! Hỏng! Bỏ mẹ! Chết cha!

Xà: Vâng. Vâng.

Cột: Tôi tuyên bố, khẳng định lại một lần nữa cho đồng chí nghe: Bọn đế quốc chẳng bao giờ có mùa Xuân! Mùa Xuân thèm vào mà đến với chúng nó! Chỉ phe Xã hội chủ nghĩa ta, Đảng ta, Nhân dân ta mới có mùa Xuân! Thôi, đồng chí vào mà nhảy múa liên hoan văn nghệ với bà con!

Xà: Đồng ý. Nhất trí thôi. Nhưng …

Cột: Còn nhưng cái con khỉ gì nữa. Phải hoàn toàn nhất trí! Tôi xin nhấn mạnh lại, củng cố thêm một lần cúi còng nữa là: mùa Xuân không bao giờ đến với đế quốc! Bởi vì sao? Khổ quá! Đồng chí quên mất bài ca Công nhân rồi hả? Này nghe…

Lúc đế quốc sắp tan rã dần
Ta tiền phong chiến đấu
Sức chiến đấu đi trước miền Đông Nam
Lúc đế quốc đang tàn…

Đế quốc đang tàn, đang rẫy chết! Nhớ chưa? Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa tư bản! Nó đang ngắc ngoải, chết ngắc chết ngư. Ta đang sẵn sàng chuẩn bị cuốc xẻng vác vai lên đường đi đào mồ chôn nó… ấy đó! Vậy thì mùa Xuân nó còn đến với đế quốc làm… làm chó gì nữa! Mùa Xuân dại gì mà chẳng quay sang trở về với chúng ta!

Cột: Vâng. Vâng. Bây giờ thì nhất trí. Hoàn toàn nhất trí!


Lệ Uyên hỏi Thùy Dương:

- Em có biết tác giả của bài hát “Mùa Xuân không đến với đế quốc” là ai không? Chàng nhạc sĩ ấy tên là gì?

Thùy Dương ngây người ra, đầu khẽ lắc:

- Để em nhớ xem… Đêm qua mơ dáng em đang ôm… Quên mất rồi! Quên hết rồi! Khổ chưa? Hình như chàng cùng quê Nghệ Tĩnh với em? Một nhạc sĩ có tài. Bố em nhiều lần nhắc tới chàng và còn thuộc mấy bài hát nữa…

Hai chị em đang định bước đi thì đám đông lại thay đổi tiết mục chuẩn bị chuyển sang nhảy múa. Sống động hơn. Tưng bừng hơn.

Đám người tản ra, nắm tay nhau thành vòng tròn lớn bao quanh bãi cỏ xanh.

Họ ngồi xuống, buông rời nhau, mắt long lanh, đầu nghiêng ngả, tay vỗ nhịp, rập rập theo lời hát Đất Trời mới ban cho:

Thắm thiết tình Việt-Trung-Xô!
Đế quốc càng đầy mối lo!
Mối tình của người dân Việt.
Mối tình tràn ngập núi sông
Quyết tâm xây đắp tình Việt-Trung- Xô!

Đất dưới chân họ hình như đang trôi dạt, bầu trời cũng nghiêng ngả theo cơn cuồng say. Và một bàn tay vô hình khổng lồ nào từ trên cao quờ xuống, tóm gọn tất cả, lôi giật họ vụt đứng lên. Tất cả đều hồn nhiên ngây thơ đến mức thoạt nhìn họ hai chị em tưởng chừng khó phân biệt được lứa tuổi và giới tính nam nữ. Ôi! Những thiên thần đáng yêu!

Họ vừa vỗ tay vừa hát:

Yêu hoà bình Tổ quốc chúng ta!
Yêu ruộng vườn quê hương ngàn đời!
Toàn dân đoàn kết!
Bước hiên ngang lừng vang câu ca…

Rồi vẫn giữ âm nhưng chuyển ngữ:

Mí đồ đồ đồ phá mí rê
Rế đô xì đô rế xồn xồn
Đồ mí rề phá
Mí rê đô xồn đô đô đô…

Thứ nhạc xướng âm rất chi hoang sơ nguyên thủy này chắc phải làm cho vị cha cố nhà thờ La Tinh-La Mã nào thời ngàn năm xưa, người đã sáng chế ra bảy nốt nhạc, phải sửng sốt kinh ngạc; còn Chúa Giê Su, dẫu ít khi cười cũng gật đầu, mỉm một nụ cười đồng cảm. Dân chúng, đồng bào họ đang vui vì cuộc chiến tranh chống Pháp chín năm trời máu đổ, đầu rơi đã dừng!

Hát ca lên, ới bà con ơi! Nhảy múa đi, ới đồng chí ơi!

Trai gái thanh niên xung phong bước ra làm đầu tàu văn nghệ. Từng cặp một… Bắt đầu! Họ đứng trên chân phải, nhảy cò cò, chân trái đưa ra phía trước… Tay phải giơ lên quá đầu, tay trái đưa ra, hạ xuống sát năm đầu ngón bàn chân trái… Vừa cò cò nhún nhún, vừa cà tâng nhảy nhảy; lại chuyển đổi tư thế đôi chân đôi tay, sang chiều ngược lại; rồi tay vỗ bộp bộp, miệng hát đi hát lại khúc ca bốn ngàn năm, từ thuở các Vua Hùng dựng nước đến nay mới có:

Đồ mi rề phá
Mí rê đô xồn đô đô đô…
Mí đồ đồ đồ phá…

Thùy Dương bắt đầu đưa ra những nhận xét:

Một vũ điệu thật kỳ lạ! Chị đã nhảy van xờ, quốc tế vũ bao giờ chưa? Chưa hả? Thử nghe em nhận xét, so sánh với vũ điệu này. Quốc tế vũ! Gọi là quốc tế vũ mà đâu có phổ thông, phổ biến dễ học, dễ nhớ… Xình chát chát… Nhảy mà không khéo đưa hai chân, dịch chuyển lui tới đúng kiểu cách là giẵm xéo lên chân người ta như chơi! Chát chát xình… Có lẽ bọn Tây người họ cao, chân họ dài cho nên chỉ cần nhẹ đưa chân, nhích đôi vai là họ xoay vòng, tiến lên lùi xuống rất dễ dàng. Còn lũ chúng ta thì sao? Chẳng có mấy người cao, chân đã ngắn mà lưng lại…. hơi dài; bởi thế, cặp chân đưa thì lũn cũn, đôi vai xoay cứng đờ đờ, tay ôm eo lóng ngóng, tay cầm tay vụng về… Ở khách sạn Thắng Lợi - Nha Trang em đã nhảy với khá nhiều người, từ bọn trai choai tới các cụ kỵ già xoan; vậy mà em chỉ chịu có một người, một tay khiêu vũ rất tài hoa… Là ai chị có biết không? Cụ Đàm Du Sâm, nhà giáo ưu tú Cao đẳng Sư phạm… Mới nhìn qua ông thầy tuổi gần 80, tóc trắng xoã bờm, râu dài phủ ngực, mồm trống hoác, răng thò thụt… cứ tưởng hưu trí này tới đây là chỉ để tham quan, giải sầu: Lầm to! Cụ tới đây để biến dịch, sống trẻ, sống khoẻ. Cụ nhảy! Và nhảy tài hoa điệu nghệ. Thanh niên nỏ mấy tay bì kịp. Em rất lấy làm lạ và có lần thăm dò cụ. Té ra bà cố nội của cụ Sâm ngày xưa, thuở Pháp mới sang là vợ một thằng Tây! Cụ kể, dạo ấy vua Thành Thái vừa lên ngôi… Cố bà gánh chuối ra chợ bán, đi ngang qua một cái đồn gác. Thằng Tây quan ngồi trong đó cầm ống nhòm nhìn ra… Thấy cô gái xinh đẹp đang gánh chuối sợ sệt rụt rè trước cổng gác, Tây mới sai lính tập ra mời cô vào bảo Tây sẽ mua chuối. Cô có ngờ đâu vào trong đồn rồi Tây đã chẳng mua chuối cho, lại còn nhét cô vào phòng, đè ngửa ra, bắt cô phải… ăn chuối! Chuối của Tây dĩ nhiên là to và dài quả hơn chuối ta. Và thế rồi, cố bà về nhà mang bầu, sang giữa năm sau là sinh hạ ra ông nội của Sâm…

Sâm đã kể cho em nghe sự tích quả chuối Tây lý thú… Để trả công lão và còn muốn lợi dụng, lão có của chị ạ, con Thùy Dương này đã cho phép nhà giáo ưu tú Sâm sờ soạng gọi là… Sâm đểu một cây, chị ơi. Mắt lão rất đĩ! Khiêu vũ với em xong, lão còn muốn… ngủ với em nữa. Sức mấy!

Sau này nghĩ lại em cũng chẳng trách lão Sâm. Đến như đại tá hải quân Mai Đắc Xuân, người tình yêu quý của em, gần gũi chung sống với nhau là thế, mà cứ mỗi lần khiêu vũ với các em xong là… là… Xuân thú nhận, hễ quốc tế van xờ nổi lên, tay mới để vào vòng eo, chân dịch bước… y như rằng trong người nổi cơn ngay. Đã ôm eo người ta, Xuân nói, không dìu người ta theo vũ khúc, lại chỉ muốn đưa tay về sờ soạng mân mê hai trái bưởi Năm Roi; còn ông chim thì trời ơi, cứng ngắc, cứ muốn lôi pháo ra kéo pháo vào bắn ngay!

Đại tá của em cho rằng bọn Tây chúng nó khác với chúng ta, hoàn toàn chẳng giống nhau. Quốc tế van xờ nổi lên, chúng nó khiêu vũ tự nhiên, bình thường, có sao đâu! Cái ADN, thứ gien di truyền trong điệu nhảy này là thuộc về họ, của họ… Bao đời tự nhiên, muôn năm đã quen rồi. Cứ như ta thì cả châu Âu, thế giới phương Tây có mà điên mà loạn! Lớp thanh niên bây giờ vậy mà đỡ, bởi chúng nó biết vi tính, làm quen với intờnét; lớp hưu trí, cựu trào… Anh Sáu, chị Ba mới đáng sợ chứ! Bởi chưa quen nên họ dễ hoá điên nổi khùng; lại cũng vì ăn mặn lâu ngày, bây giờ đâm ra khát nước… Anh Xuân bảo em, anh cũng đang lo cho mình đây, không biết mai mốt rồi anh có còn là anh nữa không?

Lệ Uyên ngắt lời Thùy Dương:

- Em nói những gì lan man, khúc mắc quá?

Thùy Dương cười rất tự nhiên:

- Thì em đang diễn dịch, so sánh, biện luận để kết thúc vấn đề. Xem kìa!

Ả giơ tay chỉ. Lệ Uyên nhận ra ngay cô gái hát bài “Mùa Xuân không đến với đế quốc”. Cô này đang nhảy với một chàng trai cùng lứa tuổi. Hai tay vỗ bộp bộp, đôi chân nhảy nhót cà tâng… bó tóc dày và dài sau lưng rung theo, đưa qua trái hất sang phải. Chàng trai kia đang đối diện tương xứng; cũng vỗ hai tay cẫng đôi chân, miệng hát vang bài ca Hoà bình, Hữu nghị:

Mí đồ đồ đồ phá mí rê
Rế đô xì đô rế xồn xồn
Đồ mí rề phá…

Thùy Dương lại biện luận, so sánh:

- Tự nhiên và sống động! Chị coi, trông họ như sếu cò trên đồng ruộng, khỉ vượn chốn rừng xanh. Chẳng ai bày vẽ huấn luyện, khỏi phải qua lớp học nào, cứ nhìn theo nhau, bắt chước nhau rồi nhảy! Rất đẹp và rất hay! Lành mạnh và sảng khoái! Khỏi phải ôm sờ, nỏ cần đụng cọ. Đực cái dẫu còn tí xa cách nhau mà âm dương vẫn rất chi hoà hợp… Tuyệt vời! Chị Hai của em thấy thế nào?

Lệ Uyên gật đầu đồng cảm, xúc động nói:

- Đúng là một vũ khúc kỳ lạ mấy ngàn năm nay mới có. Chị rất vui khi thấy người dân xứ Thanh, những anh em bà con trên quê hương mình ca múa vũ khúc này. Vũ khúc này tên gọi là gì em biết không?

Vừa đúng lúc Lê Văn Cột, người đàn ông hồi nãy bắt bẻ, rèn chỉnh cho đồng chí của mình về “Mùa Xuân không đến với đế quốc” đã bước ra giữa sân chơi, la to:

- Kính thưa các đồng chí!

- Kính thưa đồng bào!

Anh em vô sản, quần chúng cách mạng Công Nông Binh thân mến! Tháng này là tháng Hữu Nghị Việt Trung Xô! Để nhớ ơn Liên Xô vĩ đại, để tỏ tình đoàn kết gắn bó keo sơn với Trung Quốc anh em… tôi thiết tha đề nghị tất cả chúng ta hãy vỗ tay, hét to, hát vang lên nữa bài ca Hữu Nghị Việt Trung Xô và nhảy múa say sưa tưng bừng điệu múa Hoà bình mí đồ đồ đồ phá… nào. Xin mời! Hai, ba…

Quần chúng cách mạng lại bùng trào lên theo làn sóng đỏ văn nghệ.

Cô gái có bó tóc dài vắt vẻo nãy giờ ca hát nhảy múa xem chừng đã mệt nhoài, thở chẳng ra hơi nữa. Xung phong đầu tàu thế là quá đủ, cùng với Mùa Xuân không đến với đế quốc, cô trở về đứng trong hàng ngũ của quần chúng nhân dân!

Chưa kịp ngồi xuống đất, người đàn bà sát bên đã vội đưa con cho cô, nhờ cô bế hộ thằng cò để được ra sân nhảy mí đồ đồ.

Đứa bé khóc thét, ưỡn quẫy trong vòng tay cô gái, đái vổng cần câu. Xung quanh vội dạt ra, ầm ĩ cười thích thú. Người mẹ tuổi đã ngoài băm, toét miệng cười rất đáng yêu. Chị đang ngập ngừng do dự thì tiếng vỗ tay rộp rộp, lời mời gọi í ới của bà con đã thúc đẩy bàn chân chị bước ra… Và người đàn ông bằng vai phải lứa, bố Hĩm hàng xóm, dẫu không là giống đực chồng, cũng bà con làng nước… đang đứng chờ kia! Đến gần rồi, cách nhau chừng nửa cái đòn gánh, họ bắt đầu nhún nhún chân, duỗi duỗi tay, cò cò tâng tâng nhảy mí đồ đồ đồ phá. Miệng họ vang ca mà con tim họ hát theo. Và Đất Trời cũng cười vui, hân hoan nhảy múa. Trên đầu họ là Thiên đường Cộng sản! Dẫu rằng còn cách xa nhưng mắt họ rõ ràng đã trông thấy. Ai cũng tin mình sẽ sống đủ trăm năm; còn hơn thế, phải quyết tâm sống muôn năm! Chẳng ai chết đi cả, chỉ có những người hy sinh để rồi sống mãi trong lòng chúng ta!

- Chị nhìn đi đâu thế?

Nghe tiếng Thùy Dương nhắc, Lệ Uyên quay đầu lại ngơ ngác.

- Chị không thấy cái gì kia ư?

- ?!

- Tuyệt vời! Một cặp già đang… mí đồ đồ. Xem kìa!

Lệ Uyên mỉm cười. Sự xuất hiện của hai đồng chí lão thành trên sân chơi quả đã làm cho quần chúng thêm náo nức, tháng Hữu Nghị Việt Trung Xô càng tưng bừng… Chàng đang độ tuổi 70, nàng cũng xấp xỉ ngoài 60. Cả hai cùng hốc hác, tiều tụy, móm mém, miệng hoác ra cười mà răng gẫy rụng gần hết. Áo nâu của chàng toạc một mảng bên vai; váy đụp của nàng đàng trước đàng sau có hai miếng vá. Họ đã nhịn ăn nhịn mặc, nhịn mọi thứ, dành tất cả để nuôi bộ đội đánh thắng quân thù. Nào, mí đồ đồ đồ phá…

Đang co co nhún nhún, tâng tâng, nhảy nhảy, chẳng hiểu sao, tại vấp phải mô đất hay vì đầu gối khớp xương long ra, chàng sụm xuống ngã ngồi trên đất! Còn nàng thì, chàng đâu có đụng tới, vẫn cách khoảng nửa cái đòn gánh; ấy rứa mà, mới mí đồ đồ đồ chưa được vài phút đã lăn quay ra, ngã chỏng gọng!…

Thế mới hay, mới vui chứ! Cả sân chơi trẻ già lớn bé ôm bụng cười lăn cười bò. Nhờ có Bác Xiết-Ta-Liên bên Liên Xô, Bác Mao Trạch Đông bên Trung Quốc, Bác Hồ dẫn đường chỉ lối, nhân dân Việt Nam, bà con Thanh Hoá ta mới được sung sướng cười vui như vậy!

Cặp già mí đồ đồ đã được quần chúng văn nghệ dìu đỡ hai tay, nắn bóp đôi chân, ngồi dậy trên sân cỏ. Chàng được lũ con trai nhong nhong cõng trên vai trở về lại hàng ngũ. Nàng đã có lũ con gái ôm bế đưa về tới tận nhà. Chàng vẫn cười nhe hai cái lợi mòn nhẵn răng. Nàng cũng muốn cười nhưng chẳng hiểu sao lại sụt sịt khóc mếu? Có lẽ bốn ngàn năm nay, đến bây giờ họ mới được sung sướng hạnh phúc như vậy!

Thùy Dương hỏi:

- Chị à, nhạc sĩ Phạm Duy có biết vũ khúc mí đồ đồ này không nhỉ?

Lệ Uyên suy nghĩ, nhẩm tính:
- Theo như chồng chị kể, nhạc sĩ Phạm Duy sau khi từ chiến khu Bình Trị Thiên ra, sáng tác “Bà mẹ Gio Linh” xong là ông vào Thành Hà Nội luôn. Ông có còn ở đây đâu mà biết được! Giờ phút này hình như nhạc sĩ và gia đình đã xuống Hải Phòng lên tàu vào Nam?

Thùy Dương lại hỏi:

- Còn nhạc sĩ Trần Văn Khê?

Lệ Uyên cười:

- Giáo sư nhạc sĩ này từ lâu đã sang Pháp, có biết gì về cuộc kháng chiến trường kỳ chín năm đâu! Hiện ông ấy đang giảng bài ở Xoọc-Bon. Vị Tiến sĩ này rất mê nhã nhạc Cung đình Huế.

Thùy Dương nhăn mặt, trề môi:

- Nhã nhạc Cung đình Huế, hát dặm Nghệ Tĩnh… làm sao bì kịp, so sánh nổi mí đồ đồ đồ phá…

Lệ Uyên gật gật đầu:

- Đồng ý, hoàn toàn nhất trí. Nếu như cả hai nhạc sĩ mà biết được, tận mắt chứng kiến vũ khúc mí đồ đồ đồ phá trong tháng Hữu nghị Việt Trung Xô; nhất là giáo sư Trần, chị tin rằng họ sẽ lập trình, đề nghị UNESCO công nhận mí đồ đồ đồ phá… là di sản văn hoá phi vật thể của thế giới! 




CHƯƠNG 7
QUÊ NGOẠI HÀ TRUNG, QUÊ NỘI NGA SƠN.
NGHĨ VỀ TRỜI LẠI SUY RA MÌNH

Hai chị em bước tới bên một ông già đang ngồi trước hiên nhà đọc báo. Lệ Uyên kính cẩn hỏi:

- Thưa Cụ, báo ra ngày mấy ạ?

Ngẩng đầu lên, kính lão tụt xuống mũi, cụ nói nghe như gắt:

- Cái chi? Hử. Cái chi? Có biết chữ không mà hỏi? Báo Nhân Dân số ra ngày 7 tháng 5 năm 1955, kỷ niệm một năm chiến thắng Điện Biên Phủ…

Cả hai chị em cùng ngơ ngác.

- Bây giờ, thưa Cụ… Năm nay sao lại là 1955?

Ông cụ nổi quặu:

- Không là 1955 thì là cái chi? Nghìn chín trăm đút nút hử? Rõ là đồ con ních! Thôi chúng bay đi đi, yên cho người ta đọc!  

Vội nắm tay nhau bước đi, được một đoạn hai chị em còn nhìn lại xem mắt mũi ông già thế nào mà trông gà hoá quốc, gọi mình là “đồ con ních”? Nhưng kìa, cụ đang nhỏ dần nhỏ dần cho đến khi chỉ còn bằng hạt đậu đen rồi… biến!

Họ dừng lại, nhìn nhau.

- Lệ Uyên! Trông chị buồn cười quá!

- Làm sao cơ?

- Một cô bé mới lên… bảy!

- Đâu có! Chị vẫn là chị… Còn em? Thùy Dương? Ô! Sao em lại như… như một con cún mới chập chững, lon ton…

- Vớ vẩn!

- Thật mà!

Họ ôm nhau cười.

Hàm Rồng đây rồi! Dòng sông Mã co hẹp lại giữa đôi bờ, bị chẹn giữa hai ngọn núi, một ngọn nằm, một ngọn ngồi khiến con sông bực mình, vùng vẫy, chảy xiết. Cầu sắt hình bán nguyệt, vòng cung gẫy gục vì mìn đánh sập, rơi xuống sông, còn nhô lên mặt nước bên bờ Nam một mảng vai, mấy cẳng chân ống tay bằng sắt rỉ nát sau 9 năm kháng chiến trường kỳ. Khách bộ hành phải sang sông bằng phà, lác đác cũng có một hai cái thuyền chở người.

Tới Đò Lèn. Cầu sắt cũng chìm nghỉm dưới sông Lèn. Ra giữa sông Lệ Uyên đứng lại nhìn quanh. Thấp thoáng sau luỹ tre, vườn cau là những mái nhà tranh ẩn mình lặng lẽ. Một vài căn nhà ngói đứng riêng ra có vẻ như sợ sệt bởi sự cách biệt với những mái nhà tranh xơ xác nghèo hèn. Còn ngôi đình làng uy nghi kia, chẳng hiểu nguồn cơn thế nào cũng đã gục đổ xuống trên đống gạch vôi? Tiếng gà gáy vọng lên từ xóm nhỏ, ngay lối đi xuống bãi cát ven sông, có mấy người đàn bà đang giặt chiếu…

Làn điệu chày vung lên đập xuống mặt chiếu, lòng sông chen lẫn tiếng cười í ới.

- Thùy Dương ơi, chẳng hiểu sao cứ mỗi lần nghe tiếng gà gáy ở một vùng quê cất lên là tim chị sững lại, ngẩn ngơ! Vừa vui sướng vừa đau khổ…

Thùy Dương cười:

- Phải là gà gáy ở xóm quê kia, chứ gà gáy ở thành phố thì chán phèo! Gà gáy ở thành phố nỏ khác gì chó sủa, mèo kêu, chuột rúc! Y như tiếng kêu của người bị nhốt giam: Tôi đang bị tù đây! Mở cửa cho tôi ra!

Lệ Uyên phì cười:

- Em nói đúng nhưng hơi quá lời. Chị nghĩ, mèo kêu chó sủa ở làng quê nghe cũng thú vị chứ?

- Chị chưa hiểu ý em. Em nói vậy có nghĩa là thành phố nhiều khi cũng giống như một trại giam khổng lồ. Trại giam đó cứ ngày một được mở rộng ra, thêm nhiều nhà nhiều buồng giam bê tông cốt sắt, cổng đóng cửa khoá rất chi là kỹ lưỡng…

- Và cái số người ở xóm làng quê êm ả, nơi tiếng gà gáy vừa cất lên kia, cứ ùn ùn rủ nhau ra thành phố, mỗi ngày một đông, tự nguyện chui vào những phòng biệt giam đó… Em ạ, chị nhớ có lần nghe ai nói, đời con người ta bắt đầu từ lúc sinh là cứ lòng vòng đi, quanh quẹo bước, mãi cho tới khi ra Nghĩa địa! Bây giờ em lại bổ sung thêm một ý tưởng rất chi là sâu sắc: con người chúng ta sinh ra trên đời ai rồi cũng bị nhốt giam, ở tù cả; cuối cùng mới được trả tự do, cho về Nghĩa địa…

Hai chị em lại ôm nhau cười.

- Có một cái nhà tù - Mắt Thùy Dương sáng lên, láu lỉnh - theo ý em mỗi con người chúng ta nên được nhốt giam dài hạn, chung thân ở trong đó trước khi ra Nghĩa địa. Em đố chị biết nhà tù ấy tên gọi là gì?

- Chịu. Làm sao có thể đoán ra được những tư duy siêu phàm mang tầm thế kỷ của em, Thùy Dương yêu quý!

- Nhà tù đó là Gia đình! Tên gọi nó là Gia đình. Vậy mà con Thùy Dương hư hỏng, khốn khổ này chưa bao giờ chịu nhốt giam, thuần phục cải tạo trong nhà giam đó thật đáng tiếc. Cơ sự đã lỡ rồi…

- Vậy mà nhà tù mang tên Gia đình có từ nghìn vạn năm đó chẳng hiểu vì sao, Trời lại xúi người trong nhà quậy, rước quỷ bên ngoài vào phá; sụp đổ tan tành cả nửa thế kỷ nay!?

- Bởi vậy con Thùy Dương này muốn trở về Gia đình nó mà cũng không về nổi; nhà cửa đâu còn, anh em bà con ly tán hết!

- Đồng ý. Nhưng đồng chí Phan Thùy Dương ạ, chị thấy chúng ta không nên đổ tất cả mọi lỗi cho Trời, dù rằng Trời đã gây ra mọi chuyện. Tự bản thân chúng ta cũng có lỗi, cũng phải nhận lấy một phần trách nhiệm. Đúng là Trời đã đập nát, xé lẻ các gia đình nhỏ chúng ta ra, rồi thu gom tất cả đống vụn nát tinh thần đó xây thành Ngôi Nhà Lớn, Ngôi Nhà Chung cao cả thiêng liêng bắt mọi người đến ở… Làm như vậy, Trời đã lầm tưởng rằng sẽ đơn giản hoá được cuộc sống con người, dễ nắm dễ sai cái lũ chúng ta, gán ghép chúng ta vào một Trật tự Mới…

Và lũ chúng ta lại cũng ngây thơ, ngu muội tin vào Trời đến nỗi không phân biệt được ngày và đêm, lẫn lộn lẽ phải và điều sai quấy, nhân đạo và vô nhân đạo. Chúng ta phá mà cứ tưởng là xây, giết người mà lại cho rằng cứu người. Quỷ thì không giết mà giết ngay chính chúng ta!

- Chị có tin Trời không?

- Có chứ. Không tin làm sao được. Trời phủ che tất cả. Ngoài Trời ra ai còn thấy cái gì đâu! Có những cái đúng là chỉ có Trời mới làm được. Được Trời cho, Trời cứu thì còn gì bằng! Xấu xa mấy rồi cũng thành tốt đẹp! Ngu dốt mấy rồi cũng thành thông thái…

- Và ngược lại… Trời mà đày đọa, hành hạ cho thì chỉ có mà chết! Hồi ở Bên Ấy, em còn nhớ Lê Vĩnh, chồng yêu quý của em, cứ ngâm nga: Bắt phanh trần phải phanh trần, cho may ô mới được phần… may ô!

- Phải theo Trời mà sống và cũng phải tin Trời. Nhưng em ạ, lúc nào ở đâu, trước mắt Trời, theo chị, con người chúng ta cũng nên biết dừng lại, chừa ra một khoảng cách…

- Khoảng cách như thế nào?

- Rất khó nói. Thật ra, Trời đã nắm cổ lôi đi thì chỉ có mỗi một việc là đi tới, muốn lùi cũng không được, bởi có còn chỗ đâu mà lùi! Tuy nhiên, biết dừng lại cũng là điều cần thiết. Dừng lại, tức là đã đi lùi được… một bước?

- Chị nói thế. Mình muốn dừng lại nhưng phía sau người ta cứ ào ào xốc tới, trườn đè lên! Bánh xe Lịch sử sẽ nghiến nát!

- Ôi chào! Toàn là những sáo ngữ véo von cả. Bánh xe kiểu gì mới được chứ? Xe cút kít, xe bò, xe cải tiến, xe ô tô, xe hoả? Cái người đầu tiên nào sáng tác ra Bánh xe Lịch sử đó, theo chị, ý tưởng của hắn không vượt ra được khỏi bánh xe có ngựa kéo bò lôi…

- Nói tóm lại, thưa cô giáo, cô cho em Thùy Dương biết, ai đã dạy cho cô biết dừng lại, chừa ra khoảng cách đó… Em vẫn cho rằng, một thời ở Bên Ấy, nhiều khi chúng ta cứ phải nai lưng phấn đấu, ra sức thi đua để thực hiện những cái mà chính chúng ta cũng không hiểu để làm cái quái gì!

- Những sai lầm và nỗi đau của lớp người đi trước soi vào chính bản thân chúng ta. Suốt quãng đời sống Bên

Ấy chị đã chiêm nghiệm được một điều: Đừng quá tin vào sự sáng suốt của Trời, tự mãn về sự khôn ngoan của mình. Trong khi Trời chưa cứu mình, thậm chí quay mặt làm ngơ thì tự mình phải tự lo cứu lấy mình.

Thừa nhận cái ngu dốt, rút ra bài học từ nỗi đau của mình là tốt nhất!

Không biết ai đây nhỉ, một người rất gần gũi thân thiết với chị… Yên nào, để chị nhớ lại xem. Người ấy đã từng vẽ chân dung chị, có lần nói rằng: “Lệ Uyên ạ, cái điều anh cảm nhận được một cách đầy đủ thấm thía gần trọn cả đời mình ấy là “Tôi ngu. Vâng rất ngu!”. Hoặc giả nói theo kiểu triết học “Tôi ngu dốt, ấy là tôi tồn tại”. Đến tuổi 50 chỉ trong giây lát, sau một đêm dài bừng thức dậy, “mặc khải” được rằng mình đã lầm lẫn, u mê đến không thể tin nổi. Khoảnh khắc ấy, tôi mới thấy mình còn có được chút sáng suốt, thông minh.
Lệ Uyên dừng lại, ngơ ngác. Chị cố nhớ khuôn mặt của ai đó, đôi mắt mơ màng, đắm đuối, làn môi mê cuồng điên dại. “Anh yêu em”. Ba tiếng rạo rực cả thân mình, chìm sâu vào trái tim.

Ai? Ai nhỉ? Trái tim chị nhoà nước mắt. Những giọt lệ màu hồng.

- Lệ Uyên! Chị làm sao thế? Sao chúng ta lại đứng giữa trời giữa đất thế này?

Thùy Dương cầm tay chị, khẽ lôi về phía mình.

Yên! Yên nào! Chị đang cố nhớ lại. Vụ nổ Big Bang. Vũ trụ trong 3 phút lẻ mấy giây?… Trong mỗi con người là một Vũ trụ…
>CHƯƠNG 8
“HOÀI NGHI TẤT CẢ!”
CÂU CHÂM NGÔN ÔNG MÁC YÊU THÍCH…

Lệ Uyên tiếp nối dòng suy tư sau Vụ-Nổ-Lớn trong con người mình:

- Em thương yêu ạ, thời của chúng ta lúc còn ở Bên Ấy, chúng ta chỉ được phép tin chứ không được quyền hoài nghi. Hoài nghi coi như là một căn bệnh, tội lỗi. Năm chị học đại học Sư phạm có một thầy giáo cùng cảnh ngộ như chị. Người đàn ông ánh mắt đen biếc và thông minh đó hình như có cảm tình với trò Uyên; và ngược lại, trò Uyên cũng… Nhưng cả hai đều biết dừng lại. Có một câu chuyện thầy kể mà sao bây giờ tự nhiên chị vẫn còn nhớ.

Hồi “Cải Cở Thủ Ti”, thầy kể, ông thân sinh ra thầy bị Đội quy sai đổ oan cho là “địa chủ phản động, Việt gian bán nước”. 

Vào Đảng từ những năm đầu 40, ông Phó Chủ tịch Huyện này uất ức và đau khổ. Biết mình sắp bị án tử hình, thân phụ thầy tìm cách trốn ra được khỏi phòng giam rồi trèo lên tít ngọn cây đa ở sát ngay bên trụ sở Uỷ ban. Thời thơ ấu, vốn là một đứa trẻ nghịch ngợm gan dạ, cậu bé đã từng leo lên tuốt ngọn đa bắt tổ chim. Đến tuổi thanh xuân, cũng nhờ tài leo trèo đó mà người chiến sĩ hoạt động bí mật có lần đã nằm im trên ngọn cây, thoát được cuộc truy lùng săn bắt của mật thám Pháp bảo hộ và lính Nam triều thuộc địa.

Và bây giờ, Cộng hoà Dân chủ năm thứ mười một, ông thân sinh ra thầy vào tuổi 37, lại đang ngồi trên chót vót ngọn đa này.

Ông làm cái gì trên đó? Dạng háng, trụ vững chân vào hai chạc cây, dựa lưng vào thân cây, ông đưa hai tay bắc loa mồm và… chửi! Từ sáng lúc mặt trời mới mọc dậy bà con làng nước đã nghe ông chửi. Ông chửi ai và chửi cái gì? Đại loại là chửi Trời, chửi Đất, chửi Nhân gian, chửi Thế giới, chửi Người, chửi Ta… Chửi tuốt! Nhiều người dưới đường đi qua muốn dừng chân lắng nghe xem ông này chửi cái chi, muốn lắm nhưng rồi sợ Đội… nên vội vàng đi thẳng. Dân chúng ở những nhà quanh đó thì có lúc giật mình, tái xanh mặt khi nghe những câu móc mắt Trời, những lời phơi bày gan ruột Thần Thánh. Lại có lúc thắt ruột, bể bụng, toét miệng ra cười vì những chuyện lạ lùng trớ trêu lâu nay cứ tưởng chỉ có trong cổ tích, tiếu lâm… Nỏ phải đi đâu xa, mấy khi được rảnh rỗi ngồi nhà mà nghe… hát! Ông này ca còn hay hơn hát dặm, thú vị bằng mấy Văn công trung ương.

Đội ra lệnh cho dân quân phải trèo lên ngay, tóm cổ lôi xuống, nhưng rồi chẳng có ai quen trèo cây, leo lên nổi. Thôi đành mặc cho thằng phản động Việt gian này chửi; chửi mỏi mồm rát họng rồi cũng phải im. Và… để xem cái bài chửi này được ca cho đến khi nào?

Đội Cải cách và các đồng chí rễ chuỗi cùng toàn thể nhân dân lắng chờ. Giữa trưa nắng. Im lặng. Có lẽ ca sĩ khát và đói, đã mấy hôm rồi không uống nước chẳng ăn cơm nên lả gục xuống trên cành cây? Hay thằng phản động này còn định giữ sức và cũng muốn đồng bào ta … nghỉ trưa, giải lao?

Y như rằng! Quá hai giờ chiều ca sĩ lại tiếp tục chửi! Tuy nhiên lời ca chửi bắt đầu rời rạc, lộn xộn; tiếng ca chửi khàn đục, đứt quãng… không còn là tiếng người căm uất đớn đau nữa, mà chỉ là tiếng tru, tiếng hú hừ hừ, hậc hậc của con thú bị cắt cổ, hết máu, cạn hơi!

Mặt trời đã xuống núi rồi vẫn cố ngoi lên lần nữa nhìn, dòng lệ đỏ ứa tràn… Cả thế giới đau thương chẳng còn ai theo dõi lắng nghe ca sĩ. Từ sáng tới chiều nhân loại đói khổ đã mệt mỏi, rã rời…

Đúng vào lúc ấy, ca sĩ buông thả hai tay, mặc cho tấm hình hài thân thể bao năm nay vẫn gọi là con người, từ ngọn cây đa làng được tự nhiên... rơi xuống!

Gần nửa đêm, quần chúng đi họp đấu tranh về, qua lối Ủy ban, tình cờ phát hiện ra xác chết của thằng Phó Chủ tịch Huyện, tên địa chủ phản động bán nước hại dân… Đầu vỡ toác, toàn thân dập nát…Hắn nằm bên bờ đường, cách gốc cây đa một đoạn chừng bảy tám bước chân.

Họ vội báo cáo lên cho mấy ông Đội biết.

Câu chuyện thầy giáo dạy vật lý của chị kể nghe thật lạ lùng kinh dị, cứ tưởng đâu huyền hoặc dưới Địa ngục - Âm ty, có ai hay lại hiện nguyên hình trên trần gian tự do hạnh phúc.

Sau đó ít lâu, có lần thầy hỏi cô học trò:

“Lệ Uyên, em có biết Karl Marx, người thầy vĩ đại của giai cấp vô sản, khối óc khủng khiếp của nhân loại chúng ta yêu thích câu châm ngôn nào không?”

“Dạ thưa thầy, em làm sao biết được?”

“Hoài nghi tất cả!”. Câu châm ngôn mà Marx yêu thích đã làm thầy ngạc nhiên, đầu óc tỉnh lại và sáng ra. Ông tổ sư của chủ nghĩa Cộng sản chẳng đã khẳng định quyền của con người chúng ta là được hoài nghi đó sao? Trước Marx một thời, nhà bác học Descartes cũng đã từng nói: “Tôi tư duy tức là tôi tồn tại”. Đã tư duy, con người ắt phải hoài nghi. Không hoài nghi làm sao nhận ra được cái sai lầm, tìm thấy được cái Mới, cái Chân Thiện Mỹ! Không hoài nghi làm sao có những phát minh khoa học!

Con người đời thường chúng ta vẫn hay cao ngạo cho rằng mình khác loài vật ở chỗ có tư duy. Lệ Uyên ạ, cứ cho rằng loài vật không có tư duy nhưng nhiều khi nhìn con chó, con mèo, con chuột… thầy vẫn nghĩ hình như có lúc chúng cũng biết hoài nghi? Hoài nghi để tránh đòn, thoát hiểm. Hoài nghi để tồn tại…. Nói như Descartes. Đúng không?

Vậy thì con người chúng ta bị Trời cấm không cho được hoài nghi, hoá ra còn thua cả con vật hay sao?

Thầy dừng lại, vẻ mặt căng thẳng. Con người đa sự này nhiều lúc trông tội tội thương thương. Dạy vật lý mà thích văn chương. Đã từng làm thơ, viết cả truyện ngắn.

Nhớ lại câu chuyện thầy kể hôm trước không hiểu sao Lệ Uyên tự nhiên hỏi thầy:

“Thưa thầy, xin thầy tha thứ… Ông thân sinh ra thầy một thời cũng đã từng tin…”

Thầy mỉm cười, mắt sáng:

“Chứ sao! Còn quá tin nữa. Cuồng tín!”

Rồi không để Lệ Uyên hỏi tiếp, thầy buột miệng cười phá lên:

“Và cha tôi đã biết hoài nghi. Cái ngày hôm ấy, khi ông ngồi chót vót trên ngọn cây đa, bắc loa miệng chửi từ sáng cho đến chiều tối là ông đã “Hoài nghi tất cả!”

- Chị Hai nói lung tung nhiều quá đấy! - Thùy Dương kêu lên - Ngoài đề, cháy giáo án rồi, cô giáo ạ. Từ lúc sang tới Bên Này, gặp nhau kết nghĩa, bà chị thân yêu của tôi bao giờ cũng kín tiếng giữ lời. Chẳng hiểu vì sao hôm nay lại say sưa, đa ngôn thế nhỉ? Chắc có chuyện gì lạ lùng sắp xảy ra đây.

Lệ Uyên ôm hôn Thùy Dương, nghẹn lời:

- Ôi! Thùy Dương! Chị yêu em. Yêu không biết bao nhiêu mà kể. Hãy tha thứ cho chị. Bàn chân chị đang run lên… Đất Hà Trung quê mẹ, Nga Sơn quê cha đây rồi!… 


CHƯƠNG 9
QUÊ MẸ - QUÊ CHA. ĐÓI VÀ RÉT

Trời đang hửng nắng bỗng nhiên tối mờ. Có một cánh cửa vô hình nào vừa khép lại, sập xuống! Những tia vàng còn rớt lại viền quanh ngọn đồi, còi cọc những cây thông đứng chẳng theo hàng lối.

Gió mùa Đông Bắc tràn về. Những đám mây đói rét ùn ùn đàn lũ, khác nào lũ ăn mày ăn xin bị xua đuổi về phương Nam, tuyệt vọng nhìn xuống những thửa ruộng chiêm trũng khô hạn xác xơ.

Giữa đồng không mông quạnh, sân chơi tự nhiên của gió, thấp thoáng một vài chấm nâu bạc: ấy là những con người đang còng lưng xuống moi tìm con ốc con cua trong bùn đất…

- Hình như cả vùng này đang đói?

Thùy Dương thốt lên.

- Có lẽ thế

- Lệ Uyên đồng tình

- Nếu như không phải là đói thì cũng chẳng còn gì để mà ăn. Hoặc nói như ai, không có người chết đói nhưng có những người đang đói đến chết.

- Hòn núi gì kia hở chị?

- Hòn Yến Sơn thuộc làng Bình Lâm huyện Hà Trung.

- Trông hay quá nhỉ. Cái cây gì mọc ngay trên đỉnh núi nhìn giống như hình một con trăn cuộn. Nó mọc tự nhiên hay người ta trồng, hả chị?

Lệ Uyên trầm ngâm:

- Mẹ của chị là người làng Bình Lâm. Bố của chị người ở Nga Bạch - Nga Sơn. Ông làm rể Hà Trung. Trong con người chị có hai quê; quê chính là Nga Sơn. Hồi còn nhỏ có lần chị cũng đã hỏi mẹ về cái cây này. Mẹ bảo đó là cây đa các cụ trồng từ xửa từ xưa không biết thời nào, thuở ấu thơ mẹ đã thấy nó như thế rồi. Sau này, có lần hai mẹ con cùng đi qua đường quốc lộ, ngay chỗ bây giờ chị em mình đang đứng đây, mẹ lại giơ tay chỉ lên cây đa mà nói: “Con ạ, cả vùng ta hình như chỉ còn sót lại cây đa này. Tất cả những cây đa có bóng mát toả che, người ta đều chặt đốn sạch. Đình miếu trong làng chẳng hiểu vì lẽ gì, họ cũng đập phá bằng hết… Chỉ còn Đền Bà Triệu, Đền Hàn, Đền Sòng… là chưa động đến mà thôi.

Trời rét. Cái lạnh sắc bén như dao len vào trong da thịt làm người ta có cảm giác những linh hồn đang run rẩy lập cập quanh đây không dám ra khỏi những nấm mồ để trở về dương thế. Mấy con trâu xạc xờ lông, lòi xương đang cúi đầu sục tìm, gặm cỏ khô ven bờ đê vẫn điềm nhiên như chẳng biết gì các bạn đồng hương cò gầy rạc, mệt lả vừa mới tìm ra chỗ tựa nơi đậu xuống yên lành, là cái lưng nô lệ và nhẫn nhục của mình.

Lệ Uyên nói:

- Đây là quốc lộ Một, con đường ta rộng thênh thang tám thước… Thùy Dương chắc nhiều lần từ Nghệ An ra Hà Nội đi qua đây mà không nhớ. Từ đây, ta đi tới thì ra Hà Phong, Hà Bình, Cầu Cừ, Bỉm Sơn, Đồng Dao. Cũng có một con đường rẽ phải dưới chân đồi kia gọi là đường Mười Ba, qua Hà Phong, Hà Toại, Hà Lan… ra tới cầu Báo Văn. Qua cầu này là sang đất Nga Sơn. Nhưng đi đường ấy hơi xa. Cứ men theo con đê trước mặt này… (Lệ Uyên giơ tay chỉ con đê đất pha cát, mặt đê rộng khoảng 6m, cao chừng 4m, chạy vòng theo hướng Đông Bắc) cũng ra tới cầu Báo Văn. Đường này thì ngắn hơn nhưng vắng người…

CHƯƠNG 10
CÁC ĐỒNG CHÍ CỐ VẤN TÀU

Con cún Thùy Dương hình như chẳng để tai gì mấy lời chỉ dẫn của cô giáo Lệ Uyên, nó đang mải nhìn đâu đâu…

- Chị xem kìa!

- Cái gì thế?

Theo ngón tay trỏ của Thùy Dương, chị Hai Lệ Uyên đã nhận ra đám người đang ngược chiều đi tới. Một tiểu đội lính. Một người cỡi ngựa, còn những người kia đi bộ. Họ mặc quân phục màu đất sét vàng, đội mũ vải trông chẳng giống gì bộ đội Cụ Hồ trong màu xanh lá cây quen thuộc. Hai chị em nhìn sững.

Người ngồi trên yên ngựa, chắc là sĩ quan, một tay giơ cao, đầu cúi gật gật, kêu lên:

“Nỉ hảo!”

Thùy Dương há miệng, không hiểu con người quái lạ đang nhe cả hai hàm răng kia là ai, vừa nói cái gì?

Y lại xổ ra tiếp một tràng nghe như chó sủa:

“Duê Nản giẩn mỉn hở Trung Của giẩn mỉn, ủa mẩn sư I cha xung ti… Mảo trủ xỉ oan xuê! Oan xuê! Hủ trủ xỉ oan xuê!” (Nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc là anh em một nhà. Mao Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!)

Mấy người lính đi bộ theo sau chân ngựa cười vui vẻ, nhất loạt vung tay lên hô:

“Oan xuê! Oan xuê!”

Toán lính đi qua rồi, hai chị em mới sực nghĩ ra hình như họ là người Trung Quốc? Chỉ có thể là Trung Quốc thôi. Mà không Trung Quốc thì cũng Tàu. Trung Quốc - Việt Nam, Tàu với Ta. Anh em một nhà. Họ là anh, mình là em. Còn ai vào đó nữa?

“Quân của Bác Mao sang giúp ta đấy!”

Một người vừa dừng lại bên đường tay bắc loa mồm hồ hởi kêu to cho bà con, nhân dân Việt Nam mình biết.

Y như rằng chỉ đi tới đoạn đường nữa hai chị em lại gặp thêm một đồng chí Trung Quốc, duy nhất chỉ một đồng chí Tàu thôi, còn tất cả là Ta; trong số Ta một nửa bộ đội, một nửa dân thường… đang đứng vây quanh.

“Đồng chí Vương !”

Có ai đó kêu lên.
“Oảng thủng trư!”

Một người to béo nung núc e đến cả tạ thịt và mỡ trông thật dễ thương mà buồn cười đang đứng bên con ngựa nâu gầy còm, giữa vòng vây của bà con Việt Nam rộc rạc ốm đói chỉ còn da bọc xương.

Đám đông xôn xao.

“Cố vấn Trung Quốc do Bác Mao cử sang Việt Nam để giúp Bác Hồ và Đảng ta làm cuộc Cách mạng Cải cách Ruộng đất!”

Cố vấn cười híp mắt, nửa giống Mảo Trủ xỉ nửa hao hao con lợn đang sục đầu vào máng ăn chợt dừng lại, ghếch mõm lên nhìn người cho nó ăn.

Oảng-thủng-trư cười, gật gật đầu.

“Hảo! Hảo! Hẩn Hảo!”.

Đám đông lại ồn ào:

“Ông ấy bảo Trung Quốc sẽ giúp cho ta thêm nhiều gạo để cứu đói…”

“Không phải gạo đâu! Bánh khảo! Bánh bao!”

“Bác Mao thích ăn bánh khảo! Người Tàu hay ăn bánh bao!”

Một người cao giọng nói ra vẻ hiểu biết:

“Hảo là tốt. Không phải gạo, chẳng phải bánh khảo, bánh bao đâu! Đồng chí Trung Quốc khen chúng ta tốt, rất tốt!”

“À ra thế!…”

Họ lại cười. Điệu cười hân hoan đồng cảm. Tiếng Trung Quốc vậy mà nghe hay đáo để. Gần gũi anh em, sát nách nhau là thế mà cứ như tiếng ai đâu xa lạ. Có ông anh Trung Quốc khổng lồ ngày đêm bảo vệ, kè kè chở che thì đố thằng đế quốc nào trên thế giới này còn dám sờ mó đến chú em Việt Nam nữa!

Cố vấn Vương đang loay hoay đặt một chân vào bàn đạp để tạo thế trèo lên yên ngựa.

Mới vừa đu người lên, ráng sức đưa chân phải qua lưng ngựa, chẳng hiểu làm sao mất đà, cố vấn loạng choạng rơi từ trên mình ngựa xuống… Hự! Cả đống thịt đồng chí nằm chình ình trên đất.

Đám đông cười rộ lên. Người Việt Nam vốn sẵn cố tật hay cười! Hình như cảm thấy mình có lỗi đối với ông anh vĩ đại, họ xúm nhau lại nâng đỡ cố vấn dậy, vừa xuýt xoa phủi bụi lau giày vừa bóp nắn tay chân cho đồng chí.

Một sáng kiến được đưa ra để sửa sai ngay tức thì sự cố đáng tiếc…

Họ phân công, giao nhiệm vụ cho một anh ngồi xổm dưới đất để đồng chí Vương bước lên, đặt chân đứng trên đôi vai, và hai anh nữa đứng sát bên ngựa cúi đầu còng lưng xuống để cố vấn tiếp tục phóc lên, họ sẽ dùng vai và đầu đội hai mông đít tạo thế ưu tiên và thuận lợi cho cố vấn dễ dàng gác chân phải qua lưng ngựa rồi vững vàng ngồi vào yên…

Cố vấn hiểu ý, thông cảm và làm theo đúng nguyện vọng thiết tha của quần chúng – Quân Chủ lực Cách mạng!

Xem kìa! Những cặp môi mím, hàm răng nghiến, mặt mày nhăn nhó ráng sức… Cố vấn đã gác chân qua yên ngựa, vậy mà lóng ngóng thế quái nào, cẳng chân trái lại tuột ra khỏi bàn đạp, vô ý đạp thẳng vào đầu một người anh em Việt Nam làm đồng chí này choáng váng, té ngửa xuống… Rất may là sau khi lóp ngóp bò dậy, đế dày da xăng đá của cố vấn chỉ làm xây xát nhẹ một bên má… Không can chi!

“Xia xia nị!”

Cố vấn gật gật đầu cười, vung xòe năm ngón tay ra trước mặt. Rồi hai bàn tay đan ngón, nắm lại, giơ lên quá đầu bày tỏ dấu hiệu đoàn kết keo sơn, hữu nghị bền vững.

“Xia xia nị! Xia xia nị!”

Cố vấn nhắc lại một lần nữa trước khi giật dây cương cho ngựa lên đường thẳng dong.

Đoàn người ngựa đã khuất bên kia dốc rồi Thùy Dương vẫn còn ngơ ngác… Ả ngây thơ hỏi:

- Chị Uyên! Cái ông cố vấn Trung Quốc đó đang đi tìm chỗ để “ỉa” có phải không?

Lệ Uyên tròn mắt ngạc nhiên:

- Sao em lại nghĩ thế?

- Thì chị không nghe à? - Ả cắt nghĩa rành rọt phân minh - Ông ta nói xia xia nghĩa là đi xia, đi cầu tiêu chứ còn gì nữa. Lại còn thêm tiếng ị vào cho rõ nghĩa. Mà ị tức là ỉa. Xia xia ị, nghĩa là tôi đi ỉa đây. Chính xác cả trăm phần trăm! Người to béo thế, ăn no quá cho nên cơn đau bụng nó mới quặn lên, muốn đi ỉa ngay mà không biết ỉa chỗ nào! Chắc mấy người kia đang dẫn ông ta đi ỉa đó, chị ạ…

Lệ Uyên mỉm cười, lắc đầu:

- Chịu! Chị thật chẳng còn hiểu ra làm sao nữa! 
CHƯƠNG 11
NGÀY LONG TRỜI, ĐÊM LỞ ĐẤT

Vừa đặt chân lên đất Nga Sơn chẳng hiểu sao tự nhiên khựng lại, hai chị em nhìn nhau ngơ ngác. Trên đầu họ như có hàng loạt bom nổ liên tiếp, dưới chân đất rùng rùng xô dạt. Từ sau những luỹ tre xơ xác, một đoàn người áo nâu quần đen, mặt mày hốc hác, bàn chân đất nối nhau đi hàng hai, giơ những cánh tay khẳng khiu lên trời, đồng loạt hô vang:

- Đả đảo giai cấp địa chủ cường hào phản động, áp bức bóc lột nông dân ta!

- Đả đảo! Đả đảo!

- Đả đảo bọn địa chủ, quân Việt gian phản động, lũ tay sai bán nước cưỡng hiếp đồng bào ta, hành hạ nông dân ta!

- Đả đảo! Đả đảo!

- Đảng Lao động Việt Nam muôn năm!

- Muôn năm!

- Hồ Chủ tịch muôn năm!

- Muôn năm!

- Hoan hô người Anh Cả Trường Chinh!

- Hoan hô!

- Hoan hô đồng chí Hoàng Quốc Việt!

- Hoan hô!

- Hoan hô đồng chí Lê Văn Lương!

- Hoan hô!

- Hoan hô đồng chí Hồ Viết Thắng!

- Hoan hô!

- Hô! Hô!…

Đoàn người mang cái tử khí lạnh toát và khủng khiếp rùng rùng đi qua trước mặt hai chị em khiến họ rùng mình hoảng sợ.

Những người đi sau cùng có mang theo súng trường, dao mác, thuổng cuốc, gậy gộc cùng với dây trói, vậy mà những nắm đấm đang tung lên trong không khí kia xem ra lại đáng sợ hơn súng đạn vũ khí nhiều. Đoàn biểu tình đang đi về phía cái bãi rộng ở rìa làng, dưới chân núi Tam Lênh; nơi đây đã lâu rồi không thấy có ai họp chợ hoặc đá bóng…

- Đả đảo!

- Ảo ảo!

- Muôn năm!

- Ăm… ăm!…

Tiếng hô còn dội lại như muốn nhắc nhở cảnh báo Trời về cái gọi là “Nhất Đội” rồi mới đến “Nhì Trời” chứ không phải như lâu nay Trời vẫn cứ lầm tưởng. Và Con Người thì phải sờ lên gáy xem xa hay gần, sau cái đại biến này thế tất ít nhất phải có dăm ba tên tội phạm gục ngã xuống vì đạn bắn, dao chém hoặc thuổng cuốc bổ toác cái đầu ra… Có thế mới đảm bảo cho Cách mạng thành công. Như vậy nông dân ta mới là Quân Chủ lực dưới sự lãnh đạo của công nhân, giai cấp tiên phong…

Câu hò vẫn vang lên mê hoặc, lôi kéo…

- Hò lơ hó lơ lắng tai nghe tiếng ai hò lờ…

- Ai đi hò lờ…

- Hó lơ hò lơ…

Thùy Dương ngây người ra hỏi:

- Hồ Viết Thắng là ai hở chị?

Lệ Uyên cau mày, cố nhớ:

- Không biết. Bác Hồ thì cả nước, cả thế giới biết rồi. Ông Trường Chinh thì chẳng cứ bên Ta, ngay đến bên Tàu họ cũng quen tên. Các ông Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương thì nhiều lần bà con mình cũng có nghe.

Còn ông Hồ Viết Thắng là ai, ở đâu ta?

- Chịu chết.

- Có lẽ là một nhân vật quan trọng trên Trung ương?

- Ông Thắng này họ Hồ… Có khi bà con với Bác Hồ chưa biết chừng.

- Không bà con thì cũng học trò!

- Nhìn xem kìa!

Thùy Dương nhìn theo ngón tay chỉ của Lệ Uyên.

Trong một cái vườn sát ngay bên đường có hai người đàn bà đang làm trò gì đó không ai hiểu nổi. Hai người đứng trước hai cây chuối. Người đàn bà nhiều tuổi đầu trùm khăn mỏ quạ, mặc váy đụp rách. Người đàn bà ít tuổi hơn đầu quấn khăn vành, tóc thả đuôi gà, mặc áo quần nâu. Cả hai đều làm những động tác giống nhau.
Một tay chống nạnh, tay kia giơ ngón trỏ chỉ vào cây chuối, miệng vừa nói vừa hét theo nhịp vỗ tay và điệu hát của tốp nam nữ thanh niên ngồi phệt dưới đất làm thành vòng tròn vây quanh.

Không nghe rõ lời hai người đàn bà, chỉ nghe được lời hát:

Chúng ta cùng nói vì chúng ta căm thù
Cùng tố rằng địa chủ giết người
Loài rắn độc thâm hiểm nhất đời
Nhớ lấy từng lời bần cố nông ơi!

Hai người đàn bà làm những động tác rất ăn khớp và trùng nhau. Khi cả hai giơ ngón tay trỏ xỉa xói, đâm bổ xuống cây chuối mà họ đang hình dung ra đó là thằng địa chủ phản động hoặc con mẹ địa chủ bóc lột gian ác quỳ trước mặt họ trên đấu trường, thì toàn thân họ đổ về phía trước, đít vổng lên đàng sau; khi họ rút tay về, thân hình ngả ra phía sau thì mái đầu họ cùng ngửa lên.

Chúng đi ăn cướp từng hạt lúa giống
Chúng manh tâm bắt người để tang trâu
Lòng chúng ta ghi căm hờn sâu  
Bần cố nông ta xây tự do!

Cứ theo lời hát mà suy ra thì đế quốc và địa chủ cũng chỉ là một duộc, cấu kết, móc nối nhau. Tuy nhiên, địa chủ mũi tẹt da vàng có thể hình dung ra trước mặt không đến nỗi khó khăn lắm, cho nên hai người đàn bà chỉ cần dùng ngón tay trỏ như mũi dùi khoan vô đâm xuống, còn đế quốc thì chúng ở xa nhiều, phải tưởng tượng ra một cách vất vả hơn; đã thế, đế quốc mắt xanh mũi lõ là quan thầy, cha mẹ của địa chủ phong kiến, cho nên niềm căm thù của hai người đàn bà này không thể chỉ dùng tới ngón tay trỏ mà phải huy động thêm 4 ngón tay kia nữa nắm chặt lại thành quả đấm giơ lên rồi nện xuống:

Chúng ta thề đánh vào đầu đế quốc!
Nó thông đồng với bọn địa chủ thu tô!

Rồi dừng lại không phải để nghỉ mà để lấy lại tư thế mới tấn công, họ biểu diễn những động tác quay vòng, lần thứ hai, lần thứ ba… vẫn như cũ, cũng theo nhịp hát vừa rồi, nhưng hình như có hơi khác đi:

Nhớ lấy từng phần, bần cố nông ơi!

Mối căm thù được phân ra “từng lời” cho dễ nhớ rồi nối kết, keo đúc lại thành “từng phần” để găm giữ vào tim óc con người. Nhạc sĩ tài ba đặt ra bài hát đã thể hiện khéo léo và đúng khớp cái thâm ý của ông Đội, kẻ đang ngồi trong vòng vây của Quân Chủ lực, điều khiển khơi gợi cái man dại hận thù của đám đông sôi sục.

Sức mạnh ma quái đầy duy tâm thần bí đã lây nhiễm bùng phát nhanh như chớp vào những con người duy vật chân quê đến nỗi… Con Quỷ Đỏ sau khi chui vào được đầu óc chàng nhạc sĩ u mê cuồng dại vừa trông thấy cũng hốt hoảng vùng căng tháo chạy, khiến cho bài ca phải tạm ngừng.

Người đàn bà lớn tuổi lùi lại hai bước, vỗ đít đánh bộp, đâm bổ tới trước cây chuối la lên giọng khàn đục:

- Thằng địa chủ Q. Mi có biết tao là ai không?

Rồi dừng lại, lúng túng. Ông Đội đang đứng tách riêng, cạnh cái đụn rạ gần bên, vội bước ra lắc đầu giơ tay xua xua:

- Không được! Nhỏ quá! Yếu quá! Phải thét to, gào lên làm sao cho địa chủ nó sợ chứ! Làm lại!

Người đàn bà tập lại. Một lần. Hai lần. Tới lần thứ ba ông Đội miễn cưỡng gật đầu:

- Tiếp tục! Nào bây giờ… kể khổ đi!

Người đàn bà lấy ngón tay trỏ dí vào cây chuối, la to:

- Q! Mi có biết suốt mười hai năm tao đi ở cho nhà mi, mi không hề trả công cho tao một đồng nào; mi bỏ đói tao nhiều khi như con chó… Mỗi bữa mi cho tao ăn cái chi mi còn nhớ không? Hử! Một nắm cơm khoai với mấy quả cà thâm. Cả đời tao chưa được ăn lấy một miếng “thịch”!

Có tiếng cười khúc khích trong đám người ngồi ở góc cái sân đất cách Tên-địa-chủ-phản-động-Cây-chuối khoảng bảy tám bước chân: lực lượng quần chúng này có mặt ở đây vừa để đi xem vừa để ủng hộ Quân Chủ lực.

Ông Đội quay đầu lại, trợn mắt:

- Cười hả! Cười cái chi! Ai cười đó?

Và lầm bầm giọng Nghệ Tĩnh:

- Ý thức giai cấp, tinh thần đấu tranh… mà như rứa hử?

Rồi quay lại Rễ Cái, diễn viên hơi u mê vụng về, ông Đội đạo diễn tuồng nói như gắt:

- Tiếp tục đi!

Người đàn bà lúng túng một lúc để nhớ cho ra.

- Một lần… Tao đói quá… Tao mới phải mò vào nhà bếp của mi… Tao mở vung nồi cám lợn… thế là con chó nhà mi nó mới nhảy vào cắn ngay giữa trán tao… Tao vùng chạy ra sân. Mi đã không xua đuổi chó đi mà lại còn xuỵt cho nó ngoạm vào chân tao. Vết sẹo đang còn rành rành đây!

Người đàn bà kéo váy, ghếch một chân lên.

- Đã đảo thằng Q. địa chủ cường hào gian ác!

- Đả đảo! Đả đảo!

Đám quần chúng cách mạng ngồi ở góc sân nhất loạt cùng hô. Họ hô không lấy gì làm to lắm bởi vì đây chỉ là diễn tập; mai mốt ra đấu-trường-thật đấu gục, tử hình thằng Q. thật chứ không phải thằng Q-cây-chuối, họ mới ra sức hô to.

Ông Đội gật gật đầu, tỏ ý hài lòng hơn lúc nãy, bảo Rễ Cái ngồi xuống nghỉ.

Đến lượt mình, người đàn bà trẻ cũng làm lại những động tác của người làm trước mình nhưng có phần nhanh hơn, khéo léo hơn.

- Thằng Q! Tên địa chủ cường hào gian ác, thằng Việt gian phản động bán nước… Mi có biết Bà là ai không?

- ?!

- Nói đi, thú tội đi… Mi đã cưỡng hiếp tao bao nhiêu lần?

- ?!

- Ba lần! Có đúng không?

- ?!

- Mi trèo lên người tao, đè tao ra, cưỡng hiếp tất cả… những… ba lần?

Rễ Cái chợt đứng im, bối rối. Ông Đội bước tới gần bên nói như gắt:

- Đã nhắc đi nhắc lại bao nhiêu lần rồi, đầu óc để đi mô, sao vẫn không nhớ? Ba lần thì làm sao đủ để gây lòng căm thù, nâng cao tinh thần đấu tranh… Hử?

Người đàn bà đỏ mặt, lắp bắp:

- Dạ. Ba mươi… lần!

- Tập lại! 

Người đàn bà đã ra sức, quyết tâm hoàn thành cái bài diễn tập khó khăn này. Ba mươi lần! Đúng ba mươi lần. Lỗi tại Cây chuối đâu phải tại người! Thằng địa chủ Q. liệu cái thần hồn, chờ ít hôm nữa…

Lệ Uyên ngây người đứng xem cảnh tượng kỳ lạ. Cho tới khi hai người đàn bà rời khỏi hai cây chuối và đám người ngồi ở góc sân cùng đi với Rễ Cái theo lệnh của ông Đội ra trụ sở Uỷ ban cũ để họp bàn… chị mới sực tỉnh. Hoá ra nãy giờ chị đứng đây có một mình? Thùy Dương đâu? Ả đã siêu thoát trước rồi chăng? Cảm giác đơn độc bơ vơ khiến Lệ Uyên lo lắng, hốt hoảng.

Kìa! Ả vừa xuất hiện. Thong thả bước từ trong ngõ, tay cầm một bông hoa dâm bụt đặt trên cặp môi hơi dẩu ra rất chi là điệu nghệ…

- Em đi đâu từ nãy giờ, sao lại để chị một mình đứng ở đây?

- Làm gì mà chị Hai cuống lên thế? Em vừa từ trong nhà kia ra.

Ả giơ tay chỉ một ngôi nhà nửa lợp ngói nửa lợp tranh, trước sân lố nhố đám người phần lớn là đàn bà, trẻ con.

- Em xem cái gì trong đó?

- Cũng như ở đây thôi. Có điều trong đó sôi động hơn, dữ dội hơn. Ở đây hai mụ đàn bà cứ vỗ đít nhảy đành đạch trước hai cây chuối trông chán chết, em thấy mà! Ở trong kia hai gã đàn ông giậm chân gầm gừ, la hét, lúc thì xỉa đầu mũi ngón tay, khi thì vung nắm đấm….

- Thì có khác gì ở đây?

- Khác chứ! Họ tập đấu tố trước… hai cây cột nhà!

- Hai cây cột?

- Ừ hai cây cột nhà. Cây cột nhà mới hay chứ. Cây cột ở trong nhà nó mới biết nhiều chuyện gia đình xã hội.

Cây chuối ngoài vườn thì chỉ nghe có gió thổi, chim hót, giun dế rĩ rền… Chị quên lời các cụ xưa à? Không biết thì dựa cột mà nghe. Nghe không phải là nghe người ta nói đâu mà là nghe cây cột nói. Cây cột biết đủ mọi chuyện thế gian…

- À ra vậy. Chịu em thôi, Thùy Dương ơi, hoá ra em khôn mảnh, bỏ chị đứng đây một mình, đi xem cái nơi vui hơn, hay hơn. Em phải xin lỗi chị đi.

- Chị tha lỗi cho em…

Thùy Dương choàng hai tay ôm lấy chị Hai. Họ nghẹn ngào những gì chẳng thành lời. Cười như trẻ thơ. Tiếng cười tan trong gió, chạm vào những nụ hoa đào còn ngậm kín trên cành, dù Xuân chưa tới đã mấp máy môi, rạo rực…

- Chúng ta vừa xem cái gì nhỉ, em biết không?

- Ca kịch Bắc Kinh đấy chị ạ.

- Chị cũng ngờ ngợ…

- Ông chồng yêu quý của em có lần bảo Bác Mao viết kịch bản. Nhà Hát tuồng Thiên An Môn diễn trước, rồi đưa sang Ba Đình Hà Nội… Ta cứ thế mà làm theo Tàu… Văn nghệ Quần chúng phục vụ Công Nông Binh. Gió Đông thổi bạt Gió Tây. Gió Bắc đè lên Gió Nam. Gió Đen, Gió Đỏ, Gió Vàng, Gió Xanh… loạn xạ thổi vào nhau.

- Em của chị giỏi thật. Cái gì cũng biết.

Họ đang đi trên đất Nga Lĩnh.

Từ trên cây xoan sát ngay bên đường đang phát đi lời kêu gọi và hô hào của Đội Cải cách. Một người ngồi dạng háng trên cành cây, tay cầm cái loa sắt tây, mồm áp sát vừa đọc vừa la theo lời nhắc của người ngồi bên, tay cầm mảnh giấy có ghi sẵn những dòng chữ…

“Đồng bào, đồng chí chú ý!

Hai giờ chiều nay xin kính mời tất cả bà con chúng ta, bần cố nông và trung nông lớp dưới, không kể trung nông cứng và phú nông trẻ già lớn bé đều tập trung trước trụ sở Uỷ ban cũ theo tổ chức đoàn thể. Sau đó sẽ kéo quân về sân vận động, cùng bà con Nga Bạch, Nga Thủy, Nga Thanh, Nga Liên, Nga Phú… phối hợp cùng lúc hai chiến tuyến, hai đấu trường… để tham gia đấu tranh, đấu gục hai tên địa chủ phản động, Việt gian bán nước, tay sai của đế quốc, hai thằng cường hào ác bá, hai con rắn độc Mai Duy Vỹ và Trần Vĩnh Quyền.

Hôm nay là 27 tháng Chạp năm Ất Vị 1955. Đội sẽ tuyên án tử hình, xử bắn ngay tại chỗ hai tên này để bà con đồng chí ta ăn một cái tết Nguyên Đán thật phấn khởi vui vẻ! A lố! A lồ!

Lệ Uyên giật mình. Mai Duy Vỹ. Trần Vĩnh Quyền. Tên cha mình, tên bạn của cha mình… cả hai người vừa được nhắc đến trên loa phát thanh!

- Như vậy là thế nào nhỉ, Thùy Dương… Cha của chị và ông Quyền đã chết rồi kia mà. Sao bây giờ lại còn đưa ra xử bắn nữa?

- Có thể người ta giết lần thứ hai…

- Ơ hay!

- Đã giết một lần rồi nhưng người bị giết sống lại, thì người ta phải giết lần thứ hai, chứ còn sao nữa!

- Nếu vậy thì… làm thế nào bây giờ? Chị em mình phải đi nhanh lên, đến chỗ sân vận động, đấu trường… may ra có thể thấy được cha chị… Ối cha ơi! Cha kính yêu của con! Bố Mai Duy Vỹ… Bao năm rồi xa khuất, con chỉ mơ ước được thấy lại cha một lần. Một lần duy nhất mà thôi!

Hai chị em cầm tay nhau cùng chạy. Phải tới ngay đấu trường may ra còn kịp. Nhưng khốn nỗi bàn chân họ không sao nhích lên được mà bước chứ chưa nói đến chạy. Lực hút nào quái lạ từ dưới lên níu chặt, đúc kết hai ống chân họ lại, bê tông hoá… Những mái lều tranh, hàng cau và con đường trước mặt cũng mờ dần, mờ dần. Hơi gió ngừng thở trên ngọn cỏ, lá cây… Những con chim sẻ đang cãi vã trò chuyện cũng bảo nhau lặng im.

Đột nhiên, từ trên nền da trời bầm tím trước mắt họ hiện lên những quầng sáng đỏ; những tia lửa bắn tung toé đuổi theo nhau thành hình vòng cung. Cảnh tượng xem ra có phần hứng khởi bởi tiếng reo hò, vỗ tay từ đâu đó rộ lên, chen lẫn tiếng sóng biển ì ầm vọng vào ngoài cánh đồng cói. Nhưng những tiếng nổ cách quãng tiếp theo dẫu không to lắm, vẫn làm hai chị em giật mình kinh hãi, đến nỗi họ phải nắm tay nhau để khỏi đổ vào nhau mà sụm xuống… Những tiếng nổ khiến bất cứ ai ở Bên Ấy hay ở Bên Này, nghe thấy cũng thất kinh hết hồn.

Thùy Dương nhẩm tính:

- Sáu phát… tất cả chị ạ.

Lệ Uyên cũng vừa đếm xong:

- Ừ. Sáu phát súng trường.

Lại thêm hai tiếng nổ tiếp. Nhẹ hơn nhưng rất rõ. Rồi im lặng.

Đất trời đang từ từ nứt làm đôi. Răng rắc. Rào rạo…

Lệ Uyên bỗng giơ hai tay lên ôm lấy đầu:

- Ôi! cái đầu tôi sao lại như thế này?

Thùy Dương cũng kêu lên:

- Chị ơi! Chị làm sao thế?

Lệ Uyên lảo đảo, toàn thân ngã vào vòng tay Thùy Dương.

- Có phải đầu chị toác vỡ ra làm hai rồi phải không em?

Thùy Dương cố gỡ bàn tay chị, những ngón tay co quắp… Ả trố mắt nhìn vào mái tóc đen dày quen thuộc, có những sợi quăn hơi cứng vòng xuống vầng trán sáng… Không có dấu vết gì tỏ ra là cái trôốc của chị Hai nứt làm đôi cả. Có lẽ là cơn đau đột biến của phụ nữ thôi. Ả cũng đã từng có những cơn đau như thế.

Hai chị em cùng ngã xuống bên đường.

Đất trời tối đen. Cái màu đen pha chì đun chảy ra từ đâu, khi nào, bây giờ kết đúc lại thành một khối vô hình vô tận. Lỗ tai người bị nút kín. Mắt dù cố mở to vẫn không thấy gì cả. Cơn sợ hãi như luồng điện giật, còng khoá cả thân mình, đau đớn, tê dại… bất động. Mà đâu chỉ hình hài họ, cả Trái Đất, Vũ trụ cũng bị còng khoá lại!




CHƯƠNG 12
NHÀ HỌ MAI

- Chị Uyên ơi, ngồi dậy đi!

Thùy Dương thoắt ngồi dậy, cầm tay Lệ Uyên kéo lôi. Chưa kịp ngồi dậy, Lệ Uyên đã vụt đứng lên theo… Lực hút nào vừa kéo lên, lực đẩy nào đang dồn tới? Họ như cùng đi trên mây, lướt trên sóng… Trôi... Trôi…
Rồi dừng lại bên đường làng, phía trước một ngôi nhà có hàng rào dâm bụt chen lẫn với cúc tần. Ngôi nhà ngói 5 gian đứng giữa khu vườn rộng bốn sào đất, vây bọc những bụi tre luồng ken dày, rậm rì:

- Nhà chị đây rồi, em ơi!

Lệ Uyên nói, bối rối cầm tay Thùy Dương đặt lên ngực mình khiến ả bật cười.

- Chị làm cái gì lạ thế?

Lệ Uyên nhắm mắt lại.

- Dù chúng ta có là người âm như ở Bên Này vẫn gọi thì từ Bên Ấy trở về đây, ai mà không nghẹn ngào xúc động khi đặt bàn chân trước ngõ lối đi vào nhà mình, nhà của cha mẹ ông bà, tổ tiên trên quê hương. Ồ, bàn chân chị lại nặng trĩu rồi và trái tim… trái tim của con người! Nếu ở Bên Này trái tim của ai đó ngừng đập thì sang tới Bên Ấy nó lại tiếp tục đập theo một nhịp khác mà những người dương ở Bên Này đâu hình dung ra được.

- Chị thật sung sướng. Chị còn có một ngôi nhà như thế này để mà trở về, còn em thì…

Chưa nói xong Thùy Dương đã tay ôm lấy mặt khóc.

- Thôi mà! Nhà chị cũng là nhà em, nhà của chúng ta… Vào đi em!

Một con ong mật từ đâu trên bụi dứa hay cây lựu bay tới, vòng vo quanh đầu hai chị em, cất tiếng rè rè hỏi han. Đôi bướm vàng từ luống cải xanh vội tung cánh bay theo, chập chờn trên vai, quấn quít đưa đường dẫn lối cho khách vào nhà.

Ngôi nhà 5 gian lợp ngói vảy cá, hai chái cong lên như mái đình làng, có hai cửa sổ, nối liền với nhà bếp thấp lè tè…

Lệ Uyên dừng lại trong sân, những viên gạch vuông màu nâu bạc lên rêu, thẳng hàng, nhẫn nhục phơi mặt cùng năm tháng. Chị cúi nhìn từng hình bóng thân thuộc, thân thuộc đến nỗi có một viên gạch vỡ làm đôi, lâu nay không ai tìm viên khác để thay thế, cũng chẳng có xi măng vôi cát để hàn gắn lại, đang nằm ngay dưới chân mình... năm nào đây bé Lệ Uyên chơi nhảy cò cò cùng bọn trẻ cứ phải tránh sang một bên.

Cái bậc thềm bằng đá tảng gồm 6 tấm nằm ngang kề sát kia vẫn kiên gan bám giữ, tạo thế cho hàng hiên lát gạch, cùng nhau cố thủ sao cho ngôi nhà từ đường này đứng vững tới ngàn năm. Và những cánh cửa lim nặng cả tạ, trời ôi, mở ra khép vào nhìn đã mệt người; tưởng đâu như Trần gian Bên Này là Nhà tù Lớn không bằng!… Thứ cửa ấy mà lỡ rớt xuống đầu ai thì gây ra án mạng chứ không chơi!

Lệ Uyên khẽ kéo một cánh. Cửa mở. Hai chị em cùng bước vào. Ánh sáng bên ngoài vào theo, trong nhà dần dần hiện ra những đồ vật phủ mờ bóng tối, mặc dù trước mặt họ là một đĩa đèn dầu lạc, ba ngọn bấc đang cháy lửa hiu hắt... Vừa chợt thấy người về, ngọn đèn mù loé lên ánh vui mừng rồi lụi dần, trở lại với nỗi đau của đêm dài thiên thu.

Thùy Dương trố mắt nhìn hai bức hoành phi treo bên hai cây cột nhà với dòng chữ Hán thếp vàng nền sơn đen và bức trướng treo phía trên bàn thờ họ có chữ Hán lớn. Ả nhớ lại ngôi nhà gỗ ba gian lợp tranh ở Nam Đàn quê nhà. Bàn thờ trong nhà ả chỉ là cái bàn gỗ tạp có đặt bát hương đơn sơ trơ trọi. Phía trên bàn thờ, treo buộc vào vách đất là một tấm cót quét vôi có dòng chữ viết bằng mực đen (hay là nhọ nồi cũng chẳng rõ) pha trộn mực tím học trò. Dòng chữ khẩu hiệu này do chính tay ông thân sinh ra Thùy Dương viết, không ai dám thay đổi, cứ để vậy qua bao nhiêu năm: “Hồ Chủ tịch muôn năm! Đảng Lao động Việt Nam muôn năm!”

Trước ngày lên đường đi chiến dịch Tây Bắc, anh bộ đội Cụ Hồ, quân của ông Giáp đã viết mấy chữ đó.

Lệ Uyên nói:

- Bốn chữ Hán trên bức trướng treo tường kia theo lời mẹ chị nói, là chữ của Cụ Tổ. Ngày xưa, bên phải góc bàn thờ kia còn có cờ biển của Vua ban. Năm 1945, Cách mạng tháng Tám, người nhà sợ quá vội đem cất giấu. Bây giờ còn nằm ở đâu hay đốt hết rồi cũng chẳng ai biết. Toàn là những vật nguy hiểm cả, em ạ.

Thùy Dương hỏi:

- Ông Cụ Tổ chị ngày xưa là ai?

Lệ Uyên chớp chớp mắt, cười buồn:

- Cả nhà không ai được phép gọi tên Cụ. Trong câu chuyện thường ngày, tiếng gì chữ gì xa xa gần gần tên Cụ đều phải nói nhỏ lại hoặc đọc chệch đi. Chị đâu có được thấy Cụ. Lúc chị sinh ra, Cụ đã mất lâu lắm rồi. Bà nội bảo, Cụ người đẹp… Mắt sáng, chòm râu trắng như cước. Cụ đậu Thám hoa thời Tự Đức. Dòng họ, dân chúng cùng đi đón rước cờ biển vua ban cho Cụ về làng… Cố nội chị và ông nội chị, hai cha con đậu cử nhân thời vua Thành Thái…

Dừng một lát, mắt nhìn quanh như tìm kiếm vật gì, Lệ Uyên nói nhỏ lại, thầm thì:

- Nhà này, cụ Nguyễn Thượng Hiền đã từng ghé qua. Nghe nói hai người ngồi ở ghế tràng kỷ kia, vừa uống trà vừa đàm đạo. Thơ của hai người xướng họa về sau bà nội chị còn giữ được. Ông Đinh Công Tráng cũng tới đây với mấy đồng chí; họ thức tới khuya, cùng nhau soạn thảo Hịch Khởi nghĩa Ba Đình.

Trong nhà tự nhiên như có sương khói lãng đãng. Mấy cây cột tròn gỗ lim hiện dần ra tựa hồ những nhân chứng của thời gian. Đến cả bộ ấm trà cổ màu gan gà đặt trên khay sứ bày 6 chén màu lam có hình vẽ “Bảy người hiền trong Rừng Trúc” như cũng muốn kể lại những chuyện xưa, nhắc lại những người trong nhà, nhất là những ai đã ngồi bên bộ tràng kỷ kia, rằng cả trăm năm lẻ mơ màng, cuộc đời dẫu có lúc lành lúc dữ, dù là gì đi nữa thì suy cho cùng, rốt cục lại… cũng chỉ là giấc mộng! 




CHƯƠNG 13
LỆ UYÊN GẶP LẠI BỐ MAI DUY VỸ

Có tiếng động gì rất lạ. Hai chị em giật mình nhìn ra.

Một cơn lốc từ ngoài ngõ quay vòng theo chiều kim đồng hồ đã vào tới trong sân. Đứng lại giữa sân và xoáy tròn. Bụi cát lá cây rơi xuống những viên gạch, cọ xát, vang lên nghe như ai rên xiết khóc than.

Và luồng sáng nửa vàng nửa đỏ từ ngoài cửa đã rọi thẳng vào trong nhà, ập lên tường, bắn ra vụn vỡ, hoà cùng sương khói, toả bay khắp mấy gian nhà.

- Các con đấy à?

Họ đưa mắt nhìn nhau. Tiếng ai nói từ đâu vừa phát ra?

Một vòng tròn sáng, mờ tỏ ánh vàng, chầm chậm xoay vòng:

- Thầy đây mà, Lệ Uyên. Con không nhận ra ư?

Giữa vòng tròn sáng hiện ra một cái đầu người. Xoay chầm chậm. Lệ Uyên đếm từ vòng quay Một đến vòng quay thứ Ba mươi sáu thì cái đầu người dừng lại theo chiều thẳng đứng.

- Thầy đây mà, cha của con đây… Lệ Uyên!

Lệ Uyên nhìn sững. Từ cái đầu lại tiếp nối, hiện dần ra toàn thân thể một con người mặc quần áo trắng. Màu trắng tàn rã dần, rụng rơi hết để trở lại nguyên hình màu nâu ố bạc của bộ áo quần rách tủa…

Cha của Lệ Uyên đấy ư? Mai Duy Vỹ, người đàn ông 36 tuổi kia là cha chị, chứ còn ai khác nữa!

Lệ Uyên định quỳ xuống, sụp lạy, nhưng rồi lại bước tới, giơ hai tay lên chới với!

- Cha!

Thùy Dương cũng vội chắp hai tay trước ngực, cúi đầu:

- Con chào… bác!

Người đàn ông đưa mắt nhìn Thùy Dương, khẽ gật đầu rồi lùi lại, giơ một tay lên trước mặt.

- Khoan đã - Mai Duy Vỹ nói - Lệ Uyên! Đừng lại gần cha mà máu cha có thể vấy sang người con. Họ vừa mới giết cha xong! Con có nghe những phát súng nổ vừa rồi cùng tiếng thuổng cuốc đập xuống đầu cha răng rắc, lạo xạo…? Cha mới ở ngoài sân vận động, đấu trường… từ huyệt đào lấp đất về tới nhà mình đây. Cha về đây để gặp con!

- Cha ơi! - Lệ Uyên kêu lên - Có lẽ nào lại thế? Họ giết cha đã lâu rồi mà! Con chờ mong gặp lại cha, đằng đẵng trọn cả luân hồi ba kiếp; nếu tính thời gian ở Bên Này thì cũng đã 46 năm rồi! Vậy mà sao cha lại nói cha mới từ ngoài đấu trường về đây?

Thùy Dương vội chen vào:

- Bác nói đúng quá rồi còn gì nữa! Cháu cho rằng thời gian và ánh sáng là hai khái niệm không thể tách rời nhau được. Chúng ta vận chuyển theo vận tốc của ánh sáng, tuỳ theo nhanh hay chậm… Ba kiếp luân hồi mà chị Uyên nói là thời gian tâm lý; 46 năm ở Bên Này là thời gian 3 chiều; còn khoảng thời gian bác từ ngoài đấu trường về đây là thời gian Vũ trụ bốn chiều, đa chiều…

Cha của Lệ Uyên hình như nghe chưa hết lời lẽ của Thùy Dương, ông lịch sự gật đầu rồi ngồi vào một bên ghế tràng kỷ, đối diện với các con mình.

- Nào, bây giờ con hãy nhìn kỹ thầy đi! Bố Vỹ đây! Cha của bé Uyên tội nghiệp! Con mới lên bảy, bố đã bỏ con biền biệt đi gần cả nửa thế kỷ. Ôi! con tôi!

Lệ Uyên ngẩng đầu nhìn cha mình. Một mái đầu tóc xanh, dày đậm, rẽ đường ngôi giữa; mái tóc thuở cậu Mai Duy Vỹ mười bốn tuổi, vừa mới đậu primaire, bây giờ ta gọi là tiểu học… Anh thuộc lớp người giao thời, đã từng học chữ thánh hiền của cha ông một dạo trước khi chuyển sang học chữ Tây. Vầng trán sáng, rộng mở ra tới hai bên thái dương, nổi trội lên là cặp mắt thông minh nhân hậu, có hơi chút mềm yếu. Sống mũi cao, ngay thật, nhìn xuống đôi môi thường khép lại, chịu đựng, nhẫn nhục… Khuôn mặt thư sinh, trẻ trung thoáng chốc trở nên linh hoạt hơn; cặp lông mày hơi nhíu lại làm ánh mắt thêm phần quyết đoán…

Ấy là thời y sĩ Mai Duy Vỹ ở nhà thương Thanh Hoá; người thầy thuốc được các bạn đồng nghiệp và cả bác sĩ bệnh viện trưởng người Pháp mến phục.

Khuôn mặt bỗng chốc lại gầy đi nhưng đẹp thêm bởi nước da sạm nắng lửa, và nụ cười nở hàm răng trắng sáng cởi mở hân hoan (đôi lúc cũng hài hước châm biếm, đó là điều bất lợi và nguy hiểm cho con người ta một thời, cái thời tai ác trớ trêu.)

Ấy là năm 1946, Mai Duy Vỹ có con trai đầu, em của Thanh Tâm, anh của Lệ Uyên…

Rồi sau đó 2 năm, đồng chí Mai Duy Vỹ được đứng trong hàng ngũ những đảng viên Cộng sản ngoài mặt trận cầm dao mổ xẻ những khối u, cưa cắt chân tay các thương bệnh binh, cứu họ thoát khỏi cái chết thương tâm sau những trận pháo kích, ném bom của giặc Pháp…

Đây, bàn tay Mai Duy Vỹ đang giơ ra đặt trên bàn; những ngón dài mềm đã từng kéo nhị, chơi đàn nguyệt, viết thảo chữ Hán, lại cũng khéo léo tài nghệ lúc cầm con dao mổ… Bàn tay…

Mái đầu ấy, bàn tay này được đồng chí, đồng nghiệp, dân chúng xứ Thanh ngợi khen; người ta cho rằng y sĩ Mai Duy Vỹ không chỉ vượt qua đầu các bạn y tá y sĩ mà còn ăn đứt cả những bác sĩ có bằng cấp cao nhưng chưa quen thạo tay nghề!

Mai Duy Vỹ - cha của Mai Lệ Uyên!

- Bác rất giống chị Uyên!

Thùy Dương thốt lên. Ả xoay người, nghiêng mình ngắm ông Vỹ, gật gật đầu.

- Dạ thưa bác - Ả chăm chú, so sánh - Tóc bác có nhạt màu hơn tóc chị Uyên, cả hai đều hơi cứng; và có một lọn cong vòng trước trán… còn đôi mắt thì khỏi phải bàn, cha con giống nhau đến nỗi - Ả ngập ngừng - nhìn người này thấy được ý nghĩ người kia…

Ông Vỹ mỉm nụ cười buồn buồn:

- Bác thấy cháu cũng giống… Lệ Uyên… như hai chị em.

Thùy Dương lắc đầu:

- Bác nói thế chứ… Đúng là hai chúng con sống với nhau đã lâu và lây nhiễm nhau. Lệ Uyên đẹp hơn, tốt hơn cháu cả ngàn lần!

Ông Vỹ khiêm nhường hoà nhã:

- Bác thấy cháu cũng… rất đáng mến. Càng nhìn lâu càng thấy giống bố cháu.

- Ô? Làm sao bác biết được thầy con? Bác gặp thầy con khi nào?

- Cháu cũng gọi cha đẻ là thầy ư? Thế này chứ, một thời gian dài Bên Này bác chỉ có mỗi một mình. Mãi đến gần đây, tình cờ sao chúng tôi mới gặp được nhau rồi quen nhau. Cha cháu thuộc lớp sau bác, vào Đảng năm 1954… Hoàn cảnh hai bên có khác nhau nhưng rồi chúng tôi cảm thông nhau, quý mến nhau. Đời bố cháu cũng cơ cực và thiệt thòi; có điều không mắc phải oan trái thôi. Ông ấy đi rồi…

- Đi đâu hở bác?

Ông Vỹ không giấu được nụ cười vui mà buồn.

- Đi đâu à? Siêu thoát! Mừng cho bố cháu. Bây giờ ông ấy sung sướng, thênh thênh đường lên Hạnh Phúc…

Chỉ còn tôi là phải ngồi chờ ở đây. Có lẽ còn lâu mới đến lượt…

- Vậy là… cháu không còn được gặp lại bố cháu!

Thùy Dương cúi đầu, cắn môi. Hình như ả khóc?

Ông Vỹ không kìm giữ được một tiếng thở dài. 




CHƯƠNG 14
CHUYỆN CON NÍT

Lệ Uyên nghẹn ngào nức nở. Ông Vỹ đứng dậy bước tới bên con gái. Bàn tay ông vừa chạm vào tóc con mình thì một vòng sáng long lanh đã hiện ra quay quanh đầu Lệ Uyên. Toàn thân chị cứ thấp dần nhỏ dần, trở lại nguyên hình bé Mai Lệ Uyên hồi mới lên 6 tuổi.

Nhẹ nhàng bế con gái ngồi vào lòng mình, bố Vỹ khẽ cọ cằm vào đầu tóc, nghiêng đầu hôn má con.

- Ôi! Con gái yêu của thầy mẹ! Con đi đâu về mà gọi mãi không thưa? Giang nắng suốt buổi trưa. Chắc là theo anh con và mấy đứa đi bắt con ve sầu đậu trên cành mít, con cáp cáp bò ngoài gốc cau phải không? Nắng cháy khét cả tóc, rám cả má con tôi rồi đây này. Coi chừng không mà cảm sốt đấy!

Bé Uyên giơ tay lên sờ mặt bố. Bé còn đưa tay che mồm, bịt kín hốc mũi bố. Vậy mà ông Vỹ lại còn thấy làm thích thú. Xem kìa! Bà nội cau mày, còn mẹ thì phát gắt lên cho rằng bố Vỹ nuông chiều con gái út quá sá! Kiểu này không khéo rồi con hĩm đâm hư. Lại còn bày trò ra nữa! Bố hắn nằm thẳng đơ ra giả chết để con bé nắm tóc, lôi giật tay chân mãi cho tới khi tưởng bố chết thật rồi, chẳng còn sống nữa, thế là mếu máo khóc oà lên. Đến nước ấy rồi bố Vỹ mới từ từ mở mắt, miệng vẫn còn bụm lại, cố ngăn tiếng cười phát ra: “Thầy vẫn còn sống đây! Còn sống mà! Hà hà hà!”.

Vẫn là bố Vỹ cái đêm trăng nào ở ngoài sân kia… Hai cha con nằm trên chõng tre trải chiếc chiếu đậu, loại chiếu trắng trơn không in hoa, chiếu Nga Sơn nổi tiếng mà chỉ nhà họ Mai dệt người ta mới chịu cho là đẹp…

Trời trong suốt không có trăng, chỉ thấy sao chi chít dày đặc. Nhìn trời sao yên tĩnh vậy mà sao lòng bố Vỹ cứ phấp phỏng lo buồn. Ông nghĩ, quân Pháp đại bại rồi, chiến thắng Điện Biên Phủ vang lừng khắp thế giới, còn gì vui hơn. Thế thì sao làng xóm lại cứ im ắng như bãi tha ma thế này? Lạ thật. Đám mây đen nào đang tới che kín bầu trời, phủ nặng nấm mồ ai?

Đột nhiên, con gái rượu của ông cất tiếng hỏi:

- Thầy ơi! Có phải ai sinh ra rồi cũng chết cả phải không?

Bố Vỹ ngạc nhiên, hơi giật mình. Lẽ nào một đứa bé mới lên 6 tuổi, bập bẹ đánh vần mà lại nghĩ tới cái chuyện duy tâm ấy? Chắc nó nghe lỏm mấy ông bà già bên chiếu rượu hôm giỗ ông nội tuần trước. Con hĩm Uyên này mới lạ chứ. Huyết thống tinh anh dòng họ Mai đây, chẳng còn có thể lẫn vào đâu nữa.

- Hỏi vớ vẩn. - Bố Vỹ nói như gắt rồi trở lại giọng dịu buồn - Ừ, ai sống ở trên đời này một thời gian rồi cũng phải chết cả. Đúng thế.

Con hĩm nhổm người dậy một tay chống xuống chiếu, mở to mắt nhìn ai kia? Đôi mắt giống cha y hệt. Hai hòn ngọc nâu đen vừa được giăng lưới kéo vớt lên từ dưới lòng biển sâu ngoài Hòn Nẹ?

- Bà rồi có chết không hở thầy?

- Bà còn khoẻ. Năm nay mới năm mươi sáu. Bà còn sống ít ra là tám mươi, chín mươi… mới… đi.

- Còn mẹ?

- Mẹ cũng như bà. Con muốn mẹ sống tới bao nhiêu tuổi nào?

- Chín mươi, một trăm…

Bé Uyên dừng lại, tính đếm… Cau mày đăm chiêu như người lớn.

- Thầy ơi!

- Cái gì con?

- Trời có chết không hả thầy?

- Trời làm sao chết được! - Bố Vỹ khẽ cười - Trời sinh ra tất cả muôn loài, chúng ta… Trời sống mãi!

- Còn Đất. Đất có chết không?

- Đất chôn vùi tất cả. Đất cũng… không chết.

- Thế còn… Bác Hồ? Bác Hồ rồi có chết không?

Ông Vỹ giật nẩy mình, ngồi bật dậy. Đưa mắt nhìn ai quanh sân, dõi theo bóng mấy gian nhà, dỏng tai nghe tiếng động trong vườn, ngoài đường làng và cả bầu trời sao trên đầu, bố líu lưỡi, nói như đe nạt con:

- Ai? Ai… ai bảo con thế?

Lệ Uyên há mồm nhìn bố, mắt chớp chớp:

- Bầy đứa…

- Bầy đứa nào? Đừng có nói tầm bậy mà người ta cắt lưỡi đấy! Bác Hồ không bao giờ chết! Bác Hồ sống mãi với non sông đất nước Việt Nam… Con hiểu chưa?

Chợt thấy mặt con mình ngơ ngác, như bị ai mắng mỏ đe nẹt, hình bóng nhỏ lại, thu lu tròn một cục, bố Vỹ vội ôm con vào lòng vỗ về.

- Con ạ. Bác Hồ đời đời sống mãi. Bác là thần, là thánh! Còn hơn thần thánh nữa! Thầy sinh ra con đây cũng không chết. Thầy còn phải sống để hầu hạ Bác Hồ, chăm lo sức khoẻ cho Bác, cho Dân, cho bà, cho mẹ, cho các con… cho tất cả bà con quanh vùng ta.

Lệ Uyên rối rít:

- Thầy không chết hả? Thầy đừng chết. Thầy sống mãi với con. Con biết mà. Thầy hứa với con đi!

- Ừ thì hứa.- Bố Vỹ hắng giọng trịnh trọng - Thầy không chết. Thầy mãi mãi sống với con, với cả nhà ta…

Được chưa?

- Hoan hô! Thầy không chết!

Lệ Uyên gật gật đầu, vỗ tay. Nghĩ tới cái lần bố Vỹ giả đò chết mới hôm nào đây, tự nhiên bé vùi đầu vào lòng bố, ôm chặt lấy bố.

Ấy là một đêm hè tháng 6 năm 1954…




CHƯƠNG 15
… SANG CHUYỆN NGƯỜI LỚN

Ông Vỹ đang nhỏ dần, nhỏ dần… cho tới khi chỉ còn lại một chấm sáng rồi mất biến. Sương mù lãng đãng mờ mịt khắp mấy gian nhà. Hai chị em ngơ ngẩn nhìn nhau.

Tiếng con lắc chiếc đồng hồ cổ điểm nhịp nghe từ thuở nào xa xăm. Thời gian đang đi về mọi phía, vừa mới quay ngược lại rồi như đang đi tới.

- Các con nhìn đi đâu thế? Kìa, Lệ Uyên, thầy đây…

- Thầy đâu rồi? Con chẳng còn thấy…

- Thầy đây! Thầy đây! Thôi con, đừng khóc…

Vòng tròn sáng lại hiện dần ra, chầm chậm quay quanh đầu bố Mai Duy Vỹ, không thể là ai khác, mỗi lúc một rõ… Nhưng kìa. Tóc tai ai mà bù rối xạc xờ, lâu ngày dao kéo không đụng tới, dài phủ xuống hai vai; đôi mắt trừng trừng mở, lòng trắng đảo ngược lên… Máu rỉ ra từ đỉnh đầu, dâm dấp cả lọn tóc vòng trước trán, dính bết vào lông mày, xuống mũi, tới cằm… Hai bên má hõm hốc, quai hàm trồi ra, gân cổ nổi chằng… Mấy con chấy bò từ tóc thái dương xuống cùng lúc lũ rận chui ra vạt áo rách xoạc bên vai để lộ những vết bầm tím đánh bằng gậy, dùi đâm, dao rạch…

- Thầy đói, con ơi!

Ông Vỹ khẽ kêu, đầu lúc lắc, hai tay xoắn vặn…

- Nhà hết gạo, tối qua mẹ nấu cháo đụt khoai đưa vào cho thầy một bát. Sáng nay chờ mãi không thấy gì, chẳng hiểu ai đó vứt vào đây một củ khoai? Đói thì nhịn, cắn răng mà chịu. Các chiến sĩ Cộng sản họ còn tuyệt thực, không ăn kia mà! Vậy mà lòng họ trong sáng, thanh thản. Còn mình thì không có ngày nào đi qua đây nhìn vào, người ta không chửi rủa, xỉ vả: “Thằng Vỹ địa chủ phản động kia, mi sống làm chi nữa? Mi không xứng đáng ăn canh thừa cơm vãi của nông dân bầy choa. Hút máu hút mủ nhân dân bao năm rồi, bây giờ mi còn muốn ăn cái chi nữa? Cục cứt tao đây này tao cũng để cho chó chứ không dành cho mi. Hiểu chưa? Ít hôm nữa, chờ đó, rồi Đội sẽ cho mi ăn kẹo đồng!”

Hỡi Trời! Hỡi Phật! Hỡi Chúa!

Nếu các Người có thật thì trên cao xanh kia sao nỡ lòng ngoảnh mặt làm ngơ để cho Mai Duy Vỹ chịu bao nỗi đớn đau nhục nhã thế này!

Nếu con người quả thật có ba kiếp thì sao kiếp trước đừng cho Mai Duy Vỹ được làm người, để kiếp này hắn được làm con trâu, con chó, con giun, con dế có hơn không? Mà lại bắt hắn phải làm người trong cái thời buổi đại loạn, đau thương, lầm than này!

Ôi ! Mai Duy Vỹ là một con người! Xin hãy nghe đây!

Một người lương thiện, một người bình thường như bao con người!

Từ lúc cha mẹ sinh ra tôi làm người tới nay, tôi đâu có ăn cắp của ai, nói dối ai, làm hại ai? Thấy ai đói, tôi cho họ ăn. Thấy ai rét tôi nhường áo cho họ mặc. Ai ốm đau đến tìm tôi, tôi chữa bệnh chích thuốc cho họ; chữa bệnh cho người nghèo tôi đâu có lấy tiền. Tôi đã cứu sống bao sinh mạng!

Ông bà, cha mẹ dạy tôi sống như thế. Sao bây giờ họ lại quy cho tôi là bóc lột, hút máu, giết hại nông dân!?

Tôi là một đảng viên Cộng sản! Đảng kết nạp tôi ngoài mặt trận tháng 12 năm 1948…

Những năm Bốn Mươi gia đình tôi đã nuôi giấu các chiến sĩ Cộng sản ở trong nhà. Có đồng chí bây giờ làm lớn trên Trung ương. Đồng chí này đã giới thiệu kết nạp tôi vào Đảng, giấy tờ còn ghi rõ… Sao bây giờ người ta lại vu khống cho tôi là Việt gian phản động! Tôi đi đâu, tôi làm gì, tôi hội họp với ai ngoài các đồng chí trong chi bộ tôi? Sao lại dựng chuyện, đơm đặt tôi cấu kết với Công giáo, Nhà thờ Phát Diệm, làm điệp viên cho Pháp, liên lạc với Tề Ngụy trong thành? Ối! Oan cho con lắm Bác Hồ ơi! Oan cho tôi lắm anh Trường Chinh ơi!

Ông Vỹ gục đầu xuống, bất động.

Tiếng con lắc đồng hồ cổ lại điểm nhịp, đếm thời gian. Lệ Uyên không dám lại gần cha. Chị nghĩ, Thượng Đế bây giờ cũng bất lực. Có ai đây lại còn nói: Con Người đã giết chết Thượng Đế từ lâu rồi. Họ cùng với Ma Quỷ làm chủ cả Thế giới… Một hai ba bốn… Ba mươi sáu. Ông Vỹ từ từ mở mắt ra, cố quay vặn người để chống lại cơn đau đớn. Cử động này làm mặt ông nhăn nhúm khiến ông phải cắn môi cố kìm giữ sao cho tiếng rên được khe khẽ bật ra…

Lệ Uyên đau khổ nhìn cha. Thùy Dương cúi đầu xuống như định tìm cái gì, ả phát hiện ra hai chân của ông Vỹ đang bị kẹp cứng trong cái cùm.

- Chị xem này! Lệ Uyên…

Ả vừa nói vừa giơ tay chỉ.

Đôi chân của Mai Duy Vỹ, hai ống xương dài, bèo nhèo lớp da trầy trụa… Cổ chân xây xát, tấy sưng… Hai vòng tròn máu và mủ ấy khít gọn trong hai vòm miệng bằng gỗ lim dày ngoạm chặt; quấn xiết quanh là chuỗi xích sắt móc vào còng khoá sắt nặng. Những con dòi bò ra từ hai cổ chân nhầy nhụa máu mủ và cả sau hai mông đít lở loét hôi thối…

Hai chị em phải nhắm mắt lại.

Từ hai cái miệng cùm, hai hốc mắt Hung thần như còn rít lên lời đe doạ: “Hãy biết sợ Ta, hỡi những Con Người! Trên thế giới này còn nhiều vương quốc không có pháp luật. Vua Chúa toàn cai trị dân bằng đạo nghĩa suông. Cho dù pháp luật có trên danh nghĩa đi nữa thì ẩn chứa bên trong đó chẳng thiếu gì những khâu lỏng lẻo, những điểm phi lý. Bởi thế, chỗ nào rồi cũng cần sự có mặt của… Ta!




CHƯƠNG 16
CHUYỆN TRONG NHÀ

Ông Vỹ nói:

- Tai họa cứ như từ trên Trời đổ xuống, dưới đất trồi lên. Cái Họa của nhà ta đúng là nảy sinh ra từ cái Phúc. Con còn nhớ chú Đông không? Chuyện dài dòng quá…

Sáng mùa đông năm ấy, 1925… khi cha lên 6 tuổi, người làng đi qua ngõ nhà ta bắt gặp một đứa bé nằm dưới bụi xương rồng, gần kề lối cổng ra vào. Tội thân đứa nhỏ mới sinh còn đỏ hỏn như con chuột, giẻ rách quấn quanh mình, tấm chiếu nhỏ bó tròn… Bố mẹ nào sinh con ra mà lại vứt bỏ nó đi như thế này hở Trời! Mọi người hô hoán. Bà nội con là người đầu tiên trong nhà trông thấy sinh vật còn sống, da dẻ bắt đầu tím lại vì giá rét. Bà nói một câu mà sau này nhiều người còn nhắc lại: “Có lẽ Trời đem phúc cho nhà ta nên mới xúi người đặt thằng bé nằm ngay trước cổng. Thôi, đưa nó vào nhà đi. Từ nay gắng mà nuôi nó.”

Hình như lúc ấy có ai chen vào, bàn lùi sao đó nên ông nội con mới nói: “Không nuôi nó là mình có tội. Mang tội với Người thì chỉ một kiếp này thôi; còn mang tội với Trời thì không biết đến kiếp nào mới giải được!”

Thế là nhà ta nuôi đứa bé. Ông nội đặt tên cho bé là Mai Duy Đông. Tên gọi là Đông để mọi người nhớ tới mùa đông năm ấy, cái năm rét ghê người…

Ông bà nội con coi chú Đông như con đẻ… Mấy chị em thầy trong nhà, bát cơm manh áo chia đều như nhau không hề có phân biệt. Thầy còn có lần bị ông nội con đánh roi, bà nội rầy la, chứ chú Đông thì chẳng ai đụng chạm đến, dù chỉ một lời nói nặng. Ông bà còn cho chú đi học… Khổ một nỗi, cái đầu chú sao tăm tối chật hẹp quá không tài nào nhét chữ nghĩa vào được! Đã vậy chú lại có tính tắt mắt, hay ăn cắp vặt… những thứ vớ vẩn. Thế là phải bỏ học ở nhà làm ruộng, dệt chiếu. Mà làm ruộng dệt chiếu cũng đâu có xong. Chú lười lắm! Thôi thì, phải lấy vợ sớm cho chú may ra còn có thể tu tỉnh con người, vì vợ vì con mà chịu thương chịu khó làm ăn…

Trong tuổi thơ và sau này khi đã trưởng thành, nói cho đúng ra chú Đông đối với thầy mẹ cũng không có gì sai trái. Chẳng giúp ích được gì cho thầy mẹ, điều đó mình chẳng cầu mong. Còn chuyện thầy mẹ giúp đỡ, chạy chữa cho vợ con chú, là nghĩa tình trong nhà, chẳng ai tính toán cả.

Ấy thế rồi mà cái họa vẫn sinh ra. Sinh ra từ cái mồm điêu ngoa của vợ chú Đông.

Hồi ấy, mẹ của con cũng đã đôi lần nhắc thầy về việc phải “coi chừng” thím Đông - ả Thị Mầu của xứ Nga Sơn Thanh Hoá! Thầy chỉ cười, đàn bà các chị rõ lắm điều, toàn để bụng những chuyện vớ vẩn. Mẹ cũng không vừa, cứ một hai đay đi nghiến lại, rằng để mà coi, nuôi ong tay áo rồi sẽ có ngày…

Bà ngoại con có lần sang thăm sui gia, nghe chuyện cũng chép miệng thở dài: Lời nói đọi máu, ghi nhớ lấy, ai ơi!… Làm ơn nên oán, cái sẩy rồi nảy cái ung… Bà chẳng được học hành, chữ to đánh vần bập bẹ, mà sao lại nhớ nhiều cách ngôn tục ngữ!

Thế rồi năm 1955… Đội Cải cách tới bắt rễ xâu chuỗi nhà Mai Duy Đông!

Ông nội con may phúc đã khuất núi về với tổ tiên gần hai năm. Cả cái núi vạ đổ lên đầu bà nội. Nghe nói lúc đầu chú Đông không chịu đấu tố bà. Nhưng rồi nghe lời thím xúi ngon dụ ngọt thế nào mà chú xiêu lòng, máu tham nổi lên, muốn chiếm hết cả ngôi nhà từ đường 5 gian 2 chái này!

Khi Đội Cải cách chuẩn y, kết nạp chú vào Đảng, hình như thấy mình mang họ Mai nó nhục nhã xấu xa, bất lợi thế nào… chú mới nghe ai, ông Đội kết nghĩa anh em, đổi cả họ lẫn chữ lót thành Lê Trạch Đông! Đồng chí Lê Trạch Đông! Mẹ vào thăm bố trong tù kể cho bố nghe như vậy.

Có một hôm, thầy ngồi trong nhà giam… Nghe ai gọi tên loa hay trong cuộc họp Đảng ở trụ sở Uỷ ban cũ gần bên… Các đảng viên cũ như thầy thì bị đuổi, khai trừ, tóm bắt hết rồi, coi như là một lũ phản động bán nước, chỉ còn toàn đảng viên mới được Đội kết nạp - Đồng chí Lê Trạch Đông!

Lê Trạch Đông nào nhỉ? Có phải Mai Duy Đông nhà ta không?

Cho tới khi đấu lần đầu tiên, thứ nhất… cái ngón tay trỏ của chú Đông dí vào trán thầy, trợn lòng trắng mắt, chú quát vào mặt thầy, bảo thầy cúi mặt xuống… thầy mới hiểu ra!

“Mai Duy Vỹ! Mày có biết tao là ai không?” - Dạ có, ông là Mai Duy Đông… - Không phải! Tao là Lê Trạch Đông chứ không phải Mai Duy Đông! Tao đâu có anh em gì với mày, bà con gì với dòng họ Mai bẩn thỉu chó má của mày! Tao là bần cố nông bị cha mẹ mày bóc lột, anh chị em mày đánh đập, ức hiếp, đè nén như con trâu, con chó gần cả 30 năm nay. Vỹ! Mày có biết ai sinh ra tao không? - Dạ, tôi không biết. - Thằng này láo! Không được xưng tôi, phải xưng là… là… con, nghe chưa? - Dạ thưa con không biết. - Cách mạng ruộng đất sinh ra tao! Đội Cải cách Ruộng đất cho tao một cuộc đời mới Độc lập, Tự do… hiểu chưa? - Dạ… dạ… đồng ý, nhất trí. - A! Thằng này láo! Mày có còn là đồng chí, anh em đâu mà đồng ý nhất trí ! Hử! Mày là… là… cái… - Dạ, dạ. Vâng.

Ông Vỹ nói tiếp:

“Nhà ta có tất cả hai mẫu ruộng. Ruộng của ông bà tổ tiên để lại. Một số do các cụ xưa khẩn hoang, một số mua. Tất cả đều do sức lao động làm ra, đâu có cướp không của ai! Ông ngoại con làm ruộng, trồng vườn giỏi. Bà nội dệt chiếu khéo tay cả vùng này ai cũng biết. Chẳng ai chơi không, ngồi mát ăn bát vàng cả. Mẹ con khi về làm dâu xứ Nga Sơn cũng học nghề dệt chiếu chẳng thua kém gì mẹ chồng.

Lúc mới sinh Lệ Uyên, mẹ mua thêm hai sào nữa.

Hồi đó, năm 1948, quân Pháp nhảy dù xuống Phát Diệm, đồng bào chạy loạn tản cư, kéo nhau vào Tam Lênh… Thầy đã nổi điên lên về cái chuyện mua bán ruộng ấy và mẹ cũng đã ngãng ra rồi… Nhưng cái người bán ruộng là Hĩm Xoa lại cứ nằn nì, van xin nhà mình mua hộ cho, làm phúc cho… chồng của Hĩm Xoa lâu nay vốn là con sâu rượu, mới vừa rồi đánh bạc lại thua to, không bán ruộng đi thì lấy cái gì để trả nợ! Ừ thì mua hộ ruộng cho! Ừ thì làm phúc cho! Đúng là chuyện lăng nhăng, vớ vẩn! Vừa bán ruộng xong là vợ lăn ra ốm, nổi cơn sốt rét ác tính, Hĩm Xoa lại đến nhà gặp thầy, van xin thầy một lần nữa làm phúc, cứu chữa…

Trời có mắt, Trời nhìn… Rõ rành đấy!

Vậy mà khi Đội Cải cách đến bắt rễ, xâu chuỗi, Hĩm Xoa lại tố rằng, thầy mẹ đã cướp không 2 sào ruộng đó của anh ta! Hĩm Xoa bịa đặt là, con vợ của Mai Duy Vỹ chuốc rượu cho anh ta say rồi lừa ép Hĩm Xoa ký nhận là… gán nợ hai sào ruộng đó. Mà anh ta thì cả đời chẳng nợ ai một đồng chinh nào hết! Nguy hại hơn, Hĩm Xoa còn tố rằng thầy tiêm phát thuốc gì không biết cho vợ anh ta mà… vừa mới rút mũi kim ra là chị Hĩm Xoa chết ngay tức khắc!

Đúng là thầy có tiêm thuốc cho vợ Hĩm Xoa thật. Con ạ, chị ấy bị accès pernicieux, sốt rét ác tính. Phát thuốc thầy tiêm là một ống quinine phải nhờ người ta mua ngoài Phát Diệm, vùng tề mới có. Vì thương người, muốn cứu người mà mình phải lấy của nhà ra cho người nghèo khốn. Nhưng một ống quinine thì làm sao đủ để cứu được một cơn bệnh sốt rét ác tính! Cho nên tiêm thuốc xong, về tới nhà, gần nửa đêm thì thầy nghe tin bà con làng xóm nói chị vợ Hĩm Xoa đã tắt thở rồi!

Lúc ra đấu trường, ông Đội người Nghệ An có hỏi thầy về ống thuốc. Thầy khai ống kí-ninh đó là thuốc của Pháp. Ông Đội lại hỏi, có đúng là thuốc của Tây không? Thầy thưa, dạ đúng.

Cứ tưởng hỏi xong rồi cho qua, có ai ngờ bà Đội đứng bên cạnh đay lại: tại sao cứ phải dùng thuốc của Tây mà không dùng thuốc của ta? Thầy thưa, thuốc của ta chỉ có loại viên kí ninh vàng, chất lượng kém, không đủ hiệu lực để đẩy lùi cơn sốt rét ác tính ở giai đoạn cuối cùng… Bà Đội, thầy còn nhớ tên là Lê Thị Chuộc, người Quảng Xương Thanh Hoá quê ta, cau mặt lại mà rằng, thằng Tây nó đánh ta, nó giết hại đồng bào ta, nhân dân ta. Làm sao có thể tin được rằng thuốc nó đưa sang ta mà không phải là thuốc độc, thuốc giết người!? Ông Đội cau mày nhăn nhó nói: Đã không dùng thuốc ta, cũng chẳng dùng thuốc Trung Quốc, thuốc Liên Xô anh em, mà chỉ dùng thuốc Tây của Pháp, nghĩa là làm sao?

Thầy xuýt bật cười. Tự nhiên không thấy ghét mà cảm thấy buồn, lại cũng thương mấy ông bà Đội này. Thầy nói, dạ thưa… Bây giờ thì con không biết thuốc Trung Quốc, thuốc Liên Xô đã được dùng ở nước ta chưa, chứ còn năm 1948, khi con tiêm thuốc cho bà Hĩm Xoa thì quả thật thuốc Trung Quốc, thuốc Liên Xô chưa được Bác Mao, Bác Xít đưa sang ta…

Vừa đúng thóp, Hĩm Xoa chồm dậy, dí ngón tay trỏ vào giữa mặt thầy la làng: Đúng là thuốc độc! Thuốc độc, không sai, bà con đồng chí ạ. Vì thằng Vỹ mới tiêm xong là mẹ Hĩm nhà tôi trợn mắt lên, thở hắt ra rồi… chết. Có khổ nói khổ, nông dân vùng lên! Bà con ơi!

Và đám đông người, Quân Chủ lực Nông dân trước mặt, bốn bên đã vung nắm đấm lên trời: “Đả đảo Mai Duy Vỹ! Thằng thầy thuốc thâm độc giết hại nông dân ta! Đả đảo! Đả đảo!”

Đả đảo Mai Duy Vỹ! Thằng địa chủ phản động cấu kết với với đế quốc Pháp, âm mưu tàn sát nhân dân ta!

Đả đảo! Đả đảo! Có khổ nói khổ nông dân vùng lên!

Vùng lên!

Trở lại chuyện ruộng đất…

Năm 1953, hồi mới phát động quần chúng đấu tranh đòi giảm tô giảm tức, ông nội con lúc đó đang làm Phó Chủ tịch Mặt trận Liên Việt huyện có lần bảo thầy:

“Tại sao Cụ Hồ, Chính Phủ không ban hành sắc lệnh hiến ruộng cho Nhà nước, nhượng đất cho nông dân? Năm 45 đã có “Tuần lễ Vàng” sao bây giờ lại chưa có “ Tuần lễ Đất”? Hồi “Tuần lễ Vàng” nhà ta đã ủng hộ Nhà nước một lạng rưỡi vàng, tất cả số vàng nhà họ Mai có được bao đời nay. Nếu có “Tuần lễ Đất” nhà ta sẵn sàng hoan nghênh và ủng hộ. Xin hiến tất cả cho Nhà nước! Xin nhượng tất cả cho nông dân! Cứ ôm mãi ruộng đất như thế này thầy thấy có cái gì bất ổn, e rồi tới lúc mang họa vào người đấy con ạ. Hay là, ta viết thư lên Tỉnh gửi mấy ông lãnh đạo, tình nguyện xin hiến cho Nhà nước, nhượng lại tất cả cho làng xã… số ruộng này?”

Thầy đã mơ hồ nhận ra cái lý, cái tình trong lời nói của ông. Nhưng rồi lại phân vân vì xưa nay chưa từng thấy ai trong thiên hạ tự nhiên lại làm cái việc biếu không, cho không cả ruộng đất nhà mình đi như vậy?

Bà nội con cũng nói, này ông ơi, ông có hoá điên hoá ngộ không; nếu cho không, biếu cả ruộng đất đi như vậy thì nhà ta rồi sẽ sống bằng cái chi?





Ông nội bảo, bà và mẹ Cò dệt chiếu, nuôi lợn gà, tôi làm vườn, còn anh Vỹ thì làm việc Nhà nước có lương rồi lo cái chi?

Mẹ con cũng không thuận lòng, cho rằng đất nhà ta là của ông bà tổ tiên để lại chứ có cướp không của ai đâu. Thầy cũng có ý nghĩ như vậy. Nhà họ Mai mình xưa nay, từ người cầm bút lông đến anh bút sắt, từ người cầm xê ranh chích thuốc đến kẻ làm ruộng, dệt chiếu… chẳng thấy có ai chơi không cả. Ai cũng làm việc cật lực sớm hôm, ai cũng cần kiệm từng hào từng xu…

Mẹ con đưa ra ý kiến hay là ta bán đi một mẫu ruộng, để lại một mẫu?

Ông nội con cười bảo, đã bán là bán tuốt tuột, còn giữ lại một mẫu dăm sào làm cái chi? Tiếc rẻ cái gì mới được chứ? Đi theo Cụ Hồ làm Cách mạng là để tiêu diệt áp bức bất công. Hay lắm, tốt lắm… Dân ta ai cũng đồng lòng mong muốn như thế cả. Đôi lúc thầy lẩn thẩn nghĩ, muốn có công bằng xã hội thì chỉ có mỗi một cách là, làm sao để người người, nhà nhà ai cũng nghèo khổ như nhau… Thế nhưng, bản chất của con người ta xưa nay là ham muốn, tham lam, ai cũng chỉ muốn sướng, chẳng ai muốn khổ cả… Thử nhìn xem loài vật nuôi trong nhà, cho chúng ăn ngoài sân kìa. Con nào rồi cũng muốn ăn nhiều hơn con nào, tranh giành mổ cắn nhau chí choé. Con vật tự nhiên mà còn thế, huống hồ con người mưu ma chước quỷ!

Công bằng xã hội ư? Hay đấy, tốt đấy… nhưng xem ra để làm được, thực hiện được cái mơ ước đó cũng chẳng dễ đâu! Còn lâu… Biết đến bao giờ?

Nhà ta bây giờ có hơn hai mẫu ruộng, trong khi làng xã có nhà chỉ có một hai sào, có người không có nổi tấc đất cắm dùi! Phải chăng như vậy là không hợp với Đạo Trời, Lòng Người? Nhiều đêm nằm nghĩ ngợi, thầy hết sức e ngại. Những năm Ba Mươi ở Nghệ Tĩnh dân chúng đã nổi dậy “đào tận gốc, trốc tận rễ” các tầng lớp “trí, phú, địa, hào” rồi; bây giờ thầy lo sợ rằng cái chuyện ấy đến lúc cũng lại xảy ra ngay trên quê ta cho mà xem”…

Hai tháng sau câu chuyện trong nhà hôm đó, ông nội con qua đời.

Lúc hấp hối ông có dặn: “Sau khi tôi chết rồi, con cháu có thương tôi thì nhớ đào huyệt chôn thật sâu, khỏi cần hòm ván… Càng sâu càng tốt… Tôi sắp về với Đất, Đất phủ che tôi… Tôi sẽ làm mồi cho giun dế. Có sao đâu! Tôi đã hoàn nợ cho Đất. Chỉ thương và lo cho con cháu còn ở lại Bên Này”…

Ông lại nói thêm, riêng để cho mình thầy nghe: “Anh Vỹ, thầy thấy anh biết thương người nhưng hình như chưa biết sợ người. Con người là giống loài đáng sợ nhất! Không phải lời tôi nói đâu, Cụ Phan Bội Châu nói đó. Cụ nói: “Loài gì đáng sợ nhất? Loài người!”

Ông mất rồi, không khí trong nhà u buồn thảm đạm. Bảo rằng có nhớ lời ông dặn không thì vẫn là có nhớ, thế nhưng cái lòng nghĩ về ông lại nhiều hơn nghĩ về mình, cho nên mọi sự trong nhà rồi đâu vẫn hoàn đấy. Ruộng vẫn không bán cho ai, mà nghĩ cho cùng thì biết bán cho ai lúc bấy giờ? Ai người ta dám mua? Mà có bán được đi nữa thì cũng phải lo tẩu tán ngay. Tẩu tán ra Hà Nội thủ đô, giấu biệt tăm tích, hoặc xuống tàu Hải Phòng di cư vào Nam chẳng bao giờ quay về quê quán nữa, may ra… chứ vẫn còn lù lù ở làng xã, không đi đâu ra khỏi xứ Thanh Hoá thì lưới trời vẫn không thoát!

Nhà họ Mai ta từ trong khí huyết tổ tiên di truyền lại những tố chất cũng thâm căn cố đế lắm. Nói ra thì động đến vong linh các cụ, xin được đại xá cho… Chẳng hạn, chỉ quen Cho và Mua chứ không bao giờ Bán! Ngay chuyện đổi chác ông bà nội con cũng chẳng mấy ưa. Trong nhà cái gì xấu, cái gì tốt là cứ thế giữ y nguyên mà dùng, dùng cho đến khi nào hư hỏng bỏ đi mới thôi… Bảo thủ đến thế là cùng!

Hồi còn nhỏ, có lần thầy đồng ý đổi cho thằng bạn cùng lớp một cây bút máy Kao-lô để lấy cái cặp da; chả là, nó thì khoái cây bút máy còn mình cũng thích cái cặp… Chuyện có thế thôi mà ông nội bắt con mình nằm xuống, lột quần ra, quất cho mấy roi quắn đít!

Ngay cả chuyện trong nhà dệt chiếu rồi bạn hàng đến lấy đưa ra chợ Hồ bán cũng vậy; nói là dệt chiếu để đổi lấy tiền có phần nào đúng hơn là bán lấy tiền!

Trở lại chuyện ruộng đất…

Nhà ta có bóc lột bà con nông dân không? Có! Lần đấu đầu tiên thầy cúi đầu xin nhận tội là có bóc lột nông dân, những gia đình bần cố nông làm rẽ ruộng, thuê ruộng.

Hồi xưa, từ thời các cụ, cứ 100 thùng lúa thì chủ ruộng thu của tá điền 10 thùng, mỗi thùng là 10 kilô gam. Mười phần trăm! Nhà bác Trần Vĩnh Quyền, bạn của thầy ở bên Nga Phú cũng thu theo tỷ lệ như vậy. Nhưng khi ra đấu trường bà con nông dân họ đâu có chịu cái 10 phần trăm đó! Họ la lối lên rằng địa chủ nhà họ Mai cứ 100 thùng thì lấy tới 50 thùng, có người hét lên 70 thùng; còn lại chỉ đủ cho họ hớp cháo… cầm hơi thôi!

Còn ở các nơi khác thì sao? Chẳng hạn, nhà chú Đoàn Hiền ở Quảng Trạch, Quảng Bình, một người bạn lớp trẻ của thầy thì cứ 50 phần trăm mà ăn chia. Mất mùa hay được mùa, cứ là chia đôi anh một nửa tôi một nửa… Địa chủ 50, tá điền 50! Xong!

Và mẹ của con nữa, cũng có lúc cho người ta vay tiền. Đây mới thật là đầu mối gây ra tai họa. Thời ấy, cho vay lúa vay gạo có lấy lời cũng đã là tội ác rồi, còn chuyện cho vay tiền lấy lãi thì đúng là… Trời không dung, đất không tha! Thầy làm ở nhà thương Thanh Hoá, ngoài việc chích thuốc chữa bệnh ra hầu như không biết, chẳng mấy quan tâm tới việc làm ăn của mẹ con ở nhà. Không hiểu mẹ con cho nông dân vay tiền lấy lãi bao nhiêu?

Ối Trời Đất ơi!

Ông Vỹ ngừng lại, nghển cổ, há miệng ngáp. Toàn thân run giật từng cơn… Con cá mới vừa bị lôi lên khỏi nước, nằm trên thớt đang ưỡn quẫy. 




CHƯƠNG 17
THUỲ DƯƠNG KỂ CHUYỆN CHO BÁC VỸ NGHE

Thùy Dương nãy giờ ngồi nghe đã nhấp nhổm mấy lần định ngắt lời ông Vỹ. Ả nói:

“Dạ thưa bác. Cháu thật không hiểu nổi những điều vừa được nghe bác kể. Làm sao lại có chuyện mình gặp lúc túng thiếu, đói khát đi vay người ta, người ta đã cho mình mượn, rồi trở lại quay mặt oán ghét vu khống trả thù người ta? Đã đành rằng tâm lý con người ta thường vậy, khi vác mặt đến nhà người vay thì quỵ luỵ van xin đến vãi nước mắt ra; nhưng khi người ta đã cho vay rồi, về tới nhà mình là cứ ỳ ra không muốn trả nữa, mà có trả đi nữa thì cũng tiếc đứt ruột...!

Trong công chuyện kiếm sống làm ăn, được người ta cho mình vay mượn là quá tốt rồi, phải đội ơn người ta mới đúng chứ! Có thứ luật pháp nào lại đi bao che cho kẻ trốn nợ, khuyến khích chuyện vu cáo, điêu toa, dựng đứng… dù là cho con vật chứ chưa phải cho con người!

Thời của bác là thời của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, chắc bác không thể hình dung nổi thời của con cháu mình, sau này nó như thế nào? Dạ thưa bác… Ả cúi thấp đầu xuống, lấy tay chỉ vào ngực mình. Những năm 90 của thế kỷ 20 Đổi Mới, Cởi Trói… Thời Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, con Thùy Dương này đã từng đi vay và cho vay. Nó đã từng là con nợ và chủ nợ. Nó đã từng làm chủ một ổ huê hụi, nhờ mấy chú công an bảo kê, và có lúc còn thuê cả một băng đầu gấu yểm trợ. Vô cùng tự do và thoải mái! Thật đúng là hết đời cha ăn mặn đến đời con khát nước! Ha! Ha!... ”

Ông Vỹ trố mắt nhìn Thùy Dương.

- Cháu nói gì lạ thế?

- Dạ thưa bác. Với một người như bác thật không ai nỡ lòng nào lại dối trá. Phản bội, đày đọa một người như bác không chỉ là tội ác của một số người mà còn là nỗi ô nhục cho cả Nhân loại! Bốn mươi lăm năm bác đi xa, có biết bao nhiêu là đổi thay, bác không hình dung ra nổi đâu!

- Tôi không trở về được Bên Ấy, dù chỉ là một lần.

- Sao vậy, thưa bác?

- Muốn về lắm mà không được. - Ông Vỹ đau đớn kêu lên - Những đồng chí như tôi đâu chỉ chết có một lần. Người ta giết chúng tôi nhiều lần! Sang tới Bên Này rồi, chúng tôi đâu đã được siêu thoát! Thầy sinh ra cháu dạo ở Bên Này với bác có về Bên Ấy được dăm lần…

- Thầy con về khi nào, thưa bác?

- Lần thứ nhất lúc vừa mới sang đây, ông ấy đùng đùng đòi về ngay. Lần thứ hai, vào dịp thất tuần, 49 ngày. Lần thứ ba vào ngày giỗ đầu. Lần thứ tư, Rằm tháng 7. Lần thứ 5, lễ Đoạn tang… Mỗi lần về, thầy cháu đều kể lại cho bác nghe.

- Còn lần nào khác nữa không, thưa bác?

- Chỉ mấy lần đó thôi. Bác hỏi thầy cháu, sao đồng chí không về dăm lần nữa trong khi tôi đây rất muốn về mà không về được. Thầy cháu cười, nói rất thật thà: Về làm đếch! Nỏ được cái chi! Về mà nghe họ “chỉnh đốn”, xem họ “trong sạch vững mạnh” à? Mệt! Tôi đã làm tròn nghĩa vụ. Hồi còn Bên Ấy đã có lúc muốn nằm dài rồi, sang tới Bên Này chỉ muốn “Siêu thoát” thôi!

- Thầy con còn nói gì nữa không?

- Ông ấy rất kiệm lời, vẻ người mệt mỏi… Thầy cháu kể hồi Cải cách, nông dân lấy được ruộng đất từ tay địa chủ, vừa cắm thẻ xong một thời gian… Đảng lại bảo tập trung ruộng đất lại giao cho Hợp tác xã! Có ông nào đó trên báo Nhân Dân làm thơ ca ngợi Đại Nhảy Vọt.

Sao không đi đứng bình thường lại cứ nhảy, cứ vọt? Lạ nhỉ? Lại còn mong muốn bà con nông dân ta phải làm theo tiến lên Công xã Nhân dân như kiểu Tàu nữa kia! Cải cách Ruộng đất rồi khổ vẫn hoàn khổ, phải tiếp tục xây dựng xã hội chủ nghĩa xong đâu đấy mới sướng được. Thầy cháu bảo thế. Nghe nói sau này mỗi gia đình bần cố nông lại được chia cho một số ruộng phần trăm. Ruộng phần trăm là thế nào, hở cháu?

- Dạ thưa bác, ruộng phần trăm là ruộng không phải nộp thuế, trên giao cho mình làm để tự nuôi sống mình suốt cả thời bao cấp và chiến tranh. Nhưng không phải là ruộng của mình đâu, vẫn là của Hợp tác xã, của Nhà nước… Tất cả là của chung bác ạ, không có cái gì là riêng hết!

- Như vậy cũng hay đấy chứ nhỉ? - Ông Vỹ mỉm cười, gật gật đầu - Đỡ mệt biết bao nhiêu! Có của, ôm của suốt một đời, nhất là ruộng đất, mệt lắm cháu ơi!

- Để cháu nói thêm về ruộng phần trăm cho bác nghe. Cứ mỗi nhân khẩu được chia 36 mét vuông mà nhân lên cho cả nhà. Có cái phần trăm đó rồi thì nỏ khác chi người chết đuối vớ được cọc, quờ được tấm ván… Ngày đêm lo mà cày cuốc, mà tự cứu sống! Bởi vậy, được sống rồi thì đừng quên nhiệm vụ là phải làm ruộng Hợp tác xã. Hợp tác xã sẽ ghi công tính điểm tử tế đàng hoàng. Còn nhớ mẹ cháu kể, năm nào đói kém thì một ngày công được tính 3 lạng thóc, lúc được mùa thì được tính 4 kg thóc… Bà ấy rền rỉ ca cẩm suốt năm, suốt tháng. Mất mùa liên miên, chẳng thấy khi nào được mùa; mà có được đi nữa rồi cũng mất bởi ruộng là ruộng cha chung không ai khóc… Dù ở trên có hô hào thi đua làm việc bằng hai, bằng ba thì bà con nông dân cái đầu đã mệt mỏi, cái tay chân đã rã rời. Mỗi người làm việc bằng hai, để ông Chủ nhiệm mua đài mua xe…

Mỗi người làm việc bằng ba, để ông Chủ nhiệm xây nhà xây sân… Mỗi người làm việc bằng năm, để ông Chủ nhiệm vừa nằm vừa chơi… Mỗi người làm việc bằng mười, để ông Chủ nhiệm hát cười ha ha ha! Ông Chủ nhiệm Hợp tác xã ghê gớm lắm bác ơi, quyền sinh quyền sát trong tay, muốn cho ai sống, muốn cho ai chết là tùy ý, tùy thích…

Lý lịch của thanh niên chúng con lúc bấy giờ, một mình ông ấy phê duyệt. Đứa nào ông ấy phê cho tử tế thì được đi học trung cấp hoặc đại học, được kết nạp Đảng. Vào Đảng thì được lên chức tăng lương, con cái thi vào đại học được cộng thêm 2 điểm, được đi nước ngoài… Đứa nào ông ấy không ưa hoặc ghét, chẳng hạn thành phần xấu, không trong sạch… thì đừng hòng bén mảng tới cổng trường đại học chứ chưa nói chuyện mơ màng vào Đảng.

Lý lịch tờ khai của người ta, ông ấy phê bậy phê bạ, có khi chẳng thèm phê nữa, cầm bút chì đỏ gạch hai gạch chéo, hoặc giơ lên trước mặt họ, mắm môi mắm lợi lấy tay xé đôi xé tư rồi quẳng xuống nền nhà Uỷ ban… Đảng là tao, là tao… tao đây. Đã nhớ chưa? Hết hồn hết vía, lo mà nhanh chân lủi mau về nhà. Về tới nhà rồi còn sởn gai ốc vì tiếng cười gằn, tiếng gào rít của ông ấy…

Lệ Uyên bật cười:

- Chuyện lung tung lang tang quá. Em nói thế thì bố của chị làm sao mà hiểu nổi!

Ông Vỹ nghiêm vẻ mặt, khẽ xua tay:

- Không sao! Em con nói rất hay, có điều Thùy Dương ạ, chuyện về mấy ông ấy thì bác cũng đã từng biết và phần nào có thể hình dung được. Còn chuyện về ruộng đất, về đời sống làm ăn của bà con mình… bác muốn cháu kể thêm nhiều nữa…

Thùy Dương kể tiếp:

Cháu xin đọc cho bác nghe mấy câu thơ - Ả ngâm nga:

Dân có ruộng dập dìu hợp tác
Lúa mượt đồng ấm áp làng quê
Chiêm mùa cờ đỏ ven đê
Sớm khuya tiếng trống đi về trong thôn.

Thơ của Tố Hữu đấy, có hay không bác?

Ông Vỹ vẻ đăm chiêu, mơ màng:

- Những năm tháng ấy đồng ruộng lúa tốt lắm, hở cháu? Lúa mượt đồng ấm áp… Mà sao bà con nông dân lại đem cờ đỏ ra bờ đê, đánh trống từ sáng đến đêm khuya để làm gì? Biểu tình à?

Thùy Dương trề môi dưới ra:

- Có mà tốt! Ruộng cha chung không ai khóc làm sao mà tốt nổi! Mấy ông nhà thơ, nhạc sĩ họ véo von cho hay thôi. Một dạo ồn ào lên về chuyện 5 tấn thóc trên 1 hecta ở Thái Bình. Nghe “bài ca 5 tấn” của cái ông gì đó mà lỗ tai thì khoan khoái, gan ruột cũng phơi phới. Có điều nhiều người vẫn không tin, họ cho là bia nặng… bịa!

May ra có miếng ruộng phần trăm là mượt mà, ấm áp tí chút bởi vì mình phải chăm sóc nó để mà cứu đói cho cả nhà. Nhân công làm ruộng mỗi ngày một thiếu: trai gái trong làng đi đánh giặc, ra mặt trận hết chỉ còn lưa thưa mấy ông bà già trẻ con, những nàng Vọng Phu cày cuốc ngoài cánh đồng. Nhà cháu chẳng hạn, thầy cháu thì tái ngũ, anh cháu nhập ngũ… cả hai cùng ra mặt trận, ở nhà chỉ còn mẹ và hai chị em… Một năm, thiếu tới 4 tháng gạo ăn là chuyện bình thường. Lâu lâu, họa hoằn lắm mới được ăn một bữa cơm trắng, cơm không độn…

Cháu đọc cho bác nghe thêm mấy câu thơ nữa nhé. Hay lắm bác ạ…

Cầm vàng còn sợ vàng rơi
Vào Hợp tác xã đời đời ấm no…
...Anh đi bộ đội mười năm
Trở về buồng cũ đắp chăn em chờ…

Ông Vỹ hình như chẳng quan tâm gì mấy chuyện âm nhạc và thơ phú…

- Này cháu - Ông hỏi với giọng nể nang cầu thị - Cháu vừa nói… cơm không độn; vậy thì cơm có độn là độn những thứ gì?

- Đủ thứ cả bác ơi. Khoai, sắn, ngô, mì bột, mì sợi, bo bo…

- Bo bo là cái gì?

Thùy Dương lúng túng. Nhưng rồi ả nhớ ra được và toét miệng cười.

- Bo bo hay còn gọi là mì ba đời. Nó là một loại hạt mì Trung Quốc còn nguyên chưa xay xát, luộc lên ăn vào khó tiêu lắm… Thế này chứ, con nói bác bỏ quá cho… Trước hết, mình ăn vào dạ dày không tiêu hoá nổi, ỉa ra phân vẫn còn nguyên hạt, thế rồi con chó nó mới xực bãi cứt đó, cũng không tiêu nổi, lại ỉa ra, hạt cứ còn nguyên; cuối cùng con gà mổ tiếp nuốt vào… Thế là xong! Đúng phóc ba đời!

Thùy Dương kể tiếp cho bác Vỹ nghe những năm 80, thời kỳ đất nước chưa “đổi mới”. Ả đi chợ Xóm Mới xếp hàng mua 2 lạng thịt heo để nấu bát cháo cho con trai đang ốm nằm bệnh viện. Đáng lý phải cắt cho ả một miếng thịt nạc thì con mẹ cửa hàng lại xẻo cho ả một miếng bạc nhạc có núm vú. Thế là, ả và mụ bán hàng to tiếng xô xát… Mụ túm tóc ả. Ả tát cho mụ một cái nên thân vào giữa mặt!

Ông Vỹ cau mày, cố tìm hiểu ra những điều lạ lùng trong câu chuyện.

- Thầy cháu cũng có kể cho bác nghe. Mùa đông ở ngoài Bắc mà ông ấy phải đi nhặt cành khô, quét lá phi lao đem về nhà đun. Lương hưu cựu chiến binh mà chậm tới 3 tháng chưa lĩnh; có tháng không lĩnh tiền mà lĩnh bằng phân uya-rê! Đúng vậy, phải không cháu?

Thùy Dương cắn môi, cúi đầu. Ả nghẹn ngào.

- Đó là giai đoạn sau Đổi tiền, cái thời Bù giá vào lương. Ở Hà Nội người ta gọi là Bù-đá-vào-lưng. Cũng chỉ vì cả nước làm thơ, nhà thơ nhảy ra làm kinh tế nên toàn quân toàn dân ta mới điêu đứng khốn khổ như vậy, bác ạ. Thầy cháu ra đi… đúng vào những năm nước ta bắt đầu đổi mới, kinh tế bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường. Cụ mới thấy mà chưa được hưởng lấy một ngày gọi là sung sướng.

Rồi bưng mặt khóc oà.

Năm gian nhà bỗng mờ tối dần. Không-Thời-gian đứng lại. Có ai đang đổ chì vào đêm đen từ mọi phía làm cho mấy con người tự nhiên cảm thấy mình bị đóng khuôn, chôn chân tại chỗ, không thể cựa quậy chuyển dịch đi đâu được.

Lệ Uyên rất muốn ngồi xích lại gần bố, đưa tay sang sờ mái đầu cô em đang rung lắc tội nghiệp kia mà không sao giơ lên được. Cái màu đen gì thế này nhỉ? Chị căng mắt nhìn thẳng, cố chọc thủng xuyên qua để nhận ra hình ảnh căn nhà, thế giới… mà thấy mình hoàn toàn bất lực.

Màu đen gì nữa thì ánh sáng có lúc rồi cũng xuyên qua được, hoặc tự nó nhường chỗ cho ánh sáng, thậm chí hài hoà cùng ánh sáng. Màu đen này hoàn toàn khác lạ. Sợ hãi, u mê, câm điếc, mù loà… Màu đen này bưng bít, đè nặng, huỷ diệt tất cả!

- Thầy ơi! Thầy ở đâu rồi?

Lệ Uyên kêu lên nhìn quanh, hai tay sờ soạng. Không có tiếng trả lời. Chị thấy mình hoảng loạn như ngày nào, hồi lên bảy tuổi trượt chân rớt xuống ao vì với tay hái bông hoa súng. Lần ấy may mà có chị Tâm đẩy vội ra một cành xoan khô cho mà bám lấy lôi vào… chứ không con hĩm Uyên đã chết đuối rồi!

- Thầy ơi! Thầy của con ơi!

Lệ Uyên đau khổ rền rĩ. Vẫn lặng im. Không-Thời-gian đang chuyển dịch từ mọi phía. Sự Sống đang kéo lùi Cái Chết về một bên. Vòng tròn sáng lại hiện ra. Chầm chậm xoay…

- Thầy đây mà, con…

- Thầy đâu?

Tiếng ông Vỹ chậm rãi, rõ ràng như ai đang đánh vần:

- Thầy là con. Thầy ở trong con. Mạng hai cha con mình tuy hai mà vẫn là một. Thầy đi trước con rồi lại về sau con…

- Thầy đừng xa con…

- Ừ. Thầy vẫn là bố Vỹ năm 36 tuổi; con là bé Uyên lên 7 tuổi. Đồng ý không nào? Vừa lòng chưa?

Cái đầu ông Vỹ đang hiện dần ra.

Mái tóc đen dày hơi cứng, buông lơi một lọn cong vòng trên vầng trán rộng. Đôi mắt đen sáng đượm vẻ buồn cả nể, mềm yếu. Đôi môi mở hé tình thương yêu, lộ mấy chiếc răng cửa trắng đều, chân thật; biết hờn dỗi khi còn trẻ thơ và nhẫn nhục chịu đựng lúc đã trưởng thành. Đầu Mai Duy Vỹ, đảng viên Đảng Lao động Việt Nam trước người thân và đồng chí kia, sao bỗng nứt vỡ, toác đôi… máu trào óc phọt ra từng mảng? Kìa!

Ông Vỹ nói, giọng trầm:

- Thôi, bây giờ con hãy kể cho thầy nghe về ngôi nhà từ đường họ Mai chúng ta, về hoàn cảnh sống của gia đình ta, bà nội, mẹ và các con… lúc thầy đi sang Bên Ấy…




MAI LỆ UYÊN KỂ CHO BỐ VỸ NGHE
CHƯƠNG 18
ĐỘI CẢI CÁCH BẮT BỐ VỸ ĐƯA ĐI TÙ.
NHÀ BỊ “BAO VÂY”

Thầy ơi! Con kể thầy nghe… những gì năm ấy con còn nhớ được qua ký ức của cô bé lên 7 tuổi. Và sau này còn được mẹ và chị con bổ khuyết thêm.

Con còn nhớ cái đêm hôm ấy đêm gì mà trời oi bức như thể sắp có giông bão.

Mẹ bảo mấy đứa con nằm giường nóng lưng chắc không ngủ được, thôi thì chịu khó quét nền nhà gạch, trải chiếu ra ngủ cho mát mẻ hơn. Thế là, con bé Uyên của thầy lăn ra ngủ một giấc chẳng còn biết trời đất ra sao nữa.

Sáng dậy, mở mắt ra con thấy sao không khí trong nhà ta có cái gì khác lạ? Mặt mày ai nấy buồn rầu lo lắng. Con đi quanh quẩn hết trên nhà rồi xuống dưới nhà, lại đi ra cả trước sân đứng nhìn cây hoa ngọc lan, mấy chậu hồng, chậu cúc mà thầy thường đứng nhìn hoặc cúi xuống hít thở, lấy ngón tay mơn vuốt…

Quay vào nhà, thấy mẹ đang ngồi thừ trên ghế tràng kỷ, con hỏi:

- Mẹ ơi, thầy đi mô rồi hả mẹ?

Mẹ nhìn con như người mất hồn, thở dài.

- Thầy qua Bình Lâm, bên ngoại Hà Trung có chút việc…

Đến bữa ăn trưa vẫn chưa thấy thầy về! Rồi bữa tối đến… Thầy cũng chưa về! Lúc bấy giờ mẹ mới nói thật cho con biết cái điều khủng khiếp đã xẩy ra…

- Thầy bị người ta bắt đưa đi đêm hôm qua rồi!

Nói xong, mẹ nâng vạt áo lên úp trùm mặt, nghẹn ngào.

- Thầy bị bắt sao con không biết?

- Thì con ngủ say nên không đánh thức con dậy.

- Sao không đánh thức con dậy? Lỡ như thầy đi luôn, con không thấy thầy nữa thì sao?

- Đừng nói dại con, thầy đi chừng dăm bữa, nửa tháng thôi rồi thầy về.

- Ai bắt thầy đi thế hở mẹ?

- Đội Cải cách… mấy người bần cố được bắt rễ xâu chuỗi.

- Vì sao thầy bị bắt?

- Mẹ cũng không biết nữa! Trời ôi, thôi con đừng hỏi nữa!

- Thầy hiền lành thế cơ mà, mẹ…

Thầy đi được mấy hôm thì nhà ta bắt đầu bị “bao vây”.

Mẹ cắt nghĩa, truyền đạt cho các con và cả bà nội như sau:

“Nhà ta đã bị bao vây. Như vậy có nghĩa là từ nay mọi cái trong nhà, ngoài vườn, tất cả không còn là của mình nữa mà thuộc về tay nông dân, mấy người bần cố nông… Ngay cả con người mình nữa, Đội bảo nông dân để cho mình sống là mình còn được sống, Đội bảo nông dân bắt mình chết là mình phải chết. Hiểu chưa? Trong nhà này, từ bây giờ trở đi, nhất nhất mọi chuyện, ai nấy đều phải nghe tôi, làm theo tôi! Cấm không được nói cái gì, làm cái gì mà không được phép của tôi!!!”

Mệnh lệnh đã ban ra, cứ thế mà thi hành.

Y như rằng ma quỷ bắt đầu rục rịch hoạt động, liên tục khiêu khích.

Lần thứ nhất, không hiểu ai lẻn vào nhà lúc nào, bẻ gẫy song cửa sổ lấy đi mấy lọ thuốc aspirine, quinine, dagenan?… Cả nhà xì xào rồi im. Mẹ bảo im là phải im.

Lần thứ hai, không rõ vào lúc chập tối hay mờ sáng, ai đó chui vào nhà cắt đứt dây, chặt nát khung dệt chiếu?... Thật quá thể! Mẹ bảo im, không được lên tiếng chửi bới.

Lần thứ ba, mấy nải chuối xanh ngoài vườn tự nhiên bị ai chặt, chặt nham nhở sứt mẻ… Ra cái điều rằng chỉ có con vợ thằng Vỹ vì sợ nên mới cắt vội vàng, chặt nham nhở như rứa. Còn ai vào đó nữa!

Có giỏi thì cứ việc la lối lên, bầy choa sẵn sàng vu vạ cho rồi tóm cổ lôi đi… đấu!

Tiếng đồn loang đi khắp vùng, người ta chao chác ngay ngoài đường cho mà nghe rằng đến mấy đêm liền bọn phản động ném đá vào các cuộc hội nghị. Hòn đá mô nhỏ thì bằng quả ổi. Hòn đá mô thì to bằng quả… bưởi con. Có một hòn xẹt qua vai ông Đội, xuýt nữa thì nhằm trúng vào đầu! Chả là ngồi họp lâu, ông Đội mót tiểu mới bỏ hội nghị ra ngoài mà!

Ngồi mãi trong nhà không chịu nổi, một buổi sáng nhìn quanh chẳng thấy mẹ đâu, con mới đi ra ngõ, tháo cái then cài, mở cánh cổng bước ra đường. Ngay sát cổng, bên bụi xương rồng, ơ hay, có một đống đá nhỏ ai vừa mới đổ?… Cúi xuống nhìn, con mới tò mò cầm thử một hòn… Eo ôi, cái gì đen đen dính dính bám vào tay thế này? Cứt người à? Không phải. Xa xa trước mặt có một người đang đi tới. Sợ quá, con vội kéo cánh cổng để chạy vào nhà. Vừa kịp cài then thì một cành gai tre cào vô mặt, chảy máu bên má. Đúng lúc mẹ từ ngoài vườn đi vào. “Làm sao thế?” Mẹ kêu khẽ rồi hớt hãi nhìn con. “Đưa tay đây mẹ xem. Biết ngay mà! Nhựa đường, hắc ín… ở đâu ra thế này?” “Đống đá ngoài cổng…” Vừa nói con vừa giơ tay chỉ. “Thôi chết cha rồi, con ơi, đã bảo mà không nghe, ai cho phép con ra ngoài đó? Họ lập mưu vu vạ để giết mình đó. Có ai trông thấy không?” “Có… có… nhưng từ xa”.

Hai mẹ con vội nhìn ra ngõ. Có một người, đúng là người thật, đang đứng ngoài cổng, cái đầu lù lù sau ô cửa trống hình vuông, thấy rõ cả con ngươi đang nhìn vào. Run bắn người, mẹ ôm ghì con vào lòng, cúi đầu, một tay khẽ luồn vào đầu tóc con ra vẻ như đang bắt chấy…

Một lúc lâu… nhìn ra không còn thấy cái người ấy nữa mẹ mới buông con ra. Bà khóc. Khóc ôi là khóc. Nước mắt hai mẹ con nhoà ướt trên mặt nhau.

Mẹ lôi con ra giếng, rửa lau tay. Nhựa đường, hắc in vẫn dính bám. Nhà hết dầu hoả rồi. Mẹ bảo con cọ bàn tay vào đất cát, may ra… Chẳng ăn thua gì. Lại lấy con dao bào lưỡi mỏng thử cạo, thử gọt… Ôi! Khốn khổ khốn nạn!

Con xin kể tiếp thầy nghe…

Thầy còn nhớ mấy cây mít dai, mít mật nhà ta không? Nó mọc ở cuối vườn, quả trĩu cành. Nhiều hôm ngồi trong nhà nghe có tiếng rơi đánh bịch một cái, anh Bình con mới chạy ra vườn xem. Hoá ra là mít chín, quả nó long rời cuống, rơi xuống đất vỡ tung toé ra… thật là uổng phí.

Bởi thế năm đó, không hiểu Trời xui Phật khiến thế nào ấy mà mẹ nhà ta mới nhờ người tới trèo lên hái xuống tất cả những quả mít đang xanh, sắp chín… Rồi mẹ và bà, hai người bóc múi ra, thái lát, rải ra nong phơi khô. Có ai ngờ cái bao lương khô, chỉ có mít và mít, đã cứu sống ngần ấy con người trong thời gian bị “bao vây” đó. Ngoài mít ra, nhà họ Mai phải lê la ngoài đường, ngoài ruộng để hái rau má. Bà nội nhắc lại năm đói Ất Dậu 45: “Đói thì ăn rau má, chớ có ăn bậy ăn bạ mà chết”.

Có một hôm thầy ạ, chẳng hiểu ai đã cả gan vô phép vượt qua mặt ông Đội, ném vào trong sân cho mấy củ sắn. Thế là, tự nhiên khi không họ làm phúc mà lại gieo họa. Bà và mẹ nhường cho các con ăn… Cả mấy chị em đều bị ngộ độc, say sắn. Mẹ hốt hoảng nghe lời bà, nửa đêm mò ra ngoài ruộng khoai. Ruộng là ruộng của nhà mình, tay mình vun trồng… mà cứ như là du kích, người đi ăn trộm! Mang về được một bó lá, mẹ cùng với bà hai người giã lấy nước đổ vào mồm từng đứa cho chúng con uống để nôn oẹ ra…

Gần sáng, ba đứa chúng con may mà qua khỏi.

Qua tới tuần sau thì anh Bình con… mất tích!

Anh con đi mò cua bắt ốc ngoài đồng từ sáng sớm. Cả nhà đợi tới trưa, sang chiều, rồi quá nửa đêm vẫn không thấy về. Sáng ngày sau, rồi ngày sau nữa!… Như vậy nghĩa là thế nào?! Mẹ và bà nằm liệt. Biết nhờ ai đây xin phép mấy ông bà Đội để đi tìm. Mà ai người ta cho! Mà biết tìm ở đâu?

Rồi làng xóm người ta đồn anh Bình con chết đuối. Chết đuối sao xác không nổi lên, dù là ngoài sông hay ở trong ao đầm, thì cũng có người trông thấy bắt gặp chứ!?

Mẹ nằm mơ thấy anh con về… Cổ bị trói, đầu vỡ toác, máu me đầy mình… 45 năm qua… dẫu nhà ta đã đi tìm, hỏi thăm cũng nhiều người, vẫn không ai biết xác anh Bình con nằm ở đâu! Nhà mình lại ở không xa trụ sở Uỷ ban. Nơi đó, Đội Cải cách nhốt giam, tra tấn những tên tội phạm, phản động… Chúng con nghe rõ tiếng la, tiếng thét, tiếng gào khóc trong đêm khuya mà hoảng hồn, không sao chợp mắt được!

CHƯƠNG 19
BÀ NỘI BỊ ĐẤU TỐ RỒI CHẾT

Bà bảo, sắp tới thế nào họ cũng lôi bà ra đấu. Sớm muộn rồi cũng ra đi thôi!

Mẹ bảo, thà chết chứ không chịu nhục. Họ có lôi mẹ ra đấu, mẹ cũng không chịu nhận những điều vu oan giá họa cho chồng, bôi nhọ phẩm giá của dòng họ!

Quả nhiên, bà nội bị họ tới nhà bắt vào buổi sáng. Bị trói hai tay, không phải còng chân vào cùm nhưng nhốt giam cả tuần trước khi đưa ra đấu.

Từ ngày bị “bao vây”, cả tháng trời nhà ta chỉ ăn có mít khô và rau má như con đã kể. Bà vốn đã gầy yếu lại thêm chứng kiết lị mà không có thuốc uống nên mạng sống chỉ còn tính đếm từng ngày.

Họ vu cho bà tội phản quốc hại dân!

Chứng cớ là, ông nội vào Đảng Dân chủ, thường xuyên tụ tập bọn phản động ở trong nhà. Bà đã nấu nướng, hầu hạ bọn này để chúng nó chống phá Cách mạng.

Bà bảo, chồng tôi có vào Mặt trận Liên Việt chứ không theo đảng phái nào cả.

Họ nói, Liên Việt không phải là Việt Minh. Vào Mặt trận Liên Việt chẳng qua là cái cớ để cho thằng Cử Hoà (Mai Duy Hoà, tên của ông nội) đội lốt phá hoại Cách mạng mà thôi!

Vợ chú Đông, tố giác bà đã có lần ỉa vào giếng làng để bà con nông dân, cả làng cả xã ăn! Chính thím ấy đã tận mắt theo dõi, đi rình bà vào đêm Rằm tháng Bảy… Bà chui vô bụi ngồi một lúc, chờ khi vắng người, tưởng là không có ai xung quanh mới mò ra, rồi cởi quần ngồi trên bờ giếng, chổng đít, phẹt phẹt liền cả mấy bãi!

Còn ông Cò Toe cũng tố bà rằng có lần thấy bà đi ỉa xong rồi, liền giả bộ chùi đít, để… vứt truyền đơn cho gió bay tán loạn ra ngoài đường. Truyền đơn gì không biết mà có in cả chữ Tây, chữ Tàu.

Họ kéo bà ra ao làng.

Vợ Cò Toe, thím Đông và cả Hĩm Xoa lôi bà xuống, túm tóc nhận chìm đầu một lúc dưới ao để bong bóng sủi, rồi kéo lên cho thở. Làm đi làm lại cả chục lần như thế. Họ vừa la vừa chửi, hỏi bà rằng, con mẹ Cử Hoà đã hiểu thế nào là cái khổ của nông dân bầy choa sống trong bùn lầy nước đọng chưa?

Họ ngồi trên bờ ao, xem bà bị trói vào cầu ao, nước ngâm đến cổ, đỉa bám đầy mình…

Sáng hôm sau, họ đưa bà ra ngoài ruộng, dùng dây thừng buộc hai cổ chân, rồi cột vào cái bừa cho trâu kéo trên những luống đất lổn nhổn mới cày dưới ánh nắng mặt trời thiêu đốt… Bà đau đớn, kêu la. Họ vỗ tay cười. Vừa cười vừa hỏi con mẹ Cử Hoà ngồi mát ăn bát vàng bao năm nay, bây giờ đã hiểu cái cực nhọc của nông dân bầy choa đi cày đồng dưới nắng ban trưa chưa?

Tuần sau bà được thả về.

Mẹ kiếm đâu ra được nắm gạo và ít đụt khoai nấu cháo, múc một bát mời bà ăn. Bà không ăn. Nài nỉ van xin thế nào bà cũng lắc đầu. Đã bảo không ăn là không ăn mà, bà nói, tôi sắp chết rồi… Mẹ Cò gắng ở lại nuôi con. Tôi có nuốt được hớp cháo vào bụng thì cũng chẳng sống thêm được mấy ngày… thôi để cho hai cháu chúng nó ăn. Mà tôi sống để làm gì nữa chứ. Nhục nhã đau đớn lắm! Ai mà biết được cái Đời nó đổ đốn khốn nạn đến thế này thì… cha mẹ ơi, tha tội cho con, đừng sinh con nữa! Cái Đời gì mà đến đứa con mình cưu mang nó, nuôi sống nó từ ngày còn chưa mở mắt bọc trong tã rách, cái thằng Đông ấy, nhặt được nó ngoài bụi xương rồng trước ngõ… đã không mang ơn nhà họ Mai thì thôi, lại còn lấy ngón tay trỏ đè dí lên mặt mẹ mình, trước đám đông bà con làng nước, gọi mẹ là mi, xưng mình là tao! Chưa đủ, lại còn gọi là con mẹ Cử Hòa, xưng mình là chúng tao… thế đấy! Ai bày cho ông, ai dạy cho ông làm thế, hở ông Đông là ông Đông ơi!

Trời đất lộn ngược rồi! Đạo ở đâu? Lý ở đâu? Nhân nghĩa ở đâu?

Bà chết trên tay mẹ. Một manh chiếu tử tế để quấn cho bà cũng không có. Đồng cói Nga Sơn bao đời nay không đủ để dành cho bà một manh chiếu gọi là để chôn cất, vùi vào lòng Đất hay sao? Mẹ gào khóc, kêu lên. Bàn tay bà, bàn tay mẹ một đời đã dệt ra bao nhiêu tấm chiếu! 




CHƯƠNG 20
MẸ CŨNG BỊ BẮT VÀ ĐƯA RA ĐẤU TỐ

Mẹ con đào đất chôn bà được mấy hôm thì ma xui quỷ ám thế nào chú Đông lại tới.

Sáng mai mới bảnh mắt chú dẫn một đoàn người đi vào sân. Mấy người cốt cán được Đội xâu chuỗi bắt rễ làm theo lệnh của ông Đội. Họ xô cửa sầm sầm, bước vào nhà, tháo ảnh ông nội trên bàn thờ xuống, đập vỡ kính, xé nát cả tấm hình…

“Đào tận gốc, trốc tận rễ”. Ông Đội nói. “Phải tiêu diệt đến cùng, xoá sạch các tàn tích của bọn địa chủ phong kiến phản động!”

Chú Đông đứng trước bàn thờ, giơ ngón tay trỏ lên, xỉa xói theo:

“Cái nòi giống bóc lột ăn bám ấy thì để ảnh lại làm cái chi, thờ cúng làm cái chó chi! Đốt ! Đốt hết!”

Chiều hôm sau mẹ cũng bị bắt.

Cái đêm hôm ấy… hai chị em con kinh hoàng đến không thể nhắm mắt được. Mấy đêm liền như thế. Bụng cồn cào, đói lả… Con chuột chạy nghe cũng sợ. Chim lợn kêu ngoài trời cũng thất kinh. Hai chị em hoảng hồn, ôm ghì lấy nhau.

Cũng may là tờ mờ sáng… bốn hôm sau đó mẹ được thả về.

Mẹ kể…

Thoạt tiên, chẳng hiểu vì sao họ để cho một lũ trẻ con tới hành hạ. Bắt mẹ quỳ xuống trước sân Uỷ ban… Đứa bẹo má, đứa gõ đầu, đứa túm tóc giật… Có một thằng, mẹ không nhớ rõ tên, con ai đó trong làng, lấy nhọ nồi bôi trẹt vẽ râu lên mặt mẹ. Một thằng nữa, táo tợn hơn, cởi quần ra, ngỏng chim đưa ra trước mặt mẹ, lấy tay búng búng rồi hỏi: con mẹ địa chủ, mi có muốn bú c… ặc cho tao không?

Hạch hoẹ chán, chúng lôi mẹ ra bụi tre gần đó, bắt quỳ xuống ổ kiến lửa rồi lấy dây thừng trói vào thân một cây tre. Kiến lửa rần rần bò lên khắp người, cắn khắp mặt mũi, mình mẩy chân tay. Hai đầu gối sưng. Người lên cơn sốt, tưởng hoá điên hoá dại. Bọn chúng vây quanh, vỗ tay cười.

Rất may, lúc ấy có anh Phận đi qua. Ngày trước, một dạo anh Phận đi ở cho nhà mình. Nhớ ơn thầy mẹ nuôi cơm, cho áo, không nỡ nhắm mắt quên đi những ngày được ông bà cứu mạng, anh ấy mới nghĩ ra kế để đuổi bọn trẻ con đi.

“Chúng bay ngu quá! Trói người mà trói không ra hồn! Làm ăn như thế hả...?” Anh Phận quát nạt, la to “Cút xéo tất cả đi! Để tao trói lại cho!”

Bọn trẻ ngơ ngác, anh lại càng làm căng. Chúng vừa tản ra, vừa đi vừa ngoái cổ lại nhìn.

Anh Phận gỡ từng nút dây thừng, tháo tung hết… rồi dẫn mẹ sang cây xoan cách một quãng gần đó, lại buộc mẹ vào… Anh trói sơ sơ, nới lỏng ra… rồi dặn mẹ: “Bà ơi, bà chịu khó quỳ ở đây một lúc, con đi báo cho Đội, rồi con dẫn bà về lại trụ sở… ”

Mẹ bảo, nếu không có anh Phận, mẹ đã chết từ buổi chiều hôm đó, vĩnh biệt các con rồi!

Mấy ông Đội cố ý vu cho mẹ tội phản quốc, chống Đảng. Họ mớm cho Cò Toe tố cáo vợ thằng Vỹ cất giấu trong nhà nhiều truyền đơn, bản đồ… Những thứ này là của Pháp giao cho Vỹ để khi nào Pháp nhảy dù, đổ bộ lên Nga Sơn thì vợ chồng Vỹ cứ theo cách lối chỉ dẫn trong đó mà chỉ điểm cho Pháp đi càn, bỏ bom…

Mẹ bảo, nghe Cò Toe tố mà tao xuýt bật cười. May mà tao bặm môi, bấm bụng lại, cố nín. Tao mà cười thì họ đập cho chết. Lại còn vấn đề nhận tội hay không nhận tội, biết tính sao đây? Nhận thì mất mạng mà không nhận thì họ cũng hành cho đến chết. Họ là quỷ, mình phải làm ma chứ không thì nguy khốn. Mẹ nhận rằng trong nhà mình có mấy cái hòm toàn giấy cả. Vì không biết chữ Tây, chữ Quốc ngữ cũng lỏm bỏm thôi, nên chẳng hiểu những giấy tờ đó là gì. Bởi thế, mẹ mới đem ra dùng lung tung. Loại nào giấy cứng thì đun bếp, loại nào giấy mềm thì chùi đít cho các con. Hiện cũng đang còn một ít cất ở xó nhà…

Như vậy, những tang chứng mà Cò Toe đưa ra là có thật. Đội dẫu chưa vừa lòng cũng dừng tra khảo.

Cuối cùng, cái tội phản quốc, chống Đảng họ buộc mẹ phải nhận và nói to lên cho Quân Chủ lực, quần chúng nông dân cách mạng nghe.

Mẹ bảo, tôi ngu si dốt nát mà chữ nghĩa câu kệ các ông dài quá, đầu óc nhớ không nổi, nói ra sợ không đúng với cái tội mà Đội quy cho… Cho nên, bây giờ các ông cứ nói trước đi dăm ba tiếng nửa câu, để tôi nói theo, có thế mới thành Tội nên Nợ đâu ra đó được. Cứ tưởng là đùa, thế mà chẳng hiểu sao họ lại đồng ý? Ông Đội trưởng người Nghệ An bảo bà Đội người Quảng Xương Thanh Hoá đứng ra… cầm càng, xướng lên để mẹ đế theo. Đại loại, vì theo chồng, vợ thằng Vỹ cũng phản quốc, chống Đảng… có điều con vợ hắn chưa giết chết một người nào!

Mẹ bảo, có mấy người Đội đã xâu chuỗi bắt rễ, vậy mà khi ra đấu trường họ không chịu lên đấu tố, hoặc bước lên, nhìn vào mặt mẹ một lúc rồi đứng im.

Có người nói ông Vỹ đã từng chữa bệnh cho chồng con tôi mà không lấy đồng nào.

Có người nói, dẫu là đứa ở trong nhà, chẳng những bố con ông cử Hoà không đánh đập họ mà còn săn sóc cái ăn chốn ở tử tế.

Thậm chí họ còn nói, năm đói Ất Dậu 45, may nhờ có nồi cháo nhà ông Cử đặt ở trước sân mời bà con tới… mà còn được sống đến bây giờ.

Ông Đội trưởng khi ấy nổi khùng lên, quát tháo: “Các đồng chí mần ăn như cục cứt! Phát động quần chúng, thăm nghèo hỏi khổ mà như rứa à? Quần không động, chúng chẳng chuyển, chưa làm cho bần cố nông thấy hết được tội ác của của cha con nhà họ Mai chất cao như núi Tường Thơn, mênh mông như biển Đông trước mặt… Thôi dừng!”

Cả đấu trường ngừng lại một lúc để nghĩ, ca hát…

Một cô văn công, là người của Đội, đứng trên “lễ đài” ngâm thơ. Bài thơ kể về những nỗi khổ của một bà cụ mù loà ở làng Còng thuộc huyện Tĩnh Gia. Sau này khi vào học Cấp Hai, Lệ Uyên của mẹ có lần phải học thuộc lòng bài thơ ấy trong sách giáo khoa và mẹ đã nhớ ra.

Lôi cổ chúng nó ra đây
Bắt cúi đầu xuống đọa đày chết thôi!

Tiếp theo, ông Đội đứng ra cầm càng cho đám thanh niên hát Bài ca Đấu tố.

Hồn vía lên mây, vừa đói vừa khát, hai lỗ tai ù xé như có sấm rền sét nổ, mẹ xỉu người, đổ vật xuống…

Họ lôi cổ dậy, bắt quỳ thẳng người, thẳng lưng…

Người cuối cùng lên đấu tố mẹ thoạt tiên mẹ nhận không ra…

Ngày xưa năm 1948, khi đến ở cho nhà ta, chị Xoan này trông chẳng đến nỗi nào. Dẫu không đẹp gái cũng mặn mà dễ coi; còn bây giờ là một mụ già tiều tụy, gầy đen… Mẹ bảo, hồi ấy cô Xoan có má lúm đồng tiền này cứ e thẹn ửng đỏ lên mỗi khi mẹ đi đâu về, bắt gặp chị ta đang chuyện trò với chú Đông? Thế rồi cái bụng Xoan cứ tự nhiên mỗi ngày một to lên. Một buổi sáng bà nội gọi “Ớ Xoan” có đến bốn năm lần mà chẳng thấy chị ta đâu cả? Anh Nuôi bảo, từ tối qua tới giờ Xoan đi đâu chẳng thấy về nhà?… Rồi dân làng ồn lên chuyện Xoan sang Hậu Lộc, về nhà mẹ… đẻ! Lại còn ồn, Xoan ra Ninh Bình, Hải Dương… vào chùa tu!

Bây giờ… Xoan đang đứng trước mặt mẹ đây.

Chị ta lấy ngón tay vê vê vạt áo nâu rách, lúng búng trong miệng, thở hổn hển. Xoan ngước mắt, cầu cứu mấy ông Đội, nhìn ai đó trên hàng ghế Chủ toạ, mím môi lại, lấy ngón tay trỏ dí xuống đầu mẹ.

- Con vợ thằng Vỹ này… mi có biết tao là ai không?

Chị ta hét lên thật to.

- Dạ … thưa, tôi biết.

- Láo! Phải xưng là con…

- Dạ, con biết. Bà là cô Xoan, trước có ở nhà con…

- Rứa thì… mi có biết cái thai trong bụng tao hồi đó… cái hồi tao bị dân làng ồn là chửa hoang í… nó… nó là của ai không?

Mẹ ngẩng đầu nhìn ả:

- Dạ thật tình là… con này không biết!

Xoan vỗ tay đánh bốp, nhảy một cái bạch, la lên:

- Của thằng Vỹ, chồng mày chứ còn đứa mô vào đó nữa! Thằng Vỹ làm tao có chửa. Đúng không?

Mẹ lấy lại hơi, dừng một lúc để cho tiếng ồn bốn bên tạm lắng xuống rồi mới thong thả nói:

- Bà Xoan ơi! Bà nói làm sao chứ. Cái năm bà ở nhà con, năm 1948, lúc ấy chồng con, ông Vỹ đang ở ngoài mặt trận. Ông ấy đang bận công tác, phải cưa chân cưa tay mấy anh Vệ Quốc Đoàn, mãi tới đầu năm 1950, ông ấy mới được về nhà. Như vậy, thưa bà Xoan, bà lầm rồi; cái thai ấy, đứa con ấy là của ai đó… Bà thử cố nhớ lại xem…

Xoan đứng ngây người một lúc, lại đưa mắt tìm ai đó.

- Nếu không là của thằng Vỹ chồng mày, thì thằng con mày…

- Dạ thưa bà - Mẹ đốp ngay, nói thật to - Con trai tôi lúc đó mới có hai tuổi thì làm ăn gì được mà có con với bà!

Xoan cuống lên như bị ai dội nước sôi vào người, rồi đuối hơi…

- Không thằng con mày… thì… thì… là mày!

Mẹ cố nhịn cười, nói nhẹ nhàng:

- Bà Xoan ơi! Bà nói gì nghe lạ quá. Đàn bà mà lại làm đàn bà có chửa được, chuyện ấy xem ra chỉ trong cổ tích ngày xưa có một… 




CHƯƠNG 21
MẸ CON ĐƯỢC RA NẰM NGOÀI HIÊN.
LỆ UYÊN CHUI HỐC VÀO NHÀ NGỦ
TRÊN Ổ CHÓ

Ba mẹ con được Đội mời ra khỏi nhà.

Họ khoá cửa, buộc giằng dây trong dây ngoài. Tạm thời cho chúng mày lê la ngoài hè, góc sân.

Cái đêm hôm ấy đêm gì mà rét cắt da xé thịt. Gió bấc hun hút lùa vào khe cửa, len lỏi vào tấm quần rách manh áo mỏng. Mẹ ôm con vào lòng vừa rên vừa dỗ dành: Nín đi con, đừng khóc. Ông Đội và chú thím Đông mà nghe được thì họ bắt họ làm thịt, nướng chả, nấu cháo hành đó! Ngủ đi con… Trời sắp sáng rồi…

Nghe mẹ nói, con sợ quá, run bắn người, hàm răng va cốp vào nhau… Nhưng nào trời có chịu sáng, càng về khuya càng rét. Tình cờ, mẹ nhìn thấy cái hốc chó ở đầu hồi nhà, lâu nay con Vện đêm tới cửa đóng vẫn chui ra chui vào… Tội nghiệp cho Vện!

Vện đã bị chú Đông đập chết, làm cỗ thết đãi ông Đội rồi… Mẹ bảo con chui vào thử trong nhà xem có được không, nằm ở trong nhà, ngay trên ổ chó có rơm rạ, giẻ rách… cũng đỡ rét hơn ngoài này…

Con chui vào được thầy ạ, có lạ không? Mẹ khen con giỏi ngoan… Đêm hôm sau con mách cho mẹ biết là ở trong nhà, gần ngay cửa, còn một cái nong. Mẹ bảo, được đấy, đẩy cái nong ra gần ngạch cửa, tối đến kéo nó ra ngoài… Uyên ơi, con chịu khó nằm xuống…. Nào, nào… mẹ và chị Tâm bẻ tay gấp chân con, khẽ ấn đè rồi đẩy nhẹ, chui qua được ngạch cửa vào tới bên trong… Đừng sợ! Mẹ và chị vẫn nằm sát ngoài đây, trong nhà có ông bà nội che chở, phù hộ!…

Mới tờ mờ sáng, mẹ đã vội đánh thức con dậy, thò tay vào kéo cái nong, giục con chui ra ngay, lại đẩy cái nong vào đúng chỗ y nguyên dấu cũ…

Mấy đêm ngủ ngoài hiên ngoài trời là như vậy đó. Chả bù cho đêm hè nào, con nằm trên chõng tre trải chiếu đậu ngoài sân, nhìn sao đếm sao, nghe thầy kể chuyện rồi ngủ quên đi, thầy bế con vào nhà lúc nào con cũng không biết.

Tất cả đều theo thầy vào Cõi Xa thẳm. Tất cả đều đã chấm… hết? Bây giờ chỉ còn lại đói rét và nỗi sợ hãi! Con người ta sinh ra đời để sống chứ không phải để chết, có đúng vậy không, hở thầy? Mà sao chúng con hễ cứ thấy bóng ai là vội nín thở, nghe tiếng nói ai là đã giật mình! Người ta có quyền vu oan giá họa cho mình bất cứ chuyện gì có thể; người ta có thể giết mình bất cứ khi nào cần giết…

Bởi vì mình đâu còn được coi là con người, cũng chẳng được là con vật nữa; chẳng có pháp luật nào quy định, phân xử, không có ai dám đứng ra che chở, bênh vực cho mình nữa! Gia đình mình đã bị quy thành phần địa chủ: cái án tù chung thân trọn đời mãn kiếp!

Từ nỗi sợ hãi con người, thầy ạ, mình đâm ra sợ mọi thứ! Nghe tiếng con thạch sùng chặc lưỡi cũng giật mình, thấy cánh dơi sà xuống, vụt qua màn đêm cũng… cảnh giác, thấy con chó nhà ai chạy qua đường cũng nghi ngại, gặp con trâu đứng dưới bụi tre cũng băn khoăn, day dứt: có chuyện gì xẩy ra liên quan tới mình không?

Chỉ còn có cỏ cây và ánh trăng là hoà dịu, trấn an nỗi sợ hãi! Hình như hương hồn thầy, ông bà nội, anh Bình ẩn khuất trong đó, âm thầm chở che, an ủi mẹ con nhà họ Mai?

CHƯƠNG 22
NGÔI NHÀ HỌ MAI ĐƯỢC ĐỘI CHIA
“QUẢ THỰC” CHO BẦN CỐ, CỐT CÁN.
BA MẸ CON BỊ ĐUỔI RA KHỎI NHÀ

Cứ tưởng nấn ná dăm mười hôm lê la ngoài hiên góc sân, rồi người ta động lòng, họ sẽ cho mẹ con vào chái bếp hoặc chuồng trâu ngủ cũng được, bởi cái lòng mình đâu có muốn xa rời ngôi nhà tổ tiên, hơn nữa, cũng chẳng còn biết đi đâu, ở vào đâu?…

Nhưng rồi một buổi sáng, ông Đội xuất hiện bước vào sân, theo sau là vợ chồng chú Đông, Hĩm Xoa… tay cầm dao, gậy và cuộn dây thừng.

Ông Đội nói, vợ con thằng Vỹ không được phép ở đây nữa, đi tìm chỗ khác. Nhà này bây giờ là quả thực, Đội đã chia cho ba gia đình cốt cán, bần cố…

Chú Đông chẳng nói chẳng rằng, bước lên thềm, lấy dao cắt dây buộc, dùng búa đập văng khoá, mở toang cửa… Thím Đông giơ tay xỉa xói vào mặt mẹ: Cái nhà này bây giờ là của chúng tao, hiểu chưa? Chúng mày mau mà cút xéo ngay, đi đâu ở đâu, chết rấp xó xỉnh nào, mặc xác! Đừng đứng đây nữa mà gớm cái con mắt!

Thím khạc nhổ trước mặt mẹ, bắn cả nước bọt vào trán con.

Hĩm Xoa cầm gậy hùng hổ bước tới bên hòn Non Bộ ở ngoài sân. Gác một chân lên bể cạn, tay cầm gậy gõ gõ vào mấy hòn đá có những con ốc xoắn, ông Tiên ông Bụt bằng sứ gắn vào… Xoa hỏi mẹ, con mẹ Vỹ có biết những cái chi đây không? Mẹ sợ sệt, im lặng. Xoa bảo, đó là xương cốt của bà con nông dân… Bước tới bên bụi hoa hồng đã héo khô, tàn úa, cầm gậy phạt ngang, Xoa nói:

Máu, nước mắt bầy choa bón tưới ba thứ hoa hoét cho chúng mày ngồi rồi, ăn không, vui chơi… hả?! Rồi bặm môi trợn mắt vung gậy lên phang đập hòn Non Bộ, mấy chậu hoa cho bể nát ra.

Trong khi đó, chú Đông lặng lẽ cầm dao rựa chặt đổ mấy cây ngọc lan, lựu, tường vi… ngày xưa ông nội trồng.

Ba mẹ con lặng lẽ xách mang mấy cái bị cói rách đi ra ngõ…




CHƯƠNG 23
TRỜI CÓ MẮT. CHUYỆN CỔ TÍCH
VỀ CHA CON NHÀ BÁC LƯƠNG

Chân vừa bước tới ngoài đường, mới đi được một đoạn, chị Tâm bỗng nhiên khóc oà lên. Mẹ cũng đứng sững lại rồi nói như gắt: “Tâm, con không được khóc! Chẳng việc gì phải khóc cả. Còn nhớ câu nói lúc còn sống, thầy vẫn nhắc không? Khóc là nhục, rên hèn, van yếu đuối… Người ta muốn giết mình nhưng Trời Phật còn có mắt, Trời Phật vẫn cho con cháu họ Mai cái quyền được sống. Chẳng chết đâu mà sợ…”

Thế nhưng ra tới đầu làng rồi thì chính mẹ cũng chẳng biết dẫn các con đi đâu.

Mệt quá, bà mới bảo các con ngồi xuống bên vệ đường. Tay nhổ một cây cỏ đưa lên trước mặt, mẹ vừa nói vừa rưng rưng nước mắt: “Người ta không cho mình ăn cơm thì mình nhai cỏ mà sống vậy. Ác giả rồi ác báo! Mai đây dù mẹ có đi theo thầy, thì các con phải sống tới cái ngày ấy; để tận mắt thấy cái ngày mà Trời Phật vạch mặt, trừng phạt bọn quỷ đội lốt người ngay trên trần gian còn đẫm máu bao người vô tội này mà chẳng cần phải chờ tới kiếp sau, đày lũ chúng xuống Địa ngục!”

Và đúng là Trời Phật có mắt thật, thầy ạ.

Có một người từ nãy giờ vẫn theo dõi mấy mẹ con. Người ấy đang đứng trước sân nhà nhìn ra. Nhân lúc vắng vẻ, ông ta đi ra, bước tới đằng sau, khẽ lên tiếng chào. Mẹ giật mình quay lại sửng sốt. Thầy có biết ai đó không? Bác Lương! Người đã từng làm rẽ ruộng nhà ta, được thầy chữa bệnh, chích thuốc…

“Mời bà Vỹ và hai em vào nhà tôi ở tạm cái đã…” Bác nói ngập ngừng, hai tay chắp trước ngực. Mẹ lặng nhìn bác vừa sợ sệt vừa hoài nghi. Giữa thời buổi điên loạn này vẫn còn có người không sợ cái án chung thân mà Đội Cải cách sẽ quy chụp lên đầu, trói chặt một đời cho đến chết về tội “cấu kết với địa chủ” hay sao?

“Mời bà và hai em vào nhà! Đừng ngại gì hết! Tôi đã không sợ thì thôi chứ việc gì bà và các em phải ngại!”

Đi theo bác vào tới nhà rồi, mẹ mới nhớ ra người làng nước năm xưa. Bác Lương, phải rồi, bác Lương. Cái năm vợ bác mất vì bệnh uốn ván, lâu lắm rồi, thầy không cứu chữa được, nhưng bác vẫn nhớ ơn, mấy lần lên xuống nhà…Trong cái nhà tranh vách đất hai gian này bao năm rồi, bác ở vậy một mình nuôi đứa con gái… Khi bà vợ mất, đứa con gái mới lên hai tuổi, bây giờ nó đã mười bảy…

Câu chuyện cô con gái bác lúc bấy giờ và sau này, khi đội Cải cách rút đi, đã trở thành chuyện tiếu lâm, trò vui đùa cho bà con cả vùng. Đôi lần, mẹ cũng có nhắc lại…

Số là, khi Đội mới về làng, bác Lương đã lọt được vào mắt xanh của Đội. Bởi hai lẽ: Một là, nhà bác rất nghèo, đã từng đi ở, làm rẽ ruộng cho địa chủ; hai là, nhà chỉ có hai bố con, rộng rãi hơn các nhà khác, cô con gái lại xinh xắn nõn nà…

Lúc đầu bác cũng có kể cho ông Đội đến ba cùng bắt rễ nghe những nỗi khổ của mình từ thời còn thơ ấu… Kể thật lòng, thật tình không để gây hằn thù, làm hại ai. Về sau, trong các cuộc họp, những buổi đấu tố, bác Lương thấy nhiều cốt cán, nhiều rễ bịa đặt dựng chuyện cho bọn địa chủ bóc lột, phản động… đến nỗi trời nghe trời cũng bật cười, trâu bò nghe cũng phải vùng căng bỏ chạy!

Bác đâm ra băn khoăn day dứt.

Những cuộc họp đêm ngày triền miên, những buổi đấu tố căng thẳng làm thần kinh bác rời rã…

Ruộng vườn lâu nay bỏ hoang không cày cấy, nhà hết gạo, chẳng còn gì để đổ vào mồm mấy hôm rồi.

Đã vậy, cô con gái của bác lại được Đội thương, Đội ưu tiên cho đi họp, tham gia đấu tranh suốt ngày đêm. Nhiều hôm bác thức suốt đêm không ngủ, chẳng hiểu nó đi với ai, nó đang làm gì… đến phát sốt lên. Bác cứ ngờ ngợ nó với ông Đội ở trong nhà, hai tên này lâu nay chắc hẳn có cái trò gì đó với nhau đây?

Và bác rình…

Một hôm, cơm tối xong, bác dặn con gái rằng bố đi sang Nga Thủy thăm ông cậu ốm, có thể đến khuya mới về. Ở nhà con cứ để cửa mở đừng đóng và cũng không phải chờ. Thế rồi quanh quẹo đâu đó một lúc ngoài đường, bác quay về nhà theo lối vườn sau, rón rén mở cửa bước vào, chui xuống gầm giường nằm im…

Thoạt tiên, hai chú cháu còn ngồi đối diện nhau hai bên bàn uống nước. Sau đó, chú chuyển chỗ sang ngồi bên với cháu, rồi… anh với em, em với anh cười đùa rúc rích, cù véo nhau. Anh kéo ống quần em lên, khen đùi em đẹp; em kéo ống quần anh lên, khen cẳng anh to. Đùi ẻm đùi em, đùi ảnh đùi anh… Đùi em non, đùi anh cứng.

Hai tên đứng dậy, dìu nhau tới bên giường… Vật nhau, cởi áo quần nhau, đè nhau ra… để chơi trò “bóc lột áp bức giai cấp”. Tên gọi trò vui này chính là từ mồm ông Đội bô bô phát ra.

Đúng vào lúc trò vui đã mở màn sắp đi vào chiều sâu… bác Lương mới lặng lẽ bò dưới gầm giường ra, tới ngồi lên bàn, e hèm một tiếng rồi thủng thẳng rít một hơi thuốc lào, tay vỗ vỗ miệng điếu, ngửa cổ nhả khói lên mái nhà…

Hai tên hoảng hốt, buông nhau ra, ngồi dậy.

Bác Lương giơ ngón tay trỏ chỉ vào mặt con gái:

- Từ nay… tối đến lo mà ở nhà. Ban ngày muốn đi đâu phải xin phép tao!

Rồi quay sang ông Đội:

- Nhất Đội nhì Trời, các ông muốn cho ai được sống, bắt người nào phải chết là quyền của các ông. Cả làng cả nước ai cũng biết điều đó. Tôi cũng biết. Có điều đồng chí Đội ạ, đồng chí bắt rễ xâu chuỗi nhà tôi như vậy là quá sâu, quá đủ rồi. Bây giờ thì tùy đồng chí. Nếu thích thì ở lại, không thích thì đi. Thế thôi!

Hôm sau ông Đội rời nhà bác Lương sang “ba cùng” ở một nhà khác.

Con gái bác rưng rức khóc trong buồng mấy hôm, rồi… đâu lại hoàn đó. Tối đến nó vẫn đi họp, tham gia đấu tố, khỏi cần xin phép bác. Từ chỗ xấu hổ, sượng sùng tránh mặt mỗi khi phải nhìn bố, dần dần trở nên chai sạn, trơ tráo, sưng sỉa. Nó tỉnh bơ khi bác gợi lại tình cảm cha con, nhắc tới mẹ sinh ra nó, khi nó mới chập chững đi… Nó ném vào mặt bác một câu đe doạ thách đố: “Con có thể bỏ bố, bỏ làng, bỏ xóm, chứ Đội và Đảng là con không bỏ. Coi chừng!”

Chỉ mấy hôm sau hàng xóm mách cho bác hay rằng Đội đã kết nạp con gái bác vào Đảng. Nó đã lên ngồi ghế chủ tịch đoàn trên “khán đài” ngoài đấu trường! Nó không là con bác nữa! Bây giờ nó là con của Đội, cháu của Trời!

Thế rồi, những tin đồn nhảm về bác Lương tên tay sai của bọn địa chủ phản động gian ác mỗi ngày một lan truyền. Thằng Lương, cái đuôi của thằng Vỹ ngày xưa có lần theo lệnh vợ chồng Cử Hoà, năm đói Ất Dậu 45 ấy, bỏ cái chất độc gì của Tây vào nồi ba mươi cháo rồi khiêng ra để trước sân bố thí cho dân làng ăn… Có người ăn xong dăm bữa, ít lâu tự nhiên ôm bụng kêu la rồi lăn ra… chết!

Lại có tin đồn tên Lương đã từng đi lính cho Pháp. Bác Lương thừa nhận điều này có thật, hồi còn đi ở cho nhà giàu ở Nho Quan, Phát Diệm, bọn Pháp đi càn, bác bị chúng tóm cổ vào lính. Nhưng chỉ một thời gian sau bác trốn được ra và quay trở về quê nhà Nga Sơn. Vì thế có người kể rõ ràng tận mắt thấy thằng Lương mặc áo trắng ngồi bờ đê thả diều. Cái diều màu trắng cứ vo vo ò ò tiếng gì chẳng hiểu mà chỉ tiếng đồng hồ sau là máy bay Pháp đến… bỏ bom!

Nghe những chuyện này bác Lương không cảm thấy sợ lắm nhưng lại buồn. Buồn cho cái tình làng nghĩa xóm không còn nữa; ngay đến con mình sinh ra, sợi dây cuối cùng nối buộc với đời người cũng bị người ta cắt đứt!
Ngay từ khi Đội mới về làng, tên tuổi bác đã được xếp vào hàng đầu trong danh sách dự bị loại B những bần cố nông cần được xâu chuỗi, bắt rễ; có thể được bồi dưỡng thành cốt cán chuẩn bị cho công cuộc đấu tố. Bác tin vào vị thế của mình, thành phần bần nông Đội đã xác nhận, đóng dấu son của Trời. Còn tin hơn nữa, là tấm lòng ngay thực nhân hậu của chính mình. Ấy là chưa nói tới con gái, gì gì đi nữa nó cũng là con, là đảng viên vừa mới được kết nạp còn tươi rói ánh hào quang!

Vậy mà con người chưa đọc thông viết thạo chữ quốc ngữ này lại cũng mắc chứng nan y của thời đại, như mọi bậc trí giả sáng giá cùng thời - ấy là bệnh mù quáng ngây thơ.

Cho tới khi Đội lôi cổ tên Lương ra đấu trường, bắt bác quỳ xuống cái hố cạn, để cho quần chúng, Quân Chủ lực Nông dân được đứng cao hơn kẻ thù mà đấu và tố… thì cái người bước lên, đứng ở thế trên đầu thù, giơ ngón tay trỏ đè dí xuống trán bác kia lại không phải ai khác mà chính là con gái bác.

Một cơn ác mộng! Trời đất lộn nhào! Cương thường đạo lý giữa thời buổi Cộng hoà Dân chủ hoá ra là thế này đây!

- Thằng Lương kia! - Con gái bác thét lên - Mi có biết tao là ai không?

- Dạ, tôi… biết - Bác ngẩng đầu nhìn nó.

- Láo nào! Cúi đầu xuống. Phải xưng là con. Và thưa bà!

- Dạ.

- Trả lời đi! Tao là ai?

- Dạ thưa… Bà là con gái … con!

- Không phải! Tao không phải là con của mi! Mẹ tao đẻ tao ra…

- Dạ đúng thế. Mẹ bà sinh bà ra được hai tuổi rồi mẹ bà chết đi, để bà lại cho tôi nuôi. Tôi ở vậy một mình để nuôi bà lớn đến bây giờ…

Cả đấu trường im lặng.

Con gái bác loay hoay một lúc để lấy lại khí thế, gia tăng thêm sức mạnh… đấu tranh.

- Lương! Mi có biết - Nó ngập ngừng - Mi đã hãm hiếp tao - rồi líu lưỡi, ngọng nghịu - Mi đã... ôm lấy tao, ngủ với tao bao nhiêu lần không?

Bác ngẩng đầu nhìn nó kinh ngạc hơn là căm giận, thủng thẳng nói:

- Dạ thưa bà… Từ lúc bà mới bỏ bú, mẹ bà chết rồi, chiều nào con cũng phải tắm rửa cho bà, xong rồi là… mớm cháo, đút cơm... Tối đến, bà mà lên giường ngủ đi cho thì còn đỡ; gặp khi bà ngứa ngáy, ốm đau, quấy khóc… là con phải gãi lưng, vỗ vỗ, rồi quạt mát, rồi ru ới ru ời, ru hời ru hỡi cho đến khuya để cho bà ngủ. Đúng là con đã ngủ với bà không biết bao nhiêu là đêm, bây giờ bắt con nhớ lại, khai ra… làm sao con nhớ nổi!

Nói xong, ông bưng mặt nghẹn ngào la to:

- Ối! Bác Hồ ơi! Ối mấy ông Đội ơi! Hãy giết con đi cho rồi, để con sống làm chi ở cái đời này nữa!

Cả đấu trường bốn bề im lặng. Có tiếng thở dài. Có ai sụt sịt khóc.

…Thế rồi Đội cũng phải tha cho tên Lương về nhà. Con gái bác một đêm lén lút trở về theo, bụng mang cái thai của ông Đội cho. Nó quỳ xuống trước mặt bác, van xin cha tha tội. Im lặng không trả lời, cũng chẳng nhìn mặt con, bác Lương thủng thẳng đi ra vườn sau. Đến lúc trở vào nhà không thấy con gái đâu, tự nhiên bác chột dạ.

Rồi cả một đêm trắng ngồi chờ con chẳng thấy con trở về. Bác đâm ra ân hận về sự ứng xử của mình. Nào bác có ghét bỏ gì con gái đâu, nó là con đẻ của bác kia mà! Bác giận thân thương người, bác đau xót cho cái thời…

Ba hôm sau, người làng đến báo tin cho biết con gái bác nhảy xuống sông tự tử, xác đã nổi… bà con họ vừa mới vớt lên.

Bác ngã vật xuống, mê man bất tỉnh. 




CHƯƠNG 24
SỐNG NHỜ TRONG CÁI LỀU VỊT NGOÀI ĐỒNG CỦA BÁC LƯƠNG, MẸ CON NHÀ HỌ MAI KIẾM ĂN SINH SỐNG NHƯ THẾ NÀO?

Ở nhà bác Lương mấy hôm, ba mẹ con được dẫn ra ngoài đồng tạm trú trong cái lều chăn vịt của bác.

Theo lời bác kể, từ sau khi vợ mất, buồn quá nhiều đêm bác ở luôn ngoài này. Dạo ấy, mỗi khi đi đâu về tới nhà, nhìn thấy cái gì cũng nghĩ tới vợ. Lòng nhớ thương đau đớn cuộn lên không sao chịu đựng nổi. Con gái bác cũng đã từng nằm trên cái võng cói mắc vào hai cây cột kia, rồi chập chững đi trên nền đất mấp mô này.

Năm tháng trôi qua… Biết bao ngày mặt trời dừng lại trên mái nhà, nhìn qua lỗ thủng, rọi xuống giường… Có lần con gái bác chỉ cái dấu tròn tròn sáng hỏi bố đó là cái chi, bác bảo đó là quả trứng bà Âu Cơ cho nhà ta. Biết mấy đêm trăng lên ngay đằng trước nhà, nhòm qua cửa sổ nhắc nhủ cầu mong hai con người cô quả tai qua nạn khỏi, bình an, phúc lành… Người nông dân nghèo khổ, hiền đức thầm ước được sống tới ngày con gái đi lấy chồng rồi thân xác có vùi trong cồn đất hoang, cỏ xanh mọc phủ lên mình… cũng thấy thoả lòng.

Vậy rồi mà Địa ngục ở ngay cái trần gian này chứ có phải đâu xa mà con người khéo lơ mơ ước đoán. Thần Chết bước ra từ miệng lưỡi con người. Máu gọi máu. Lễ Hội Máu của vua chúa bày ra nhiều màn lắm trò dễ say lòng bọn quỷ người u mê tăm tối.

Cái đêm hôm ấy đêm gì mà cô con gái đáng thương của bác Lương đã ghé về đây, gửi lại chiếc vòng bạc của mẹ, đặt sau bát hương trên bàn thờ… rồi mang cái thai của Đội cho, ra sông tự vẫn. Khúc sông ấy, sau này có lần hai chị em con đã lội qua, cũng cạn thôi có sâu lắm đâu… Kể cũng lạ.

Từ sáng sớm, hai chị em con bắt đầu ra ngoài cánh đồng mò cua bắt ốc.

Ở nhà, mẹ lấy cái màn cũ cắt thành 20 mảnh hình vuông; xin bác Lương một cây tre, nhờ bác chặt khúc, chẻ vót thành những cái nan. Mỗi mảnh vải màn, hai cái nan uốn cong bắt chéo, buộc vào bốn góc, thành cái vó nhỏ… bà con nông dân vẫn gọi là cái te.

Mẹ lấy cám gạo, trộn lẫn ít ngô xay, bỏ vào nồi đất rang lên vừa chín, có mùi thơm, hoà vào ít nước sền sệt như cháo đặc rồi bôi trẹt vào mặt vải màn những cái te.

Ba mẹ con đi quanh khắp các bờ ruộng, tìm những chỗ nào có vũng nước thả te xuống… Ngồi chờ một lúc đợi mồi tôm tép đến rồi cầm cái que tre như cần câu, thò vào, nhấc te lên.

Mỗi lần nhấc te lên, nước lỏng tỏng chảy rớt xuống, nhìn những con tép con tôm văng mình nhảy trên lưới vải màn cũng vui mắt!

Nắng cháy xém tóc, đốt xạm da, mặt mũi lấm lem bùn, ba mẹ con rộc rạc người, vừa đi vừa lội hết ruộng này sang ruộng khác, mỗi ngày cũng kiếm được chừng bát, hơn một bát tép. Hôm nào có mẹ đi kèm tụi con còn yên tâm, hôm nào mẹ ốm nằm nhà, chúng con cứ nơm nớp sợ người, sợ quỷ.

Ở cái lối rẽ từ con đường nhỏ băng qua đồng về nhà, thầy ơi, bọn trẻ con có hôm chúng đứng chờ sẵn. Chị Tâm đi trước, con đi sau. Chẳng còn cách gì để che giấu được cái giỏ cua ốc, tôm tép chúng con cầm về trên tay.

“Mả bố thằng Vỹ!” - Một đứa la lên.

“Mả bố thằng Vỹ!” - Hai ba đứa cùng hùa theo.

“Tiên sư cha thằng Vỹ! Chết không kịp ngáp, chắp tay lạy mà bầy choa không tha; chôn không hòm ván, mồm ăn đầy đất, mắt vùi đầy cát”…

Cả lũ nhao nhao. Có thằng rũ ra cười.

Tụi con đứng lại, cố ghìm nước mắt, người run lên…

Bất thình lình một thằng bước tới giật cái giỏ cua từ tay chị Tâm. Chị nghiến răng, lôi lại. Con cũng nhảy vào góp sức để giằng lại cho được cái giỏ. Nhưng cái thằng ấy nó khoẻ gấp mấy chị em con. Thế là, nó xách cái giỏ giốc ngược, đổ xuống bên đường. Ốc, trai, tôm, tép, cua… ngổn ngang vương vãi.

Bọn chúng xúm lại chọn những con nào to; vứt cái giỏ không xuống đường, mặc cho chị em con nhặt bốc lại những con còn rơi rớt chưa kịp chạy xuống ruộng… Chúng đốt rơm, thổi lửa nướng chín rồi chia nhau ăn.

Vừa ăn vừa cười khúc khích.

Lại một lần khác nữa.

Lần này hai chị em xuống chợ Bạch. Chiều hôm trước ba mẹ con trúng được một mẻ kha khá. Mẹ bảo các con có thể gắng đem xuống chợ bán kiếm ít tiền về mua gạo được không? Chúng con thưa có, rồi hăng hái… lên đường! Chị Tâm mang giành ốc, con mang rá tép.

Bước chân vừa ra tới đường, đi được một đoạn thì gặp thím Đông.

Chúng con sợ quá, đứng nép vào nhau ở bên đường.

Thím hỏi: Hai đứa con thằng Vỹ đi đâu?

Thím bước tới, tự tay giằng lấy cái giành, giật cái rá của chúng con, lật lá chuối đậy trên xem trong đó có những thứ gì. Nhìn thấy cua, ốc, tôm tép còn tươi sống, thím hỏi, tụi bay kiếm được những thứ này ở đâu?

Chị Tâm thưa, chúng con đi mò cua bắt ốc, kéo te ngoài đồng.

Thím trợn tròn mắt, quát to: Cái bộ chúng mày mà đi bắt ốc, kéo te hả? Có mà đi ăn cắp! Ăn cắp! Nòi giống thằng Vỹ mà cũng đòi mò cua, bắt tép! Láo! Láo!

Thím đặt cái giành, cái rá của tụi con xuống đường, rồi lùi lại lấy đà, dùng chân đá phốc cả hai cái xuống dưới ruộng…

Thím vừa đi vừa cười sằng sặc như người điên. Hai chị em ngồi lại bên đường nhìn cua ốc, tôm tép vung vãi dưới ruộng, ôm mặt khóc.

Mò cua, bắt ốc, kéo te… hoá ra có lúc cũng rắc rối, nguy hiểm. Một lần con hĩm Uyên của thầy bị rắn cắn, cứ tưởng chết, may mà qua khỏi. Hình như là rắn nước, rắn ráo, có phải không thầy? Còn cái lần chị Tâm bị bò cạp cắn mới thật là khốn khổ. Rồi lại bị rết cắn nữa… Chị ấy rên la quằn quại cả đêm, may sao gần đến sáng thì cơn đau dịu dần. Mẹ bảo, hương hồn ông bà nội ngoại, thầy phù hộ cho cháu con đấy!

Tụi con chuyển sang nghề đi mót.

Mẹ dặn, khi người làng họ đang gặt thì chớ có ló mặt ra, đi sau họ. Trông thấy con cái địa chủ, họ lại chửi mắng, đuổi đánh cho. Thửa ruộng nào họ đã gặt xong từ mấy hôm trước rồi, nhìn trước trông sau chẳng có bóng ai thì các con hãy xuống mà mót. Tuy nhiên, những thửa ruộng đã gặt qua một hai ngày, chim sẻ đã kéo đàn tới mổ, nhặt tha đi; may ra còn sót lại vài bông lép hạt, còi cọc…

Chúng con đem ra nắng phơi khô rồi mượn bác Lương cái vỏ chai, đổ thóc ra mẹt, đè lăn cho tróc vỏ…

Cái ngày hôm ấy… Con lên cơn sốt nóng, đắp chiếu nằm còng queo. Chị Tâm vẫn đi mót.

Chẳng mấy khi nhân lúc con ốm, hôm nay Trời cho một bữa cơm…! Mẹ lấy gạo nấu một niêu, ủ vào tro bếp, để trưa đến cả nhà… liên hoan! Mẹ bảo, các con gắng chờ một tí, mẹ qua chợ mua ít rau muống về nhà để trồng. Trước khi đi lấy tay sờ trán con thấy nóng như hòn than, mẹ ngập ngừng định ở nhà không đi nữa. Nhưng con bảo, mẹ đừng lo, con sắp khỏi rồi, mẹ cứ đi đi… Thế rồi mẹ đi, còn con thì mệt quá, ngủ thiếp…

Trưa. Chị Tâm về trước, mệt luỗi… cũng nằm vật ra.

Rồi đến lượt mẹ về. Mẹ hỏi, các con đã ăn cơm chưa, sao không dọn ra mà ăn, còn chờ mẹ làm chi?

Bà bước vào bên bếp một lúc rồi quay ra hỏi, các con đã ăn cơm rồi à?

Chưa, còn chờ mẹ về cơ mà! Đã ăn đâu! Cả hai đứa ngồi ậy cùng trả lời. Mẹ tròn xoe mắt, môi run run. Thế thì nồi cơm… nó ở đâu rồi? Ơ hay! Như bị điện giật chúng con choàng dậy, vội lao vào bếp. Tưởng mình loá mắt, bà dụi dụi con ngươi… Ớ! Nồi cơm? Nó… Nó… Ai tha nó đi mô rồi? Ô hay! Đứa nào thế không biết?

Ngồi phệt xuống đất, mặt mày xệch xạc, mẹ vừa mếu vừa khóc…

Trưa hôm ấy chúng con phải vơ rau má, rau sam quanh nhà, cho vào nồi trộn ít cám lợn, nấu láo nháo vài bát ăn qua bữa! Vậy rồi mà, chỉ mấy hôm sau mẹ lại tươi cười vui vẻ. Mẹ bảo, các con ạ, người muốn cho ta chết đi thì Trời Phật lại cho ta sống lại. Mẹ con nhà họ Mai chẳng chết đâu, rồi mà xem… Người không cho ta ăn cơm thì ta ăn rau ăn cỏ. Cùng lắm thì ta sống như con trâu, con bò. Con vật có gì là xấu đâu. Chỉ có con người là xấu thôi. Con người gian manh, tàn ác, hiểm độc sao cứ đòi so sánh với con vật! Ừ, nếu cần, lúc cùng, không còn cua ốc tôm tép nữa thì ta ăn giun dế, ăn cóc nhái, ăn cào cào châu chấu!… Ha ha! 




CHƯƠNG 27
VỀ THĂM LẠI MÁI NHÀ XƯA

Có một lần, thầy ơi… Lệ Uyên nức nở kêu lên, hai chị em con về làng…

Chẳng hiểu sao chúng con lại thờ thẫn đi ngay vào cái lối đàng sau nhà mình. Trời nắng như đổ lửa mà không đội nón, giơ đầu trần, hai đứa mới kéo nhau vào đứng núp dưới bụi tre. Từ chỗ này nhìn vào thấy vườn nhà mình đã phân chia làm ba, cuốc xới nham nhở, cây cối chặt trụi… Ngôi nhà trên đã ngăn đôi bằng hàng cọc gỗ, gác nối mấy cây luồng chạy từ cửa chính ra tới ngoài sân… để chia ranh giới. Hai mái ngói trước sau chẳng hiểu sao bị bóc giở gần hết, lợp tranh rạ vào. Cái nhà bếp còn rách nát thảm hại hơn, mái thủng trống lòi cả rui mè ra… Thầy có biết ai ở nhà bếp này không? Chị Tít. Chị Tít không có chồng, chẳng có con, một thân một mình sống trong đó.

Thầy còn nhớ chị Tít không? Chị thấp người, chột mắt, chân vòng kiềng, gù lưng; khi bước đi hai tay vắt vẻo đu đưa như bị gẫy gập… Mẹ bảo, một lần trông thấy chị ấy ngồi trên ghế chủ tịch đoàn ở ngoài đấu trường. Mẹ không ghét bỏ gì chị Tít; bà cho rằng vì bị mấy ông Đội ép buộc mà chị ấy phải tố bậy nhà mình thôi. Sau này, có lần gặp mẹ ngoài chợ, chị Tít nhắc lại cái chuyện hồi đi ở cho ông bà, phải ăn chung với hai con chó để đến nỗi chó nó đớp vào mặt là chuyện không có thật. Họ dựng chuyện lên rồi ép buộc chị phải nói thế; không nói thì lại bị quy kết làm cái đuôi cho địa chủ, làm tay sai của bọn phản động; có nói vậy thì họ mới kết nạp cho vào Đảng…

Nhắc lại chuyện ngày xưa, chị bảo nếu không được bà nội cho ăn, cho ngủ dưới nhà bếp thì… Tít đã thành ma từ lâu rồi.

Đứng trước nhà bếp chị Tít giơ tay vẫy vẫy. Chúng con thấy làm lạ không hiểu chị ấy muốn gì?

Hay là ta vào đi? Con nói với chị Tâm. Chị Tâm trợn mắt lên, bảo mày muốn chết hả? Liệu hồn! Mày không sợ người ta vu oan giá họa cho à? Con bảo, chị Tâm ơi, em nhớ nhà ta quá, để cho em vào xem lại cái giếng và cây khế ở ngay sau nhà bếp kìa! Chị Tâm gắt lên, nhà ta làm gì còn nữa, mày điên à, nhà của mấy người bần cố nông… Mặc kệ! Con chứ chui qua bụi gai, rách toạc cả mặt, chân đạp lên mấy cây mây… thế là bước vô được trong vườn. Con vào nhà bếp. Chị Tít vẫn đứng trước cửa. Con nhìn chị. Chị cười. Chị hỏi con có ăn khoai không? Con lắc đầu. Chị bước lại sát gần con. Con sợ quá, lùi lại. Chị ghé mồm sát vào tai con, thì thào: “Có lặt được mấy bò gạo không?” Con ngơ ngác nhìn chị : “Gạo nào?” Chị trợn tròn con mắt độc nhãn lên: “Gạo của tôi, một bò, mấy bà kia, hai bò… lại còn một mo cau khoai nữa!” Con lắc đầu bảo, không biết, không biết…

Khi về lại túp lều ngoài đồng con kể lại chuyện cho mẹ nghe, mẹ ngẩn người ra, rồi sụt sịt khóc.

Mấy hôm mới ra ở lều ngoài đồng đúng là chẳng còn hạt gạo nào, mẹ nói, đêm nằm quằn quại không sao ngủ được. Gần sáng, vừa mới chợp mắt, nghe có cái gì rơi đánh bịch, chắc là ai vừa ném đất quăng đá vào sau lều? Sợ quá, mẹ nằm im thin thít. Sáng dậy, bò lết ra coi thử, thì thấy sau tấm liếp trên đống cỏ có một gói bọc giẻ rách, buộc chằng thêm mấy sợi lạt… Mẹ lấy làm lạ, thử mở ra xem, hoá ra là gạo. Trời đất ơi! Của ai vậy? Trời Phật xót thương cho mẹ con sống, sai ai đem tới đây thế này? Mẹ cố đoán ra xem ai là người to gan lớn mật dám làm cái việc động trời ấy? Ai? Ai? Hoá ra là con Tít! Chắc hương hồn bà nội hiện lên ám ảnh, lương tâm cắn rứt không chịu nổi, nó mới đổi mặt lại làm người!

Từ chị Tít, mẹ đoán lần đoán mò sang mấy người nữa: ông Bơ, bà Tạu, chị Te… những người có dạo ở nhà ta. Phải rồi, chỉ mấy người đó thôi. Rồi mẹ ôm mặt khóc.

Trở lại chuyện chị Tít…

Vào nhà chị, chỉ thấy cái chõng tre xiêu vẹo, mấy cái nồi, vại… và mớ quần áo rách treo trên vách vừa chua vừa hôi. Chị bảo, lúc chia quả thực, vợ chồng Đông giành hết mọi thứ chỉ để cho chị một cái niêu đồng nhỏ. Chị hiện đang đói, còn đói hơn hồi ở với ông bà, lại còn bị đau cái chi ở trong bụng, không có thuốc uống, mỗi ngày bụng cứ thấy to dần lên. Có người độc miệng phao lên rằng ông Đội làm chị có chửa… nhưng đâu phải, bụng chị đã to đến cả nửa năm nay rồi, chắc là sắp chết thôi… Chị khóc!

Bước ra vườn, một mình con đứng dưới cây khế nhìn lên. Thầy ơi! Con nhớ bà nội quá! Mới ngày nào năm trước đây, bà cháu còn cầm sào chọc hái mấy quả khế trĩu trịt trên cành kia! Bà bảo giống khế ngọt này xin từ quê mẹ con ở làng Bình Lâm bên Hà Trung. Bà còn kể chuyện con Chim Thần ngày xưa bay đến nói với hai anh em nhà nọ. Nó kêu: Ăn quả khế, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng… Nhà nọ ngày xưa có hai anh em, ông anh thì tham và ác, người em thì hiền lành, biết nhường nhịn… Kẻ tham lam độc ác thì cuối cùng phải chết chìm ngoài biển khơi. Còn bây giờ thì sao? Lời bà kể có đúng nữa không, bà ơi! Người hiền lành nhân đức thì bị vu oan, giết hại; kẻ gian manh tàn ác thì lại được Đội ban thưởng, cho không mọi thứ. Có phải vậy không?

Bước tới bên cái giếng con cúi đầu xuống nhìn. Mặt nước đục hôi, đầy những lá khô, vỏ mía và cung quăng. Mới ngày nào đây chị Tâm thả cái gàu làm bằng tôn xuống (còn một gàu nữa làm bằng mo cau, con thích dùng gàu này hơn!) kéo dây thừng múc nước lên đổ vào chậu thau đồng có pha bồ kết… Mẹ cấm con không được thả gàu xuống giếng múc nước, con còn nhỏ mà, sợ có khi lộn cổ xuống đó… Mẹ xối nước lên người, kì ghét mạnh tay làm da thịt con ửng đỏ, đến nỗi con phải nhăn nhó; rồi mẹ gội đầu, chải tóc cho con…

“Đứa nào đứng ngoài giếng đấy?”

Tiếng quát to sau lưng làm con giật nẩy mình. Quay lại nhìn con thấy vợ chồng chú Đông.

“Con gái thằng Vỹ hả? Mày đến đây làm gì?”

Chú Đông bặm môi, hằm hằm nhìn con, tay cầm thuổng và bó rau lang. Con nhìn chú chẳng nói gì. Thím bước tới, xỉa thẳng ngón tay cái vào mặt, nói như hét; nước bọt bắn cả vào mặt mũi con…

“Mày vừa bỏ cái gì xuống giếng phải không?”

“Không!” Con hoảng sợ, cuống lên. “Cháu đứng đây… chơi mà!”

“Cháu ai? Mày là cháu ai hử? Rõ khéo… Chơi với ai, chơi cái gì? Mày định bỏ thuốc độc xuống giếng để giết hại mấy gia đình bầy choa ở đây phải không? Hử? Con thằng Vỹ địa chủ phản động giết hại nhân dân!”

Toàn thân con run lên. Không thể nói được gì, con chỉ biết nhìn thẳng vào mặt chú Đông. Con muốn nhảy ngay xuống giếng để được chết theo thầy, thầy ơi!

Vừa lúc ấy, chị Tít đứng ngay đằng sau con.

“Không! Không!” Chị kêu lên, lưỡi ngọng líu, mắt đảo ngược.

“Không ! Không!” Vừa nói vừa lắc đầu, chị quờ tay ôm lấy vai con “Tôi gặp nó ngoài kia, tôi bảo nó vào nhà chơi với tôi…” Chị nắm tay con lôi kéo vào nhà. Chị ấn con ngồi xuống chõng tre, lấy quạt mo quạt quạt cho con…

… Trở ra ngoài đường gặp lại chị Tâm, chị ấy cốc lên đầu con một cái: “Đồ ngu! Tao đã bảo rồi mà không chịu nghe. Thấy chưa?”

CHƯƠNG 28
BÉ LỆ UYÊN ĐÒI BỐ MAI DUY VỸ
KỂ CHUYỆN MÌNH CHO CÁC CON NGHE

Lệ Uyên gục đầu xuống, hai tay bưng mặt nghẹn ngào. Chị khóc như bao đứa trẻ trên đời này không hiểu vì đâu, chẳng rõ tại sao mình sinh ra trong một gia đình tử tế lương thiện, có đến nỗi nào mà tự nhiên mới lọt lòng ra đã lãnh chịu án chung thân thành phần, khổ sai đọa đầy ngay giữa cái Địa ngục Trần gian hỗn độn những giai cấp!…

Ông Vỹ vuốt ve đầu tóc con, lấy hai ngón tay nâng cằm Lệ Uyên lên nói:

- Nín đi con, con gái thương của thầy mẹ. Lỗi tại thầy mẹ cả. Thầy mẹ sinh các con ra để các con chịu bao nhiêu là đau khổ. Vì thầy mẹ mà anh trai con, không rõ chết đói hay chết đuối. Ai đã đánh nó, thắt cổ nó, dìm nó xuống sông… đến nỗi, sau này chết rồi, xác vùi lấp ở đâu cũng chẳng ai biết…? Thầy xin lỗi các con. Hãy tha tội cho thầy!

- Thầy chẳng có tội gì hết! - Lệ Uyên hét lên - Trời có tội! Chính Trời đã gây ra bao tai họa đau thương cho gia đình ta! Trời! Trời!

- Đừng! Đừng! - Ông Vỹ hốt hoảng xua tay - Đừng làm kinh động lên cả Bên Này Bên Ấy. Cả đất nước, cả nhân loại… người người nhà nhà đau khổ, đâu chỉ riêng gia đình họ Mai chúng ta. Bể khổ Trần gian này thầy vẫn đủ can đảm để nhìn vào, chìm xuống. Nhưng đôi mắt nhoà lệ của con, ôi con gái thương của thầy mẹ, dù chỉ một giọt trào rơi thôi, cái lòng mẹ cha đây thật không sao chịu đựng nổi. Lệ Uyên ơi, được gặp nhau như thế này con không thấy là hạnh phúc sung sướng hay sao? Thôi! Hãy quên đi! Quên đi! Quên tất cả đi!

- Không! Không! - Lệ Uyên vùng vằng, lúc lắc đầu như sắp đập vào bức tường nào trước mặt - Thầy chưa kể hết mà, thầy phải kể tiếp! Kể cho con nghe, em Thùy Dương nghe, cho tất cả loài người ở Bên Ấy Bên Này, Bên Này Bên Ấy nghe.

Con chưa được biết, được thấy khoảng thời gian còn lại, những giây phút cuối cùng khi thầy từ Bên Ấy đi sang Bên Này!… Mẹ và các con sau này cũng có nghe người ta, bà con ở Nga Sơn, cả tỉnh Thanh Hoá và cả Miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa kể chuyện ông Mai Duy Vỹ bị chôn sống vào cái năm Cách mạng long trời lở đất ấy!

Dẫu rằng chuyện là chuyện có thật, đâu phải bịa đặt dối trá như bao chuyện trên đời này, nhưng thầy ơi, suốt 45 năm nay, con chỉ mong ước trông chờ đến ngày hôm nay để được nghe chính thầy kể. Chỉ có thầy kể con mới thật tin.

Thầy phải kể để cho con người ở Bên Ấy Bên Này, Bên Này Bên Ấy nhận mặt chỉ tên ra được Tội Ác. Nếu như không ngăn chặn tiêu diệt được thì cũng để giúp cho con người biết đường mà tránh mặt Tội Ác! Con van thầy! Con xin thầy kể đi, kể đi!...

Ông Vỹ dừng lại nhìn con. Cái nhìn phân vân do dự cách đây đã 45 năm, khi đứa con gái út hờn dỗi đòi bố đưa sang Bình Lâm để chơi với bà ngoại. “Con nhớ bà, con thương bà!” Bố thì bận đi khám bệnh chích thuốc cho ông Toành, người quen, cũng là y tá… Ông Toành đau nặng. Con trai vừa lên mời chú Vỹ xuống cấp cứu… Thế mà con hĩm Uyên này cứ lẳng nhẳng bên bố, nó khóc, nó dậm chân, nó đòi thầy phải đi sang bà ngay… Bực quá, ông khẽ ẩy nó ra. Chỉ một cái đẩy nhẹ thế mà con bé ngã ngửa, đầu đập xuống nền nhà, may mà không can gì.

Đạp xe trên đường, nghĩ tới con ông ân hận đến nôn nao người, chỉ muốn đến nhà Toành chích thuốc cho mau xong mà về.

Sau này, khi đã bị Đội Cải cách nhốt cùm ở điếm canh, cái người được Mai Duy Vỹ cứu chữa cho hôm đó, y tá Toành đã tích cực góp phần không nhỏ trong việc dựng chuyện, vu khống thằng Vỹ phản động gian ác đã tiêm thuốc độc vào mạch máu bà con nông dân, kèm theo những con số người bị giết hại cứ y như thật!

Ôi! Hoá ra không có thứ độc dược nào, dù nọc rắn hay thạch tín ở trên đời này độc bằng cái miệng lưỡi của con người! Y sĩ Vỹ biết y tá Toành bấy lâu vẫn ngầm ganh ghét mình nhưng ông vẫn nhẹ nhàng bỏ qua nhiều chuyện… Cái Tâm trong lành của ông lúc nào cũng vậy, không muốn vấy nhiễm dù chỉ là một gợn hằn thù.

Đêm khuya trong điếm canh khi miệng cùm ngoạm cắn ngang cổ chân làm da thịt rơm rớm máu, ông Vỹ ngước nhìn màn đêm… Kìa, đôi mắt nâu đen đẫm nước, cặp môi hờn dỗi của bé Uyên hiện ra. Con ơi, ông thầm kêu, có lẽ ông nội xúi con chăng; ngày hôm ấy thầy không đưa con về thăm bà ngoại ở Bình Lâm là dở quá! Thầy có lỗi lớn. Chỉ hơn một tháng sau là thầy bị bắt giam. Vĩnh viễn thầy không còn được thấy lại bà ngoại. Là con rể, thầy mang tội bất hiếu. Hai lần bất hiếu!

Ông Vỹ thở hắt ra, rùng mình.

- Chuyện dài lắm con ơi! Kể làm sao cho hết được?

Vệt máu từ mé đầu bên phải lại ứa ra chảy xuống thái dương; vệt máu từ giữa đỉnh đầu chảy qua trán, bò dọc theo sống mũi, đến giữa nhân trung… Hai vệt gặp nhau đọng ở dưới cằm. Cái vết nứt ở giữa đầu toác ra, sủi lên, ứa trào những mảng óc lợn gợn máu. Mai An Tiêm lần đầu tiên bổ đôi quả dưa hấu dưới chân núi Nga An cho vợ con ăn, nhìn những giọt nước hồng, lịm ngọt từ quả quí trời ban, làm dịu dần cơn đói khát của những đứa con lưu đày thuở Vua Hùng dựng nước, chắc không thể nào ngờ rằng, mấy ngàn năm xa lắc sau này, những giọt đỏ từ đầu một đứa con cháu mình bị bổ toác đôi chảy ra còn nhiều hơn, thấm đậm hơn mà vẫn không đã thèm được cơn khát của bọn quỷ Đỏ trên bàn tiệc máu!

- Ừ thì thầy kể đây - ông Vỹ tiếp - kể được chừng nào hay chừng ấy, kể tới đâu hay tới đó… Nhưng các con đừng nhìn thầy bằng ánh mắt như thế! Nào, hãy bình tĩnh lại…

Dòng Thời gian tự nhiên đứng lại. Rồi chuyển dịch ngược chiều.

Không chỉ mấy cây cột nhà mà bàn ghế trong nhà, mọi vật cùng chuyển động, chầm chậm xoay ngược làm hai chị em cũng thấy mình đang biến dịch, trôi về một quá khứ nào.

Một con bé 7 tuổi, áo nâu bạc phếch, quần đen vá đít đang đứng trước cổng nhà gọi thầy ơi, mẹ ơi, mồm méo xệch.

Con bé kia thì bò bên ngạch cửa, mặt mũi lấm lem đất cát…

Ông Vỹ lại dần dần biến thành hòn lửa đỏ, chầm chậm xoay 36 vòng như cây hương vòng cháy rồi lặn. Chỉ còn tiếng nói của ông trầm ấm nghe như hơi gió thở từ đồng cói hoà với tiếng sóng biển chiều đông.

- Nào, các con nghe thầy kể…





CHƯƠNG 29
NHỮNG ĐÊM TRẮNG

26 tháng Chạp năm Ất Mùi 1955. Ôi, cái ngày ấy nó rét gì mà rét dữ!

Hai cổ chân thầy bị trầy loét, bưng mủ. Chỉ cần khẽ cựa thôi cũng đã chạm vào miệng cùm, cứ như cưa như cắt không tài nào chịu nổi. Mấy đêm liền thức trắng.

Vừa chợp mắt, xỉu đi được một lúc lại chợt mở ra. Ồ lạ chưa, có cái gì nhám ráp phủ lên, cọ vào người mình? Thầy đưa tay sờ soạng… Rơm rạ đâu ra thế này? Ai mang vào đây? Thảo nào mình chợp mắt được một lúc. Thầy cứ nằm yên để cho những cọng rơm phủ lên trán, mũi và hít thở cái hương thơm thôn dã.

Hồi nhỏ, có lần thầy với anh Nuôi, hai tên ngồi canh bên nồi bánh chưng đêm 27 Tết rồi lăn quay ra ngủ quên lúc nào không biết. Nằm trong rơm ấm lắm. Một đêm vui, ôm lấy anh Nuôi nghe kể chuyện làng xóm. Lại cũng có lần thầy với chú Đông, hai anh em quần nhau trong đống rơm gần chuồng trâu. Chú ấy đã hay dỗi lại còn bẳn tính; hơi đụng một tí là nhè, lại đi mách bà. Lạ thật! Hồi ấy, thầy không hay biết gì hoặc giả không quan tâm gì chú em mình là con nuôi, con rơi ông bà nhặt được. Mãi tới sau này, khi vào học trường Cô-le-giơ trên tỉnh, khai giấy tờ, mới có người nói cho thầy biết. Biết là biết vậy thôi, chứ cái tình anh em lúc nào cũng ruột thịt.

Có tiếng người tranh cãi nhau trước sân, ngoài phòng giam, chen lẫn tiếng gió hú lùa qua lỗ thông hơi.

Bây giờ chắc độ khoảng 1 giờ sáng. Trời rét cắt thịt xé da thế mà sao ai đó vẫn còn thức để làm gì không biết.

Thầy dỏng tai cố nghe câu được câu chăng.

Thật không ngờ, ngoài kia hai anh dân quân vẫn canh gác ngày đêm, còn có đủ mặt cả năm người: chú Đông, Hĩm Xoa, Cò Toe, y tá Toành và ông Đội.

Qua câu chuyện của họ thầy mới hiểu ra: đã hai hôm nay nhà họ Mai chẳng còn cái gì để đổ vào miệng; sau khi bà chết rồi, mẹ cũng lăn ra ốm và không ai đưa cơm đến cho thầy.

…Gọi là cơm cho nó ra vẻ chuyện ăn uống của con người thôi, chứ cái đọi cháo mẹ và chị con đưa tới cho thầy hai hôm trước chỉ có mỗi nhúm gạo nấu với lá khoai và đụt khoai.

Mẹ bảo, mẹ phải thức dậy lúc nửa đêm, lén bò ra luống khoai nhà mình sát bụi tre, dùng con dao cùn đào bới… Khoai đã thành củ đâu, chỉ mới nhú ra đụt, giải khoai. Đang đào đang moi thì con chó nhà Đông nó mới chạy ra, may mà nó không sủa, lại còn vẫy đuôi ngửi hít bên chân nữa. Hú vía ba hồn chín vía! Nó mà sủa thì vợ chồng Đông thức dậy, Quân Chủ lực nông dân cứ là xông ra đạp đầu mình xuống đất. Khoai là khoai mình trồng, ấy thế mà lại phải lén lút đi ăn trộm về. Có khổ nhục không, hở Trời!

Vậy là hai hôm nay không ai đưa cơm cho thầy!

Thế thì, cục cơm độn khoai và mấy củ sắn thầy nhận được từ tay anh Tình, dân quân canh gác ở đây là của ai? Của ai nhỉ?

Ai mà to gan lớn mật dám đưa vào đây? Anh Tình này chăng?

Thầy nghĩ. Cứ nhìn vẻ mặt kín đáo lạnh lùng của anh bần nông này thì… thật khó đoán.

Thầy nhớ lại tháng 3 năm Ất Dậu 45, khi ông nội con sai người nhà khuân cái nồi ba mươi cháo ra đầu ngõ để cứu đói cho làng xã thì ông bố đẻ ra Tình là người đến trước tiên. Lúc đưa bát cháo để anh Nuôi múc cho, ông này cúi gập đầu xuống nói: Kính lạy ông bà, một miếng khi đói bằng một gói khi no, qua cơn đói kém lần này, chẳng biết con có còn không hay là chết; dù có về Âm phủ con cũng đội mồ lên ghi nhớ ơn cưu mang của ông bà!...

Hồi ấy, cứ mỗi tuần ông bà nội con nấu hai nồi cháo như vậy.

Mẹ của Tình cũng có lần lên nhà ta xin thuốc, chích thuốc. Những người này có tiền đâu mà trả, mà thầy cũng chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện lấy tiền của họ.

Vậy thì, ai là người hai hôm nay đưa cục cơm, củ sắn cho mình?

Cứ nghĩ tới cái nhìn rụt rè sợ sệt, đảo bốn phía quanh buồng giam, bàn tay lóng ngóng lấy gói bọc lá chuối khô lôi từ trong túi áo lưng quần ra đặt vội trước mặt thầy… “Ông ăn đi cho đỡ đói”… “Ai cho tôi thế này?” Thầy ngạc nhiên hỏi. “Không biết! Không biết!”. Lắc đầu, đáp khẽ, vội vã bước ra ngoài… anh ta còn ngoái lại nói: “Tóc ông bạc trắng hết cả rồi!”

Bây giờ thì Tình đang phân bua với những người kia về chuyện mình đã quẳng ít rơm rạ vào phòng giam để thầy lấy cái phủ đắp lên.

“Mày thương thằng Vỹ hả?” - chú Đông nói, nghe như quát nạt.

“Ái chà! Anh lày nại muốn nàm tay sai, niếm gót cho thằng địa chủ bóc nột, áp bức nhân dân, phản động bán lước đây”.

Y tá Toành hay lè nhè, mồm nồng nặc rượu, vừa tiêm thuốc cho bệnh nhân vừa thô tục cà chớn… không thể lẫn đi đâu được.

“Rét! Rét cái gì! Chỉ mình thằng Vỹ biết rét thôi hử, thế còn trẻ con người già, nông dân cả cái Nga Bạch, Nga Sơn này người ta không ai rét hay sao? Cho nó chết!” - Hĩm Xoa nói.

“Cho nó chết!” - Cò Toe đế thêm, lặp lại.

“Ló bóc nột, ló hãm hiếp dân nành, ló nhai xương hút máu bà con lông dân bao lăm lay, trong người ló còn ói mỡ nà mỡ, anh no cho ló rét ló nạnh nà nghĩa ní ra nàm sao?”

“Nó chưa chết ngay đâu!” - Ai đó nữa, vừa nói vừa ngáp.

“Còn nâu ló mới chết!”

Chờ cho mọi người nói xong, ông Đội người Nghệ An vừa rít một hơi điếu cày dài, sặc sụa ho, lấy tay vỗ vỗ vào miệng ống điếu nói:

“Tôi đã trao đổi mấy lần rồi và các đồng chí cũng đã nhất trí thông qua trong cuộc họp hôm trước là, ta phải nhét một cái que sắt ngang mồm thằng Vỹ, lấy dây buộc ra phía sau gáy, ngăn sao cho hai hàm răng khỏi chạm vào nhau, để nó khỏi cắn lưỡi tự tử. Kinh nghiệm xương máu đấy, các đồng chí ạ. Ở trong quê tôi đã xẩy ra mấy vụ tự tử vì thiếu cái que sắt gang mồm mấy thằng địa chủ… Tại sao đến bây giờ các đồng chí vẫn chưa… thi hành?”

Thầy giật nẩy mình. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ tới bây giờ, đã có khi nào nghe cái chuyện quái ác, lạ lùng như vậy? Ừ thì mình là con ngựa, con trâu để con người họ làm cái trò đó cho đành một thể; đằng này mình là con người! Họ chẳng bàn kín với nhau ở đâu, sao lại kéo nhau tới đây cố ý rót vào tai, đổ vào óc mình những lời ấy, ra cái điều để cho mình biết rằng mình chẳng còn được là cái con vật nữa hay sao? Còn họ là… là Trời, hơn Trời nữa, Trời cũng phải đội họ lên đầu. Nhất Đội nhì Trời mà!

Thầy ứa nước mắt.

Nghĩ tới cái đêm tháng trước đây họ dùng dây thừng buộc hai ngón chân cái thầy rút ngược lên xà nhà, để đầu và hai tay rơi thõng xuống, rồi… cứ gậy tre, gậy lim, hai người đứng hai bên phang đập vào ống chân, sau lưng, trước bụng… vừa hét vừa la bắt thầy phải nhận tội là đã cưa chặt hết chân tay của 51 anh Vệ quốc đoàn, đã tiêm và cho uống thuốc độc giết chết gần cả trăm bà con nông dân, trong đó có bốn phụ nữ mang thai, vị chi là 8 mạng một lúc; không phải, những 9 kia, vì có một bà mang thai đôi, sinh hai đứa…

Thầy kêu lên trong cơn đau: Thưa các ông bà Đội, các ông bà nông dân… Vâng, tôi xin nhận tội. Tôi đã cưa, đã chặt, đã tiêm thuốc độc, đã giết chết… nhưng không phải chỉ có thế thôi đâu, nhiều hơn, nhiều hơn nữa… Một ngàn chín trăm năm mươi lăm người kia! Nghĩ tới năm 1955 tự nhiên thầy buột miệng nói vậy.

Và thầy hét to: Đúng tôi đã giết người. Giết bằng dao! Giết bằng xê ranh! Tôi đã cầm xê ranh đâm cả đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ, đâm cả Chủ tịch tỉnh, đâm cả Trưởng ty Công an! Rồi thầy cười sằng sặc. Hình như trong bọn họ có người không nhịn được cũng đã cười theo.

Ngay lập tức, Cò Toe cầm cây gậy lim vuông cạnh, gõ một cái thật mạnh vào đầu gối chân phải thầy. Rồi tiếc rẻ, gõ thêm một cái nữa còn mạnh hơn, vào đầu gối bên kia.

Họ cởi tháo dây thừng, định để thầy ngối xuống đất nhưng thầy đã ngã vật ra… Máu từ trong lỗ mũi, ộc tuôn xuống nền nhà. Chờ cho thầy mở mắt, họ lại tiếp tục tra hỏi thêm về hai tội nữa.

Tội một: Cắt dây điện!

Thầy trả lời họ: Khắp cả Nga Sơn và Thanh Hoá, mọi nhà dân đều thắp đèn bằng dầu trảu, dầu lạc và rất ít dầu hoả; tìm đâu ra dây điện đèn ngoài đường? Nếu còn sợi dây điện nào từ thời Pháp thuộc để lại thì cũng chỉ để giăng phơi quần áo. Tôi cắt dây điện để làm gì? Cắt ở đâu? Ai thấy tôi cắt?

Họ bảo: Cái năm mày làm y sĩ cưa chân chặt tay các anh Vệ quốc đoàn, mày đã dùng liềm, trèo lên cây quạc cho đứt dây điện để đơn vị bộ đội không bắt liên lạc được với Bộ chỉ huy. Rồi máy bay Pháp tới, mày còn giả vờ đi ỉa; chui vào ngồi trong bụi cây, bấm đèn bin lên trời làm hiệu cho Pháp nó bỏ bom! Còn chối nữa không? Ai thấy thì làm sao mày biết được, mà biết để làm cái chi! Có người thấy. Thấy rõ ràng. Quần chúng,

Quân Chủ lực trăm tai, trăm mắt…

Còn tội thứ hai nữa, tội này rất nặng, rất to!

Mày đã từng bắt liên lạc với các cha cố ở Bùi Chu, Phát Diệm, từ đó mày cấu kết với Pháp. Mày quen thân với thằng Lê Hữu Từ, trùm sỏ Công giáo… Còn chối nữa không?

Thầy trả lời họ: Tôi là đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Tôi chỉ thờ các ông Mác, Ăngghen, Lênin, Stalin và Bác Hồ… Ngoài họ ra tôi thờ ông bà, tổ tiên. Tôi không theo tôn giáo nào. Những người Công giáo yêu nước như bác sĩ Vũ Đình Tụng, có con trai hy sinh ngay những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, tôi cũng kính trọng họ…

Họ cắt ngang lời thầy: Vỹ! Mày nói bậy! Tôn giáo tức là quân phản động, bè lũ tay sai của đế quốc phong kiến, chống phá Cách mạng… Chỉ có người Cộng sản, nhân dân ta mới yêu nước, ngoài ra chẳng có ai yêu nước hết! Hãy nhận tội đi! Trong nhà mày có đủ sách Tây sách Tàu. Rất nhiều sách chữ Tây. Có một quyển rất dày, to bằng cái gối, trong đó chụp đủ hình bọn vua quan phong kiến, thực dân… Có cả ảnh Giêsu nữa.

Đúng không?

Trong đầu thầy bóng tối dần dần chuyển thành ánh sáng. Thôi chết cha rồi! Hoá ra là… 




CHƯƠNG 30
CHUYỆN ĐỒNG CHÍ Y TÁ TOÀNH.
CHUYỆN VỚ VẨN TRONG NHÀ.
CHUYỆN TÀO LAO KHÁCH KHỨA.

Thầy gặp Toành ở Đại đội trong chiến dịch Hà Nam Ninh. Cứ theo lời Toành tự kể thì anh ta quê gốc ở Thái Bình, Nam Định gì đó, đói Ất Dậu phiêu bạt vào Nga Sơn - Thanh Hoá. Ừ thì cũng coi đồng chí này như đồng hương Nga Sơn - Thanh Hoá. Chính thầy đã lấy anh ta lên làm lao công, hộ lý. Toành có tật nói ngọng, cà lăm… chữ to quốc ngữ đọc cũng chưa thạo; tên thuốc thì chẳng những không gọi được mà còn nhớ tầm bậy; tiêm thuốc thì trầm trầy trầm trật mãi mới chọc được mũi kim vào ven…

Đã thế lại còn phách lối, nói trạng. Có biết quái gì đâu về y tế. Ngay cả danh hiệu y tá cũng là do anh ta tự phong cho mình, Toành có được qua trường lớp đào tạo nào đâu!

Một lần đang ca mổ, tay chân lóng ngóng thế nào, Toành đánh rớt cái khay có đủ dao, kéo, pince… xuống đất; anh ta vội nhặt lên, phồng má thổi phù phù, đưa vạt áo ra lau vội… Thầy mới nổi điên lên mắng anh ta là đồ ngu, hậu đậu, đồ óc bùn… Giữa đám y tá, hộ lý, Toành đỏ mặt giận, từ đó có ý để bụng…

Thầy biết, nhưng rồi công việc ngập đầu, chẳng còn thì giờ đâu trò chuyện với anh ta nữa. Thương binh ngày một nhiều, người phục vụ không đủ, rồi lại phải nhờ đến Toành. Có hôm thầy bảo đưa đây lọ cồn, đầu óc để đâu đâu Toành lại đưa cuốn băng, cái kéo… Các loại thuốc Tây thông dụng cũng thế, đã bày đi dặn lại nhiều lần, dẫu có khá hơn rồi vẫn vậy… nghĩa là lộn phèo, bát nháo chi khươn!… Áp bờ phên (aspirine), đá ghè răng (dagenan), Canh kí dốt (teinture d’iode)… xít tép, pêni… cứ Việt Nam hoá ra vậy thì may ra Toành còn nhớ.

Một lần, ở Tiểu đoàn bộ, thầy giảng giải cho Toành hiểu “nhà dây thép” là gì, bưu điện là gì, điện thoại moóc-xờ là gì, đánh moóc nghĩa là làm sao?… dây điện thoại mà bị đứt là tin tức phát đi cũng bị ngừng, nghĩa là không còn nghe thấy gì nữa. Người chỉ huy, Bộ Tư lệnh mà mất tin tức liên lạc với cấp dưới thì chiến dịch ở thế thắng cũng chuyển thành thế thua. Rất nguy hiểm! Trong chiến tranh ở các nước phương Tây, người ta mà bắt được quả tang người nào đang cắt dây điện là kẻ ấy chắc chắn lãnh án tử hình.

Có một lần thầy cùng đi với Toành từ Phát Diệm về Nho Quan. 9 giờ tối. Đột nhiên có máy bay Bà Già Pháp rè rè tới lượn quanh vùng. Lại đúng lúc thầy đau bụng nên chạy vội vào bụi cây gần đường để đi ỉa. Chính tay thầy giao túi xách cứu thương có chữ thập đỏ và cái đèn pin cho Toành, dặn anh ta chớ có táy máy thò tay vào công tắc mà đèn bật sáng; máy bay nó xả liên thanh dội bom xuống đầu cho mà chết cả lũ bây giờ!…

Vừa ngồi vào bụi cây chưa kịp ị, thì lạ chưa, cái đèn pin bên kia đường tự nhiên loé sáng. Thầy hét lên. Lóng nga lóng ngóng một lúc Toành mới tắt được ánh đèn. Máy bay Bà Già Pháp xuống rất thấp, như vừa nhận được dấu hiệu ở dưới đất, lượn quanh mấy vòng…

Cả hai đồng chí vùng căng chạy. Chạy được một quãng chừng hơn nửa cây số thì đạn pháo ca nông của địch từ ngoài biển câu vào uỳnh oàng liên tục. Hú vía!

Thầy mắng cho Toành một trận. Hắn ta cười hì hì bảo rằng lần đầu tiên trong đời được cầm đèn Bim nên thích quá, thử… bấm chơi! Thích cái tiên sư cha mày! Đồ đồ…

Thầy lại nhớ tới cuốn tự điển Larousse của nhà ta thường đặt trên bàn làm việc sau cửa sổ… Đúng là trong ấy có đủ hình ảnh các ông Tây đế quốc từ Napoléon tới Pasteur. Có lần thầy còn chỉ dẫn cho bầy đứa và cả chú Đông đứng bên xem hình Chúa Jesus Christ.

Rồi lại nhớ…

Cái lần nào nhỉ? Giữa đám bạn bè khách khứa tới chơi nhà, nhân lúc vui chuyện thầy kể mình đã thấy Vua Bảo Đại năm vào thăm Huế đúng dịp lễ Nam Giao. Rồi sau này Tổng khởi nghĩa 1945, khi Cố vấn Vĩnh Thuỵ trên đường ra Hà Nội, qua Thanh Hoá, nghỉ lại nhà Uỷ ban, ngày xưa gọi là Toà Sứ, thầy lại gặp Bảo Đại.
Lần này không phải thấy xa xa mà ngay trước mặt.

Chả là, dạo ấy thầy được cấp trên điều động công tác vào nhà Uỷ ban để phục vụ, khám chữa bệnh, tiêm thuốc cho mấy ông lớn Cách mạng: Chủ tịch, Bí thư… Khách Trung ương từ Hà Nội vào, trong Nam ra… Các ông Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, Lê Tất Đắc, Lê Chủ…

Đang ngồi ở phòng khách, thấy cố vấn Vĩnh Thuỵ đi từ buồng tắm gần đó ra, trên người chẳng mặc quần áo gì hết, cứ trần truồng rất chi là tự nhiên, thầy đâm ra lúng túng, không biết nên chạy đi đâu… Cố vấn hiểu ý, gật đầu cười, nói giọng Huế: “Cứ tự nhiên! Cứ tự nhiên!” Rồi thong thả trở về phòng mình.

Chuyện kể tới đó mọi người ai cũng cười. Có người lắc đầu không tin. Lẽ nào đồng chí Cố Vấn, anh Vĩnh Thuỵ, cựu hoàng Bảo Đại mà lại như thế?

Một người bạn của thầy là Hà Kính Lãm, còn gọi là Bang Lãm, thời Pháp ông này làm Bang Tá, có lúc làm việc và sống gần Bảo Đại… Ông Lãm lên tiếng xác nhận đúng là Bảo Đại quen sống tự nhiên như Tây vậy. Cựu hoàng vô tư và hiền lành, cả đời chưa giết hại một người nào!

Nhân ngày lễ Noel sắp đến, mọi người lại nói sang chuyện Nhà thờ và các Cha cố!

Hồi thầy còn làm ở Nhà thương Thanh Hoá các Cha cố đến khám chữa bệnh là chuyện thường. Họ là người, cũng ốm đau bệnh tật như ai. Thầy cũng chỉ biết sơ sơ về họ, không quen thân với một vị nào.

Ông Bang Lãm, bạn của thầy, biết khá nhiều về họ. Ông này kể chuyện mình đã từng gặp Giám mục Lê Hữu Từ tại nhà thờ Phủ Cam ở Huế. Cũng tình cờ mà gặp thôi chứ không có quan hệ gì; bởi lẽ đồng chí Lãm bây giờ đã là đảng viên đảng Cộng sản, ngày xưa hồi còn làm bang tá cho Tây, không chỉ che chở cho ông em là Hà Kính Thắng, hiện là Phó Chủ tịch tỉnh, mà còn cưu mang cả đồng chí của em ruột mình nữa…

Lãm kể, Lê Hữu Từ người nhỏ gầy, trông rất thông minh mà cũng có vẻ hiền lành, bây giờ đang là trùm Công giáo ngoài Bùi Chu, Phát Diệm, ngay sát nách Nga Sơn mình…

Một người khác chen vào, thông tin cho mọi người biết, ngoài Bùi Chu, Phát Diệm, dưới nhà thờ có những cái hầm sâu, nhiều đảng viên Cộng sản, du kích quân của ta đang om xương rã thịt… Cả một núi đầu lâu Việt Minh trong đó! Kinh khủng chưa!

Như vậy, người gặp Giám mục Lê Hữu Từ là ông Bang Lãm, sau Cách mạng tháng Tám chuyển sang làm nghề dạy học, được kết nạp vào Đảng năm 1948, chứ đâu có phải Mai Duy Vỹ, mà bây giờ người ta lại tra hỏi thầy!

Ối! Trời cao đất dày! Lời nói đọi máu! Cái đời này sao mà rắc rối hiểm độc thế! Ai trong đám khách khứa bạn bè họp mặt ở nhà tôi hôm ấy đã dựng chuyện đổ vấy sang cho tôi? Ông Bang Lãm, đồng chí Lãm, thầy giáo Lãm thì xa chạy cao bay, sống nơi nảo nơi nào rồi!

Ai thế nhỉ? Ai?

Chú Đông thì rõ mười mươi là tác giả của cuốn sách dày như cái gối có đầy đủ ảnh bọn Tây đế quốc và Chúa Trời phản động rồi. Không lẽ chú lại còn là tác giả của… Chắc chắn không phải! Chúa Trời làm sao mà nhét nổi Đức cha Lê Hữu Từ vào cái đầu bò, óc lợn của đồng chí Lê Trạch Đông!

Vậy thì ai? Ai? Ai là người đơm đặt chuyện, dựng đứng thanh gươm độc này lên!? Thầy cố nhớ… cố nhớ…
Đột nhiên, cả chùm thần kinh trong đầu rão ra, đứt dần… còn lại sợi căng nhất nối linh hồn thầy với Cõi Sống cũng muốn đứt luôn.

Linh hồn thầy chìm trong vũng máu. Mê man…

Mở mắt ra…

Tiếng rít điếu cày lại vang lên trong đêm đông giá rét nghe phát kển người như đường gươm đưa, lưỡi hái vung của Thần Chết. Vỗ vỗ miệng điếu cày xong, lại vẫn cái ông Đội trưởng Đội Cải cách người Nghệ An đó nói: Ông ta nhắc lại cho cả bọn nghe là phải gang mồm thằng Vỹ, đặt ngay một cái que sắt, buộc dây vòng vào sau gáy… để đề phòng nó cắn lưỡi tự tử, nó mà cắn lưỡi tự tử là hỏng bét! Không đưa nó ra bắn ở đấu trường được là cả một thất bại chung không chỉ cho công cuộc vận động đấu tố của quần chúng Cách mạng, Quân Chủ lực Nông dân… mà còn hạ thấp uy tín của Đội, của Chi bộ Đảng mới thành lập!

Cả bọn xuýt xoa, nói sang chuyện thời tiết giá rét. Rét gì mà rét dữ! Rét không kém gì năm Ất Dậu 45! Rét cóng cả tay chân, máu trong người đông lại. Rét đến nỗi cá trong ruộng, ngoài đồng chết cóng nổi lên. Sáng dậy, sương giá như rắc muối bột trên lá cây, rau trồng không mọc nổi, héo úa… vụ mùa này coi như mất trắng. Biển động, không ai đi khơi. Nhà nhà hết gạo. Phải đào củ chuối ăn với hổng xanh! 




CHƯƠNG 31
LÀ CON NGƯỜI, MAI DUY VỸ
CŨNG THAM SỐNG SỢ CHẾT…

Thầy lại thiếp đi.

Vũng máu quanh mình hồi đầu đêm còn dâm dấp dưới lưng bây giờ đã ngập tràn lên tới mũi, mang tai? Thầy muốn động cựa ngoi lên để thở, muốn chống tay ngồi dậy; nhưng mỗi lần cố lại mỗi lần xuội đi, xịu xuống…

Biển máu ngập ngụa đang duềnh lên, duềnh lên… Cái thây Mai Duy Vỹ nằm ngửa không trôi đi mà cứ yên vị tại chỗ. Mình chết thật rồi chăng? Thầy nghĩ. Họ sắp giết mình? Đã mấy ngày nay câu hỏi ấy cứ lui tới, vòng vo trong đầu; lúc thì âm i vo ve như cánh ong ruồi, khi thì ầm ào như cơn bão biển. Ừ thì đời con người ta, ai sinh ra rồi cũng một lần chết. Nhưng mình mới 36 tuổi, bàn chân chưa đi vợi nửa con đường; cả một đời trong trắng vô tội, ấy là chưa kể bao điều hữu ích, nhân đạo mình đã làm vì Đảng, cho dân!

Mình yêu đời, thương người thế sao mình lại phải chết? Ai bắt mình phải chết? Thật oan uổng và bất công!

Đôi mắt của con hiện lên kìa! Ôi Lệ Uyên, con mới 7 tuổi. Mắt con như mảnh trăng trên Hòn Nẹ, đêm nào thầy bồng con ngoài đồng cói nhìn ra biển. Mảnh trăng vô tội. Hòn Nẹ vô tội. Con gái tôi vô tội. Chúng ta đều vô tội. Làm sao các con tôi từ đây có thể sống mà không có bố?

Người ta sắp giết Mai Duy Vỹ ư? Chuyện vô lý quá. Vô lý như người ta muốn giết bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Mùa nào thì cũng phải để tự nó hết, tự nó ra đi chớ.

Bao năm rồi y sĩ Mai Duy Vỹ vẫn thường nghe người ta nói, hoặc chính ông ta nói, khi một con bệnh không còn sống nữa: “Anh ấy… bà ấy… chết rồi…” Chuyện này có thể hiểu được bởi vì Vỹ cùng các thầy thuốc đã bó tay, không còn cách gì cứu mạng cho những con bệnh đó. Và phải chấp nhận.

Còn bây giờ thì Mai Duy Vỹ lại nghe người ta nói: “Thằng Vỹ sắp chết! Chúng ta sắp đem nó ra bắn để toàn Đảng toàn dân thấy được rằng ý nghĩa của cuộc Cách mạng long trời lở đất này rất chi là quan trọng. Đừng để Vỹ chết trước khi đem nó ra xử bắn. Phải đặt một cái que bằng sắt gang mồm nó lại để cho nó khỏi cắn lưỡi tự tử.”

Như vậy thì… vô lý hay là có lý?

Thầy tiếp tục suy luận như đang tranh cãi với ai ngồi trước mặt mình.

Cái người-vô-hình đó nói với thầy như thế này:

Mai Duy Vỹ phải chết bởi tội của nó nặng lắm, lớn lắm. Nó đã giết bao nhiêu người! Chúng ta giết Mai Duy Vỹ chẳng những không có tội mà còn có công lao thành tích nữa. Bởi cái điều đơn giản dễ hiểu là, giết một kẻ có tội thì không bao giờ có tội!

Nhân dân ta, Đảng ta không bao giờ có tội! Làm Cách mạng có thể mắc khuyết điểm chứ không bao giờ phạm sai lầm. Nếu chỉ vì sợ sai mà không dám làm thì còn gọi gì là Cách mạng nữa! Ưu điểm bao giờ cũng là chính, khuyết điểm là phụ… có sai lầm khuyết điểm thì mới thấy được thành tích ưu điểm là to lớn, quan trọng. Bởi thế cho nên, ngay cả trong khuyết điểm và sai lầm, nếu có đi nữa nhân dân ta vẫn bất diệt, Đảng ta càng vĩ đại!

Phải giết thằng Vỹ! Không chỉ một thằng Vỹ mà hai ba thằng Vỹ nếu cần. Đừng để cho nó chết trước khi chúng ta đưa nó ra giết…

Đó là mục tiêu duy nhất mà chúng ta phải nhắm tới và thực hiện.

Thầy quay sang đếm những con số. Một hai ba bốn… Bắt đầu là kim giây đồng hồ chỉ từ số 12 đến số 6. Chỉ vậy thôi rồi nhân đôi lên để biết mạch đập của bệnh nhân trong một phút là bao nhiêu. Biết bao lần như thế trong bệnh viện?

Đến số 36, thầy chợt dừng lại. Mình đã sống tới hơn nửa đời người sao? Nhà ta chưa có ai sống tới 70 cả. Ông cố họ Mai, cụ Thám hoa chỉ sống tới 63. Ông nội của thầy chỉ… 43. Ông nội của con 60. Bà nội con 57. Dòng họ Mai cứ đoản thọ, yểu mệnh dần…

Ngày xưa, năm hết Tết đến người ta thường chúc nhau mạnh khoẻ sống lâu. Vậy mà rồi có người lại ngậm ngùi thở than: đa thọ đa nhục! Chỉ có vua chúa mới được dân chúng cầu nguyện và tung hô vạn tuế, vạn vạn tuế!

Ngày nay thì ngoài Đảng ra chỉ có Bác Hồ là được toàn dân hô muôn năm. Đến như anh Trường Chinh cũng chỉ được hoan hô thôi thì còn nói gì đến ai!

Mọi người dân đều phải sống hy sinh quên mình. Hy sinh, trước hết có nghĩa là phải chấp nhận cái nghèo, sau nữa là cái chết khi Cách mạng cần.

Lo lắng cho bản thân mình là chuyện xấu xa đồi bại rồi, nhưng thương cảm cho gia đình, người thân lắm khi cũng vẫn là điều kiêng kị, đáng chê trách. Phải hiến dâng tất cả cho sự nghiệp cách mạng để chủ nghĩa Cộng sản, thế giới đại đồng được kiến lập trên khắp địa cầu. Ấy mới là tiêu chuẩn, mẫu mực đạo đức của người đứng trong hàng ngũ Đảng Cộng sản quang vinh!

Vâng! Đó cũng chính là ước muốn của đời con. Kính thưa Bác cùng các anh lãnh đạo trên Trung Ương! Đã có bao giờ lòng con hoen ố vì những vết mờ hoài nghi cái mục tiêu cao cả thiêng liêng của Cách mạng?

Không! Không bao giờ! Lòng dạ con đây… hoàn toàn trong trắng! Tâm hồn con đỏ tươi màu cờ Liềm Búa. Cha mẹ con, vợ chồng con vui vẻ chấp nhận được chia sẻ, hoà đồng với cảnh nghèo khó túng thiếu của bà con nông dân. Ăn bát đất mẻ, cơm độn, cà thâm, đắp chiếu, mặc áo quần nâu, lội bùn, cày cấy trên mảnh ruộng cùng bà con ư? Chúng con xin cố gắng làm theo, làm đủ.

Một thời dòng họ, gia đình con được đầy đủ, sung sướng hơn bà con làng xã. Đúng thế! Bây giờ bà con làng xã cần bao nhiêu ruộng, theo lệnh Đảng, vâng lời Bác, chúng con sẵn sàng dâng hiến!

Nếu các ông bà nông dân, các đồng chí công nhân lãnh đạo tiền phong, coi những tri thức của con do nhà trường đế quốc thực dân đào tạo ra là không bằng cục phân, à cục cứt chứ, Mao Chủ tịch vĩ đại đã từng gọi như vậy: Cục cứt! Vâng cục cứt! Và một đời cầm xê-ranh, cầm dao mổ của con đã không có công mà còn có tội nữa; bởi vì thể xác con, đầu óc con, tâm hồn con đều do nòi giống, thành phần địa chủ bóc lột mà ra cả… thì hãy cho con được làm kiếp tôi đòi, phục dịch bà con bần cố nông để trả nợ, đền ơn họ.

Con xin làm con trâu đi cày, con bò đi bừa… Con xin làm đứa ở để dọn dẹp nhà cửa, hầu hạ bếp núc. Nếu vẫn chưa thoả mãn được bà con bần cố thì con xin làm con chó để sủa trộm, dọn phân, con xin làm con mèo để bắt chuột!…

Nhưng xin đừng giết con, để cho con sống! Tuổi đời con mới 36, ba đứa con dại thì một đứa vùi xác mất tích ở đâu rồi, còn lại hai đứa… con mà chết thì lấy ai người nuôi chúng?

Lệ Uyên! Lệ Uyên! Thầy gọi tên con!

Thầy sợ chết, các con à. Thầy sợ lắm. Thầy khóc. Cứ tưởng đâu lệ đã cạn khô rồi; vậy mà, hễ nghĩ tới các con dòng lệ lại tuôn trào.

Chắp hai tay thầy lạy Đội Cải cách, thầy vái bà con nông dân. Họ đâu có trước mặt mình như ở ngoài đấu trường, vậy mà thầy cứ gập đầu xuống ngực mà vái mà lạy.

Mấy lần ngoài trường đấu thầy còn ngẩng đầu lên, không phải để doạ nạt cao ngạo với ai; khốn nạn, đã biết mình sa vào cái phận “chim treo trên lửa, cá nằm dưới dao” rồi, vậy mà vẫn còn cố cãi!

Không cãi làm sao được hở con, Lệ Uyên ơi, khi người ta vu oan giá họa cho mình những tội danh mà chẳng phải mình, thiên hạ có nằm mơ cũng không tưởng tượng ra nổi. Chỉ nghe thấy thôi, trẻ con nó cũng chẳng tin, người lớn tuổi không nhịn được cười. Cái thời chúng ta đang sống đây, Địa ngục Trần gian ma đưa quỷ dẫn, nó lạ lắm, rùng rợn lắm, con ơi! Ai muốn sống kẻ ấy phải biết sợ. Sợ rồi, chưa đủ, còn phải chịu nhục, chịu hèn nữa!

Hai ống chân thầy lở loét vì lâu ngày cọ xát với miệng cùm. Phía sau mông đít còn khốn khổ hơn, ung nhọt thối rữa, dòi bọ bò lên cả trên ngực, trên cổ… Mỗi lần trở mình hoặc muốn ngồi dậy thầy cố nghiến răng để khỏi bật lên tiếng kêu rên. Kêu rên để làm gì khi không có ai nghe nỗi đau của mình?

Cũng còn may là họ chưa đặt que sắt ngáng mồm mình lại. Thầy đâm ra biết ơn người nào đó đã bàn ngang, bàn lùi, chưa thực hiện cái chỉ thị của ông Đội, là phải gang mồm thằng Vỹ… Anh ta cho rằng chưa thật cần lắm và cũng chẳng đến nỗi như vậy đâu!

Đã thế thì thầy còn phải ghi ơn tất cả bọn họ; nhất là ông Đội trưởng, anh bộ đội Cụ Hồ, đã từng tham gia Cải cách Ruộng đất đợt đầu tiên, người quê gốc Nam Đàn, như lời anh ta nói với các đồng chí ngoài sân kia…

Lần này nếu tai qua nạn khỏi, họ không giết mình, còn để cho mình sống… thầy sẽ đến trước từng người, cúi gập xuống dưới đầu gối họ mà lạy, ghi ơn họ!

Thầy sẽ lạy mỗi người ba lạy; riêng chú Đông, Hĩm Xoa, Cò Toe, y tá Toành thì… xin lạy 5 lạy, không, nhiều hơn kia, những 10 lạy! Bởi vì sao? Bởi vì chính bốn vị này đã dắt dẫn Cái Chết đến cho thầy, làm thầy hiểu được mình ham sống, quý mạng sống đến chừng nào! 




CHƯƠNG 32
TÂM TƯ TRONG TÙ. BỐ VỸ NGHĨ VỀ NHỮNG NGƯỜI CỘNG SẢN MÌNH QUEN BIẾT NGÀY XƯA VÀ BÂY GIỜ

Ở trong phòng giam này, nhiều lúc không phân biệt được ngày và đêm.

Tiếng chó sủa trong làng ngoài xóm vẳng vào đây chẳng nghĩa lý gì: cái giống loài ba phải nông nổi ấy có thể gâu gâu sủa bất cứ lúc nào khi thấy có bóng người bóng ma…

Thật kỳ lạ. Nó có công với con người đến thế mà vẫn bị giống người nguyền rủa, khinh rẻ. Tiếng mèo kêu rất hiếm khi nghe thấy, một đôi lần trên mái nhà… Tiếng dế kêu tỉ tê, năn nỉ ngoài hè sân kia, chẳng hiểu sao lại khiến thầy cảm nhận ra màn đêm đang bao phủ trần gian và hình như còn có cả ánh trăng đang rọi chiếu. Ôi! Ánh trăng vàng từ thuở ấu thơ, đêm đêm theo ta lớn lên len vào giấc mơ, như thuốc mê làm dịu cơn đau người bệnh khi ta trực đêm canh giấc cho bệnh nhân sau ca mổ ở nhà thương Thanh Hoá!

Và tiếng gà! Tiếng gà vang lên trong xóm. Thầy nôn nao nhớ nhà, nhớ ông bà, cha mẹ… Nhớ buổi sáng nào thầy được đánh thức dậy khi sương sớm còn lãng đãng ngoài trời, trước sân; con gà trống đập cánh bên chuồng trâu, gà mẹ dẫn bầy gà con tục tục ra vườn kiếm ăn… Bà nội con đã thức dậy từ canh tư. Ngước nhìn trăng già cuối tháng trên mái bếp, lơ lửng phía đông ngoài biển kia mà cứ tưởng đâu mảnh trăng liềm đầu tháng ngây thơ tinh nghịch, đồ chơi của con trẻ bỏ quên đi còn rớt lại chiều tối qua trước sân nhà... Bà nhen bếp lửa sớm, gói sẵn đùm xôi nếp để con trai mang theo đi đường lên tỉnh học. Bà bảo, họ Mai nhà ta xưa, Cố ông đậu tới Thám hoa, ngày nay con gắng chăm học để đậu lấy cái bằng Thành chung, đừng để người đời chê cười, mang tiếng là con cháu dòng họ Nho gia... Và thầy đã không phụ lòng cha mẹ. Cái năm Mậu Dần 1938, cả tỉnh Thanh chỉ có ba người đậu đíp-lôm; thầy là một trong ba người đó…

Khi chọn nghề, ông nội muốn con mình làm nghề giáo, dạy chữ cho con cái nhà người, may còn được khoẻ nhẹ thân xác… Bà thì lại mong con mình học nghề y, làm ông đốc tờ chữa bệnh cứu người. Dạy học và chữa bệnh, hai nghề vốn bẩm sinh, lưu truyền đã bao đời, phụng sự cho dân ta, nghề nào cũng hiền lương cứu độ cả. Vậy mà, có ai ngờ đến cái thời buổi trời long đất lở này lại lật ngược, đánh tráo cả Chân, Thiện, Mỹ: chữa bệnh cứu người mà lại quy thành đổ bệnh, giết người!

Làm nghề giáo vậy mà ít nguy hiểm hơn. Thế mới biết ông nội con là người nhìn xa thấy rộng!

Thầy lại khóc, lại thương cho thân mình, vợ con mình.

Khóc hết hơi, cạn nước mắt rồi đờ đẫn nhìn quanh phòng giam. Những ngày đầu mới bị bắt, họ nhốt giam thầy ở cái điếm canh; sau đó, suy tính thế nào họ lại chuyển thầy tới chỗ này. Đây chính là đình làng xưa, nơi các bậc tiên chỉ cùng dân làng hội họp, lễ tết… Cái đình này còn tồn tại đến bây giờ đã trở thành hiếm hoi, bởi khắp nơi xứ Thanh Hoá, từ khi Dân chủ Cộng hoà lên, người ta đã đập phá cho kỳ bằng hết. Một mái bên đã sạt lở hư hại, còn lại cái phòng xưa kín như bưng của ông Từ giữ đình, coi kho là vẫn y nguyên. Tường gạch dày chắc, cột lim tròn to đùng, cánh cửa lim còn lớn và nặng bằng mấy cửa nhà ta… Chọn nơi này làm phòng giam nhà tù, mấy ông bà Đội Cải cách quả là khôn ngoan sáng suốt.

Thầy miên man nghĩ tới những nhà tù của thực dân, đế quốc. Những tên gọi dẫu xa lạ, đã mấy ai trông thấy, mà sao vẫn gần gũi quen thuộc: Hoả Lò, Côn Đảo, Lao Bảo, Kontum, Sơn La, Ban Mê Thuột, Thừa Phủ, Vinh… Một số người quen biết, thân thuộc của mình cũng đã bị tù đày ở những nơi ấy. Cụ Đinh Chương Dương, cụ Trần Thị Nam, ở nhà tù Hoả Lò. Cụ Đinh Chương Dương, bị Pháp cắt gân chân; cụ Trần Thị Nam có người con duy nhất là Trần Nhu, từ Liên Xô về nước cũng bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo và chết ở ngoài ấy… Cụ Dương mới mất gần đây. Cụ Nam vẫn còn sống. Và năm anh em ruột họ Đào… Anh cả Đào Duy Anh vào nhà lao Thừa Phủ, em trai thứ tư Đào Duy Dếnh ở nhà tù Sơn La… Em trai thứ nhì Đào Duy Phiên, em trai thứ ba Đào Duy Kỳ và đặc biệt, cô em gái út Đào Thị Đính, cả ba người này đều bị đày ra Côn Đảo…

Làm sao có thể quên mà không nhắc tới các anh Cao Hữu Duyệt, Trịnh Hữu Thường, Trần Mai Ninh, Thôi Hữu… Cả bốn đồng chí đều bị Pháp bắt tù, đày Lao Bảo. Anh Duyệt vào Đảng từ đầu năm 1930, làm Bí thư chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của trường Quốc học Huế. Chưa học xong đệ tứ niên, mới 19 tuổi, chỉ vài tháng sau đó bị Pháp bắt, xử án tù 9 năm, đày lên Lao Bảo. Hai anh Trần Mai Ninh, Thôi Hữu là nhà thơ, nhà văn nổi tiếng. Anh Trịnh Hữu Thường, điềm đạm, sâu sắc, nhân hậu… Ôi! Những con người quý giá vô ngần! Đã được gặp các anh rồi thì suốt đời không thể nào quên!

Nghe những đồng chí này kể thì thực dân Pháp nhốt giam họ trong xà lim, chuồng sắt, dưới hầm sâu lòng đất; vậy mà gặp cơ may, được tổ chức, có người vẫn vượt ngục thành công. Trở về giữa lòng dân, được dân giấu kín trong buồng, che chở dưới hầm sâu bí mật, thì cứ việc an tâm mà hoạt động cách mạng, say sưa lạc quan chiến đấu cho lý tưởng Cộng sản. Đế quốc phong kiến nào muốn truy lùng bắt giam họ lại cũng không phải dễ! Trường hợp anh Huỳnh Ngọc Huệ là một minh chứng cụ thể. Vượt ngục Daklay ở Kontum xong, trở về sống với đồng bào Thượng, không chỉ được bà con nuôi sống, họ còn giúp anh tìm đường ra tới Thanh Hoá. Ở Thanh Hoá, thuận lợi hơn, tình cờ và may sao, anh lại được bác Cao Hữu Lẫm, anh ruột Cao Hữu Duyệt, cưu mang cất giấu trong nhà. Huệ với Duyệt là đồng chí, biết quen nhau từ hồi Huệ còn học trường Kỹ nghệ thực hành, còn gọi là trường Bách Công ở Huế. Còn thầy và bác Lẫm là đồng nghiệp, cùng là thầy thuốc ở nhà thương Thanh Hoá. Tại nhà bác Lẫm, trong thành Thanh Hoá, thầy đã được gặp các anh Cao Hữu Duyệt, Cao Hữu Hiến, Huỳnh Ngọc Huệ, Phạm Triều, Trần Mai Ninh, Thôi Hữu… Cái tình của họ mình đã thấy và tiếp nhận. Cái lòng của họ mình đã cuốn hút theo từ những tháng năm ấy…

Phải kể cho con biết thêm về người vợ hiền của bác Lẫm - Nguyễn Thị Chinh, người đàn bà xứ Huế nhân đạo, thâm trầm, kín đáo, có lẽ không biết gì mấy về chủ nghĩa Cộng sản, thầy e chừng vậy, mà vẫn coi những đồng chí của em trai chồng mình như người thân yêu ruột thịt, nuôi giấu họ trong nhà… Giữa thời buổi đen tối hiểm nghèo ấy mà có những người tự nhiên dám sống như thế thật sự là những người can đảm!

Còn bây giờ… cái người khi không trở thành có tội với dân, kẻ thù của Đảng như Mai Duy Vỹ đây, thì đành chịu cứng, chỉ còn biết nằm yên chờ… ngày Đội tới dẫn đi cho ăn “viên kẹo đồng”!

Mà đâu phải chỉ riêng thầy, bác Trần Vĩnh Quyền, Chủ tịch xã bị bắt nhốt giam bên Nga Phú kia, cách mấy cây số đường chim bay chắc cũng đang nghĩ như thầy: Đây mới chính là Địa ngục Trần gian, nơi cùng trời cuối đất, chỉ còn mỗi con đường đi qua thế giới Bên Ấy…

Mấy ngày trước khi bị bắt, chẳng biết nguồn tin nào từ đâu ra đến tai thầy.

Bác Nguyễn Xuân Thuý, Thường vụ Tỉnh uỷ, cựu tù Côn Đảo những năm 30, bây giờ cũng trở thành một tên phản động đội lốt Cách mạng, vừa mới bị bắt, đã vào… tù!

Anh Đỗ Vân, bác sĩ, Trưởng ty Y tế Thanh Hoá, cựu sinh viên Đại học Y khoa Hà Nội, một thầy thuốc mà cả về nhân cách lẫn tài năng, bố Vỹ của con rất mến phục. Đỗ Vân là em ruột của Đỗ Thị Xuyến, dược sĩ hạng nhất Đông Dương; bà Xuyến là vợ của luật sư Phan Anh, bộ trưởng…

Đỗ Vân bị kết tội giết người hàng loạt bằng thuốc độc và dao kéo, cũng đã bị bắt trói, đưa vào… tù!

Anh Đặng Ngọc Khôi, bác sĩ trẻ lớp sau thầy, nổi tiếng vì bàn tay phẫu thuật tài hoa, cũng bị kết tội cưa chân, chặt tay hàng loạt các chiến sĩ ngoài mặt trận và là thủ phạm của mấy vụ giết hại các đồng chí lãnh đạo cao cấp đầy mờ ám hiểm độc.

Khôi là con bác Đặng Ngọc Thọ, y tá giỏi thời Pháp, đã từng làm ở nhà thương Thanh Hoá, tính tình nhanh nhẹn bộc trực. Năm khởi nghĩa 1945, nghe nói bác Thọ bị Việt Minh ta giết vì tội danh làm… Việt gian!
Khôi cũng vừa bị tóm bắt vào tù cùng một đợt với Đỗ Vân.

Chưa hết! Cao Hữu Hiến, Trưởng ty Lao động Thanh Hoá vừa mới bị bắt giam mấy ngày sau khi Nguyễn Xuân Thuỳ vô tù. Chú Hiến ít hơn thầy một tuổi nhưng vào Đảng sớm hơn, từ những năm đầu 40. Bạn học cùng trường Bách Công ở Huế với Huỳnh Ngọc Huệ, em út của bác Cao Hữu Lẫm và bác Cao Hữu Duyệt…

Chú Hiến đã hăng hái tham gia cuộc biểu tình đón Gô-đa thời Mặt trận Bình Dân, có lần ngang nhiên lên Bến Ngự thăm cụ Phan Bội Châu giữa ban ngày ban mặt, chẳng thèm để ý gì tới bọn chó săn mật thám của Pháp rình rập quanh đó!

Chàng trai sôi nổi gan góc họ Cao này đã từng đảm trách cương vị quan trọng của Ty Liêm phóng trong những ngày đầu Cách mạng tháng Tám, truy đuổi lùng bắt bọn phản động chống phá nền Dân chủ Cộng hoà non trẻ, tên tuổi được nhắc đến như một huyền thoại trinh thám…

Người Cộng sản trung thành cuồng nhiệt với lý tưởng Cộng sản đã từng chịu những đòn roi tra tấn trong lao Thừa Phủ, ngục Kontum thời Pháp thuộc, bây giờ… được tính công trả ơn bằng những ngón đòn thẩm vấn quái lạ, những hình phạt khổ nhục học theo Tàu còn man rợ ngàn lần hơn thực dân Pháp… Cải cách Ruộng đất, Chỉnh đốn Tổ chức long trời lở đất đã quy chụp cho đồng chí này một tội danh mới chưa từng có trong lịch sử nhân loại, chẳng mảy may gì liên quan đến luật pháp của thế giới - Chống Đảng và phá hoại Cách mạng!

Đột nhiên, hình ảnh các đồng chí Trần Phú, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Văn Thụ… hiện lên.

Hồi Cách mạng tháng Tám, tại Phòng Thông tin Thanh Hoá thầy được thấy hình ảnh của những người này. Những tấm ảnh của bọn Pháp ghi lại chân dung họ trong tù gây cho thầy một niềm kính trọng thiêng liêng. Đôi khi thầy vẫn cố tưởng tượng hình dung ra những khuôn mặt đẹp cao quý của họ mà lòng ngập tràn vui sướng, tự hào. Mình với họ đều là đồng chí. Thầy tự nhủ. Đến với Đảng Cộng sản khi đất nước còn tối tăm nô lệ, họ là những “nhà cách mạng” đúng theo nghĩa của ba từ này, còn mình đến với Đảng khi nước nhà đã độc lập, tự do, mình chỉ là “người đi theo Cách mạng”. Bởi vậy mình sẽ không tiếc sức, tiếc của, hiến dâng tất cả đời mình cho Cách mạng để xứng đáng với họ, xứng dáng với danh nghĩa “đồng chí”… Cái lòng thầy là như thế đó, con ơi! 




CHƯƠNG 33
CHUYỆN MỔ XẺ THỜI CHIẾN TRANH
CHỐNG PHÁP. NHỮNG CA MỔ RUỘT THỪA
ĐẦU TIÊN CỦA BỐ VỸ, NGƯỜI THẦY
THUỐC TÀI HOA ƯU TÚ

Có một lần mẹ của con dằn dỗi về chuyện lâu nay chồng mình bỏ bê con cái, phó mặc việc nhà cho bà ấy.

“Ông đâu có thương vợ con, mẹ nói, ông chỉ xót cho vợ con nhà người thôi; việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng… Bệnh viện mới là nhà của ông, nhà mẹ con tôi chỉ là cái quán trọ để ông ghé về ăn cơm… Có hôm vợ con chờ suốt cả ruột, cơm thì nguội lạnh, thịt cá thiu thối, ông cũng không chịu về ăn, ông còn xách túi đi khám bệnh chích thuốc cho người ta, ông còn mắc họp. Thiên hạ đau, đồng chí đau thì ông thương xót lắm; còn vợ con ở nhà đau thì ông bảo không can chi, uống ít viên thuốc, chỉ vài hôm thôi là khỏi… Tôi xem ra cái phúc nhà này lớn lắm đấy!”

Mẹ nói rồi khóc lóc. Thầy muốn điên lên. Thầy nghiến răng đấm ngực la: “Trời ơi, bà muốn cho tôi sống hay là giết tôi đi! Con bệnh đang cơn đau, tôi không khám chữa chích thuốc, bỏ mặc đó để người ta chết à? Cuộc họp có mặt các đồng chí đông đủ cả, không lẽ thiếu vắng mình tôi sao? Bà có đi họp thay cho tôi được không?”

Mẹ gào lên: “Họp sống họp chết, họp cái chó gì họp lắm thế? Sao lâu lâu không bớt đi vài cuộc họp ở nhà cho vợ con nhờ?”

Thật quá thể! Quá thể! Có ai đời vợ mình lại ngoa ngoắt, tục tằn xúc phạm chồng đến thế, lại còn to gan động chạm tới đoàn thể, chính trị nữa. Thầy mới vung tay tát cho bà ấy một cái. Cái tát mạnh đến nỗi mẹ ngã ngửa, đầu đập vào cây cột, ngất xỉu dưới nền nhà…

Từ dạo lấy nhau tới giờ, đây là lần đầu tiên vợ chồng cãi cọ to tiếng. Cũng là lần đầu tiên trong đời thầy đánh người, mà đánh ai, đánh vợ mình! Ôi khốn khổ, khốn nạn!

Thầy đùng đùng bỏ nhà, ra ngoài đường đi một mình giữa ơn giông. Gió quất liên tiếp những roi mưa vào mặt; nước mắt trời tuôn hay lệ ai đang xối xả ướt đầm hai hốc mắt, gò má hõm hóp lâu ngày thiếu ngủ? Đứng lại giữa đường, đưa hai tay vuốt, thầy mới sực nhớ ra là mình đã quên tấm ni lông che mưa ở nhà.

Cũng may, lại đúng lúc bệnh viện cho người tới nhà tìm thầy lên mổ ca cấp cứu cho một bệnh nhân chẩn đoán đau ruột thừa. Thầy gặp anh lao công. Cả hai che chung tấm ni lông lên đầu cùng vội vã đi.

Ca mổ trầy trật cả tiếng đồng hồ. Mổ xong, thầy nằm vật ra giường ngủ thiếp đi như vừa bị đánh thuốc mê…

Hồi ấy, những năm 48-50… khái niệm mổ xẻ kinh hoàng rùng rợn lắm, con ơi!

Người ta chỉ dám nghĩ tới chuyện cắt cục amiđan trong họng. Tuy nhiên, vẫn có trường hợp không cầm được máu, bệnh nhân đành phải chịu chết. Thuốc men quý hiếm, công cụ y tế thô sơ, kỹ thuật mổ xẻ còn yếu kém lắm. Bệnh viện không có điện, không có máy phát điện. Tại bệnh viên “Cổ Định” - Nông Cống, để soi khám hai cục amiđan trong họng, người ta phải dùng tới ánh đèn xe đạp. Thầy kể cho con nghe nhé. Một y tá cầm pêđan xe đạp quay mạnh để bình điện cọ vào lốp xe làm cho đèn xe bật sáng… Đèn xe được đặt trước mặt bệnh nhân; bệnh nhân há mồm to ra để bác sĩ ngồi phía sau đèn nhìn vào… khám xét hai tên lính gác thực quản và phế quản. Giáo sư bác sĩ Trần Hữu Tước từ Pháp về cùng với những người học trò ưu tú của ông, các bác sĩ, đều làm việc trong hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn như vậy.

Cưa cắt tay chân thương binh, người bị tai nạn chiến tranh là điều người ta có thể hiểu và chấp nhận. Còn chuyện lên bàn mổ nằm để bác sĩ cầm dao rạch bụng… ít ai dám nghĩ tới, cầm bằng cái chết chắc chắn chín mươi phần trăm, coi như là… định mệnh!

Nhiều người lên cơn đau ruột thừa không có ai khám và mổ cho đành phải ôm bụng chờ chết. Vũ Hồng Côn, học sinh trường Cấp 3 Lam Sơn, cậu con trai dễ thương thông minh của nhà văn Vũ Ngọc Phan và nhà thơ Hằng Phương đã chết vì căn bệnh ruột thừa; một bằng chứng đau thương của y tế nước ta thời chiến tranh chống Pháp!…

Thuở nhỏ, thầy rất sợ máu. Những ngày giỗ tết, không dám cầm dao cắt tiết, mổ bụng gà vịt, cứ phải để cho anh Nuôi và chú Đông làm công việc khủng khiếp đó. Khi học ở trường Y khoa Hà Nội thầy cũng chỉ được đôi lần đứng phụ mổ đưa bông băng dao kéo cho bác sĩ người Pháp.

Cuối năm 1946, toàn quốc kháng chiến, thầy phải ra mặt trận để phục vụ các chiến sĩ Vệ Quốc quân. Cái cảnh thương binh ùn ùn khiêng chở từ mặt trận về nằm la liệt ở Quân y viện thật không tài nào kể xiết. Máu chảy chan hoà nước mắt… Không cưa chân, không cắt tay làm sao được! Cưa cắt may ra anh em họ còn sống! Mà đâu chỉ chân tay, đầu cổ, lưng ngực… Tất cả những bộ phận sinh ra để cho con người ta sống, chiến tranh đều dùng tới Cái Chết để huỷ hoại, tàn sát! Nhìn thấy ruột gan trong bụng thương binh lòng thòng xổ ra, dù có rùng mình kinh hãi, cũng phải mau mau bắt tay vào cắt hớt, may khâu lại… Phải làm tất cả để dành lại Cái Sống cho đồng chí, đồng bào!

Những lần đầu thầy cũng run tay, đêm tới chợp ngủ chỉ mơ thấy toàn máu… là máu.

Vậy rồi mà, chỉ mấy tuần trôi qua là bắt đầu quen với máu, nói cho đúng hơn, là thuận tay, lên tay mổ xẻ. Tất cả chỉ vì tấm lòng thôi, con ơi!

Thầy thương các đồng chí, chiến sĩ, một tình thương chưa từng bao giờ thấy, ngay cả đối với vợ con gia đình… Tổ quốc và Cách mạng đã sinh ra Mai Duy Vỹ một lần thứ hai và hun đúc tình thương ấy trong con người thầy thuốc! Phải cứu những anh em đồng chí khỏi cái chết, giành lại mạng sống, đưa họ về với gia đình vợ con!

Những ánh mắt, lời nói tỏ lòng biết ơn khâm phục của thương bệnh binh và các bạn đồng sự trong Quân y viện đã giúp thầy quên bao mệt nhọc, thức thâu đêm suốt sáng cầm con dao mổ…

Quân y viện trưởng Trần Thế Đức, bác sĩ tốt nghiệp đại học Y khoa Hà Nội… lớn hơn thầy cả tuổi đời, tuổi nghề, học rộng biết nhiều, bác sĩ Đức già dặn về bệnh lý nhưng không hiểu sao lại non tay về phẫu thuật? Về quan hệ nghề nghiệp thầy là cấp dưới, là học trò của ông ấy. Từ chỗ dè dặt trong cách cư xử, dần dà Đức mến thương thầy như người thân ruột rà… Sau này, trong một lần giao tiếp, bác sĩ nói: “Anh Vỹ, anh có qua lớp phẫu thuật với một giáo sư nào không? Có biết bác sĩ Lơ-roa-Đề-ba ở Hà Nội không?” Thầy lắc đầu cười nhũn nhặn. Thế thì lạ thật đấy. Đức tần ngần nhìn thầy. “Anh đưa bàn tay tôi xem… Đúng là có hoa tay, tiếc cho anh chưa được học lên”…

Ca mổ ruột thừa appendicite đầu tiên, thứ nhất trong đời thầy không phải dành cho ai khác mà chính là Trần Thế Đức. Thật kỳ lạ. Nhớ lại ngày hôm ấy… Đức lên cơn đau bụng sau buổi ăn trưa, quằn quại tới chiều và tự chẩn đoán mình đau ruột thừa. Dạo ấy thầy chỉ quen cưa tay chân, chưa một lần mổ bụng ai và cũng chỉ mường tượng… về cái ruột thừa. Thời Pháp, chỉ có các bác sĩ mới được cầm dao mổ. Một y sĩ như thầy làm sao dám đụng tới! Quân y viện trưởng động viên thầy: Anh Vỹ, mạnh dạn lên, không sao đâu! Anh không mổ thì tôi cũng chết. Mổ đi! Tôi tin anh làm được. Tôi chịu trách nhiệm. Đức lại còn khôi hài: Thì cũng như mổ gà, cắt cái khúc ruột ấy bỏ đi, thế thôi… Anh đã mổ gà nhiều lần chưa? Thầy thú thực rằng chưa, hồi nhỏ rất sợ cắt tiết, mổ lòng gà vịt…

Ca mổ được tiến hành vào 8 giờ tối.

Số phận dành cho đời thầy những món quà tặng về ban đêm. Ban đêm khi đầu óc con người ta phần nhiều mệt mỏi, lầm lẫn thì đầu óc thầy chẳng hiểu sao lại thông suốt, bàn tay lại khéo léo chuẩn xác lạ lùng. Dưới ánh sáng của ba chiếc đèn pin tụ lại, thầy cầm dao rạch phía bên phải bụng bác sĩ Đức và… thật kỳ lạ, cái ý nghĩ ruột người ta cũng giống như ruột gà làm cho thầy tỉnh táo, chẳng mấy chốc tìm ra ngay cái ruột thừa ẩn núp, bám đeo vào…

Trông nó như một tên tội phạm lẫn trốn, bị truy tìm ra rồi mà vẫn cho rằng mình vô tội. Tôi cũng là một bộ phận của con người, làm ra con người. Tạo Hoá chẳng đã cùng sinh ra một lần cho con người hay sao? Vậy mà các người chưa hiểu đầy đủ về tôi!

Có tiếng nói nào bên trong vang lên… Bàn tay ai sinh ra lỡ như có 6 ngón, sao các người không cắt ngón thứ 6 đó đi! (Thật bất công và vô lý!).

Nhưng ruột thừa ơi, mày đã làm mủ rồi và đang gây ra cái chết chắc chắn cho con người. Hiểu chưa? Còn ngón tay thứ 6 kia, nó xấu xí và vô ích thật đấy, nhưng nó lại không gây ra hiểm họa như mày; dẫu rằng nó cứ phô ra trước mặt mọi người chẳng cần che giấu thì… chúng ta cứ để yên cho nó tồn tại!

Đời là vậy! Còn biết bao nhiêu cái thứ 6 quái gở, cấn cái, vướng víu cho con người, e rằng có khi con người chết rồi đã chắc gì nó sẽ chết theo?

Thầy cắt cái ruột thừa đó quả quyết và nhanh gọn còn dễ hơn người ta hái đi một quả thối trên cây.

Chiều hôm sau, khi đã tỉnh táo hẳn, bác sĩ Đức nói với thầy: Tôi nói có sai đâu. Anh cắt ruột thừa còn dễ hơn mổ bụng gà. Đôi mắt hiền hậu thâm trầm sáng lên, bàn tay ông ấy đặt lên bàn tay thầy. Anh đúng là một thầy thuốc bẩm sinh, trời phú… anh Vỹ ạ. Sau này kháng chiến thành công, còn sống trở về Hà Nội, tôi sẽ kể cho vợ con nghe. Chúng nó sẽ ghi nhớ, đền ơn anh…

Bác sĩ Đức có hoàn cảnh hơi éo le. Cô vợ trẻ đẹp của ông nghe nói là con một gia đình giàu có ở Hà Nội. Gia đình theo bác sĩ chạy giặc, tản cư vào tới Thanh Hoá. Đời sống ở hậu phương, vùng tự do lúc ấy gian khổ không sao chịu đựng nổi đã khiến họ phải quay trở lại Hà Nội “dinh tê” vào Thành. Cuộc chia tay diễn ra… Bác sĩ Đức một lòng đi theo Quân đội, ở lại với Cụ Hồ. Chắc ông ấy buồn khổ lắm.

“Chiến tranh là chiến tranh”. Bác sĩ nói với thầy bằng tiếng Pháp. “Con người chẳng phải là ma quỷ, cũng chẳng phải thánh thần. Anh Vỹ ạ, khi giết người, có ai nghĩ mạng người là thần thánh đâu. Giết là giết! Thế thôi!

Người thầy thuốc giàu tình cảm thôi chưa đủ, anh ta còn phải mạnh mẽ về lý trí. Bởi thế, đôi khi rất khó chữa bệnh cho bản thân và người nhà; ấy là chưa nói tới cầm dao mổ cưa cắt, phẫu thuật chính vợ con mình… thường những lúc ấy anh ta phải nhờ người khác làm hộ. Bọn mình ở chiến trường lại càng phải đòi hỏi cao. Chỉ thương cảm xúc động anh em thương binh thôi mà thiếu tỉnh táo, thậm chí đôi khi còn phải lạnh lùng nữa, chứ không thì công việc hỏng hết!”

“Chiến tranh là chiến tranh”. Bác sĩ Đức nhắc lại câu tiếng Pháp với nụ cười buồn bã.

Ông ấy là một con người hoàn thiện hơn thầy nhiều do có được đức tính điềm tĩnh đôi khi đến lạnh lùng đó.

Có lần, thấy thầy khóc bên giường một anh chiến sĩ đã chết vì vết thương quá nặng ở ngực, máu chảy cạn kiệt… bác sĩ yên lặng đứng một lúc lâu rồi nhẹ nhàng đặt tay lên vai thầy. “Đồng chí Vỹ”. Bác sĩ nói. Hai tiếng “đồng chí” làm thầy nhớ lại, cả hai người, thầy và ông ấy cùng được kết nạp Đảng vào dịp cuối năm 1948, lúc mọi người đang chuẩn bị ăn Tết Xuân Kỷ Sửu. “Đồng chí Vỹ! Bình tĩnh nào. Chúng ta còn nhiều việc phải làm.” Rút tay ra khỏi vai, thầy còn nghe tiếng thở dài sâu kín của bác sĩ.

Thầy có một người bạn đồng nghiệp, người anh đáng quý đến như thế.

Tiếng vang về những ca mổ ruột thừa của thầy lan truyền đi khắp các đơn vị, khắp tỉnh Thanh. Có người gọi thầy là Hoa Đà tái thế, là Tôn Thất Tùng của Thanh Hoá.

Bác sĩ Viện trưởng cũng vui lây cái vui của mọi người. Ông ấy cũng cầm dao mổ, bởi vì không mổ cũng không được, con số thương binh mỗi ngày một nhiều.

Một lần xong ca mổ, rửa tay xà phòng, Đức gật đầu cười nói: “Có anh Vỹ đứng bên, tôi mới thực sự yên tâm cầm dao đấy, các đồng chí ạ. Chúng tôi là cặp anh em song sinh mà!”

Cả phòng mổ, anh chị em y tá cười theo. Ôi! Những giây phút đầm ấm tình người, tình đồng chí… làm thầy quên đi tất cả nỗi mệt nhọc lo lắng trên đời. Những giây phút sáng tươi, hạnh phúc.



CHƯƠNG 34
CA MỔ RUỘT THỪA CHO JACQUES,
HÀNG BINH PHÁP. PHÚC HOẠ KHÔN LƯỜNG

Có một lần, lần này khá đặc biệt; ấy là ca mổ ruột thừa cho một hàng binh Pháp tên là Jacques, con một nông dân nghèo ở Provence. Ông nội bị bọn Đức giết hồi chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Jacques chỉ mong sao chiến tranh Việt Nam mau kết thúc để trở về quê hương. Giữa năm 1948, Jacques bỏ quân đội Pháp, chạy sang hàng ngũ ta, được đưa từ Hoà Bình về… Jacques không muốn cầm súng nữa, và thể theo nguyện vọng của anh hàng binh Pháp, Chính uỷ Trung đoàn sắp xếp cho anh ta được làm “y tá” ngay trong đơn vị của thầy. Y tá là nói cho vui, cho ra vẻ, cũng như Toành, khiêng cáng, băng bó là chủ yếu. Và Jacques đã làm việc hết lòng, không tiếc sức…

Chẳng biết Quỷ xui Trời khiến thế nào, ca mổ cho Jacques cũng là… ruột thừa!

Bước vào phòng mổ bác sĩ Đức nhún vai, cười nói: “Anh Vỹ, ca mổ này chúng ta phải hoàn thành thật tốt, không chỉ để cho nhân dân Pháp thấy rằng, dù cuộc chiến tranh đẫm máu do chính họ gây ra trên đất nước ta, chúng ta vẫn không đánh mất đi tình cảm con người, tình hữu nghị giữa hai dân tộc. Mà còn hơn thế, để cho nước Pháp của Louis Pasteur, Alexandre Yersin hiểu rằng, những công lao và tri thức của các thầy thuốc Pháp ở trường Y khoa Hà Nội không phải là uổng phí”.

Sau ca mổ, được cứu sống, cái tình cảm của Jacques đối với những người anh em Việt Nam quả là không kể xiết. Hai lần thoát chết, cái ơn nặng trên đầu, trên vai anh hàng binh Pháp khiến chàng ta nhiều khi không kiềm chế được xúc động. Thấy thầy ở đâu, Jacques cũng muốn dừng lại để… nói chuyện!

Trong đơn vị bộ đội chỉ có bác sĩ Đức và thầy là nói chuyện được với Jacques bằng tiếng Pháp.

Y tá Toành nhiều lần bắt gặp Jacques và thầy chuyện trò. Mặc dù chẳng biết lấy một chữ Tây, Toành đôi lúc vẫn cố tình kéo ghế ngồi sát bên hóng chuyện, theo dõi…

Đó là chứng cớ Trời cho, Đội khiến để sau này Toành tố giác thầy trên đấu trường:

“Vỹ! Chính mi đã nhiều nần âm mưu thông đồng với Pháp!

Ngày xưa Pháp dạy mi lói tiếng Tây để mi giao dịch với chúng ló, rồi nại còn dạy mi cầm dao mổ để rạch bụng, giết hại chiến sĩ đồng bào ta! Có đúng không?

Chính mi đã nhiều nần lói chuyện với thằng Tây Giắc. Mi lói gì hồi ấy mi tưởng tao không biết hả? Thưa bà con lông dân, thằng Vỹ với thằng Tây Giắc, hai đứa cùng giơ cao tay nên trời như thế lày lày, xong rồi nại còn cúi đầu chọc chọc hai ngón tay xuống đất. Rồi cười hà hà! Cười cái gì? Cười cái mả cha chúng bay hả? Chúng ló nại “ùm ùm oàng oàng” ra hiệu thông đồng với nhau, báo cáo mật cho Tây ló biết, để Tây ló đưa máy bay đến bỏ bom vào đơn vị quân đội chúng ta đấy bà con lông dân ạ. Bà con có biết không? Thế lày chứ… Có nần thấy tôi đến bên thế nà hai đứa im bặt, nấm nét đưa mắt nhìn nhau. Tôi mới nghĩ... Chúng mày giấu nàm sao lổi tao, có mà ông đi guốc vào trong bụng chúng mày! Tao biết hết!

Thưa bà con lông dân, quân Chủ nực của Cách mạng! Thằng Vỹ ló cấu kết với đế quốc Pháp để giết hại bà con như thế đấy bà con ạ!”

“Đả đảo! Đả đảo!”

Tiếng đả đảo vang lên, trời long đất lở khắp cả đấu trường.

Thầy ngẩng đầu lên nhìn Toành, mặc dù lệnh của ông Đội trưởng và yêu cầu của Quân Chủ lực Nông dân là “tên Vỹ phải cúi đầu xuống”.

Thầy nhìn Toành bằng ánh mắt ngạc nhiên hơn là căm thù. Có thể cái hôm ấy lúc kéo ghế ngồi bên cạnh Vỹ và Jacques, Toành đã tin một cách thành thật và ngây thơ như thế chăng? Ừ có thể lắm. Ôi trời cao đất dày! Địa ngục Trần gian này thật đen tối man rợ khôn cùng!

Toành cúi đầu xuống, tránh cái nhìn của thầy. Hình như anh ta nhận ra chẳng phải riêng thầy mà chính mình nữa, đều là những con người. Còn con quỷ vừa sinh ra, mới trỗi dậy trong người Toành, thì chính anh ta cũng không biết nó ở đâu ra, từ đâu tới? Và Toành luống cuống…

Nhưng rồi nghĩ cho cùng thì Toành cũng chỉ là loại ký sinh trùng ăn theo bé li ti, đã thấm tháp nhầm nhò gì so với bọn khổng trùng ký sinh khủng khiếp cỡ Lê Xuân Tái, người cầm đầu công cuộc Cải cách Ruộng đất trời long đất lở của cả Thanh Hoá quê ta!

Tái quê đâu ở Thiệu Hoá, nguyên là anh cấp dưỡng bếp núc cho mấy ông Tỉnh uỷ, mới qua khỏi nạn mù chữ, được Đội bồi dưỡng kết nạp Đảng, bỗng nhiên vụt dậy như một hung thần, giương cao liềm búa của hai Bác Xít-Mao, giáng Cái Chết xuống đầu các bậc tiền bối Cách mạng, vô hiệu hoá loại trừ tất cả các cựu đảng viên Cộng sản ra khỏi hàng ngũ đồng chí, xua đuổi tống cổ sang hàng ngũ bè lũ quân phản động chống Đảng, phá hoại Cách mạng!

Tái trở thành Thần Chết, nỗi lo sợ khủng khiếp của toàn thể cán bộ đảng viên tỉnh Thanh Hoá.

Mọi cử động hành vi của hắn: lắc đầu, gật đầu, xua tay, mím môi, nhăn mặt, hắt hơi, cười khì, trợn mắt… và nhất là chữ ký ngoằn ngoèo, vòng lên hay quặp xuống như con sâu, con ốc… đều có ảnh hưởng quyết định tới số phận sống chết con người.

Ấy là chưa kể tới những tên đồ tể lừng danh mà Trời nghe Trời cũng giật mình: Đặng Thí trong Liên Khu Tư, Hồ Viết Thắng ngoài Trung ương… Mấy anh này có thể ngủ gật, vừa chơi cờ tú lơ khơ mà… ký duyệt án tử hình cả mấy cái cùng một lúc!

Vậy thì để bụng, trách cứ làm chi cái thứ y tá Toành này!

“Đả đảo! Đả đảo! Có khổ nói khổ nông dân vùng lên! Vùng lên!”

Chẳng có ai đứng lên bảo vệ cho Mai Duy Vỹ cả.

Jacques đã hồi hương về Pháp sau Hiệp định Genève.

Bác sĩ Đức về lại Hà Nội thủ đô. Trong một bức thư gửi tay thầy nhận được ông ấy báo tin mừng mình đã về kịp, đúng lúc vợ con “đang bị địch cưỡng ép” xuống Hải Phòng, di cư vào Nam. Vợ chồng tái hợp. Hạnh phúc, sung sướng…

“Nhà tôi gửi lời kính thăm anh. Cháu Hà, con gái tôi, nhắn mời chú Vỹ ra chơi. - Bác sĩ viết - Chúng nó dành riêng một phòng trên gác 3 để chú Vỹ nằm và nghỉ ngơi. Ở phố Hàng Bông này dẫu có lúc ồn vì người xe qua lại, nhưng phòng nghỉ khuất vào phía sau, trên cao, rất yên tĩnh… Nga Sơn - Hà Nội cách nhau chẳng bao xa. Vỹ ra chơi, Vỹ nhé! Chúng tôi chờ!…”

“Đả đảo! Đả đảo!”

Quanh mình thầy chỉ thấy những nắm đấm, gậy gộc, dây thừng, giáo mác, súng trường giơ lên. Bầu trời đầy mây, sũng nước. Trời sắp mưa. Từng tia chớp rạch da trời, bật loé những vệt máu. Sự thật - Chân lý cũng chỉ loé lên rồi tắt.

“Đả đảo! Đả đảo!”

“Muôn năm! Mu…uôn… Nă…ăm!”

CHƯƠNG 35
THỊ KÍNH VÀ CÁI RÂU MỌC NGƯỢC.
MAI DUY VỸ VỚI CÁI RUỘT THỪA

Thầy trở mình, nghĩ miên man. Trần gian này sao nhiều cái “Thừa” thế nhỉ?

Nhớ chuyện bà nội con kể… Ngày xưa Thị Kính vì quá yêu chồng, thấy chồng có cái râu mọc ngược trên cằm, cầm dao bổ cau đưa lên định cắt cái râu mọc vô tổ chức, thiếu ý thức kỷ luật đó, thì ông chồng đang ngủ gà ngủ gật tự nhiên giật mình mở mắt ra. Hắn ta la toáng lên. Rồi cả nhà hô hoán. Thế là Thị Kính chịu cái oan tày trời: Giết chồng! Con dao cau đây! Tang chứng rành rành đây!

Hồi ấy thầy mới lên 8 tuổi. “Tại sao cô Kính không lấy cái nhíp nhổ râu cho chồng như thầy vẫn nhổ râu, hở mẹ?” Câu hỏi ngây thơ của bố Vỹ lúc ấy không chỉ làm cho bà và ông nội con cũng phì cười. “Thời xưa ấy làm gì có nhíp. Người lớn thường nhổ râu bằng cách cấu hai đầu móng tay vào chân râu rồi giật… Các bà nhà quê đôi khi lại lấy hai hạt thóc nhám kẹp lại nhổ tóc sâu tóc bạc cho nhau. Cái kẹp, cái nhíp nhổ râu… ờ hình như từ lúc thằng Tây nó sang đô hộ ta mới có…”

Sau này, có lần cầm tới cái pince kẹp bông băng, gắp kim tiêm, động tay tới con dao mổ… thầy lại bâng khuâng nhớ tới Thị Kính. Ả ta đúng là một người thật thà, vụng dại, có thể nói là ngu nữa mới chuốc lấy cái oan tày trời đó.

Mình đâu có ngu dại như Thị Kính? Cái râu mọc ngược thì kệ mẹ nó, đụng đến làm gì. Cũng như cái ruột thừa, nó đang bình thường tự nhiên thì cứ để nó yên vị, khi nào nó sưng thối mới rạch bụng người mà cắt bỏ đi chứ!

“Nhưng mà… bố Vỹ ơi! Có ai đây vừa lên tiếng cãi lại… Thị Kính cắt râu vì ả thấy nó mọc ngược, xấu xí, khó coi. Ả yêu chồng, muốn làm đẹp cho chồng đấy chứ! Mai Duy Vỹ cũng vậy thôi. Y sĩ mổ bụng, cắt ruột thừa là để cứu mạng sống cho con người. Ông ta thương người, không muốn con người phải chịu đau khổ, tang tóc nên mới cầm tới con dao mổ! Có đúng không?”

Thầy lưỡng lự… Chưa biết nên gật đầu hay lắc đầu?

Cái tiếng ai vừa nói đó tưởng đã im rồi lại cất lên:

“Thế nhưng… đồng chí thầy thuốc kính mến ạ. Cần phải nói cho rõ thêm. Thị Kính mang cái án giết chồng mà rồi người ta đâu có xử tử hình! Thị chỉ phải vào Chùa nhẫn nhục tu hành một thời gian. Và sau khi chết già rồi lại còn được minh oan! Còn Mai Duy Vỹ thì sao? Sau khi để người ta đổ cái núi oan lên người, xâu vào cổ, ngoắc vào đầu… rất có thể ngày mai đây, Đội Cải cách sẽ ra lệnh cho các đồng chí Lê Trạch Đông, Hĩm Xoa, Cò Toe, y tá Toành… tử hình, bắn chết!

Ôi! Cái thời Thị Kính xưa phong kiến tối tăm u mê vậy mà pháp đình lại còn văn minh nhân đạo hơn cái thời Dân chủ Cộng hoà đến thế!” 




CHƯƠNG 36
MỔ RUỘT THỪA CHO THẰNG CU CON CÒ TOE. CÁI “NƯỠI CƯA” CỦA Y TÁ TOÀNH

Lại vòng vo Tam Quốc cùng Mao Chủ tịch bên Tàu sang tới Lê Trạch Đông bên ta, cùng với các đồng chí bần cố nông Hĩm Xoa, Cò Toe, Toành… về với cái ruột thừa của thằng cu con Cò Toe mổ cắt tối hôm đó.

Mổ xong rồi, thầy dặn vợ chồng Cò Toe, người nhà bệnh nhân, cho thằng bé uống nước cháo 3 ngày, sau đó ăn cháo trắng dăm ngày nữa… để vết mổ được hồi phục, trở lại bình thường. Cái hồi đói kém ấy, dân ta ăn cháo dăm ba ngày là chuyện bình thường, có khó khăn gì mà không thực hiện được. Nhưng chẳng hiểu sao, mới về nhà được một hôm, bà con thương cháu, có ai đó đã đem xôi và thịt lợn tới cho thằng bé ăn. Nghe đồn, lại còn cho ăn cả củ từ chấm mật nữa? Thế là, thằng bé lên cơn sốt, ôm bụng quằn quại. Ruột nó bục ra rồi, Trời cũng không cứu được. May ra có Đội… Nhưng năm 1952 đó làm gì đã có Đội! Nó chết!

Thầy đã mất công giải thích, mấy người trong bệnh viện cũng hết lời khuyên nhủ… Vợ chồng cò Toe xem ra đã có phần chấp nhận thông suốt. Cái số nó Trời không cho sống, phải chết là… đúng thôi. Họ bảo nhau vậy.

Nhưng đến cơn Trời long Đất lở, sục sôi Đấu tố này thì bố mẹ thằng bé, vợ chồng Cò Toe được y tá Toành mớm, ông Đội trưởng bơm… lại hùng hổ chồm lên, nhảy tới xỉa xói thầy…

“Vỹ! Mày giết con tao! Mày rạch bụng nó ra, nhét vào trong bụng nó một lưỡi cưa làm cho ruột đứt tung. Nó mới ôm bụng kêu la từ chiều tới nửa đêm gần sáng rồi… chết?”

Thầy ngạc nhiên không hiểu sao lại có chuyện nhét lưỡi cưa vào trong bụng? Lưỡi cưa gì nhỉ?

Nhất Đội nhì Trời! Bà con nông dân được Đội phóng tay phát động, vùng lên đấu tố thì trí tưởng tượng ngày xưa có một… bà đẻ ra trăm trứng… có một cái nỏ chỉ cần bắn phựt một mũi tên là giết chết tới cả ngàn thằng địch… cũng đều trở nên nghèo nàn vô vị.

Chứng cớ là, thằng Vỹ nó ngồi ở Nga Sơn, giả bộ cầm ống lắng úp lên ngực bệnh nhân nghe tim mạch, nhưng thực ra là để bắt tin tức của gián điệp ngoài Phát Diệm gọi vào!

Chứng cớ là, máy bay Pháp có lần thả xuống sau vườn nhà thằng Vỹ một quả bom câm; mở quả bom ra trong đó có cả một túi thuốc độc và một cái bị rất chi là to, toàn truyền đơn với truyền đơn!…

Bà con nông dân đã không nói thì thôi, chứ đã nói ra rồi thì cái gì cũng đúng cả. Đúng thôi chưa đủ, còn là Chân lý nữa. Ông Trời nghe, dẫu có lắc đầu cho rằng sai, nhưng ông Đội gật đầu bảo rằng đúng thì cuối cùng… bà con nông dân, Quân Chủ lực của Cách mạng vẫn đúng!

Khi ngón tay trỏ của vợ Cò Toe dí lên trán thầy làm thầy mất cân bằng loạng choạng suýt ngã ngửa, thầy vẫn ngơ ngẩn về chuyện cái lưỡi cưa nằm trong bụng thằng bé. Thầy từ tốn xin phép Đội được hỏi bà Toe xem cái lưỡi cưa ấy là lưỡi cưa gì? Bà Toe ngớ ra, quay đầu nhìn lên mấy ông bà Đội cầu cứu. Để gỡ bí nguồn cơn rắc rối, y tá Toành đang ngồi ở hàng đầu đám Quân Chủ lực vụt đứng dậy la lên:

“Cái nưỡi cưa của Pháp dùng để cưa cổ mấy ống thuốc tiêm ấy, chứ còn nưỡi cưa lào lữa! Nại còn khéo giả vờ giả vịt!

Nưỡi cưa ống tiêm thủy tinh, ló dài bằng hai đốt ngón tay, mỏng như cái ná núa… Vỹ! Mày còn chối lữa không?”

Đám đông nông dân bần cố bỗng nhiên ồn ào.

À ra vậy. Cái lưỡi cưa đựng trong hộp thuốc của Pháp, có lần thầy nhờ Toành cưa giùm một ống Quinoforme. Chẳng biết cưa thế quái nào mà ống tiêm thì vỡ, mảnh vụn rớt ra bàn, rơi cả xuống nền nhà. Tay chân anh ta lúc nào cũng… hậu đậu!

“Vỹ! Mày đã nhét cái nưỡi cưa đó vào bụng thằng bé, mày có chịu nhận tội không?”

“Dạ có”. Thầy ngẩng đầu lên nhìn mấy ông bà Đội. Những khuôn mặt bẩm sinh đã có cái vẻ chai lỳ tự nhiên vốn chỉ để cho thần thánh xui, ma quỷ khiến. Hơn cả thiên tai địch họa, họ đã làm cho long trời và lở đất. Khổng Tử, Lão Tử… Tử gì đi nữa, có sống lại, trước mắt họ rồi cũng phải cúi đầu chắp tay lại: “Vâng, tôi ngu…”

Quay sang nhìn Toành, chẳng hiểu sao thầy không căm ghét mà chỉ thấy thương hại. Quả thật bọn đế quốc đã ban phát cho Mai Duy Vỹ cả một kho tri thức, còn lũ phong kiến thì sao không san sẻ bớt cho Toành lấy một ống bò, một bốc… dăm hạt rơi vãi gọi là những thứ đó.

Quả là bất công, phi lý! Cần phải đạp đổ, phá sạch tan tành. “Du passé faisons table rase… Bien! Très bien”. Đúng! Rất đúng!

Toành hoàn toàn chẳng có lỗi gì khi sinh lòng ganh ghét với mình, còn mình thì đúng là có tội!

Đã sinh ra bất công rồi thì phải san bằng, cào lấp, tiêu diệt bất công cho đến khi nào trên đời này chẳng còn bất công nữa. Cách mạng là vậy. Lúc bấy giờ, chủ nghĩa Cộng sản thắng lợi trên toàn thế giới. Trái đất là một vườn hoa thắm. Người lớn, trẻ con nhảy múa, vui chơi ca hát. Trong trường học, các thầy cô giáo chắc phải vất vả lắm mới giải thích cho học trò hiểu được hai chữ “bất công!”

Cái Tâm của thầy con ạ, không hiểu sao, bao lâu rồi cũng ngập tràn niềm vui sướng hân hoan đó.

Ánh mắt thầy dừng lại trên khuôn mặt của Toành (anh em có người đùa cho là giống mặt ngựa). Anh ta ngoảnh đi. Tự nhiên thầy buột miệng nói:

“Dạ kính thưa Đội và bà con nông dân. Con đúng là người đã bỏ cái lưỡi cưa của ông Toành vào bụng cháu bé. Chưa đủ, con còn nhét thêm vào đó cả cái kéo, cái xê ranh tiêm thuốc nữa! Ha ha!”

Rồi thầy lắc đầu cười sặc sụa. Cười y hệt như lúc ở nhà vui với bạn bè, đùa nghịch với các con vậy. Thầy không còn nghe gì tiếng la hét, tiếng hô “đả đảo” đang ầm ào cả biển sóng bên lỗ tai ù đặc. Sau hai lần đấu, tiếng ầm ào cũng đã quen tai, nghe chẳng to hơn tiếng vo ve của con ong ruồi kia từ đâu bụi cây sau “khán đài” đấu trường, thấy động bay vào tới đây, đang lượn quanh đầu thầy… Cặp cánh, râu, càng nó đang gại gại sống mũi, vo vo bên tai mình: “Vỹ ơi! Làm sao thế? Có lẽ nào?” Thầy muốn trả lời nó: “Ong ơi! Giống loài cần mẫn, hữu ích, đáng yêu quý như em mà rồi con người vẫn có lúc chì chiết miệt thị: nuôi ong tay áo! Thế giới này đầy bất công phi lý! Lời nói của con người nhiều khi thật ngu xuẩn và ác độc!”

Thầy dừng lại, kinh hoàng chợt nghĩ: Ta đã hoá điên rồi sao?

Ngơ ngác nhìn quanh, đầu gục xuống, không khóc mà sao nước mắt cứ trào ra…

CHƯƠNG 37
TRUNG THU TRĂNG SÁNG…
CHUYỆN CHỒNG KỂ SAY SƯA,
VỢ NGHE ĐẰM THẮM

Trở về với câu chuyện đêm Trung thu năm 1950…

Sau khi mổ ruột thừa cho thằng bé xong, thầy trở về nhà vào lúc 10 giờ đêm.

Tội nghiệp mẹ con! Bị chồng đánh đã không để bụng giận chồng lại còn như biết lỗi nữa! Vịm cháo gà mẹ nấu ủ trong chăn đợi thầy về vẫn còn đủ hơi nóng. Ăn xong thầy tỉnh cả người.

Vợ chồng lại làm lành, thương yêu nhau. Mẹ sụt sịt khóc, hứa sẽ không bao giờ hỗn hào nông nổi như thế nữa.

Chiếc giường gỗ của thầy kê đặt trong buồng riêng, hai cửa sổ hai phía thông thoáng, từ đầu đêm tới bất chợt lúc nào trong tháng cũng thấy bóng trăng tròn hay trăng khuyết.

“Lệ Uyên đã ngủ rồi, mẹ nói, lúc mình về nó không biết”. Mẹ nằm xuống bên cạnh thầy. Cái tiếng “mình” ai vừa nói đó làm lòng thầy dịu lại, mềm đi…

Thầy kể cho mẹ con nghe về Bác Hồ

Bác Hồ hiện đang sống trên chiến khu Việt Bắc. Bác không có gia đình, không có vợ, chẳng có con… Một đời Bác hy sinh cho dân tộc, đồng bào… Hai mươi lăm triệu dân mình, hai mươi lăm triệu đứa con cháu yêu của Bác. Bác là vị cha chung của tất cả chúng ta.

Mẹ bảo, Bác Hồ mắt sáng như sao, người Bác đẹp thế, ai cũng thương yêu kính trọng, Bác muốn lấy cô nào mà chẳng được? Sao Bác không lấy một bà, để bà ấy nâng khăn sửa túi, lại còn phòng khi đau ốm, tuổi già đến, trái gió trở trời?…

Thầy nói, Bác còn thì giờ nào nữa, ngày đêm cùng mấy ông Trung ương, lãnh đạo toàn quân, toàn dân đánh giặc cứu nước, lo cho đồng bào ai cũng được ăn no, ai cũng được học hành… Bác mà cũng như chúng ta, ngày đêm vợ kè kè bên, con cái vướng víu… thì cái trí làm sao cho tĩnh, cái tâm bằng cách nào yên; còn hơi sức nào nữa mà lo cho dân từ bát cơm đến cái kim, sợi chỉ…

Mẹ hỏi, thế còn mấy ông trên Trung ương thì sao? Có ông nào cũng không vợ không con như Bác?

Thầy bảo, mấy ông ấy đều có gia đình riêng, vợ con tử tế cả. Chỉ có riêng mình Bác thôi là phải hy sinh trọn một đời cho dân cho nước vậy. Nghe mấy ông trên Tỉnh kể, có 8 đồng chí suốt ngày đêm ở bên Bác chăm lo bảo vệ Bác; 8 người ấy có tên riêng do Bác đặt cho là: Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi.




CHƯƠNG 37
TRUNG THU TRĂNG SÁNG…
CHUYỆN CHỒNG KỂ SAY SƯA,
VỢ NGHE ĐẰM THẮM

...

Mẹ cười, ồ vui nhỉ. Thích thật, mấy ông đó được sống bên Bác suốt đời. Còn mình thì chỉ mơ được gặp Bác thôi, nhưng biết đến bao giờ?

Thầy bảo, khi nào kháng chiến thành công, thế nào Bác cũng về lại Hà Nội, có khi về cả Thanh Hoá, Nga Sơn nữa. Theo lời mấy ông trên Tỉnh kể, thì cuối năm 1946 - đầu 47 Bác Hồ có về Thanh Hoá. Tại Rừng Thông, Bác nói chuyện động viên hậu phương Thanh Hoá hãy giốc hết sức người sức của cho tiền tuyến. Bác còn tranh thủ ghé qua Phát Diệm gặp Giám mục Lê Hữu Từ cùng các cha cố, khuyên bảo họ hãy củng cố và phát triển mối tình đoàn kết lương - giáo, cùng toàn quân toàn dân góp sức đánh đuổi giặc Pháp xâm lược…

Trên đời này có lẽ chẳng có ai được như Bác cả, người mà ở đâu, lúc nào cũng được dân quý, dân thương…

Thầy say sưa nói đất nước mình từ xưa tới nay chẳng có ai sánh được với Bác Hồ. Bà Trưng, Bà Triệu, ông Trần Hưng Đạo, ông Lê Lợi, ông Nguyễn Trãi, ông Quang Trung… ông nào cũng thua kém Bác. Còn trên thế giới thì sao? Kể ra thì có những người còn vĩ đại hơn Bác. Chẳng hạn, ông Mác, ông Ăngghen, ông Lênin, ông Xít-ta-lin…

Mẹ hỏi, có phải mấy ông Tây râu xồm, thầy nó dán ảnh lên tường không?

Thầy bật cười, ừ mấy ông đó. Còn Bác Mao nữa. Bác Mao người Trung Quốc, trông còn trẻ và khoẻ. Bác Mao không có râu. Trên mép dưới cằm đều nhẵn nhụi. Mình nhìn thấy ảnh Bác Mao rồi chứ? Bác Mao có khi… e còn vĩ đại hơn Bác Hồ. Cũng phải thôi, Trung Quốc những 600 triệu người, mình chỉ có 25 triệu, mới bằng một tỉnh của họ… Bác Mao vĩ đại hơn Bác Hồ. Đúng thế. Nhưng cái tấm gương cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, yêu nước thương dân, yêu quí trẻ con… thì chẳng có ông nào bằng Bác Hồ của ta cả!

Mẹ hỏi, thế còn Đức Chúa, Ông Phật?

Thầy cười, Chúa Phật là mấy Ông Duy Tâm, dân chúng người ta mê tín thì họ cúng vái vậy thôi, chứ làm sao sánh được với Bác Hồ!

Ngoài trời, lúc bấy giờ trăng sáng lắm. Gối đầu lên tay thầy, mẹ giơ tay chỉ ông trăng ngoài cửa sổ, vằng vặc giữa trời cao. Ánh trăng trong và mát tắm gội đất trời, không chỉ làm cho cây cỏ hoa lá ngoài vườn mà cả lòng người cũng sạch thơm tươi thắm. Gió rì rào từ ngoài biển xa, qua đồng cói vào tới đây dìu nâng, mơn vuốt, làn điệu côn trùng năn nỉ, tỉ tê… như muốn nhắn nhủ cho con người hiểu rằng ai được sinh ra ở cõi đời này, xứ sở đất nước này là có hồng phúc, là gặp vận may không chỉ riêng cho bản thân mà cho cả gia tộc… tới muôn đời sau!

Hồng Phúc, Vận May như ánh trăng kia lai láng đời đời vô tận!

Thầy rưng rưng nhìn trăng nói: “Mình xem, Bác Hồ như vầng trăng kia, rọi sáng khắp muôn nhà…”

Rồi nhắc nhủ mẹ phải cố gắng, cố gắng nhiều hơn nữa, đừng có kêu ca phàn nàn. Sự hy sinh, chịu đựng của gia đình ta so với đồng bào, đồng chí cả nước chỉ là hạt cát, hạt mẵn… chẳng là cái nghĩa lý gì hết!
Thầy lại kể sang chuyện gia đình Bác Hồ.

Đâu phải chỉ mình Bác, hai người anh và chị của Bác đều không lập gia đình. Ông Cả Khiêm không lấy vợ, bà Thanh không lấy chồng. Cả hai đều hiến dâng đời mình cho công cuộc đánh đuổi giặc Pháp xâm lược, giành lại độc lập tự do cho đất nước.

Ở thời buổi ấy, ngay đến cả những ông Vua ngồi trên ngai vàng như Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân rồi cũng phải cảm nhận được nỗi đau mất nước, thấy thân phận mình cũng chỉ là người dân nô lệ. Cả ba vua đều nổi dậy chống Pháp, rồi bị đày đi biệt xứ, chung thân tại mấy hòn đảo bên Châu Phi xa lắc…. Số phận mấy ông quan có lòng yêu nước thương dân cũng thê thảm bi đát.

Ông thân sinh của đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng ta là một biểu tượng xót thương đáng ghi nhớ. Đậu Thủ khoa chữ Hán, được bổ làm quan Tri phủ một tỉnh ở Miền Trung… Ông luôn luôn dằn vặt, đau lòng trước cảnh dân lành bị đói khổ, chà đạp dưới ách nô lệ áp bức của thực dân Pháp và Nam triều.

Một lần, bất tuân lệnh của thượng cấp, không thể đang tâm đưa lính đi đàn áp cuộc nổi dậy chống thuế của nông dân địa phương, bố của Trần Phú, vị quan nhà Nguyễn dào dạt lòng nhân đạo và khí tiết… đã lặng lẽ thòng dây treo cổ tự vẫn ngay tại phủ đường nơi ông đang làm việc!

Mối thương đau, nỗi hờn căm này sẽ không bao giờ nguôi ngoai trong lòng người con của ông là Trần Phú!

Còn trường hợp Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh ra Bác Hồ cũng vậy… Ông quan Tri huyện ở một tỉnh miền Trung này cũng đau lòng nhức óc vì thảm cảnh của đồng bào xẩy ra thường ngày, đến nỗi ngày ăn không ngon, đêm ngủ chẳng yên! Đã nhiều lần cụ chứng kiến những trận mưa roi bọn lính cò cẩm Pháp trút lên thân mình đám phu đường, các tù nhân chính trị ở nhà đày…

Và có lần tận mắt thấy viên quan lại Nam Triều lè nhè say trong khi ngồi trên ghế ở Huyện đường, đã cầm cây gậy lim to tướng quật nện xuống giữa đầu người nông dân vô tội, khiến cho gáo anh này vỡ toác, máu óc vữa ra lênh láng, gục ngã xuống nền nhà, chết ngay tại chỗ…

Cụ Phó bảng tưởng đâu mình cũng ngất xỉu chết theo! Vài ngày sau, cụ viết đơn gửi lên Chính quyền Pháp và Nam triều xin cáo quan, từ chức!

Kinh tởm chế độ thực dân thuộc địa, chán ngấy bước đường làm quan, Cụ Phó bảng Sắc vào thẳng trong Nam Bộ lặng lẽ sống đời của một lương dân, làm thuốc Nam chữa bệnh cứu người!

Cả gia đình Bác để phúc, dành đức cho dân tộc mình!

Mẹ mới chen ngang vào hỏi thầy, rứa thì Phó bảng là cái chi? Thầy phải dừng lại cắt nghĩa dài dòng cho mẹ hiểu. Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, các ngôi thứ trong khoa bảng được sắp xếp từ thấp lên cao theo ba kỳ thi: Hương, Hội, Đình.

Kỳ thi Hương, Triều đình chọn một số thí sinh đậu thấp gọi là Tú tài, số cao hơn gọi là Cử nhân. Tú tài không được làm quan, chỉ được phép dạy học và làm thơ như ông Tú Xương chẳng hạn. Cử nhân thì được làm quan, thường nhậm chức tri huyện… Đỗ đầu khoa thi Hương này, đè sấp đè ngửa tất cả các ông Cử nhân được gọi là Thủ khoa, hay còn gọi là Giải nguyên. Ông thân sinh ra Trần Phú là người chiếm ngôi thứ này.

Thời xưa đậu Thủ khoa-Giải nguyên danh tiếng đã lẫy lừng. Như cụ Phan Bội Châu chẳng hạn, năm Canh Tý 1900, chiếm gọn cái Thủ khoa xong là cụ đi thẳng sang Nhật, chẳng cần ngoái đầu lại… Cụ Phan thi là để lấy tiếng, đâu có cần miếng. Tiếng nghĩa là uy tín đối với giới sĩ phu, tầng lớp trí thức, lòng ngưỡng mộ kính yêu của dân chúng, đồng bào; để khi cần đề ra đường lối, chủ trương kêu gọi toàn thể quốc dân tham gia phong trào cách mạng, thì lời nói việc làm của Cụ dù là ở đâu, lúc nào cũng sẽ được đa số người dân Việt đồng tình ủng hộ, tham gia ngay!

Còn miếng, có nghĩa là thi đậu để ra làm quan thì… xin lỗi… Cụ ỉa vào! Thầy văng tục làm mẹ phì cười. Là tri huyện, tri phủ, tổng đốc, thượng thư ư? Ngay từ lúc cất tiếng khóc chào đời, Cụ Phan đã khóc cho cái thân phận mình là làm người dân nô lệ rồi! Khác với các sĩ phu yêu nước cùng thời, một số vị do hoàn cảnh ép buộc, cũng phải dính tới cái miếng, nghĩa là có ra làm quan cho Nam triều một thời gian, trước khi cởi bỏ mũ áo quan trường, tham gia các trào lưu cách mạng… Cụ Phan căm ghét Pháp từ lúc mở mắt chào đời, muốn đánh đuổi thực dân ra khỏi nước, xoá bỏ chế độ phong kiến nô lệ; từ thuở còn là nhi đồng đã bày trò chơi diệt Pháp-Lan-Tây cho các bạn nhỏ trong làng… Còn nói gì tới cái miếng nhơ nhớp, xa lạ, khốn khổ ấy! Không có ai sáng giá, hùng vĩ như Phan Bội Châu lúc bấy giờ. Và Phan Chu Trinh… Một con người kỳ diệu. Cụ sinh trước và mất trước Găng-đi… Vậy mà… nguồn sáng tư tưởng Cụ không chỉ tương đồng mà lại còn vượt trội trước Găng-đi! Một nhân vật lịch sử mà dân tộc Việt Nam, loài người chúng ta rồi sẽ gặp lại và còn suy nghĩ…

Thầy lại nói thêm về cái miếng cho mẹ hiểu đầy đủ hơn.

Lúc Pháp mới sang, cái miếng lại càng cuốn hút người ta bởi nhiều mùi vị khác lạ tân kỳ. Ngày xưa, nói của đáng tội, các cụ ta làm quan cũng nghèo. Bây giờ làm quan có nghĩa là tiền của, giàu sang. Chẳng thế mà Pháp mới sang buổi sáng, buổi chiều đã có anh cắp ô đi làm cho Pháp ngay. Tiêu biểu nhất cho bọn người này là Tôn Thọ Tường. Cũng phải kể thêm hai anh em họ Dương: Dương Khuê, Dương Lâm - hai con chó săn của Tây, hai thằng Việt gian. Có ai đời ông bạn thâm giao Nguyễn Khuyến khuyên “biết thôi thôi thế thì thôi mới là”, họ Dương vẫn không chịu nhả ra, vẫn đớp lấy, ngoạm chặt cái miếng “đẩu thăng”… Rượu sâm banh, sữa bò, chơi đĩ, hát ả đào… là những cái khoái “ngây ngây dại dại” của hai tên quan ô nhục này!

Thầy say sưa dẫn giảng cho mẹ nghe những chuyện trong đời sống lịch sử của dân tộc Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ qua, mà không hiểu sao đêm nay, thầy thấy gần gũi mật thiết với mình đến thế! Khác nào một con chiên mới theo Đạo, muốn giải bày cho bạn tình nghe về những “mặc khải” (revelation) trong người mình, Đạo Mác Lênin cũng đang phơi phới dâng trào làm ngập cả cõi lòng thầy.

Im lặng một hồi lâu. Tưởng mẹ đã buồn ngủ, nhưng không, mắt mẹ mở to, vẫn muốn nghe thầy kể chuyện.

Mẹ nhắc lại là, thầy vẫn chưa nói rõ Phó bảng là cái chi, còn Thám hoa nữa… là gì? Làm sao Cụ Tổ họ Mai nhà ta lại gọi là Cụ Thám?

Thầy mỉm cười, gắng dẫn giải sơ lược nhưng rõ ràng hơn cho mẹ hiểu. À, thế này chứ… Thi Hương xong người ta lại thi Hội. Trừ cụ Phan Bội Châu ra, ai người ta cũng vác lều chõng tiếp tục kỳ thi Hội. Thi Hội là để chọn Tiến sĩ, còn gọi là ông Nghè. Ông Cử đã được phép làm quan nhưng là quan nhỏ; còn ông Nghè thì được làm quan lớn hơn; chẳng hạn, án sát, tuần vũ, tổng đốc…

Kỳ thi Hội này, có những người tuy không đậu được Tiến sĩ nhưng cũng đậu được… cái thấp hơn, gọi là Phó bảng. Cũng có thể gọi là Á Tiến sĩ. Dẫu chưa được gọi là Nghè, nhưng vẫn được ra làm quan, dĩ nhiên… Cử nhân còn được làm quan kia mà! Có điều, cũng là chuyện tất yếu thường tình, nhiều ông Phó bảng thường mang cái cục u uất, bất mãn trong người như khối u vậy. Học tài thi phận, chỉ cần gắng thêm một tí, may mắn hơn một chút, là cái ông Nghè đã… nằm trong tầm tay với rồi!

Tuy nhiên, lại cũng tuỳ thời, tuỳ người… Chẳng hạn, ông Nghè Trần Quý Cáp vào làm quan ở Khánh Hoà lại gặp tay Tú tài Phạm Ngọc Quát từ trong Nam ra. Phạm Ngọc Quát nghe đâu là ông nội hay bố đẻ ra Phạm Ngọc Thạch, Bộ trưởng Bộ Y tế của ta thời bây giờ? Tiến sĩ họ Trần dẫu học rộng tài cao cũng vẫn ngồi hàng quan chức thấp hơn Tú tài họ Phạm, là tay chân của Pháp. Vụ án tày trời do Phạm gây ra cho Trần về mấy tội: đọc sách cấm Tân thư, hoan hỉ đồng tình với bà con nông dân nổi loạn chống thuế ngoài Quảng Nam, treo một tấm bản đồ thế giới ở đầu giường, trong phòng ngủ… đã khiến ông Nghè Trần Quý Cáp phải chịu xử tử hình thương tâm, rùng rợn, đau đớn bên cầu Sông Cạn ở thành Diên Khánh: chém ngang lưng!

Mẹ ôm ghì lấy thầy, xuýt xoa: Trời ơi! Thương quá! Tội quá! Các cụ mình thời xưa sao lắm người khổ sở đau đớn thế!

Thầy dẫn giải tiếp:

Sau kỳ thi Hội, mấy ông Tiến sĩ lại tiếp tục thi Đình. Người đậu đầu kỳ thi Đình, gọi là Trạng nguyên. Trạng nguyên là ngôi cao nhất, người đứng đầu khoa bảng thời xưa. Dưới Trạng nguyên, thấp hơn một chút, Triều đình chọn thêm một người nữa là Bảng nhãn, còn gọi là Á Trạng…

Từ thời Lê trở về trước, các khoa thi Đình, đều có tuyển chọn. Từ thời Nguyễn trở đi, không rõ vì sao Triều đình không tuyển chọn Trạng nguyên nữa; chỉ còn có Bảng nhãn, thậm chí cho đến thời Tự Đức chỉ còn lại Thám hoa, sang thời Thành Thái chỉ còn có Hoàng giáp…

Ông Cụ tổ họ Mai nhà ta đậu Thám hoa thời Tự Đức. Cũng coi như là Trạng nguyên… làm quan một dạo rồi xin về quê mai danh ẩn tích.

Càng về khuya, trăng càng sáng. Trời trong vắt, không một gợn mây. Qua cửa sổ, thời gian và không gian như lắng lại cùng hoà làm một. Thầy thấy mình ngây thơ nhỏ bé trước Nhân dân và Tổ quốc, rưng rưng cảm nhận ra sự lớn lao của hạnh phúc được làm một người dân Việt… Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội Chủ nghĩa dĩ nhiên là họ sung sướng hơn mình rồi; nhưng còn các nước tư bản và những nước ở quanh ta như Ấn Độ, Nam Dương, Thái Lan, Mã Lai… thì sao? Chắc chắn là lạc hậu tăm tối hơn ta nhiều vì họ không có đảng Cộng sản dẫn lối đưa đường, lại càng không thể có một lãnh tụ kiệt xuất anh minh như Bác Hồ!

Nghĩ vậy, mà nước mắt cứ rưng rưng và trong tim mình như cũng ứa lệ. Cảm ơn Đảng, cảm ơn Cách mạng đã sinh con ra đúng thì đúng lúc… Chẳng phải như ai cùng lứa tuổi, thế hệ với con mà rên rỉ kêu than là “đầu thai lầm thế kỷ, lạc loài dăm bảy đứa” đến nỗi “quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh”…

Mẹ con lại hỏi, vậy thì ai mới được gọi là nhà cách mạng?

Trước hết, người đầu tiên phải nhắc tới là Bác Hồ Chí Minh, Cha già dân tộc…

Thầy vừa nói đã nghẹn lời vì xúc động. Rồi lần lượt kể tên: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Văn Thụ, Ngô Gia Tự…

Thầy dừng lại như đứng trước biển, đang ngợp đi vì những đầu sóng dạt xô vào bờ.

Khách quan mà kể thì ba ông vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân cũng là ba nhà cách mạng - những nhà cách mạng lớn! Chấp nhận tù đày, đặt Tổ Quốc lên trên hết, không chịu làm nô lệ, coi ngai vàng nhẹ như chiếc lông hồng… hy sinh tất cả để dành lại độc lập, tự do cho Đất nước… Như vậy, nếu không là Cách mạng thì là gì?

Cũng phải kể tên những người kế tiếp sau đó: Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thiện Thuật, Lương Ngọc Quyến…

Mẹ đưa ra một nhận xét: Trong danh sách những nhà cách mạng Việt Nam thì đa số là đàn ông nam giới, đàn bà nữ giới không nhiều.

Mẹ hỏi, chị Nguyễn Thị Minh Khai là ai, nghe nói cùng quê Nghệ An với Bác Hồ, có bà con gì với Bác không?

Thầy giảng giải cho mẹ hiểu: chị Minh Khai là vợ của đồng chí Lê Hồng Phong. Cả hai vợ chồng chị cùng với Trần Phú, Hà Huy Tập… đều là học trò của Bác. Thầy và trò đây có nghĩa ở trường đời, trường Cách mạng… chứ không phải trường học đơn thuần dạy a b c dành cho trẻ con đâu! Thầy tức là người đi trước, người đào tạo, rèn luyện… truyền lại những kinh nghiệm đấu tranh, dắt dẫn đường lối chủ nghĩa Mác Lênin…

Chị Minh Khai là người đàn bà Việt Nam đầu tiên sang Liên Xô, đất nước của Lênin. Lê Hồng Phong bị Pháp bắt, đày ra Côn Đảo và chết ở ngoài đó. Còn chị Minh Khai thì chết trong khởi nghĩa Nam Kỳ. Bọn Pháp đưa chị lên máy chém.

Nghe thầy kể cái lưỡi máy chém nặng cả bảy tám chục cân từ trên cao phập xuống, chặt đứt cổ lìa đầu các chiến sĩ cách mạng! Những năm trước đó là Nguyễn Thái Học cùng các đồng chí trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái và bây giờ, năm 1942, là Nguyễn Thị Minh Khai… Mẹ con sợ quá, rúc đầu vào ngực chồng rùng mình: “Trời ơi, bọn Pháp chúng nó ác quá, dã man quá, chặt đầu cả một người đàn bà!”

Vợ chồng Lê Hồng Phong - Nguyễn Thị Minh Khai sinh được một bé gái, đặt tên là Hồng Minh… thầy kể thêm. Nghe nói một thời gian dài họ phải gửi Hồng Minh cho các đồng chí cưu mang, nuôi giùm để đi hoạt động cách mạng. Có đâu được như bé Lệ Uyên nhà mình, ngày đêm bố mẹ nuôi dưỡng, ông bà chăm sóc…

Trước khi chết, chắc chị Minh Khai nhớ thương con lắm. Mẹ thở dài. Thế bây giờ cháu bé nó ở đâu? Ở bên Trung Quốc à? Giá như cháu ở gần đây, ngay tỉnh Thanh, nhà mình đem về nuôi thì hay biết mấy. Thương quá!

Thầy gật đầu đồng tình. Nhà ta những năm 40 cũng đã từng nuôi giấu các chiến sĩ Cộng sản trong nhà. Cái giường gỗ em và bé Uyên nằm bây giờ, mấy ông Cộng sản vượt ngục ra… đã từng yên giấc.

Vừa lúc đó, bé Uyên u ơ khóc trong nhà đòi mẹ. Thầy bảo mẹ vào với con.

vừa chợp mắt một lúc thì mẹ lại quay trở ra. Nghe thầy ú ớ hỏi, mẹ xuỵt bảo im… Thầy hiểu ý. Lúc ấy vào khoảng hơn một giờ khuya. Mảnh trăng đã đi khuất sang bên kia mái nhà.

Đêm ấy, mẹ có thai. Bé Thụ, em trai của con mới thật là cậu út của cả nhà.

Em con chết khi vừa đầy năm. Dạo ấy thầy phải đi họp, học tập chỉnh huấn chính trị trong Nghệ An. Ở nhà chẳng có ai biết cứu chữa, cũng không tìm đâu ra thuốc uống để cầm dứt chứng ỉa chảy, dịch tả…

Về tới nhà thầy mới biết tin. Em bé đã chôn cất được hai ngày rồi. Ôi...!


Ngày Long Trời Đêm Lở Đất (tiếp theo)

-