by Le Tung Chau, Khởi đăng ngày Oct. 5, 2023 | tái tục ngày Dec. 2, 2025
phần ghi trong ngoặc vuông [ ] là do LTC phụ chú
phần ghi trong ngoặc vuông [ ] là do LTC phụ chú
Bạn đọc thân mến,
Trong khi chờ đợi làm tiếp các Posts chủ đề cuộc chiến vệ quốc và kiến quốc của VNCH hai mươi năm [*] đang còn dang dở, LTC xin cống hiến bạn đọc Mục "Đọc Báo Miền Nam", trích ra từ các nhật báo cũ mà tôi hiện có, dùng kỹ thuật OCR (Optical character recognition) chuyển nguyên văn từ Image sang Text rồi edit lại một đôi chỗ cho đúng nguyên bản.
Đây là nơi ưu tiên tuyển lựa những tin tức nổi bật có giá trị lịch sử, những bài xã thuyết hoặc nhận định thời cuộc hoặc bình luận sắc sảo nóng hổi thời chiến trên hai mặt:
— về mặt quân sự, vệ quốc: bè lũ CSBV từ miền Bắc kéo quân vào xâm lăng miền Nam bị QLVNCH anh dũng đánh trả khiến chúng thua xiển liểng trên hầu hết các chiến trường.
— về mặt chính trị: bọn ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản ở miền Nam nối giáo cho giặc, đâm sau lưng chiến sĩ, làm tôi tớ cho tà quyền Cộng sản Hanoi, không ngừng lén lút tung mưu hèn kế bẩn hòng khuấy đảo nhân tâm, phá hoại cuộc sống yên lành của người dân Nam; mặt khác chúng còn phá rối chính quyền Quốc Gia, đè thêm gánh nợ đời vốn đã thừa trĩu nặng trên vai Tổng Thống Thiệu và Chánh phủ VNCH.
— Ngoài ra, miền Nam còn bị gặm nhấm sinh lực bởi một bọn người thừa cơ đục nước béo cò, nhân cơn khói lửa chiến tranh, ra sức múa rối trên vũ đài chính trị; hoặc thậm thụt đầu cơ tích trữ, buôn lậu làm lũng đoạn kinh tế quốc gia, làm chảy máu nội lực quốc gia đang rất cần sự ưu khỏe để đảm đương cuộc chiến vệ quốc.
— về mặt kiến quốc: trong tình thế đất nước phải chiến đấu sống còn trước dã tâm xâm lăng nhuộm đỏ của khối cộng sản quốc tế Nga - Tàu qua tập đoàn tay sai cộng sản Ba Đình, thế nhưng VNCH vẫn không ngừng hoàn thiện mọi mặt sinh hoạt, từ văn minh giáo dục, xã hội, cho đến khuếch trương kỹ nghệ, và khai phóng tri thức, bắt kịp đà tiến bộ kỹ thuật — technology — của nhân loại ngõ hầu dọn đường sẵn cho thời kỳ hậu chiến mau chóng tái thiết và phát triển xứ sở.
Trong sức lực và thiện chí của một cá nhân, tôi cố gắng phân loại nguồn báo chí nói trên ra thành nhiều đề mục, và chuyển tất cả thành Text làm thành một kho lưu trữ quý báu cho pho Sử VNCH và Sử Quốc - Cộng hai mươi năm mà tôi nghĩ sẽ vô cùng hữu ích cho mọi chung tay ngày mai tái thiết quốc gia Việt Nam hậu cộng sản.
LTC Kính Cáo
Oct. 05, 2023
Trong khi chờ đợi làm tiếp các Posts chủ đề cuộc chiến vệ quốc và kiến quốc của VNCH hai mươi năm [*] đang còn dang dở, LTC xin cống hiến bạn đọc Mục "Đọc Báo Miền Nam", trích ra từ các nhật báo cũ mà tôi hiện có, dùng kỹ thuật OCR (Optical character recognition) chuyển nguyên văn từ Image sang Text rồi edit lại một đôi chỗ cho đúng nguyên bản.
Đây là nơi ưu tiên tuyển lựa những tin tức nổi bật có giá trị lịch sử, những bài xã thuyết hoặc nhận định thời cuộc hoặc bình luận sắc sảo nóng hổi thời chiến trên hai mặt:
— về mặt quân sự, vệ quốc: bè lũ CSBV từ miền Bắc kéo quân vào xâm lăng miền Nam bị QLVNCH anh dũng đánh trả khiến chúng thua xiển liểng trên hầu hết các chiến trường.
— về mặt chính trị: bọn ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản ở miền Nam nối giáo cho giặc, đâm sau lưng chiến sĩ, làm tôi tớ cho tà quyền Cộng sản Hanoi, không ngừng lén lút tung mưu hèn kế bẩn hòng khuấy đảo nhân tâm, phá hoại cuộc sống yên lành của người dân Nam; mặt khác chúng còn phá rối chính quyền Quốc Gia, đè thêm gánh nợ đời vốn đã thừa trĩu nặng trên vai Tổng Thống Thiệu và Chánh phủ VNCH.
— Ngoài ra, miền Nam còn bị gặm nhấm sinh lực bởi một bọn người thừa cơ đục nước béo cò, nhân cơn khói lửa chiến tranh, ra sức múa rối trên vũ đài chính trị; hoặc thậm thụt đầu cơ tích trữ, buôn lậu làm lũng đoạn kinh tế quốc gia, làm chảy máu nội lực quốc gia đang rất cần sự ưu khỏe để đảm đương cuộc chiến vệ quốc.
— về mặt kiến quốc: trong tình thế đất nước phải chiến đấu sống còn trước dã tâm xâm lăng nhuộm đỏ của khối cộng sản quốc tế Nga - Tàu qua tập đoàn tay sai cộng sản Ba Đình, thế nhưng VNCH vẫn không ngừng hoàn thiện mọi mặt sinh hoạt, từ văn minh giáo dục, xã hội, cho đến khuếch trương kỹ nghệ, và khai phóng tri thức, bắt kịp đà tiến bộ kỹ thuật — technology — của nhân loại ngõ hầu dọn đường sẵn cho thời kỳ hậu chiến mau chóng tái thiết và phát triển xứ sở.
Trong sức lực và thiện chí của một cá nhân, tôi cố gắng phân loại nguồn báo chí nói trên ra thành nhiều đề mục, và chuyển tất cả thành Text làm thành một kho lưu trữ quý báu cho pho Sử VNCH và Sử Quốc - Cộng hai mươi năm mà tôi nghĩ sẽ vô cùng hữu ích cho mọi chung tay ngày mai tái thiết quốc gia Việt Nam hậu cộng sản.
LTC Kính Cáo
Oct. 05, 2023
$pageIn
Phân đoạn 1
#Chính Luận Sept. 28, 1972 trang hai
(Bài 001) Tầm Mức Quan Trọng Trong Việc Gọi Đích Danh Các Tổ Chức Cộng sản tại Việt Nam – THEO LỜI KHUYÊN CỦA CHÁNH PHỦ by Á Trình
❁ LTC: Xin lưu ý bạn đọc:
✑ những nhãn - đề mục như vầy là cốt để phân loại – một cách tương đối – các bài báo, bản tin v.v... và nhờ đó bạn đọc sẽ dễ xác định nội dung cần đọc, tra cứu.
✑ tuy nhiên, có một lưu ý cần thiết với bạn đọc là, những gì tôi chọn lọc phục hồi lại ở đây từ các trang báo cũ miền Nam Quốc Gia, là không hoàn toàn đủ, mà đấy chỉ có thể gọi là một phần nào, một tập hợp nhỏ chứng cứ tiêu biểu cho từng đề mục mà thôi, bởi vì trong mười năm với riêng 2 tờ nhựt báo Chính Luận, Tiền Tuyến thì số báo đã lên đến hơn 6.000 tờ rồi, mỗi tờ 8 trang. Chưa kể các báo khác như Hòa Bình, Cấp Tiến v.v...
✑ Vì thế, công việc phục hồi nội dung giá trị - giá trị về mặt Sử liệu cũng như về các bình diện khác: xã hội, văn hóa, giáo dục, nghệ thuật, kỹ thuật, công kỹ nghệ v.v... - hiện hữu trong số lượng đồ sộ hơn 10.000 số báo cũ miền Nam, thì phải cần đến một Toán chuyên viên lành nghề, cùng với phương tiện máy móc dồi dào, đắc dụng, cùng nhau làm việc miệt mài trong dài ngày.
Còn LTC với sức lực có hạn của người làm việc một mình cùng phương tiện nghèo nàn, ít ỏi của một người, thì không thể nào làm tròn hết dù rất mong muốn, và vì thế xin bạn đọc xem đây chỉ là một cố gắng hết mình có thể được của một cá nhân thôi.
Danh chính, Ngôn thuận
Danh bất chính, Ngôn bất thuận tất sự bất thành
(Khổng Tử)
Chính danh là một chủ trương lớn trong học thuyết chính trị của Khổng gia. Theo Khổng Tử, sở dĩ thiên hạ nhà Chu lâm vào cảnh đại loạn suốt hơn 500 năm là vì giữa danh xưng sự vật và sự việc trong thực tế đã không phù hợp nhau nên mới có cảnh vua không ra vua, cha không ra cha, con không ra con và trong cái mớ xã hội xà bần thủa đó không còn cách nào để phân biệt chính và tà, gian và ngay, đúng và không đúng, nói theo triết lý Tây phương thì đã xây hiện tượng không phù hợp giữa tư tưởng và sự vật.
Ngày nay việc dùng danh từ trong lãnh vực chính trị cũng là một vấn đề quan trọng, nhiều nhà chính trị nổi tiếng như Churchill, De Gaulle chẳng hạn, trước hết là những nhà ma thuật về ngôn ngữ, quần chúng thường bị lôi cuốn vào lý luận của các chính trị gia vì ngôn ngữ hùng hồn của họ.
CS vốn sở trường về tuyên truyền, ngôn ngữ đã chiếm hơn một nửa trong nghệ thuật tuyên truyền nên CS đã dành cho ngôn ngữ và danh từ do chúng đặt ra một địa vị quan trọng. ví dụ những danh từ như " Việt gian, phản động " là cả một công cụ đàn áp tinh thần đối với quần chúng, ghê gớm không kém gì súng đạn và những thủ đoạn khủng bố mà chúng vẫn thường dùng, hơn nữa chính những danh từ nói trên đã giúp chúng hợp lý hóa và hợp thức hóa những thủ đoạn tàn nhẫn của chúng trước con mắt mọi người.
Cuộc chiến đấu giữa Dân chủ và Cộng sản tại Việt Nam trên bình diện quân sự có từ lâu, cuộc chiến đấu chính trị từ trước đến nay vẫn được dùng, nhưng những danh từ như đấu tranh chính trị với Cộng sản thực ra mới được đề cập mới đây và nó được đánh dấu như một chuyển hướng đấu tranh trong tương lai một khi im bặt tiếng súng.
Trong chiều hướng đó, gần dây các báo hàng ngày vừa đề cập đến một lời khuyên của Phủ Tổng Thống minh định rõ những danh từ thường được dùng để gọi và chỉ các tổ chức Cộng Sản đề tránh mọi sự nhầm lẫn nguy hại.
Kiểm điểm lại những danh từ để chỉ Cộng sản
CSVN là một tổ chức của Cộng Sản quốc tế, ai cũng biết, vậy nhưng nếu những người CSViệt Nam công khai tự tuyên bố trước dư luận rằng họ là Cộng Sản thì sự việc đã không có gì rắc rối, đen trắng rõ ràng, thiện ác dễ phân biệt. Ngặt vì bọn Cộng sản Việt Nam lại xảo quyệt thường ẩn núp dưới những danh từ khác để đánh lừa dân chúng chỉ vì họ biết dân chúng Việt Nam ghê sợ họ. Vì vậy, việc đầu tiên của họ Hồ khi nắm chính quyền tại miền Bắc là giải tán đảng Cộng Sản Đông Dương để rồi núp sau danh xưng “V.N. Cách mạng đồng minh" hay là Việt Minh, danh từ đó có nghĩa là những người cách mạng Việt Nam cùng thề với nhau giải phóng đất nước. Từ trước đến nay hai danh từ cách mạng vẫn được nhân dân VN kính trọng và có kẻ lại coi nó như một thứ phép lạ để giải quyết mọi vấn đề. Nhưng hai danh từ Việt Minh vẫn không ổn vì cộng sản đã sớm loại hết mọi đồng minh bằng sắt máu.
Đúng lý ra tại VN chỉ có 2 hạng người làm chính trị là Việt Cộng và Việt Quốc đề phân định ranh giới giữa quốc gia và CS quốc tế. Nhưng bọn CSVN lại luôn luôn che đậy nhãn hiệu CS của họ để đánh lừa nhân dân rằng họ cũng là phân tử quốc gia VN, vì vậy mà họ thay thế đảng Lao động vào đảng CS trong thời kháng Pháp; chỉ sau này khi đất nước chia đôi họ mới ra mặt nhận họ là những người chủ trương thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc. Tại miền Nam sau 54 một chánh phủ quốc gia thuần túy ra đời đặt CS ra ngoài vòng pháp luật vì vậy nên vào năm 60 bọn cộng sản hoạt động tại miền Nam dựng lên MTDTGPMN để che đậy nhãn hiệu CS và che dậy sự chỉ huy của CSBV đặng lừa dối dân chúng miền Nam trong kế hoạch tuyên truyền xích hóa của họ.
Để chi rõ tên rõ mặt bọn hoạt động cho CS tại miền Nam, danh từ VC thường được dùng đến và thói quen của các nhà báo nước ngoài, danh từ VC được dùng để chỉ những phần tử CS miền Nam, người Mỹ thường dùng bằng danh từ “vi xi”, phiên âm của hai chữ VC theo tiếng Mỹ để gọi CS miền Nam vì vậy mà vô hình trung người ta có thể lầm CS miền Nam hoạt động dưới danh từ MTGPMN là một tổ chức riêng của bọn người này khác với tổ chức CS tại Hà Nội.
Sau cuộc “tổng khởi nghĩa" Tết Mậu Thân, bọn Cộng sản miền Bắc và miền Nam thấy rằng dân chúng miền Nam tự do không chấp nhận chế độ và chủ nghĩa Cộng sản nên vội thay hình đổi dạng một lần nữa với danh từ “chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam" trong đó MTGPMN chỉ là một thành phần mà thôi, chúng lập ra chính phủ ma này với mục đích để có phần trong cuộc hội đàm Ba lê và để đòi cho được sự tham gia chúng vào một chánh phủ “3 thành phần” sau này.
Ý nghĩa chính danh của chính phủ VNCH
Theo lời khuyên của chính phủ thì từ nay các báo chí không nên dùng danh từ "Việt cộng" nữa vì danh từ này đã bị thói quen dùng sai để chỉ bọn cộng sản miền Nam và cũng không nên dùng danh từ "MTGPMN" nữa, vì tổ chức này không bao giờ thực sự có tại miền Nam. Mục đích của sự chính danh này là để xóa bỏ một thói quen tai hại đưa đến những sự diễn giải nội dung chính trị sai lầm.
Theo chính phủ thì hiện nay MTDTGPMN chỉ là một bộ phận trá hình của CS miền Bắc, chúng chịu sự chỉ huy trực tiếp về mọi mặt quân sự, chính trị của CSBV, miền Nam không có CS mà chỉ có CS miền Bắc, bọn này hiện đang xâm lăng miền Nam, vi phạm thỏa ước Giơ ne năm 54, hơn nữa sau vụ Tết Mậu Thân, hạ tầng cơ sở và mọi hình thức hoạt động của MTDTGPMN đã bị loại từ vật chất đến pháp lý. Hiến Pháp Đệ nhị Cộng Hòa đặt CS và mọi hình thức ngụy trang của CS ra ngoài vòng pháp luật. Hiện nay cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam là do CSBV chủ trương cho nên “cái gọi là MTDTGPMN, CPCMLT” cũng chỉ là những hình thức che đậy của CS, chúng không thể nhân danh ai ở miền Nam vì chúng chỉ là công cụ của CS miền Bắc.
Hệ quả chính trị và pháp lý theo sự chính danh này thật quan trọng.
Trước hết theo thuyết chính danh này thì sự có mặt của bọn Nguyễn Thị Bình tại hội đàm Ba Lê là phi pháp vì tổ chức này chỉ là một công cụ của Hà Nội, sau nữa cái “gọi là chính phủ cách mạng lâm thời" không dân, không đất, không trụ sở, đừng nói đến thủ đô, chắc chắn không có danh nghĩa và pháp lý của một chính phủ, chúng cũng không phải là một chính phủ "lưu vong” nữa vì chưa bao giờ chúng muốn mang hai chữ lưu vong mặc dù trên thực tế chúng đang ăn gởi nằm nhờ Hà Nội. Như vậy chúng không có quyền đòi hỏi gì và cũng không có quyền ăn nói. Hiểu như vậy thì hiện nay chánh phủ VNCH đang đánh nhau với chánh phủ VNDCCH CS Bắc Việt, nếu như có một giải pháp chính trị đề chấm dứt chiến tranh thì hai chánh phủ này phải nói chuyện với nhau.
Thứ nữa, ý kiến cho rằng muốn chấm dứt chiến tranh, người Việt phải nói chuyện với người Việt để tìm một giải pháp chính trị, cũng phải được hiểu cho cặn kẽ hơn. Danh từ người Việt ở đây quá mơ hồ theo thuyết chính danh vì người Việt Cộng Sản tức Việt Cộng không có căn bản pháp lý tại miền Nam, không có sự hiện diện vật chất trong chế độ VNCH hợp pháp. những tổ chức như MTDTGPMN hay CPCMLTMN chỉ là những tổ chức 'ma' do cộng sản Bắc Việt đặt ra để làm tay sai. Như vậy chúng không thể nhân danh ai dứng ra đòi hỏi thành lập một “chánh phủ hòa hợp dân tộc 3 thành phần" như hiện nay chúng chủ trương ở Ba Lê. Nhưng theo bản tuyên bố ngày 27 tháng Giêng 1972 của TT Thiệu thì người Việt cũng có thể nói chuyện với người Việt được để chấm dứt chiến tranh miễn là người “Việt" bên kia từ bỏ hàng ngũ, từ bỏ vũ khí trở về với tư cách thường dân nói chuyện trong khuôn khổ Hiến Pháp VNCH. Đó giải pháp lý tưởng, nhưng nếu có những người Việt bên kia trở về với điều kiện nói trên chắc chắn họ chẳng có tư cách gì để nói chuyện mà cũng chẳng có chuyện mà nói, có được nói cũng chẳng ai nghe. Đó là vấn đề.
Có lẽ chính danh trước rồi sự thành sau
Lời khuyên bỏ hẳn những danh từ “VC”, 'MTDTGPMNV’ hiện đã được hai đài phát thanh và phát hình áp dụng triệt để, báo chí cũng đã mau lẹ áp dụng theo lời khuyến cáo chánh thức. Từ đây trong ngôn ngữ mất hẳn hai danh từ này, đó là một “bước tiến chánh trị” song song với những thắng lợi quân sự. Một vật gì không được ai nhắc đến lần lần hết công dụng hay muốn có công dụng phải thay đổi danh xưng. Cuộc chiến tranh hiện nay đang đi vào chiều hướng chấm dứt nên mọi cố gắng giản lược càng nhiều càng hay những vấn đề phức tạp để những người có trách nhiệm tìm giải pháp được dễ dàng, như vậy người ta có thể nghĩ rằng việc loại bỏ hai danh từ trên nằm trong kế hoạch tìm một giải pháp trong tương lai.
Báo chí Việt Nam đã thực hiện lời khuyến cáo còn báo chí nước ngoài thì sao, liệu họ có vì lười biếng mà dùng theo thói quen không ? Điều tốt hơn hết là một vật gì khi đã không còn được nói đến thì tìm cách thủ tiêu nó đi cho rảnh mắt vì dần dần người ta sẽ quên hẳn nó, như vậy sau khi chính danh còn phải đập tan các tổ chức Cộng Sản nữa thì sự mới thành.
Chinh danh xong sự mới thành, hay sự thành rồi mới chính danh, mọi rắc rối nằm trong quá trình thuận và nghịch nêu trên!
#Chính Luận Sept. 28, 1972 trang hai
(Bài 002) Thị Trường «Chính Khứa» by HỒNG DƯƠNG
LTC:
– Đây là Tiểu khảo về Chính khách và Đảng phái tại miền Nam Quốc Gia của Ký giả Hồng Dương [ ** ] , một cây bút chủ lực và xuất sắc của nhựt báo Tiền Tuyến nói riêng và của làng báo chí Quốc Gia nói chung.
– Tiểu khảo Thị Trường «Chính Khứa» của Ký giả Hồng Dương đăng làm 20 kỳ trên #Tiền Tuyến, bài khởi đầu đăng trên trang nhất #Tiền Tuyến Feb. 21_22, 1971 và đăng rải rác những ngày tiếp theo, không hoàn toàn liên tục bởi vì có những ngày có tin tức cần loan hơn đã chiếm hết đất của các cột báo. Kỳ cuối (thứ 20) đăng trên trang nhất #Tiền Tuyến Mar. 27, 1971.
Đây không chỉ là một khảo sát tình hình chung về các hoạt động chính trị phong phú tại miền Nam Tự Do mà còn là một bức tranh khắc họa không khí tự do chính trị tại VNCH với tất cả điểm hay và dở của sự tự do ấy. Do đó, công trình tiểu khảo ý vị, sâu xa và độc đáo của ký giả kỳ cựu Hồng Dương còn có giá trị ở chỗ thực hiện một biên niên sử thu nhỏ về thế nào là tự do mà những bạn đọc nào ít thời giờ chỉ cần đọc xong là cũng có thể thấu rõ tính tự do nội tại của VNCH như thế nào. Đồng thời nếu bạn đọc lấy nền tự do ấy để làm một so sánh, đối chiếu với chế độ Cộng sản miền Bắc thì SỰ THẬT sẽ được phơi trần: thế nào là Chánh Nghĩa Quốc Gia ở miền Nam, thế nào là bản chất gian tà ngụy tặc của Cộng sản miền Bắc ... sẽ càng lồ lộ ra rõ hơn bao giờ hết.
[ **: Hồng Dương vào làm trong tòa soạn Nhật báo Ngôn Luận khoảng năm 1957, 1958. Năm ấy Nhật báo Ngôn Luận đã sống vững, Chủ nhiệm Hồ Anh ăn nên, làm ra, có nhà in riêng, mở lớn tòa soạn, lấy thêm nhân viên là Hồng Dương, Phan Nghị, hai họa sĩ Văn Hiếu, Huy Tường.
Hồng Dương trẻ hơn tôi khoảng bẩy, tám tuổi, anh có tên Hồng Dương vì trước đó anh là võ sĩ Quyền Anh – boxeur – Lò Võ Hồng Việt. Tất cả những võ sinh Lò Hồng Việt đều có tên Hồng. Tôi quen ba võ sĩ Hồng Việt là Hồng Dương, Hồng Cương, Hồng Trực. Võ sĩ Hồng Dương từng lên đài trong những năm 1955, 1956.
Ký giả Hồng Dương Nguyễn Hữu Hùng đẹp trai, sống sạch, đàng hoàng, anh không ngồi cả buổi đấu láo, uống la ve ở tiệm như nhiều ký giả cùng thời, anh không nghiện ngập, anh có số đào hoa nhưng không bị tai tiếng, không bị nàng nào thù hận. Tôi thường nói về Hồng Dương với người ngoài làng báo: “Alain Delon của chúng tôi đấy.” (trích bài "Hồng Dương. Trịnh Viết Thành" của nhà văn Hoàng Hải Thủy posted on Dec. 3, 2012 trên Wordpress Blog Hoàng Hải Thủy)
#Tiền Tuyến Feb. 21_22, 1971 trang nhất
THỊ TRƯỜNG «CHÍNH KHỨA» by HỒNG DƯƠNG
#Tien Tuyen Feb. 21_22, 1971 trang nhất
Thị Trường «Chính Khứa»
Bài 01:
I
Lời Mở Đầu
Ngày nay, 2 tiếng chính trị không còn xa lạ đối với quảng đại quần chúng VN. Chúng ta lại cũng biết một cách thừa thãi rằng người làm chính trị được gọi là chính khách.
Nhưng chính trị không phải là một vấn đề mới mẻ, và chính khách cũng có thể là một chuyện có tính cách cổ tích. Kể từ loài người bắt đầu có cuộc sống xã hội sơ khai là đã có chính trị, do đó, đã có chính khách.
Tuy nhiên, hình như chưa một quốc gia nào, một xã hội nào lại hẳn một hiện tượng rõ rệt và phổ quát về tính chất «thị trường hóa» chính khách như ở xã hội VN ta ngày nay.
Nói cách khác thì hiện nay mỗi chính khách của chúng ta đều mang giá trị của một con vật hoặc đồ vật thương mại được (animal ou objet commerçable).
Do đó, cũng như tất cả những con vật và đồ vật thương mại được, nên chính khách của chúng ta có hẳn một thị trường, giống như thị trường...xe hơi, rau cỏ, gà vịt, trâu bò heo v.v....
Có thị trường tất có vấn đề giá cả, và cái giá cả đó lên xuống trồi sụt theo những quy luật riêng của nó. Tuy nhiên đôi khi giá cả trên thị trường chính khách cũng bị chi phối bởi một vài quy luật giống các quy luật kinh tế.
Chẳng hạn mức cung và cầu chênh lệch thì tất cả sẽ xảy ra một sự xáo trộn về giá cả. Ngoài ra, lại còn có vấn đề «mùa màng» cũng ảnh hưởng khá nhiều tới vật giá.
Mặt khác, lại cũng tùy... nhãn hiệu mà vấn đề giá cả khác nhau. Trên thị trường chính khứa hiện nay, các chính khách mang nhiều «mác» khác nhau giống như dầu cù là: Nào là cù là con Hổ, cù là con Mèo, cù là Mạc phu....
Bởi tất cả những điều đã trình bày ở trên, viết về thị trường chính khứa là cả một vấn đề phức tạp, chưa kể còn có thể gặp nhiều sự đụng chạm. Vì thế, người viết xin kính cẩn nhấn mạnh là phóng sự này được viết trong một tinh thần nhận xét phân tích vô tư. Nếu không vô tư với mọi người, thì ít nhất cũng là một sự vô tư đối với người viết.
Chẳng hạn khi người viết đề cập tới chính khách A, thì xin hiểu rằng không phải người viết muốn nói về cá nhân ông A mà là về cái bánh xe trong guồng máy xã hội.
Khi anh thợ máy bảo rằng cái bugi số 2 bị hư có nghĩa là chiếc bugi đó xài nhiều quá đã đến lúc cần thay thế, vì sợi chấu (trấu) hết còn bắt lửa được. Nếu để nó dơ, bộ máy sẽ trục trặc chứ không phải anh thợ máy hiềm thù cá nhân cái bugi số 2.
(Còn tiếp)
#Tien Tuyen Feb. 23, 1971
Bài 02:
II
Thường thường, nói tới chính khách, người ta hay nghĩ tới đảng phái. Ông chính khách A này là người của ĐV đấy, còn ông B kia là người của QDĐ, ông C là của TĐV v.v…
Kể ra, đề cập tới vần đề chính trị hay chính khách mà không nhắc tới chính đảng, là một một thiếu sót. Nhưng ở Việt Nam, nói tới chính đảng là cả một vần đề phức tạp về mọi khía cạnh. Chính đảng nhiều như lá vàng mùa thu, mỗi chính đảng lại phân hóa thành năm bảy hệ phái, mỗi hệ phái chia ra làm ba bốn khuynh hướng. Và điều bi đát nhứt là chả có khuynh hướng nào rõ rệt.
Thê thảm hơn cả, có lẽ hiện tượng có lẽ là hiện tượng có những chính đảng mà chồng là đảng trưởng và vợ, con, đầy tớ là đảng viên.
Bởi cái lẽ nêu trên, hai tiếng ‘chính đảng’ dần dần bị lố bịch hóa. Người tự trọng đôi khi nghe nói tới ‘chính đảng’ là phải đỏ mặt, do đó gần đây người ta ít dùng chữ ‘chính đảng’ mà thay vào đó người ta gọi bằng «lực lượng» tỉ như lực lượng DCXH. hoặc gọi bằng «phong trào» tỉ như phong trào QGCT.
Tuy nhiên, tự trong bản chất thì ‘lực lượng’ hay ‘phong trào’ hay ‘mặt trận’ hay ‘đảng’ thì cũng chẳng khác gì nhau: phân hóa, băng hoại, hoặc xôi thịt.
Vì vậy, người dân nói chung không còn tin tưởng được vào những đảng phái nữa.
Kém về tổ chức, phân hóa, băng hoại, lại không thâu phục được lòng tin của quần chúng, tức là yếu tố hậu thuẫn của nhân dân nên hầu hết đảng phái, phong trào, lực lượng … ở Việt Nam chỉ còn cái thùng rỗng.
Về điểm này, quần chúng ý thức được một cách rất rõ rệt. Cứ thử nhìn trở lại những cuộc bầu cử truớc đây ắt rõ. Không có một đảng phái nào đủ khả năng đưa người của mình vào các cơ quan dân cử. Bằng cớ rõ ràng hơn cả là trong kỳ bầu cử bán phần Thượng Viện hồi tháng 9-1970, nhiều chính khách của những đảng phái tên tuổi đã phải chạy chọt «nằm vùng» ở những liên danh không thuộc đảng mình. Nói là «nằm vùng» chứ thật ra là dựa vào những liên danh mà trong đó đa số ra ứng cử với tư cách độc lập với ứng cử viên đảng phái, là yếu tố quyết định.
Và rõ hơn nữa là kết quả cuộc bầu cử cho thấy, các liên danh đắc cử vào Thượng Viện vừa qua đều không mang danh nghĩa đảng phái nào. Một vài liên danh mang danh nghĩa đảng phái đã bị thất cử.
Ngay trong kỳ bầu cử Hạ Nghị Viện 1967 cũng vậy, đại đa số người đắc cử Dân Biểu đều không có đảng phái hoặc ít ra là cũng không đắc cử nhờ vào danh nghĩa đảng phái. Họ đắc cử hoặc vì uy tín cá nhân (rất hiếm) hoặc nhờ là gà của chính quyền hoặc nhờ là đệ tử ruột của …Đức Thánh Trần.
( còn nữa )
LTC chú thích: các chữ viết tắt trong bài này:
Có lẽ vì ngại đụng chạm nên tác giả Hồng Dương chỉ viết tắt tên các chính đảng mà thực ra tại miền Nam lúc bấy giờ, dù viết tắt cái tên đảng nhưng đọc qua ai cũng biết.
➯ ĐV: Đại Việt Quốc Dân Đảng, do lãnh tụ Trương Tử Anh sáng lập vào ngày 10-12-1939 tại Hà Nội, thường gọi là đảng Đại Việt. Năm 1964, ĐV bị tách ra thành 2 đảng mới: một là với đảng viên vào hàng cao cấp Hà Thúc Ký tách ra khỏi Đại Việt Quốc Dân Đảng để thành lập Đại Việt Cách Mạng Đảng do Hà Thúc Ký làm lãnh tụ (ĐVCM); và hai là, với hai đảng viên vào hàng cao cấp Nguyễn Ngọc Huy và Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, tách ra khỏi Đại Việt Quốc Dân Đảng để thành lập Đảng Tân Đại Việt (TĐV).
➯ QDĐ: thường viết tắt là VNQDĐ: Việt Nam Quốc Dân Đảng do lãnh tụ Nguyễn Thái Học thành lập vào ngày 25-12-1927 tại Bắc Việt.
Từ thời Thủ tướng Nguyễn Khánh (1964), VNQDĐ phân hoá thành 3 hệ phái:
— VNQDĐ Xứ Bộ Miền Nam: ông Nguyễn Hoà Hiệp và ông Trần Văn Tuyên (từ 1967). Hoạt động ở miền Tây Nam Phần.
— VNQDĐ Thống Nhất hay còn gọi là Kỳ Bộ VNQDĐ: ông Nguyễn Đình Lương (từ 1968), liên thủ với các nhóm VNQDĐ miền Trung, Tân Chính, Chủ Lực. Hoạt động ở Miền Trung.
và
— Trung ương Đảng bộ VNQDĐ: ông Vũ Hồng Khanh và ông Phạm Thái, từ 1969. Hoạt động ở Saigon. Vào ngày 1-5-1969, VNQDĐ hợp nhất 2 nhóm Trung ương thuộc Vũ Hồng Khanh và Xứ Bộ Miền Nam thuộc Nguyễn Hoà Hiệp vào làm một.
➯ DCXH: Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng, thường gọi tắt là Dân Xã Đảng, thành lập vào khoảng năm 1967-1968, một trong mấy hệ phái Hoà Hảo bắt nguồn từ Tổ chức (chưa thành Chánh đảng) Dân Xã Hoà Hảo nguyên thuỷ thời Đức Thầy (Giáo chủ) Huỳnh Phú Sổ tháng 8-1945. Do ông Trình Quốc Khánh làm lãnh tụ (Bí Thư Đảng).
➯ QGCT: thường viết tắt là PTQGCT. Phong trào Quốc Gia Cấp Tiến do Nguyễn Ngọc Huy, cựu đảng viên Đại Việt thành lập ngày 20-4-1969. Do đã mang danh phận Tổng Thư ký [ đứng đầu, tương đương Chủ tịch ] đảng Tân Đại Việt của mình rồi, nên Nguyễn Ngọc Huy e là mình sẽ hết quyền tư cách đứng đầu tổ chức chính trị mới này. Để thay cho mình việc đó, ông mời Thạc sĩ Nguyễn Văn Bông [ Thạc sĩ Công Pháp Quốc Tế ], là vị Giáo sư khả kính và là Viện trưởng Học Viện Quốc gia Hành Chánh lừng danh của VNCH, nơi đào tạo công chức cao cấp cho Chính quyền Quốc Gia, làm Tổng Thư ký Phong trào Quốc Gia Cấp Tiến. Giáo sư Bông nhận lời và Giáo sư Huy làm Phó Tổng Thư ký PTQGCT. Cơ quan ngôn luận của PTQGCT là tờ nhựt báo Cấp Tiến (thành lập năm 1969).
#Tien Tuyen Feb. 24, 1971 trang nhất
Bài 03:
III
Nói cho rõ hơn, thực chất của hầu hết đảng phái chính trị ở VN không có gì cả.
Ở những thời xa xưa, dưới sự thống trị của Tây thực dân, một vài đảng phái đã gây được tiếng vang lớn, một phần vì họ có được những lãnh tụ tài giỏi. Còn đầy ắp lý tưởng trong đầu, và tình yêu nước trong hồn. Những người này chỉ biết sống chết với cứu cánh giải phóng Dân tộc khỏi bàn tay thống trị của thực dân Tây.
Một yếu tố khác khiến cho đa số chính đảng thời xưa nổi tiếng là tính chất bí mật. Họ hoạt động trong bóng tối, và phương thức đấu tranh của họ gồm cả những hoạt động quân sự và bạo động. Một vài cuộc khủng bố, ám sát đủ gây tiếng vang.
Ngày nay, tình thế đã đổi khác, do đó, đòi hỏi những phương thức đấu tranh khác. Nhiều chính đảng đã gặp sự lúng túng trong việc tạo lập một quan niệm đấu tranh mới, lúng túng cả trong việc xây dựng một ý thức hệ và một chính sách chung.
Bởi vậy sự chia rẽ, phân hóa đã xảy ra trong nhiều nội bộ chính đảng. Thêm vào đó nhiều chính khách thời nay đã mắc phải căn bệnh «lãnh tụ lố bịch». Hơi bất đồng kiến là kiếm cách nhảy ra 1 đảng mới để được làm lãnh tụ, ngõ hầu dễ bề tranh phần xôi thịt lớn.
Ý thức chính trị của đa số chính khách xuất thân từ những chính đảng đã trở nên sa đọa.
Ở những quốc gia mới giải phóng khỏi ách thực dân, tinh thần dân chủ thường là con dao hai lưỡi và chúng ta quả là đã bị đứt tay vì nó. Nhiều người, hoặc bè nhóm đã lợi dụng tinh thần dân chủ để mưu tạo lập thế đứng riêng rẽ mà họ đinh ninh là sẽ gây được lợi ích cá nhân.
Do đó, đảng phái ở đây bị long mất hết rễ trong quần chúng, như con rết bị rụng hết chân.
Vì tinh thần vị kỷ, vì bệnh lãnh tụ lố bịch, chính đảng mọc ra như nấm. Chính đảng càng nhiều, thế lực của mỗi đảng càng suy yếu. Như bó đũa được cởi giây buộc và bung ra.
Ngày nay những ai còn đặt tin tưởng vào chính đảng quả là những người ngây thơ. Nhiều chính quyền gần đây đã mắc vào lầm lẫn đó. Họ tưởng qui tụ được một vài cái «lọ độc bình» là có thể tạo lập được một thế chính trị vững vàng. Sự thật lại trái lại! Thực tế đã chứng minh những chiếc «lọ cổ» chính trị đã hoàn toàn vô giá trị, và chỉ gây thêm sự lung lay cho chân ghế thế lực chính trị.
Trong giai đoạn này của đất nước, những người khôn ngoan không dựa vào chính đảng. Họ đi tìm sự hỗ trợ ở những thành phần nhiệt tâm, những thành phần ít ra còn giữ được lý tưởng trong vòng 10 năm nữa. Đây là một thử thách lớn đối với những người muốn làm công việc lãnh đạo.
#Tien Tuyen Feb. 26, 1971 trang nhất [ số ra ngày Feb. 25 tạm hoãn nhiều bài vở để đưa tin Đại tướng Đỗ Cao Trí tử nạn phi cơ trực thăng vào trưa ngày 23-2-1971 khi ông đang bay thị sát hành quân trên không phận tỉnh Tây Ninh giáp giới với Miên, trong chiến dịch Hành Quân Ngoại Biên của QLVNCH nhằm quét sạch hang ổ sào huyệt của bọn CSBV ẩn núp trên đất Cao Miên để rình rình đánh trộm vào Quân Khu III VNCH. Đại tướng Đỗ Cao Trí tử nạn cùng với 1 sĩ quan tùy viên của ông và 2 viên hoa tiêu khi phi cơ phát nổ. Người duy nhất sống sót (bị thương nặng) là ký giả Francois Sully của tờ tuần báo Mỹ Newsweek ]
Bài 04:
IV
Sự kiện người ta mất tin tưởng vào các chính đảng là một điều tai hại cho sinh hoạt chính trị, và do đó rất bất lợi cho công cuộc chiến đấu chống cộng sản. Nhất là trong giai đoạn sắp tới, mặt trận chính trị sẽ vô cùng sôi động và khốc liệt.
Trong khi đó, những người mang danh chính khách trong xã hội này ngày càng thấy xuất hiện đông đảo. Những người này hình như cũng ý thức được sự bất lực và bất xứng của chính đảng, nên họ đã không dám đứng hẳn vào một lực lượng nào. Cái từ ngữ "không đảng phái" trở nên hấp dẫn, như một bảngo hiệu "ăn khách."
Từ đó đưa tới tình trạng thị trường chính khách bị tràn ngập, mức cung vượt quá mức cầu. Tệ hại hơn là hầu như mỗi chính khách có một quan niệm chính trị riêng, một phương thức hoạt động riêng, một đường lối riêng, một chính sách riêng, v.v…
Hay nói đúng hơn, đại đa số chính khách ngày nay không ai có được một quan niệm chính trị đúng đắn và rõ rệt. Thậm chí, người mang danh chính khách, tham gia sinh hoạt chính trị, mà trong khi chưa hiểu chính trị là gì.
Nhận xét này thoạt nghe có vẻ quá đáng. Nhưng sự thật là như vậy. Nếu ai chịu khó theo dõi sinh hoạt ở Hạ Viện trong ba năm nay ắt thấy rõ. Đến nỗi có nhiều nhà báo phát ngớ ngẩn tự hỏi hoặc hỏi nhau «tại sao ông đó lại đắc cử.»
Nếu nhìn nhận các ông nghị viên cũng là chính khách, thì tình trạng còn đáng buồn hơn. Có những ông nghị chưa hiểu cái khác biệt giữa sắc luật với nghị định: chưa hiểu ngay cả quyền hạn của chính vai trò của mình.
Hiện tượng tràn ngập chính khách và là những chính khách chỉ có vỏ không có ruột đã đưa tới tình trạng quần chúng coi thường chính khách. Khi một món hàng bị quần chúng chê là hàng tồi, thì mãi lực của giới tiêu thụ về món hàng này sẽ giảm đi, do đó mất giá. Vì thế mới xảy ra tình trạng chính khứa... bán son.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Feb. 27, 1971 trang nhất
Bài 05:
V
"Cái thảm kịch ngày hôm nay là do chính trị." Cả trăm năm trước Napoléon đã có một nhận xét như vậy. Tất nhiên đó là thảm kịch đã xảy ra cho nước Pháp. Nhưng thảm kịch do chính trị cũng đã xảy ra cho xã hội VN ngày nay.
Hiệu tượng chính trị bị biến chất thành một thứ nghề (métier) để kiếm chác bả vinh hoa phú quý chính là một thảm kịch trước mắt thế hệ trẻ đang chuẩn bị hoặc vừa khởi sự dấn thân nhập cuộc.
Những người trẻ, đặc biệt là những phần tử trí thức trẻ, bị dồn tới chỗ phải cảm thấy như là mình bất lực trước những vận động lịch sử của dân tộc. (Hãy nên hiểu «phần tử trí thức là người đem lại giá trị cho những thứ mà tự chúng không có» — nói theo kiểu Paul Vardly — hoặc là «những người suy tư, không phải bọn lộng chữ, lợi dụng, bịp bợm và ăn bám», nói theo kiểu Henri Barbusse.)
Phần lớn những người đang làm chính trị cho tới hôm nay đã có một quan niệm chủ bại về chính trị. Cứu cánh của họ không phải là một cuộc cách mạng xã hội toàn diện, giải phóng dân tộc, và giải phóng thân phận con người. Cứu cánh của họ là nhà lầu xe hơi và quyền thế.
Tất nhiên làm chính trị là phải nghĩ tới quyền lực. Có quyền lực hay nói cách khác là có chính quyền trong tay mới khả dĩ chuyển được quan niệm, tư tưởng chính trị của mình thành hành động để giải quyết những vấn đề chính trị trong chiều hướng cách mạng cải thiện xã hội, tức là khunh hướng hướng thượng.
Nhưng ở đây, chúng ta thấy quyền lực vẫn chỉ là phương tiện — phương tiện hữu hiệu để đạt tới cuộc cách cách mạng xã hội.
Nhiều người làm chính trị cho tới nay đã sẵn sàng bán linh hồn cho quỉ với một giá … phải chăng?!. Loại người này đầy dẫy trên chính trường nhất là tại nghị trường. Họ không quan niệm quyền lực là phương tiện khai triển và hành động hóa tư tưởng cải tạo xã hội. Họ nhìn nó như một thứ cần câu … cơm, và vinh hoa.
Cho nên người dân hôm nay hoàn toàn mất tin tưởng vào họ, xa lánh họ, ghê tởm họ. Do đó họ bị dồn vào thế cô lập, trở thành những «chính khách cô đơn», loay hoay chạy đôn chạy đáo tìm khách hàng nào chịu trả giá.
Nhưng vì thiếu một thứ then chốt (nhãn hiệu chính đảng không còn ăn khách nữa), nên họ bị mất giá. Đôi khi bán son mà vẫn không ai mua.
Để cố tạo cho mình một giá trị giả tưởng, nhiều chính khách đã đổ xô tới các khối tôn giáo. Hiện tượng này vô tình đã biến các tôn giáo, vốn là thế lực thần quyền, biến thành thế tục hoặc lực lượng áp lực. Dần dần, một vài tôn giáo biến thành … hãng sản xuất hoặc tiệm buôn chính khách. Và những khối tôn giáo trở thành những thế lực chính trị có thực lực nhứt mặc dù phải ôm khư khư cái tính chất thần hóa. Tình trạng này của xã hội Việt Nam trở nên gần giống như tình trạng cán cân thế lực trong các xã hội Âu Châu thời phong kiến. Giai cấp tăng lữ trở thành những ông vua không ngai.
( còn tiếp )
[ * ]:
Thị Trường «Chính Khứa» by HỒNG DƯƠNG (tiếp theo)
#Tien Tuyen Feb. 28, 1971 trang nhất
Bài 06:
VI
Ở xã hội VN có rất nhiều tôn giáo; Đông nhất là Phật giáo, nhưng mạnh nhất có lẽ là Công giáo. Có một đạo, lực lượng Phật giáo đã trở nên rất mạnh.
Nhưng rồi do lỗi của một số vị lãnh đạo, lực lượng bị nứt rạn chia đôi, kình chống nhau, khiến cho cái thế bị suy yếu. Bao giờ cũng vậy, sự chia rẽ nứt rạn tranh chấp trong nội bộ luôn luôn đưa đến kết quả tự làm suy yếu.
Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là ngày nay Phật Giáo mất ảnh hưởng trên thị trường chính khách VN.
Nhãn hiệu AQ vẫn còn rất ăn khách nhất là nó lại được gắn liền với nhãn hiệu hòa bình tức khắc trong mọi chiến dịch quảng cáo.
Người ta thấy nhiều chính khách đã chạy tới chùa để xin được mang nhãn hiệu AQ. Những cỡ chính khách tập sự như TCQ, NVĐ, PHN, KMT v.v... là những kẻ cả đời không biết tới chùa chiền, không thuộc một câu kinh kệ. Họ không đích thực là Phật tử. Họ chỉ tới chùa khi thấy thuận tiện cho việc quảng cáo tên tuổi họ.
Thật ra nếu Phật mà không từ bi, nếu ngài mà hiển linh, thì chắc chắn những chính khách loại đó sẽ bị Ngài vặn cổ chết tức khắc.
Những người Phật tử chân chính đều tỏ ra không hài lòng bọn chính khách xôi thịt dựa hơi này. Qua gần 4 năm của Quốc Hội Đệ nhị Cộng Hòa, người Phật tử thật sự đã chán nản những kẻ vỗ ngực đại diện cho họ.
Người ta không hề thấy các Nghị sĩ, Dân biểu mang nhãn hiệu AQ làm việc cho cử tri bao giờ, những công việc thiết thực liên hệ mật thiết tới đời sống hằng ngày của họ. Mà chỉ thấy mấy ông NS, DB này làm công việc vuốt đuôi những lời tuyên bố của các thầy.
Trong kỳ bầu cử sắp tới, những DB, NS loại trên rất ít có hy vọng xin được phiếu của cử tri.
(còn nữa)
các chữ viết tắt:
ÂQ: Ấn Quang
tên Dân biểu viết tắt trong bài này:
KMT: Kiều Mộng Thu (tên thật là Trương Ngọc Thu)
(các chữ khác chưa định được ... Xin vui lòng chờ ...)
#Tien Tuyen Mar. 2, 1971 trang nhất
Bài 07:
VII
Xin trở lại với hiện tượng các tôn giáo biến thành tiệm buôn hoặc hãng sản xuất chính khách. Trước khi đó, một số vị lãnh đạo tôn giáo đã trở thành những tay "thợ chính trị."
Không ai có thể chối được chứng vị Thượng Tọa, Đại Đức như Tr. Q., HQ., NT., PS., ĐN., TC. v.v... không làm chính trị. Và, chiếc áo đen của LM HQ cũng đã nhuốm đầy mùi chính trị. [ Tr. Q = Thích Trí Quang ; HQ = Thích Huyền Quang; ĐN = Thích Đức Nghiệp; TC = Thích Tâm Châu; LM HQ = Linh mục Hoàng Quỳnh ]
Phải nhìn nhận, từ 1963 tới nay AQ là tiệm đã sản xuất và tung ra thị trường nhiều chính khách hơn cả. Phần lớn sản phẩm của AQ là những khuôn mặt mới, nhưng cũng có một vài sản phẩm mạo hóa.
Nghĩa là, có những chính khách mang nhãn hiệu AQ được bày bán ở thị trường nhưng phẩm chất đích thực lại không phải do AQ sản xuất. Chẳng hạn như bà LSNPĐ, TS V.V.M. [ (bà) Luật sư Nguyễn Phước Đại; TS VVM = tiến sĩ Vũ Văn Mẫu ].
Gần đây người ta nhắc nhiều tới một sản phẩm được coi như của AQ đó là ông DVM [ Dương Văn Minh ], nhưng thực sự ai cũng biết ông DVM vốn không phải do hãng sản xuất chính khách AQ chế tạo.
Các sự kiện nêu trên cho thấy 2 khía cạnh của 1 vấn đề mà chúng ta đã có dịp trình bày từ các bài trước: giá trị của nhãn hiệu chính đảng đã mất; Tôn giáo trở thành thế lực chính trị hiển nhiên.
Trong các cuộc bầu cử, nếu ứng cử viên do một chính đảng công nhận và chính thức đưa ra, sẽ nắm nhiều phần thua, nhưng nếu do một tôn giáo lớn đưa ra, sẽ nắm nhiều phần thắng.
Cứ xem cuộc bầu cử bán phần Thượng Viện vừa qua ắt rõ: Trong 3 liên danh đắc cử, thì 1 mang nhãn hiệu Phật giáo AQ, 1 mang nhãn hiệu Công giáo, liên danh thứ ba cũng đã phải trông chờ vào nhiều phần tử tôn giáo nằm trong liên danh. Kỳ dư, các liên danh của những đảng thân chính quyền hay đối lập với chính quyền đều rớt một cách thảm hại.
( còn nữa )
LTC phụ chú:
➯ Thích Trí Quang sinh ngày 21-12-1923 tại Quảng Bình. Là đệ tử của Hòa Thượng Thích Trí Độ, Chủ tịch Hội Phật Giáo Cứu Quốc, vốn là Hội Phật giáo do Việt Minh đẻ ra. Do đó, Trí Quang bị thực dân Pháp bắt giam năm 1946. Năm 1947, khi được thả, ông theo Việt Minh vào chiến khu chống Pháp. Nhưng không bao lâu sau đó ông từ bỏ Việt Minh và trở lại miền Nam tu hành cho tới năm 1963. Tháng 5-1963, dưới chiêu bài ‘cảm thấy có trách nhiệm phải đứng lên bảo vệ Phật tử và Đạo pháp’ sau sự kiện kên bằng “Pháp Nạn Phật giáo’ với 8 thanh niên Phật tử bị bắn chết trong đám đông biểu tình bạo động chống chính phủ vào đêm 8-5-1963 ở bên kia cầu Trường Tiền. Trí Quang nổi như cồn qua sự kiện này mà người ta nói rằng, đó là sự kiện đánh dấu khởi đầu của cuộc đảo chánh lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963.
➯ Thích Tâm Châu sinh ngày 2-11-1921 tại tỉnh Ninh Bình, Bắc Việt. Vào Nam đầu thập niên 1950, nơi đây ông là sáng lập viên của Tổng hội Phật giáo Việt Nam tại Huế. Khi Giáo hội Phật giáo Thống nhất (GHPGVNTN) thành lập vào tháng Giêng 1964, ông được bầu làm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo của Giáo hội, ông giữ chức vụ này cho đến năm 1967.
➯ Thích Huyền Quang, Thích Đức Nghiệp là các thượng tọa cùng phe Ấn Quang với Trí Quang.
Để hiểu rõ tình hình Phật Giáo tại VNCH và vì sao Phật Giáo bị chia làm 2 Khối, xin bạn đọc theo dõi phần tôi tóm lược sau đây:
Phật giáo đồ ở VNCH chia ra nhiều phe phái nhưng đại để về khuynh hướng chính trị có thể chia thành ba phe.
✦ Một phe ở các tỉnh địa đầu, một phe là người Bắc di cư vào lập nghiệp quanh vùng đô thành Sài Gòn, và phe còn lại trấn tại vùng Châu thổ Cửu Long.
✦ Các nhóm Phật giáo Tranh đấu chủ yếu dồn về ở các tỉnh địa đầu giới tuyến, nguyên cả một vùng có Quân đoàn I trong đó. Thích Trí Quang, là thầy tu hoạt động dưới danh nghĩa Phật giáo đình đám nhất, là thủ lãnh của nhóm này. Nếu nói về mặt chính danh thì ông ta chỉ mang một chức sắc tôn giáo, thế nhưng đó lại là người xách động khá hữu hiệu. Ông ta ưa làm dư luận sôi sục và quy tụ các tu sĩ vốn bàng quan về chính trị của miền Nam lại rồi đem các giáo ngữ đặc trưng như “bảo vệ đạo pháp” hoặc “tự do tín ngưỡng” cấy vào các chủ đề chính trị. Trí Quang bị tố cáo là thân Cộng, chứa chấp những phần tử tay chân của Cộng sản miền Bắc gài vào dựa hơi để làm loạn phá rối chính quyền Quốc Gia. Mặt khác, những luận điệu của Trí Quang đã bộc lộ một đường lối cực đoan bài ngoại kết hợp với tuyên ngôn “hòa bình bằng mọi giá”. Có thể Trí Quang không về phe với cộng sản, nhưng ông ta rất ngây thơ về chính trị, thốt ra nhiều luận điệu sặc mùi ý thức hệ một chiều quá tương cận với CSBV nếu ta đem so với sự đa chiều thoải mái của miền Nam Quốc Gia.
✦ Phe quanh vùng thủ đô Saigon thì do Thích Tâm Châu dẫn dầu, có nhiều người Bắc di cư nên họ có cảm tình với chính quyền Quốc Gia hơn. Thích Tâm Châu là Hội Chủ Tổng hội Phật giáo, một cơ cấu điều hành không mấy chặt chẽ đối với nhiều tông phái Phật giáo phân nhánh của Việt Nam. Giống như Trí Quang, mục tiêu chính của Tâm Châu là quy tụ các hội đoàn, tông phái Phật giáo về một mối, và góp sức với Hiến chương Phật giáo được chính phủ phê chuẩn để thành lập Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) ở miền Nam Quốc Gia [ 1 Vụ Hiến Chương Phật Giáo ] như một Giáo Hội chính thức danh chánh ngôn thuận. Tâm Châu đã thuyết phục thành công mười bốn trong số mười sáu hệ phái Phật giáo gia nhập GHPGVNTN. Sau vụ đảo chính ông Diệm, ban đầu Tâm Châu đứng chung với Trí Quang, nhưng rốt cuộc ông đã đoạn giao với Trí Quang và quay về thế hậu thuẫn sau lưng chính quyền Quốc Gia.
(✦ Phe thứ ba, chủ yếu là Sư sãi Việt gốc Miên ở vùng hạ lưu Châu thổ Nam Phần hay Nam kỳ Lục tỉnh, thường ít đả động tới chính trị. Đây là phe cánh Phật Giáo coi như không đáng kể ở miền Nam Quốc Gia).
Sau khi lập trường hoạt động của Thích Tâm Châu đổi chiều, thì mối bất bằng giữa Thích Tâm Châu với Thích Trí Quang ngày một loang dần.
Từ nhiều ngày trước tháng 9-1966, vụ khủng hoảng nội bộ Giáo hội Phật giáo do tranh chấp giữa đôi bên đã bùng ra. Từ trước, Tâm Châu đã tạm lánh mặt 2 tháng trong khi chờ cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến (vào ngày 11-9-1966) hoàn tất, và vào ngày 15-9-1966, Thích Tâm Châu quay về Sài Gòn giành lại Viện Hoá Đạo từ tay các đối thủ trong giới Phật giáo Tranh đấu. Vị Tăng Thống Giáo hội Phật giáo [ Hoà thượng Thích Tịnh Khiết ] kêu gọi mở một Đại Hội để dàn xếp tranh chấp giữa Trí Quang và Tâm Châu. Ngày 2-10, nhằm có thẩm quyền trước khi Đại Hội Phật giáo [ 2 ] diễn ra, Tâm Châu về lấy lại Viện Hoá Đạo ở Việt Nam Quốc Tự và buộc Hội đồng Viện Hoá Đạo [ do Thượng toạ Thích Thiện Hoa được phe Ấn Quang bầu làm Quyền Viện Trưởng từ ngày 23-7-1966 nhân lúc Thượng toạ Thích Tâm Châu tạm lánh mặt 2 tháng ] phải thoái vị. Tâm Châu rắp tâm bầu ra một Hội đồng Viện mới và giũ bỏ hết vây cánh của Trí Quang. Với những toan tính của Tâm Châu, Đại Hội Phật giáo được triệu tập từ ngày 21 đến 22 tháng 10 [ tại Việt Nam Quốc Tự, số 16 đường Trần Quốc Toản, Cholon ], lập tức trở nên lộn xộn với nhiều lời qua tiếng lại bất đồng, đã vậy giới Phật giáo Tranh đấu còn vu cho Tâm Châu đủ thứ, từ “thân Chính quyền” cho tới bị Hoa Kỳ mua chuộc với “một triệu Mỹ kim” [ 3 ]. Đó là luận điệu vu cáo vừa xảo trá vừa nực cười nếu ta biết rằng CIA đã chi tiền cho Trí Quang trong mấy năm liền [ 4 ]. Trong khi Đại Hội đang lắm rối ren thì các Thượng toạ vây cánh với Trí Quang quay về chùa Ấn Quang [ số 243 đường Sư Vạn Hạnh, Cholon ] và tự bầu ra một Hội đồng Viện của riêng họ [ 5: xem chi tiết ở trang 29 & 30 “Bạch Thư về Vấn đề Chia rẽ của Ấn Quang với Việt Nam Quốc Tự” ]. Tâm Châu tố giác Hội đồng mạo nhận này và tuyên bố dự định thành lập một Giáo hội Phật giáo Thống nhất Cải cách. Được Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ (lúc này đương chức Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, tương đương Thủ Tướng VNCH, điều hành chánh phủ) kín đáo yểm trợ, đến cuối năm 1966, Tâm Châu đã gầy được một liên minh từ các hệ phái khác nhau gồm thâu vào Giáo hội Phật giáo, đẩy Trí Quang vào thế cô lập ở chùa Ấn Quang. Một ký giả viết rằng “Bị cảnh sát truy lùng, bị rách bươm vì óc bè phái phe cánh và bị nhục mặt tai tiếng chính trị khi hô hào tẩy chay bầu cử bất thành, Trí Quang và bầy bộ hạ của ông ta dường như trắng tay chẳng còn sức bật đòn bẩy nào”. Trên vũ đài chính trị, thế lực của Trí Quang coi như đã tàn, nhưng các bài báo bảo rằng ông ta đã hết thời thì hãy còn hấp tấp quá.
Chú thích:
[ 2: kể từ đây, bỗng nhiên có 2 Viện Hoá Đạo: một thuộc Khối Việt Nam Quốc Tự - Thích Tâm Châu và một (tiếm danh) thuộc Khối Trí Quang (Ấn Quang). Nhưng cũng kể từ lúc này (tháng 10-1966) trở đi, trên các sách khảo cứu và Nhật Báo Saigon dùng danh từ “Viện Hoá Đạo đường Trần Quốc Toản” hoặc “Viện Hoá Đạo Việt Nam Quốc Tự” để trỏ Khối Viện Hoá Đạo để phân biệt với Khối Ấn Quang (bên phe Ấn Quang không hoặc ít dùng danh từ “Viện Hoá Đạo”, thay vào đó, thường là họ dùng danh từ “Viện Tăng Thống” ]
[ 3: xin đọc Ahern, CIA and the Generals, trang 38. Ahern chú rõ rằng cho đến giữa mùa hè năm 1966, CIA mới thôi không trả tiền cho Trí Quang nữa.
[ 4: bài báo “Political Power of Buddhists Only a Memory in Vietnam,” đăng trên báo Mỹ New York Times, Dec. 19, 1966, trang 4.
[ 1 Vụ Hiến Chương Phật Giáo: Để diễn bày rõ sự kiện cuộc đấu “tranh chấp về Hiến Chương Phật giáo” tạm tính từ ngày 18-7-1967 giữa hai phe/khối Phật giáo (Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang), trước hết, tôi xin tóm lược các diễn tiến hầu bạn đọc như sau:
- Bản Hiến Chương đầu tiên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) hình thành sau một Đại hội Thống nhất Phật giáo gồm 11 Giáo Phái và Hội Đoàn Phật Giáo nhóm họp tại Chùa Xá Lợi Saigon từ ngày 30-12-1963, đạt kết quả biểu quyết vào ngày 04-01-1964 (thường gọi là Hiến Chương 04-01-1964). Hiến Chương 04-01-1964 được công nhận bởi Sắc luật 158-SL/CT ngày 14-05-1964 do chính phủ Nguyễn Khánh chuẩn y.
- Hiến Chương 04-01-1964 được tu chính lần thứ nhất tại Đại hội Khoáng đại kỳ II của GHPGVNTN ngày 14-12-1965, và được Sắc luật 005/66 do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia ký chuẩn y ngày 26-02-1966.
- Bản “Hiến Chương tu chính” (lần thứ hai) do Khối Việt Nam Quốc Tự (Thích Tâm Châu) tu chính vào ngày 14-3-1967, và đã được Sắc luật 023/67 do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu ký chuẩn y ngày 18-7-1967. Điều 2 của Sắc Luật 023/67 huỷ bỏ Sắc Luật số 005/66.
Kể từ đây mới sinh ra cuộc tranh chấp gay gắt không dứt giữa 2 Khối Phật giáo nói trên, hay nói đúng hơn là tranh chấp xuất phát từ phe Ấn Quang, vì Ấn Quang cho rằng, Sắc Luật 023/67 thừa nhận Bản “Hiến Chương tu chính” (lần thứ hai) tức là duy chỉ có Khối Việt Nam Quốc Tự là có tư cách hợp pháp chính thức. Việc tranh chấp này biến thành cuộc tranh đấu quy mô đối kháng lại chính quyền qua sự kiện Ngày 28-9-1967 có 500 tăng ni thuộc phe Ấn Quang, hồi hơn 8 giờ sáng, đã đi tuần hành từ Cholon qua tới trước Dinh Độc Lập trao thư yêu cầu thu hồi Sắc Luật 023/67 thừa nhận Hiến Chương mới của Phật giáo do Viện Hoá Đạo đường Trần Quốc Toản soạn thảo. Tại đây đã diễn ra buổi Đối thoại 20 phút giữa Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thượng toạ Thích Trí Quang. Các tăng ni ra về lúc quá trưa.
Xin xem ở dưới đây bài tường thuật của nhựt báo Chính Luận Sept. 30, 1967 về cuộc đối thoại này, kèm một vài hình ảnh của vụ Phật giáo Tranh đấu này. Chú ý, các hình ảnh là thuộc © Bettmann/CORBIS và Photographer Co Rentmeester của tạp chí LIFE của Mỹ đăng tải lúc đương thời (thường là không có chú thích), nay LTC tôi tra cứu tin tức từ các số nhật báo Chính Luận, Tiền Tuyến và chú thích lại hình ảnh cho rõ ràng.
➯ Linh mục Hoàng Quỳnh là khuôn mặt tiêu biểu vang tiếng nhất trong khoảng tám trăm ngàn người Công giáo miền Bắc di cư vào Nam. Tại Bắc Việt, Hoàng Quỳnh từng chỉ huy Tổng bộ Tự vệ Công giáo nổi tiếng thuộc hạt Phát Diệm đã đẩy lui quân Cộng sản nhiều năm liền. Sau Hiệp định Genève 1954, Hoàng Quỳnh chăn dắt giáo dân trong Nam, cuối cùng ông về ngụ tại giáo xứ của ông ở Sài Gòn, tại đây ông nẩy nở mối thân thiết với ông Diệm. Trước mối nguy sinh ra từ các vụ Phật giáo Tranh đấu vào năm 1965 đã thôi thúc Hoàng Quỳnh lập ra “Lực lượng Đại Đoàn Kết”, mà cuối cùng chuyển thành một chính đảng thân Công giáo là Nhân Xã Đảng (Việt Nam Nhân xã Cách mạng Đảng). Hoàng Quỳnh trở thành một lãnh tụ chính trị xông xáo trực diện, và Lực lượng Đại Đoàn Kết cũng đồng lòng với ông một tuyên ngôn lập trường theo đó đòi hỏi phải đạt được chiến thắng quân sự trước Cộng sản.
Một vài hình ảnh quý ghi lại cuộc tranh đấu của phe Phật giáo Ấn Quang khởi từ ngày 28-9-1967 tại Saigon. Photos by © Bettmann/CORBIS và Photographer: Co Rentmeester của tạp chí LIFE của Mỹ vốn không ghi chú thích. Sưu tập và chú thích by Le Tung Chau Sept. 2023.
#Chính Luận Sept. 30, 1967 trang nhất #Chính Luận Sept. 30, 1967 trang nhất
CUỘC ĐỐI THOẠI . . . ĐẦU ĐƯỜNG
CUỘC ĐỐI THOẠI SÔI NỔI ĐẦU ĐƯỜNG GIỮA Trung Tướng THIỆU và Thượng Tọa TRÍ QUANG
SAIGON, 29.9 Hai ngày trước khi Quốc Hội lưu nhiệm họp để xét kết quả cuộc bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống của nền Đệ nhị Cộng Hòa Việt Nam, 500 tăng ni dưới quyền chỉ đạo của Thượng Tọa Trí Quang đã xuống đường kéo đến Dinh Độc Lập đòi hủy bỏ bản Hiến Chương mới và phục hồi Hiến Chương cũ cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Như Chính Luận đã loan báo trong số báo hôm qua, cuộc xuống đường của tăng ni đã diễn ra trong bầu không khí ôn hòa và trật tự và được xe Cảnh Sát không có võ trang dẫn đường. về cảnh sát không có trang dẫn đường. Vì không nỡ để cho tăng ni ngồi phơi nắng trong khi một phái đoàn chỉ đạo đi vào trong Dinh hội kiến với các nhà lãnh đạo quốc gia, T.Tọa Trí Quang đã đối thoại với Trung Tướng Thiệu trước cửa Dinh Độc Lập. Cuộc đối thoại «giữa đầu đường» này rất hào hứng và sôi nổi trong khi người ta thấy thoáng trong hàng biểu ngữ có nhiều biểu ngữ viết "Tưởng Thiệu không xứng đáng lãnh đạo QG".
10g15, Đoàn Tăng Ni kéo tới trước Dinh Độc Lập. 10g25, một đoàn cảnh sát dã chiển tới tăng cường với dùi cui cầm tay, lựu đạn cay gài sau lưng. Đứng gần đó, phía bên phải lề đường Dinh Độc Lập, là Chuẩn Tướng Loan vận thường phục tay cầm chai la de 33 đi đi lại lại.
Dưới trời nắng gắt, các tăng ni đã sắp hàng ba đứng dàn dài từ trước cổng Dinh Độc Lập tới đường Pasteur. Còn dân chúng thì đứng ở 2 bên lề đường. Các ký giả trong và ngoài nước quen như mọi lần đứng bao quanh lấy các thượng tọa lãnh đạo cuộc biểu tình mà chụp hình, mà phỏng vấn. Nhưng, chỉ trong giây lát ngắn ngủi, nhân viên cảnh sát đã tới nhã nhặn yêu cầu «các anh chị chép gì thì chép, bây giờ hãy lui ra bên kia đã» (bên kia tức là lề đường đối diện với Dinh Độc Lập). 10g30 ông Đổng Lý Văn phòng UBLĐQG (Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia), Đại Tá Vũ Đức Nhuận vận âu phục bước ra tiếp xúc với phái đoàn Tăng Ni.
Đại Đức Thích Hộ Giác dùng máy phóng thanh cung thỉnh 4 vị Thượng Tọa trong UBBVHC [ ủy ban bảo vệ hiến chương ] trình thỉnh nguyện thư lên Trung Tướng Chủ tịch UBLĐQG [ Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, tương đương Quốc Trưởng ].
Khi Đại tá Nhuận cầm thỉnh nguyện thư quay vào lập Dinh Độc Lập, Đại Đức Hộ Giác cho biết là các tăng ni tiếp tục ngồi lại đây để chờ đợi sự trả lời của Trung Tướng Thiệu rồi sau đó mới «ra về trong trật tự». 10g40, Các tăng ni ngồi xuống đường tụng kinh. Trong số những biểu ngữ viết bằng Anh và Việt ngữ mà các tăng ni đem theo, có vài cái đáng chú ý như "Tưởng Thiệu không xứng đáng lãnh đạo Quốc gia", "Phản đối Tướng Thiệu đù đày Phật tử", "Phản đối Sắc luật 23/67", "Phản đối âm mưu phân hóa Phật giáo".... 10g45, Đại tá Nhuận trở ra cho biết Tướng Thiệu mời 2 vị đại diện của phái đoàn vào trong Dinh nói chuyện. Đại Đức Hộ Giác tỏ ý bằng lòng, nhưng Thượng Tọa Trí Quang không chịu. Ông đề nghị hoặc Tướng Thiệu ra đây hoặc để cho tất cả Tăng Ni vào gặp «vì nếu để đại diện vào, còn Tăng Ni ở lại ngồi dưới nắng, không đành.»
TƯỚNG THIỆU, TƯỚNG KỲ ra
11 giờ 15, có tin Tướng Thiệu sắp ra, cảnh sát liền được lệnh đẩy lui ký giả ra xa 20 thước. Một số ký giả cứ đứng ì ra khiến một vị chỉ huy Cảnh Sát (vận thường phục) nổi nóng hét to: « Nếu không lui sẽ dùng sức ». Nhiều ký giả ngoại quốc đã nổi sùng chống cự lại khi thấy mình bị đẩy quá mạnh.
Nhưng sau đó, có lẽ cảm thông với báo chí, nên cảnh sát đã cho những ai có giấy tờ chứng nhận là ký giả được lọt qua khỏi hàng rào tay của cảnh sát để bước vào lề đường phía Dinh Độc Lập.
11 giờ 35, phía trong hàng rào sắt của Dinh Độc Lập được tăng cường 1 tiểu đội binh sĩ tay cầm khí giới.
11 giờ 46, chính quyền thông báo Trung Tướng Thiệu sẽ ra nói chuyện với Tăng Ni.
Đi cùng Trung Tướng Thiệu có Thiếu Tướng Kỳ, Đại Tướng Cao Văn Viên, Thiếu Tướng Linh Quang Viên.
Tướng Thiệu lên tiếng
Ngỏ lời với Tăng Ni, Trung Tướng Thiệu cho biết thể theo lời yêu cầu của các Tăng Ni, nhà cầm quyền đã để cho các Tăng Ni đến đây một cách tốt đẹp.
Và khi phái đoàn tới đây, ông đã cho ông Đổng lý Văn phòng ra nhận thư thỉnh nguyện. Sau khi đọc xong thư thỉnh nguyện, ông đã cho ông Đổng lý ra nói với phái đoàn là ông sẵn sàng mời một phái đoàn chức sắc vào dinh « thảo luận một cách cởi mở », Trung Tướng Thiệu nói tiếp: « nhưng rất tiếc quý vị từ chối lời mời ».
« Để giải quyết tình trạng đất nước, và chứng minh một lần nữa chúng tôi không có ý gì miệt thị quý vị, và cũng không đặt nặng vấn đề tự ái trong chức vụ Chủ tịch UBLĐQG nên tôi cũng ra đây để đầu trần đứng dưới nắng như quý vị ».
Đề cập tới vấn đề Hiến chương mới của Phật giáo, Trung Tướng Thiệu cho biết là ông có nhận được mấy lá thư của các thượng tọa bên chùa Ấn Quang gửi lên, nhưng sở dĩ ông không trả lời, vì trên phương diện pháp lý, chính quyền chỉ liên lạc với một Viện Hóa đạo và 1 vị Viện trưởng mà thôi. Ông mong «quý vị thông cảm cho điều đó.» Tuy nhiên để giải quyết vấn đề một cách êm thắm tốt đẹp Trung Tướng Thiệu cho hay là ông gửi người trung gian tiếp xúc các Thượng Tọa với tư cách cá nhân để tìm hiểu sự mong muốn của các Thượng Tọa cũng như giải thích lập trường của chính quyền.
Còn về vấn đề các Thượng Tọa bảo Tướng Thiệu miệt thị Phật giáo, tướng Thiệu nhấn mạnh: « quý vị nói tôi miệt thị, điều đó hoàn toàn không đúng ». Ông nói tiếp: « chúng tôi nghĩ rằng với cương vị 1 người lãnh đạo quốc gia, vì có trách nhiệm đối với quốc dân, để giải quyết tình trạng đất nước, nên chúng tôi đã gạt bỏ vấn đề tự ái cá nhân, ra đây tiếp xúc với các tăng ni, như vậy không thể nói là tôi miệt thị quý vị được ».
Đề cập tới bản tuyên cáo số 1 do các Thượng Tọa bên chùa Ấn Quang phổ biến trong cuộc họp báo ngày 24-9-67, Trung Tướng Thiệu nói là tuyên cáo này có sự xen lấn giữa vấn đề chính trị với bản Hiến Chương Phật giáo. Ông nói từ ngày bầu cử tới nay, ông không mở miệng nói một tiếng gì, vì ông quan niệm đó là quyền của Quốc Hội, quyền của nhân dân, cho nên «khi quý vị nói bầu cử gian lận, Thượng Nghị viện nằm trong tay Cần Lao điều đó chúng tôi không dám nói.
Nếu bảo bầu cử gian lận, thì đã có Quốc Hội và Hội đồng Tuyển cử Trung ương cứu xét. Còn việc Thượng viện là của Cần Lao hay không là do dân chúng sử dụng quyền tối thượng bằng lá phiếu của mình.»
Về việc ký bản Hiến chương Phật giáo mới, tướng Thiệu cho rằng, đứng trên cương vị chính quyền và chỉ có thể công nhận một Viện Hóa Đạo, nên về khía cạnh pháp lý, chính quyền chỉ biết VHĐ và Thượng Tọa Tâm Châu mà thôi (có nhiều tiếng la ó phản đối). Trung Tướng Thiệu nói tiếp: « Thượng Tọa Tâm Châu đưa bản Hiến chương lên, chúng tôi quan niệm đó là của 1 đoàn thể, nên không xen vào nội bộ. Chúng tôi chỉ làm công việc chuẩn y, chứ không xé Hiến chương nào cả. Hiến chương mới này do chính Thượng Tọa Tâm Châu lúc đó là viện trưởng đệ lên, cho nên vấn đề Hiến chương này hay Hiến chương nọ, đối với chính quyền, nó chỉ có giá trị đối với các ông Viện trưởng và những người ký trong bản Hiến chương đó. Thật sự, chúng tôi không có xé Hiến chương. Chúng tôi cũng không có truất phế đức Tăng thống, vì chính quyền không được lạm quyền đó ».
Còn việc yêu cầu thu hồi sắc luật 23/67, tướng Thiệu cho biết cần phải có một thời gian để UBLĐQG và UBHPTƯ thảo luận lại. Tướng Thiệu nhấn mạnh: « quý vị bảo hiến chương này không giá trị, phi pháp, chúng tôi đứng trên lập trường lúc nào cũng muốn Phật giáo thống nhất ».
« Nếu quý vị thấy chính quyền có thể làm được gì để chấm dứt tình trạng phân hóa, chúng tôi sẵn sàng làm việc đó. Quý vị đòi chúng tôi thu hồi sắc luật đó ngay tức khắc, trong khi chúng tôi còn cần thảo luận với UBLĐQG, chúng tôi phải mời vị viện trưởng VHĐ mới và Thượng Tọa Tâm Châu tới thảo luận. Sáng nay Thượng Tọa Tâm Châu có nói với chúng tôi là sẵn sàng gặp Thượng Tọa Trí Quang bất cứ ở chỗ nào, bất cứ lúc nào để đặt lại vấn đề Hiến Chương và Thống nhất Giáo hội. Nếu quý vị chấp nhận, chúng tôi sẽ mời Thượng Tọa Tâm Châu, Thượng Tọa Trí Quang cùng chúng tôi thảo luận, đi đến một giải pháp tốt đẹp cho quốc gia. Nếu quý vị muốn tiếp xúc riêng với Thượng Tọa Tâm Châu để giải quyết, chúng tôi sẵn sàng. Nếu quý vị cần tới chúng tôi, chúng tôi sẽ đến để tìm giải pháp với một tinh thần rất là vô tư ».
Sau hết, Trung Tướng Thiệu mong « quý vị thông cảm cho ».
T.Tọa Trí Quang trả lời
Tới đây, Thượng Tọa Trí Quang, đại diện cho 500 Tăng ni đã ngỏ lời với tướng Thiệu là Thượng tọa không thể để cho 500 Tăng ni ngồi ngoài nắng đợi một phái đoàn vào tiếp kiến tướng Thiệu được. (Có nhiều tiếng vỗ tay khiến Thượng Tọa Trí Quang phải yêu cầu «miễn cho việc vỗ tay để chúng tôi được thưa chuyện cùng quý vị lãnh đạo quốc gia»). Sau khi cám ơn các tướng lãnh đã ra tiếp xúc, Thượng Tọa Trí Quang nói là Thượng Tọa đã lãnh hội tất cả những lời trình bày của Trung Tướng Thiệu và nhận thấy rằng «lập trường của chính phủ từ cuộc họp báo của Phật giáo tới nay vẫn là duy nhất.» Theo Thuợng Tọa, sắc luật 23 là một sắc luật vượt quá luật lệ hành chánh, «rõ ràng là hiến chương đã bị xé, tôn giáo bị thủ tiêu về pháp lý, do đó tính mạng chúng tôi kể như không còn nữa.» T. Tọa nhấn mạnh: «chính quyền đã xen vào nội bộ PG, chứ không phải nội bộ PG phân hóa. Chúng tôi không thể nào chấp nhận những tên giáo gian với sự hỗ trợ của chính quyền để phản giáo. (Tới đây lại có tiếng νỗ tay khiến Thượng Tọa Trí Quang phải yêu cầu ngưng vỗ tay một lần nữa đề giữ lễ độ trong cuộc nói chuyện với các vị lãnh đạo quốc gia.) T. Tọa Trí Quang nói tiếp «nếu quý vị thấy nguyện vọng chúng tôi là đúng, thì quý vị hãy lắng nghe và giải quyết ngay. Còn nếu quý vị cho là không đúng thì chúng tôi là kẻ có tội đáng chém, quý vị hãy cho lập pháp trường cát tại đây, chúng tôi sẵn sàng thọ tội.».
Trình bày về việc thành lập VHĐ mới, T.Tọa Trí Quang cho rằng Đại hội Phật giáo trước đây đã chính thức tiếp nhận sự từ chức của Thượng Tọa Tâm Châu và chính đại hội này cũng đã bị phá hoại bởi nhiều phần tử được sự hỗ trợ của chính quyền. Do đó, các Thượng Tọa phải bầu ra 1 hội đồng VHĐ mới, và Hội đồng này đã làm việc trong sự chèn ép cũng như không được chính quyền công nhận. Thượng Tọa Trí Quang nhấn mạnh là «Giáo hội không phải là ở nơi một người nhờ thế lực của chính quyền tạo ra, mà quan niệm rằng Giáo hội phải bảo vệ sự thuần nhất.»
Để kết luận Thượng Tọa Trí Quang đã ngỏ lời cảm ơn Trung Tướng Thiệu đã «dành cho chúng tôi một sự lễ độ, tỏ ra xứng đáng một người lãnh đạo quốc gia»
Đáp từ của tướng Thiệu
Lên tiếng lần thứ nhì, Trung Tướng Thiệu xin các tăng ni đừng nghĩ đến là «chúng tôi không cứu xét tới nguyện vọng của quý vị. Chúng tôi sẽ cứu xét với tất cả thiện chí. Còn như quý vi bảo tới đây như kẻ có tội có thể đem xử bắn, trong thâm tâm chúng tôi không bao giờ nghĩ tới. Chúng tôi sẽ triệu tập UBLĐQG, chính phủ, và nếu quý vị chấp nhận, chúng tôi sẽ mời quý vị tới thảo luận. Nếu quý vị không chấp nhận ngồi chung với Thượng Tọa Tâm Châu hay Viện Hóa Đạo, đó là quyền của quý vị, chúng tôi sẽ cứu xét nguyện vọng của quý vị với tất cả thiện chí, cần phải có một thời gian tối thiểu. Nếu quý vị bằng lòng, chúng tôi sẽ mời quý vị vào thảo luận ngay bây gιờ.
T.Tọa Trí Quang lại có ý kiến
Để trả lời Trung Tứng Thiệu, Thượng Tọa Trí Quang nói là khi đi, các vị hòa thượng đã nhắn nhủ các tăng ni phải mang về sắc luật 005/66, do đó nếu không nhận được điều gì gọi là một chút cho đỡ khổ tâm, thì phái đoàn không thể về được, vì không dám phụ lòng ủy thác của các Hòa Thượng. Nếu 24 giờ đồng hồ sau, Tăng ni không nhận được gì mới mẻ, thì chúng tôi sẽ quay lại gặp quý vị. Nếu Trung Tướng chấp thuận cho ngồi đâu, anh em chúng tôi sẽ nghe theo hầu chuyện quý vị 1 ngày hay 100 ngày cũng được. Nhân dịp này, T. Tọa Trí Quang cho biết, cách đây 48 tiếng đồng hồ, ông mới được gặp «một đại diện bán công khai của Trung Tướng»
Tướng Thiệu lên tiếng lần thứ 3
Lên tiếng lần thứ 3, Trung Tướng Thiệu cho biết là 12 hay 24 tiếng đồng hồ, ông không thể nào trả lời dứt khoát ngay được. Chúng tôi sẽ thảo luận với quý vị trong thiện chí, cởi mở, xin quý vị yên tâm. Có lẽ trong chiều nay, tôi sẽ mời quý vị tới thảo luận.
5 vị Thượng Tọa Đại Đức ở lại
Tới dây T.Tọa Trí Quang hạ lệnh cho tăng ni, Phật tử ra về, còn ông và cái vị trong UBBVHC ở lại « hầu chuyện với Trung Tướng ngay từ bây giờ ».
Lên tiếng lần thứ tư, Trung Tướng Thiệu nói: «chúng tôi sẽ mời quý vị nào ở lại tới một chỗ nào đàng hoàng đầy đủ tiện nghi để thảo luận của một cách cởi mở. Đó là lời thành thật một người lãnh đạo quốc gia cũng như của một công dân đối với một Tôn giáo.»
Trong khi đó, T. Tọa Trí Quang mặc đầu đã hạ lệnh cho Tăng ni ra về nhưng ông vẫn còn nghi ngờ lời hứa của Trung Tướng Thiệu nên «xin phép được ngồi lại đây.»
Khi Trung Tướng Thiệu và các tướng lãnh trở vào Dinh Độc Lập, lúc đó là 12 giờ 25, các Tăng Ni Phật tử lần lượt ra về trong trật tự, còn lại 5 thượng tọa là Trí Quang, Pháp Tri, Quảng Long, Pháp Lan và Hộ Giác.
Và để khỏi kẹt đường xe cộ lưu thông, các thượng tọa đã lại ngồi bên gốc cây đối diện Dinh Độc Lập để chờ sự trả lời của Trung Tướng Thiệu.
LTC phụ chú:
Khi đoàn tăng ni cứ ngồi lì ở công viên bên kia đường [ trước Dinh Độc Lập ], tướng Thiệu cho lập một vòng đai cảnh sát bao vây đoàn Phật giáo Tranh đấu này nhưng cứ để mặc họ và không quấy rầy gì họ hết. Sau đó tướng Thiệu cử đặc phái viên đến du thuyết với cả Trí Quang lẫn Tâm Châu và khuyên họ ngồi lại với nhau mà giải quyết vấn đề. Trí Quang bất hợp tác và gọi Tâm Châu là “kẻ phản giáo”.
Ông Thiệu rất khéo nói với báo chí rằng đây là một sự vụ thuần tôn giáo chứ chẳng phải chính trị, tuy vậy ông sẵn sàng bàn thảo với cả hai phe Phật giáo. Ông cũng khéo điều động đằng sau hậu trường, đánh trúng tim đen của phe Ấn Quang bằng cách gây áp lực với Quốc Hội phải chấp đơn ứng cử vào Hạ Nghị Viện của các ứng cử viên thân Ấn Quang mà trong kỳ bầu cử Thượng Viện đã bị bác.
Đoàn biểu tình ngồi chẳng được công chúng hưởng ứng hay ngó ngàng gì tới, thế là trong vòng 2 tuần, đoàn teo dần chỉ còn chưa đầy 100 người.
Nhờ tướng Thiệu biết kềm chế cho nên đã dập tắt mưu mô của Trí Quang tính biến cuộc biểu tình nhỏ thành cuộc biểu tình quy mô chống chính phủ. Đã vậy, ông Thiệu còn hứa rằng nếu Trí Quang từ bỏ chuyện biểu tình đi, thì ông sẽ tái cứu xét vụ Hiến Chương.
Đến ngày 10 tháng 10, ông sân tăng này đành rút bỏ phiên tranh đấu cô độc và quay về chùa Ấn Quang. Ngay tiếp đó, Tâm Châu ra thông cáo tạm ngưng áp dụng bản Hiến Chương Tu Chính trong khi chờ có một bản Hiến Chương mới khác.
Với tài khôn khéo, thận trọng, Tướng Thiệu đã rất khéo khi giữ cho tình hình bất ổn không leo thang và qua đó cũng đã chứng tỏ rằng một Trí Quang hùng hổ ngày nào nay chỉ còn là một tay kiếm khách bị phế bỏ võ công. Ông ta sẽ chẳng bao giờ còn vác mặt xuống đường được nữa.
$pageOut $pageIn Phân đoạn 3
#Tien Tuyen Mar. 3, 1971 trang nhất
Bài 08:
VIII
Có một điều người ta có thể trông thấy rất rõ là khối AQ [Ấn Quang] có một tham vọng chính trị rộng lớn. Cuộc vận động của PG [Phật Giáo] lật đổ chế độ Đệ I Cộng Hòa đã đưa 1 số lãnh tụ Phật giáo lên đỉnh vinh quang và quyền lực. Một dạo, các vị này đã trở thành một thứ siêu chính quyền.
Thói đời, những người phút chốc được bốc lên ngồi cao quyền thế thường hay bị "say quyền lực" (ivre de pouvoir). Quyền lực trở thành một ám ảnh thường xuyên.
Vài vị lãnh đạo Phật giáo muốn thừa thắng xông lên theo chiến thuật đánh mau đánh mạnh nắm vội thời cơ.
Lẽ ra, ý đồ này có nhiều hy vọng thành đạt, nếu không có sự nứt rạn bất ngờ đưa tới chia rẽ trong nội bộ PGTN [Phật Giáo Thống Nhất].
Sự chia rẽ đó đưa tới tình trạng suy yếu trầm trọng. Khối VNQT [Việt Nam Quốc Tự] thu mình lại trong vỏ hoạt động xã hội, trong khi khối AQ tiếp tục vận động duy trì và bành trướng thế lực dưới chiêu bài đối lập, và nay thì chiêu bài khác.
Do đó, AQ trở thành trung tâm thu hút những chính khách lỡ thời, thất bại, bất mãn. Và, sau này, thêm những chính khách tập sự ùn ùn kéo tới.
Về phía AQ, vì phát triển lực lượng, bành trướng thế lực, củng cố hạ tầng nên cũng mở rộng cửa từ bi đón nhận mọi người tìm tới. Tất nhiên mọi tổ chức lúc đầu đều có sự ô hợp nên không đáng trách.
Duy có 1 điều đáng nêu ra là lập trường của khối AQ cho tới nay vẫn còn mập mờ. Khuynh hướng cũng chưa rõ rệt. Từ đó, những chính khách mang nhãn hiệu AQ cũng không tránh khỏi có những thái độ làm cho người Quốc Gia e ngại.
Không phải có ý chụp mũ, chỉ nhìn thẳng vào thực trạng người ta sẽ thấy ngay với đường lối hiện nay của AQ, kẻ thù chung sẽ rất dễ trà trộn để mập mờ đánh lận con đen.
Hẳn là các vị lãnh đạo hãng sản xuất và phát hành chính khách AQ không có dụng tâm như vậy. Song thực trạng của khối đã tạo nên kẽ hở đó. Các cuộc vận động của khối AQ gần giống với những trò thực tập đi giây.
Ngày nay, sản phẩm của AQ tràn ngập thị trường. Người ta thấy rõ đang có tình trạng lạm phát chính khách. Có những người trở thành chính khách sau một cơn ngủ mê.
Đấy lại là tình trạng chung của rất nhiều đảng phái, lực lượng, do từ sự vơ bèo gạt tép mà ra.
Đó cũng là một trong những lý do đưa tới tình trạng sinh hoạt chính trị bi thảm ngày nay.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 5, 1971 trang nhất
Bài 09:
IX
Sự bi thảm của sinh hoạt chính trị miền nam trở nên trầm trọng kể từ khi các lực lượng đảng phái hoàn toàn mất hẳn thể đứng trong quần chúng.
Họ như những tảng bèo rời rạc lềnh bềnh trên mặt nước "chạm không tới đất, cất không tới trời". Do đó các chính khách xuất thân từ đảng phái trở nên bơ vơ.
Cho tới khi chính quyền có ý định tập hợp một số chính đảng để tạo một hậu thuẫn chính trị, thì nhiều chính khách đang vất vưởng vội chạy đi tìm đồng chí để lập đảng. Với hy vọng được lọt vào mắt xanh của chính quyền.
Ở đây, chúng tôi xin phép nhấn mạnh cả chính quyền lẫn các chính khách và chính đảng đều phạm lầm lỗi lớn.
Chính quyền lầm tưởng các chính đảng có thực lực, hay ít ra tập hợp họ lại thì sẽ có một thực lực chính trị. Tại sao lại bảo chính quyền quan niệm như vậy là lầm lẫn, chúng tôi đã trình bày ở những bài trước.
Các chính khách lầm lẫn vì tưởng rằng với nhãn hiệu chính đảng này chính đảng nọ, họ sẽ được quần chúng tin tưởng, do đó họ sẽ thành công trong sự nghiệp chính trị.
Các chính đảng lầm tưởng với thế lực giả tạo họ có thể lòe thiên hạ và "mặc cả" được với chính quyền để đổi lấy một hai ghế trong chính phủ và trong các cơ cấu dân cử.
Nói một cách văn hoa đôi chút thì tất cả đã là một ngộ nhận lớn lao.
Tuy nhiên, chúng tôi muốn thẳng thắn nhìn nhận ý hướng tốt của chính quyền khi cố gắng lập ra một đảng chính quyền. Hành động này ít ra cũng đáp ứng phần nào sự khuyến khích của Hiến Pháp tiến tới một chế độ chính trị lưỡng đảng.
Nếu chính quyền thành công trong việc tạo lập một đảng cầm quyền có thực lực thì có lẽ những đảng phái ở ngoài chính quyền nhất là những đảng phái sẵn có đường lối đối lập đã phải thấy ngay một nhu cầu cấp bách là đứng vào với nhau để tạo thế đối lập lớn tương xứng.
Từ đó, ý hướng tiến tới một sinh hoạt chính trị lưỡng đảng sẽ dễ dàng.[ * ]
Nhưng rất tiếc, tinh thần quyền lợi phe nhóm còn quá nặng. Thực lực không có, và các lãnh tụ mải mê với quyền lợi cá nhân, đã không chịu củng cố. Cho nên sự kết hợp của 6 đảng phái đã chỉ làm cho thể chính trị của Quốc gia thêm nát.
Khi đảng chính quyền không có thực lực thì phe nhóm đảng phái bên ngoài không thấy nhu cầu cần phải kết hợp. Trái lại việc 6 đảng đứng vào với chính quyền đã khiến đẻ ra thêm một số chính đảng. Tình trạng đa đảng, do đó, cũng thêm hỗn tạp và ô hợp. Nhiều chính đảng mọc ra chỉ với mục đích duy nhất là để gạ đổi chác với chính quyền.
( còn nữa )
[ *: LTC phụ chú:
#Tiền Tuyến Apr. 8, 1969 trang nhất
Thông điệp Tổng Thống ngày 7-4-1969 kêu gọi kết hợp đảng phái
#Tiền Tuyến Apr. 8, 1969 trang nhất
Thông điệp Tổng Thống ngày 7-4-1969 kêu gọi kết hợp đảng phái
Sáng ngày 7-4-1969, đọc Thông Điệp trong phiên họp khoáng đại của Lưỡng Viện Quốc Hội
Tổng Thống Thiệu Kêu Gọi Kết Hợp Đảng Phái Quốc Gia
DÙ KẾT HỢP ĐỂ ĐỐI LẬP
★ Đích thân đứng ra tập hợp các lực lượng chính trị không phải muốn tìm hậu thuẫn để củng cố địa vị mà vì muốn thống nhất ý chí và hành động của toàn dân để đối phó với kẻ thù. ★ Hy vọng Quốc Hội sẽ chóng thông qua 2 Quy chế Báo chí và Chánh đảng. ★ Dân còn đói khát, còn bị áp bức bóc lột thì quốc gia chưa thể vững mạnh. ★ Nông dân phải trở thành tiểu điền chủ. Công nhân sẽ không còn bị bóc lột.
#Tien Tuyen Mar. 6, 1971 trang nhất
Bài 10 01
Và
#Tien Tuyen Mar. 10, 1971
Bài 10 02
(gộp hai bài vào làm một)
Bài 10:
X
Trong bài hôm qua, chúng tôi đã khẳng định «có nhiều chính đảng đã vội vã mọc lên chỉ với mục đích duy nhất là để gạ đổi chác với chính quyền.»
Đấy cũng lại là một thật sự bi thảm!
Tình trạng đa đảng ở xứ này mang hai ý nghĩa: Thứ nhất là nó chứng tỏ có sữ dân chủ tự do trong sinh hoạt chính trị. Thứ hai là nó cho thấy sự phân hóa trầm trọng trong hàng ngũ chính khách quốc gia.
Ý nghĩa thứ nhất chắc chắn chỉ là một sự rỗng tuếch. Bởi nó hoàn toàn vô ích đối với sự lớn mạnh của sinh hoạt chính trị của chúng. Trong khi đó, ý nghĩa thứ hai lại là một sự nguy hại cho đất nước vì tiềm lực chính trị của một quốc gia mà bị phân hóa thì sớm muộn cũng đưa dân tộc tới chỗ lụn bại.
Chúng ta có thể suy nghĩ trên câu nói này của Marc Aurèle «những gì không mang lợi cho tổ ong thì cũng vô ích cho con ong.»
Các vị lãnh tụ cũng cần suy nghĩ kỹ hơn. Chẳng hạn khi một đồng chí của ông HTK [ Hà Thúc Ký ] tách ra khỏi đảng (rồi lập đảng khác) với hy vọng ông sẽ được chia một ghế trong nội các, tức là ông đã làm cho đảng của ông HTK yếu đi, và chính đảng mới của ông cũng không khỏe gì. Do đó, bản thân ông cũng không có lợi lộc. Bằng cớ là rốt cuộc ông chẳng được chia tí phần xôi thịt nào.
Chúng ta còn có thể dùng một hình ảnh khác để thấy rõ cái bất lợi của tình trạng đa đảng do cái kết quả của sự phân hóa: Đó là hình ảnh những con châu chấu lẻ loi bị lũ trẻ mục đồng đem chắp sợi chỉ vào chân mà đùa chơi, và từng đàn châu chấu như thế có khả năng tiêu diệt cả một cánh đồng lúa chín trong chớp mắt.
Để đóng góp cho sự bi thảm thêm trầm trọng với tình trạng đa đảng, là sự kiện những đảng phái lại đều có khuynh hướng ly tâm — cái Tâm ở đây là quyền lợi chung của dân tộc. Mỗi đảng đều chỉ hướng về một quyền lợi của đảng mình hay đúng hơn, là quyền lợi của vị lãnh tụ đảng.
Sự phân hóa ở lãnh vực đảng đưa tới sự sa đọa ở lãnh vực cá nhân chính khách. Loại chính khách sa đọa đầy dẫy trên thị trường và mặc sức tác oai tác quái vì những người còn liêm sỉ đã rút vào bóng tối để gậm nhấm nỗi buồn cô đơn, tuyệt vọng.
Hạ Viện là một phần của "thị trưởng chính khứa". Chúng ta thấy gì ở cái phần thị trường này? Thực tế bao năm qua đã trả lời quá rõ.
( còn nữa )
Một cách thành thực chúng tôi không dám tin rằng quý vị chính khách trong tòa nhà Lập Pháp [ Hạ Viện ] sẽ có thể tái đắc cử vào tháng 8 tới đây. Cử tri ngày nay đã rất sáng suốt. Riêng đối với quí vị chính khách đang ngồi ở Hạ Viện thì cứ tri đã có kinh nghiệm.
Họ đã bị lừa bịp một lần, họ không thể bị lừa bịp lần nữa.
Dường như phần lớn quí vị đương kim Dân biểu cũng đã ý thức được điều đó. Chúng tôi được nghe một người bạn Dân Biểu tâm sự rằng từ nay đến tháng Năm, nếu không có thuốc — nghĩa là không có sự đỡ đầu của một thế lực tuyệt đối nào đó — thì ông ta sẽ trở về mở quán nước giải khát cho vợ bán.
Một ông Dân Biểu khác — mà chúng tôi cũng hơi quen biết — than rằng, kỳ bầu cử tới rất có thể ông ta sẽ phải tốn khoảng 20 triệu bạc để mua phiếu! Tất nhiên phải hiểu hai chữ «mua phiếu» nghĩa là mua của những vị có quyền thế hoặc có khả năng bán phiếu, chứ rất ít khi mua trực tiếp của cử tri.
Như chúng tôi đã trình bày, cử tri ngày nay rất sáng suốt và ý thức. Họ không đời nào bán rẻ lương tâm để lấy 500 đồng bạc. Cầm mấy trăm đó để phải bỏ phiếu cho một kẻ bất xứng là một điều sỉ nhục mà họ không thể nào chấp nhận.
Hơn thế, người dân thường có một lối lý luận giản dị: Nếu ứng cử viên là người "xứng đáng", có thành tâm thiện chí và liêm sỉ, thì ông ta sẽ không bao giờ «mua phiếu» như vậy. Một kẻ đã có thể bỏ tiền ra mua phiếu tất không tin ở tư cách của mình và, hơn thế, tất là kẻ có đầu óc mua quan bán tước. Do đó, nếu đắc cử, ông ta không ngại gì mà "bán linh hồn" để kiếm lời!
Trong ba năm vừa qua, các vị Dân Biểu, Nghị Sĩ đã kiếm chác được một số tiền khá lớn qua những vụ bán chữ ký, và xuất ngoại buôn lậu. Kỳ này, họ sẵn sàng bỏ vốn lớn để kiểm lời to trong nhiệm kỳ 71-75.
Kỳ bầu cử 67, người ta đã thấy những ông tổ tham nhũng tung ra cả 2, 3 chục triệu để đắc cử. Hầu chạy tội và tiếp tục kiếm chác. Cặp "bài trùng" ở Hạ Viện là một điển hình.
Những tay tài phiệt, tư bản, tham nhũng tung tiền ra ứng cử, tất nhiên không hề nhằm mục đích phục vụ dân chúng.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 11, 1971 trang nhất
Bài 11
XI
Khi khẳng định «những tay tư bản tài phiệt tung hàng chục triệu ra ứng cử, họ không nhằm mục đích phục vụ quần chúng,» chúng tôi đã căn cứ trên thực tế xã hội và hiện trạng sinh hoạt chính trị để rút ra luật luật đó.
Bọn tư bản tài phiệt đã ngụp lặn trong vũng bùn hôi tanh của tiền bạc. Đối với họ, tiền bạc đã trở thành cứu cánh của cuộc đời, cho nên lý tưởng phục vụ bất vụ lợi không còn trong họ nữa.
Họ ra ứng cử hay ra tham chính không ngoài một trong hai mục đích hoặc cả hai mục đích sau đây: Mua danh và tạo uy thế để củng cố cái gia sản kếch xù của họ, bảo vệ quyền lợi kinh tế của họ, từng được gầy dựng trên lưng người dân nghèo.
Ở Thượng cũng như Hạ Viện, chúng ta thấy có nhiều tay trọc phú. Và, suốt 3 năm, thử hỏi những tay trọc phú đó đã làm gì, nếu không là những vận động ngầm để độc quyền buôn bán xi măng, giây thép gai, thuốc tây v.v...
Một xã cách mạng lão thành của chúng ta đã nhận định rất đúng khi ông nói: «Bọn trọc phú không bao giờ làm chính trị vì dân chúng. Họ làm chính trị vì họ và cho họ.»
Bởi vì bọn trọc phú không bao giờ muốn có những cuộc cách mạng xã hội, là điều kiện tiên quyết cải thiện đời sống quần chúng, nâng cao mức sống đồng bào và kiện toàn sức mạnh dân tộc.
Cách mạng xã hội sẽ tước bỏ mọi đặc ân của bọn trọc phú. Một sự công bằng xã hội sẽ là kẻ thù của bọn trọc phú. Chúng ta chợ đợi những tay trọc phú nhường cơm xẻ áo cho chúng ta ư?
Đó là những lý do cắt nghĩa tại sao người dân không thể tin tưởng vào tinh thần phục vụ của những kẻ tung ra hàng chục triệu để mua một tước vị Đại diện. Người dân họ không cần 500 bạc vì nó không giúp cho đời sống họ dễ thở hơn, không giúp họ có công ăn việc làm, không giúp con cái họ có trường học. Người dân cần những sự phục vụ, cần những bộ óc sáng tạo cách mạng.
Do đó, họ cần những người thành tâm thiện chí và có lý tưởng phục vụ.
Chúng tôi muốn nói tới người dân ngày hôm nay đã sáng suốt hơn sau nhiều keo bị lừa đảo bịp bợm bởi một bọn chính khách ma đầu.
Chúng tôi có thể quả quyết rằng, nếu đã từng có những vụ mua bán phiếu thì chắc chắn không phải cử tri đã bán phiếu vì bán như thế là bán chính lương tâm mình. những phần bất cứ phải bối như vậy bản chất lâu lượng tâm hồn. Bọn chính khách trọc phú đã mua phiếu của một số kẻ có quyền uy theo từng cử tri. Chính vì thế mà có hiện tượng lạm phát chính khứa và phần lớn là những chính khứa ma đầu.
Điều chua xót là từ khi có Quốc Hội, dân chúng ngày càng khổ cực hơn cả về tinh thần lẫn vật chất. Nói như thế không phải chúng tôi phủ nhận sự hữu ích của cơ cấu lập pháp trong một chế độ dân chủ phân quyền.
Nhưng cơ cấu này chỉ hữu ích khi nó bao gồm những thành phần có tâm huyết và có tinh thần phục vụ quần chúng.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 12, 1971 trang nhất
Bài 12
XII
Trong Hạ viện của chúng ta hiện nay, người có khả năng và thiện chí đếm được trên đầu ngón tay. Ngay cả những kẻ mang danh đối lập và thường gây huyên náo cũng chỉ là những cái thùng rỗng.
Các ông DB này chưa từng làm một việc gì hữu ích thiết thực cho dân. Họ chỉ lăm le chửi chính phủ và tìm cách hạ chính phủ nếu trong đó không gồm đa số là những người đồng bọn với họ.
Hơn thế, trong khi vỗ ngực là đối lập, họ sẵn sàng bán chữ ký với giá cao. Vụ kiến nghị và vụ Luật Ngân sách 71 là một bằng cớ hùng hồn! Tất cả những ông lớn tiếng chống đối nhất đều đã thò bút ký và giơ tay biểu quyết.
Những hành vi của đa số DB trong 3 năm qua đã làm nản lòng người dân. Họ làm cho cử tri thất vọng. Trong kỳ bầu cử tới đây, hoặc là cử tri sẽ chán ngấy đến không muốn đi bầu nữa, hoặc họ bỏ phiếu bừa với ý nghĩ «chọn lựa nào thì cũng vậy thôi. Thằng nào cũng như thằng nấy.»
Phản ứng tâm lý trên sẽ rất nguy hiểm. Cuộc bầu cử sẽ trở thành một cuộc xổ số. Và nếu tình trạng đó xảy ra thì một lần nữa toà nhà lập pháp của chúng ta lại chứa đựng 90% phần tử bất xứng.
Còn một mối nguy quan trọng hơn cũng có thể xảy ra nếu cử tri đi bầu với tâm trạng "cho xong việc".
Chúng ta đều biết hiện nay, trên phương diện quân sự, Cộng sản đã thua nặng và rõ rệt; chúng đã hoàn toàn tuyệt vọng ở lãnh vực này. Do đó, chiến tranh quân sự sớm muộn cũng tàn lụi. Nhưng cuộc xung đột giữa hai ý thức hệ Quốc Gia và Cộng sản chưa thể chấm dứt vì CS không dễ gì từ bỏ ý đồ xích hóa miền Nam.
Do đó, chúng sẽ quay sang mưu tìm chiến thắng bằng phương tiện chính trị thuần túy. Nhiều nhà quan sát đã tiên đoán kỳ bầu cử 71, CS sẽ đưa người của chúng ra ứng cử, với hy vọng cài càng nhiều càng tốt tay sai của chúng vào các cơ cấu dân cử.
□ HỒNG DƯƠNG
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 14_15, 1971 trang nhất
Bài 13
XIII
Nhận xét đó không xa thực tế, vấn đề các bộ CS nằm vùng ngoài hay trong chính quyền thông phái là một điều mới lạ. Trong quá khứ, đã có những cán bộ CS nằm vùng trong cơ quan Hành Pháp cũng như Lập Pháp bị lật mặt ra. Vụ HVT [ Huỳnh văn Trọng ] và vụ TNC [ Trần Ngọc Châu, Dân Biểu ] là hai trường hợp điển hình.
Do đó, người dân không thể không cảnh giác. Chúng tôi nhắn danh một người quốc gia không chấp nhận CS có bổn phận lưu ý cử tri.
Chúng tôi cũng muốn lưu ý cả những ông chính khách đang tự nhận là đối lập – với chính quyền – nhưng hành động của các ông lại là chống người Quốc gia, chống chủ nghĩa Quốc gia.
Nói tóm lại, có nhiều ông chính khách đối lập vô ý thức, thay vì chống đường lối thi hành chính sách hay có thể chống chính sách, thì lại chống chế độ.
Quốc gia này là quốc gia chống cộng hay nói đúng hơn là quốc gia này không chấp nhận được Cộng sản, lập trường đó được ghi rất kỹ trong Hiến Pháp. Vậy thì không thể có vấn đề đối lập nhân danh CS hoặc gián tiếp binh vực CS.
Nhân nói tới đối lập, chúng tôi tự thấy có bổn phận phải trình bày sơ qua tình trạng đối lập hiện nay trong thị trường chính trị VN.
Hiện nay, cái mác đối lập được coi là ăn khách trên thị trường chính trị VN. Bởi vì tổ chức chính trị của chúng ta chịu ảnh hưởng nặng của tổ chức chính trị Tây phương ngày nay, được gọi là chế độ dân chủ. Và theo đó, đối lập được coi như một sự cần yếu, một phương pháp hợp pháp và thích hợp nhất để làm cho đường lối chính trị được sáng sủa.
Chẳng hạn ở Anh, lãnh tụ đối lập được hưởng mọi ưu đãi của nhà nước, bởi họ quan niệm đối lập như một bổn phận công dân; Người làm công việc đối lập là thi hành bổn phận công dân.
Ở Mỹ cũng vậy, không nhất thiết người ở đảng đối lập không được quyền ngồi ngay trong chính phủ. Không ai cấm cản một ông Tổng thống đảng Cộng Hòa xử dụng những Bộ trưởng là người của đảng Dân chủ.
Nói như vậy để cho thấy đối lập đúng nghĩa không phải là kẻ thù của nhau đến mức phải tìm mọi cách để tiêu diệt nhau.
Nhưng ở thị trường chính trị VN, người ta đã quan niệm sai lầm vô ý hoặc cố tình vấn đề đối lập.
□ HỒNG DƯƠNG
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 17, 1971 trang nhất
Bài 13
XIII (tiếp theo)
Trên nguyên tắc, chúng tôi không muốn đề cập tới trường hợp từng cá nhân chính khách. Tuy nhiên, một đôi thì phải nhắc tới ông A ông B, chẳng qua chỉ là để dẫn chứng.
Bây giờ chúng tôi xin trở lại với vấn đề bầu cử, một vấn đề liên hệ trực tiếp tới «thị trường chính khứa.»
Ngay từ bây giờ, người ta đã thấy các chính khứa rầm rộ chạy ngược chạy xuôi, chui cửa trước lòn cửa sau để tìm những thế lực hậu thuẫn. Điều mỉa mai là những người thành tâm thiện chí, có khả năng và tha thiết với quyền lợi tổ quốc dân tộc thì phần lớn lại đói rách, cô đơn và yếu thế.
Những người này lại không thể chạy cửa hậu, và do đó họ sẽ vô cùng vất vả nếu muốn tham dự việc nước một cách tích cực.
Nói về thế lực hậu thuẫn cho cuộc bầu cử, hiện nay người ta thấy có 3 thế lực chính:
1) Lực lượng Thiên Chúa Giáo.
2) Lực lượng Phật giáo Ấn Quang.
3) Chính quyền.
Ba thế lực này nếu đem so sánh thì hơi khó để mà kết luận thế lực nào mạnh. Tuy nhiên, một cách khách quan, người ta vẫn có thể tìm ra một tương quan tương đối.
Về lực lượng Phật Giáo, số lượng có thể đông đảo hơn Thiên Chúa Giáo. Nhưng đó là lý thuyết. Bởi vì dân VN có một thói quen hiểu những người không Công giáo là những người theo đạo thờ phụng tổ tiên nghĩa là cũng có cúng vái nhưng không đi chùa, không biết tới các Thượng tọa, Đại đức.
Lại nữa, vì Phật giáo mới được tổ chức lại, cho nên vấn đề kỷ luật bỏ phiếu chưa được chặt chẽ.
Trong khi đó, khối Công Giáo tuy lượng ít hơn nhưng lại mạnh về phẩm Họ có một truyền thống kỷ luật lâu đời và chặt chẽ. Mỗi mệnh lệnh của cấp lãnh đạo Công giáo ban ra thường là được hàng giáo dân thi hành nghiêm chỉnh.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 18, 1971 trang nhất
Bài 14
XIV
Trong kỳ bầu cử bán phần Thượng Viện vừa qua, kỷ luật bỏ phiếu của khối cử tri Công giáo tỏ ra có phần sứt mẻ. Tuy nhiên, đó chỉ là một trục trặc nhỏ.
Dù sao khối giáo dân Công giáo vẫn là một lực lượng được coi như thuần nhất hơn cả. Vấn đề còn lại đối với khối Công giáo hiện nay là sự đồng nhất lập trường của các vị lãnh đạo tinh thần.
Nếu các vị Linh mục thường lẫn lộn việc đạo và việc đời, thì chắc chắn những lá phiếu của Công giáo không bao giờ có thể tản mát được. Và do đó, khối Công giáo này sẽ là một lực lượng quần chúng hùng mạnh.
Như chúng tôi đã có dịp trình bày ở những bài trước đây, ngày nay ở xã hội VN các chính đảng không có giá trị, vì không một chính đảng nào có thực lực, không một chính đảng nào có hậu thuẫn quần chúng đông đảo.
Chỉ còn lại Tôn giáo. Cả những chính đảng cũng dựa vào tôn giáo. Và vì các chính đảng phải dựa vào tôn giáo cho nên mặc nhiên các tôn giáo lớn trở thành một thứ siêu chính đảng. Do đó, yếu tố tôn giáo trong các cuộc bầu cử những cơ cấu dân cử là 2 tố quyết định.
Thế lực thứ ba là thế lực chính quyền. Thế lực này trước kia là thể lực mạnh nhất nhưng ngày nay nó chỉ mạnh ở một số địa phương. Các cuộc bầu Tổng thống, Thượng Viện, Hạ Viện 1967 và bán phần Thượng Viện 1970 cho thấy tại những nơi chỉ mục quan chiêm như Saigon Gia định, yếu tố chính quyền không có ưu thế. Trái lại thế lực này được gọi là tuyệt đối mạnh ở những địa phương xa xôi, nhất là tại những nơi thiếu an ninh.
Ngoài ba thế lực trên, hai tôn giáo Cao Đài Hòa Hảo cũng là một lực lượng đáng kể, nhưng chỉ ở một số địa phương bao quanh Thánh Địa của các tôn giáo này.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 19, 1971 trang nhất
Bài 15
XV
Theo sự dò hỏi của chúng tôi thì ngay từ bây giờ, các chánh khách đã bắt đầu lui tới cửa chùa và nhà thờ luôn luôn. Có những ông sáng chạy tới nhà thờ “lạy cha, Amen”, chiều tới chùa “Nam mô a di đà Phật”.
Những ông này tưởng như thế là khôn, bắt cá 2 tay. Nhưng thực ra thái độ đó chỉ tố giác tính chất «ma giáo», điều mà các vị lãnh đạo tinh thần kỵ nhất. Có thể, trên nguyên tắc vì lịch sự, các Thượng tọa và Linh Mục sẽ không nói ra. Nhưng sẽ không bao giờ các vị này lại ủng hộ bọn chánh khách ma đầu như vậy.
Không phải vấn đề kỳ thị tôn giáo mà vấn đề là những kẻ bắt cá hai tay thường cố tình tham lam tráo trở.
Trong quá khứ, khối cử tri Công giáo từng gặp phải những tay tráo trở một cách trắng trợn. Trong số báo Diều Hâu mới nhất, có một bài đề cập tới 1 ông Dân biểu bị coi là «giáo gian». Ông này là người Công giáo đắc cử nhờ phiếu bầu của cử tri Công giáo nhưng sau đó lại chạy theo Ấn Quang để hy vọng «ở xứ mù thì thằng chột làm vua.»
Thật ra Công giáo hay Phật giáo hay Cao Đài Hoà Hảo thì cũng là người V.N. có bổn phận phục vụ quyền lợi chung của đất nước dân tộc.
Nhưng bên cạnh quyền lợi tối thượng đó, đối với vai trò Dân biểu còn có khía cạnh quyền lợi địa phương hay thành phần xã hội mà mình đại diện. Một chính khách bước vào Hạ Viện bằng phiếu của công nhân - lao động - mang danh nghĩa đại diện Lao Động - mà khi sinh hoạt trong nghị trường lại chỉ bênh vực cho quyền lợi của một giai cấp tài phiệt chủ nhân là một điều không thể chấp nhận được.
Cũng vậy, một Dân biểu đắc cử bởi phiếu của cử tri Công giáo thì ít nhất phải có thành tín trước sau như một đối với quyền lợi tinh thần của Hội Thánh Công Giáo và phải biết phục vụ quyền lợi giáo dân, như thể một công việc Tông đồ, Chúa không bao giờ dạy các Tông đồ yêu kẻ này ghét kẻ kia. Tuy nhiên những tên «Judas» cũng không thể được vào nước Chúa. Nói cách khác, sự phản trắc là điều không thể chấp nhận được.
HỒNG DƯƠNG
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 20, 1971 trang nhất
Bài 16
XVI
Thật ra thì không ai có thể chấp nhận sự phản trắc. Trong kỳ bầu cử 1967, các ứng cử viên đã hứa rất nhiều nhưng suốt gần 4 năm nay, chưa có một ông Dân biểu nào thực hiện được 1/100 sự hứa hẹn của họ. Trái lại, hành động và tư cách của nhiều ông bà Dân biểu đã làm cho cử tri phải đỏ mặt vì thẹn. Người dân không thể không xấu hổ khi thấy vị đại diện của mình bán chữ ký, buôn lậu một cách trắng trợn. Trong trường hợp ông DB Nguyễn Ngọc Nghĩa đã trở thành một giai thoại điếm nhục. Trường hợp ông DB Phạm chí Thiện và Võ Văn Mẫu cũng là một nhục nhã cho ngành Lập Pháp.
Thị trường chính khách ô hợp và bẩn thỉu như vậy đó.
Với một tình trạng người làm chính trị kiểu ông Nghĩa ông Thiện, ông Mẫu, đất nước này làm sao khá được. Cuộc đấu tranh chính trị với CS mà chúng ta sắp phải đương đầu chắc chắn sẽ là một thảm bại, nếu chúng ta không kịp thời thanh lọc hết những chính khách bẩn thỉu, chấn chỉnh lại hàng ngũ những người đại diện dân.
Những khuôn mặt cũ rích trên sân khấu chính trị hiện nay hầu hết đã bị nám đen. Một cuộc Cách mạng toàn diện trong thị trường chính khứa cần phải được phát động ngay từ bây giờ.
Chẳng phải biết bắt chước con bồ nông của thi sĩ người Pháp mổ bụng thay hết ruột gan. Chỉ có một cuộc tẩy uế tận gốc rễ như vậy mới hy vọng cứu vãn được tình hình chính trị của miền Nam.
Và trong việc này, chính quyền không đủ khả năng làm. Bởi ngay trong chính quyền cũng còn đầy rẫy những thành phần chính khách xôi thịt.
Chỉ có người dân làm nổi. Người dân cùng một lúc phản tỉnh, cảnh giác, hợp quần, nhất chí dùng lá phiếu để gạt bỏ hết những khuôn mặt cũ rích mốc meo đang múa may quay cuồng trên sân khấu chính trị. Mang vào thị trường chính khứa một sinh khí mới.
Chúng tôi không dám quan niệm như Phó Tổng thống Kỳ phải gạt bỏ hết những người già. Nhưng chúng tôi quan niệm một thành phần trẻ chọn lọc dù sao cùng còn nhiệt huyết và hăng say lý tưởng phục vụ.
Nói như thế không có nghĩa người trẻ nào cũng làm việc được. Thật ra thực tế đã từng cho thấy nhiều người trẻ tuổi trong Hạ Viện hiện nay đã chỉ là một thứ giá áo túi cơm.
Khi nói tới những người trẻ, chúng tôi mong muốn nói tới một thành phần trẻ chọn lọc, hội đủ yếu tố «trẻ tuổi, trẻ tâm hồn, trẻ sáng kiến, nhưng già về suy tư và khả năng.»
Nói cách khác, đó là những người trẻ có kiến thức và khả năng, mà quá trình hoạt động chứng minh được tinh thần phục vụ còn hăng say.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 23, 1971 trang nhất
Bài 17
XVII
Chúng tôi mạn phép mở một dấu ngoặc lớn ở đây, để bắt vào một chuyện hết sức thời sự. Đó là vụ các Dân biểu buôn lậu bị thộp cổ tại trận. Các ông Phạm chí Thiện, Võ văn Mẫu và Nguyễn Quang Luyện.
Ông Võ văn Mẫu thì dính líu trong vụ 9 ký bạch phiến bị phát giác cách đây ít lâu. Ông Phạm chí Thiện mang lậu 4 ký bạch phiến và bị bắt quả tang tại phi trường Tân Sơn Nhứt. Cuối cùng là DB Nguyễn quang Luyện, đệ nhị phó chủ tịch Hạ Viện bị bắt quả tang tại Thái Lan mang lậu trong va li 15 kí lô vàng.
Thật ra đây không phải là lần đầu tiên xảy ra vụ DB buôn lậu. Trong quá khứ đã từng có nhiều ông DB xuất ngoại buôn lậu và bị phát giác. Số DB buôn lậu may mắn chưa bị phát giác còn nhiều hơn nữa. Những ông nay tuy chưa bị nhân viên hữu trách bắt quả tang, nhưng dư luận quần chúng thì lại biết rất rõ.
Các sự kiện này ít ra chứng minh cho những gì mà chúng tôi đã trình bày trong những bài trước đây về "thân phận Dân Biểu" nói riêng và về chính khứa nói chung.
Tình trạng chính trị ô hợp đã làm nảy sinh ra những chính khứa dơ bẩn và vô khả năng, bất xứng và số này tập trung khá đông ở trong Hạ Viện. Chúng tôi đã từng có dịp theo dõi sinh hoạt Hạ Viện suốt hơn 2 năm liền. Và điều mà chúng tôi có thể khẳng định là muốn tìm một ông DB có khả năng, sạch sẽ tư cách, có tỷ tưởng phục vụ … sẽ là một việc mò kim đáy biển.
Một nhận định khác của chúng tôi cũng đã được chứng minh là «những ông DB giàu có phần lớn là những người tham lam, thích vào Hạ Viện để làm áp phe hơn là làm việc nước.»
Chẳng hạn như trường hợp DB Luyện, ông ta là một người giàu. Bằng cớ là ông ta dám bỏ ra 19 triệu bạc chỉ để xây một cái pit xin [ piscine = swimming pool = hồ bơi ] trong nhà. Để có thể chi tiêu phung phí như thế tất nhiên ông ta phải có cách xoay tiền.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 24, 1971 trang nhất
Bài 18
XVIII
Hai ông DB Phạm chí Thiện và Nguyễn quang Luyện đều thuộc đơn vị Gia Định 1 tức là một nơi có số phiếu cử tri Công giáo được coi là quyết định.
Nói cách khác, 2 ông DB này đã nhờ xin được phiếu cử tri Công giáo mà đắc cử, do đó, trên phương diện tinh thần, ông Thiện và ông Luyện phải chịu trách nhiệm trước cử tri Công giáo Gia Định 1.
Trước hành vi bê bối của 2 ông Thiện, Luyện, có người cho rằng cử tri Công giáo Gia Định 1 có một phần trách nhiệm vì chính các cử tri này đã chọn bỏ phiếu cho 2 ông DB bê bối nói trên.
Cũng như khi một người con trai trưởng thành tự ý chọn vợ, chẳng may vớ phải cô vợ chẳng ra gì thì mình ráng chịu, không thể đổ trách nhiệm ấy cho ai được.
Lý luận như thế cũng đúng nếu quả thật các cử tri hoàn toàn đích thân chọn lựa ứng cử viên. Nhưng ở đây chúng ta hãy xem một vấn đề cần nêu ra là việc căn cứ trách nhiệm ấy lại hoàn toàn thể theo chọn lựa của các cử tri trong nề nếp tôn giáo và đoàn thể có kỷ luật rất chặt chẽ. Đối với thành phần phụ thuộc vào việc chọn lựa ứng cử viên thì họ sẽ chịu tùy thuộc một phần lớn vào sự chọn lựa của cấp lãnh đạo của họ. Họ sẽ bỏ phiếu cho ứng cử viên nào đã được cấp lãnh đạo tinh thần của họ chỉ định hay chính thức ủng hộ.
Chính đó là lý do tại sao các ứng cử viên luôn luôn phải chạy chọt các Thầy các Cha.
Sinh hoạt dân chủ ở xã hội Việt Nam chưa thành một truyền thống. Người dân nói chung còn chưa quen lắm với lề lối dân chủ nhất là chưa có kinh nghiệm đối với các sinh hoạt chính trị, do đó họ cũng chưa đào luyện được một ý thức chín chắn và quyền lực chính trị của mình qua lá phiếu và qua người đại diện của họ trong cử chính quyền. Bởi thế, nhiều khi họ chỉ coi công việc đi bầu như một bổn phận bất đắc dĩ phải thi hành chứ chưa ý thức rõ rệt đó còn là một quyền hạn để bảo đảm quyền lợi tinh thần và vật chất của họ.
Đó là tâm lý chung của phần lớn cử tri trong cuộc bầu cử 1967. Và hậu quả của tâm lý này là một Hạ Viện bất xứng, thiếu khả năng, bê bối, bẩn thỉu... như ngày nay.
Dù rất xót xa, nhưng cũng phải thành thật nhìn nhận 99% DB của chúng ta hiện nay chỉ là những thành phần múa rối, là những đào kép bất đắc dĩ, đóng tuồng một cách vụng về ngây ngô.
Nếu trong đó có được vài phần tử khôn ngoan, thủ đoạn thì lại chỉ là cái khôn ngoan thủ đoạn của giới làm áp phe.
Chúng ta không thể chấp nhận cái lý luận ngớ ngẩn của ông Luyện khi ông cho rằng DB Thiện vì nghèo nên mới phải mang thuốc phiện lậu đem về để lãnh công. Nói như vậy là gián tiếp nhục mạ giới nghèo.
Thật sự, nhiều người nghèo có lương tâm không làm công việc bẩn thỉu đó. Vả chăng, ông Luyện là một người rất giàu (có thể bỏ tới 19 triệu để xây một hồ tắm trong nhà) mà vẫn làm công việc buôn lậu như thường. Điều đó chứng minh hùng hồn rằng chính kẻ giàu hay làm bậy hơn kẻ nghèo.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar 26, 1971 trang nhất
Bài 19
XIX
Vả chăng, các DB không được cái vinh dự để tự coi là thành phần nghèo. Chưa kể những áp phe vặt như công tác đặc biệt, phụ cấp như vụ bán chữ ký và những áp phe lớn hơn như xuất ngoại đổi đô la và buôn lậu.
Nếu DB như vậy mà được coi là nghèo thì người công chức và người lính còn nghèo biết bao. Sẽ phải tìm một chữ nào khác thay thế chữ nghèo mà quân nhân, công chức đã giữ độc quyền trong hàng chục năm nay?!
Nói tóm lại, dối với các ông DB buôn lậu, không còn một lập luận nào có thể biện minh được cho tội trạng của các ông trước tòa án dư luận và tòa án lương tâm. Sự nghiệp chính trị của các ông bắt buộc phải chấm dút từ đây, và vết nhơ đó sẽ như một vết chàm không bao giờ tẩy sạch.
Trong một quốc gia đang bước sang giai đoạn đấu tranh chính trị cới quân cộng sản xâm lăng, một chính khách quốc gia bị đốt cháy là một thiệt thòi cho đất nước. Tuy nhiên, nếu chính khách bị đốt cháy hay đó là một kẻ bẩn thỉu như các ông Thiện, Luyện, thì đó là một cái lợi.
Cử tri Công giáo ở Gia Định sau vụ Thiện, Luyện đang dấy lên nỗi bất bình. Ngay như các vị lãnh tụ tinh thần cũng phải chia xẻ hành động mà hai ông Thiện, Luyện đã phản bội trắng trợn, làm nhục lây cho người đỡ đầu các ông và cho những cử tri đã bỏ phiếu cho các ông.
Do đó, người ta e ngại rằng các DB cũ nói chung sẽ khó mà tái đắc cử. Riêng các DB của đơn vị Gia định l càng không có hy vọng nào tái đắc cử.
Thật ra, nếu còn một chút liêm sỉ, các ông này không nên ra ứng cử nữa mới phải.
★
Tình trạng chính trị của chúng ta nhem nhuốc như vậy, nếu không có ngay một cuộc thanh lọc lớn, nếu không có một cuộc cải thiện sâu rộng, và nhất là nếu không tạo dựng ngay được một lớp người hoàn toàn mới thì sẽ không có hy vọng gì chiến thắng Cộng sản trong những giai đoạn sắp tới.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar 27, 1971 trang nhất
Bài 20 [ kỳ cuối ]
XX
Hiện nay, mọi người đều ý thức rằng cuộc chiến đấu của chúng ta đang chuyển hướng. Giai đoạn đấu tranh sắp tới sẽ là một cuộc đấu tranh chính trị.
Những chính khách sẽ là những chiến sĩ. Nhưng, với tình trạng này làm sao chúng ta có được thứ chiến sĩ gan dạ, có khả năng và tinh thần chiến đấu anh dũng, bất chấp những khó khăn gian khổ như các chiến sĩ quân sự của chúng ta tại các mặt trận Kampuchea, Hạ Lào.
Hãy tưởng tượng mặt trận chính trị toàn diện sau này, đoàn quân của chúng ta sẽ là những ông Nguyễn quang Luyện, Phạm chí Thiện, Lê Tài Hòa, Võ văn Mẫu, Kiều mộng Thu, Dương văn Ba v.v...
Một toán quân vô khả năng, bất xứng, tham những, hèn nhátt và ô hợp như vậy, làm sao có thể chiến thắng được?
Cho nên, chúng tôi quan niệm phải có một cuộc cách mạng toàn diện ngay trong ý thức bầu cử của cử tri, phải nhìn cho rõ người, phải xét đoán cho kỹ càng trước khi quyết định chọn lựa một ứng cử viên, phải gạt vấn đề tình cảm tầm thường và phải tự đặt cho mình một trách nhiệm nặng nề đối với lá phiếu mà mình xử dụng.
Các cử tri cũng phải nhận thức rõ rệt một nhu cầu cấp bách là thay đổi toàn diện và tận cùng bộ mặt «thị trường chính khứa» hôm nay. Đưa vào thị trường những người mới có khả năng thiện chí, trong sạch từ căn bản để gây một sinh khí mới cho sân khấu chính trị.
Chỉ có cách đó chúng ta mới hy vọng chiến thắng Cộng sản thêm một trận nữa trên bình diện chính trị và chiến thắng này mới là chiến thắng quyết định cho sự sống còn của dân tộc, sự trường tồn của đất nước.
HẾT
□ HỒNG DƯƠNG $pageOut $pageIn Phân đoạn 4
#Tien Tuyen Mar. 01, 1969 trang ba #Tien Tuyen Mar. 01, 1969 trang ba
(Bài 003) Sinh Viên Quốc Gia Thờ Ma Cộng Sản
SINH VIÊN QUỐC GIA THỜ MA CỘNG SẢN
NẰM VÙNG TUYÊN TRUYỀN, PHÁ HOẠI BỊ 5, 6 NĂM Khổ Sai.
SAIGON – Hoạt động cho CS, hai sinh viên Nguyễn Văn Chín và Hồ Hùng Văn đã can tội phản nghịch và lần lượt bị kết án sáu năm và năm năm khổ sai.
Theo cáo trạng của Tòa án Quân sự Mặt Trận Lưu Động Vùng III, Nguyễn văn Chín, bí danh Chi, sinh viên Khoa học Xã hội, thuộc Viện Đại học Vạn Hạnh, đầu tháng 2-68 sau đợt tổng công kích Tết Mậu Thân của CS, đã tham gia hoạt động trong Ủy ban Cứu trợ đồng bào chiến nạn của Tổng hội Sinh viên Saigon.
Tháng 3-68, do sự tuyên truyền của Bùi Nghị, Phó Chủ tịch ủy ban Cứu trợ nói trên, Chín tham gia hoạt động trong cánh sinh viên học sinh giải phóng Thủ đô của Việt Cộng lập ra. Trong thời gian này Chín đã xây dựng được nhiều cơ sở trong giới sinh viên học sinh Saigon.
Tháng 6-68 Chín thuê căn gác tại nhà số 129/23, đường Nguyễn Trãi, để tiện hoạt động trong khu vực phường Chợ Quán.
Cuối tháng 7-8, Chín được đề bạt làm Tổ Trưởng và đã bảy lần nhận của giao liên VC 1 số quan trọng truyền đơn, cờ của cái gọi là “MTGP”, tài liệu VC và hai súng lục K-54 Trung Cộng.
Chín đã phân phối số tài liệu và truyền đơn trên cho các tổ viên để rải và treo cờ tại các đường phố, rạp hát và các cư xá tản mác tại Saigon.
Chín đã tìm hiểu các thành phần quân nhân, cảnh sát và cán bộ chính phủ cư ngụ trong khu vực Chợ Quán để chờ dịp Việt cộng tổng công kích thì sẽ hướng dẫn bộ đội Cộng sản lùng bắt các thành phần quốc gia đem ra Tòa án Nhân dân của Việt Cộng xét xử.
Ngày 10-9-68, Chín bị bắt tại sào huyệt là căn nhà 129/23 Nguyễn Trãi.
Bị can thứ hai, Hồ Hùng Văn, là sinh viên năm thứ ba Luật Khoa Sài gòn. Năm 1967 Văn được bầu làm Tổng Thư ký Ban Chấp hành Sinh viên Luật khoa, do Nguyễn Đăng Trừng làm Chủ tịch và Trịnh Đình Ban làm Phó Chủ tịch.
Tháng 6-68, Văn được kết nạp vào tổ võ trang tuyên truyền của Chín.
Văn đã nhiều lần móc nối các sinh viên học sinh để xây dựng công tác, cùng thực hiện công tác rải truyền đơn, treo cờ v.v…
Vân bị bắt ngày 13-9-68 tại nhà.
Trước Tòa, 2 bị can nhận các hoạt động trên và khước từ lời biện hộ của Luật sư.
Tòa đã xác nhận tội trạng của 2 bị can và tuyên phạt với bản án như trên.
Phiên tòa chiều nay họp tại Pháp đình Saigon, đường Công Lý, do Đại Tá Trần văn Quyền ngồi ghế Chánh thẩm và Đại úy Trương thanh Kiều ngồi ghế Ủy viên Chánh phủ.
#Chính Luận Feb. 26, 1969 trang nhất
(Bài 004) Vụ Thích Thiện Minh bị bắt #Chính Luận Feb. 26, 1969 trang nhất
Tổng Nha Cảnh Sát Họp Báo Cho Biết: Nhờ Biết Trước Kế Hoạch Của Dịch 12 Tiếng Đồng Hồ Trước Khi Tiếng Súng Đầu Nổ
Phá Vỡ Mưu Toan Tổng Công Kích Đô Thành Đợt 4
BẮT SỐNG 32 ĐẶC CÔNG QUYẾT TỬ CỘNG SẢN.
«CỌP CÁI» QUẬN 6 ĐÃ BỊ SA BẪY, ĐANG TRUY LÙNG CÁC «CỌP CÁI» KHÁC Ở CHOLON
►Bắt Giữ Thượng Toạ Thiện Minh Vì «Khám Phá Thấy Nhiều Tài Liệu Cộng Sản Và 1 Căn Phòng Bí Mật Tại Cư Xá 294 Công Lý Do Thượng Toạ Làm Quản Đốc.»
►Phá Tan Một Tổ Chức Võ Trang Tuyên Truyền Cộng Sản Ở Đường Trương Minh Giảng, Bắt 11 Sinh Viên Với Nhiều Súng Đạn, Chất Nổ
by Duy Sinh
Saigon 25-2 – Đại tá Trần Văn Hai, Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, nhân dịp chủ toạ cuộc họp báo quan trọng sáng nay, cho biết mục đích họp báo là nhằm trình bày trước dư luận trong và ngoài nước những nỗ lực không ngừng và thành quả của ngành Cảnh Sát trong việc phá vỡ các tổ chức khủng bố, tấn công, xách động của Cộng sản trong thời gian gần đây. Chi tiết các thành quả đã được Thiếu Tá Nguyễn Mâu, Phụ Tá Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia Đặc Trách Cảnh Sát Đặc Biệt, Và Thẩm Phán Trang Sĩ Tấn, Giám Đốc Nha Cảnh Sát Đô Thành lần lượt trình bày.
Mưu Toan Tổng Công Kích Đợt 4
Trước hết, Thiếu Tá Nguyễn Mâu trình bày vụ tiêu diệt toàn bộ chỉ huy quận 6 của Việt cộng, thành phần nòng cốt của mưu toan tổng công kích đợt 4.
Do việc khai thác cung từ, tài liệu, Cảnh Sát Đặc Biệt khám phá ra công thức X 4 ngày J + 7 giải thích công thức cho thấy địch mưu toan tấn công Đô thành vào ngày 22 với chiến thuật tiền pháo hậu xung (pháo kích trước, xung phong phá hoại sau) sau đó sẽ xách động đấu tranh chính trị, phá nhà đèn, khủng bố ám sát, đặt chất nổ tối đa mà nỗ lực quan trọng nhất là nhằm vào quận 6. Nhờ có mật báo, Cảnh Sát Quốc Gia biết trước kế hoạch của địch 12 tiếng đồng hồ trước tiếng súng đầu tiên, nên đã kịp thời theo dõi khám phá, bao vây tiêu diệt toàn bộ chỉ huy của địch ở quận 6 (đặt tại số 314/6 đường Lò Siêu) bắt sống tại chỗ 43 tên đặc công quyết tử trong số đó có tên Nguyễn v. Thành tự Năm Tiến, bí thư thường uỷ được coi như quận trưởng quận 6 của Việt cộng. Chính Năm Tiến đã hợp tác trong các kế hoạch phản tình báo và hiện được coi như sĩ quan cao cấp hồi chánh.
Cọp Cái Bay Bướm
Thiếu Tá Nguyễn Mâu đem trình diện trước báo chí một nữ đặc công VC có biệt tài xử dụng súng K-54 và lái xe Honda rất tài tình bay bướm. Nữ đặc công này, tên Tăng thị Hoa, là một trong những con cọp cái hung thần của tổ chức đặc công VC quyết tử quận 6, hiện Tăng thị Hoa đang hợp tác với Cảnh sát để truy nã các con cọp cái khác tại Cholon. Cảnh Sát Đặc Biệt đã tịch thâu tại bộ chỉ huy này toàn bộ võ khí gồm 21 súng K-54, 8 AK-47, 2 Carbine, một số chất nổ khổng lồ C4 gồm 150 hộp chất nổ đủ loại. Vụ phá vỡ này khiến an ninh tại Cholon yên tịnh ít nhứt 1 tháng trước khi địch có thời giờ củng cố cơ sở.
Vụ Bắt Giữ Thượng toạ Thích Thiện Minh
Thẩm Phán Trang Sĩ Tấn, Giám Đốc Nha Cảnh Sát Đô Thành trình bày cặn kẽ vụ lục soát Cư Xá 294 Công Lý do tu sĩ Đỗ Xuân Hàng tức Thượng toạ Thích Thiện Minh làm Quản đốc.
Do việc bắt giữ tên Cao Duy Tuấn, bí thư chi bộ Cộng sản, theo cung từ, y đặt trụ sở tại Cư Xá 294 Công Lý nên vào hồi 2 giờ 30 đêm 23-2-1969, Cảnh Sát Đô Thành đã khám xét Cư Xá này theo đúng luật lệ hiện hành. Tại đây, Cảnh Sát tịch thâu 1 súng lục Trung cộng K-54 cùng nhiều tài liệu Cộng sản trong phòng A7 (phòng của Cao Duy Tuấn). Ngoài ra, Cảnh Sát còn bắt được nhiều thư chúc Tết của Hồ chí Minh, 3 mẫu thư được mang ra trình diện trong đó thư chúc Tết ký tên Hồ chí Minh với các câu như: - Năm qua thắng lợi vẻ vang, Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to. Vì độc lập vì tự do. Đánh cho Mỹ cút đánh cho nguỵ nhào. . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Tại phòng Thượng toạ Thiện Minh, Cảnh Sát đã bắt giữ 8 thanh niên bất phục tùng, đào ngũ, hoạt động cho Cộng sản.
Ông Tấn cho biết, Cảnh Sát còn tìm thấy một chiếc tủ có 2 đáy với cánh cửa ăn thông vào một căn phòng bí mật, mà nhu cầu điều tra chưa cho phép công bố những gì đã tìm thấy trong căn phòng này.
Tại Cư Xá 294, Cảnh Sát còn bắt giữ một số thanh niên bất phục tùng, không giấy tờ chứng minh, trốn trong các phòng tắm, mái nhà Cư Xá.
Quan trọng hơn cả, Cảnh Sát đã tìm thấy một lá thư do Thượng toạ Thiện Minh gửi cho một tu sĩ khác xác nhận tại Cư Xá này có cất giấu chất nổ, võ khí, tài liệu Cộng sản, và cất giấu thanh niên bất phục tùng, đào binh.
Đáp câu hỏi về số phận Thượng toạ Thiện Minh, ông Nguyễn Thạch Vân, Phụ tá Đặc biệt Phủ Thủ tướng cho biết, hiện Thượng toạ Thiện Minh được tạm lưu giữ tại mợt cơ quan an ninh và được cư xử rất tương xứng. Thượng toạ bị lưu giữ để trả lời về trách nhiệm hiểu biết – liên hệ giữa ông và tổ chức Cộng sản tại Cư Xá 294 Công Lý mà cơ quan an ninh vừa bắt giữ. Cuộc điều tra đang tiến hành. Nếu xét có tội thì việc đó thuộc thẩm quyền của cơ cấu Tư pháp còn Cảnh Sát chỉ có nhiệm vụ điều tra.
Nhân dịp này, ông Tấn xác nhận rằng, chỉ có một mình Thượng toạ Thiện Minh bị bắt giữ, ngoài ra không có một tu sĩ nào khác bị câu lưu.
Thẩm Phán Trang Sĩ Tấn cũng trình bày thành quả phá vỡ Tổ chức Võ trang Tuyên truyền Cộng sản tại đường Trương Minh Giảng, bắt giữ 11 sinh viên, 2 súng K-54, 200 viên đạn, 10 bánh thuốc nổ và một số ống loa.
Cảnh Sát Đô Thành đã đem trình diện sinh viên Phạm mạnh Hùng bị bắt quả tang trong khi dùng 20 lit xăng toan đốt chợ Bến Thành đêm 29 Tết, cùng tổ chức thả bong bóng truyền đơn tại Cửa Tây chợ Bến Thành. Ngoài ra còn phá vỡ tổ đặc công tại quận 4, bắt 4 đặc công, 3 kg TNT, 1 máy đánh chữ, 3 đồng hồ gài mìn.
Cuối cùng, Thẩm Phán Trang Sĩ Tấn kết luận rằng, những thành quả vừa trình bày chứng tỏ sự cố gắng tối đa, liên tục của Cảnh Sát Quốc Gia trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho các sinh hoạt chính trị quốc gia đồng thời đập tan mọi mưu toan phá hoại, tấn công, xách động quần chúng … của Cộng sản.
Trả lời Báo chí
Đáp câu hỏi của Chính Luận rằng những thành quả vừa trình bày có đủ khả năng đập tan mưu toan tấn công đợt 4 của Cộng sản không, và trong những ngày tới Cộng sản còn có thể tái diễn những vụ tấn công pháo kích không, Đại tá Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia cho biết, việc địch có khả năng tấn công Đô thành thuộc phạm vi của Thiếu tướng Tổng Trấn, riêng về phạm vi của Cảnh Sát, ông đoan chắc sẽ tiếp tục duy trì những thành quả đã thâu lượm được và quyết tâm phá tan mọi mưu toan phá hoại, khủng bố ám sát của Cộng sản để giữ an ninh cho đòng bào.
Thành phần chủ toạ cuộc họp báo cũng đã không tiết lộ con số sinh viên, thanh niên bị bắt tại Cư Xá 294 Công Lý mà chỉ cho biết có một số bị giữ và một số đã được trả tự do.
Trả lời những câu hỏi rằng, việc bắt giữ Thượng toạ Thiện Minh có ảnh hưởng gì tới Phật giáo hay không, ông Nguyễn Thạch Vân nói rằng cuộc điều tra chỉ hướng vào các tổ chức Cộng sản và những người liên hệ. Luật pháp được áp dụng đồng đều cho mọi công dân trong nước và quan niệm Pháp trị là nền tảng của Chế độ Pháp trị.
—⚜—
Tin tức trên sách Niên Ký “Việc Từng Ngày 1969” của Đoàn Thêm, cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, Saigon 1971
✑ trang 93
── Ngày 15-3-1969, Toà án Quân sự Lưu động Vùng III tuyên phạt: 10 năm khổ sai thượng toạ Thích Thiện Minh tức Đỗ Xuân Hàng; từ 3 năm tù ở đến 20 năm khổ sai 8 sinh viên bị bắt tại Cư xá Quảng Đức, Cư xá này bị tịch thu.
✑ trang 94
── Ngày 16-3-1969 lễ cầu nguyện tại chùa Ấn Quang Saigon, cho thượng toạ Thích Thiện Minh. Trong cuộc họp báo sau buổi lễ, thượng toạ Thích Trí Quang tuyên bố: người Mỹ phải chịu trách nhiệm về vụ án Thích Thiện Minh.
✑ trang 95
── Ngày 17-3-1969 Toà án Quân sự Mặt trận Vùng III tuyên phạt: 5 năm cấm cố thượng toạ Thích Thiện Minh tức Đỗ Xuân Hàng vì tội tán trợ đào binh; từ 2 năm tù ở đến 5 năm cấm cố 3 đào binh ngụ tại Cư xá Quảng Đức; Thượng toạ Thiện Minh chỉ phải chịu hình phạt nặng nhứt là 10 năm khổ sai do Toà án Quân sự tuyên phạt hôm 15-3 vừa qua.
── Theo một Văn thư gởi Thủ tướng [ Trần Văn Hương ], Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho phép giam giữ thượng toạ Thiện Minh tại một cơ sở riêng có đủ tiện nghi để điều trị và hành lễ.
✑ trang 173
── Ngày 24-5-1969: [ Thủ tướng Trần Văn Hương ] ký sắc lệnh hoán giảm còn 3 năm tù cho hình phạt 10 năm khổ sai và 5 năm cấm cố của Đỗ Xuân Hàng, pháp danh Thích Thiện Minh, sinh năm 1921 tại Quảng Trị (SL. 189/TT/SL)
—⚜—
#Tien Tuyen Oct. 31, 1969 trang nhất
#Tien Tuyen Oct. 31, 1969 trang nhất
Cùng với 310 can nhân được ân xá nhân dịp Quốc Khánh
T. Tọa THIỆN - MINH ĐÃ ĐƯỢC TRẢ TỰ DO SÁNG 30-10
★ Ông cho biết được đối xử tử tế và không hề bị đầu độc ★ Trước khi về chùa, Thượng Tọa được mời đến gặp Trung tướng Nguyễn Văn Minh
SAIGON 30-10 (VTX).— Thượng Tọa Thích Thiện Minh tức tu sĩ Đỗ xuân Hàng đã được phóng thích sáng 30-10.
Trong cuộc tiếp xúc với các đại diện báo chí tại doanh trại Tiểu đoàn 6 Quân Cảnh thuộc Trại Lê Văn Duyệt, Thượng Tọa Thiện Minh cho biết ông được tin chánh phủ phóng thích ông từ 21 giờ tối 29-10, và trong suốt thời gian bị giam giữ ở đây thượng tọa được đối xử một cách tử tế. Thượng Tọa Thiện Minh nói rõ «tôi được phép dạo quanh cửa nhà giam giữ này và được thân nhân thăm hỏi một tuần hai lần như chính phủ đã cho phép trước đây.»
Trước khi rời căn nhà giam gồm có đủ bàn thờ phật, phòng tiếp khách và một phòng ngủ hẹp, Thượng tọa Thiện Minh đã cải chính dư luận cho rằng ông bị đầu độc nên phải đi điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Ông nói rõ rằng “Tôi không tin có sự đầu độc tôi”.
Thượng tọa Thiện Minh cho biết hiện tại sức khỏe của ông rất yếu kém và phải tĩnh dưỡng một thời gian. Về các hoạt động trong những ngày tới Thượng Tọa Thiện Minh nói: “Tôi chưa có ý định gì”. Thượng tọa nói tiếp: “Tôi chưa biết Viện Hóa Đạo (Ấn Quang) có giao cho tôi trách nhiệm gì trong những ngày tới không ?”
Được hỏi về việc sẽ trở về chùa nào, Thượng Tọa Thiện Minh nói rằng «tùy ở đây muốn đưa tôi về đâu cũng được.»
Thiếu tá Nguyễn Khắc Chiểu Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu đoàn 6 Quân Cảnh đã nói với báo chí rằng “Chúng tôi nhận lệnh phóng thích Thượng Tọa từ sáng sớm, nhưng giấy tờ do Nha Quân Pháp chuyển tới lúc 10 giờ. Về giờ ra khỏi trại giam thì do Thượng Tọa Thiện Minh tự ấn định.
Cuối cùng, Thượng Tọa Thiện Minh đã yêu cầu đại diện báo chí chuyển lời cảm ơn đồng bào phật tử quốc nội và quốc ngoại đã lưu tâm đến tình trạng của ông. Thượng Tọa Thiện Minh cũng cho hay rằng sáng 30-10 Đại Đức Nhật Thiện đã tới thăm viếng ông.
Tới 11 giờ 30 sau khi tiếp xúc với báo chí Thượng Tọa Thiện Minh đã được mời lên một xe Jeep của Quân Cảnh. Theo lời sĩ quan báo chí Bộ Quốc Phòng cho biết Thượng Tọa Thiện Minh được mời đi gặp Trung Tướng Nguyễn văn Minh, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô trước khi rời khỏi trại Lê Văn Duyệt.
Tưởng cũng nên nhắc lại là Thượng Tọa Thiện Minh được phóng thích trong khuôn khổ cuộc ân xá 310 can nhân nhân dịp Lễ Quốc Khánh năm nay theo Sắc lệnh số 612 và 613 của Tổng thống ký ngày 29-10-1969.
LTC: Thích Thiện Minh không một lời cảm ơn chánh phủ đã đại xá cho mình: bản án 10 năm tù, rốt cuộc chỉ ở tù chưa tới 1 năm! Nhiều anh em bạn hữu của tôi khi đọc tới bản tin này, phần lớn đều ngạc nhiên tột độ khi thấy Chánh quyền Quốc gia đã quá sức nhân từ nhân ái, đã dành cho các tôn giáo một sự biệt đãi quá lớn. Các anh em nhận xét: nuông chìu quá hóa hư! Ngẫm lại, tôi thấy lời nhận xét hết sức chí lý!
Đại lễ cầu nguyện quốc thái dân an nhân ngày Quốc Khánh tại Việt Nam Quốc Tự
SAIGON 30-10. — Theo một thông cáo của văn phòng Viện Hóa Đạo, để kỷ niệm ngày Quốc Khánh 01-11-1963 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất sẽ tổ chức đại lễ cầu nguyện cho quốc thái dân an vào hồi 16 giờ, ngày 01-11-1963 tại Việt Nam Quốc Tự, 16 Trần Quốc Toản, Saigon.
Đại lễ được đặt dưới quyền chủ tọa của Thủ tướng Chánh phủ VNCH { Trần Thiện Khiêm }. [ Thủ tướng, cụ Trần Văn Hương, thoái vị ngày 23-8-1969. Ngày 23-8-1969: Đại tướng Trần Thiện Khiêm được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ định thành lập nội các mới. Ngày 1-9-1969: Nội Các Trần Thiện Khiêm trình diện. ]
Thông cáo cũng kêu gọi chư tôn Hòa Thượng, Thượng tọa Đại Đức Tăng, Ni cùng đồng bào Phật tử các Giáo phái, Hội đoàn trong 11 Quận Đô Thành và Gia Định, hoan hỷ quang lâm Việt Nam Quốc Tự đúng 16 giờ, ngày 1-11-69 kể trên để cùng chung cầu nguyện cho đất nước Việt Nam sớm được hòa bình an lạc.
Đồng thời Viện cũng yêu cầu quý Thượng Tọa các cấp Giáo Hội trên toàn quốc và Nha Tuyên úy Phật giáo nên tổ chức lễ kỷ niệm này một cách trọng thể để tưởng nhớ công đức hy sinh cao cả của cố Hòa thượng Thích Quảng Đức và Chư Thánh Tử Đạo, các chiến sĩ cùng đồng bào đã hy sinh cho đại nghĩa Quốc gia và Đạo Pháp.
──✿──
LTC phụ chú:
A - Thích Thiện Minh (1921 – 1978) | Thích Trí Quang (1922 – 2019)
Đây là 2 thượng tọa Phật giáo được kể như 2 thủ lãnh xông xáo nhất của khối Phật giáo Ấn Quang trong mười năm từ 1965 đến 1975 tại VNCH, góp phần gây rối chánh quyền Quốc Gia và làm lợi cho CSBV.
Cả 2 nổi lên vào mùa Hè – tháng 5 – năm 1963 khi xách động phong trào Tranh đấu Phật giáo ồn náo ở Đài Phát thanh Huế, chống chính quyền Đệ I Cộng Hòa, Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Lúc này, Thiện Minh đang cầm đầu Ngành Thiếu Gia Đình Phật Tử [ * ] và vai vế còn nằm dưới Trí Quang. Nếu Trí Quang là một tay thuật sĩ về đầu óc của phe Phật giáo Tranh đấu thì Thiện Minh là một thủ túc của Trí Quang với chiến thuật dày kinh nghiệm. Khi cuộc biểu tình của Phật giáo khởi sự vào tháng 5-1963, Thiện Minh lập tức dùng Ngành Thiếu của mình để làm sôi thêm lửa nóng cho sinh viên học sinh. Giới Sinh viên đại học và học sinh trung học vốn xưa nay vẫn không để ý chính trị thì bây giờ được xúi giục xuống đường. Các nhóm biểu tình lập ra tại từng trường trong các trường đại học lớn ở Huế và Saigon.
Sau vụ đảo chánh lật đổ chế độ Đệ I Cộng Hòa ngày 1-11-1963, 2 thủ lãnh Thiện Minh và Trí Quang của phe Phật giáo Tranh đấu như ngôi sao xẹt bốc lên chín tầng mây và nghiễm nhiên biến thành một thế lực chính trị, thậm chí trở thành một thứ siêu chính quyền. Và ở đây, ta thấy lẽ Vô Thường của nhà Phật hiện lên rõ ràng. Giống như bất kỳ một tổ chức chính trị nào trên cõi đời ô trược này, trong hàng ngũ các đầu lãnh Phật giáo Tranh đấu bây giờ bắt đầu ngấm ngầm ló ra tình trạng chen vai thích cánh tranh dành ngôi thủ lãnh, làm xếp thiên hạ, cho dù bề ngoài thì vẫn mặc áo tràng vàng, đầu cạo trọc và luôn mồm nhân danh Đạo pháp.
Thời đoạn từ tháng 9-1966 trở về trước, giữa Thích Tâm Châu với Thích Trí Quang đã xảy diễn một mối bất bằng âm ỉ. Mối bất hòa đó ngày một phình to ra và tình trạng âm thầm tranh chấp giữa đôi bên trong lòng nội bộ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (PGVNTN) cũng ngày một tràn ra tung tóe hết còn giữ kín được nữa. Đỉnh điểm của việc Giáo hội PGVNTN bể làm hai có thể kể từ lúc Thích Tâm Châu quay về Sài Gòn vào đầu tháng 9-1966 (sau 2 tháng lánh mặt) giành lại Viện Hoá Đạo lúc này do Thích Thiện Hoa làm Quyền Viện Trưởng từ ngày 23-7-1966. Tâm Châu triệu tập một Đại Hội Phật giáo tổ chức từ ngày 21 đến 22 tháng 10-1966 tại Việt Nam Quốc Tự, số 16 đường Trần Quốc Toản, Cholon. Lúc này, phe Thượng toạ vây cánh với Trí Quang bèn quay về chùa Ấn Quang [ số 243 đường Sư Vạn Hạnh, Cholon ] và tự bầu ra một Hội đồng Viện của riêng họ. Kể từ đây, bỗng nhiên có 2 Viện Hoá Đạo: một thuộc Khối Việt Nam Quốc Tự - Thích Tâm Châu và một (tiếm danh) thuộc Khối Trí Quang (Ấn Quang). Phe Ấn Quang không hoặc ít dùng danh từ “Viện Hoá Đạo”, thay vào đó, thường là họ dùng danh từ “Viện Tăng Thống”. Khối Việt Nam Quốc Tự lặng lẽ hợp tác với chính quyền quốc gia, còn Khối Trí Quang thì chống.
Tết Nguyên Đán Mậu Thân nhằm ngày 29-1-1968, VC giả vờ giao ước hưu chiến 3 ngày để hai bên ăn Tết, nhưng đã thủ sẵn mưu hèn đánh trộm miền Nam ngay vào giờ Giao Thừa, gây nên thảm cảnh Máu Nhuộm Ngày Xuân, một tội ác của tập đoàn máu Cộng sản Hanoi vô tiền khoáng hậu trong lịch sử của nhân loại. Khi toàn dân miền Nam đang y phục chỉnh tề, nhang trầm nghi ngút, nghiêm trang hành lễ trước bàn thờ gia tiên đón giờ khắc thiêng liêng đầu năm mới thì VC đồng loạt khai hỏa tấn công 36 trong số 44 tỉnh miền Nam và 6 thị xã, cùng với 64 trong số 242 quận lỵ trên lãnh thổ VNCH. Riêng thủ đô Saigon, Việt cộng khởi sự tấn công vào đêm mồng 1 Tết.
Sau đây là các mục tin tức (có liên hệ tới phần Phụ Chú này) ghi lại trên sách Niên Ký “Việc Từng Ngày 1968” của Đoàn Thêm, do cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, Saigon 1969:
✑ ngày 2-2-1968 tức Mồng Bốn Tết: Khu chùa Ấn Quang bị cháy. Có 2 trái hoả tiễn B-40 rơi trúng phòng Thượng toạ Thích Trí Quang làm 1 tướng và 1 tá VC bị tử thương: có tin hành doanh của VC đặt tại chùa này. – trang 43
✑ ngày 2-3-1968: Cảnh sát Quốc gia khám phá 6 hầm bí mật trong phòng ngủ của các Sư ở Tịnh xá Giáo hội Tăng già Khất sĩ, đường Nguyễn Trung Trực, Gia Định – trang 81
✑ ngày 4-3-1968: Theo Tổng Nha Cảnh sát, Thượng toạ Thích Đôn Hậu (Khối Ấn Quang) đã đi theo VC từ ngày Huế bị đột nhập, và đã lên lời kêu gọi dân chúng hãy đi theo MTGP-mặt trận giặc phỉ- từ ngày 28-2 trên đài phát thanh VC – trang 82
(bạn đọc chú ý: sau cú tổng công kích đánh trộm vào giờ Giao Thừa Tết Mậu Thân bị thất bại ê chề, VC say máu mở tiếp một trận đánh thiêu thân đợt 2 từ ngày 5-5-1968 và lần này chúng bị Quân đội Quốc gia đánh trả đến tan tác. Miền Nam Quốc Gia chìm trong khói lửa chiến tranh ngay từ ngày đầu Xuân, cho nên các tờ báo lớn mà tôi đang có như Chính Luận, Tiền Tuyến, Hòa Bình … bị lâm vào tình trạng đình bản một cách tự nhiên. Chính Luận thì mãi tới ngày Aug. 19, 1968 mới tục bản, còn Tiền Tuyến thì tục bản vào đầu tháng 9-1968, Hòa Bình hoàn toàn không có số báo nào trong năm 1968. Vì thế, những tập sách Niên Ký của Đoàn Thêm là nguồn sử liệu vô cùng quý báu)
Ngày 22-2-1968 (nhằm ngày 25 Giêng Mậu Thân), Cảnh sát Đô thành bắt giữ Thích Trí Quang [ cùng với một vài chính khách khác có thiên hướng trung lập hoặc thân cộng như luật sư Trương Đình Dzu, và cựu Tổng Ủy Kinh tế Tài chánh (thời Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ 1965) Âu Trường Thanh ] đem đi giam lỏng một nơi cách biệt. Việc Trí Quang bị cô lập đã là cơ hội bằng vàng cho viên phó tướng hàng đầu của ông ta, Thích Thiện Minh, nghiễm nhiên trở thành thủ lãnh của đoàn Phật giáo Tranh đấu. Khi Trí Quang được thả ra vào ngày 30-6-1968, hai chiến hữu vốn thân thiết khi xưa, nay rục rịch kèn cựa nhau để giành quyền làm chủ đoàn Phật giáo Tranh đấu. Lúc này, Thích Thiện Minh là Phó Viện Tăng Thống/Hóa Đạo Ấn Quang kiêm Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ Thanh Niên Ấn Quang. Viện trưởng Viện Tăng Thống Ấn Quang là Thích Thiện Hoa. Tình trạng lục đục giữa Trí Quang với Thiện Minh bắt đầu từ đây.
Đến năm 1970, nội bộ Phật giáo rạn nứt trầm trọng có thể dẫn tới lại bể đôi. Lần này là ngay trong Khối Ấn Quang.
Ngày 7-9-1970, Thích Thiện Hoa, Viện trưởng Viện Tăng Thống/Hóa Đạo Ấn Quang đã bất đồng với Thích Huyền Quang Tổng Thư ký Viện Tăng Thống/Hóa Đạo Ấn Quang trong việc ủng hộ Liên danh nào trong cuộc bầu cử Bán phần Thượng Viện (diễn ra vào ngày ngày 30-8-1970) nên tự ý bỏ về quê (ở Trà Ôn, Vĩnh Long) nhiều ngày liền và đến ngày 14-9-1970 thì Thích Huyền Quang nắm quyền Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống/Hóa Đạo Ấn Quang. Cớ sự là, Thích Thiện Hoa ủng hộ một Liên danh có nhiều người miền Nam, còn Thích Huyền Quang thì ủng hộ Liên danh (số 11) dấu hiệu Hoa Sen do ông Vũ Văn Mẫu thụ ủy gồm nhiều người miền Trung. Kết quả bầu cử chính thức công bố vào ngày 14-9-1970: Liên danh Hoa Sen đắc cử (về nhất) với 1.149.597 phiếu. Vụ rạn nứt này không gàn gắn được. Sau đó, Thích Thiện Hoa ngỏ ý muốn từ chức Viện trưởng và đến cuối năm 1970, Thích Trí Thủ lên thay.
Ngày 15-6-1971, Thích Thiện Minh rút lui khỏi cả hai chức vụ Phó Viện Tăng Thống lẫn chức Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ Thanh Niên Ấn Quang. Theo các nguồn tin thân cận các đầu lãnh thượng tầng Khối Ấn Quang thì nguyên do khiến Thiện Minh làm đơn từ chức là vì sự bất đồng về việc ủng hộ liên danh tranh cử Hạ Nghị viện và Tổng thống [ cuộc bầu cử Hạ Viện sẽ diễn ra vào ngày 29-8-1971 và bầu cử Tổng thống diễn ra vào ngày 3-10-1971 ] giữa Thiện Minh với các chức sắc thượng tầng khác. Cũng theo nguồn tin nói trên, Thích Thiện Minh sẽ lập một phe nhóm khác, ban đầu là để tập trung vận động đưa người ra tranh cử vào Hạ Viện năm nay, cũng như có lập trường ủng hộ hay không cuộc bầu cử Tổng thống sắp tới, còn về sau thì chưa biết. Tuy nhiên, theo giới quan sát am hiểu tình hình thì Thích Thiện Minh và Thích Trí Quang kể như rã đám từ đây. Thiện Minh có ý muốn rút ra khỏi Khối Ấn Quang để hình thành một thế lực riêng của mình.
B – Thích Thiện Minh và PGVNTN chịu ơn Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng như thế nào?
Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng (1920 – 1970) [ xem Bài Đọc Thêm dưới đây ] là một trong những nhà đại phú bậc nhất Nam Việt Nam, mới về nước hồi tháng 11-1965 sau một năm xuất ngoại. Ông Nguyễn Cao Thăng là Tổng Giám Đốc Dược Viện “Office Pharmaceutique du Vietnam” (OPV), một viện Bào chế Dược phẩm bề thế của Việt Nam Cộng Hòa ( Nguyên OPV là một hãng dược phẩm của Pháp thành lập ở Huế hồi năm 1950 và Dược sĩ Thăng mua lại vào năm 1956. )
Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng đã hào phóng hiến đất xây cất Viện Đại học Vạn Hạnh (ở số 222 Trương Minh Giảng Saigon). Lễ đặt viên đá đầu tiên xây cất Viện Đại học Vạn Hạnh vào ngày 9-6-1965.
Ông cũng tài trợ kinh phí để dựng nên đạo tràng thuộc quyền Thích Thiện Minh [ xem phần C dưới đây ], thủ lãnh Ngành Thiếu Gia đình Phật tử Giáo hội PGVNTN.
C – Đạo tràng này là Cư Xá Quảng Đức, số 294 đường Công Lý Saigon, rất gần với chùa Vĩnh Nghiêm (339 Công Lý). Đây cũng là nơi đặt làm trụ sở Tổng Vụ Thanh Niên của Thượng toạ Thích Thiện Minh.
Sau khi miền Nam thất thủ, hàng Giáo phẩm cao cấp của Giáo Hội PGVNTN đều bị cộng sản bắt giam hoặc khống chế bằng lệnh miệng “cấm cố” trong đó có Thích Trí Quang.
Ngày 13-4-1978 Thích Thiện Minh bị cộng sản bắt giam nhiều tháng và rốt cuộc bị tra tấn đến chết tại Tổng Nha Cảnh Sát (cải danh thành Bộ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia kể từ 1971), số 266 đường Võ Tánh-quận Nhì Saigon, rồi đem xác ra Hàm Tân.
Ngày 18-10-1978, Thượng toạ Thích Trí Thủ (1909-1984), Viện Trưởng Viện Hoá Đạo (Viện Tăng Thống) PGVNTN Khối Ấn Quang từ năm 1970, đang trú ở chùa Quảng Hương Già Lam (số 498/11 Lê Quang Định, Gia Định) thì nhận được giấy báo tử của công an cộng sản báo tin Thích Thiện Minh đã chết tại Hàm Tân (tỉnh lỵ tỉnh Bình Tuy VNCH). Thượng toạ Trí Thủ cùng với vài môn đồ khăn gói đi ra Hàm Tân chỉ để đứng từ xa thi thể (đã được che đắp kỹ chỉ chừa ra khuôn mặt bị bầm tím và môi miệng bị dập đứt) mà nhận diện và xác nhận cái chết của Thích Thiện Minh trong giây lát, ngoài ra không được lại gần vuốt mắt hoặc cử hành bất cứ nghi thức an táng nào vì chính miệng cán bộ cộng sản nói Thích Thiện Minh là tù nhân do đó phải được trại giam đem chôn tại chỗ. Phái đoàn Thượng toạ Trí Thủ phải quay về và cho đến nay người ta vẫn không biết cộng sản đã chôn Thiện Minh ở đâu.
Cho đến ngày mãn phần 8-11-2019, Thích Trí Quang câm nín trước cái chết này, cũng như hoàn toàn im miệng từ 30-4-1975 trước hàng loạt vụ nhà nước cộng sản bách hại man rợ tàn khốc hàng giáo phẩm Giáo hội PGVNTN suốt mấy chục năm liền chưa thôi (gần nhất là vụ nhà nước Việt cộng vào ngày 8-9-2016, vì mưu đồ cướp đất đã công khai đập phá, san bằng Chùa Liên Trì (Trụ trì: Thượng tọa Thích Không Tánh, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Từ Thiện Giáo hội PGVNTN) toạ lạc tại khu Thủ Thiêm Xã An Khánh, Quận 9 Đô thành Saigon VNCH từ cuối thập niên 1950s.
Riêng Thích Trí Thủ, theo nguồn tin riêng hiếm hoi xì ra từ nội bộ Giáo hội PGVNTN, thì đã phải tự vẫn bằng chén thuốc độc tại Quảng Hương Già Lam ngày 02-4-1984, chưa đầy một tuần sau khi các vị sư cô Thích nữ Trí Hải, thượng tọa Thích Tuệ Sỹ và ông Lê mạnh Thát bị Cộng sản bắt giam.
Nguyên do Thích Trí Thủ phải tự vẫn là gì? Cho đến nay, không một chức sắc nào trong Giáo hội PGVNTN lên tiếng giải thích về việc này. Tương tự, Giáo hội PGVNTN hoàn toàn không phát ngôn gì về chặng hành trình lịch sử của Giáo hội trong giai đoạn 1964 - 1975 và sau 1975, từ những chức sắc đang còn ở trong nước cho chí người đang ở hải ngoại (ví dụ, Thích Nhất Hạnh, ở Pháp). Sự im lặng kỳ lạ này làm cho trang sử của Giáo hội PGVNTN bị chết ngang ở cột mốc năm 1964. Điều đó khiến ta không khỏi nhận thấy rằng, Giáo hội PGVNTN bị kẹt nặng không ăn nói gì được về quá trình hoạt động của họ từ 1965 - 1975 và từ 1975 đến nay (2025). Giả thử có chức sắc nào thuộc Giáo hội PGVNTN chịu nói ra hết sự thật giai đoạn từ 1965 - 1975 dưới chánh quyền quốc gia thì chỉ cho thấy hành trình của Giáo hội nầy toàn là một hành trình chính trị, xen lấn vào chính trị với những tham vọng quyền bính giả ảo chỉ tổ phá rối chánh quyền quốc gia, lén lút móc nối hoạt động ngầm cho Cộng sản, chớ hoàn toàn không có hoạt động hoằng dương Phật pháp lẽ ra phải là trọng trách chánh yếu của giới tăng lữ tu hành. Cũng vậy, nếu có chức sắc nào chịu kể ra hoạt động cuả Giáo hội PGVNTN giai đoạn sau tháng Tư Đen 1975 thì lại càng phơi bày rõ hơn cái vô minh, tà kiến, sai lầm của họ ở giai đoạn trước 1975, và tệ hơn, sẽ phơi ra trần trụi cái cốt thật của họ sau black April, họ hết còn vênh vang bề thế như dưới thời quốc gia, giờ đây những ông tăng quyền uy hợm mình ngày nào không những chịu bán mình cho quỷ, ngoan ngoãn khuất phục trước Cộng sản Hanoi mà còn tiếp tay cho chúng khai tử luôn Giáo hội PGVNTN vốn được chánh quyền quốc gia tôn trọng, cưng dưỡng, nhượng bộ, nuông chìu trong suốt mười năm thời Đệ II Cộng Hòa, như bạn đọc sẽ xem tiếp dưới đây việc khai tử Giáo hội PGVNTN:
Cuối năm 1970, Thích Trí Thủ lên thay Thích Thiện Hoa làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo Ấn Quang.
Khi Cộng sản âm mưu xóa tan GHPGVNTN vào năm 1980 bằng cái gọi là Thống Nhất Phật Giáo [ để thay vào đó là một hình rơm mới với tên gọi là "Giáo hội Phật giáo Việt Nam" (không có 2 chữ Thống Nhất) mà dân gian mỉa mai là Giáo hội Phật giáo QUỐC DOANH bởi vì Giáo hội này là một tổ chức hữu danh vô thực, hoàn toàn chịu sự điều khiển của Cộng sản dấu mặt đừng đằng sau ], thì Trí Thủ được làm Trưởng Ban Vận động thống nhất Phật giáo đó. Ban Vận động thống nhất Phật giáo này 'ra mắt' ngày 24-5-1980 tại Huế. Giáo hội Phật giáo QUỐC DOANH hình thành ngày 4-11-1981 tại Hanoi
Thích Trí Thủ là người đã có công lớn với Cộng sản Hanoi trong vụ Thống Nhất Phật Giáo hay nói đúng hơn là khai tử PGVNTN, xin xem Hồ sơ Thống Nhất Phật Giáo by Đỗ Trung Hiếu (1994) hay còn gọi là Bản tường trình Thống Nhất Phật Giáo. Đỗ Trung Hiếu là 1 cán bộ Cộng sản, được chỉ định thi hành việc liên lạc vận động thống nhất Phật giáo như thế này. Đến năm 1994, Hiếu phản tỉnh, liều mình tung ra 1 tài liệu 76 trang với tên gọi như vừa kể trên, gởi ra cho các tổ chức người Việt Quốc Gia hải ngoại. Đỗ Trung Hiếu lập tức bị bỏ tù 4, 5 năm. Sau khi ra tù Đỗ Trung Hiếu tiếp tục bị Cộng sản Hanoi trả thù với những cách thức mà chúng thường xài cho nạn nhân của chúng như, cô lập, quấy phá và gây cản trở, khó khăn trong mọi sinh hoạt của nạn nhân Đỗ Trung Hiếu. Đỗ Trung Hiếu lâm vào cảnh khốn cùng, bệnh hoạn và chết âm thầm trong một căn nhà xa xôi hẻo lánh ở vùng Cần Giờ, Saigon khoảng năm 2009, 2010.
[ * Ngành Thiếu Gia đình Phật tử: Là 1 trong 3 cấp Nam, Nữ Đoàn Sinh Gia đình Phật tử chia theo độ tuổi như sau:
- Ngành Đồng (còn gọi là Oanh Vũ): từ 6 đến 12 tuổi.
- Ngành Thiếu: từ 13 đến 18 tuổi.
- Ngành Thanh: từ 19 tuổi trở lên.
————— ୨୧ —————
#Chinh Luan Dec. 9, 1970 trang ba
(Bài 005 a) Phụ Tá Nguyễn Cao Thăng đã từ trần
Ngày 8-12-1970, Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng từ trần trên bầu trời Ấn Độ khi ông đang ngồi trên phi cơ, chuyến bay từ Mỹ về Việt Nam, sau một thời gian điều trị bệnh ung thư ở Mỹ không có kết quả. Cùng đi trong chuyến bay này còn có Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, trở về Saigon sau chuyến công du Hoa Kỳ 3 tuần.
Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng là nhà Mạnh Thường Quân chủ lực của Trung tướng Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia Nguyễn Văn Thiệu từ thời 1965, và sau khi Tướng Thiệu đắc cử Tổng thống VNCH vào tháng 10-1967, ông là Phụ Tá đặc biệt của Tổng thống, đặc trách các cơ quan hiến định của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, và giữ một vai trò mắt xích trọng yếu cho Tổng Thống trong công vụ liên lạc với Quốc Hội lẫn phe Phật giáo.
Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng, quê quán Dương Lộc, tỉnh Quảng Trị, hưởng dương 50 tuổi, là một khuôn mặt lớn của chế độ Đệ II Cộng Hòa, là người trợ giúp rất đắc lực cho Tổng thống Thiệu. Có thể nói, mất đi ông Phụ Tá Nguyễn Cao Thăng, Tổng thống Thiệu như mất đi một cánh tay phải.
──✿──
Bài Đọc Thêm
#Tien Tuyen Dec. 11, 1970 trang hai
(Bài 005 b) Ông Nguyễn Cao Thăng
by Ký Giả Lô Răng
Ông Nguyễn Cao Thăng đã chết. Trong chuyến trở về để nhìn thấy quê hương lần cuối, ông đã tắt thở ngay trên phi cơ. Ai cũng biết là bệnh ung thư là bất trị, nhưng đối với một người như ông Nguyễn Cao Thăng, giàu tỉ phú, ông nằm ngồi trên đống thuốc, không ai tin là ông từ giã cuộc đời mau như vậy.
⚫ Còn nhớ trước khi ông đi (vào khoảng đầu năm nay) ông còn đưa ra một lời tuyên bố rùng rợn “Người Mỹ phải chịu trách nhiệm về cuộc tấn công Tết Mậu Thân”. Xưa nay ông Nguyễn Cao Thăng vẫn là một người kín tiếng. Ông làm chính trị hậu trường, ít khi ông ra tiền diện nên lời tuyên bố của ông có một tiếng vang trong nước cũng như ngoài nước. Nhất là lúc đó ông vẫn còn là Phụ tá Đặc biệt cho Tổng Thống Thiệu. Một giả thuyết đã được nêu ra là ông Thăng đi kỳ này là để làm một công tác “tiền bầu cử”, cho cả Tòa Bạch Ốc lẫn Dinh Độc Lập. Nêu lại vấn đề CS tấn công khơi khơi đầu năm con Khỉ, khi quân Mỹ đang ở VN trên nửa triệu người, khi đình chiến 3 ngày Tết đã được chấp thuận, tức là cố ý gán trách nhiệm cho chính phủ Johnson... Đảng Dân Chủ, theo lịch sử Hoa Kỳ thì chỉ có ngừng chiến chứ không tuyên chiến. Ông Johnson đã đi ngược lại truyền thống ấy và tham gia cuộc chiến VN càng ngày càng nặng. Đến một lúc nào đó ông muốn rút chân ra, cuộc tấn công Mậu Thân của CS có thể là một nước “chạy làng” của chính quyền Dân chủ, nhưng nhờ nước An Nam chưa đến hồi mạt, nhờ dân giác ngộ, nhờ lính đánh tốt nên cái dự mưu kia không thành. Trong lúc thế giới tưởng rằng Nam VN mất đến nơi, thì đất nước này vẫn gượng dậy, đứng lên và trái với mọi điều dự đoán, cái thế của VNCH lại càng ngày càng được củng cố. Dù muốn dù không, thế giới phải ghi một điểm son cho QLVNCH, cho chính quyền hiện hữu. Thành ra chỉ một lời tuyên bố của ông Nguyễn Cao Thăng, mà đảng Cộng Hòa của ông Nixon có điểm, mà dinh Độc Lập của ta cũng có phần sáng giá.
⚫ Sự khôn ngoan thường lệ của ông Dược Sư họ Nguyễn đã khiến cho giả thuyết kia được phóng đi. Đến nay ông đã nhắm mắt lìa đời. Dù giả thuyết ấy không hoàn toàn được minh chứng nhưng ít ra nó cũng là một công tác cuối cùng của ông phục vụ cho Dinh Độc Lập.
⚫ Ở trong nước, ông được nói đến nhiều nhất dưới danh hiệu Ô. Pê Vê (tên tắt Công ty Dược phẩm của ông). Ông là một “ông anh chi tiền” cho một số khá lớn những nhà dân biểu, cho nên không lấy làm lạ khi tin ông mất đến Hạ Viện đã có một sự xúc động bàng hoàng. Sự xúc động này chắc chắn là thật sự, phát ra tự tâm can, không phải là “diễn xuất”, cả những nhà dân biểu thân cũng như chống chính quyền. Bởi vì dù thân hay chống thì các nhà dân biểu này cũng đều hơn một lần tiếp xúc với ông Phụ tá Nguyễn Cao Thăng... Từ khi ông Dược Sư ra đi đến nay, khá đông các nhà DB đã rách bươm ra trông thấy. Họ mong ông sớm trở về. Nhưng ông không tới hậu trường Hạ Viện mà đi luôn sang thế giới bên kia. Oh! le bon vieux temps s’est passé... [ Ôi, những ngày xưa thân ái nay còn đâu … ]
⚫ Nhìn vào tiểu sử của ông Nguyễn Cao Thăng, ai cũng phải nhận ông là người khôn khéo và thành công mỹ mãn ở đời. Ở hậu phương về, đang học dở dang, ông được giáo sư Huard nâng đỡ nên tốt nghiệp dược sĩ rất mau. Khi có văn bằng rồi (một thứ văn bằng hái ra tiền ở đất nước An Nam) ông làm hơn người khác và ngay trước năm 1960, ông đã trở thành tỉ phú rồi. Thời Đệ I Cộng Hòa ông đã là dân biểu, thời cách mạng và hậu cách mạng ông chỉ bị lôi thôi qua quít, vẫn yên tâm làm giàu, thời Đệ II Cộng Hòa thì ông lại càng sang trọng, càng nhiều tiền hơn nữa. Ông trở thành Thạch Sùng, Vương Khải của thời đại ngày nay. Ông lại còn thành công cả về đường tình ái. Phu nhân của ông vốn là hoa khôi trường Đồng Khánh, và ông lại còn có diễm phúc “hoa thơm đánh cả cụm” đem về trồng trong nhà...
⚫ Buồn thay, sự khôn ngoan tính toán của ông cũng không tránh nổi cái số. Đang ở tuyệt đỉnh giàu sang, quyền quý thì ông lìa trần. Theo Tây phương, tuổi 50 đang là tuổi phương cương của trí óc và thân thể. Theo Đông phương thì ngũ thập tri thiên mệnh, đó là cái lúc biết mệnh trời... Biết mệnh trời thì hoặc là tiến thêm trên con đường danh lợi, hoặc là lui về ở ẩn theo kiểu Nguyễn Công Trứ “theo sau... một đôi dì, bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” 1 . Ông chưa kịp hưởng nhàn chưa kịp tri thiên mệnh thì ông đã buông tay nhắm mắt. Than ôi! buồn cho ông mà lại tiếc cho ông!!...
Ký giả LÔ RĂNG
1: Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng
(trích Bài Ca Ngất Ngưởng - Hát Nói của Nguyễn Công Trứ)
$pageOut $pageIn Phân đoạn 5
#Tien Tuyen Feb. 24, 1971 trang ba
(Bài 006) Đạo Binh Thứ 5 #Tien Tuyen Feb. 24, 1971 trang ba
(Bài 006) Đạo Binh Thứ 5
by Kẹo Đồng (chuyên mục PHƠ, trang ba)
TRONG cái rét căm căm của thời tiết Hạ Lào, giữa một chiến trường chỉ gồm có rừng núi hoang vu mà lương thực chỉ còn cách trông cậy vào sự tiếp tế, các chiến sĩ anh dũng của ta vẫn đương đầu một cách oai hùng trước hỏa lực tấn công ác liệt của địch.
3 ngày ròng rã chiến đấu trong vòng vây và các đợt xung phong điên cuồng của Cộng quân, các chiến sĩ anh hùng của ta đã đổi mạng mình lấy 10 mạng địch. Sự chênh lệch của cuộc so tài đã thấy rõ: căn cứ của đơn vị ta chưa đầy đủ hệ thống phòng thủ kiên cố thì địch đã lợi dụng địa thế mang quân số đông gấp bội đến tấn công với đủ các loại súng, kể cả chiến xa, và còn được hỏa lực phòng không mạnh mẽ yểm trợ để ngăn chặn viện binh và Không lực can thiệp.
Một trận đánh kết thúc, nhưng chiến tranh chưa chấm dứt.
Địch muốn thăm dò phản ứng của ta hay muốn ra tay thị oai trước? Dù sao lối đánh của địch cũng đã được phơi bày phần nào. Với 2 võ sĩ thượng đài "quyết ăn thua đủ", việc một bên ra tay trước chỉ có lợi nhỏ nhưng sẽ tai hại lớn về sau.
"Trận đấu vẫn khởi đi trong sự dò dẫm của đôi bên”, đúng như các nhà phê thuật bóng tròn thường viết. Mặt trận Hạ Lào càng sôi động và ác liệt, các chiến sĩ của ta ở đó lại càng có dịp vẽ lên những hình ảnh oai dũng trong lòng mọi người.
Nhưng... khói lửa vùng Hạ Lào chỉ phủ kín các trang báo, còn mùi thuốc súng và máu không bay về được thủ đô. Cho nên có còn những kẻ phè phởn ở đây, đã được ăn ngon, được nốc rượu mạnh, lại còn dùng lời riễu cợt phỉ báng tập thể đông đảo chiến sĩ đang vùng lên ở khắp mọi chiến trường để đánh Cộng sản xâm lăng những đòn ác liệt hầu kết thúc cuộc chiến.
Khi Quân lực ta vừa vượt biên giới Lào - Việt, chính họ đã lo ngại cho sự sống còn của Cộng quân mà lớn tiếng phản đối. Giờ đây, khi địch tấn công ác liệt quân ta thì họ lên tiếng mỉa mai, riễu cợt. Đó chính là "đạo binh thứ 5" của giặc, bọn người đâm sau lưng chiến sĩ.
Đó là những quả mìn nổ đúng theo giờ đồng hồ. Vì họ đã hành động rất ăn khớp với tất cả mọi hành động của giặc.
—⚜—
LTC chú thích: Các bài trên (trang ba báo Tiền Tuyến) chuyên mục Phơ by Kẹo Đồng là những giòng xã thuyết nhận định, phân tích ... rất là sáng suốt và có giá trị làm sáng tỏ cục diện/hiện tình đất nước như một thiên chính luận chính thức của báo Tiền Tuyến, có thể do chính vị Chủ nhiệm, Trung tá Phạm Xuân Ninh (tức thi sĩ Hà Thượng Nhân) chấp bút (?), mà cho tới nay, sau hơn nửa thế kỷ, các nhận định, phân tích đó vẫn còn nguyên giá trị. [ mục PHƠ của Tiền Tuyến có dáng dấp tương tự như mục Ý KIẾN của nhựt báo Chính Luận — đăng trên trang nhất — (có lẽ) do Bác sĩ Chủ bút Đặng Văn Sung viết?! ]
#Chinh Luan Dec. 12, 1970 trang hai
(Bài 007) DIỄN ĐÀN: VÌ DÂN TỘC HAY KHÔNG by Vĩnh Nam (viết về group Nguyễn Ngọc Lan) (kỳ 01)
#Chinh Luan Dec. 12, 1970 trang hai
(Bài 007) DIỄN ĐÀN: VÌ DÂN TỘC HAY KHÔNG by Vĩnh Nam (viết về Nguyễn Ngọc Lan Group) (kỳ 01)
Linh-mục Nguyễn-Ngọc-Lan và các đồng-chí của ông mấy năm nay nổi bật hẳn lên trên mặt trận tư tưởng. Dù muốn dù không, dù đồng ý hay phản đối, người đọc cũng phải một lần tìm xem quan điểm của nhóm Nguyễn-Ngọc-Lan là thế nào.
Về quan điểm ấy, mỗi người phê phán một cách. Nhiều người cho nhóm Nguyễn-Ngọc-Lan nếu không phải là Cộng sản thì ít nhất cũng là những kẻ nối giáo cho giặc. Họ không dám nói nhóm ấy chủ trương nối giáo cho giặc, nhưng rõ ràng những sản phẩm của nhóm ấy đã mang lại hậu quả làm lợi cho địch rất nhiều. Vậy thì việc nối giáo cho giặc ở đây phải hiểu là một hành động ngay tình, vô ý.
Bởi vì họ rất tin tưởng ở lập trường của linh-mục Nguyễn-Ngọc-Lan, một linh mục trẻ, nhiệt tâm, có kiến thức và có thể nói là gương mẫu cho một cuộc sống tu trì đúng nghĩa... Một con người đạo đức và kiến thức song toàn như thế, không thể nào theo Cộng sản được, càng không bao giờ có thể nối giáo cho giặc. Tuy nhiên người ta vẫn có thể nối giáo cho giặc một cách vô tình và nhóm Nguyễn-Ngọc-Lan là một trong những người ấy!
Có người lại phê phán nhóm Ng.Ngọc-Lan mắc cái tật muốn được mọi người lưu ý, muốn làm những nhân vật anh hùng. Họ cũng bảo nhóm này hợm mình, muốn vượt lên trên để đóng vai trò lãnh đạo quần chúng, đứng ngoài bút giáo hóa nhân dân, thức tỉnh lương tâm con người.
Lắm người khác lại bảo nhóm Nguyễn Ngọc Lan mắc bệnh ảo tưởng, ảo tưởng về thực tế ở VN, nơi mà họ đã có thời gian tạm biệt để qua sống bên trời Âu châu đến độ phần nào quên khuấy mất cái thế đứng thực sự của quốc gia này...
Nhưng theo thiển ý của chúng tôi, thì nhóm của linh mục Nguyễn Ngọc Lan đã có lập trường và thái độ như là đã trình bày qua các tạp chí và sách xuất bản của họ là vì những nguyên do sau đây:
1) Mặc cảm Công giáo phạm tội
Phần lớn những người cộng tác với các tạp chí như Hành Trình, Đất Nước, Trình Bày, Đối Diện là người theo đạo công giáo; một số lớn lại còn là những vị chức sắc trong đạo hoặc những người trước vốn theo nghiệp tu nhưng nửa đường đứt gánh đành chèo thuyền tìm về cõi trần. Vì vậy họ ý thức sâu xa sự kiện công giáo ở Việt Nam. Sự kiện đó, cho đến nay, vẫn còn mang dáng dấp hàm hồ.
Ai cũng biết Đạo Công giáo xuất hiện trên mảnh đất này cùng một lúc với phong trào thực dân do Tây phương phát động. Có nhiều lúc hai phong trào đó hòa lẫn vào nhau một cách quá mật thiết đến không còn có thể tìm ra đường phân ranh. Thật khó mà xác định được rằng giáo hội, một cách minh nhiên, chủ trương đi chinh phục đất đai hoặc hỗ trợ các cuộc chinh phục ấy. Nhưng hiển nhiên một điều là chính Giáo hội hồi đó đã một phần nào rửa tội (baptiser) cho học thuyết Cộng sản sau này qua câu nói thời danh của họ: mục đích biện minh phương tiện.
Mục đích ở đây chính là công cuộc “mở mang Đạo Thánh Đức Chúa Trời ra khắp tứ phương thiên hạ” là “đi khắp thế gian, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Sứ mệnh truyền rao Phúc Âm cho muôn dân, giúp họ thoát ly tai ách “bụt thần” thực sự là mối ưu tư ngàn đời của Giáo Hội. Giáo hội cảm thấy như mình sẽ tự phản bội mình nếu không đi rao giảng. Từ mối ưu tư chân chính ấy bước qua hình thức cực đoan thực sự không xa, chỉ cần một bước: dùng ngay phương tiện của loài người bằng bất cứ giá nào để lời Chúa được nói lên, được rao giảng, dù có vì vậy mà phải xử dụng đến một phương tiện không mấy tốt đẹp.
Miễn là lời Chúa được rao giảng. Một cách ngay tình, các nhà truyền giáo ban đầu ở VN đã nghĩ vậy. Và do đó, họ đã tích cực giúp chúa Nguyễn khôi phục giang sơn bằng cách di chiêu dụng binh lính, thuyền bè, súng ống.
Vai trò của giám mục Bá Đa Lộc chỉ có nghĩa như vậy. Giúp Chúa Nguyễn để Chúa Nguyễn giúp mình có hoàn cảnh thuận lợi giảng đạo, Bá Đa Lộc không hề muốn lợi dụng Nguyễn Phúc Ánh cho một mục tiêu nào khác. Khi mà chính con cháu Nguyễn Phúc Ánh, vì một dun dủi lạch sử nào đó, đã xua đuổi, đã lên án bọn người tôn giáo, kết tội họ là tà đạo, chém giết họ không thương tiếc, chối từ cái quyền làm người Việt của họ, thì chính là lúc xuất hiện hàm hồ tính của đạo Công Giáo ở VN. Những người Việt khốn khổ bị săn đuổi kia đã chẳng còn biết trông cậy vào ai, đành phải trông nhờ vào ngoại nhân giải thoát. Những chức sắc trong đạo Công giáo như thấy mình bị dồn vào một chân tường, đành phải cực đoan hành động bằng cách ra mặt ủng hộ những cuộc viễn chinh giải thoát... Và từ đó, người Công giáo trở thành một đoàn người cô lập (des ghettos), bị đồng bào đồng hóa với ngoại nhân hoặc những kẻ bán nước.
Ngược lại, phía người Công giáo, vì bị săn đuổi như những con thú cùng đường, đành cũng phải khép kín như các môn đồ xưa lúc Chúa vừa bị đóng đinh thảm hại, để tìm an ninh cho riêng mình. Nghĩ cho cùng, thì đó là những hiểu lầm đáng tiếc nhất đã xảy ra cho con cái của mẹ VN khốn khổ. Có điều là hai thái độ cực đoan kia cứ có đất để mà tiếp tục sống mái. Các phần tử trí thức sáng suốt vấn đề, ở cả hai phía, thật sự là ít ỏi không đáng kể và do đó chẳng thay đổi được gì.
Hậu quả là một mặc cảm tội lỗi càng ngày càng đè nặng lên tâm hồn người công giáo ở VN... Cái mặc cảm ấy ngày nay vẫn còn y nguyên và có khi còn được bồi bổ thêm do những sự kiện mới đem đến suốt từ thời thực dân dài dằng dặc và những chế độ ưu đãi Công giáo... Đó chỉ là cái mặc cảm chạy theo ngoại bang, theo đuôi những thế lực mạnh dù đó là những thế lực phản động...
Nhiều người cảm thấy cần phải phá đổ cái mặc cảm “mắc dịch” ấy. Vì chẳng còn gì khổ cho bằng phải sống bằng mặc cảm. Chính vì vậy họ đã kết hợp lại, mục đích mời gọi mọi người trở về với dân tộc, đến cái độ cực đoan coi dân tộc như một thực thể có trước cả cá nhân, ngược cả giáo lý căn bản của giáo hội vốn coi con người cá nhân như thực thể tiên khởi...
Họ cố gắng ngoi lên khỏi cái mặc cảm nặng chĩu để đánh phá những chiêu bài bám nhờ ngoại bang. Họ lớn tiếng đả kích Mỹ với mục đích kéo người đồng đạo ra khỏi mê đạo cũ, lên đường “tìm về dân tộc” [ * ] dù có phải vì vậy mà bị thiệt thòi. Họ chạy theo những phe nhóm nào tranh đấu cho quyền lợi dân tộc, cho dù đó chỉ là những tên hề chánh trị, đầy mình những chiêu bài bịp bợm. Người thức thời dường như đang tỏ vẻ thương hại họ, thương quá, y như họ đã thương hại cái anh chàng trường giả học làm sang của kịch tác gia Molière. Vì có bao giờ các anh chàng trường giả học làm sang kia lại có thể một ngày một giờ trở thành sang bao giờ. Nhất nữa, anh ta vì nôn nóng muốn làm sang nên đã “bắt quàng” làm thầy toàn những anh chẳng mắc dịch...
Chúng tôi rất tin tưởng ở thiện chí của nhóm Cha Lan. Chúng tôi tin rằng họ đã hành động một cách bất vụ lợi. Nhưng họ đang là những anh trường giả học làm sang từ cực đoan nọ đang bước qua cực đoan kia. Từ mặc cảm này chạy qua mặc cảm khác. Cái vòng luẩn quẩn thực sự đang trùm phủ lấy họ. Người ta tin rằng mẹ Việt Nam đã thấu hiểu thiện chí của họ và mẹ đã sẵn sàng xóa mờ dĩ vãng của họ rồi. Và mẹ tha thiết xin họ ngừng ở đấy. Đủ rồi! Đừng tiến xa hơn nữa. Vì thật sự thế nào là quyền lợi dân tộc? Có hẳn đó là quyền lợi do người VN tạo nên và muốn bảo vệ không? Cũng như thế nào mới là cái “acte humain” [ hành động nhân bản ] có phải là bất cứ cái acte nào do con người tạo ra không, hay chỉ là những hành động do tự do của con người chấp nhận bằng ý thức và thực hiện? Cũng như vậy, trong bối cảnh lịch sử bây giờ, một anh chàng có thân xác Việt Nam trăm phần trăm, sinh và sống trên mảnh đất này ngay từ lúc đầu có hẳn đã là người Việt chưa? Cái gì làm cho anh ta là người Việt? Có Trời họa may mới trả lời được. Do đó mà dân tộc là một thực tại mơ hồ, không rõ rệt. Cần phải xác định nó trong không gian và thời gian. Ở bối cảnh này, quyền lợi dân tộc thiết thân là gì? Đó là một câu hỏi sẽ đưa lại một trăm câu trả lời. Không nhất thiết câu của anh phải đúng và câu của tôi phải sai hay ngược lại.
Vì không một ai có quyền tự đồng hóa mình với dân tộc, độc chiếm dân tộc làm vật sở hữu để muốn khoác cái áo nào cho dân tộc cũng được. Do đó đừng có lớn lối, lên án một cách tiên thiên. Tuy nhiên vẫn có một vài dấu hiệu khách quan đưa đến một quan điểm đa số về quyền lợi dân tộc trong không gian này và trong thời gian này.
Dấu chỉ rõ rệt nhất là gia tài dân tộc đang bị đe dọa phá tan. Kẻ đe dọa tất nhiên là các thế lực ngoại lai và những kẻ tiếp tay cho các thế lực đó. Một điều nghiệt ngã là sự tranh chấp giữa các thế lực kia ngay trên gia tài dân tộc đang là một thực tại thật khó tháo gỡ. Thật khó thoát ly khỏi cùng một lúc cả hai cái thế lực vĩ đại đang ảnh hưởng trên gia tài dân tộc.
Nếu không ngả theo thế lực này thì cũng phải ngả theo thế lực kia. Vấn đề vì vậy mà phải chọn lựa lấy một trong hai thế lực đó để rồi sau đó tìm cách thoát ly nốt. Hiển nhiên cần phải thoát ly cái thế lực có hại nhất cho gia tài dân tộc trước nhất đã.
Trong bối cảnh lịch sử bây giờ, thế lực có hại nhất cho gia tài dân tộc rõ rệt là thế lực nhằm hủy diệt dân tộc.
Ông Hồ, cho đến lúc gần nhắm mắt, vẫn còn mang hoài bão thực hiện nhiệm vụ quốc tế Cộng sản hóa toàn vùng Đông Nam Á, trong một diễn trình tiến tới thế giới đại đồng, đặt cơ sở trên quyền vô sản. Cái thế giới đại đồng ấy không hề còn chỗ cho dân tộc. Thế mà theo ông Lý chánh Trung thì gần như là ta chỉ thành người trong lòng dân tộc mà thôi. Nói khác đi, trong thế giới đại đồng phi dân tộc, người không còn là người. Chứ đừng nói đến người VN nữa. Vậy thì phải diệt cái thế lực khủng khiếp đó trước đi. Cái thế lực ấy không hề giấu diếm ý đồ xâm chiếm gia tài dân tộc này, việc xâm chiếm này đang trở thành một tín điều, một giới răn bất khả phản hồi, vô ngộ... Họ có thực hiện được ý đồ hay không thì lại là chuyện khác. Nhưng ý đồ thì đã rõ rệt.
Trong đoàn kỳ, họ bắt buộc phải dùng những chiến lược khôn khéo để đấu tranh giai đoạn và từng bước một, họ sẽ tiến tới đích nhắm. Cần phải ngăn chặn, cần phải dựa vào một thế lực khác. Thế lực này chẳng tốt lành gì, nhưng phải xài đỡ để chống giữ được trước làn sóng xâm lăng tàn bạo của những con người chỉ muốn hủy diệt chính dân tộc chứ không phải hủy diệt những cá nhân.
Bao giờ ngăn được làn sóng tàn bạo ấy, ta sẽ tìm cách hủy diệt nốt cái thế lực còn lại, giúp khôi phục khuôn mặt diễm lệ muôn đời của Mẹ dân tộc. Diễn trình lịch sử khách quan bắt ta phải theo con đường ấy. Làm khác là làm hại Dân tộc và làm hại một cách vô tình thì cũng vẫn là làm hại, làm hại một cách ngay tình thì vẫn là làm hại.
(Còn nữa)
#Chinh Luan Dec. 13_14, 1970 trang hai
VÌ DÂN-TỘC HAY KHÔNG?
của VĨNH-NAM
(TIẾP THEO VÀ HẾT)
II) Vuốt ve Cộng sản để được an thân
Cũng là những người Công Giáo như nhau, cũng là những nhà tu hành như nhau, nhưng rõ rệt nhóm của Cha Lan khác xa nhóm của Cha Lãm hoặc nhóm của Cha Thăm, trong phương cách đối thoại với người Cộng sản. Nhóm của Cha Thăm (Thẳng Tiến) thì gay gắt, nhóm của Cha Lãm (Xây Dựng) [ * ] cũng gay gắt chẳng kém, còn nhóm của Cha Lan thì hòa hoãn rõ rệt. Các nhóm kia bảo nhóm Cha Lan là Cộng sản trá hình. Nhóm Cha Lan thì bảo các nhóm kia là chống Cộng kiểu đà điểu. Ông nói ông phải, vãi nói vãi hay.
Nhưng tất cả đều có lý của mình. Chúng tôi không đời nào tin được rằng nhóm Cha Lan lại có thể hoạt động cho Cộng sản được, cũng như hai với hai không thể nào là năm được. Chúng tôi cũng cho rằng: trên phương diện chánh trị, mỗi một người có quyền phát biểu ý kiến của mình. Thẩm quyền giáo hội không có lý do gì ngăn cấm. Và khi đã là ý kiến cá nhân thì không thể nào nhân danh bất cứ một thế giá nào của giáo hội để lên án họ.
Thế giá giáo hội chỉ nên được viện dẫn trong phạm vi luân lý và tín lý mà thôi. Giáo hoàng Paul đệ lục hay bất cứ một chức sắc nào trong đạo khi phát biểu về chính trị thì ý kiến chỉ có giá trị như ý kiến của một giáo dân thường. Người ta lấy làm lạ: trong mấy năm gần đây, các phe nhóm luôn luôn sử dụng đến thế giá để bênh vực quan điểm chính trị của mình. Người lương thiện, thiết tưởng, không nên làm như vậy.
Trở lại nhóm của Cha Lan, chúng tôi thấy giọng điệu của họ đối với Cộng sản là giọng điệu đầy thân tình (Cộng sản, người anh em tôi!) [ xin xem chú thích ở Phân đoạn 6 ] đầy thán phục (20 năm Xây dựng Chủ nghĩa Xã hội) [ xin xem chú thích ở Phân đoạn 6 ] ... Có người coi những giọng điệu ấy như một liều thuốc đắng có tác dụng kích thích, mục đích chọc giận nhà cầm quyền miền Nam, giúp họ “sáng mắt” trước những thành quả xây dựng đầy sự tốt đẹp của phe địch và, nhờ thế, vì tự ái, nhà cầm quyền miền Nam sẽ cũng cố gắng thực hiện được ít là như vậy... Phải chăng, vì vậy, mà có lúc nhóm cha Lan đã tự coi mình là những kẻ chống Cộng sáng suốt chứ không phải như ai kia chống Cộng kiểu đà điểu?
Riêng phần chúng tôi, chúng tôi không tin rằng đó là chủ trương của nhóm cha Lan. Vì một điều dễ hiểu là họ những người biết nhiều hiểu rộng, đọc nhiều thấy nhiều, không thể nào không biết rằng sở dĩ miền Bắc đạt được thành quả như trên (nếu thực sự có thật như thế) là nhờ một chính sách tàn bạo nhằm bóc lột sức lao động của nhân dân dưới quyền. Những câu nói thường được nghe họ nhắc đến như «thi đua sản xuất cả trong ngày lễ», «một người làm việc bằng ba» ... chính là đã tố cáo cái chính sách tàn bạo ấy. Ở miền Nam, một chính sách như thế không thể nào thực hiện được. Mới bắt sinh viên học quân sự một tháng tại quân trường, mà chính các ngài còn chả chịu, thì còn nói đến cái gì khác nữa kia? Thế cho nên trong bối cảnh tự do này, nơi mà dù sao vẫn còn rất nhiều tự do gấp vạn lần miền Bắc, lại gặp thời chiến tranh, ta không thể nào đạt được một mức sản xuất giống như ở một chế độ độc tài. Cái giá của tự do là như thế. Hẳn những đồng chí của cha Lan cũng đồng ý như vậy, nên họ đã cố tình không nhắc đến sự đóng góp của nhân dân miền Bắc cho cái thành công của chế độ miền Bắc trong lãnh vực sản xuất (nếu có thể nói được là thành công). Nếu chỉ nhắc đến thành quả mà không thôi, thì thiết tưởng mấy nhà cầm quyền miền Bắc có thể được đặt ngang hàng với những bạo chúa Pharaon xưa trong những công trình xây cất vĩ đại như kim tự tháp, hay những tiêm bi (obélisque) khổng lồ chẳng hạn...
Hãnh diện hay không, mọi người đã thấy rõ. Người của Cha Lan là những người đầu tiên nhìn thấy điểm đó. Vả lại, họ làm sao quên được câu nói của Đức Kitô trả lời cho Thần Xấu: “Con người không chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn sống vì lời Chúa nữa”. Mà lời Chúa là lời giải phóng, nên con người còn sống vì Tự Do nữa kia, không Tự Do con người sẽ chết mòn mỏi, chết thảm thê ngay trong cái thân xác phì nộn. Nói tóm lại, làm sao nhóm cha Lan có thể biện minh được điểm: ca tụng miền Bắc là cách thúc đẩy miền Nam tiến lên để đè bẹp miền Bắc ngay trong công trình xây dựng. Vì một lẽ giản dị là họ không chủ tâm đưa ra quan điểm ấy, vậy thì họ nhằm cái gì trong các giọng điệu mà có người đã gọi là “nức nở ca ngợi miền Bắc” hoặc đầy thân tình, thân tình hơn là các giọng điệu họ dùng để nói với những người đang ở một bên với họ? Chúng tôi nghĩ họ làm thế là nhằm phục vụ một mưu đồ chính trị, nhằm đem lại an thân cho họ. Ai cũng thấy: từ ngày Giáo hoàng Jean XXIII lên trị vì giáo hội La Mã, nhiều sắc thái mới đã xuất hiện trong lòng giáo hội ấy.
Nhiều trao đổi hơn, nhiều cởi mở hơn, nhiều chào đón hơn, nhiều nụ cười hơn, đối ngay với những kẻ chủ trương bách hại mình, đã xuất hiện, làm cho bộ mặt cần cỗi của Hội Thánh Công Giáo đã gần như biến mất, và kể cả những địch thủ hằn học nhất cũng đã bắt đầu nhìn lại, bắt tay, chào hỏi... Cũng từ ngày đó, ta thấy nhiều nhân vật Cộng sản đặt chân tới sân Damase để vào bệ kiến Giáo Hoàng.
Con rể Kút Sếp đã không ngần ngại ca tụng bàn tay nồng dân của giáo hoàng Jean XXIII. Đầu sỏ của Cộng sản quốc tế là Podgorny cũng đã tới thăm Vatican. Nam Tư chính thức tiếp nối bang giao với Tòa Thánh. Tàu Cộng trả tự do cho giám mục Walsh, bắt chước hành động của Nga Xô trước đó ít năm qua vụ phóng thích giáo chủ Slippyi gì đó... Giọng điệu chung của Giáo Hội La Mã là một giọng điệu hòa hoãn, thân tình mỗi khi nhắc đến những quốc gia Cộng Sản, tuy về mặt thuyết vẫn tỏ ra vô cùng cứng rắn đối với chủ nghĩa Cộng sản. Điều đó cũng phải, vì trong bối cảnh chính trị ngày nay, thật có điên mới thực hiện chủ nghĩa Cộng sản y như Karl Marx, Lénine đã chủ trương. Có thể nói được chủ nghĩa Cộng sản đã chết ngay trong những quốc gia Cộng sản... Cho nên Giáo Hội Công giáo rất an tâm bắt tay các quốc gia Cộng sản mà vẫn không sợ lý thuyết của mình bị đầu độc.
Bắt tay như vậy rất có lợi. Vì ít ra, nhà cầm quyền tại các quốc gia đó cũng sẽ bớt đi tính cách cực đoan và do đó sẽ đối xử tốt hơn với những con cái của giáo hội hiện đang sống dưới quyền của họ... Người ta còn nhớ dưới triều đại của Giáo hoàng Pie XII, người công giáo gồm cả giáo dân lẫn linh mục và giám mục đã bị bách hại nhiều nhất, chính là do thái độ quá cứng rắn của ngài đối với thế giới Cộng sản.
Thái độ quá cứng rắn ấy thực sự lại là vấn đề chung của tất cả mọi chính quyền thuộc thế giới tự do lúc bấy giờ. Từ Âu sang Á, từ châu Mỹ đến châu Úc, đâu đâu cũng gặp thái độ ấy đối với phe Cộng. Sở dĩ thế giới tự do có thái độ ấy cũng là vì tin tưởng có thể đánh bại được cộng sản. Nhưng ngày nay, rõ rệt là ta không thể đánh bại được Cộng sản, ta không thể xua đuổi chúng khỏi lãnh địa con người (terre des hommes), ta không thể hủy diệt được họ, mà bắt buộc phải chấp nhận họ, dù là phải chấp nhận họ như một “thực tế”! Hậu quả là phải tìm cách để có thể sống chung với họ trong một hậu ý rất thực tế là mong họ để cho ta yên thân và dần dần dụ họ bạch hóa theo một “chánh sách chiêu hồi” khôn khéo! Giáo Hội Công giáo đã đi tiên phong trong thái độ ấy, ngay từ lúc Cộng sản đang hăng say sát hại con chiên của mình.
Hậu quả, như ta đã thấy, các quốc gia Cộng sản đã bắt đầu thay đổi thái độ và ngay cả cái anh chàng cứng đầu cứng cổ là Tàu Cộng cũng đã có một đối thái độ hòa hoãn đối với một thế lực mà xưa nay họ vẫn coi là gián điệp, là dụng cụ của đế quốc.
Ở Việt Nam, nhóm của Cha Lan có thể được coi là nhóm đầu tiên đi theo con đường ấy.
Vì họ là những phần tử Công giáo Cấp tiến, đa số du học từ các quốc gia Tây Âu, được đọc nhiều và thấy nhiều, do đó đã phát hiện được những vấn đề lớn. Có lẽ vì vậy, khi đưa ra những giọng điệu thân tình hoặc ca ngợi, họ cũng nhằm cùng một mục đích như những vị giáo hoàng ở La Mã đã nhắm: một cuộc sinh hoạt bình thường cho giáo hội địa phương.
Hẳn không một ai có thể quên được sự kiện nửa phần quê hương đang chính thức nằm dưới quyền quản trị của Cộng sản. Ở nửa phần quê hương ấy, đang có rất nhiều người Công giáo sinh sống, rất nhiều vị giám mục và linh mục cũng như Tu sĩ đang hành sự một cách hạn chế. Nhà cầm quyền miền Bắc từ trước vốn áp dụng một chính sách nhằm hạn chế công cuộc đào tạo hàng linh mục và tu sĩ cho nhu cầu giáo nội địa phương.
Do đó, công cuộc sinh hoạt của Giáo hội ấy đang gặp thật nhiều khó khăn. Trong một tinh thần “các thánh cùng thông công”, bắt buộc những người sống an ổn ở bên này phải tìm cách giúp đỡ để cho những người sống bên kia có thể sinh hoạt bình thường. Các ảnh hưởng đã được vận dụng kể cả cơ quan Caritas quốc tế qua vị đại diện là một giám mục Tây Đức nhằm liên lạc với nhà cầm quyền Hanoi.
Trong phạm vi sở trường của mình, người trí thức mệnh danh là cấp tiến chẳng còn biết làm gì hơn là lôi kéo cảm tình trên lãnh vực tư tưởng, trong quan điểm chính trị, với mục đích đánh tan cái thành kiến vốn có, vốn quy trách cho giáo hội La Mã là giáo hội phục vụ quyền lợi đế quốc. Chính vì vậy, các nhà trí thức công giáo đã cố gắng nói lên quan điểm của mình, không hẳn là quan điểm của giáo hội, nhưng là quan điểm của một nhóm Công giáo, để “cho ai kia” thấy rằng: ít nhất cũng đã có một cái gì thay đổi nơi người Công giáo và mình có thể tạm sống với họ được.
Chúng tôi nghĩ rằng đó là hậu ý của nhóm Cha Lan. Có nhiều người cho rằng: Có thể quan điểm đó đúng nhưng người ta không khía cạnh trên đây, rất có thể nhóm Cha Lan còn để lộ cho thấy một trò chơi trí thức.
Theo họ, thì nhóm Cha Lan phần lớn là những người từng đi du học ở Tây Âu trở về: người từ Pháp là Sorbonne, kẻ thì học ở Louvain. Tại các trung tâm tư tưởng đó, họ làm quen với rất nhiều trào lưu thế giới, được tiếp xúc giao dịch với nhiều môn phái, được đọc rất nhiều sách vở, và nhất là các tài liệu rất thời sự từ những quốc gia Cộng Sản mang tới hoặc từ những quốc gia thân hữu với Cộng sản cung cấp. Ngược lại, tại mảnh đất Giao Chỉ khốn khổ vì chiến tranh, vì chậm tiến này, nơi mà mầm dân chủ chỉ mới được gieo, chưa đủ màu mỡ để mà nẩy nở... mọi cái đều bị ngăn cấm, kể cả văn hóa phẩm của miền Bắc, hoặc bất cứ một sản phẩm nào của địch... Do đó, khi vớ được một tài liệu nào của địch, người ta mừng quá xá, mừng y như là anh chàng buôn đồ quốc cấm đi được chuyến hàng trót lọt. Một dạo, ở trường Đại học Văn khoa, người ta đem các-thứ nghiên cứu văn học của miền Bắc ra mà giảng coi như đó là một tài liệu quý giá. Người đầu tiên mang ra giới thiệu lại chính là ông Nguyễn Văn Trung. [ * ]
Trong các bài giảng của ông, thỉnh thoảng ông trưng ra một vài tài liệu mua được của miền Bắc và coi như một cái gì quý hóa làm tăng giá trị cho bài giảng... Ở trong một môi trường thích đồ "quốc cấm", như làm vậy thì người nào may mắn có được đồ quốc cấm không thể nào yên tay yên chân, bắt buộc họ phải mang ra bán và vì càng bán càng có người ham dùng, nên lại càng thêm hứng và bán ra thêm.
Nếu người bán không có mục đích ham lời, ham tiền, thì đúng đó là một nhà trí thức: Chỉ nhằm mục đích thỏa mãn thị hiếu độc giả và đồng thời giải thoát mình khỏi ấm ức vì đã trót có đồ quốc cấm.
Họ cũng còn bảo rằng: Vả lại tại các quốc gia chậm tiến, nơi mà dân chúng thật ít khoái nghe chính phủ, thì những giọng điệu khuynh tả lại rất ăn khách.
Con đường tiến thân mau nhất chính là con đường thiên tả. Tất nhiên, những anh chàng thiên tả rất dễ bị tù. Do đó có anh đã phải chua thêm vào cái măng xét thiên tả của mình cái câu đại cù lần: "không Cộng sản " để tránh tai bay vạ gió. Trường hợp nhóm Cha Lan thì khác; họ không cần cái măng xét đại cù lần ấy. Họ thiên tả thẳng thừng. Vì họ cóc có sợ ai.
Họ là các nhà tu hành hoặc ít nhất họ là những người đã may mắn chiếm được một địa vị khả quan có ảnh hưởng lớn trong xã hội nên họ cóc cần phải sợ ai. Như mấy ông linh mục thì ai mà dám bắt bớ? Cho dù là có bắt bớ thì đâu cảnh sát có dám cho họ ăn dùi cui... Đụng một tí là họ la hoảng đàn áp tôn giáo. Bố chính quyền cũng chẳng dám làm gì. Mà nếu có làm gì thì cũng chỉ đến thế là cùng, họ đâu có vợ con gì để mà hòng nhượng bộ.
Thật mấy ông linh mục đến thế là khôn! Do đó, họ có làm trò bảnh thiên tả, cũng chả ai làm gì họ... Nói tóm lại, họ muốn diễn một màn trò trí thức.
Chúng tôi không tin như vậy. Vì họ là những con người nhiệt huyết, chín chắn, không thể nào đồng hóa với những tên hề Chính trị hiện nay, miệng nó cái này cái nọ nhưng thật ra không phải tranh đấu vì những cái nọ cái này.
Những điều được viện dẫn để mà tranh đấu thực sự chỉ là những mục tiêu giả tạo, có cũng được mà không có cũng chẳng sao. Đằng sau những chiêu bài ấy mới là điều quan trọng. Trước sau, chúng tôi vẫn tin: nhóm cha Lan tranh đấu một cách ngay tình, một cách thành thực, chứ không phải làm dáng cho xôm trò. Nhưng họ đã chỉ tranh đấu thực sự cho những quyền lợi của giáo hội họ. Mà quyền lợi của một giáo hội người ta rất hoài nghi được đồng hóa với quyền lợi dân tộc. Dân tộc là một cái gì bao la bát ngát, mà tôn giáo chỉ là một thành phần. Cần phải vượt lên trên để tìm ra những nhu cầu thực sự của dân tộc. Nhưng như đã nói, tự nó dân tộc là một ý niệm mơ hồ không đủ năng lực của một thứ nước rửa tội. Do đó, cứ nhắm mắt hô hào trở về lòng dân tộc, thì đó là một tiếng kêu hoàn toàn chìm lắng vào sa mạc vô nghĩa. Xác định nhu cầu của dân tộc, cần phải lưu ý đến môi trường không gian và thời gian cụ thể; chứ không nên nhân danh bất cứ một nhân bản thuyết nào, một thứ lý thuyết tưởng tượng nào một thứ đạo nhân ái mơ tưởng nào đó.
Dân tộc chỉ có thể được phục vụ bằng thái độ khiêm cung đóng góp. Vì thái độ đó sẽ mang lại khách quan tính cho những con người phục vụ. Mà khách quan tính cũng chính là phổ quát tính, là chân lý vậy. Người ta rất mừng vì nhóm cha Lan đã thẳng tay phê phán những khuyết điểm, những tội lỗi (nếu quả đó là tội lỗi) của các nhà cai trị miền Nam cũng như của những người đến trợ giúp họ.
Qua những phê bình gay gắt ấy, người ta thấy nhóm cha Lan đang đóng vai trò của những tiên tri xưa không ngại cường quyền, xuất hiện công khai chỉ trích vua chúa quân quyền, trách mắng, lên án họ với một ý thức thanh lọc, đúng hơn là trong sạch hóa bộ máy công quyền nhằm phục vụ quyền lợi dân tộc.
Ông Thiệu hay bất cứ người nào lên cầm quyền ở cái môi trường chiến tranh và chậm tiến này, đều đều cần được những người như thế hướng dẫn vì phê bình là một cách hướng dẫn hiệu quả nhất. Người Mỹ thì chả tốt đẹp gì. Cứ nhìn ngay vào triết lý viện trợ của họ thì cũng đủ biết... Ấy thế nhưng, chỉ nên ngừng lại ở đó thôi. Vai trò của tiên tri nên ngừng lại, đừng đi quá.
Trong khung cảnh nội bộ, anh muốn mắng mỏ nhà cầm quyền làm sao thì mắng mỏ. Nhưng xin anh đừng nên mượn tiếng người ngoài để mà mắng mỏ. Cũng xin anh đừng nên ve vuốt kẻ thù, đừng nên cho chúng cái ấn tượng được ủng hộ. Vì bao lâu còn những cái ve vuốt ấy, những ấn tượng ủng hộ ấy thì là anh vô tình làm hại dân tộc. Vai trò tiên tri của anh đã mất ý nghĩa. Vì dân tộc hay không? Rõ ràng là không, một cách khách quan.
Vĩnh Nam - 16-10-1970
[ * LTC chú thích:
➜ “tìm về dân tộc” là giọng điệu Lý Chánh Trung (giáo sư Đại học Văn Khoa) khởi xướng qua các quyển tạp bút Tìm Về Dân Tộc (Trình Bày xuất bản, 1967), Tôn Giáo Và Dân Tộc (Lửa Thiêng, 1972) cùng với nhóm Linh mục Công giáo thiên tả Chân Tín, Nguyễn ngọc Lan (tạp chí Đối Diện) và Nguyễn văn Trung (các tạp chí như Hành Trình, Đất Nước, Trình Bày) dùng làm chiêu bài, luận điệu la lối để che đậy cái lốt cộng sản hoặc thân cộng của họ.
➜ Nguyễn văn Trung: khoa trưởng Đại học Văn Khoa, chủ trương tờ tạp chí Hành Trình ra mắt tháng 12-1964, cùng với nhiều trí thức thiên tả lẫn các cây bút Việt cộng nằm vùng. Vì Hành Trình có giọng điệu thiên cộng quá lố nên bị chính quyền quốc gia tịch thu và cảnh cáo nhiều lần, đến tháng 6-1966 tạp chí Hành Trình đóng cửa để tờ Đất Nước (ra số đầu tháng 4-1966) thế chỗ.
Trình Bày là tờ báo Bán Nguyệt san, số đầu ra ngày 1-8-1970.
Cả 3 tờ Hành Trình, Đất Nước, Trình Bày đều là chủ trương của Nguyễn văn Trung nhưng đề tên người khác làm chủ nhiệm để núp bóng, là những tờ báo có cùng luận điệu thiên cộng, bằng đủ mọi lối ngụy biện … rẻ tiền làm lợi cho cộng sản, chê bai, đả kích chánh quyền quốc gia.
➜ tờ báo (Công giáo) Thẳng Tiến. Chủ nhiệm: linh mục Phạm Văn Thăm, là Tuần báo, số 1 ra tháng 07-1962
➜ tờ báo (Công giáo) Xây Dựng. Chủ nhiệm: linh mục Nguyễn Quang Lãm, là nhật báo, số 1 ra ngày 02-01-1964
➜ Nhóm linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan: cho ra tờ tạp chí Đối Diện số đầu vào tháng 7-1968. Tờ báo này có xu hướng thiên Cộng càng ngày càng lộ liễu, đến nỗi khi đọc một số bài đăng trong đó làm độc giả tưởng đó là báo của Việt cộng (MTGP = Mặt trận Giặc Phỉ) xuất bản ở Saigon.
Hai linh mục Chân Tín, Nguyễn ngọc Lan là bè bạn hữu hảo cùng một giuộc với Nguyễn văn Trung (và với Lý Chánh Trung) nối lại thành một mô thức đối lập kiểu mẫu dẫn đầu một cách vênh vang, bề thế, kéo theo sau là một bầy lâu la đệ tử hăm hở hăng hái, cùng nhau hoạt động làm lợi cho Cộng sản, chống chánh quyền quốc gia.
Cơn mê sảng ảo giác hoang tưởng của băng trí thức Công giáo này chỉ chấm dứt khi chộ với băng nón cối dép râu trong rừng tràn ra đô thành; cơn mộng tưởng với những luận điệu lớn lối khoa trương "tìm về dân tộc" ra rả lâu nay của băng này tan nhanh như bọt nước xà phòng; trong chớp mắt, băng nón cối CSBV co giò đạp thẳng mặt băng trí thức Công giáo hoang tưởng từ cõi thiên đàng quốc gia rớt tòm xuống hố địa ngục cộng sản xã nghĩa; tấm bình phong đối lập của hai phe, phe của 2 anh cùng tên Trung liên thủ với phe 2 linh mục Chân Tín và Nguyễn ngọc Lan cũng rớt ào xuống và trơ trẽn lòi ra cái cốt khỉ: nín khe không dám thốt một lời nào vênh vang như những năm xưa khi còn được chánh quyền quốc gia biệt đãi, trọng vọng; hèn nhũn trước bạo quyền cộng sản không khác chi loài giun dế sát đất; ngậm miệng nhắm mắt trước những hành động của tập đoàn Cộng sản Bắc Việt đang vênh váo bạo ác giáng đòn thù thô bỉ hèn hạ lên quân và dân miền Nam.
Tệ hơn, 2 bên, 2 phe không nhìn mặt nhau, mà trở nên kình chống nhau nặng nề, tố giác nhau đủ thứ chuyện tầm thường, hạ cấp in hệt phường buôn gian bán lận ngoài chợ trời.
Nguyễn ngọc Lan viết (Nhật Ký I 1988; Nhật Ký II 1989 - 1990 và Nhật Ký III 1990 - 1991, gởi ra hải ngoại và do Nhà Xuất bản Tin, Paris, ấn hành năm 1993, trong đó tố giác Nguyễn văn Trung, Lý Chánh Trung đủ thứ chuyện lớn nhỏ, bêu mặt hai anh Trung này thậm tệ. Hiện LTC tôi không có bộ 3 tập Nhật Ký Nguyễn ngọc Lan này, nhưng bạn đọc có thể dễ dàng dùng Google Search Nhật Ký Nguyễn ngọc Lan để đọc những bài viết của nhiều người khác nhau nhận xét về bộ Nhật Ký đó dù hiện nay - 2025 - các bài ấy không còn nhiều trên Cyberspace.
Để phản pháo, Nguyễn văn Trung viết một xấp giấy pelure, 29 trang, đề ngày 4-10-1993, được đánh máy lại và công bố năm 2012, trong đó Nguyễn văn Trung tố cáo rằng, thời quốc gia (VNCH) Nguyễn ngọc Lan phụ trách làm kinh tài cho Việt cộng, tìm mọi cách lạc quyên gom góp tiền bạc rồi đổi ra ngoại tệ nạp cho Y4 (bí số của khu ủy Việt cộng vùng Sài Gòn - Gia Định), và tố Nguyễn ngọc Lan cũng đã từng vô 'bưng' của Việt cộng nhiều lần.
Đọc 29 trang của Nguyễn văn Trung cộng với các bài nhận xét vừa kể ở trên khả dĩ cho chúng ta cái nhìn trần trụi về 2 phe Nguyễn ngọc Lan — Nguyễn văn Trung khi họ đã tự lột mặt nạ. Bạn đọc chịu khó tìm hiểu thì xin xem 29 trang viết tay của Nguyễn văn Trung ở đây (xin ráng nén cái khó chịu khi đọc vì cách trình bày thô thiển, vụng về của chủ Blog này): phần 1 | phần 2 (và hết).
➜ Ngoài ra, Nguyễn ngọc Lan còn tìm cách lợi dụng không gian Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế 38 Kỳ Đồng để làm cơ sở hoạt động cho cộng sản, việc này Nguyễn ngọc Lan tự khoe trong tạp chí Đứng Dậy số 100 ra tháng 10-1977 [ đổi tên thành Đứng Dậy là vì sau black April, VC cho Đối Diện tiếp tục ra báo nhưng phải đổi tên Đối Diện thành Đứng Dậy ]. Cuối năm 1978, VC bóp chết luôn Đứng Dậy (ra số 114 là số cuối cùng) với lời phê Đứng Dậy «đã làm xong vai trò lịch sử».
Từ đây, các linh mục Chân Tín, Nguyễn ngọc Lan bị VC từ từ đá đít cho ra rìa. Riêng Nguyễn văn Trung còn bị nặng hơn: bị Cộng sản, người anh em tôi bắt bỏ tù năm 1976, thả ra cuối năm 1977. Nguyễn văn Trung trở thành một con bù nhìn hình rơm cho chế độ cộng sản Hanoi, im mồm mà sống, viết nhiều bài theo đơn đặt hàng của Hanoi, Cộng sản, người anh em tôi ra lệnh bảo viết bài gì thì viết bài đó, nín thở qua sông chờ ngày chạy thoát Cộng sản, người anh em tôi 😂.
Về sau, khi đã vượt thoát được ra hải ngoại vào năm 1993, Nguyễn văn Trung đã có thuật lại quá trình phá hoại quốc gia của ông ta, tuy không thuật hết, không chịu nói thẳng hết (còn nói quanh co, dấu dấu đút đút vì xấu xa quá, u mê quá, sai lầm quá …) nhưng đọc những lời lấp liếm quanh co ấy cũng đủ cho ta biết bộ mặt ngu dại của bầu đoàn trí thức Công giáo thiên cộng ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản này.
Câu Nguyễn văn Trung viết được nhiều người nhắc lại là: «tham gia cách mạng là tham gia vào một quá trình tự tiêu diệt sau này» qua bài “Tưởng Niệm Việt Nam Cộng Hòa” đăng nơi trang 3 tờ Nguyệt san Tạp chí Văn Học (hải ngoại) số 174 ra tháng 10-2000 (do Nguyễn Mộng Giác làm Chủ Bút).
Hay một câu khác, Nguyễn văn Trung viết «...nhận ra những gì mình đã nhân danh gọi là lý tưởng này nọ đôi khi chỉ che giấu những động cơ, mục tiêu cá nhân: Hám danh lợi quyền lực, muốn được xung tụng trọng vọng…» qua bài "Nhìn Lại Những Chặng Đường Đã Qua" là bản viết tay của Nguyễn văn Trung do Nguyễn Vy Khanh đánh máy lại và gửi đăng trên Web Thông Luận ngày 04-9-2007 nhưng hiện nay Web Thông Luận này đã tiêu vong, chỉ còn bản lưu (đăng lại năm 2019) của Văn Việt theo link nêu trên.
Nguyễn văn Trung còn viết nhiều bài đăng báo (Web) khác nữa từ sau năm 2000 (khi kỹ thuật điện toán và Internet phát triển rộng và nhanh thành Liên Mạng Toàn Cầu) nhưng tôi thấy không cần phải đăng lại ở đây thêm nữa làm gì, vì bạn đọc có thể tìm search đọc không khó gì, và cũng vì tôi thấy tuy nói, viết nhiều nhưng tựu trung, Nguyễn văn Trung phần lớn vẫn không thành thật, vẫn cố xào nấu chữ nghĩa, ngụy biện và che đậy những tội lỗi u mê của ông ta đã một thời ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản ở miền Nam Tự Do, nối giáo cho giặc, ru ngủ quần chúng và làm hại không ít người trẻ tin theo ông ta.
➜ Ngày 3/5/1998, Nguyễn ngọc Lan và Chân Tín đi bằng chiếc xe gắn máy honda dame đến dự đám tang tay Việt cộng phản tỉnh Nguyễn Văn Trấn vừa mới chết, tổ chức ở Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế 38 Kỳ Đồng. Ngay khi hai người chở nhau ra khỏi nhà thờ thì bị một bọn ba bốn người lạ mặt đi kẹp hai bên, trong đó có 1 tên co giò đạp vào bánh xe trước của chiếc xe honda dame làm hai người té nhào lăn ra giữa đường. Nguyễn Ngọc Lan bị thương nặng, bất tỉnh. Chân Tín bị thương nhẹ. Chỉ cần có chiếc xe hơi nào trờ tới là cả hai khó lòng sống sót.
➜ Tháng 5-1990, Cộng sản cho lệnh quản thúc (cấm cố) vô thời hạn Nguyễn Ngọc Lan ở Quận 10 Saigon và Chân Tín ở vùng Cần Giờ, Duyên Hải, là vùng ven xa đô thành Saigon 70 cây số.
➜ Nguyễn Ngọc Lan cởi áo dòng, lấy vợ vào năm 1977, chết năm 2007.
➜ Chân Tín chết năm 2012.
Cả 2 linh mục này, cho đến lúc chết, tuyệt không có lấy một lời nào tự kiểm, ăn năn sám hối tội lỗi của mình, cũng không một dòng nào tố cáo cái bộ mặt gian ác, phi nhân kinh tởm của Cộng sản Ba Đình.
Sau đây là vài bài báo cũ miền Nam, như những trang sử chắc nịch còn ghi lại những hoạt động núp dưới tấm áo 'đối lập' tiếp tay cho giặc, làm cho hậu phương rối ren thêm, do băng trí thức Công giáo thiên cộng này gây ra mà thực chất chỉ là đưa thân làm con rối cho cộng sản.
Chúng ta cũng có thêm loạt bài tham luận giá trị “Nghĩ Về Một Số Trí Thức Ảo Tưởng” của Ánh Việt, đăng làm 4 kỳ trên mục Diễn Đàn nơi trang 2 nhựt báo #Chính Luận, Oct. 6, 1970 (kỳ 1) cho đến Oct. 9, 1970 (kỳ 4 - tiếp theo và hết), thiết tưởng, cùng với bài “Vì Dân-Tộc Hay Không?”, tham luận của Vĩnh-Nam đăng làm 2 kỳ trên trang 2 #Chinh Luan Dec. 12, 1970 và #Chinh Luan Dec. 13_14, 1970 (đã đăng ở trên) ... tổng hợp lại khả dĩ cho ta nhận diện đúng bộ mặt thực của băng trí thức Công giáo thiên tả này.
Mời bạn đọc theo dõi qua Phân đoạn 6.
$pageOut $pageIn Đăng vào ngày cuối năm Tây 2025
Phân đoạn 6
#Chính Luận Feb. 23, 1971 trang ba
Linh mục Chân Tín, Chủ nhiệm báo “Đối Diện” tuyên bố: Kháng Án Để Tiếp Tục Ra Báo: quyết tạo điều kiện để ngưng bắn.
Saigon. – (TV) 22/2 Linh mục Chân Tín, Chủ nhiệm Nguyệt san Đối Diện vừa bị Tòa Sơ Thẩm Saigon đóng cửa báo này 6 tháng và phạt tù (9 tháng) Chủ Nhiệm cũng như tác giả 2 bài báo liên hệ, vào chiều ngày 20/2 tuyên bố, ông quyết tâm tạo điều kiện cho một cuộc ngưng bắn, khởi đầu cho sự hòa giải dân tộc và tiến tới hòa bình.
Trong cuộc phỏng vấn dành cho tờ New York Times tại Saigon, đáp câu hỏi của phóng viên báo này về lập trường của báo Đối Diện, vị Linh mục 50 tuổi, Linh mục Chân Tín, nói rằng: “sau 25 năm chiến tranh, chúng tôi ý thức rằng cuộc chiến tranh tại Việt Nam hiện nay là do 2 khối tư bản và cộng sản chủ trương, và có thể đưa dân tộc Việt tới chỗ diệt chủng”. Linh mục nói tiếp: “trong hoàn cảnh như vậy, chúng tôi xác tín rằng, trong tình người và tình dân tộc, mặc dù khác về ý thức hệ gây ra, người dân Việt Nam cũng phải dần dà tạo điều kiện để đi đến hòa giải dân tộc. Trong cuộc hòa giải này, theo Linh mục, việc ngưng bắn là điều kiện tiên quyết để đi tới hòa bình. Ông nói, “vì thế nguyệt san Đối Diện chúng tôi quyết tâm tạo điều kiện cho một cuộc ngưng bắn”. Linh mục Chân Tín nói thêm rằng, chính trong tinh thần này chúng tôi đã tìm hiểu những ưu khuyết điểm của chế độ miền Bắc nhằm đánh tan thái độ khép kín và xa cách giữa 2 miền Nam Bắc. Đề cập đến bài báo nhan đề “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” mà tác giả là Linh mục Trương Bá Cần đã bị Tòa kết án, Linh mục Chân Tín nói “đó là một phần trong chủ trương của chúng tôi tìm hiểu những ưu khuyết điểm của chế độ miền Bắc” … “một công trình nghiên cứu rất khách quan và vô tư, sự suy luận dựa trên những dữ kiện có thể có được” …
[ bài báo có nhan đề “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” của Linh mục Trương Bá Cần đăng làm 3 kỳ trên "Đối Diện số 14, số 15 và số 16. ]
#Đuốc Nhà Nam Feb. 21_22, 1971 trang nhất:
Ngày 18-2-1971, Linh mục Chân Tín chủ nhiệm báo "Đối Diện" và linh mục Trương Bá Cần, tác giả 2 bài đăng trên tờ báo này với tựa “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” và "Sản xuất dưới bom đạn Mỹ", mỗi vị bị Tòa tuyên án 9 tháng tù ở, và báo "Đối Diện" bị đóng cửa 6 tháng (mỗi bài báo với tựa như trên, là một vụ, vụ thứ nhứt mỗi vị bị phạt 3 tháng tù ở và vụ thứ nhì 6 tháng tù ở).
Tiếp theo vụ báo "Đối Diện" là tuần báo "Quật Khởi" bị truy tố "phổ biến những bài báo có luận điệu xuyên tạc với dụng ý làm phương hại đến nền an ninh quốc gia". Tòa phạt giáo sư Châu Tâm Luân quản lý báo "Quật Khởi" 500.000đ tiền phạt vạ và ĐÓNG CỬA VĨNH VIỄN tờ báo này. Báo "Quật Khởi" do Dân biểu Nguyễn trọng Nho làm chủ nhiệm, nên chỉ có Quản lý bị truy tố. [ vì dân Biểu VNCH được hưởng quyền "bất khả xâm phạm", thể theo Hiến Pháp VNCH ngày 1-4-1967, chi tiết như sau:
—⚜—
#Tien Tuyen Sept. 17, 1971 trang ba
Tòa Đô chánh Thông Cáo chính thức sẽ đưa ra Tòa vụ họp bất hợp pháp đường Kỳ Đồng
SAIGON (VTX) — Tòa Đô Chánh trong một bản tin phổ biến hôm nay đã nói rõ về cuộc họp bất hợp pháp do Linh Mục Chân Tín tổ chức tối qua tại nhà xứ trong khuôn viên nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng cùng sự lộn xộn xảy ra sau đó khi anh em NDTV đến yêu cầu giải tán cuộc họp này.
Bản tin tòa Đô chánh cho biết vào lúc 20g45 ngày 14 tháng 9 năm 1971, Bộ Chỉ huy Cảnh sát Quốc Gia Thủ đô đã nhận được cuộc điện thoại do một ngoại kiều báo tin và yêu cầu cơ quan Cảnh sát đến can thiệp bảo vệ và đưa Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ McGovern ra khỏi khuôn viên nhà Dòng Chúa Cứu Thế đường Kỳ Đồng.
Bộ Chỉ huy Cảnh sát Quốc Gia Quận 3 nhận được lệnh, đã huy động Nhân viên công lực đến nơi mở cuộc điều tra và được biết như sau:
— Lúc 20g20, Linh mục Chân Tín có tổ chức một buổi họp không có giấy phép của cơ quan Hành chánh địa phương gồm độ 30 người có tên sau đây:
1. Linh mục Chân Tín 2. Linh mục Nguyễn ngọc Lan 3. Ni sư Huỳnh Liên 4. Đại đức Thích Liễu Minh 5. Giáo sư Trần tuấn Nhậm 6. Luật sư Nguyễn Long 7. Giáo sư Nguyễn văn Trung 8. Giáo sư Cao thị Quế Hương 9. Sinh viên Trần văn Long 10. Sinh viên Trần thị Lan.
Và một số sinh viên học sinh đoàn viên của nhóm gọi là toán xung kích để tham gia vào việc đốt xe ngoại quốc trong những ngày qua như:
— Nguyễn ngọc Thọ, Tăng quốc Kiệt, Ng văn Tạo, Trần thị Ngọc Diệp, Lê thành Yến, Lê ngọc Ba, Nguyễn thị Mân, Trần Hưng, Phạm thị Xuân Quế, Phạm văn Hoàng, Võ ngọc
(XEM TIẾP TRANG 6)
________________________________________
TIẾP THEO TRANG 3
Ẩn, Cao Lộc, Phạm cao An, Nguyễn thị Bảy, Lê Anh, Ngô Mật, Nguyễn thị Bình, Đỗ ngọc Long.
— Ngoài ra còn có 6 người ngoại quốc và 1 ngoại kiều tên là David Bourquin thuộc đoàn chí nguyện quốc tế mặc thường phục, trong đó có Thượng nghị sĩ McGovern cùng tham dự cuộc hội họp.
Cha Phó Bề Trên Dòng Chúa Cứu Thế không đồng ý cho Linh Mục Chân Tín mở cuộc hội họp không có giấy phép trong khuôn viên nhà thờ, và yêu cầu số người tham dự giải tán.
— Tuy nhiên số người này vẫn tiến hành cuộc hội họp, do đó anh em NDTV Khóm liên hệ đã vào ngăn cản cuộc hội họp và yêu cầu giải tán, rời khỏi khuôn viên nhà thờ nhưng bất thành.
— Số người tham dự cuộc họp bất hợp pháp đã đóng cửa phòng, xô đẩy các anh em NDTV, do đó đã có phản ứng của NDTV và giáo dân địa phương bằng cách nổi lửa đốt 1 chiếc xe chở hàng loại nhỏ và 8 chiếc xe gắn máy của nhóm người nói trên.
— Riêng số người ngoại quốc trong đó có Thượng Nghị Sĩ McGovern đã được Bộ Chỉ huy Cảnh sát Quốc gia quận 3 và Quân Cảnh Hoa kỳ bảo vệ hộ tống an toàn ra khỏi khu vực nói trên.
Bộ chỉ huy CSQG quận 3 đã lập biên bản nội vụ, ghi chung tất cả những người tổ chức cũng như tham dự cuộc hội họp bất hợp pháp nói trên. Hồ sơ nội vụ sẽ được chuyển trình Biện Lý Cuộc Tòa sơ thẩm Saigon.
— Số người tham dự cuộc họp bất hợp pháp đã được tự do ra về sau khi ghi cung, trong khi chờ đợi sự quyết định của cơ quan tư pháp hữu thẩm quyền.
An ninh trật tự tại khu vực nói trên đã hoàn toàn vãn hồi vào lúc 23 giờ cùng ngày.
—⚜—
Đăng vào ngày Tết Tây 2026
#Chính Luận Oct. 6, 1970 trang hai
DIỄN ĐÀN: Nghĩ Về Một Số Người Trí Thức Ảo Tưởng by Ánh Việt
(viết về Nguyễn văn Trung và băng trí thức Công giáo thiên cộng) (kỳ 01) (Bài 008) Nghĩ Về Một Số Người Trí Thức Ảo Tưởng by Ánh Việt
(viết về Nguyễn văn Trung và băng trí thức Công giáo thiên cộng) (kỳ 01)
I — Đặt vấn đề
Không phải tới hôm nay mới thấy xuất đầu lộ diện những kẻ đòi hòa bình không điều kiện mà ngay từ ba bốn năm qua, nhân dân miền Nam ta đã từng thấy khuôn mặt họ ẩn núp sau chiêu bài này, ngụy trang sau danh hiệu nọ, luồn lách trong tổ chức kia, để cố gắng nói lên tiếng nói lạc điệu giữa những chiến đấu sôi nổi của quân dân: đòi ngưng chiến với bất cứ giá nào. Tuy nhiên, cần nói toạc ra rằng, phải đợi cho đến hôm nay, nhân lúc giới lãnh đạo Saigon đang phải đối phó với những khó khăn dồn dập cả trong lẫn ngoài, những kẻ chủ bại ấy mới bám víu lấy cơ hội ngàn năm một thử đặng hùa nhau gióng trống phất cờ, tuyên truyền quảng cáo cho cái chủ trương cực kỳ phiêu lưu nguy hiểm nói trên. Vậy thì họ là ai? Họ đã bị chụp mũ một cách phi lý chăng? Tại sao đòi hòa bình tức khắc, hoặc kêu gọi liên hiệp, hô hào trung lập lại bị gọi là một chủ trương phiêu lưu nguy hiểm? Những yếu tố nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường bấp bênh ấy? Nếu mục tiêu đấu tranh của họ đạt được thì vận mệnh của miền Nam này sẽ đi tới đâu? Đó là những câu hỏi lớn đang cần một sự giải đáp thỏa đáng mà chúng tôi muốn thử đặt thành vấn đề tìm hiểu trong bài này.
Tưởng cũng cần minh xác thêm rằng chủ đích của người viết bài này không nhằm tranh luận với những người có lập trường chính trị hoàn toàn trái ngược với lập trường quốc gia, mà chỉ muốn bày tỏ một số quan điểm liên quan đến thời cuộc với một thiểu số trí thức trẻ đang được dư luận chú ý bởi những bài báo của họ. Nhiệt tình của tuổi trẻ và sức mạnh của ngòi bút vẫn là 2 nhân tố cơ bản tạo nên khả năng thuyết phục mạnh mẽ, dễ tác động vào tâm tư quần chúng hơn so với những lời tuyên bố ồn ào của các chính khách xôi thịt, các trí thức phòng trà. Mặt khác, do nhận thức rằng, ở người trí thức trẻ thường không có thái độ bảo thủ, khép kín như phần đông các bậc trí thức "đàn anh", mà ngược lại, thường tỏ ra cởi mở, sẵn sàng đón nhận phản ứng, như một Nguyễn văn Trung, người đáng được coi là đại diện cho lớp trí thức trẻ cấp tiến đã tự khẳng định: «Tôi vốn coi việc viết của mình phải nhằm thúc đẩy người khác phản ứng...»
«Với độc giả, tôi nghĩ thái độ tôn trọng nhất đối với họ là đòi hỏi họ phải phản ứng lại. Hoặc đồng ý hoặc phản đối. Thế nào cũng được, miễn là có phản ứng. Tôi coi việc phản ứng, ngay cả sự phản đối, là một thành công cho người viết...» (trích Nhận Định V của Nguyễn văn Trung) vì thế, chúng tôi mạnh dạn bày tỏ một số phản ứng cần thiết với hy vọng không bị ngộ nhận một cách đáng tiếc.
II — Chung quanh hiện tượng chụp mũ
Trong sinh hoạt chính trị ở miền Nam gần đây, người ta nghe nói nhiều đến từ ngữ chụp mũ.
Nhưng thế nào gọi là chụp mũ? Ai chụp và ai bị chụp? Lý do?
Để gợi phương hướng giải đáp mấy thắc mắc vừa kể, tưởng cần phải nêu bật lên trước hết cái nhiệm vụ chiến lược của Cộng sản là thôn tính miền Nam. Muốn hoàn thành nhiệm vụ chiến lược ấy, tập đoàn lãnh đạo Hà Nội, thông qua công cụ thực hiện là Mặt trận Giải phóng miền Nam và cái gọi là "chính phủ cách mạng lâm thời", đang ráo riết vận dụng mọi hình thức đấu tranh: quân sự, chính trị, ngoại giao, tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể. Trước âm mưu và chủ trương, sách lược đó, bất cứ hoạt động nào từ phía hàng ngũ quốc gia nếu có lợi trực tiếp hay gián tiếp cho đối phương đều dễ bị gán là thân Cộng. Lẽ cố nhiên, những người chụp mũ luôn luôn là các phần tử cá nhân, hoặc đoàn thể có lập trường triệt để và dứt khoát đối với Cộng sản (theo nghĩa đứng dắn nhất) cũng như "nạn nhân" của việc chụp mũ thường là những người vô tình hay hữu ý có hành vi ngôn ngữ làm lợi cho đường lối, chính sách của kẻ thù. Đó là chưa kể đến trường hợp có một số người đã tự chụp cho mình cái mũ khuynh tả, đối lập v.v… Phân tích như vậy là chỉ muốn nhấn mạnh rằng chụp mũ hay bị chụp mũ không phải là điều quan trọng, mà điều quan trọng chính là thái độ đúng đắn hay sai lệch, và hành động có lợi hay có hại của mỗi phía mà thôi.
Trong thực tế, nếu như có một số người về phía quần chúng cũng như về phía chính quyền thường mắc bệnh gán ghép cho kẻ khác những cái mũ thân Cộng, tay sai một cách hàm hồ, khiến gây chia rẽ, mâu thuẫn trong nội bộ quốc gia thì đồng thời, cũng có một số người bị chụp mũ là quá khích, là tiếp tay cho địch, không do ai tố cáo mà chính là do những việc làm nông nổi, bồng bột hoặc kém thận trọng, chủ yếu là do thái độ thiếu vô tư của họ tự phơi bày ra trước dư luận khiến cho quần chúng bất bình.
Muốn nhận diện số người này, không phải là điều khó khăn lắm. Họ là một số giáo sư đại học, nhà tu hành, nhà báo, dân biểu quy tụ chung quanh mấy cơ quan ngôn luận mang nhãn hiệu "cấp tiến" để dùng ngòi bút làm vũ khí đấu tranh, cổ vũ cho đòi hỏi chấm dứt chiến tranh không điều kiện đi đôi với việc thỏa mãn các yêu sách liên hiệp, trung lập v.v… Điểm tựa của những mục tiêu tranh đấu ấy luôn luôn được họ bám sát vào, là tinh thần Dân tộc.
Hai tiếng Dân tộc đã trở thành cơ sở lý luận của họ trong việc thể hiện và khai thác các đề tài hấp dẫn như bảo vệ chủ quyền, thực hiện dân chủ, cách mạng xã hội, thống nhất đất nước. Không ai chối cãi rằng các chủ đề vừa kể, tự bản thân chúng, có tác dụng kích thích tâm lý quần chúng yêu nước không ít. Tuy nhiên, người ta chỉ lấy làm tiếc rằng trong khi khai triển vấn đề, họ đã thiếu hẳn một thái độ khách quan cần thiết. Sự thiếu sót cố tình này đã là cái duyên cớ chính đáng cho mọi người nghi ngờ vào "thiện chí" của họ.
Trong vòng 5, 6 năm nay, những ai thường theo dõi bài viết của họ trên các tập chí, nguyệt san như Hành Trình, Đất Nước, Nghiên cứu Văn học, Đối Diện, Trình Bày và một số tác phẩm phổ biến hạn chế như Hoa Sen Trong Biển Lửa, Nhìn Kỹ Quê Hương [ của Thích Nhất Hạnh, 1966, 1967 ], hoặc công khai như Chứng Từ 5 Năm, Đường Hay Pháo Đài [ Nguyễn ngọc Lan, 1969 ], đều dễ dàng thấy rõ thái độ thiên lệch nói trên.
Từ các tiểu luận như "chủ quyền quốc gia trước sự can thiệp và chi phối của ngoại bang" (Hành Trình số 7 và 8) đến truyện ngắn như "Tấm căn cước bọc nhựa hay là vết tích của sự nhục nhã" (Hành Trình số 3 và số 4) cho đến cả những bài nhận định dưới hình thức trả lời phỏng vấn hoặc thư ngỏ như "Bắt Con Bỏ Chợ" và "Lá thư gửi sinh viên Huỳnh tấn Mẫm đang bị giam giữ tại Tổng nha cảnh sát công an" (Đối Diện số 10), qua cái nhìn một chiều, lối suy luận xa rời thực tế và giọng văn mỉa mai cay độc của tác giả các bài viết đó, người đọc thật khó mà tin được thái độ vô tư, xây dựng của họ. Thật ra, giữa một thời kỳ lịch sử gay go quyết liệt như miền Nam ta trong vòng 10 năm trở lại đây, những khó khăn phức tạp liên hệ đến đời sống chính trị, văn hóa, kinh tế, quân sự của đồng bào và chiến sĩ ta là những hiện tượng tất nhiên không thể tránh khỏi.
Thay vì đặt ra những thực trạng khó khăn ấy để gợi phương hướng giúp chính quyền giải quyết thì họ lại tập trung mũi nhọn vào việc đả kích giới lãnh đạo quốc gia, thóa mạ Hoa Kỳ, nhằm qui hết trách nhiệm về phía Saigon và Tòa Bạch Ốc cùng những đoàn thể, cá nhân chủ trương duy trì cuộc chiến tranh tự vệ mà chúng ta đang tiến hành.
Đọc kỹ các bài viết của họ, người ta thấy rõ ý hướng đả phá, buộc tội của tác giả đối với những ai đang tích cực tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào các hoạt động chống lại các cuộc vận động tái lập hòa bình tức khắc. Ý hướng đả phá thay thế cho thiện chí xây dựng hầu như đã trở thành tư tưởng chỉ đạo, quán xuyến từ đầu chí cuối ở nhiều bài báo. Kể ra thì họ cũng can đảm trong việc cố gắng phân tích, suy diễn và khoét sâu thêm các ung nhọt xã hội do chiến tranh gây ra, cũng như họ đã can đảm tố cáo những ai đang kiên quyết giữ vững lập trường chống Cộng, can đảm lên án các hành động đàn áp của chính quyền đối với các phong trào đòi chấm dứt chiến tranh với bất cứ giá nào, can đảm lên án chính sách can thiệp của Hoa Kỳ vào tình hình quân sự ở miền Nam. Dưới ngòi bút của họ, các hoạt động chiến tranh tự vệ đang diễn ra ở bên này vĩ tuyến 17 đã bị đồng hóa với những tội ác ghê tởm.
Tuy nhiên, tính can đảm nếu không đi đôi với một thái độ công bằng thì chỉ có nghĩa là một sự ngụy biện, khó được quần chúng thừa nhận, nhất là đối với người trí thức.
Không cần phải là người có trình độ kiến thức văn hóa cao, ai cũng có thể nhìn thấy thái độ bất công, vô trách nhiệm của số người cầm bút nói trên. Biểu hiện của thái độ bất công ấy được cụ thể hóa trong một số việc làm tiêu biểu của họ như:
— Thường xuyên phản kháng những người quốc gia tiếp tục chiến đấu chống Cộng, ráo riết đòi Mỹ rút về nước nhưng lại im lặng trước sự có mặt của bộ đội miền Bắc trên lãnh thổ VNCH cũng như im lặng trước chính sách xâm lược của Hà Nội là nguồn gốc gây nên cuộc chiến.
— Căm thù phẫn nộ trước các hành động vi phạm tự do dân chủ của chính quyền Saigon nhưng lại thờ ơ trước các hoạt động phá hoại liên tục của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đối với nền an ninh công cộng tại đây.
— Luôn luôn sốt sắng trong việc khai thác các vụ "bất lợi" do quân đội đồng minh hoặc chính quyền gây ra như các vụ Mỹ Lai, Bình Tuy, Côn Đảo nhưng lại hờ hững trước các hành động man rợ của đối phương như những cuộc tàn sát tập thể ở Huế và gần đây việc bộ đội giải phóng miền Nam tiến công, khủng bố Viện Cô Nhi An Hòa. [ * ]
— Sẵn sàng cổ động cho các hành động can thiệp vào nội bộ miền Nam của Hoa Kỳ, nhưng lại tán thưởng việc các sinh viên nước ngoài đến Saigon xách động biểu tình, bất chấp cả pháp luật và chủ quyền quốc gia.
— Hằn học đối với những cơ quan ngôn luận có lập trường chống Cộng rõ rệt như Xây Dựng, Thẳng Tiến, Chính Luận … nhưng lại tỏ ra đồng tình với các luận điệu tuyên truyền của Hà Nội về một số vấn đề chính trị, văn hóa.
— Nghiêm khắc lên án chính quyền Saigon không tôn trọng Hiến pháp nhưng lại khuyến khích các cuộc biểu tình, "xuống đường" của sinh viên, học sinh, gây xáo trộn sinh hoạt quần chúng đô thị.
— Lớn tiếng kêu gọi đoàn kết quốc gia, hòa đồng dân tộc nhưng lại thường đả kích, bôi nhọ các phần tử không cùng xu hướng, lập trường chính trị với mình, hoặc tung ra những luận điệu kỳ thị địa phương, chia rẽ giai cấp, tôn giáo.
(Xem tiếp trang 11)
Diễn Đàn
(Tiếp theo trang 2)
— Luôn miệng hô hào miền Nam Quốc gia ngừng bắn, nhưng không hề bày tỏ phản ứng ngay thẳng nào trước thái độ "hiếu chiến, ngoan cố" của giới lãnh đạo miền Bắc Cộng sản.
Tóm lại, có thể nói rằng, các bài báo của họ nếu đem tổng hợp lại thì sẽ có giá trị một bản cáo trạng hùng hồn về những tội ác tày trời do các nhà cầm quyền chế độ Saigon và người Mỹ gây ra cho đồng bào miền Nam. Và điều đáng chú ý là bản cáo trạng ấy chỉ được xây dựng bằng những yếu tố chủ quan, một chiều, lệch lạc, thiếu hẳn một căn bản tinh thần vô tư tối thiểu. Chính vì vậy mà dư luận quần chúng đã không dành cho họ những cảm tình tốt đẹp. Bởi họ là những phần tử trí thức, nên dư luận cũng thường tỏ ra khắt khe hơn trong việc đánh giá, phê phán. Chẳng hạn như đã có không ít người phân loại trong số họ chỉ gồm các thành phần ích kỷ hoặc thiển cận như sau:
— Bất mãn vì tham vọng cá nhân không được thỏa mãn, địa vị xã hội không được chiếu cố đúng mức.
— Xu thời, mị dân, cơ hội chủ nghĩa, muốn làm một thứ phù thủy chính trị hòng đoạt lấy một ngôi báu lãnh tụ.
— Đứng núi này trông núi nọ, nghĩ rằng một ngày nào đó, nếu chế độ này bị sụp đổ, thì họ sẽ được Cộng sản ban thưởng cho một ân huệ đặc biệt nhờ "thành tích" tranh đấu trong quá khứ.
— Bi quan dao động trước tình thế khó khăn, không tin vào sự tồn tại lâu dài của chế độ miền Nam nên cố gắng "làm một cái gì" để chứng minh với Cộng sản sau này với hy vọng sẽ được thoát khỏi xiềng xích cải tạo tư tưởng.
— Kiêu căng, hợm mình, chỉ thích đeo cặp kính đen ngòm vào mắt để nhìn đời đặng cho mình là nói đúng, bất chấp cả những sự thật khách quan.
— Là những trí thức nô lệ sách vở, ưa lý thuyết suông, không biết nhìn vào thực tiễn đấu tranh gay go tế nhị để rút ra những kinh nghiệm và nhận thức khoa học.
Sự phân loại trên đây bắt nguồn từ những phản ứng gay gắt của quần chúng đối với việc làm thiếu trách nhiệm của một thiểu số trí thức hiện đang sinh hoạt trong hàng ngũ quốc gia.
Riêng đối với một số độc giả bình tĩnh hơn (trong đó có cả kẻ cầm bút này) thì lại cho rằng trong số họ, phần đông là những người yêu nước và có nhiệt tình xã hội. Họ không chấp nhận chủ nghĩa mác xít bởi một lẽ rất đơn giản là con người tiểu tư sản với các yếu tính của tự do, độc lập như họ không thể phù hợp với những giáo điều công thức có tính cách nguyên tắc cố định máy móc. Họ cũng từ chối luôn chủ nghĩa tư bản với một xã hội thối nát và nhiều chênh lệch, bất công.
Do đó, họ là những người đứng lưng chừng ở giữa 2 thái cực, dường như không tìm thấy một lối thoát nào thích hợp với quan niệm sống của họ, thành ra lập trường chính trị của họ cũng sa vào trạng thái bấp bênh. Trong tình huống bế tắc đó, họ muốn đóng vai một nhà cách mạng, ít ra là trên mặt lý thuyết, để được giải tỏa những ẩn ức, khắc khoải của một tấm lòng yêu nước đang bị thời cuộc dày vò.
Hầu hết trong số họ gồm những người du học lâu năm ở các nước dân chủ phương Tây, bị ảnh hưởng nặng nề ở các trào lưu tư tưởng triết học xa lạ với hoàn cảnh xã hội VN. Do đó, những quan niệm và hành động của họ thường là cách biệt với lối sống và nếp suy tư của quần chúng ở một nước chậm tiến. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là họ đã phát biểu quá nhiều về những vấn đề liên quan đến chính trị, đến đấu tranh hòa bình trong khi chính bản thân họ chưa hề có kinh nghiệm thực tế về Cộng sản, hoặc vì quá chủ quan, tự cao, tự đại, nhận thức của họ về tình hình chiến tranh đã không xuất phát từ những sự kiện khách quan, nên tiếng nói của họ nhiều lúc trở nên ngây ngô, ảo tưởng. Người giàu óc châm biếm đã đồng hóa các việc làm ngây ngô của một số trí thức Saigon với cái gọi là "Tòa án quốc tế xử tội phạm chiến tranh của đế quốc Mỹ ở VN" do ông già lẩm cẩm Bertrand Russel [ Triết gia người Anh, cùng với J. P. Sartre, triết gia Pháp, là một trong vài trí thức thiên tả Tây phương tiêu biểu đã cắn ngon lành cái bã lừa gạt của Cộng sản Bắc Việt ] tổ chức cách đây 3 năm mà báo chí Saigon dạo ấy đã mỉa mai đó là một gánh xiếc.
(Còn tiếp)
[ * Đại tội ác của cộng sản tại cô nhi viện An Hòa
#Chinh Luan Sept. 1, 1970 trang nhất
#Chinh Luan Sept. 1, 1970 trang nhất
Tội đại ác của Cộng Sản ở Cô Nhi Viện An Hòa
Tung bộc phá vào phòng ngủ cô nhi, trói nhà sư mà bắn gục
▼ Cộng sản vơ vét hết tiền bạc, gà, heo của Cô Nhi Viện.
XUYÊN PHÙ, 30-8 (AP). — Trong những cuộc tấn công của Cộng sản tối qua, vụ dã man tàn bạo nhất phải kể đến là vụ tấn công vào một cô nhi viện Phật giáo tại An Hòa gần Đà Nẵng.
Toán đặc công Cộng sản mở cuộc tấn công vào cô nhi viện này, chúng yên trí quá vì rằng không có một sức kháng cự nào. Các trẻ em vào lúc đó, khoảng 1 giờ sáng, đang ngủ ngon.
Từng tiếng nổ đằng sau từ những ngọn đồi an toàn, chúng nã khoảng 50 phát đạn súng cối vào khu cô nhi viện, và khu các nữ y tá và một bệnh viện nhỏ do Tây Đức viện trợ.
Những phần tử đặc công khác bò lại gần bằng súng nhỏ và súng phóng lựu đạn hỏa tiễn vào khu của các nữ y tá, làm cho gian nhà phát cháy và một nữ y tá trẻ tuổi với đứa con trai mới đẻ của cô bị thiệt mạng. Thì thể đứa bé sau đó được bỏ vào một thùng đạn, đặt lên trên quan tài của người mẹ.
Bọn Cộng quân tiến dễ dàng qua một vườn rau. Tại đây không có lực lượng phòng thủ, không có cả vòng rào kẽm gai nữa. Khoảng 30 tên đã tiến vào trong cô nhi viện ném lựu đạn và bộc phá vào những gian nhà nơi khoảng 60 trẻ nhỏ đang run cầm cập co quắp lấy nhau nấp dưới giường.
Bọn đặc công mặc quân phục Bắc Việt nhả đạn liên thanh vào bất cứ vật gì di động.
Chúng kéo cổ Thượng Tọa Thích Nguyên Tri, trụ trì chùa An Hòa và là người điều khiển cô nhi viện, trói giật cánh khuỷu nhà tu hành và hành quyết ngay tại sân cô nhi viện.
Cuối cùng, trước khi lực lượng quân đội quốc gia tiếp cứu kịp đến, chúng biến về các ngọn đồi sau khi đã lấy hết tiền bạc, tất cả gà qué, và 3 con heo của cô nhi viện. Số heo còn lại bị chúng cho một tràng liên thanh chết hết.
Trong nửa tiếng đồng hồ làm cỏ cô nhi viện này, chúng đã giết 15 người và làm cho 45 người khác bị thương mà 2 phần 3 là các trẻ mồ côi. Kỳ dư là các nữ y tá và lao công giúp việc.
Khi mà Đại úy Phan huy Huỳnh quận trưởng đem 2 trung đội Nghĩa quân đến tiếp cứu thì địch đã đi được chừng nửa tiếng đồng hồ rồi.
Đại úy Huỳnh nói: “Chúng tôi không đặt lực lượng phòng thủ ở đây vì có ai nghĩ rằng Cộng quân lại tấn công một cô nhi viện bao giờ. Tôi nghĩ rằng có lẽ hôm nay là ngày bầu cử và Cộng quân phải làm một cái gì cho dân sợ mà không dám đi bầu.”
Không một đồn quân nào của VNCH hay Mỹ đóng chung quanh cô nhi viện bị tấn công.
Xuyên Phù, một ngôi làng thuộc quận Dục Đức chỉ cách căn cứ TQLC Mỹ ở An Hòa ngót 5 cây số và cách Đà Nẵng 35 cây số về phía Tây Nam. Tất cả vùng này được coi như bất an ninh và nguy hiểm.
Đến sáng Chủ nhật, những người sống sót, thu nhặt các tử thi đặt trên thềm ngôi chùa ở ngay gần cô nhi viện. Các cụ bà đến niệm Phật và các cụ ông trán còn buộc băng với vết máu khô thâm ra ngoài thành màu nâu đậm, kéo những tấm chăn phủ mặt lau rửa cho các trẻ em nằm bất động.
Một Thiếu tá VNCH bước vào khu nữ y tá trông thấy thi thể cháy đen của cô y tá liền thốt lên: “Trời ơi, Dã man quá!”
Ông bước quanh gian nhà trống thấy chiếc quan tài và thùng đạn đựng thi thể đứa nhỏ, ngồi bên là người chồng đang than khóc, ông Thiếu tá lắc đầu và nói thêm: “Dã man đến thế là cùng!”
—⚜—
#Chính Luận Oct. 7, 1970 trang hai
DIỄN ĐÀN: Nghĩ Về Một Số Người Trí Thức Ảo Tưởng (tiếp theo Kỳ 1) by Ánh Việt
Kỳ 2
Do những hiểu biết hời hợt, nông cạn về đường lối hành động của Cộng sản, việc làm của họ trong một số trường hợp, đã hóa ra phiêu lưu, tài tử, nếu không muốn nói rằng "theo đuôi Cộng sản", chỉ biết chống chiến tranh, đòi hòa bình mà không cần biết đến nguồn gốc của chiến tranh, thủ phạm của Hòa bình tại đất nước này là do đâu, do ai.
Cũng chính vì lập trường chính trị bấp bênh, nên họ đã gặp Sartre ở quan điểm hành động mơ hồ, luẩn quẩn khi đứng bên này, lúc ngả về bên kia, la lối om xòm, đả kích lung tung, kiêu căng trịch thượng, muốn làm một thứ anh hùng ví như con gà trống mỗi lần cất tiếng gáy thì ngỡ rằng sẽ gọi được mặt trời lên, nhưng thực chất lại chỉ biểu lộ một sự hoảng hốt, giật mình trước những khó khăn, gian khổ, giống như chú gà ri kia, vội vàng rúc đầu vào cánh mỗi lần nghe tiếng động mạnh.
Không ít người lấy làm ngạc nhiên khi thấy số trí thức nói trên đã bất chấp cả những khó khăn trở ngại tất nhiên do kẻ thù trong và ngoài nước gây ra cho miền Nam, cho nên họ ngày càng hung hăng gieo rắc tư tưởng đầu hàng chủ bại trong quần chúng. Họ đã cố tình quên đi cái sự thật sơ đẳng nhất, rằng nếu chỉ ngồi cầm bút chửi đổng một cách vô trách nhiệm thì quả là một chuyện dễ dàng, chứ đứng vào cương vị lãnh đạo một tập thể, một cộng đồng quốc gia dân tộc để giải quyết các vấn đề trọng đại mới là câu chuyện vừa tế nhị, vừa khó khăn.
Chỉ cần nêu ra một ví dụ nhỏ: GS Nguyễn văn Trung, trước ngày giữ chức vụ khoa trưởng Đại học Văn khoa, đã từng là một người nổi tiếng là quá khích nơi các bài báo "khuynh tả" của ông. Nhưng rồi khi bước vào thực tế, với nhiệt tình, khả năng và quyền hạn sẵn có, ông đã chẳng làm được gì đáng kể trong việc góp phần cải thiện một nền giáo dục đại học tiến bộ, suốt cả gần một năm điều khiển phân khoa ấy. Sự kiện trớ trêu này đáng lẽ phải là một bài học kinh nghiệm quý báu cho những ai quen nghề soi mói, nguyền rủa, đả kích không đúng chỗ đúng hướng.
Nhưng bản tính cao ngạo đã làm cho họ không dám nhìn thẳng vào những sự thật gay go quyết liệt đang hiện ra sững sờ trước mắt để bình tĩnh tìm cách khắc phục.
Các đòi hỏi hết sức phi lý đi đôi với những đề nghị bất chính của họ chung quanh vấn đề giải quyết chiến tranh ở miền Nam nước ta, nếu chỉ được phổ biến dưới hình thức tuyên bố ồn ào thì có lẽ không đến nỗi nguy hiểm lắm vì quần chúng coi đó như một trò hề của những kẻ múa rối trên sân khấu.
Nhưng tiếng nói của họ lại được truyền đi dưới hình thức văn chương, sách báo vốn là phương tiện tuyên truyền mang nhiều hiệu lực, vì thế họ có điều kiện phun ra những nọc độc, trước hết là thủ tiêu ý chí đấu tranh cho một nền hòa bình chân chính và lâu dài của nhân dân ta. Mặt khác, trong thực tế, họ lại là những giáo sư đại học, những nhà tu hành, những ký giả, dân biểu, với uy tín do chức vụ và nghề nghiệp thiêng liêng đó ban cho, những tiếng nói nguy hiểm của họ không khỏi tác hại đến một số "đồ đệ" khiến cho hàng ngũ quốc gia vì vậy mà lỏng lẻo, suy yếu thêm. Trong tình hình đó, những kẻ được hưởng lợi nhiều nhất chính là tập đoàn lãnh đạo Hanoi và những phần tử cầm đầu của cái gọi là MTGPMN.
III — Ngây thơ hay ấu trĩ?
Để chứng minh sự hiểu biết quá non nớt, ngây ngô về đường lối hành động của Cộng sản ở một số trí thức nói trên, chúng tôi xin đưa ra dưới đây 2 trường hợp điển hình:
1) Ngây thơ về sách lược giai đoạn của Cộng sản
Trong bài bút ký nhan đề "Nói chuyện với người đã khuất" trong tạp chí Đất Nước số tháng 10-1969 nhân dịp Hồ-Chí-Minh từ trần, sau khi tâm tắc ca ngợi tài đức của họ Hồ mà tác giả "cảm thấy như là một bổn phận" (sic), giáo sư Lý chánh Trung đã nhận định: "... nếu nhìn lại những hành động công khai của cụ từ năm 1954, phải nhận rằng cụ đã luôn luôn đặt ưu tiên cho những cố gắng hòa giải: hòa giải với các đảng phái quốc gia năm 1946, với Pháp năm 1946, và 1954, với chế độ Ngô đình Diệm những năm 1957–1959 (?) khi miền Bắc không còn đòi Tổng tuyển cử như đã dự trù trong hiệp định Genève mà chỉ yêu cầu hiệp thương, nối lại quan hệ bình thường giữa 2 miền".
Rõ ràng là nhận định này đã phản ánh một vốn liếng hiểu biết vô cùng ấu trĩ về các chiến thuật của người Cộng sản, đồng thời cũng phủ nhận luôn cái chân lý khách quan ở chỗ tác giả cho rằng "miền Bắc không đòi Tổng tuyển cử như đã dự trù trong hiệp định Genève" (Sự thật là do chính quyền và nhân dân miền Nam lúc đó không công nhận giá trị của hiệp định Genève chứ đâu phải do thiện chí muốn hòa giải của họ Hồ).
Chắc chắn không một người VN có ít nhiều kinh nghiệm sống với Cộng sản lại nghĩ rằng việc Hồ chí Minh thành lập chính phủ liên hiệp với các đảng phái quốc gia vào năm 1946 là biểu hiện của một tinh thần cố gắng hòa giải. Sự thật hoàn toàn khác hẳn. Sau một năm cướp chính quyền, Cộng sản ngày càng gặp những khó khăn trở ngại trong việc lãnh đạo kháng chiến, chủ yếu là sự bất hợp tác của các đảng phái quốc gia. Để khắc phục trở ngại đó, Hồ chí Minh phải mở rộng thành phần chính phủ, tức là liên hiệp, một trong 3 hình thức sách lược căn bản (Mặt trận, Hòa bình, Trung lập) của kế hoạch xâm lược. Đối với người Cộng sản, mục đích của việc thiết lập chính phủ liên hiệp (không thể gọi là hòa giải như giáo sư Lý chánh Trung đã nhận định) là vừa được tiếng là có tinh thần đoàn kết dân tộc, lại vừa có điều kiện kiểm soát đặng tiến tới đàn áp, tiêu diệt các phần tử đối lập. Bằng chứng rõ rệt nhất là sau ngày Chính phủ liên hiệp ấy được thành lập không lâu, họ Hồ đã thẳng tay loại trừ các đảng phái quốc gia, điển hình là vụ tàn sát, thủ tiêu Quốc Dân Đảng ở phố Ôn Như Hầu Hà Nội. Bởi thế, việc Hồ mời cụ Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam v.v. ..tham gia chính phủ nhất thiết không thể được coi là một cử chỉ đoàn kết, hay một thiện chí hòa giải các mâu thuẫn nội bộ quốc gia mà chỉ là một chiến thuật tạm thời, nếu không muốn nói là một thủ đoạn vô cùng nham hiểm.
Thủ đoạn nham hiểm đó cũng đã được phơi bày lộ liễu trong một chỉ thị của Lénine: "Phải biết dùng mọi chiến lược, mọi mánh lưới, những cách thức hoạt động ngấm ngầm, làm ngơ và che dấu sự thật nhằm mục đích duy nhất là xâm nhập vào các nghiệp đoàn, bám sát vào các tổ chức để từ đó mà hành động với bất cứ giá nào" (trích dẫn theo Minh Võ trong quyển Sách Lược Xâm Lăng Của Cộng Sản [ xuất bản ở Saigon 1963 ]).
Chính vì coi sự tráo trở, lật lọng, mưu mô như một nguyên tắc hành động, nên các lãnh tụ Cộng sản ở VN, trong quá khứ cũng như hiện tại, đã tạm thời "hòa giải" với những người quốc gia qua việc thành lập Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc, và gần đây là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Mục đích của chiến thuật giai đoạn này cũng đã được vạch rõ trong bài xã luận "Chính sách Mặt trận của Đảng ta" do Xuân Thủy viết ở tạp chí Học tập (số 1-1960) cơ quan lý luận của trung ương đảng Lao động, đồng thời cũng đã được ghi trong chương lĩnh của MTGPMN sau này. Có đoạn viết nguyên văn như sau: "Mặt trận chủ trương đoàn kết bất cứ người nào có thể đoàn kết được, tranh thủ bất cứ người nào có thể tranh thủ được, trung lập bất cứ người nào có thể trung lập được, cố nhằm phân hóa kẻ thù đến cao độ và cô lập chúng, đồng thời kiếm thêm nhiều bạn ở trong và ngoài nước..."
Vài sự kiện tiêu biểu về chiến thuật hành động của Cộng sản vừa trích dẫn tưởng cũng đủ khẳng định một cách mạnh mẽ rằng tin vào thiện chí hòa giải của người Cộng sản chỉ là một điều ngây ngô hão huyền, đáng thương hại.
2) Ngây thơ về phương pháp tuyên truyền của Cộng Sản.
Sau bài biên khảo dài chiếm 20 trang nhan đề "Từ cách mạng tháng 10 đến cách mạng tháng 8" đăng trên tạp chí Đất Nước (số 3 tháng Giêng 1968) vừa qua, linh mục Trương bá Cần lại cao hứng viết tiếp một tham luận tràng giang đại hải với cái tiêu đề khá hấp dẫn "25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc" đăng ở tạp chí Đối Diện qua 3 số liên tiếp, chiếm gần 90 trang (các số 14, 15, 16). Không cần nói đến lời ca ngợi một cách nhiệt thành của tác giả đối với chủ nghĩa mác xít lê nin cũng như đối với các lãnh tụ của phương trào cách mạng vô sản quốc tế, cũng như không cần nói đến việc tác giả đề cao đường lối, chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội của miền Bắc như những thành tựu vĩ đại, hoặc tuyên truyền cho ảnh hưởng của chế độ chính trị miền Bắc bằng cách trích dẫn một đoạn trong bài diễn văn của Lê Duẩn với nội dung nói lên những hứa hẹn quyến rũ của một "chế độ ưu việt" đã làm kết luận cho bài tham luận của mình, mà chỉ cần bàn đến tính chất ngây thơ của tác giả trong việc tin tưởng vào các con số thống kê được phổ biến công khai trên các sách, báo Hanoi cũng đã thấy rõ sự lầm lẫn đáng tiếc.
Dựa vào những con số thống kê về các thu hoạch trong những địa hạt nông nghiệp, thương mại, văn hóa, kỹ thuật, công nghiệp nặng, nhẹ, cũng như dựa vào các lời tuyên bố, các nghị quyết của Lê Duẩn, Trường Chinh, hoặc Chính trị bộ trung ương đảng, tác giả đã làm cho những người đọc non nớt ngộ nhận rằng tập đoàn lãnh đạo miền Bắc đã có những nỗ lực phi thường rất đáng khâm phục trong sự nghiệp xây dựng một miền Bắc độc lập và giàu mạnh, hay nói cách khác, đã hoàn thành một cách tốt đẹp công cuộc dân tộc dân chủ trên một nửa tổ quốc. Nếu chỉ đơn thuần căn cứ vào những con số thống kê tỉ mỉ kèm theo những bảng đồ biểu như tác giả đã sưu tầm và trình bày thì quả là chế độ miền Bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao Động, đã đạt những thắng lợi lớn về đủ mọi phương diện. Tuy nhiên, người đọc có ý thức lấy làm tiếc rằng đấy chỉ là những con số được trích dẫn theo các báo chí, sách vở có tính cách tuyên truyền của nhà nước Cộng sản miền Bắc, chẳng hạn như tuần báo "Vietnam en marche" các cuốn "Kháng chiến trường kỳ nhất định thắng lợi" của Trường Chinh, "Thanh niên với cách mạng xã hội chủ nghĩa" của Lê Duẩn, "Sự nghiệp, kinh tế và văn hóa 1945–1956" của Nghiêm xuân Yêm (bộ trưởng nông nghiệp) hoặc dựa theo tài liệu của Viện kinh tế và tài liệu của một số ký giả quốc tế thân Cộng như Bernard Fall. Nói đến tuyên truyền là nói đến cái nguyên tắc "tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại", tưởng không mấy ai mà chưa biết. Một điều đáng tiếc nữa là sau mỗi phần trích dẫn, tác giả đã không bày tỏ một nhận xét khách quan nào. Thái độ im lặng trong trường hợp đó chỉ có nghĩa là một sự tán đồng, ngưỡng mộ.
(Xem tiếp trang 11)
Diễn đàn
(Tiếp theo trang 2)
Có thể tác giả làm như vậy là muốn biểu thị một thái độ khách quan trong việc biên khảo chăng? Nhưng tác giả đã quên rằng trong hoàn cảnh đấu tranh chính trị phức tạp ở miền Nam hiện nay, thái độ "muốn làm ra vẻ khách quan" ấy đã vô tình phục vụ đắc lực cho đường lối kế hoạch tuyên truyền của đối phương. Riêng đối với những ai đã có dịp sống chung với Cộng sản, hay ít ra có tinh thần vô tư trong việc nghiên cứu về lý thuyết và hành động của Cộng sản, đều nhận thức được rằng việc giới thiệu thành tích bằng những con số phóng đại là một trong các phương pháp tuyên truyền rất hiệu quả, thường có tác động mạnh mẽ vào tâm lý quần chúng theo chiều hướng có lợi cho đảng mà cán bộ Cộng sản không hề quên.
IV) Hòa bình thật hay chỉ là chiêu bài?
Trong những ngày gần đây, với sự đỡ đầu của ngoại bang, một số trí thức ở miền Nam đã lợi dụng "quyền bất khả xâm phạm" của họ, cụ thể như dân biểu Ngô công Đức, đã cố gắng khuấy động lên phong trào phản chiến, đưa ra các giải pháp chính trị cực kỳ phiêu lưu, phản động. Hậu thuẫn cho những giải pháp vô trách nhiệm đó, vẫn là những tiếng nói hằn học, những lời buộc tội phiến diện, những phân tích nhận định một chiều, những phán đoán thiếu cơ sở thực tế khách quan của một số ít trí thức, đứng đầu là linh mục Nguyễn ngọc Lan, thông qua các bài báo của họ chung quanh vấn đề chiến tranh và hòa bình. Điều đáng chú ý là ở mỗi bài viết của mình, họ đã khôn khéo viện dẫn đến các thông điệp của Đức Giáo Hoàng để làm bình phong che đậy cái ý đồ bất công hoặc làm cơ sở cho các lập luận máy móc do họ đưa ra. Vẫn là những giọng điệu kết án Mỹ can thiệp vào chủ quyền miền Nam, vẫn là những lời khích động tâm lý hiếu hòa của quần chúng, chứ không hề thấy họ bày tỏ một thái độ nghiêm chỉnh nào trước các hoạt động gây chiến của Cộng sản HN. Họ đòi Mỹ rút quân không điều kiện, đòi hòa bình tức khắc, đòi quyền sống bức thiết cho đồng bào, đòi thiết lập chính phủ lâm thời kết hợp với việc chống bắt lính, chống quân sự học đường, chống tăng cường quân đội v.v… chỉ là sự học vẹt lại một cách trơ trẽn các luận điệu tuyên truyền già nua mồm mép của đài Hà Nội mà quần chúng thường nghe lải nhải ngày này qua ngày khác đến nhàm tai.
(Còn tiếp).
#Chính Luận Oct. 8, 1970 trang hai
DIỄN ĐÀN: Nghĩ Về Một Số Người Trí Thức Ảo Tưởng (tiếp theo Kỳ 2) by Ánh Việt
Kỳ 3
Ai mà không oán ghét chiến tranh! Ai mà không muốn được sống trong thanh bình, tự do, no ấm? Nhưng việc chấm dứt chiến tranh cũng như tái lập hòa bình phải được giải quyết trên căn bản nào, trong những điều kiện nào thật hợp tình hợp lý, chứ đâu phải chỉ đơn phương miền Nam buông súng, đơn phương lính Mỹ rút đi là có hòa bình ngay!
Thử tưởng tượng rằng một ông chủ nhà kia, thay vì tống cổ bọn cướp ra khỏi vườn, lại đuổi những người hàng xóm không cho họ vào giúp mình can thiệp ngăn chặn các hành động mờ ám của bọn du thủ du thực, đặt vấn đề như thế thì có khác gì đòi Mỹ rút quân, đòi chiến sĩ ta ngưng bắn trong khi vẫn làm ngơ trước các hoạt động vũ trang của địch? Giải quyết vấn đề chiến tranh miền Nam theo chiều hướng ấy có khác gì mở toang cửa cho bọn cướp vào nhà tung hoành, dọn đường cho chúng giành lấy địa vị chủ nhân ông?
Bởi quá ngây thơ nên Linh mục Trương Bá Cần và một số "đồng chí" của ông đã không biết rằng người Cộng Sản không bao giờ muốn xây dựng một nền hòa bình đích thực.
Chủ trương cố định này đã từng được xác nhận qua những chỉ thị, giáo điều của các lãnh tụ Cộng sản quốc tế như Lénin: "Nguyên tắc căn bản của chiến lược và chiến thuật Sô Viết là sự chủ trương một cuộc chiến tranh toàn diện, triệt để và vô hạn định." hoặc Mao Trạch Đông: "Nhiệm vụ trung tâm của cách mạng, hình thức cao đẳng của cách mạng chính là chinh phục quyền bính bằng vũ khí, nghĩa là bằng chiến tranh. Nguyên tắc cách mạng của chủ nghĩa Mác Lê này có giá trị ở khắp nơi, đối với Trung hoa cũng như các nước khác" (trích Minh Võ trong Sách Lược Xâm Lăng Của Cộng sản, sách đã dẫn). Chủ trương này tự nó tố cáo quan niệm về danh từ hòa bình hoàn toàn đối lập với cách hiểu thông thường của chúng ta. Nói khác đi, hòa bình theo ý nghĩa của Cộng sản, chỉ là một chiêu bài, một cạm bẫy, một viên thuốc độc bọc đường, một chiến thuật nhất thời của phe yếu nhằm đối phó với một địch thủ mạnh hơn, đúng như Clausewitz lý thuyết gia Cộng sản đệ tam quốc tế đã viết: "Sự ký kết hòa ước chỉ là một giai đoạn chuẩn bị chiến tranh".
V. — Dân tộc hay chỉ là một nhãn hiệu?
Nhân bàn đến chiến thuật liên hiệp, hòa bình của Cộng sản, người ta không thể không nói tới chiêu bài quen thuộc khác của các lãnh tụ cách mạng vô sản: đó là 2 tiếng Dân tộc. Trong các tài liệu văn hóa phổ biến tại miền Bắc, người ta thấy nói đến rất nhiều cái gọi là "hình thức dân tộc kết hợp với nội dung xã hội chủ nghĩa". Điều đó có nghĩa là Cộng sản vận dụng từ ngữ dân tộc như một chiếc áo màu mè nhằm che đậy cái thực chất "vong bản" ở bên trong.
Trên lãnh vực chính trị, hai chữ dân tộc có giá trị của một nhãn hiệu kích thích tâm lý yêu nước của quần chúng, nhất là đối với lớp trí thức đặng lôi cuốn họ tham gia vào con đường cách mạng vô sản quốc tế hoàn toàn xa lạ với quyền lợi của tổ quốc mình. Đặc biệt ở những nước thuộc địa, hoặc những nước nhược tiểu, chậm tiến như VN, các lãnh tụ Cộng sản coi hai tiếng dân tộc như một nhân tố tích cực, có tầm ảnh hưởng sinh tử đối với quá trình đấu tranh của đảng:
"Nhân tố dân tộc chẳng những thúc đẩy phong trào cách mạng của công nhân và nông dân mà còn kích thích tinh thần yêu nước của các tầng lớp khác trong nhân dân. Nó quyết định phần lớn tính chất độc đáo của cách mạng thuộc địa." (Quốc tế Cộng sản với Vấn đề Dân tộc và Thuộc địa. NXB Sự Thật, Hà Nội 1960).
Từ ý nghĩa đó, các khẩu hiệu, tổ chức như "giải phóng dân tộc", "cách mạng dân tộc", "liên minh dân tộc dân chủ" v.v... do Cộng Sản khai sinh, cần được hiểu như một chiến thuật giai đoạn nhằm đánh lừa những người có lý tưởng yêu nước, có tinh thần quốc gia, chỉ phục vụ cho chủ trương chiến lược của họ chứ tuyệt nhiên không đáp ứng nguyện vọng đoàn kết, hòa đồng dân tộc của đa số nhân dân. Cái nhãn định "chủ nghĩa Cộng sản phát triển nhờ chiếc cầu quốc gia dân tộc" chính là rút ra từ bài học kinh nghiệm về sự lợi dụng và phản bội của Cộng sản mà mọi người quốc gia sáng suốt không có quyền làm ngơ.
VI.— Một cái nhìn đại cương vào sơ đồ đấu tranh của Cộng sản VN.
Trong khi say sưa phấn đấu cho một lý tưởng cao quý, con người ta thường bị thu hút bởi những danh từ hào nhoáng đẹp đẽ như Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, nên cũng dễ bị lợi dụng. Đó cũng là trường hợp Việt Minh cướp chính quyền ngày 10-8-1945 biến cuộc biểu tình vĩ đại của các đảng phái quốc gia tại Hà nội thành cuộc tổng khởi nghĩa của họ cách đây 25 năm.
Kinh nghiệm ê chề về sự lợi dụng trắng trợn và thô bỉ ấy đã là một bài học cảnh giác sâu sắc cho các phần tử yêu nước chân chính. Do đó, các khẩu hiệu, tôn chỉ quyến rũ như "Phấn đấu xây dựng một nước VN hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" (của Mặt trận tổ quốc) hoặc "đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo, các nhân sĩ yêu nước ở Nam Việt Nam, không phân biệt xu hướng chính trị để đấu tranh... thực hiện hòa bình, độc lập, dân chủ hoàn thành thống nhất tổ quốc" (của MTGPMN) đã không còn tác dụng thu hút nữa. Tuy nhiên, trong hàng ngũ quốc gia ở miền Nam ta, vẫn còn một thiểu số trí thức, hoặc vì tuổi đời còn trẻ, chưa có kinh nghiệm bản thân đối với Cộng sản, hoặc vì quá chủ quan và tự đại, nên đã vô tình đi vào con đường đấu tranh của đối phương.
Như nhiều người đã biết, mục tiêu cuối cùng của các đảng Cộng sản là tiến tới xích hóa toàn cầu. Mưu đồ ấy cũng đã được phản ánh một phần nào qua định nghĩa quen thuộc trước đây của Hồ Chí Minh như: "cuộc chiến tranh ở VN là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới do Liên xô lãnh đạo" hoặc của Trường Chinh như "cuộc đấu tranh giai cấp ở VN là một hình thái đấu tranh giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa".
Để đạt tới mục tiêu đó, các lãnh tụ Cộng sản ở các nước có nhiệm vụ xây dựng tại địa phương mình một chế độ chính trị trên cơ sở các nguyên lý hành động mác xít - lêninnit tức chủ nghĩa Cộng sản. Trên bình diện lý thuyết, con đường hành động của các đảng Cộng sản địa phương không ra ngoài các kế hoạch sách lược có tính cách giáo điều, kinh điển của Lénin, nhưng trong thực tiễn, để phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể và thích nghi với đặc điểm tình hình của từng giai đoạn, con đường đi của họ được vận dụng theo một sơ đồ đấu tranh uyển chuyển, chủ yếu là về
(Xem tiếp trang 11)
________________________________________
Diễn Đàn
(Tiếp theo trang 2)
Mặt chiến thuật xâm lược, phương pháp tuyên truyền, cách giải quyết các mâu thuẫn nội bộ quốc gia v.v.
Riêng tại VN, sơ đồ đấu tranh nói trên đã được mô tả qua bài trả lời của Hồ Chí Minh với phóng viên nhật báo L’Unita, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Ý, vào tháng 6 năm 1959.
Họ Hồ nói: "Chúng ta đang xây dựng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, chúng ta chỉ đang xây dựng xã hội chủ nghĩa trên một phần nửa xứ sở trong khi phần nửa khác chúng ta còn phải đánh đổ đế quốc và chấm dứt chế độ dân chủ tư sản. Điều này có nghĩa là trên thực tế, đảng ta có nhiệm vụ thực hiện cùng một lúc 2 cuộc cách mạng, một ở miền Bắc và một ở miền Nam". Hơn một năm sau, sơ đồ đấu tranh ấy được cụ thể hóa trong nghị quyết của Đại hội Đảng Lao Động lần thứ 3 (họp vào đầu tháng 9-1960) theo đó, nhiệm vụ trung tâm của Cộng sảnVN Nam là "củng cố miền Bắc và giải phóng miền Nam". (Ở đây, chúng ta chỉ đề cập tới phần liên hệ đến miền Nam).
Theo cách nói của Hồ Chí Minh, thì "đánh đổ đế quốc Mỹ và chấm dứt chế độ dân chủ tư sản" có nghĩa là đuổi Mỹ ra khỏi miền Nam và tiêu diệt giai cấp phú địa hào.
Thật ra đây chỉ là một chiêu bài quá quen thuộc mà các lãnh tụ Cộng sản VN đã từng sử dụng ngay từ thời kỳ đầu cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 với nhiệm vụ của nó đã được giải thích là "phản đế bài phong", và sau này, nhãn hiệu đó lại được dán vào cho tổ chức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam với cái ý nghĩa một cuộc cách mạng "dân tộc dân chủ". Điều đáng vạch trần ra đây là âm mưu của Cộng sản trong việc lợi dụng chiêu bài dân tộc dân chủ (tức phản đế bài phong).
Cộng sản vốn biết rằng VN là một nước nông nghiệp, tuyệt đại bộ phận nhân dân làm nghề cày ruộng. Vậy muốn dành lấy hậu thuẫn sức mạnh to lớn ấy cần phải tuyên truyền thế nào cho quần chúng nông thôn hiểu rằng đảng bị đàn áp, bóc lột thậm tệ, nhằm sách động họ dậy chống lại các thế lực cầm quyền để rồi sau đó, sẽ được phân chia ruộng đất.
Như thế, người nông dân vừa được giải phóng về mặt chính trị, lại vừa được quyền làm chủ ruộng đất của mình. Đó là ý nghĩa đơn giản nhất về quan niệm dân tộc dân chủ đối với người nông dân ít học mà Cộng sản hy vọng rằng với chiêu bài nói trên, họ sẽ thu hút được cảm tình và sự ủng hộ của đông đảo nông thôn.
Riêng đối với tầng lớp trí thức ở thành thị, Cộng sản lại khôn ngoan hơn trong việc khai thác tâm lý. Đối với thành phần này, việc kích thích tinh thần dân tộc, ý thức dân chủ không có gì khác hơn là khai thác các vấn đề chủ quyền quốc gia, những xung đột giữa lãnh đạo và quần chúng, những bất mãn của nhân dân yêu nước đối với sự can thiệp của ngoại bang, đi đôi với việc phát động các phong trào đấu tranh đòi tự do ngôn luận, tự do nghiệp đoàn, tự do hội họp, bất chấp cả những hạn chế tất yếu của hoàn cảnh một nước đang có chiến tranh. Điều cần nhấn mạnh là Cộng sản triệt để vận dụng quan niệm dân chủ Tây phương vào việc khai thác tâm lý của giới trí thức bằng cách lấy ngay các mục tiêu đấu tranh xây dựng dân chủ mà người trí thức hằng theo đuổi làm mục tiêu tranh đấu của họ, tức là dùng chiến thuật "gậy ông đập lưng ông".
Trong quá trình tiến hành nhiệm vụ nói trên, dĩ nhiên, các cán bộ Cộng sản không bao giờ sao lãng các thủ đoạn gây chia rẽ, xáo trộn, phân hóa hàng ngũ quốc gia bằng cách đào sâu thêm những mâu thuẫn đã có, hoặc nếu chưa có thì phải tạo ra trong mọi lĩnh vực, mọi môi trường sinh hoạt xã hội. Thủ đoạn nguy hiểm này cũng đã được vạch rõ trong chỉ thị của Lénine gửi cho các đảng viên, cán bộ Cộng sản: "Trong cuộc đấu tranh cách mạng, muốn đạt được thắng lợi, đảng lãnh đạo phải biết lợi dụng mâu thuẫn tạm thời trong nội bộ kẻ thù mà thực hiện liên minh có điều kiện với những người có thể là bạn đồng minh mạnh của cách mạng, dù chỉ là bạn đồng minh tạm thời, bấp bênh, không chắc chắn và có điều kiện". (Những nguyên lý của chủ nghĩa Lénin, Sự Thật, Hà nội 1964).
Tóm lại, trong quá trình tiến hành các sách lược đấu tranh, chủ yếu là lợi dụng và khai thác các mâu thuẫn nội bộ quốc gia nhằm phân hóa cao độ hàng ngũ của ta, các cán bộ Cộng sản luôn luôn hành động theo những phương châm chiến lược cổ điển. Các phương châm chiến lược ấy cũng đã được Staline nói rõ như:
— "Thấu suốt tư tưởng cách mạng bạo lực, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, kết hợp khởi nghĩa ở nông thôn với khởi nghĩa ở thành thị để giành chính quyền... không thể đấu tranh chính trị đơn thuần, cũng không thể có ảo tưởng đấu tranh hòa bình hợp pháp.
— Tích cực chuẩn bị, chớp lấy thời cơ, dũng cảm phát động toàn dân khởi nghĩa giành chủ quyền".
Staline còn giải thích thêm rằng: "Thời cơ cách mạng đã đến là lúc mà cuộc khủng hoảng đã phát triển đến tột độ, lúc mà đội tiên phong đã sẵn sàng chiến đấu đến cùng, lúc mà những lực lượng hậu bị đã sẵn sàng ủng hộ đội tiền phong và lúc mà hàng ngũ địch đã hỗn mang đến cao độ" (Sách đã dẫn, trang 98).
Như đã nói ở trên, các phương châm chiến lược và chiến thuật hành động của người Cộng sản có tính cách nguyên tắc, giáo điều. Do đó, các cán bộ của họ buộc phải tuân theo một cách máy móc cuồng tín, không được quyền thắc mắc, suy nghĩ về những thay đổi của tình hình đất nước cũng như đối tượng đấu tranh.
Chính vì vậy mà cách đây 25 năm, để động viên tinh thần yêu nước của quần chúng, các lãnh tụ Cộng sản Việt Nam cũng đã chú ý đến mâu thuẫn giữa nhân dân và tập đoàn thống trị thực dân phong kiến đương thời. Sau ngày kháng chiến chống Pháp chấm dứt, Cộng sản lại hướng mọi nỗ lực tuyên truyền vào cái gọi là mâu thuẫn cơ bản của xã hội miền Nam, coi Mỹ là đối tượng tranh đấu thay cho Pháp trước kia, như tạp chí Học Tập, cơ quan lý luận của Trung ương đảng Lao động đã viết:
"... Mâu thuẫn giữa một bên là nhân dân Miền Nam bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản, giai cấp tư sản dân tộc, các tầng lớp và cá nhân yêu nước khác, một bên là đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng gồm những bọn thân Mỹ phản động nhất trong giai cấp địa chủ và tư sản mại bản ngày càng bộc lộ sâu sắc, kịch liệt và chỉ có thể giải quyết bằng cách đánh đổ chính quyền miền Nam" (Số tháng 7-1961)
Cho đến nay, sau hơn 9 năm, Cộng sản vẫn giữ nguyên luận điệu tuyên truyền cũ rích ấy, nhưng vẫn không hấp dẫn được đông đảo nhân dân ta. Bằng chứng hùng hồn nhất là chế độ Cộng Hòa tại miền Nam vẫn tồn tại và ngày càng được phát triển.
(Còn một kỳ)
#Chính Luận Oct. 9, 1970 trang hai
DIỄN ĐÀN: Nghĩ Về Một Số Người Trí Thức Ảo Tưởng (tiếp theo Kỳ 3 và hết) by Ánh Việt
Kỳ 4 (kỳ cuối)
Hiện nay, những khó khăn do chiến tranh gây ra, đặc biệt là do sự tuyệt vọng trong chủ trương đấu tranh quân sự để lật đổ chế độ miền Nam, Cộng sản đã phải thay đổi đường lối chiến thuật bằng cách khuấy động lên phong trào nguy hòa, kết hợp với việc thổi phồng những mâu thuẫn giữa lớp người này với lớp người khác, giữa tôn giáo miền này với tôn giáo kia, giữa quần chúng và giới lãnh đạo, và chủ yếu là giữa dân tộc Việt Nam với đồng minh Mỹ nhằm làm suy yếu tiềm lực chống Cộng của quân & dân miền Nam. Trước tình hình đó, một số trí thức cầm bút đang hung hăng chĩa mũi nhọn vào việc đả kích, bôi nhọ Hoa Kỳ, đòi Mỹ rút quân, kêu gào lập chính phủ lâm thời, hô hào thỏa hiệp với Mặt trận GPMN trong một số đề nghị phi lý của họ, hằn học với những cá nhân, đoàn thể, tổ chức có lập trường quốc gia kiên định; chuyên nghề bi đát hóa các tệ nạn xã hội, trầm trọng hóa tình hình mọi mặt ở miền Nam; tất cả những việc làm quá khích đó mang ý nghĩa tích cực nào dối với sự nghiệp cải tạo xã hội, xây dựng dân chủ, giải quyết chiến tranh không? Hay chỉ có tác dụng vô tình tiếp tay với Cộng sản trong mưu đồ xâm lược miền Nam, bồi dưỡng thêm sinh lực cho một kẻ thù hiếu chiến, ngoan cố vốn đang bị suy yếu và sa lầy trên con đường cách mạng bạo lực hung hãn?
VII — Thực tế hay ảo tưởng?
Trước lúc vào tổng kết bài này, người viết muốn được xác định một lần nữa rằng các dẫn chứng và nhận định ở các phần trên đây không nhằm bôi nhọ uy tín cá nhân hoặc chụp mũ “thân cộng” một số trí thức đang quay lưng hoặc tự tách mình ra khỏi hàng ngũ chống Cộng của đồng bào miền Nam mà chỉ muốn nói lên một lời yêu cầu tha thiết với họ rằng vì vận mệnh và tiền đồ miền Nam, các ngài hãy xét lại hành vi và thái độ của mình trong quá khứ và hiện tại.
Từ mấy năm nay, theo dõi những luận điệu hằn học, đả kích sống sượng, gay gắt của các ngài được vung vãi trên một số sách báo, bất cứ một người nào có lập trường quốc gia vững chắc cũng không thể chấp nhận được. Quả vậy, nếu như những trang chữ của các ngài có gây được một vài ảnh hưởng tốt đẹp nào đó, chẳng hạn như thức tỉnh được một số phần tử trí thức quen thói cầu an, hưởng lạc, hoặc truyền vào các bạn trẻ tuổi một ngọn lửa nhiệt tình, thì đồng thời, nhiều bài báo của các ngài cũng dễ gây hoang mang chia rẽ, xung đột không ít trong hàng ngũ nhân dân, cũng như trong quần chúng tín đồ công giáo, và nhất là gần đây, đã làm tổn thương nặng nề đến lập trường chống Cộng của nhân dân miền Nam, qua việc đòi hòa bình tức khắc. Nói thế không có nghĩa là chính phủ và nhân dân miền Nam muốn duy trì chiến tranh, muốn kéo dài cảnh chết chóc rừng rợn trên quê hương đất nước này, mà chỉ muốn nhấn mạnh thái độ bất công của các ngài ở chỗ các ngài chỉ biết đòi miền Nam ngưng bắn mà không có một lời nào chỉ trích các hoạt động gây chiến, khủng bố, phá hoại của giới lãnh đạo Cộng sản Hà Nội cùng bè lũ của họ ở bên này vĩ tuyến 17. Nói thế cũng không có nghĩa là chính phủ và nhân dân miền Nam lên án những người yêu hòa bình mà chỉ muốn biểu lộ ý chí tôn trọng một nền hòa bình trong tự do và công lý chứ không thể chấp nhận một thứ hòa bình giả hiệu, tức là loại hòa bình diễn ra dưới nanh vuốt thống trị của Cộng sản.
Nói đến vấn đề hòa bình, chắc chắn có nhiều người quan tâm và mong ước hơn cả các ngài nữa. Hàng triệu chiến sĩ, công chức, cán bộ và quần chúng lao động ở những vùng thiếu an ninh, nếu so với cuộc sống nhàn nhã, thong dong của các ngài, thì khát vọng hòa bình ở các thành phần vừa kể, hẳn nhiên nung nấu, thiết tha hơn các ngài gấp bội. Nhưng đối với họ, thà chấp nhận hy sinh, gian khổ, đấu tranh cho một nền hòa bình chính nghĩa, đích thực, chứ không thể chịu cúi đầu khoanh tay nhận lấy một thứ hòa bình tạm bợ, mong manh, mở đường cho kẻ thù tiến công và chiếm đoạt sau này.
Các ngài từng lớn tiếng khẳng định rằng sự có mặt của quân đội nước ngoài trên lãnh thổ miền Nam là nguyên nhân gây ra chiến tranh và để giải quyết chiến tranh, chỉ có biện pháp duy nhất là quân đồng minh phải rút ra khỏi miền Nam. Nhận định này rõ ràng là hết sức ngây thơ, nếu không muốn nói đó chỉ là cái loa tuyên truyền và cổ vũ cho lập trường chính trị của Hà Nội và MTGP. Chẳng lẽ các ngài đã cố tình quên rằng Cộng sản phát động cuộc chiến tranh tại miền Nam này từ năm 1960, nghĩa là ngay sau khi Hà Nội vừa thiết lập xong tổ chức MTGPMN (thực chất đấy là một công cụ thi hành các đường lối chính sách của họ) và các lực lượng quân đội Mỹ, Úc, Đại Hàn, Tân Tây Lan chỉ mới đặt chân vào lãnh thổ miền Nam bắt đầu từ năm 1965 theo lời yêu cầu của giới lãnh đạo Saigon.
Sự thật về nguồn gốc chiến tranh miền Nam rõ rệt như ban ngày, tại sao các ngài lại có thái độ nhập nhằng đánh lận con đen, để rồi ngày nay ráo riết đòi quân đội Đồng minh về nước? Có bao giờ các ngài nghĩ đến hậu quả của việc quân đội Đồng minh rút ra khỏi miền Nam đối với số phận của mười lăm triệu đồng bào và sự tồn tại của chế độ ta, nhất là trong tình hình miền Nam đang bị phân hóa như hiện nay? Nói vậy không có nghĩa là phủ nhận sức mạnh của quân dân ta và thần thánh hóa vai trò của các chiến sĩ nước bạn mà chỉ muốn nêu bật một sự thật quan trọng, rằng trong giai đoạn quyết định của cuộc chiến đấu chống lại một lực lượng thù địch không phải chỉ riêng một ít đơn vị vũ trang ở miền Nam này mà là chống cả một tập thể quân đội Miền Bắc với sự yểm trợ tích cực của đế quốc Nga Sô, đế quốc Tàu Cộng, thì nhân dân ta vẫn còn cần đến sự giúp đỡ của các nước bạn về cả hai mặt vũ khí và nhân lực. Mặc dù sự có mặt của đông đảo quân đội nước ngoài tại đây đã ít nhiều làm va chạm và xáo trộn nếp sinh hoạt tinh thần lẫn vật chất của đồng bào ta, nhưng ta vẫn phải chấp nhận họ như chấp nhận một nhu cầu thiết thân cho sự sống còn của chế độ miền Nam, ít ra là trong giai đoạn lịch sử hiện nay.
Vì thế, giải quyết vấn đề chiến tranh miền Nam theo quan điểm của các ngài, chỉ cần rút quân đội đồng minh ra khỏi miền Nam mà không đặt điều kiện cụ thể nào đối với sự có mặt của hàng trăm nghìn bộ đội Cộng sản Bắc Việt ở đây, là chẳng khác gì đặt cái cày trước con trâu, là chỉ đốn cây ở ngọn mà không đào tận gốc, là vẫn duy trì mầm mống chiến tranh, là sa vào cạm bẫy của đối phương, là đầu hàng địch một cách nhục nhã, hèn nhát.
________________________________________
Diễn đàn
(Tiếp theo trang 2)
Các ngài có biết rằng chính vì các ngài là trí thức, lại thường tự vỗ ngực cho mình là những người yêu nước thương nòi, nên việc làm của các ngài cũng thường bị quần chúng đánh giá một cách gắt gao không? Một số người này thì bảo các ngài bị lóa mắt trước một vài cái hay của miền Bắc mà quên đi những cái dở vô cùng tai hại trong chủ trương đường lối chính sách độc tài, chuyên chính khắc nghiệt của tập đoàn lãnh đạo Cộng sản Hà Nội; nhóm người nọ thì bảo các ngài đang định đóng vai thần tượng, hoặc những anh hùng cá nhân, muốn dư luận phải chú ý đến các hành vi ngôn ngữ cử chỉ đối lập ngang ngửa của mình; không ít người thì cho rằng các ngài bị mặc cảm nặng nề về một số bất công thối nát của tư bản Tây phương nên dễ bị lôi cuốn bởi những nét hấp dẫn trong các thứ sách báo tuyên truyền của Cộng sản; và những người vô tư nhất — thành phần này chiếm đa số — thì nhận định rằng: bởi các ngài chưa từng là nạn nhân của chế độ Cộng sản, chưa có một vốn liếng kinh nghiệm đấu tranh nào đối với Cộng sản, lại chỉ biết Cộng sản qua một vài tác phẩm kinh điển của Marx hay một vài văn kiện tuyên truyền có tính cách quyến rũ như bản Tuyên ngôn Cộng sản, nên mới có những hành động phiêu lưu và ảo tưởng.
Tính chất phiêu lưu và ảo tưởng nơi việc làm của các ngài được biểu hiện ở khuynh hướng đả phá tích cực lập trường chiến đấu của quân dân ta và đồng minh, ở các đòi hỏi thành lập chính phủ chuyển tiếp nhằm tiến tới một chính phủ liên hiệp và một chính sách trung lập, ở thái độ phủ nhận giá trị pháp lý của chế độ miền Nam, mà không biết rằng chính các đòi hỏi đó cũng là những mục tiêu đấu tranh căn bản của đối phương nhằm làm thất bại mọi chủ trương và hoạt động của chính phủ và nhân dân ta.
Tính chất phiêu lưu và ảo tưởng nơi việc làm của các ngài còn được cụ thể hóa ở chỗ các ngài tin tưởng rằng Cộng sản Hà Nội cũng đang mong muốn đất nước sớm hòa bình và thống nhất trong tự do và phồn thịnh như niềm mơ ước của nhân dân ta mà không hiểu biết thế nào là chủ trương chiến lược và thế nào là chính sách giai đoạn của người Cộng sản.
Cuối cùng, tính chất phiêu lưu và ảo tưởng còn thể hiện ở chỗ các ngài nghĩ rằng những lời ve vãn, thiết tha kiểu “Cộng sản, người anh em của tôi” (Nguyễn Văn Trung, tạp chí Đất Nước số 3), những lời suy tôn chân thành kiểu “Nói chuyện với người đã khuất” (Lý Chánh Trung, Đất Nước số 14) những lời tán dương nức nở trong bài “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” (Trương Bá Cần, Đối Diện các số 14, 15, 16) đối với các lãnh tụ và chế độ Hà Nội kèm theo thái độ lăng nhục không tiếc lời của Nguyễn Ngọc Lan đối với giới cầm quyền và chế độ quốc gia ở Saigon (trong loạt bài viết cho báo Tin Sáng gần đây) là có thể làm lay chuyển được tâm tình và ý chí của đối phương.
Nhìn vào các việc làm có tính cách phiêu lưu và ảo tưởng của các ngài, nhiều người đã tự hỏi có đúng là các ngài thơ ngây thật sự hay chỉ là một thái độ ngụy tín, biện lận? Là những nhà trí thức ưa tìm tòi, nghiên cứu và phát hiện các vấn đề lớn, tại sao các ngài đã không nghĩ đến trường hợp những Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường ở ngoài kia và những Lê Văn Hảo, Trần Triệu Luật ở trong này, cũng chỉ vì quá tin tưởng ở người Cộng sản mà ngày nay phải kéo dài một cuộc đời nô lệ nhục nhã trong sự khống chế nghiệt ngã của những người mà trước kia họ đã từng hết lòng ủng hộ và tin tưởng.
VIII — Chú đà điểu và con thiêu thân
Đã đến lúc nhân dân miền Nam cần nói thẳng với số người trí thức ảo tưởng rằng: các ngài nên xác định một cách đúng đắn và dứt khoát chỗ đứng của mình trong chế độ miền Nam. Phản ứng sôi nổi tới mức thiếu cả sự bình tĩnh của quần chúng trong mấy ngày vừa qua đối với những việc làm phản bội của Ngô Công Đức [ * ] tưởng cũng đủ mang đến cho các ngài một đề tài suy nghĩ. Nếu như các ngài dùng ngòi bút sắc bén phanh phui các tệ nạn xã hội nhằm góp phần cải thiện chế độ miền Nam là điều đáng tán thưởng thì ngược lại, thái độ chính trị lập lờ hoặc cực tả của các ngài lại là một điều bất lợi cho công cuộc chiến đấu vì quyền lợi chung của dân tộc ta.
Như các ngài đã thấy rõ, trên lĩnh vực sinh hoạt chính trị, tiếng nói phản chiến gắt gao của các ngài thông qua những bài báo đả kích ác ý ác độc đối với những ai đang quyết tâm giữ vững lập trường chống Cộng, cho đến nay tiếng nói đó vẫn không hề tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của đa số quần chúng.
Các ngài thường mỉa mai thái độ cương quyết đánh thắng Cộng sản ở những người quốc gia yêu nước nhiệt thành là “chống Cộng lối con đà điểu” (Đối Diện số 16), nhưng các ngài có hiểu rằng những việc làm phiêu lưu nguy hiểm của các ngài lại chỉ có nghĩa như những con thiêu thân? Con đà điểu chúi đầu xuống đất nhưng vẫn còn được sống, được quờ quạng lên bước dưới ánh sáng mặt trời, chứ hành động của con thiêu thân chỉ dẫn đến cái chết lập tức một cách khờ dại, cuồng tín và vô nghĩa.
Ở những dòng cuối cùng này, người viết muốn được nói lên một lời yêu cầu khẩn thiết: Xin các ngài đừng lợi dụng chức vụ tôn giáo này, địa vị xã hội nọ, môi trường hoạt động kia, đừng tìm cách ngăn cản cuộc chiến đấu chống Cộng nghĩa của nhân dân miền Nam. Lẽ cố nhiên, cuộc chiến đấu ấy rồi sẽ đến ngày kết thúc, nhưng chắc chắn sẽ không kết thúc trong những điều kiện ô nhục và bất công như các ngài thường đòi hỏi.
Chế độ miền Nam này tuy chưa phải là một chế độ lý tưởng, nhưng ít ra, ở đây các ngài cũng còn được quyền tự do hưởng thụ và ăn nói, kể cả sự chỉ trích bừa bãi vô trách nhiệm, khác hẳn với chế độ mà đối phương của chúng ta đã lầm lì thiết lập tại miền Bắc và đang lăm le thiết lập tiếp tại miền Nam này, trong đó mỗi công dân kể cả giáo sư, dân biểu và nhà tu hành như các ngài chỉ còn là những công cụ sản xuất theo các chỉ tiêu kế hoạch của đảng và nhà nước Cộng sản mà thôi./.
____________
[ * LTC tóm lược bản tin này (của VTX) do Tiền Tuyến đăng lại:
#Tien Tuyen Sept. 19, 1970 trang nhất
Đề Nghị Lập Chính Phủ Lâm Thời Của Một Số Dân Biểu Bị Đả Kích Kịch Liệt
Ngày 17-9-1970, các dân biểu [ hoạt động nội tuyến cho Cộng sản ] do Ngô công Đức dẫn đầu gồm có Dương văn Ba, Hồ ngọc Nhuận, Lý quý Chung, đã đăng trên một số tờ báo ở Saigon một bản đề nghị «Thành lập một chính phủ lâm thời tại Nam Việt Nam, thực hiện ngưng bắn trên toàn lãnh thổ để đưa đến việc tổ chức tuyển cử tự do nhằm định đoạt tương lai chính trị của miền Nam». Đề nghị này bị hầu hết các chính khách miền Nam phản đối kịch liệt, trong đó có một số chính đảng phẫn nộ hăm dọa sẽ có biện pháp thích đáng dành cho Ngô công Đức và đồng bọn.
──✿──
LTC: hai bài tham luận của Vĩnh Nam và của Ánh Việt trên báo Chính Luận trên đây cho đến nay – 2026 – vẫn còn nguyên giá trị bao lâu cuộc trường chinh diệt trừ Cộng sản trên giải đất Việt Nam này chưa kết thúc.
Luận cứ của hai cây bút đặc sắc này của báo Chính Luận cho ta thấy hai ông có sự am hiểu thấu đáo về người Cộng sản chuyên nghề thủ đoạn gian tà chỉ chực thôn tính người Quốc gia. Sự am hiểu đó là một chữ ký bảo đảm hai ông có đủ thẩm quyền nói lên những lời tuyên ngôn của người Quốc Gia không chấp nhận chế độ Cộng sản ở mọi thời.
Thêm nữa, hai bài tham luận còn chứng tỏ một tinh thần văn minh, hiếu hòa của bậc trí thức chơn chánh khi viết bài trình bày sát rạt chủ đề sinh tử của cả miền Nam nhưng vẫn dùng lời lẽ ôn hòa và tôn trọng dành cho những kẻ trí thức thiên tả, những kẻ đang ra sức phá hoại công cuộc vệ quốc của miền Nam, gây phân tán nhân tâm, lũng đoạn hàng ngũ trong những giờ khắc cần sự đoàn kết hơn bao giờ hết. Bộ mặt thật – cốt khỉ – của băng trí thức thiên tả này đã lộ diện trần truồng một cách nham nhở, thảm hại và đớn hèn ngay sau khi bầy CSBV nón cối dép râu trong rừng tràn ra đô thành Saigon black April.
Vì thế hôm nay đọc lại những dòng chính luận này, chúng ta không khỏi lấy làm tiếc rằng, những Nguyễn văn Trung, Nguyễn ngọc Lan, Chân Tín, Lý chánh Trung và những bè lũ hữu hảo với họ v.v… không xứng đáng được trọng nể như vậy. Tuy nhiên, vì muốn giữ vẹn trang Sử miền Nam Quốc Gia với những giá trị Tự do, Nhân bản vàng ròng không chối cãi, nên tôi vẫn kiên nhẫn typing và đăng lên ở Library này, trước là để san sẻ với anh em Quốc Gia nào còn hùng tâm quyết chí, sau là để làm hành trang cho lớp người đến sau trên chặng đường nhận lãnh trọng trách tái thiết Quốc Gia Việt Nam Tự Do sắp tới.
_________________________
$pageOut $pageIn Phân đoạn 7
Vụ Nguyễn văn Trung (tiếp theo)
LTC: Sau bài tham luận của Ánh Việt trên đây, thì Nguyễn văn Trung đâu có chịu im, mà viết bài "Lên tiếng" đáp lại, được Nhựt báo Chính Luận đăng làm 2 kỳ: Chinh Luan Oc. 29, 1970 tr hai « Nói với ông Ánh Việt, tác giả bài ‘Nghĩ về một số người thức ảo tưởng’ » by Nguyễn văn Trung (kỳ 1) và Chinh Luan Oc. 30, 1970 tr hai kỳ 2 (và hết.)
Tưởng đâu Nguyễn văn Trung đọc những lời tâm huyết, ôn tồn khuyên nhủ như Ánh Việt đã viết thế kia, thì sẽ hồi tâm, phục thiện trước những chứng cứ rành rành thiết cận sự an nguy của miền Nam trước cơn xâm lăng hung hãn bằng võ khí Nga Tàu do CSBV gây ra. Nhưng không! Bài "Lên tiếng" của Nguyễn văn Trung chứng tỏ một tâm địa dối trá, tiểu nhân nhỏ nhen, cho dù Nguyễn văn Trung đã tìm đủ cách xảo ngữ mẹo thuật xào nấu ý tưởng và chữ nghĩa để đánh trống lảng vấn đề chánh, để làm loãng đi, xô giạt đi chủ đề vệ quốc đang sinh tử trong khói lửa chiến tranh nóng hổi từng giờ, làm cho người đọc không thể không tự hỏi thế Nguyễn văn Trung đang ở đâu? ở Việt Nam hay ở La Mã? đang nói về đề tài gì? về chuyện quân & dân miền Nam đang thời chiến, ngày đêm nỗ lực đánh tan Cộng quân từ miền Bắc kéo vô đây gây máu lửa ngút trời cho dân lành, hay Nguyễn văn Trung đang bàn về một chủ đề giáo khoa nơi bàn giấy lớp học trong thời bình? Thói bất lương tự trong xương của tay trí thức mắt mù và vô liêm sỉ này làm LTC tôi không chịu nổi cho dù hôm nay là đã 55 năm kể từ ngày anh ta làm trò múa rối. Do đó, tôi không có đủ vui vẻ để retyping bài đáp lại kia của anh ta, mà chỉ post vào đây nguyên dạng ảnh chụp bài báo Chính Luận để bạn đọc theo dõi.
Sau đây là Lời Tòa Soạn Chính Luận (ra ngày Oct. 29, 1970 trang hai) khi đăng bài "Lên tiếng" của Nguyễn văn Trung:
LTS: GS Nguyễn văn Trung, nguyên khoa trưởng Đại Học Văn Khoa, vừa gửi tới Chính Luận bài "Lên tiếng" đăng tải dưới đây để trả lời bài "Nghĩ về một số người trí thức ảo tưởng" của ông Ánh Việt đăng cách đây mấy tuần ở mục này.
Bài lên tiếng của GS Trung, lẽ dĩ nhiên sẽ bác bỏ mọi nhận định của ông Ánh Việt và sẽ chứng minh thực tế không ảo tưởng trong tư tưởng cũng như trong hành động của ông và các nhà trí thức đã được đề cập. Tuy nhiên ngoài cái phần thông lệ đó ra, bài lên tiếng của GS Trung gợi lên một điều khá mới mẻ và khá thành thật. Đó là điều ông có vẻ thành thật tin tưởng rằng chủ nghĩa Cộng sản hay tổ chức Cộng sản mạnh lắm đến nỗi không ai – kể cả Cộng sản – có thể hiểu thấu và tổ chức Cộng sản mạnh lắm đến nỗi không thể bị đánh bại hoàn toàn. Còn "phía bên này" tất nhiên là hoàn toàn dở. Thực tế có như thế hay không đó lại là chuyện khác. Nhưng đây dường như là nguyên nhân sâu xa đã khiến GS Trung đứng hẳn qua lập trường được gọi là "cấp tiến".
#Chinh Luan Oct. 29, 1970 trang hai #Chinh Luan Oct. 29, 1970 trang 11
#Chinh Luan Oct. 30, 1970 trang hai #Chinh Luan Oct. 30, 1970 trang 11 $pageOut $pageIn Phân đoạn 8
Chinh Luan Sept 1, 1970 trang nhất
Ý KIẾN - Chuyện Bi Hài
Cuộc thi đua ngắn hạn, từ 15-8 đến 5-9, do Cộng sản Phân Cục Miền Nam phát động đã sắp hết hạn. Mục tiêu của cuộc thi đua được đề ra là «liên tục tấn công — liên tục nổi dậy». Nhưng kết quả đạt được cho tới nay chẳng thế nào gọi được là «liên tục tấn công, liên tục nổi dậy».
Cho tới nay, thành tích lớn nhất mà cuộc thi đua của Cộng sản đã đạt được chỉ là một vụ pháo kích và tấn công ở địa phận Quảng Nam và mục tiêu có ý nghĩa nhất là một cô nhi viện. Dù vậy đây chưa phải là điểm nổi bật nhất trong giai đoạn được gọi là «thi đua liên tục tấn công, liên tục nổi dậy». Điểm nổi bật nhất trong giai đoạn thi đua là: 13 ngày sau ngày hạ lệnh thi đua, chủ tịch chính phủ ma Huỳnh tấn Phát, qua một bài diễn văn dài dòng kể lể về sự tất thắng của Cộng sản và sự tất thua của Quốc gia, đã hạ một câu rằng «Mỹ vẫn còn theo đuổi ảo vọng tìm thế mạnh trong sự xuống thang» và rằng «nếu ta (Cộng sản) không từ mọi cố gắng để tìm giải pháp chính trị thỏa đáng cho miền Nam thì mặt khác ta cũng không lùi một bước nào trước ý đồ của đế quốc Mỹ...»
Lời tuyên bố của Huỳnh tấn Phát, đem đối chiếu với thực tế chiến trường, đối chiếu với lập trường Trung ương CSVN (mới đây do Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp trình bày) và đối chiếu với thái độ của các thượng cấp Nga Tàu của Hanoi, cho thấy phía Cộng sản còn có nhiều vấn đề rắc rối hơn là phía VNCH và đồng minh Hoa kỳ.
Về quân sự, mệnh lệnh được ban ra từ Hà nội là phải chuyển đổi cuộc chiến trở về thế «chiến tranh nhân dân» nghĩa là phải chịu tụt lùi để có thể đứng lâu, nhưng tại trận tiền, Cộng sản Phân Cục Miền Nam lại hạ lệnh «liên tục tấn công — liên tục nổi dậy» nghĩa là mệnh lệnh leo thang đã đưa tới cuộc «dậy non Mậu Thân», đã từng phung phí cả trăm ngàn sinh mạng Cộng quân mà kết quả là một bước lùi dài. Như thế quan điểm của hai bên rõ ràng là đối nghịch. Sự đối nghịch chỉ có thể tăng thêm nếu một bên không chịu từ bỏ quan điểm của mình. Bởi vì trước mắt cả hai bên cùng thấy giống nhau là: địch vẫn xuống thang mà ta vẫn ở thế mạnh.
Về chính trị, Trung Ương CS VN kín đáo hơn và khéo léo hơn. Họ đã âm thầm để cho Souphanouvong của họ ở Lào chịu thương thuyết trong cái thế kém với hy vọng thử tách đất Lào ra khỏi toàn bộ Đông Dương đặng may ra cứu gỡ cho con đường xâm nhập đi Nam khỏi bị mưa bom Mỹ, giúp họ gây lại phần nào thế giá trước khi phải chấp nhận một giải pháp chung cuộc về vấn đề Miền Nam. Ngoài ra Hà Nội tuy là làm già, để đến nỗi tân trưởng phái đoàn Mỹ phải nổi sùng, nhưng không dám để nổi sùng hơn thêm, và Xuân Thủy đã vội vàng bỏ cả giỗ ông Hồ mà đi Ba Lê. Chuyến đi Ba Lê của Xuân Thủy được bắn tiếng là sẽ «nói chuyện kín với Mỹ» trong cái ý đồ là gây mâu thuẫn Việt Mỹ. Nhưng mà gây được hay không là chuyện khác. Chỉ biết rằng cho tới nay, về mặt công khai, Trung Ương Cộng Sản VN trong cái thế chờ đợi chưa chịu từ bỏ lập trường quyết liệt một cách vô vọng.
Trong khi đó, có lẽ đây là lần đầu tiên Cộng sản phân cục Miền Nam thở ra cái giọng bất thường «không từ mọi cố gắng nào để tìm một giải pháp chính trị thỏa đáng cho tình hình Miền Nam». Nếu hiểu rằng đây là một bước đi trước của Phân Cục đối với Trung Ương và đó cũng là một dấu hiệu khác biệt thì vụ «chuyện riêng chuyện kín Hoa Kỳ — Bắc Kỳ» không phải chỉ gây thắc mắc cho VNCH mà còn thê gây thắc mắc hơn cho MTGP. Nghĩa là bằng mệnh lệnh «liên tục tấn công liên tục nổi dậy», Phân Cục đòi Trung Ương liên tục đóng góp xương máu chứ không phải đóng góp mệnh lệnh. Nếu không được thế thì «đàn em» đành phải tìm cách riêng để kiếm lối sống cho chính mình và cũng là để biện minh cho cuộc chém giết làng xóm trong Nam đã kéo quá dài.
Sự tình bi hài này chẳng có gì là khó hiểu. CSVN mà có làm được gì là tùy theo ý muốn của Cộng sản Quốc Tế. Hiện nay thì Cộng sản Quốc Tế tuy có chia ra thành hai đầu nhưng chẳng có cái đầu nào là không đi tìm cái thế bồ bịch với thế lực mà họ vẫn gọi là đế quốc (Mỹ). Nga Xô qua một loạt chính sách đã thể hiện sự cương quyết đi tìm cái thế sống chung. Tàu cộng tuy vẫn hung hăng nhưng đó chỉ là cái hung hăng ngoài miệng, cái hung hăng làm giá, còn mục đích cuối cùng vẫn là sống cái đã. Mục đích của Cộng Sản Quốc Tế có vẻ bần tiện nhưng đó là cách thực tế đi tìm sự sống. Còn mục đích của Cộng Sản VN rất lý tưởng (lý tưởng về phương diện lý thuyết) tuy nhiên có điều hơi tiếc là nó chỉ đưa tới cái chết. Để an ủi thôi thì cũng nên gọi đó là cái chết anh hùng cho một chủ nghĩa.
$pageOut $pageIn Phân đoạn 9
#Tien Tuyen Jul. 6, 1972 trang năm
Một Nghề Mới Mẻ: Thảo Chương Viên Điện Toán #Tien Tuyen Jul. 6, 1972 trang năm
trang 5 #Tien Tuyen mỗi Thứ Năm hàng tuần | Chuyên trang Kinh tế - Chính trị | Tri Vũ phụ trách
(Bài 010) Một Nghề Mới Mẻ: Thảo Chương Viên Điện Toán
Một tháng có thể kiếm được từ 30.000đ tới 60.000đ nếu làm việc tại Việt Nam, từ 700 tới 1000 Mỹ kim (tương đương với 297.000đ VN tới 425.000đ VN) nếu làm việc tại ngoại quốc. Đó là tương lai của các chuyên viên điện toán được huấn luyện tại Việt Nam.
Kỹ sư Nguyễn Từ Huân, Chủ tịch Hội Chuyên viên Điện toán Việt Nam cho biết như trên, trong dịp lễ mãn khóa lớp Thảo Chương Viên Điện Toán khóa 3 được tổ chức tại Bộ Lao Động.
Các lớp điện toán mới xuất hiện trong khoảng hai năm nay nhưng đã cung ứng một số chuyên viên điện toán đáng kể cho Việt Nam và cho cả ngoại quốc. Theo ông Huân và một số giáo sư huấn luyện lớp điện toán, với đà phát triển trong tương lai của xã hội Việt Nam về mọi mặt nhất là trong thời kỳ kinh tế hậu chiến, thì tương lai của các chuyên viên này rất rực rỡ.
Vài sự kiện không ngờ
Kỹ sư Nguyễn Từ Huân, cũng trong buổi lễ còn nói nhiều sự kiện đáng kể về tương lai của các chuyên viên điện toán được huấn luyện tại Việt Nam.
Ông Huân cho biết hiện nay, Đại Tá Nguyễn Thành Huê, tốt nghiệp khóa phân tích về tổ chức trong năm qua tại Bộ Lao Động đang là chỉ huy trưởng của Trung tâm Điện toán Quân Tiếp Vụ. Trung tâm này hiện nay là một trung tâm với những máy móc và sự tổ chức có thể nói là lớn nhất Việt Nam. Điều đáng kể nữa là trung tâm này, nếu đem nó sánh với các trung tâm khác ở Đông Nam Á, không thua kém bất cứ một trung tâm nào.
Mặt khác, bốn nữ thảo chuơng viên điện toán khóa II do Bộ lao Động tổ chức hiện đã ký hợp đồng làm việc tại ngoại quốc, một người làm tại một nhà xuất bản rất lớn tại Pháp còn ba người kia làm tại các Trung tâm Điện toán Hoa Kỳ. Ông nói lương của những người này hiện vào khoảng 700 tới 1000 Mỹ kim, một tháng.
Ông cũng cho biết hiện nay, các lớp huấn luyện điện toán tổ chức trong vòng hai năm qua, đã có 107 chuyên viên điện toán trong vòng hai năm nay, gồm có 87 người tốt nghiệp ngành thảo chương viên và 20 người phân tích viên.
Ngoài ra, hiện nay, trong số những người tốt nghiệp đã có một người làm quản đốc một Trung tâm Huấn luyện Điện Toán của chính phủ, 3 người được giao phó tổ chức việc tại các cơ quan dân chính và quân sự tại Hoa Kỳ hoặc các xí nghiệp ngoại quốc tại Việt Nam; sáu người giúp việc cho các công ty quốc doanh, 4 người sang tu nghiệp tại tại Hoa Kỳ và Nhật Bản.
Lương của những người làm việc tại Việt Nam, theo ông Huân, không kể các công chức quân nhân, thì vào khoảng từ 30.000 cho tới 100.000 đồng.
Những người này theo ông Huân, các xí nghiệp đều ghi nhận là họ có đầy đủ khả năng để làm việc, nếu không muốn nói là nhiều khi rất xuất sắc.
Tú Tài II, có thể theo học
Đặc biệt là các lớp điện toán nêu trên đều được tổ chức tại Việt Nam. Đã có tất cả một lớp phân tích nghề nghiệp, ba lớp thảo chương viên. Các lớp nói trên do Hội Chuyên viên Điện toán Việt Nam đảm trách, với sự cộng tác của Bộ lao động và Cơ quan USRID. Tất cả các lớp kia đều học tại Bộ Lao Động, đường Trần Hưng Đạo Sài Gòn.
Muốn theo học lớp này, các học viên phải có bằng Tú Tài II trở lên và qua một thời kỳ thi tuyển do Bộ Lao Động tổ chức. Một số học viên có khả năng sẽ được theo học. Việc dự thi tuyển cũng khá gay go. Trong lớp Thảo Chương Viên Điện Toán khóa III, có tất cả 422 người ghi danh ứng thí nhưng chỉ có 42 người được theo học và chỉ có 33 người tốt nghiệp.
Kể từ hai năm nay, có tất cả tới 1.700 người ghi tên theo học, nhưng chỉ có 107 chuyên viên tốt nghiệp mà thôi.
Có lẽ lý do khiến nhiều người ghi tên là vì tương lai của các học viên là «khá» như vừa kể trên. Nhiều vị phụ huynh đã khuyến khích con cháu theo học lớp này. Cô Lê thị Phương Lan, một học viên tốt nghiệp ưu hạng lớp Thảo Chương Viên Khóa III, đã xác nhận: cô theo học vì Ba cô nói rằng, nghề này sẽ có tương lai khá. Cô cũng nói với bạn bè là cô cũng ở vào trường hợp tương tự.
Một số các học viên khác theo học vì ý thích, như anh Nguyễn Hữu Sự, một học viên ưu hạng khác cùng lớp với cô Lan, cho rằng anh học lớp này vì tò mò muốn hiểu biết về ngành khoa học điện toán. Nhưng dù là lý do nào, các học viên khác cũng có đủ khả năng vì đã qua kỳ thi tuyển.
Tuy là một ngành học mới nhưng các học viên đã học một cách dễ dàng. Mặc dầu đậu Tú Tài I và II ban văn chương [ ban C ], cô Phương Lan cho biết học về ngành này không mấy khó khăn. Cô nói: Môn học không hẳn thiên về Toán mà người ta vẫn lầm tưởng. Anh Nguyễn Hữu Sự cho biết chương trình học gồm có 4 phần và kéo dài trong sáu tháng.
Phần thứ nhất, học về những hiểu biết của ngành điện toán; phần thứ hai học về máy điện toán IBM 360, một loại máy điện toán thông dụng hiện tại. Trong phần này, các học viên được chỉ bảo rành rọt về sự nhận dữ kiện, biến đổi dữ kiện và phát dữ kiện của máy. Phần thứ ba và tư, giảng về hai hệ thống ngôn ngữ điện toán RPG, và Cobol.
Ngôn ngữ điện toán là một loại ngôn ngữ đặc biệt, người ta phải đổi các dữ kiện này theo những con số hoặc dấu hiệu, ký hiệu đặc biệt để chuyển vào máy IBM, và khi máy này phát trở ra thì phải đọc các ngôn ngữ này để hiểu được các dữ kiện.
Cô Phương Lan cho biết, tuy vậy, cô đã phải cất công để học, mất gấp 4, 5 lần học thi Tú Tài vì phải học nhiều. Cô cho rằng, không cần kéo dài lớp này ra quá vì 6 tháng cũng đã đủ để hiểu, và cũng không nên rút ngắn thời gian học lại vì sẽ thiếu.
Một số học viên khác đều đồng ý như trên. Các lớp học trên gồm cả nam và nữ học viên. Trong Khóa 3 Thảo Chương Viên có tất cả 13 nữ học viên vì 20 nam học viên.
Huấn luyện tại Việt Nam thì tiết kiệm được 255 triệu bạc VN.
Nhờ chương trình huấn luyện viên, theo kỹ sư Nguyễn Từ Huân, một số người đủ mọi thành phần xã hội, một trình độ … đã có được một nghề nghiệp tiến bộ «Tân kỳ và đắc dụng nhất trên thế giới». Thành phần như trên gồm đủ các tầng lớp công chức, tư chức, quân nhân tại ngũ, cựu quân nhân, và sinh viên v.v. theo học. Trình độ học vấn thì cũng đủ mọi ngành khác nhau.
Người đậu Tú Tài II ban C như cô Lan, Cao học Hóa học như anh Nguyễn Hữu Sự, một số thành phần khác như các sinh viên tốt nghiệp Chính trị Kinh doanh, Luật … cũng có thể theo học.
Chương trình nói trên khi huấn luyện tại VN, theo kỹ sư Huân, có thể tiết kiệm được 600 ngàn Mỹ kim, tức tương đương với 255 triệu bạc VN theo hối suất hiện tại.
Theo ông Huân, từ trước tới giờ, mọi công tác huấn luyện và tu nghiệp chuyên viên ngành điện toán đều chi thực hiện tại quốc ngoại rất tốn kém và đòi hỏi nhiều điều kiện, thể thức phức tạp. Phí tổn cho mỗi học viên được gởi theo học ngành này vào khoảng 5.000 Mỹ kim tức là tương đương với 2.125.000 theo hối xuất hiện tại.
Ông Huân cũng nói rằng, mặc dù huấn luyện tại VN nhưng các học viên không thua gì các học viên được huấn luyện ở ngoại quốc, bằng cớ là các kết quả đã kể trên.
Ông Marvin Tank, Phó Giám đốc Cơ quan USAID, nói rằng, chương trình của cơ quan này cho biết, các học viên rất nhanh và giỏi.
Cần thiết cho hậu chiến.
Ngoài sự giúp ích cho các học viên có một nghề nghiệp bảo đảm lợi tức cao là một lẽ, còn lẽ khác là với các lớp điện toán này mở ra, ta phải nhìn tới một khía cạnh khác, đó là sự quan tâm tới việc đầu tư nhân lực cho tương lai. Ông Tổng trưởng Lao Động Đàm Sỹ Hiến đã nói với các học viên như vậy.
Kỹ sư Huân cũng nói rằng: Vấn đề huấn nghệ các chuyên viên Điện toán rất cần thiết cho thời hậu chiến.
Theo ông Huân, máy điện toán được áp dụng trong mọi ngành kế toán, quản trị vật liệu, quản trị xí nghiệp, tài chánh nhân viên và nhiều lãnh vực khác.
Ông cũng cho biết điện toán còn áp dụng vào Y Khoa để khám bệnh, vào Luật Khoa, Giáo Dục, Thuế Khóa, Bầu Cử v.v.
Điện toán, theo ông, chắc chắn sẽ giữ vai trò của một chìa khóa trong các lãnh vực kinh tế, đời sống xã hội cho quốc gia VN, nhất là trong thời kỳ hậu chiến sắp tới.
Mở những lớp điện toán hiện tại là khởi đầu những bước nhỏ mà Bộ Lao Động đã tiên phong đi tới và chắc chắn còn những bước nữa tiếp tục. Ông nói, «với các học viên trong tương lai, chúng tôi hy vọng điện toán sẽ xuất hiện ở mọi ngành và các học viên hiện tại sẽ len lỏi vào mọi lãnh vực, mọi khung cảnh của chính phủ và xí nghiệp, để đem nhiệt huyết và kinh nghiệm ngõ hầu đương đầu với tình trạng của một quốc gia đang cần gây dựng lại.»
LTC: Khi làm lại bài này, tôi vừa typing mà trong lòng vừa rưng rưng thầm khóc. Đây là một (trong những) bằng chứng rõ ràng, giản dị ai cũng thấy được, hiểu được để nói rằng, nếu VNCH không bị đồng minh Mỹ phản trắc thì muôn đời CSBV không thể nào mó tới nổi phố phường miền Nam chớ đừng nói là ăn cướp được Saigon, và nhứt là, VNCH sẽ là nước đi đầu trong tiến trình hóa Rồng hóa Hổ ở khu vực Đông Nam Á ngay trong thập niên 1980s.
Và ngày nay, 50 năm sau ngày black April, nhìn lại nước mình bị bầy chó cộng xã nghĩa phá tan tành, mọi giá trị bị đảo lộn hoàn toàn, và tương lai của cả xứ sở chìm trong u tối, vô vọng ... thì tôi nghĩ chỉ có tượng đá mới không biết khóc là gì.
$pageOut $pageIn $pageOut $pageIn $pageOut
các Phần tiếp theo ==>
#Chính Luận Sept. 28, 1972 trang hai
(Bài 001) Tầm Mức Quan Trọng Trong Việc Gọi Đích Danh Các Tổ Chức Cộng sản tại Việt Nam – THEO LỜI KHUYÊN CỦA CHÁNH PHỦ by Á Trình
Mặt trận Chính Trị
❁ LTC: Xin lưu ý bạn đọc:
✑ những nhãn - đề mục như vầy là cốt để phân loại – một cách tương đối – các bài báo, bản tin v.v... và nhờ đó bạn đọc sẽ dễ xác định nội dung cần đọc, tra cứu.
✑ tuy nhiên, có một lưu ý cần thiết với bạn đọc là, những gì tôi chọn lọc phục hồi lại ở đây từ các trang báo cũ miền Nam Quốc Gia, là không hoàn toàn đủ, mà đấy chỉ có thể gọi là một phần nào, một tập hợp nhỏ chứng cứ tiêu biểu cho từng đề mục mà thôi, bởi vì trong mười năm với riêng 2 tờ nhựt báo Chính Luận, Tiền Tuyến thì số báo đã lên đến hơn 6.000 tờ rồi, mỗi tờ 8 trang. Chưa kể các báo khác như Hòa Bình, Cấp Tiến v.v...
✑ Vì thế, công việc phục hồi nội dung giá trị - giá trị về mặt Sử liệu cũng như về các bình diện khác: xã hội, văn hóa, giáo dục, nghệ thuật, kỹ thuật, công kỹ nghệ v.v... - hiện hữu trong số lượng đồ sộ hơn 10.000 số báo cũ miền Nam, thì phải cần đến một Toán chuyên viên lành nghề, cùng với phương tiện máy móc dồi dào, đắc dụng, cùng nhau làm việc miệt mài trong dài ngày.
Còn LTC với sức lực có hạn của người làm việc một mình cùng phương tiện nghèo nàn, ít ỏi của một người, thì không thể nào làm tròn hết dù rất mong muốn, và vì thế xin bạn đọc xem đây chỉ là một cố gắng hết mình có thể được của một cá nhân thôi.
Tầm Mức Quan Trọng Trong Việc Gọi Đích Danh Các Tổ Chức Cộng sản tại Việt Nam – THEO LỜI KHUYÊN CỦA CHÁNH PHỦ
by Á Trình
#Chính Luận Sept. 28, 1972 trang hai
#Chính Luận Sept. 28, 1972 trang hai
Danh chính, Ngôn thuận
Danh bất chính, Ngôn bất thuận tất sự bất thành
(Khổng Tử)
Chính danh là một chủ trương lớn trong học thuyết chính trị của Khổng gia. Theo Khổng Tử, sở dĩ thiên hạ nhà Chu lâm vào cảnh đại loạn suốt hơn 500 năm là vì giữa danh xưng sự vật và sự việc trong thực tế đã không phù hợp nhau nên mới có cảnh vua không ra vua, cha không ra cha, con không ra con và trong cái mớ xã hội xà bần thủa đó không còn cách nào để phân biệt chính và tà, gian và ngay, đúng và không đúng, nói theo triết lý Tây phương thì đã xây hiện tượng không phù hợp giữa tư tưởng và sự vật.
Ngày nay việc dùng danh từ trong lãnh vực chính trị cũng là một vấn đề quan trọng, nhiều nhà chính trị nổi tiếng như Churchill, De Gaulle chẳng hạn, trước hết là những nhà ma thuật về ngôn ngữ, quần chúng thường bị lôi cuốn vào lý luận của các chính trị gia vì ngôn ngữ hùng hồn của họ.
CS vốn sở trường về tuyên truyền, ngôn ngữ đã chiếm hơn một nửa trong nghệ thuật tuyên truyền nên CS đã dành cho ngôn ngữ và danh từ do chúng đặt ra một địa vị quan trọng. ví dụ những danh từ như " Việt gian, phản động " là cả một công cụ đàn áp tinh thần đối với quần chúng, ghê gớm không kém gì súng đạn và những thủ đoạn khủng bố mà chúng vẫn thường dùng, hơn nữa chính những danh từ nói trên đã giúp chúng hợp lý hóa và hợp thức hóa những thủ đoạn tàn nhẫn của chúng trước con mắt mọi người.
Cuộc chiến đấu giữa Dân chủ và Cộng sản tại Việt Nam trên bình diện quân sự có từ lâu, cuộc chiến đấu chính trị từ trước đến nay vẫn được dùng, nhưng những danh từ như đấu tranh chính trị với Cộng sản thực ra mới được đề cập mới đây và nó được đánh dấu như một chuyển hướng đấu tranh trong tương lai một khi im bặt tiếng súng.
Trong chiều hướng đó, gần dây các báo hàng ngày vừa đề cập đến một lời khuyên của Phủ Tổng Thống minh định rõ những danh từ thường được dùng để gọi và chỉ các tổ chức Cộng Sản đề tránh mọi sự nhầm lẫn nguy hại.
Kiểm điểm lại những danh từ để chỉ Cộng sản
CSVN là một tổ chức của Cộng Sản quốc tế, ai cũng biết, vậy nhưng nếu những người CSViệt Nam công khai tự tuyên bố trước dư luận rằng họ là Cộng Sản thì sự việc đã không có gì rắc rối, đen trắng rõ ràng, thiện ác dễ phân biệt. Ngặt vì bọn Cộng sản Việt Nam lại xảo quyệt thường ẩn núp dưới những danh từ khác để đánh lừa dân chúng chỉ vì họ biết dân chúng Việt Nam ghê sợ họ. Vì vậy, việc đầu tiên của họ Hồ khi nắm chính quyền tại miền Bắc là giải tán đảng Cộng Sản Đông Dương để rồi núp sau danh xưng “V.N. Cách mạng đồng minh" hay là Việt Minh, danh từ đó có nghĩa là những người cách mạng Việt Nam cùng thề với nhau giải phóng đất nước. Từ trước đến nay hai danh từ cách mạng vẫn được nhân dân VN kính trọng và có kẻ lại coi nó như một thứ phép lạ để giải quyết mọi vấn đề. Nhưng hai danh từ Việt Minh vẫn không ổn vì cộng sản đã sớm loại hết mọi đồng minh bằng sắt máu.
Đúng lý ra tại VN chỉ có 2 hạng người làm chính trị là Việt Cộng và Việt Quốc đề phân định ranh giới giữa quốc gia và CS quốc tế. Nhưng bọn CSVN lại luôn luôn che đậy nhãn hiệu CS của họ để đánh lừa nhân dân rằng họ cũng là phân tử quốc gia VN, vì vậy mà họ thay thế đảng Lao động vào đảng CS trong thời kháng Pháp; chỉ sau này khi đất nước chia đôi họ mới ra mặt nhận họ là những người chủ trương thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc. Tại miền Nam sau 54 một chánh phủ quốc gia thuần túy ra đời đặt CS ra ngoài vòng pháp luật vì vậy nên vào năm 60 bọn cộng sản hoạt động tại miền Nam dựng lên MTDTGPMN để che đậy nhãn hiệu CS và che dậy sự chỉ huy của CSBV đặng lừa dối dân chúng miền Nam trong kế hoạch tuyên truyền xích hóa của họ.
Để chi rõ tên rõ mặt bọn hoạt động cho CS tại miền Nam, danh từ VC thường được dùng đến và thói quen của các nhà báo nước ngoài, danh từ VC được dùng để chỉ những phần tử CS miền Nam, người Mỹ thường dùng bằng danh từ “vi xi”, phiên âm của hai chữ VC theo tiếng Mỹ để gọi CS miền Nam vì vậy mà vô hình trung người ta có thể lầm CS miền Nam hoạt động dưới danh từ MTGPMN là một tổ chức riêng của bọn người này khác với tổ chức CS tại Hà Nội.
Sau cuộc “tổng khởi nghĩa" Tết Mậu Thân, bọn Cộng sản miền Bắc và miền Nam thấy rằng dân chúng miền Nam tự do không chấp nhận chế độ và chủ nghĩa Cộng sản nên vội thay hình đổi dạng một lần nữa với danh từ “chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam" trong đó MTGPMN chỉ là một thành phần mà thôi, chúng lập ra chính phủ ma này với mục đích để có phần trong cuộc hội đàm Ba lê và để đòi cho được sự tham gia chúng vào một chánh phủ “3 thành phần” sau này.
Ý nghĩa chính danh của chính phủ VNCH
Theo lời khuyên của chính phủ thì từ nay các báo chí không nên dùng danh từ "Việt cộng" nữa vì danh từ này đã bị thói quen dùng sai để chỉ bọn cộng sản miền Nam và cũng không nên dùng danh từ "MTGPMN" nữa, vì tổ chức này không bao giờ thực sự có tại miền Nam. Mục đích của sự chính danh này là để xóa bỏ một thói quen tai hại đưa đến những sự diễn giải nội dung chính trị sai lầm.
Theo chính phủ thì hiện nay MTDTGPMN chỉ là một bộ phận trá hình của CS miền Bắc, chúng chịu sự chỉ huy trực tiếp về mọi mặt quân sự, chính trị của CSBV, miền Nam không có CS mà chỉ có CS miền Bắc, bọn này hiện đang xâm lăng miền Nam, vi phạm thỏa ước Giơ ne năm 54, hơn nữa sau vụ Tết Mậu Thân, hạ tầng cơ sở và mọi hình thức hoạt động của MTDTGPMN đã bị loại từ vật chất đến pháp lý. Hiến Pháp Đệ nhị Cộng Hòa đặt CS và mọi hình thức ngụy trang của CS ra ngoài vòng pháp luật. Hiện nay cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam là do CSBV chủ trương cho nên “cái gọi là MTDTGPMN, CPCMLT” cũng chỉ là những hình thức che đậy của CS, chúng không thể nhân danh ai ở miền Nam vì chúng chỉ là công cụ của CS miền Bắc.
Hệ quả chính trị và pháp lý theo sự chính danh này thật quan trọng.
Trước hết theo thuyết chính danh này thì sự có mặt của bọn Nguyễn Thị Bình tại hội đàm Ba Lê là phi pháp vì tổ chức này chỉ là một công cụ của Hà Nội, sau nữa cái “gọi là chính phủ cách mạng lâm thời" không dân, không đất, không trụ sở, đừng nói đến thủ đô, chắc chắn không có danh nghĩa và pháp lý của một chính phủ, chúng cũng không phải là một chính phủ "lưu vong” nữa vì chưa bao giờ chúng muốn mang hai chữ lưu vong mặc dù trên thực tế chúng đang ăn gởi nằm nhờ Hà Nội. Như vậy chúng không có quyền đòi hỏi gì và cũng không có quyền ăn nói. Hiểu như vậy thì hiện nay chánh phủ VNCH đang đánh nhau với chánh phủ VNDCCH CS Bắc Việt, nếu như có một giải pháp chính trị đề chấm dứt chiến tranh thì hai chánh phủ này phải nói chuyện với nhau.
Thứ nữa, ý kiến cho rằng muốn chấm dứt chiến tranh, người Việt phải nói chuyện với người Việt để tìm một giải pháp chính trị, cũng phải được hiểu cho cặn kẽ hơn. Danh từ người Việt ở đây quá mơ hồ theo thuyết chính danh vì người Việt Cộng Sản tức Việt Cộng không có căn bản pháp lý tại miền Nam, không có sự hiện diện vật chất trong chế độ VNCH hợp pháp. những tổ chức như MTDTGPMN hay CPCMLTMN chỉ là những tổ chức 'ma' do cộng sản Bắc Việt đặt ra để làm tay sai. Như vậy chúng không thể nhân danh ai dứng ra đòi hỏi thành lập một “chánh phủ hòa hợp dân tộc 3 thành phần" như hiện nay chúng chủ trương ở Ba Lê. Nhưng theo bản tuyên bố ngày 27 tháng Giêng 1972 của TT Thiệu thì người Việt cũng có thể nói chuyện với người Việt được để chấm dứt chiến tranh miễn là người “Việt" bên kia từ bỏ hàng ngũ, từ bỏ vũ khí trở về với tư cách thường dân nói chuyện trong khuôn khổ Hiến Pháp VNCH. Đó giải pháp lý tưởng, nhưng nếu có những người Việt bên kia trở về với điều kiện nói trên chắc chắn họ chẳng có tư cách gì để nói chuyện mà cũng chẳng có chuyện mà nói, có được nói cũng chẳng ai nghe. Đó là vấn đề.
Có lẽ chính danh trước rồi sự thành sau
Lời khuyên bỏ hẳn những danh từ “VC”, 'MTDTGPMNV’ hiện đã được hai đài phát thanh và phát hình áp dụng triệt để, báo chí cũng đã mau lẹ áp dụng theo lời khuyến cáo chánh thức. Từ đây trong ngôn ngữ mất hẳn hai danh từ này, đó là một “bước tiến chánh trị” song song với những thắng lợi quân sự. Một vật gì không được ai nhắc đến lần lần hết công dụng hay muốn có công dụng phải thay đổi danh xưng. Cuộc chiến tranh hiện nay đang đi vào chiều hướng chấm dứt nên mọi cố gắng giản lược càng nhiều càng hay những vấn đề phức tạp để những người có trách nhiệm tìm giải pháp được dễ dàng, như vậy người ta có thể nghĩ rằng việc loại bỏ hai danh từ trên nằm trong kế hoạch tìm một giải pháp trong tương lai.
Báo chí Việt Nam đã thực hiện lời khuyến cáo còn báo chí nước ngoài thì sao, liệu họ có vì lười biếng mà dùng theo thói quen không ? Điều tốt hơn hết là một vật gì khi đã không còn được nói đến thì tìm cách thủ tiêu nó đi cho rảnh mắt vì dần dần người ta sẽ quên hẳn nó, như vậy sau khi chính danh còn phải đập tan các tổ chức Cộng Sản nữa thì sự mới thành.
Chinh danh xong sự mới thành, hay sự thành rồi mới chính danh, mọi rắc rối nằm trong quá trình thuận và nghịch nêu trên!
#Chính Luận Sept. 28, 1972 trang hai
Tự Do Chính Trị tại VNCH
(Bài 002) Thị Trường «Chính Khứa» by HỒNG DƯƠNG
LTC:
– Đây là Tiểu khảo về Chính khách và Đảng phái tại miền Nam Quốc Gia của Ký giả Hồng Dương [ ** ] , một cây bút chủ lực và xuất sắc của nhựt báo Tiền Tuyến nói riêng và của làng báo chí Quốc Gia nói chung.
– Tiểu khảo Thị Trường «Chính Khứa» của Ký giả Hồng Dương đăng làm 20 kỳ trên #Tiền Tuyến, bài khởi đầu đăng trên trang nhất #Tiền Tuyến Feb. 21_22, 1971 và đăng rải rác những ngày tiếp theo, không hoàn toàn liên tục bởi vì có những ngày có tin tức cần loan hơn đã chiếm hết đất của các cột báo. Kỳ cuối (thứ 20) đăng trên trang nhất #Tiền Tuyến Mar. 27, 1971.
Đây không chỉ là một khảo sát tình hình chung về các hoạt động chính trị phong phú tại miền Nam Tự Do mà còn là một bức tranh khắc họa không khí tự do chính trị tại VNCH với tất cả điểm hay và dở của sự tự do ấy. Do đó, công trình tiểu khảo ý vị, sâu xa và độc đáo của ký giả kỳ cựu Hồng Dương còn có giá trị ở chỗ thực hiện một biên niên sử thu nhỏ về thế nào là tự do mà những bạn đọc nào ít thời giờ chỉ cần đọc xong là cũng có thể thấu rõ tính tự do nội tại của VNCH như thế nào. Đồng thời nếu bạn đọc lấy nền tự do ấy để làm một so sánh, đối chiếu với chế độ Cộng sản miền Bắc thì SỰ THẬT sẽ được phơi trần: thế nào là Chánh Nghĩa Quốc Gia ở miền Nam, thế nào là bản chất gian tà ngụy tặc của Cộng sản miền Bắc ... sẽ càng lồ lộ ra rõ hơn bao giờ hết.
[ **: Hồng Dương vào làm trong tòa soạn Nhật báo Ngôn Luận khoảng năm 1957, 1958. Năm ấy Nhật báo Ngôn Luận đã sống vững, Chủ nhiệm Hồ Anh ăn nên, làm ra, có nhà in riêng, mở lớn tòa soạn, lấy thêm nhân viên là Hồng Dương, Phan Nghị, hai họa sĩ Văn Hiếu, Huy Tường.
Hồng Dương trẻ hơn tôi khoảng bẩy, tám tuổi, anh có tên Hồng Dương vì trước đó anh là võ sĩ Quyền Anh – boxeur – Lò Võ Hồng Việt. Tất cả những võ sinh Lò Hồng Việt đều có tên Hồng. Tôi quen ba võ sĩ Hồng Việt là Hồng Dương, Hồng Cương, Hồng Trực. Võ sĩ Hồng Dương từng lên đài trong những năm 1955, 1956.
Ký giả Hồng Dương Nguyễn Hữu Hùng đẹp trai, sống sạch, đàng hoàng, anh không ngồi cả buổi đấu láo, uống la ve ở tiệm như nhiều ký giả cùng thời, anh không nghiện ngập, anh có số đào hoa nhưng không bị tai tiếng, không bị nàng nào thù hận. Tôi thường nói về Hồng Dương với người ngoài làng báo: “Alain Delon của chúng tôi đấy.” (trích bài "Hồng Dương. Trịnh Viết Thành" của nhà văn Hoàng Hải Thủy posted on Dec. 3, 2012 trên Wordpress Blog Hoàng Hải Thủy)
#Tiền Tuyến Feb. 21_22, 1971 trang nhất
THỊ TRƯỜNG «CHÍNH KHỨA» by HỒNG DƯƠNG
#Tien Tuyen Feb. 21_22, 1971 trang nhất
Thị Trường «Chính Khứa»
Bài 01:
I
Lời Mở Đầu
Ngày nay, 2 tiếng chính trị không còn xa lạ đối với quảng đại quần chúng VN. Chúng ta lại cũng biết một cách thừa thãi rằng người làm chính trị được gọi là chính khách.
Nhưng chính trị không phải là một vấn đề mới mẻ, và chính khách cũng có thể là một chuyện có tính cách cổ tích. Kể từ loài người bắt đầu có cuộc sống xã hội sơ khai là đã có chính trị, do đó, đã có chính khách.
Tuy nhiên, hình như chưa một quốc gia nào, một xã hội nào lại hẳn một hiện tượng rõ rệt và phổ quát về tính chất «thị trường hóa» chính khách như ở xã hội VN ta ngày nay.
Nói cách khác thì hiện nay mỗi chính khách của chúng ta đều mang giá trị của một con vật hoặc đồ vật thương mại được (animal ou objet commerçable).
Do đó, cũng như tất cả những con vật và đồ vật thương mại được, nên chính khách của chúng ta có hẳn một thị trường, giống như thị trường...xe hơi, rau cỏ, gà vịt, trâu bò heo v.v....
Có thị trường tất có vấn đề giá cả, và cái giá cả đó lên xuống trồi sụt theo những quy luật riêng của nó. Tuy nhiên đôi khi giá cả trên thị trường chính khách cũng bị chi phối bởi một vài quy luật giống các quy luật kinh tế.
Chẳng hạn mức cung và cầu chênh lệch thì tất cả sẽ xảy ra một sự xáo trộn về giá cả. Ngoài ra, lại còn có vấn đề «mùa màng» cũng ảnh hưởng khá nhiều tới vật giá.
Mặt khác, lại cũng tùy... nhãn hiệu mà vấn đề giá cả khác nhau. Trên thị trường chính khứa hiện nay, các chính khách mang nhiều «mác» khác nhau giống như dầu cù là: Nào là cù là con Hổ, cù là con Mèo, cù là Mạc phu....
Bởi tất cả những điều đã trình bày ở trên, viết về thị trường chính khứa là cả một vấn đề phức tạp, chưa kể còn có thể gặp nhiều sự đụng chạm. Vì thế, người viết xin kính cẩn nhấn mạnh là phóng sự này được viết trong một tinh thần nhận xét phân tích vô tư. Nếu không vô tư với mọi người, thì ít nhất cũng là một sự vô tư đối với người viết.
Chẳng hạn khi người viết đề cập tới chính khách A, thì xin hiểu rằng không phải người viết muốn nói về cá nhân ông A mà là về cái bánh xe trong guồng máy xã hội.
Khi anh thợ máy bảo rằng cái bugi số 2 bị hư có nghĩa là chiếc bugi đó xài nhiều quá đã đến lúc cần thay thế, vì sợi chấu (trấu) hết còn bắt lửa được. Nếu để nó dơ, bộ máy sẽ trục trặc chứ không phải anh thợ máy hiềm thù cá nhân cái bugi số 2.
(Còn tiếp)
#Tien Tuyen Feb. 23, 1971
Bài 02:
II
Thường thường, nói tới chính khách, người ta hay nghĩ tới đảng phái. Ông chính khách A này là người của ĐV đấy, còn ông B kia là người của QDĐ, ông C là của TĐV v.v…
Kể ra, đề cập tới vần đề chính trị hay chính khách mà không nhắc tới chính đảng, là một một thiếu sót. Nhưng ở Việt Nam, nói tới chính đảng là cả một vần đề phức tạp về mọi khía cạnh. Chính đảng nhiều như lá vàng mùa thu, mỗi chính đảng lại phân hóa thành năm bảy hệ phái, mỗi hệ phái chia ra làm ba bốn khuynh hướng. Và điều bi đát nhứt là chả có khuynh hướng nào rõ rệt.
Thê thảm hơn cả, có lẽ hiện tượng có lẽ là hiện tượng có những chính đảng mà chồng là đảng trưởng và vợ, con, đầy tớ là đảng viên.
Bởi cái lẽ nêu trên, hai tiếng ‘chính đảng’ dần dần bị lố bịch hóa. Người tự trọng đôi khi nghe nói tới ‘chính đảng’ là phải đỏ mặt, do đó gần đây người ta ít dùng chữ ‘chính đảng’ mà thay vào đó người ta gọi bằng «lực lượng» tỉ như lực lượng DCXH. hoặc gọi bằng «phong trào» tỉ như phong trào QGCT.
Tuy nhiên, tự trong bản chất thì ‘lực lượng’ hay ‘phong trào’ hay ‘mặt trận’ hay ‘đảng’ thì cũng chẳng khác gì nhau: phân hóa, băng hoại, hoặc xôi thịt.
Vì vậy, người dân nói chung không còn tin tưởng được vào những đảng phái nữa.
Kém về tổ chức, phân hóa, băng hoại, lại không thâu phục được lòng tin của quần chúng, tức là yếu tố hậu thuẫn của nhân dân nên hầu hết đảng phái, phong trào, lực lượng … ở Việt Nam chỉ còn cái thùng rỗng.
Về điểm này, quần chúng ý thức được một cách rất rõ rệt. Cứ thử nhìn trở lại những cuộc bầu cử truớc đây ắt rõ. Không có một đảng phái nào đủ khả năng đưa người của mình vào các cơ quan dân cử. Bằng cớ rõ ràng hơn cả là trong kỳ bầu cử bán phần Thượng Viện hồi tháng 9-1970, nhiều chính khách của những đảng phái tên tuổi đã phải chạy chọt «nằm vùng» ở những liên danh không thuộc đảng mình. Nói là «nằm vùng» chứ thật ra là dựa vào những liên danh mà trong đó đa số ra ứng cử với tư cách độc lập với ứng cử viên đảng phái, là yếu tố quyết định.
Và rõ hơn nữa là kết quả cuộc bầu cử cho thấy, các liên danh đắc cử vào Thượng Viện vừa qua đều không mang danh nghĩa đảng phái nào. Một vài liên danh mang danh nghĩa đảng phái đã bị thất cử.
Ngay trong kỳ bầu cử Hạ Nghị Viện 1967 cũng vậy, đại đa số người đắc cử Dân Biểu đều không có đảng phái hoặc ít ra là cũng không đắc cử nhờ vào danh nghĩa đảng phái. Họ đắc cử hoặc vì uy tín cá nhân (rất hiếm) hoặc nhờ là gà của chính quyền hoặc nhờ là đệ tử ruột của …Đức Thánh Trần.
( còn nữa )
LTC chú thích: các chữ viết tắt trong bài này:
Có lẽ vì ngại đụng chạm nên tác giả Hồng Dương chỉ viết tắt tên các chính đảng mà thực ra tại miền Nam lúc bấy giờ, dù viết tắt cái tên đảng nhưng đọc qua ai cũng biết.
➯ ĐV: Đại Việt Quốc Dân Đảng, do lãnh tụ Trương Tử Anh sáng lập vào ngày 10-12-1939 tại Hà Nội, thường gọi là đảng Đại Việt. Năm 1964, ĐV bị tách ra thành 2 đảng mới: một là với đảng viên vào hàng cao cấp Hà Thúc Ký tách ra khỏi Đại Việt Quốc Dân Đảng để thành lập Đại Việt Cách Mạng Đảng do Hà Thúc Ký làm lãnh tụ (ĐVCM); và hai là, với hai đảng viên vào hàng cao cấp Nguyễn Ngọc Huy và Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, tách ra khỏi Đại Việt Quốc Dân Đảng để thành lập Đảng Tân Đại Việt (TĐV).
➯ QDĐ: thường viết tắt là VNQDĐ: Việt Nam Quốc Dân Đảng do lãnh tụ Nguyễn Thái Học thành lập vào ngày 25-12-1927 tại Bắc Việt.
Từ thời Thủ tướng Nguyễn Khánh (1964), VNQDĐ phân hoá thành 3 hệ phái:
— VNQDĐ Xứ Bộ Miền Nam: ông Nguyễn Hoà Hiệp và ông Trần Văn Tuyên (từ 1967). Hoạt động ở miền Tây Nam Phần.
— VNQDĐ Thống Nhất hay còn gọi là Kỳ Bộ VNQDĐ: ông Nguyễn Đình Lương (từ 1968), liên thủ với các nhóm VNQDĐ miền Trung, Tân Chính, Chủ Lực. Hoạt động ở Miền Trung.
và
— Trung ương Đảng bộ VNQDĐ: ông Vũ Hồng Khanh và ông Phạm Thái, từ 1969. Hoạt động ở Saigon. Vào ngày 1-5-1969, VNQDĐ hợp nhất 2 nhóm Trung ương thuộc Vũ Hồng Khanh và Xứ Bộ Miền Nam thuộc Nguyễn Hoà Hiệp vào làm một.
➯ DCXH: Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng, thường gọi tắt là Dân Xã Đảng, thành lập vào khoảng năm 1967-1968, một trong mấy hệ phái Hoà Hảo bắt nguồn từ Tổ chức (chưa thành Chánh đảng) Dân Xã Hoà Hảo nguyên thuỷ thời Đức Thầy (Giáo chủ) Huỳnh Phú Sổ tháng 8-1945. Do ông Trình Quốc Khánh làm lãnh tụ (Bí Thư Đảng).
➯ QGCT: thường viết tắt là PTQGCT. Phong trào Quốc Gia Cấp Tiến do Nguyễn Ngọc Huy, cựu đảng viên Đại Việt thành lập ngày 20-4-1969. Do đã mang danh phận Tổng Thư ký [ đứng đầu, tương đương Chủ tịch ] đảng Tân Đại Việt của mình rồi, nên Nguyễn Ngọc Huy e là mình sẽ hết quyền tư cách đứng đầu tổ chức chính trị mới này. Để thay cho mình việc đó, ông mời Thạc sĩ Nguyễn Văn Bông [ Thạc sĩ Công Pháp Quốc Tế ], là vị Giáo sư khả kính và là Viện trưởng Học Viện Quốc gia Hành Chánh lừng danh của VNCH, nơi đào tạo công chức cao cấp cho Chính quyền Quốc Gia, làm Tổng Thư ký Phong trào Quốc Gia Cấp Tiến. Giáo sư Bông nhận lời và Giáo sư Huy làm Phó Tổng Thư ký PTQGCT. Cơ quan ngôn luận của PTQGCT là tờ nhựt báo Cấp Tiến (thành lập năm 1969).
#Tien Tuyen Feb. 24, 1971 trang nhất
Bài 03:
III
Nói cho rõ hơn, thực chất của hầu hết đảng phái chính trị ở VN không có gì cả.
Ở những thời xa xưa, dưới sự thống trị của Tây thực dân, một vài đảng phái đã gây được tiếng vang lớn, một phần vì họ có được những lãnh tụ tài giỏi. Còn đầy ắp lý tưởng trong đầu, và tình yêu nước trong hồn. Những người này chỉ biết sống chết với cứu cánh giải phóng Dân tộc khỏi bàn tay thống trị của thực dân Tây.
Một yếu tố khác khiến cho đa số chính đảng thời xưa nổi tiếng là tính chất bí mật. Họ hoạt động trong bóng tối, và phương thức đấu tranh của họ gồm cả những hoạt động quân sự và bạo động. Một vài cuộc khủng bố, ám sát đủ gây tiếng vang.
Ngày nay, tình thế đã đổi khác, do đó, đòi hỏi những phương thức đấu tranh khác. Nhiều chính đảng đã gặp sự lúng túng trong việc tạo lập một quan niệm đấu tranh mới, lúng túng cả trong việc xây dựng một ý thức hệ và một chính sách chung.
Bởi vậy sự chia rẽ, phân hóa đã xảy ra trong nhiều nội bộ chính đảng. Thêm vào đó nhiều chính khách thời nay đã mắc phải căn bệnh «lãnh tụ lố bịch». Hơi bất đồng kiến là kiếm cách nhảy ra 1 đảng mới để được làm lãnh tụ, ngõ hầu dễ bề tranh phần xôi thịt lớn.
Ý thức chính trị của đa số chính khách xuất thân từ những chính đảng đã trở nên sa đọa.
Ở những quốc gia mới giải phóng khỏi ách thực dân, tinh thần dân chủ thường là con dao hai lưỡi và chúng ta quả là đã bị đứt tay vì nó. Nhiều người, hoặc bè nhóm đã lợi dụng tinh thần dân chủ để mưu tạo lập thế đứng riêng rẽ mà họ đinh ninh là sẽ gây được lợi ích cá nhân.
Do đó, đảng phái ở đây bị long mất hết rễ trong quần chúng, như con rết bị rụng hết chân.
Vì tinh thần vị kỷ, vì bệnh lãnh tụ lố bịch, chính đảng mọc ra như nấm. Chính đảng càng nhiều, thế lực của mỗi đảng càng suy yếu. Như bó đũa được cởi giây buộc và bung ra.
Ngày nay những ai còn đặt tin tưởng vào chính đảng quả là những người ngây thơ. Nhiều chính quyền gần đây đã mắc vào lầm lẫn đó. Họ tưởng qui tụ được một vài cái «lọ độc bình» là có thể tạo lập được một thế chính trị vững vàng. Sự thật lại trái lại! Thực tế đã chứng minh những chiếc «lọ cổ» chính trị đã hoàn toàn vô giá trị, và chỉ gây thêm sự lung lay cho chân ghế thế lực chính trị.
Trong giai đoạn này của đất nước, những người khôn ngoan không dựa vào chính đảng. Họ đi tìm sự hỗ trợ ở những thành phần nhiệt tâm, những thành phần ít ra còn giữ được lý tưởng trong vòng 10 năm nữa. Đây là một thử thách lớn đối với những người muốn làm công việc lãnh đạo.
#Tien Tuyen Feb. 26, 1971 trang nhất [ số ra ngày Feb. 25 tạm hoãn nhiều bài vở để đưa tin Đại tướng Đỗ Cao Trí tử nạn phi cơ trực thăng vào trưa ngày 23-2-1971 khi ông đang bay thị sát hành quân trên không phận tỉnh Tây Ninh giáp giới với Miên, trong chiến dịch Hành Quân Ngoại Biên của QLVNCH nhằm quét sạch hang ổ sào huyệt của bọn CSBV ẩn núp trên đất Cao Miên để rình rình đánh trộm vào Quân Khu III VNCH. Đại tướng Đỗ Cao Trí tử nạn cùng với 1 sĩ quan tùy viên của ông và 2 viên hoa tiêu khi phi cơ phát nổ. Người duy nhất sống sót (bị thương nặng) là ký giả Francois Sully của tờ tuần báo Mỹ Newsweek ]
Bài 04:
IV
Sự kiện người ta mất tin tưởng vào các chính đảng là một điều tai hại cho sinh hoạt chính trị, và do đó rất bất lợi cho công cuộc chiến đấu chống cộng sản. Nhất là trong giai đoạn sắp tới, mặt trận chính trị sẽ vô cùng sôi động và khốc liệt.
Trong khi đó, những người mang danh chính khách trong xã hội này ngày càng thấy xuất hiện đông đảo. Những người này hình như cũng ý thức được sự bất lực và bất xứng của chính đảng, nên họ đã không dám đứng hẳn vào một lực lượng nào. Cái từ ngữ "không đảng phái" trở nên hấp dẫn, như một bảngo hiệu "ăn khách."
Từ đó đưa tới tình trạng thị trường chính khách bị tràn ngập, mức cung vượt quá mức cầu. Tệ hại hơn là hầu như mỗi chính khách có một quan niệm chính trị riêng, một phương thức hoạt động riêng, một đường lối riêng, một chính sách riêng, v.v…
Hay nói đúng hơn, đại đa số chính khách ngày nay không ai có được một quan niệm chính trị đúng đắn và rõ rệt. Thậm chí, người mang danh chính khách, tham gia sinh hoạt chính trị, mà trong khi chưa hiểu chính trị là gì.
Nhận xét này thoạt nghe có vẻ quá đáng. Nhưng sự thật là như vậy. Nếu ai chịu khó theo dõi sinh hoạt ở Hạ Viện trong ba năm nay ắt thấy rõ. Đến nỗi có nhiều nhà báo phát ngớ ngẩn tự hỏi hoặc hỏi nhau «tại sao ông đó lại đắc cử.»
Nếu nhìn nhận các ông nghị viên cũng là chính khách, thì tình trạng còn đáng buồn hơn. Có những ông nghị chưa hiểu cái khác biệt giữa sắc luật với nghị định: chưa hiểu ngay cả quyền hạn của chính vai trò của mình.
Hiện tượng tràn ngập chính khách và là những chính khách chỉ có vỏ không có ruột đã đưa tới tình trạng quần chúng coi thường chính khách. Khi một món hàng bị quần chúng chê là hàng tồi, thì mãi lực của giới tiêu thụ về món hàng này sẽ giảm đi, do đó mất giá. Vì thế mới xảy ra tình trạng chính khứa... bán son.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Feb. 27, 1971 trang nhất
Bài 05:
V
"Cái thảm kịch ngày hôm nay là do chính trị." Cả trăm năm trước Napoléon đã có một nhận xét như vậy. Tất nhiên đó là thảm kịch đã xảy ra cho nước Pháp. Nhưng thảm kịch do chính trị cũng đã xảy ra cho xã hội VN ngày nay.
Hiệu tượng chính trị bị biến chất thành một thứ nghề (métier) để kiếm chác bả vinh hoa phú quý chính là một thảm kịch trước mắt thế hệ trẻ đang chuẩn bị hoặc vừa khởi sự dấn thân nhập cuộc.
Những người trẻ, đặc biệt là những phần tử trí thức trẻ, bị dồn tới chỗ phải cảm thấy như là mình bất lực trước những vận động lịch sử của dân tộc. (Hãy nên hiểu «phần tử trí thức là người đem lại giá trị cho những thứ mà tự chúng không có» — nói theo kiểu Paul Vardly — hoặc là «những người suy tư, không phải bọn lộng chữ, lợi dụng, bịp bợm và ăn bám», nói theo kiểu Henri Barbusse.)
Phần lớn những người đang làm chính trị cho tới hôm nay đã có một quan niệm chủ bại về chính trị. Cứu cánh của họ không phải là một cuộc cách mạng xã hội toàn diện, giải phóng dân tộc, và giải phóng thân phận con người. Cứu cánh của họ là nhà lầu xe hơi và quyền thế.
Tất nhiên làm chính trị là phải nghĩ tới quyền lực. Có quyền lực hay nói cách khác là có chính quyền trong tay mới khả dĩ chuyển được quan niệm, tư tưởng chính trị của mình thành hành động để giải quyết những vấn đề chính trị trong chiều hướng cách mạng cải thiện xã hội, tức là khunh hướng hướng thượng.
Nhưng ở đây, chúng ta thấy quyền lực vẫn chỉ là phương tiện — phương tiện hữu hiệu để đạt tới cuộc cách cách mạng xã hội.
Nhiều người làm chính trị cho tới nay đã sẵn sàng bán linh hồn cho quỉ với một giá … phải chăng?!. Loại người này đầy dẫy trên chính trường nhất là tại nghị trường. Họ không quan niệm quyền lực là phương tiện khai triển và hành động hóa tư tưởng cải tạo xã hội. Họ nhìn nó như một thứ cần câu … cơm, và vinh hoa.
Cho nên người dân hôm nay hoàn toàn mất tin tưởng vào họ, xa lánh họ, ghê tởm họ. Do đó họ bị dồn vào thế cô lập, trở thành những «chính khách cô đơn», loay hoay chạy đôn chạy đáo tìm khách hàng nào chịu trả giá.
Nhưng vì thiếu một thứ then chốt (nhãn hiệu chính đảng không còn ăn khách nữa), nên họ bị mất giá. Đôi khi bán son mà vẫn không ai mua.
Để cố tạo cho mình một giá trị giả tưởng, nhiều chính khách đã đổ xô tới các khối tôn giáo. Hiện tượng này vô tình đã biến các tôn giáo, vốn là thế lực thần quyền, biến thành thế tục hoặc lực lượng áp lực. Dần dần, một vài tôn giáo biến thành … hãng sản xuất hoặc tiệm buôn chính khách. Và những khối tôn giáo trở thành những thế lực chính trị có thực lực nhứt mặc dù phải ôm khư khư cái tính chất thần hóa. Tình trạng này của xã hội Việt Nam trở nên gần giống như tình trạng cán cân thế lực trong các xã hội Âu Châu thời phong kiến. Giai cấp tăng lữ trở thành những ông vua không ngai.
( còn tiếp )
[ * ]:
Related Articles:
➯ Chứng Tích bên phía CSBV part 3 - ngày khởi đăng Apr. 12, 2025
➯ Chứng Tích bên phía CSBV part 2 - written & collected by Le Tung Chau - ngày khởi đăng Mar. 15, 2025
➯ Hào Khí Quân và Dân miền Nam - written & collected by Le Tung Chau - ngày khởi đăng Jan. 4, 2025
➯ Vụ Tướng Lavelle năm 1972: Vết Nhơ Mở Màn Tấn Tuồng 'Đồng Minh Tháo Chạy' của Mỹ - by Le Tung Chau, Oct. 10, 2024
➯ Chứng Tích bên phía CSBV - written & collected by Le Tung Chau - ngày khởi đăng Jun. 9, 2024
➯ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu - LTC tổng hợp - ngày khởi đăng Jun. 10, 2022
➯ Sách, Tài liệu VNCH by Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng - LTC tổng hợp - ngày khởi đăng May. 11, 2019
$pageOut
$pageIn
Phân đoạn 2➯ Chứng Tích bên phía CSBV part 3 - ngày khởi đăng Apr. 12, 2025
➯ Chứng Tích bên phía CSBV part 2 - written & collected by Le Tung Chau - ngày khởi đăng Mar. 15, 2025
➯ Hào Khí Quân và Dân miền Nam - written & collected by Le Tung Chau - ngày khởi đăng Jan. 4, 2025
➯ Vụ Tướng Lavelle năm 1972: Vết Nhơ Mở Màn Tấn Tuồng 'Đồng Minh Tháo Chạy' của Mỹ - by Le Tung Chau, Oct. 10, 2024
➯ Chứng Tích bên phía CSBV - written & collected by Le Tung Chau - ngày khởi đăng Jun. 9, 2024
➯ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu - LTC tổng hợp - ngày khởi đăng Jun. 10, 2022
➯ Sách, Tài liệu VNCH by Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng - LTC tổng hợp - ngày khởi đăng May. 11, 2019
Thị Trường «Chính Khứa» by HỒNG DƯƠNG (tiếp theo)
#Tien Tuyen Feb. 28, 1971 trang nhất
Bài 06:
VI
Ở xã hội VN có rất nhiều tôn giáo; Đông nhất là Phật giáo, nhưng mạnh nhất có lẽ là Công giáo. Có một đạo, lực lượng Phật giáo đã trở nên rất mạnh.
Nhưng rồi do lỗi của một số vị lãnh đạo, lực lượng bị nứt rạn chia đôi, kình chống nhau, khiến cho cái thế bị suy yếu. Bao giờ cũng vậy, sự chia rẽ nứt rạn tranh chấp trong nội bộ luôn luôn đưa đến kết quả tự làm suy yếu.
Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là ngày nay Phật Giáo mất ảnh hưởng trên thị trường chính khách VN.
Nhãn hiệu AQ vẫn còn rất ăn khách nhất là nó lại được gắn liền với nhãn hiệu hòa bình tức khắc trong mọi chiến dịch quảng cáo.
Người ta thấy nhiều chính khách đã chạy tới chùa để xin được mang nhãn hiệu AQ. Những cỡ chính khách tập sự như TCQ, NVĐ, PHN, KMT v.v... là những kẻ cả đời không biết tới chùa chiền, không thuộc một câu kinh kệ. Họ không đích thực là Phật tử. Họ chỉ tới chùa khi thấy thuận tiện cho việc quảng cáo tên tuổi họ.
Thật ra nếu Phật mà không từ bi, nếu ngài mà hiển linh, thì chắc chắn những chính khách loại đó sẽ bị Ngài vặn cổ chết tức khắc.
Những người Phật tử chân chính đều tỏ ra không hài lòng bọn chính khách xôi thịt dựa hơi này. Qua gần 4 năm của Quốc Hội Đệ nhị Cộng Hòa, người Phật tử thật sự đã chán nản những kẻ vỗ ngực đại diện cho họ.
Người ta không hề thấy các Nghị sĩ, Dân biểu mang nhãn hiệu AQ làm việc cho cử tri bao giờ, những công việc thiết thực liên hệ mật thiết tới đời sống hằng ngày của họ. Mà chỉ thấy mấy ông NS, DB này làm công việc vuốt đuôi những lời tuyên bố của các thầy.
Trong kỳ bầu cử sắp tới, những DB, NS loại trên rất ít có hy vọng xin được phiếu của cử tri.
(còn nữa)
các chữ viết tắt:
ÂQ: Ấn Quang
tên Dân biểu viết tắt trong bài này:
KMT: Kiều Mộng Thu (tên thật là Trương Ngọc Thu)
(các chữ khác chưa định được ... Xin vui lòng chờ ...)
#Tien Tuyen Mar. 2, 1971 trang nhất
Bài 07:
VII
Xin trở lại với hiện tượng các tôn giáo biến thành tiệm buôn hoặc hãng sản xuất chính khách. Trước khi đó, một số vị lãnh đạo tôn giáo đã trở thành những tay "thợ chính trị."
Không ai có thể chối được chứng vị Thượng Tọa, Đại Đức như Tr. Q., HQ., NT., PS., ĐN., TC. v.v... không làm chính trị. Và, chiếc áo đen của LM HQ cũng đã nhuốm đầy mùi chính trị. [ Tr. Q = Thích Trí Quang ; HQ = Thích Huyền Quang; ĐN = Thích Đức Nghiệp; TC = Thích Tâm Châu; LM HQ = Linh mục Hoàng Quỳnh ]
Phải nhìn nhận, từ 1963 tới nay AQ là tiệm đã sản xuất và tung ra thị trường nhiều chính khách hơn cả. Phần lớn sản phẩm của AQ là những khuôn mặt mới, nhưng cũng có một vài sản phẩm mạo hóa.
Nghĩa là, có những chính khách mang nhãn hiệu AQ được bày bán ở thị trường nhưng phẩm chất đích thực lại không phải do AQ sản xuất. Chẳng hạn như bà LSNPĐ, TS V.V.M. [ (bà) Luật sư Nguyễn Phước Đại; TS VVM = tiến sĩ Vũ Văn Mẫu ].
Gần đây người ta nhắc nhiều tới một sản phẩm được coi như của AQ đó là ông DVM [ Dương Văn Minh ], nhưng thực sự ai cũng biết ông DVM vốn không phải do hãng sản xuất chính khách AQ chế tạo.
Các sự kiện nêu trên cho thấy 2 khía cạnh của 1 vấn đề mà chúng ta đã có dịp trình bày từ các bài trước: giá trị của nhãn hiệu chính đảng đã mất; Tôn giáo trở thành thế lực chính trị hiển nhiên.
Trong các cuộc bầu cử, nếu ứng cử viên do một chính đảng công nhận và chính thức đưa ra, sẽ nắm nhiều phần thua, nhưng nếu do một tôn giáo lớn đưa ra, sẽ nắm nhiều phần thắng.
Cứ xem cuộc bầu cử bán phần Thượng Viện vừa qua ắt rõ: Trong 3 liên danh đắc cử, thì 1 mang nhãn hiệu Phật giáo AQ, 1 mang nhãn hiệu Công giáo, liên danh thứ ba cũng đã phải trông chờ vào nhiều phần tử tôn giáo nằm trong liên danh. Kỳ dư, các liên danh của những đảng thân chính quyền hay đối lập với chính quyền đều rớt một cách thảm hại.
( còn nữa )
LTC phụ chú:
➯ Thích Trí Quang sinh ngày 21-12-1923 tại Quảng Bình. Là đệ tử của Hòa Thượng Thích Trí Độ, Chủ tịch Hội Phật Giáo Cứu Quốc, vốn là Hội Phật giáo do Việt Minh đẻ ra. Do đó, Trí Quang bị thực dân Pháp bắt giam năm 1946. Năm 1947, khi được thả, ông theo Việt Minh vào chiến khu chống Pháp. Nhưng không bao lâu sau đó ông từ bỏ Việt Minh và trở lại miền Nam tu hành cho tới năm 1963. Tháng 5-1963, dưới chiêu bài ‘cảm thấy có trách nhiệm phải đứng lên bảo vệ Phật tử và Đạo pháp’ sau sự kiện kên bằng “Pháp Nạn Phật giáo’ với 8 thanh niên Phật tử bị bắn chết trong đám đông biểu tình bạo động chống chính phủ vào đêm 8-5-1963 ở bên kia cầu Trường Tiền. Trí Quang nổi như cồn qua sự kiện này mà người ta nói rằng, đó là sự kiện đánh dấu khởi đầu của cuộc đảo chánh lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963.
➯ Thích Tâm Châu sinh ngày 2-11-1921 tại tỉnh Ninh Bình, Bắc Việt. Vào Nam đầu thập niên 1950, nơi đây ông là sáng lập viên của Tổng hội Phật giáo Việt Nam tại Huế. Khi Giáo hội Phật giáo Thống nhất (GHPGVNTN) thành lập vào tháng Giêng 1964, ông được bầu làm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo của Giáo hội, ông giữ chức vụ này cho đến năm 1967.
➯ Thích Huyền Quang, Thích Đức Nghiệp là các thượng tọa cùng phe Ấn Quang với Trí Quang.
Để hiểu rõ tình hình Phật Giáo tại VNCH và vì sao Phật Giáo bị chia làm 2 Khối, xin bạn đọc theo dõi phần tôi tóm lược sau đây:
Phật giáo đồ ở VNCH chia ra nhiều phe phái nhưng đại để về khuynh hướng chính trị có thể chia thành ba phe.
✦ Một phe ở các tỉnh địa đầu, một phe là người Bắc di cư vào lập nghiệp quanh vùng đô thành Sài Gòn, và phe còn lại trấn tại vùng Châu thổ Cửu Long.
✦ Các nhóm Phật giáo Tranh đấu chủ yếu dồn về ở các tỉnh địa đầu giới tuyến, nguyên cả một vùng có Quân đoàn I trong đó. Thích Trí Quang, là thầy tu hoạt động dưới danh nghĩa Phật giáo đình đám nhất, là thủ lãnh của nhóm này. Nếu nói về mặt chính danh thì ông ta chỉ mang một chức sắc tôn giáo, thế nhưng đó lại là người xách động khá hữu hiệu. Ông ta ưa làm dư luận sôi sục và quy tụ các tu sĩ vốn bàng quan về chính trị của miền Nam lại rồi đem các giáo ngữ đặc trưng như “bảo vệ đạo pháp” hoặc “tự do tín ngưỡng” cấy vào các chủ đề chính trị. Trí Quang bị tố cáo là thân Cộng, chứa chấp những phần tử tay chân của Cộng sản miền Bắc gài vào dựa hơi để làm loạn phá rối chính quyền Quốc Gia. Mặt khác, những luận điệu của Trí Quang đã bộc lộ một đường lối cực đoan bài ngoại kết hợp với tuyên ngôn “hòa bình bằng mọi giá”. Có thể Trí Quang không về phe với cộng sản, nhưng ông ta rất ngây thơ về chính trị, thốt ra nhiều luận điệu sặc mùi ý thức hệ một chiều quá tương cận với CSBV nếu ta đem so với sự đa chiều thoải mái của miền Nam Quốc Gia.
✦ Phe quanh vùng thủ đô Saigon thì do Thích Tâm Châu dẫn dầu, có nhiều người Bắc di cư nên họ có cảm tình với chính quyền Quốc Gia hơn. Thích Tâm Châu là Hội Chủ Tổng hội Phật giáo, một cơ cấu điều hành không mấy chặt chẽ đối với nhiều tông phái Phật giáo phân nhánh của Việt Nam. Giống như Trí Quang, mục tiêu chính của Tâm Châu là quy tụ các hội đoàn, tông phái Phật giáo về một mối, và góp sức với Hiến chương Phật giáo được chính phủ phê chuẩn để thành lập Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) ở miền Nam Quốc Gia [ 1 Vụ Hiến Chương Phật Giáo ] như một Giáo Hội chính thức danh chánh ngôn thuận. Tâm Châu đã thuyết phục thành công mười bốn trong số mười sáu hệ phái Phật giáo gia nhập GHPGVNTN. Sau vụ đảo chính ông Diệm, ban đầu Tâm Châu đứng chung với Trí Quang, nhưng rốt cuộc ông đã đoạn giao với Trí Quang và quay về thế hậu thuẫn sau lưng chính quyền Quốc Gia.
(✦ Phe thứ ba, chủ yếu là Sư sãi Việt gốc Miên ở vùng hạ lưu Châu thổ Nam Phần hay Nam kỳ Lục tỉnh, thường ít đả động tới chính trị. Đây là phe cánh Phật Giáo coi như không đáng kể ở miền Nam Quốc Gia).
Sau khi lập trường hoạt động của Thích Tâm Châu đổi chiều, thì mối bất bằng giữa Thích Tâm Châu với Thích Trí Quang ngày một loang dần.
Từ nhiều ngày trước tháng 9-1966, vụ khủng hoảng nội bộ Giáo hội Phật giáo do tranh chấp giữa đôi bên đã bùng ra. Từ trước, Tâm Châu đã tạm lánh mặt 2 tháng trong khi chờ cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến (vào ngày 11-9-1966) hoàn tất, và vào ngày 15-9-1966, Thích Tâm Châu quay về Sài Gòn giành lại Viện Hoá Đạo từ tay các đối thủ trong giới Phật giáo Tranh đấu. Vị Tăng Thống Giáo hội Phật giáo [ Hoà thượng Thích Tịnh Khiết ] kêu gọi mở một Đại Hội để dàn xếp tranh chấp giữa Trí Quang và Tâm Châu. Ngày 2-10, nhằm có thẩm quyền trước khi Đại Hội Phật giáo [ 2 ] diễn ra, Tâm Châu về lấy lại Viện Hoá Đạo ở Việt Nam Quốc Tự và buộc Hội đồng Viện Hoá Đạo [ do Thượng toạ Thích Thiện Hoa được phe Ấn Quang bầu làm Quyền Viện Trưởng từ ngày 23-7-1966 nhân lúc Thượng toạ Thích Tâm Châu tạm lánh mặt 2 tháng ] phải thoái vị. Tâm Châu rắp tâm bầu ra một Hội đồng Viện mới và giũ bỏ hết vây cánh của Trí Quang. Với những toan tính của Tâm Châu, Đại Hội Phật giáo được triệu tập từ ngày 21 đến 22 tháng 10 [ tại Việt Nam Quốc Tự, số 16 đường Trần Quốc Toản, Cholon ], lập tức trở nên lộn xộn với nhiều lời qua tiếng lại bất đồng, đã vậy giới Phật giáo Tranh đấu còn vu cho Tâm Châu đủ thứ, từ “thân Chính quyền” cho tới bị Hoa Kỳ mua chuộc với “một triệu Mỹ kim” [ 3 ]. Đó là luận điệu vu cáo vừa xảo trá vừa nực cười nếu ta biết rằng CIA đã chi tiền cho Trí Quang trong mấy năm liền [ 4 ]. Trong khi Đại Hội đang lắm rối ren thì các Thượng toạ vây cánh với Trí Quang quay về chùa Ấn Quang [ số 243 đường Sư Vạn Hạnh, Cholon ] và tự bầu ra một Hội đồng Viện của riêng họ [ 5: xem chi tiết ở trang 29 & 30 “Bạch Thư về Vấn đề Chia rẽ của Ấn Quang với Việt Nam Quốc Tự” ]. Tâm Châu tố giác Hội đồng mạo nhận này và tuyên bố dự định thành lập một Giáo hội Phật giáo Thống nhất Cải cách. Được Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ (lúc này đương chức Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, tương đương Thủ Tướng VNCH, điều hành chánh phủ) kín đáo yểm trợ, đến cuối năm 1966, Tâm Châu đã gầy được một liên minh từ các hệ phái khác nhau gồm thâu vào Giáo hội Phật giáo, đẩy Trí Quang vào thế cô lập ở chùa Ấn Quang. Một ký giả viết rằng “Bị cảnh sát truy lùng, bị rách bươm vì óc bè phái phe cánh và bị nhục mặt tai tiếng chính trị khi hô hào tẩy chay bầu cử bất thành, Trí Quang và bầy bộ hạ của ông ta dường như trắng tay chẳng còn sức bật đòn bẩy nào”. Trên vũ đài chính trị, thế lực của Trí Quang coi như đã tàn, nhưng các bài báo bảo rằng ông ta đã hết thời thì hãy còn hấp tấp quá.
Chú thích:
[ 2: kể từ đây, bỗng nhiên có 2 Viện Hoá Đạo: một thuộc Khối Việt Nam Quốc Tự - Thích Tâm Châu và một (tiếm danh) thuộc Khối Trí Quang (Ấn Quang). Nhưng cũng kể từ lúc này (tháng 10-1966) trở đi, trên các sách khảo cứu và Nhật Báo Saigon dùng danh từ “Viện Hoá Đạo đường Trần Quốc Toản” hoặc “Viện Hoá Đạo Việt Nam Quốc Tự” để trỏ Khối Viện Hoá Đạo để phân biệt với Khối Ấn Quang (bên phe Ấn Quang không hoặc ít dùng danh từ “Viện Hoá Đạo”, thay vào đó, thường là họ dùng danh từ “Viện Tăng Thống” ]
[ 3: xin đọc Ahern, CIA and the Generals, trang 38. Ahern chú rõ rằng cho đến giữa mùa hè năm 1966, CIA mới thôi không trả tiền cho Trí Quang nữa.
[ 4: bài báo “Political Power of Buddhists Only a Memory in Vietnam,” đăng trên báo Mỹ New York Times, Dec. 19, 1966, trang 4.
[ 1 Vụ Hiến Chương Phật Giáo: Để diễn bày rõ sự kiện cuộc đấu “tranh chấp về Hiến Chương Phật giáo” tạm tính từ ngày 18-7-1967 giữa hai phe/khối Phật giáo (Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang), trước hết, tôi xin tóm lược các diễn tiến hầu bạn đọc như sau:
- Bản Hiến Chương đầu tiên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) hình thành sau một Đại hội Thống nhất Phật giáo gồm 11 Giáo Phái và Hội Đoàn Phật Giáo nhóm họp tại Chùa Xá Lợi Saigon từ ngày 30-12-1963, đạt kết quả biểu quyết vào ngày 04-01-1964 (thường gọi là Hiến Chương 04-01-1964). Hiến Chương 04-01-1964 được công nhận bởi Sắc luật 158-SL/CT ngày 14-05-1964 do chính phủ Nguyễn Khánh chuẩn y.
- Hiến Chương 04-01-1964 được tu chính lần thứ nhất tại Đại hội Khoáng đại kỳ II của GHPGVNTN ngày 14-12-1965, và được Sắc luật 005/66 do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia ký chuẩn y ngày 26-02-1966.
- Bản “Hiến Chương tu chính” (lần thứ hai) do Khối Việt Nam Quốc Tự (Thích Tâm Châu) tu chính vào ngày 14-3-1967, và đã được Sắc luật 023/67 do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu ký chuẩn y ngày 18-7-1967. Điều 2 của Sắc Luật 023/67 huỷ bỏ Sắc Luật số 005/66.
Kể từ đây mới sinh ra cuộc tranh chấp gay gắt không dứt giữa 2 Khối Phật giáo nói trên, hay nói đúng hơn là tranh chấp xuất phát từ phe Ấn Quang, vì Ấn Quang cho rằng, Sắc Luật 023/67 thừa nhận Bản “Hiến Chương tu chính” (lần thứ hai) tức là duy chỉ có Khối Việt Nam Quốc Tự là có tư cách hợp pháp chính thức. Việc tranh chấp này biến thành cuộc tranh đấu quy mô đối kháng lại chính quyền qua sự kiện Ngày 28-9-1967 có 500 tăng ni thuộc phe Ấn Quang, hồi hơn 8 giờ sáng, đã đi tuần hành từ Cholon qua tới trước Dinh Độc Lập trao thư yêu cầu thu hồi Sắc Luật 023/67 thừa nhận Hiến Chương mới của Phật giáo do Viện Hoá Đạo đường Trần Quốc Toản soạn thảo. Tại đây đã diễn ra buổi Đối thoại 20 phút giữa Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thượng toạ Thích Trí Quang. Các tăng ni ra về lúc quá trưa.
Xin xem ở dưới đây bài tường thuật của nhựt báo Chính Luận Sept. 30, 1967 về cuộc đối thoại này, kèm một vài hình ảnh của vụ Phật giáo Tranh đấu này. Chú ý, các hình ảnh là thuộc © Bettmann/CORBIS và Photographer Co Rentmeester của tạp chí LIFE của Mỹ đăng tải lúc đương thời (thường là không có chú thích), nay LTC tôi tra cứu tin tức từ các số nhật báo Chính Luận, Tiền Tuyến và chú thích lại hình ảnh cho rõ ràng.
➯ Linh mục Hoàng Quỳnh là khuôn mặt tiêu biểu vang tiếng nhất trong khoảng tám trăm ngàn người Công giáo miền Bắc di cư vào Nam. Tại Bắc Việt, Hoàng Quỳnh từng chỉ huy Tổng bộ Tự vệ Công giáo nổi tiếng thuộc hạt Phát Diệm đã đẩy lui quân Cộng sản nhiều năm liền. Sau Hiệp định Genève 1954, Hoàng Quỳnh chăn dắt giáo dân trong Nam, cuối cùng ông về ngụ tại giáo xứ của ông ở Sài Gòn, tại đây ông nẩy nở mối thân thiết với ông Diệm. Trước mối nguy sinh ra từ các vụ Phật giáo Tranh đấu vào năm 1965 đã thôi thúc Hoàng Quỳnh lập ra “Lực lượng Đại Đoàn Kết”, mà cuối cùng chuyển thành một chính đảng thân Công giáo là Nhân Xã Đảng (Việt Nam Nhân xã Cách mạng Đảng). Hoàng Quỳnh trở thành một lãnh tụ chính trị xông xáo trực diện, và Lực lượng Đại Đoàn Kết cũng đồng lòng với ông một tuyên ngôn lập trường theo đó đòi hỏi phải đạt được chiến thắng quân sự trước Cộng sản.
Một vài hình ảnh quý ghi lại cuộc tranh đấu của phe Phật giáo Ấn Quang khởi từ ngày 28-9-1967 tại Saigon. Photos by © Bettmann/CORBIS và Photographer: Co Rentmeester của tạp chí LIFE của Mỹ vốn không ghi chú thích. Sưu tập và chú thích by Le Tung Chau Sept. 2023.
#Chính Luận Sept. 30, 1967 trang nhất #Chính Luận Sept. 30, 1967 trang nhất
CUỘC ĐỐI THOẠI . . . ĐẦU ĐƯỜNG
CUỘC ĐỐI THOẠI SÔI NỔI ĐẦU ĐƯỜNG GIỮA Trung Tướng THIỆU và Thượng Tọa TRÍ QUANG
SAIGON, 29.9 Hai ngày trước khi Quốc Hội lưu nhiệm họp để xét kết quả cuộc bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống của nền Đệ nhị Cộng Hòa Việt Nam, 500 tăng ni dưới quyền chỉ đạo của Thượng Tọa Trí Quang đã xuống đường kéo đến Dinh Độc Lập đòi hủy bỏ bản Hiến Chương mới và phục hồi Hiến Chương cũ cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Như Chính Luận đã loan báo trong số báo hôm qua, cuộc xuống đường của tăng ni đã diễn ra trong bầu không khí ôn hòa và trật tự và được xe Cảnh Sát không có võ trang dẫn đường. về cảnh sát không có trang dẫn đường. Vì không nỡ để cho tăng ni ngồi phơi nắng trong khi một phái đoàn chỉ đạo đi vào trong Dinh hội kiến với các nhà lãnh đạo quốc gia, T.Tọa Trí Quang đã đối thoại với Trung Tướng Thiệu trước cửa Dinh Độc Lập. Cuộc đối thoại «giữa đầu đường» này rất hào hứng và sôi nổi trong khi người ta thấy thoáng trong hàng biểu ngữ có nhiều biểu ngữ viết "Tưởng Thiệu không xứng đáng lãnh đạo QG".
10g15, Đoàn Tăng Ni kéo tới trước Dinh Độc Lập. 10g25, một đoàn cảnh sát dã chiển tới tăng cường với dùi cui cầm tay, lựu đạn cay gài sau lưng. Đứng gần đó, phía bên phải lề đường Dinh Độc Lập, là Chuẩn Tướng Loan vận thường phục tay cầm chai la de 33 đi đi lại lại.
Dưới trời nắng gắt, các tăng ni đã sắp hàng ba đứng dàn dài từ trước cổng Dinh Độc Lập tới đường Pasteur. Còn dân chúng thì đứng ở 2 bên lề đường. Các ký giả trong và ngoài nước quen như mọi lần đứng bao quanh lấy các thượng tọa lãnh đạo cuộc biểu tình mà chụp hình, mà phỏng vấn. Nhưng, chỉ trong giây lát ngắn ngủi, nhân viên cảnh sát đã tới nhã nhặn yêu cầu «các anh chị chép gì thì chép, bây giờ hãy lui ra bên kia đã» (bên kia tức là lề đường đối diện với Dinh Độc Lập). 10g30 ông Đổng Lý Văn phòng UBLĐQG (Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia), Đại Tá Vũ Đức Nhuận vận âu phục bước ra tiếp xúc với phái đoàn Tăng Ni.
Đại Đức Thích Hộ Giác dùng máy phóng thanh cung thỉnh 4 vị Thượng Tọa trong UBBVHC [ ủy ban bảo vệ hiến chương ] trình thỉnh nguyện thư lên Trung Tướng Chủ tịch UBLĐQG [ Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, tương đương Quốc Trưởng ].
Khi Đại tá Nhuận cầm thỉnh nguyện thư quay vào lập Dinh Độc Lập, Đại Đức Hộ Giác cho biết là các tăng ni tiếp tục ngồi lại đây để chờ đợi sự trả lời của Trung Tướng Thiệu rồi sau đó mới «ra về trong trật tự». 10g40, Các tăng ni ngồi xuống đường tụng kinh. Trong số những biểu ngữ viết bằng Anh và Việt ngữ mà các tăng ni đem theo, có vài cái đáng chú ý như "Tưởng Thiệu không xứng đáng lãnh đạo Quốc gia", "Phản đối Tướng Thiệu đù đày Phật tử", "Phản đối Sắc luật 23/67", "Phản đối âm mưu phân hóa Phật giáo".... 10g45, Đại tá Nhuận trở ra cho biết Tướng Thiệu mời 2 vị đại diện của phái đoàn vào trong Dinh nói chuyện. Đại Đức Hộ Giác tỏ ý bằng lòng, nhưng Thượng Tọa Trí Quang không chịu. Ông đề nghị hoặc Tướng Thiệu ra đây hoặc để cho tất cả Tăng Ni vào gặp «vì nếu để đại diện vào, còn Tăng Ni ở lại ngồi dưới nắng, không đành.»
TƯỚNG THIỆU, TƯỚNG KỲ ra
11 giờ 15, có tin Tướng Thiệu sắp ra, cảnh sát liền được lệnh đẩy lui ký giả ra xa 20 thước. Một số ký giả cứ đứng ì ra khiến một vị chỉ huy Cảnh Sát (vận thường phục) nổi nóng hét to: « Nếu không lui sẽ dùng sức ». Nhiều ký giả ngoại quốc đã nổi sùng chống cự lại khi thấy mình bị đẩy quá mạnh.
Nhưng sau đó, có lẽ cảm thông với báo chí, nên cảnh sát đã cho những ai có giấy tờ chứng nhận là ký giả được lọt qua khỏi hàng rào tay của cảnh sát để bước vào lề đường phía Dinh Độc Lập.
11 giờ 35, phía trong hàng rào sắt của Dinh Độc Lập được tăng cường 1 tiểu đội binh sĩ tay cầm khí giới.
11 giờ 46, chính quyền thông báo Trung Tướng Thiệu sẽ ra nói chuyện với Tăng Ni.
Đi cùng Trung Tướng Thiệu có Thiếu Tướng Kỳ, Đại Tướng Cao Văn Viên, Thiếu Tướng Linh Quang Viên.
Tướng Thiệu lên tiếng
Ngỏ lời với Tăng Ni, Trung Tướng Thiệu cho biết thể theo lời yêu cầu của các Tăng Ni, nhà cầm quyền đã để cho các Tăng Ni đến đây một cách tốt đẹp.
Và khi phái đoàn tới đây, ông đã cho ông Đổng lý Văn phòng ra nhận thư thỉnh nguyện. Sau khi đọc xong thư thỉnh nguyện, ông đã cho ông Đổng lý ra nói với phái đoàn là ông sẵn sàng mời một phái đoàn chức sắc vào dinh « thảo luận một cách cởi mở », Trung Tướng Thiệu nói tiếp: « nhưng rất tiếc quý vị từ chối lời mời ».
« Để giải quyết tình trạng đất nước, và chứng minh một lần nữa chúng tôi không có ý gì miệt thị quý vị, và cũng không đặt nặng vấn đề tự ái trong chức vụ Chủ tịch UBLĐQG nên tôi cũng ra đây để đầu trần đứng dưới nắng như quý vị ».
Đề cập tới vấn đề Hiến chương mới của Phật giáo, Trung Tướng Thiệu cho biết là ông có nhận được mấy lá thư của các thượng tọa bên chùa Ấn Quang gửi lên, nhưng sở dĩ ông không trả lời, vì trên phương diện pháp lý, chính quyền chỉ liên lạc với một Viện Hóa đạo và 1 vị Viện trưởng mà thôi. Ông mong «quý vị thông cảm cho điều đó.» Tuy nhiên để giải quyết vấn đề một cách êm thắm tốt đẹp Trung Tướng Thiệu cho hay là ông gửi người trung gian tiếp xúc các Thượng Tọa với tư cách cá nhân để tìm hiểu sự mong muốn của các Thượng Tọa cũng như giải thích lập trường của chính quyền.
Còn về vấn đề các Thượng Tọa bảo Tướng Thiệu miệt thị Phật giáo, tướng Thiệu nhấn mạnh: « quý vị nói tôi miệt thị, điều đó hoàn toàn không đúng ». Ông nói tiếp: « chúng tôi nghĩ rằng với cương vị 1 người lãnh đạo quốc gia, vì có trách nhiệm đối với quốc dân, để giải quyết tình trạng đất nước, nên chúng tôi đã gạt bỏ vấn đề tự ái cá nhân, ra đây tiếp xúc với các tăng ni, như vậy không thể nói là tôi miệt thị quý vị được ».
Đề cập tới bản tuyên cáo số 1 do các Thượng Tọa bên chùa Ấn Quang phổ biến trong cuộc họp báo ngày 24-9-67, Trung Tướng Thiệu nói là tuyên cáo này có sự xen lấn giữa vấn đề chính trị với bản Hiến Chương Phật giáo. Ông nói từ ngày bầu cử tới nay, ông không mở miệng nói một tiếng gì, vì ông quan niệm đó là quyền của Quốc Hội, quyền của nhân dân, cho nên «khi quý vị nói bầu cử gian lận, Thượng Nghị viện nằm trong tay Cần Lao điều đó chúng tôi không dám nói.
Nếu bảo bầu cử gian lận, thì đã có Quốc Hội và Hội đồng Tuyển cử Trung ương cứu xét. Còn việc Thượng viện là của Cần Lao hay không là do dân chúng sử dụng quyền tối thượng bằng lá phiếu của mình.»
Về việc ký bản Hiến chương Phật giáo mới, tướng Thiệu cho rằng, đứng trên cương vị chính quyền và chỉ có thể công nhận một Viện Hóa Đạo, nên về khía cạnh pháp lý, chính quyền chỉ biết VHĐ và Thượng Tọa Tâm Châu mà thôi (có nhiều tiếng la ó phản đối). Trung Tướng Thiệu nói tiếp: « Thượng Tọa Tâm Châu đưa bản Hiến chương lên, chúng tôi quan niệm đó là của 1 đoàn thể, nên không xen vào nội bộ. Chúng tôi chỉ làm công việc chuẩn y, chứ không xé Hiến chương nào cả. Hiến chương mới này do chính Thượng Tọa Tâm Châu lúc đó là viện trưởng đệ lên, cho nên vấn đề Hiến chương này hay Hiến chương nọ, đối với chính quyền, nó chỉ có giá trị đối với các ông Viện trưởng và những người ký trong bản Hiến chương đó. Thật sự, chúng tôi không có xé Hiến chương. Chúng tôi cũng không có truất phế đức Tăng thống, vì chính quyền không được lạm quyền đó ».
Còn việc yêu cầu thu hồi sắc luật 23/67, tướng Thiệu cho biết cần phải có một thời gian để UBLĐQG và UBHPTƯ thảo luận lại. Tướng Thiệu nhấn mạnh: « quý vị bảo hiến chương này không giá trị, phi pháp, chúng tôi đứng trên lập trường lúc nào cũng muốn Phật giáo thống nhất ».
« Nếu quý vị thấy chính quyền có thể làm được gì để chấm dứt tình trạng phân hóa, chúng tôi sẵn sàng làm việc đó. Quý vị đòi chúng tôi thu hồi sắc luật đó ngay tức khắc, trong khi chúng tôi còn cần thảo luận với UBLĐQG, chúng tôi phải mời vị viện trưởng VHĐ mới và Thượng Tọa Tâm Châu tới thảo luận. Sáng nay Thượng Tọa Tâm Châu có nói với chúng tôi là sẵn sàng gặp Thượng Tọa Trí Quang bất cứ ở chỗ nào, bất cứ lúc nào để đặt lại vấn đề Hiến Chương và Thống nhất Giáo hội. Nếu quý vị chấp nhận, chúng tôi sẽ mời Thượng Tọa Tâm Châu, Thượng Tọa Trí Quang cùng chúng tôi thảo luận, đi đến một giải pháp tốt đẹp cho quốc gia. Nếu quý vị muốn tiếp xúc riêng với Thượng Tọa Tâm Châu để giải quyết, chúng tôi sẵn sàng. Nếu quý vị cần tới chúng tôi, chúng tôi sẽ đến để tìm giải pháp với một tinh thần rất là vô tư ».
Sau hết, Trung Tướng Thiệu mong « quý vị thông cảm cho ».
T.Tọa Trí Quang trả lời
Tới đây, Thượng Tọa Trí Quang, đại diện cho 500 Tăng ni đã ngỏ lời với tướng Thiệu là Thượng tọa không thể để cho 500 Tăng ni ngồi ngoài nắng đợi một phái đoàn vào tiếp kiến tướng Thiệu được. (Có nhiều tiếng vỗ tay khiến Thượng Tọa Trí Quang phải yêu cầu «miễn cho việc vỗ tay để chúng tôi được thưa chuyện cùng quý vị lãnh đạo quốc gia»). Sau khi cám ơn các tướng lãnh đã ra tiếp xúc, Thượng Tọa Trí Quang nói là Thượng Tọa đã lãnh hội tất cả những lời trình bày của Trung Tướng Thiệu và nhận thấy rằng «lập trường của chính phủ từ cuộc họp báo của Phật giáo tới nay vẫn là duy nhất.» Theo Thuợng Tọa, sắc luật 23 là một sắc luật vượt quá luật lệ hành chánh, «rõ ràng là hiến chương đã bị xé, tôn giáo bị thủ tiêu về pháp lý, do đó tính mạng chúng tôi kể như không còn nữa.» T. Tọa nhấn mạnh: «chính quyền đã xen vào nội bộ PG, chứ không phải nội bộ PG phân hóa. Chúng tôi không thể nào chấp nhận những tên giáo gian với sự hỗ trợ của chính quyền để phản giáo. (Tới đây lại có tiếng νỗ tay khiến Thượng Tọa Trí Quang phải yêu cầu ngưng vỗ tay một lần nữa đề giữ lễ độ trong cuộc nói chuyện với các vị lãnh đạo quốc gia.) T. Tọa Trí Quang nói tiếp «nếu quý vị thấy nguyện vọng chúng tôi là đúng, thì quý vị hãy lắng nghe và giải quyết ngay. Còn nếu quý vị cho là không đúng thì chúng tôi là kẻ có tội đáng chém, quý vị hãy cho lập pháp trường cát tại đây, chúng tôi sẵn sàng thọ tội.».
Trình bày về việc thành lập VHĐ mới, T.Tọa Trí Quang cho rằng Đại hội Phật giáo trước đây đã chính thức tiếp nhận sự từ chức của Thượng Tọa Tâm Châu và chính đại hội này cũng đã bị phá hoại bởi nhiều phần tử được sự hỗ trợ của chính quyền. Do đó, các Thượng Tọa phải bầu ra 1 hội đồng VHĐ mới, và Hội đồng này đã làm việc trong sự chèn ép cũng như không được chính quyền công nhận. Thượng Tọa Trí Quang nhấn mạnh là «Giáo hội không phải là ở nơi một người nhờ thế lực của chính quyền tạo ra, mà quan niệm rằng Giáo hội phải bảo vệ sự thuần nhất.»
Để kết luận Thượng Tọa Trí Quang đã ngỏ lời cảm ơn Trung Tướng Thiệu đã «dành cho chúng tôi một sự lễ độ, tỏ ra xứng đáng một người lãnh đạo quốc gia»
Đáp từ của tướng Thiệu
Lên tiếng lần thứ nhì, Trung Tướng Thiệu xin các tăng ni đừng nghĩ đến là «chúng tôi không cứu xét tới nguyện vọng của quý vị. Chúng tôi sẽ cứu xét với tất cả thiện chí. Còn như quý vi bảo tới đây như kẻ có tội có thể đem xử bắn, trong thâm tâm chúng tôi không bao giờ nghĩ tới. Chúng tôi sẽ triệu tập UBLĐQG, chính phủ, và nếu quý vị chấp nhận, chúng tôi sẽ mời quý vị tới thảo luận. Nếu quý vị không chấp nhận ngồi chung với Thượng Tọa Tâm Châu hay Viện Hóa Đạo, đó là quyền của quý vị, chúng tôi sẽ cứu xét nguyện vọng của quý vị với tất cả thiện chí, cần phải có một thời gian tối thiểu. Nếu quý vị bằng lòng, chúng tôi sẽ mời quý vị vào thảo luận ngay bây gιờ.
T.Tọa Trí Quang lại có ý kiến
Để trả lời Trung Tứng Thiệu, Thượng Tọa Trí Quang nói là khi đi, các vị hòa thượng đã nhắn nhủ các tăng ni phải mang về sắc luật 005/66, do đó nếu không nhận được điều gì gọi là một chút cho đỡ khổ tâm, thì phái đoàn không thể về được, vì không dám phụ lòng ủy thác của các Hòa Thượng. Nếu 24 giờ đồng hồ sau, Tăng ni không nhận được gì mới mẻ, thì chúng tôi sẽ quay lại gặp quý vị. Nếu Trung Tướng chấp thuận cho ngồi đâu, anh em chúng tôi sẽ nghe theo hầu chuyện quý vị 1 ngày hay 100 ngày cũng được. Nhân dịp này, T. Tọa Trí Quang cho biết, cách đây 48 tiếng đồng hồ, ông mới được gặp «một đại diện bán công khai của Trung Tướng»
Tướng Thiệu lên tiếng lần thứ 3
Lên tiếng lần thứ 3, Trung Tướng Thiệu cho biết là 12 hay 24 tiếng đồng hồ, ông không thể nào trả lời dứt khoát ngay được. Chúng tôi sẽ thảo luận với quý vị trong thiện chí, cởi mở, xin quý vị yên tâm. Có lẽ trong chiều nay, tôi sẽ mời quý vị tới thảo luận.
5 vị Thượng Tọa Đại Đức ở lại
Tới dây T.Tọa Trí Quang hạ lệnh cho tăng ni, Phật tử ra về, còn ông và cái vị trong UBBVHC ở lại « hầu chuyện với Trung Tướng ngay từ bây giờ ».
Lên tiếng lần thứ tư, Trung Tướng Thiệu nói: «chúng tôi sẽ mời quý vị nào ở lại tới một chỗ nào đàng hoàng đầy đủ tiện nghi để thảo luận của một cách cởi mở. Đó là lời thành thật một người lãnh đạo quốc gia cũng như của một công dân đối với một Tôn giáo.»
Trong khi đó, T. Tọa Trí Quang mặc đầu đã hạ lệnh cho Tăng ni ra về nhưng ông vẫn còn nghi ngờ lời hứa của Trung Tướng Thiệu nên «xin phép được ngồi lại đây.»
Khi Trung Tướng Thiệu và các tướng lãnh trở vào Dinh Độc Lập, lúc đó là 12 giờ 25, các Tăng Ni Phật tử lần lượt ra về trong trật tự, còn lại 5 thượng tọa là Trí Quang, Pháp Tri, Quảng Long, Pháp Lan và Hộ Giác.
Và để khỏi kẹt đường xe cộ lưu thông, các thượng tọa đã lại ngồi bên gốc cây đối diện Dinh Độc Lập để chờ sự trả lời của Trung Tướng Thiệu.
LTC phụ chú:
Khi đoàn tăng ni cứ ngồi lì ở công viên bên kia đường [ trước Dinh Độc Lập ], tướng Thiệu cho lập một vòng đai cảnh sát bao vây đoàn Phật giáo Tranh đấu này nhưng cứ để mặc họ và không quấy rầy gì họ hết. Sau đó tướng Thiệu cử đặc phái viên đến du thuyết với cả Trí Quang lẫn Tâm Châu và khuyên họ ngồi lại với nhau mà giải quyết vấn đề. Trí Quang bất hợp tác và gọi Tâm Châu là “kẻ phản giáo”.
Ông Thiệu rất khéo nói với báo chí rằng đây là một sự vụ thuần tôn giáo chứ chẳng phải chính trị, tuy vậy ông sẵn sàng bàn thảo với cả hai phe Phật giáo. Ông cũng khéo điều động đằng sau hậu trường, đánh trúng tim đen của phe Ấn Quang bằng cách gây áp lực với Quốc Hội phải chấp đơn ứng cử vào Hạ Nghị Viện của các ứng cử viên thân Ấn Quang mà trong kỳ bầu cử Thượng Viện đã bị bác.
Đoàn biểu tình ngồi chẳng được công chúng hưởng ứng hay ngó ngàng gì tới, thế là trong vòng 2 tuần, đoàn teo dần chỉ còn chưa đầy 100 người.
Nhờ tướng Thiệu biết kềm chế cho nên đã dập tắt mưu mô của Trí Quang tính biến cuộc biểu tình nhỏ thành cuộc biểu tình quy mô chống chính phủ. Đã vậy, ông Thiệu còn hứa rằng nếu Trí Quang từ bỏ chuyện biểu tình đi, thì ông sẽ tái cứu xét vụ Hiến Chương.
Đến ngày 10 tháng 10, ông sân tăng này đành rút bỏ phiên tranh đấu cô độc và quay về chùa Ấn Quang. Ngay tiếp đó, Tâm Châu ra thông cáo tạm ngưng áp dụng bản Hiến Chương Tu Chính trong khi chờ có một bản Hiến Chương mới khác.
Với tài khôn khéo, thận trọng, Tướng Thiệu đã rất khéo khi giữ cho tình hình bất ổn không leo thang và qua đó cũng đã chứng tỏ rằng một Trí Quang hùng hổ ngày nào nay chỉ còn là một tay kiếm khách bị phế bỏ võ công. Ông ta sẽ chẳng bao giờ còn vác mặt xuống đường được nữa.
$pageOut $pageIn Phân đoạn 3
#Tien Tuyen Mar. 3, 1971 trang nhất
Bài 08:
VIII
Có một điều người ta có thể trông thấy rất rõ là khối AQ [Ấn Quang] có một tham vọng chính trị rộng lớn. Cuộc vận động của PG [Phật Giáo] lật đổ chế độ Đệ I Cộng Hòa đã đưa 1 số lãnh tụ Phật giáo lên đỉnh vinh quang và quyền lực. Một dạo, các vị này đã trở thành một thứ siêu chính quyền.
Thói đời, những người phút chốc được bốc lên ngồi cao quyền thế thường hay bị "say quyền lực" (ivre de pouvoir). Quyền lực trở thành một ám ảnh thường xuyên.
Vài vị lãnh đạo Phật giáo muốn thừa thắng xông lên theo chiến thuật đánh mau đánh mạnh nắm vội thời cơ.
Lẽ ra, ý đồ này có nhiều hy vọng thành đạt, nếu không có sự nứt rạn bất ngờ đưa tới chia rẽ trong nội bộ PGTN [Phật Giáo Thống Nhất].
Sự chia rẽ đó đưa tới tình trạng suy yếu trầm trọng. Khối VNQT [Việt Nam Quốc Tự] thu mình lại trong vỏ hoạt động xã hội, trong khi khối AQ tiếp tục vận động duy trì và bành trướng thế lực dưới chiêu bài đối lập, và nay thì chiêu bài khác.
Do đó, AQ trở thành trung tâm thu hút những chính khách lỡ thời, thất bại, bất mãn. Và, sau này, thêm những chính khách tập sự ùn ùn kéo tới.
Về phía AQ, vì phát triển lực lượng, bành trướng thế lực, củng cố hạ tầng nên cũng mở rộng cửa từ bi đón nhận mọi người tìm tới. Tất nhiên mọi tổ chức lúc đầu đều có sự ô hợp nên không đáng trách.
Duy có 1 điều đáng nêu ra là lập trường của khối AQ cho tới nay vẫn còn mập mờ. Khuynh hướng cũng chưa rõ rệt. Từ đó, những chính khách mang nhãn hiệu AQ cũng không tránh khỏi có những thái độ làm cho người Quốc Gia e ngại.
Không phải có ý chụp mũ, chỉ nhìn thẳng vào thực trạng người ta sẽ thấy ngay với đường lối hiện nay của AQ, kẻ thù chung sẽ rất dễ trà trộn để mập mờ đánh lận con đen.
Hẳn là các vị lãnh đạo hãng sản xuất và phát hành chính khách AQ không có dụng tâm như vậy. Song thực trạng của khối đã tạo nên kẽ hở đó. Các cuộc vận động của khối AQ gần giống với những trò thực tập đi giây.
Ngày nay, sản phẩm của AQ tràn ngập thị trường. Người ta thấy rõ đang có tình trạng lạm phát chính khách. Có những người trở thành chính khách sau một cơn ngủ mê.
Đấy lại là tình trạng chung của rất nhiều đảng phái, lực lượng, do từ sự vơ bèo gạt tép mà ra.
Đó cũng là một trong những lý do đưa tới tình trạng sinh hoạt chính trị bi thảm ngày nay.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 5, 1971 trang nhất
Bài 09:
IX
Sự bi thảm của sinh hoạt chính trị miền nam trở nên trầm trọng kể từ khi các lực lượng đảng phái hoàn toàn mất hẳn thể đứng trong quần chúng.
Họ như những tảng bèo rời rạc lềnh bềnh trên mặt nước "chạm không tới đất, cất không tới trời". Do đó các chính khách xuất thân từ đảng phái trở nên bơ vơ.
Cho tới khi chính quyền có ý định tập hợp một số chính đảng để tạo một hậu thuẫn chính trị, thì nhiều chính khách đang vất vưởng vội chạy đi tìm đồng chí để lập đảng. Với hy vọng được lọt vào mắt xanh của chính quyền.
Ở đây, chúng tôi xin phép nhấn mạnh cả chính quyền lẫn các chính khách và chính đảng đều phạm lầm lỗi lớn.
Chính quyền lầm tưởng các chính đảng có thực lực, hay ít ra tập hợp họ lại thì sẽ có một thực lực chính trị. Tại sao lại bảo chính quyền quan niệm như vậy là lầm lẫn, chúng tôi đã trình bày ở những bài trước.
Các chính khách lầm lẫn vì tưởng rằng với nhãn hiệu chính đảng này chính đảng nọ, họ sẽ được quần chúng tin tưởng, do đó họ sẽ thành công trong sự nghiệp chính trị.
Các chính đảng lầm tưởng với thế lực giả tạo họ có thể lòe thiên hạ và "mặc cả" được với chính quyền để đổi lấy một hai ghế trong chính phủ và trong các cơ cấu dân cử.
Nói một cách văn hoa đôi chút thì tất cả đã là một ngộ nhận lớn lao.
Tuy nhiên, chúng tôi muốn thẳng thắn nhìn nhận ý hướng tốt của chính quyền khi cố gắng lập ra một đảng chính quyền. Hành động này ít ra cũng đáp ứng phần nào sự khuyến khích của Hiến Pháp tiến tới một chế độ chính trị lưỡng đảng.
Nếu chính quyền thành công trong việc tạo lập một đảng cầm quyền có thực lực thì có lẽ những đảng phái ở ngoài chính quyền nhất là những đảng phái sẵn có đường lối đối lập đã phải thấy ngay một nhu cầu cấp bách là đứng vào với nhau để tạo thế đối lập lớn tương xứng.
Từ đó, ý hướng tiến tới một sinh hoạt chính trị lưỡng đảng sẽ dễ dàng.[ * ]
Nhưng rất tiếc, tinh thần quyền lợi phe nhóm còn quá nặng. Thực lực không có, và các lãnh tụ mải mê với quyền lợi cá nhân, đã không chịu củng cố. Cho nên sự kết hợp của 6 đảng phái đã chỉ làm cho thể chính trị của Quốc gia thêm nát.
Khi đảng chính quyền không có thực lực thì phe nhóm đảng phái bên ngoài không thấy nhu cầu cần phải kết hợp. Trái lại việc 6 đảng đứng vào với chính quyền đã khiến đẻ ra thêm một số chính đảng. Tình trạng đa đảng, do đó, cũng thêm hỗn tạp và ô hợp. Nhiều chính đảng mọc ra chỉ với mục đích duy nhất là để gạ đổi chác với chính quyền.
( còn nữa )
[ *: LTC phụ chú:
#Tiền Tuyến Apr. 8, 1969 trang nhất
Thông điệp Tổng Thống ngày 7-4-1969 kêu gọi kết hợp đảng phái
#Tiền Tuyến Apr. 8, 1969 trang nhất
Thông điệp Tổng Thống ngày 7-4-1969 kêu gọi kết hợp đảng phái
Sáng ngày 7-4-1969, đọc Thông Điệp trong phiên họp khoáng đại của Lưỡng Viện Quốc Hội
Tổng Thống Thiệu Kêu Gọi Kết Hợp Đảng Phái Quốc Gia
DÙ KẾT HỢP ĐỂ ĐỐI LẬP
★ Đích thân đứng ra tập hợp các lực lượng chính trị không phải muốn tìm hậu thuẫn để củng cố địa vị mà vì muốn thống nhất ý chí và hành động của toàn dân để đối phó với kẻ thù. ★ Hy vọng Quốc Hội sẽ chóng thông qua 2 Quy chế Báo chí và Chánh đảng. ★ Dân còn đói khát, còn bị áp bức bóc lột thì quốc gia chưa thể vững mạnh. ★ Nông dân phải trở thành tiểu điền chủ. Công nhân sẽ không còn bị bóc lột.
#Tien Tuyen Mar. 6, 1971 trang nhất
Bài 10 01
Và
#Tien Tuyen Mar. 10, 1971
Bài 10 02
(gộp hai bài vào làm một)
Bài 10:
X
Trong bài hôm qua, chúng tôi đã khẳng định «có nhiều chính đảng đã vội vã mọc lên chỉ với mục đích duy nhất là để gạ đổi chác với chính quyền.»
Đấy cũng lại là một thật sự bi thảm!
Tình trạng đa đảng ở xứ này mang hai ý nghĩa: Thứ nhất là nó chứng tỏ có sữ dân chủ tự do trong sinh hoạt chính trị. Thứ hai là nó cho thấy sự phân hóa trầm trọng trong hàng ngũ chính khách quốc gia.
Ý nghĩa thứ nhất chắc chắn chỉ là một sự rỗng tuếch. Bởi nó hoàn toàn vô ích đối với sự lớn mạnh của sinh hoạt chính trị của chúng. Trong khi đó, ý nghĩa thứ hai lại là một sự nguy hại cho đất nước vì tiềm lực chính trị của một quốc gia mà bị phân hóa thì sớm muộn cũng đưa dân tộc tới chỗ lụn bại.
Chúng ta có thể suy nghĩ trên câu nói này của Marc Aurèle «những gì không mang lợi cho tổ ong thì cũng vô ích cho con ong.»
Các vị lãnh tụ cũng cần suy nghĩ kỹ hơn. Chẳng hạn khi một đồng chí của ông HTK [ Hà Thúc Ký ] tách ra khỏi đảng (rồi lập đảng khác) với hy vọng ông sẽ được chia một ghế trong nội các, tức là ông đã làm cho đảng của ông HTK yếu đi, và chính đảng mới của ông cũng không khỏe gì. Do đó, bản thân ông cũng không có lợi lộc. Bằng cớ là rốt cuộc ông chẳng được chia tí phần xôi thịt nào.
Chúng ta còn có thể dùng một hình ảnh khác để thấy rõ cái bất lợi của tình trạng đa đảng do cái kết quả của sự phân hóa: Đó là hình ảnh những con châu chấu lẻ loi bị lũ trẻ mục đồng đem chắp sợi chỉ vào chân mà đùa chơi, và từng đàn châu chấu như thế có khả năng tiêu diệt cả một cánh đồng lúa chín trong chớp mắt.
Để đóng góp cho sự bi thảm thêm trầm trọng với tình trạng đa đảng, là sự kiện những đảng phái lại đều có khuynh hướng ly tâm — cái Tâm ở đây là quyền lợi chung của dân tộc. Mỗi đảng đều chỉ hướng về một quyền lợi của đảng mình hay đúng hơn, là quyền lợi của vị lãnh tụ đảng.
Sự phân hóa ở lãnh vực đảng đưa tới sự sa đọa ở lãnh vực cá nhân chính khách. Loại chính khách sa đọa đầy dẫy trên thị trường và mặc sức tác oai tác quái vì những người còn liêm sỉ đã rút vào bóng tối để gậm nhấm nỗi buồn cô đơn, tuyệt vọng.
Hạ Viện là một phần của "thị trưởng chính khứa". Chúng ta thấy gì ở cái phần thị trường này? Thực tế bao năm qua đã trả lời quá rõ.
( còn nữa )
Một cách thành thực chúng tôi không dám tin rằng quý vị chính khách trong tòa nhà Lập Pháp [ Hạ Viện ] sẽ có thể tái đắc cử vào tháng 8 tới đây. Cử tri ngày nay đã rất sáng suốt. Riêng đối với quí vị chính khách đang ngồi ở Hạ Viện thì cứ tri đã có kinh nghiệm.
Họ đã bị lừa bịp một lần, họ không thể bị lừa bịp lần nữa.
Dường như phần lớn quí vị đương kim Dân biểu cũng đã ý thức được điều đó. Chúng tôi được nghe một người bạn Dân Biểu tâm sự rằng từ nay đến tháng Năm, nếu không có thuốc — nghĩa là không có sự đỡ đầu của một thế lực tuyệt đối nào đó — thì ông ta sẽ trở về mở quán nước giải khát cho vợ bán.
Một ông Dân Biểu khác — mà chúng tôi cũng hơi quen biết — than rằng, kỳ bầu cử tới rất có thể ông ta sẽ phải tốn khoảng 20 triệu bạc để mua phiếu! Tất nhiên phải hiểu hai chữ «mua phiếu» nghĩa là mua của những vị có quyền thế hoặc có khả năng bán phiếu, chứ rất ít khi mua trực tiếp của cử tri.
Như chúng tôi đã trình bày, cử tri ngày nay rất sáng suốt và ý thức. Họ không đời nào bán rẻ lương tâm để lấy 500 đồng bạc. Cầm mấy trăm đó để phải bỏ phiếu cho một kẻ bất xứng là một điều sỉ nhục mà họ không thể nào chấp nhận.
Hơn thế, người dân thường có một lối lý luận giản dị: Nếu ứng cử viên là người "xứng đáng", có thành tâm thiện chí và liêm sỉ, thì ông ta sẽ không bao giờ «mua phiếu» như vậy. Một kẻ đã có thể bỏ tiền ra mua phiếu tất không tin ở tư cách của mình và, hơn thế, tất là kẻ có đầu óc mua quan bán tước. Do đó, nếu đắc cử, ông ta không ngại gì mà "bán linh hồn" để kiếm lời!
Trong ba năm vừa qua, các vị Dân Biểu, Nghị Sĩ đã kiếm chác được một số tiền khá lớn qua những vụ bán chữ ký, và xuất ngoại buôn lậu. Kỳ này, họ sẵn sàng bỏ vốn lớn để kiểm lời to trong nhiệm kỳ 71-75.
Kỳ bầu cử 67, người ta đã thấy những ông tổ tham nhũng tung ra cả 2, 3 chục triệu để đắc cử. Hầu chạy tội và tiếp tục kiếm chác. Cặp "bài trùng" ở Hạ Viện là một điển hình.
Những tay tài phiệt, tư bản, tham nhũng tung tiền ra ứng cử, tất nhiên không hề nhằm mục đích phục vụ dân chúng.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 11, 1971 trang nhất
Bài 11
XI
Khi khẳng định «những tay tư bản tài phiệt tung hàng chục triệu ra ứng cử, họ không nhằm mục đích phục vụ quần chúng,» chúng tôi đã căn cứ trên thực tế xã hội và hiện trạng sinh hoạt chính trị để rút ra luật luật đó.
Bọn tư bản tài phiệt đã ngụp lặn trong vũng bùn hôi tanh của tiền bạc. Đối với họ, tiền bạc đã trở thành cứu cánh của cuộc đời, cho nên lý tưởng phục vụ bất vụ lợi không còn trong họ nữa.
Họ ra ứng cử hay ra tham chính không ngoài một trong hai mục đích hoặc cả hai mục đích sau đây: Mua danh và tạo uy thế để củng cố cái gia sản kếch xù của họ, bảo vệ quyền lợi kinh tế của họ, từng được gầy dựng trên lưng người dân nghèo.
Ở Thượng cũng như Hạ Viện, chúng ta thấy có nhiều tay trọc phú. Và, suốt 3 năm, thử hỏi những tay trọc phú đó đã làm gì, nếu không là những vận động ngầm để độc quyền buôn bán xi măng, giây thép gai, thuốc tây v.v...
Một xã cách mạng lão thành của chúng ta đã nhận định rất đúng khi ông nói: «Bọn trọc phú không bao giờ làm chính trị vì dân chúng. Họ làm chính trị vì họ và cho họ.»
Bởi vì bọn trọc phú không bao giờ muốn có những cuộc cách mạng xã hội, là điều kiện tiên quyết cải thiện đời sống quần chúng, nâng cao mức sống đồng bào và kiện toàn sức mạnh dân tộc.
Cách mạng xã hội sẽ tước bỏ mọi đặc ân của bọn trọc phú. Một sự công bằng xã hội sẽ là kẻ thù của bọn trọc phú. Chúng ta chợ đợi những tay trọc phú nhường cơm xẻ áo cho chúng ta ư?
Đó là những lý do cắt nghĩa tại sao người dân không thể tin tưởng vào tinh thần phục vụ của những kẻ tung ra hàng chục triệu để mua một tước vị Đại diện. Người dân họ không cần 500 bạc vì nó không giúp cho đời sống họ dễ thở hơn, không giúp họ có công ăn việc làm, không giúp con cái họ có trường học. Người dân cần những sự phục vụ, cần những bộ óc sáng tạo cách mạng.
Do đó, họ cần những người thành tâm thiện chí và có lý tưởng phục vụ.
Chúng tôi muốn nói tới người dân ngày hôm nay đã sáng suốt hơn sau nhiều keo bị lừa đảo bịp bợm bởi một bọn chính khách ma đầu.
Chúng tôi có thể quả quyết rằng, nếu đã từng có những vụ mua bán phiếu thì chắc chắn không phải cử tri đã bán phiếu vì bán như thế là bán chính lương tâm mình. những phần bất cứ phải bối như vậy bản chất lâu lượng tâm hồn. Bọn chính khách trọc phú đã mua phiếu của một số kẻ có quyền uy theo từng cử tri. Chính vì thế mà có hiện tượng lạm phát chính khứa và phần lớn là những chính khứa ma đầu.
Điều chua xót là từ khi có Quốc Hội, dân chúng ngày càng khổ cực hơn cả về tinh thần lẫn vật chất. Nói như thế không phải chúng tôi phủ nhận sự hữu ích của cơ cấu lập pháp trong một chế độ dân chủ phân quyền.
Nhưng cơ cấu này chỉ hữu ích khi nó bao gồm những thành phần có tâm huyết và có tinh thần phục vụ quần chúng.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 12, 1971 trang nhất
Bài 12
XII
Trong Hạ viện của chúng ta hiện nay, người có khả năng và thiện chí đếm được trên đầu ngón tay. Ngay cả những kẻ mang danh đối lập và thường gây huyên náo cũng chỉ là những cái thùng rỗng.
Các ông DB này chưa từng làm một việc gì hữu ích thiết thực cho dân. Họ chỉ lăm le chửi chính phủ và tìm cách hạ chính phủ nếu trong đó không gồm đa số là những người đồng bọn với họ.
Hơn thế, trong khi vỗ ngực là đối lập, họ sẵn sàng bán chữ ký với giá cao. Vụ kiến nghị và vụ Luật Ngân sách 71 là một bằng cớ hùng hồn! Tất cả những ông lớn tiếng chống đối nhất đều đã thò bút ký và giơ tay biểu quyết.
Những hành vi của đa số DB trong 3 năm qua đã làm nản lòng người dân. Họ làm cho cử tri thất vọng. Trong kỳ bầu cử tới đây, hoặc là cử tri sẽ chán ngấy đến không muốn đi bầu nữa, hoặc họ bỏ phiếu bừa với ý nghĩ «chọn lựa nào thì cũng vậy thôi. Thằng nào cũng như thằng nấy.»
Phản ứng tâm lý trên sẽ rất nguy hiểm. Cuộc bầu cử sẽ trở thành một cuộc xổ số. Và nếu tình trạng đó xảy ra thì một lần nữa toà nhà lập pháp của chúng ta lại chứa đựng 90% phần tử bất xứng.
Còn một mối nguy quan trọng hơn cũng có thể xảy ra nếu cử tri đi bầu với tâm trạng "cho xong việc".
Chúng ta đều biết hiện nay, trên phương diện quân sự, Cộng sản đã thua nặng và rõ rệt; chúng đã hoàn toàn tuyệt vọng ở lãnh vực này. Do đó, chiến tranh quân sự sớm muộn cũng tàn lụi. Nhưng cuộc xung đột giữa hai ý thức hệ Quốc Gia và Cộng sản chưa thể chấm dứt vì CS không dễ gì từ bỏ ý đồ xích hóa miền Nam.
Do đó, chúng sẽ quay sang mưu tìm chiến thắng bằng phương tiện chính trị thuần túy. Nhiều nhà quan sát đã tiên đoán kỳ bầu cử 71, CS sẽ đưa người của chúng ra ứng cử, với hy vọng cài càng nhiều càng tốt tay sai của chúng vào các cơ cấu dân cử.
□ HỒNG DƯƠNG
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 14_15, 1971 trang nhất
Bài 13
XIII
Nhận xét đó không xa thực tế, vấn đề các bộ CS nằm vùng ngoài hay trong chính quyền thông phái là một điều mới lạ. Trong quá khứ, đã có những cán bộ CS nằm vùng trong cơ quan Hành Pháp cũng như Lập Pháp bị lật mặt ra. Vụ HVT [ Huỳnh văn Trọng ] và vụ TNC [ Trần Ngọc Châu, Dân Biểu ] là hai trường hợp điển hình.
Do đó, người dân không thể không cảnh giác. Chúng tôi nhắn danh một người quốc gia không chấp nhận CS có bổn phận lưu ý cử tri.
Chúng tôi cũng muốn lưu ý cả những ông chính khách đang tự nhận là đối lập – với chính quyền – nhưng hành động của các ông lại là chống người Quốc gia, chống chủ nghĩa Quốc gia.
Nói tóm lại, có nhiều ông chính khách đối lập vô ý thức, thay vì chống đường lối thi hành chính sách hay có thể chống chính sách, thì lại chống chế độ.
Quốc gia này là quốc gia chống cộng hay nói đúng hơn là quốc gia này không chấp nhận được Cộng sản, lập trường đó được ghi rất kỹ trong Hiến Pháp. Vậy thì không thể có vấn đề đối lập nhân danh CS hoặc gián tiếp binh vực CS.
Nhân nói tới đối lập, chúng tôi tự thấy có bổn phận phải trình bày sơ qua tình trạng đối lập hiện nay trong thị trường chính trị VN.
Hiện nay, cái mác đối lập được coi là ăn khách trên thị trường chính trị VN. Bởi vì tổ chức chính trị của chúng ta chịu ảnh hưởng nặng của tổ chức chính trị Tây phương ngày nay, được gọi là chế độ dân chủ. Và theo đó, đối lập được coi như một sự cần yếu, một phương pháp hợp pháp và thích hợp nhất để làm cho đường lối chính trị được sáng sủa.
Chẳng hạn ở Anh, lãnh tụ đối lập được hưởng mọi ưu đãi của nhà nước, bởi họ quan niệm đối lập như một bổn phận công dân; Người làm công việc đối lập là thi hành bổn phận công dân.
Ở Mỹ cũng vậy, không nhất thiết người ở đảng đối lập không được quyền ngồi ngay trong chính phủ. Không ai cấm cản một ông Tổng thống đảng Cộng Hòa xử dụng những Bộ trưởng là người của đảng Dân chủ.
Nói như vậy để cho thấy đối lập đúng nghĩa không phải là kẻ thù của nhau đến mức phải tìm mọi cách để tiêu diệt nhau.
Nhưng ở thị trường chính trị VN, người ta đã quan niệm sai lầm vô ý hoặc cố tình vấn đề đối lập.
□ HỒNG DƯƠNG
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 17, 1971 trang nhất
Bài 13
XIII (tiếp theo)
Trên nguyên tắc, chúng tôi không muốn đề cập tới trường hợp từng cá nhân chính khách. Tuy nhiên, một đôi thì phải nhắc tới ông A ông B, chẳng qua chỉ là để dẫn chứng.
Bây giờ chúng tôi xin trở lại với vấn đề bầu cử, một vấn đề liên hệ trực tiếp tới «thị trường chính khứa.»
Ngay từ bây giờ, người ta đã thấy các chính khứa rầm rộ chạy ngược chạy xuôi, chui cửa trước lòn cửa sau để tìm những thế lực hậu thuẫn. Điều mỉa mai là những người thành tâm thiện chí, có khả năng và tha thiết với quyền lợi tổ quốc dân tộc thì phần lớn lại đói rách, cô đơn và yếu thế.
Những người này lại không thể chạy cửa hậu, và do đó họ sẽ vô cùng vất vả nếu muốn tham dự việc nước một cách tích cực.
Nói về thế lực hậu thuẫn cho cuộc bầu cử, hiện nay người ta thấy có 3 thế lực chính:
1) Lực lượng Thiên Chúa Giáo.
2) Lực lượng Phật giáo Ấn Quang.
3) Chính quyền.
Ba thế lực này nếu đem so sánh thì hơi khó để mà kết luận thế lực nào mạnh. Tuy nhiên, một cách khách quan, người ta vẫn có thể tìm ra một tương quan tương đối.
Về lực lượng Phật Giáo, số lượng có thể đông đảo hơn Thiên Chúa Giáo. Nhưng đó là lý thuyết. Bởi vì dân VN có một thói quen hiểu những người không Công giáo là những người theo đạo thờ phụng tổ tiên nghĩa là cũng có cúng vái nhưng không đi chùa, không biết tới các Thượng tọa, Đại đức.
Lại nữa, vì Phật giáo mới được tổ chức lại, cho nên vấn đề kỷ luật bỏ phiếu chưa được chặt chẽ.
Trong khi đó, khối Công Giáo tuy lượng ít hơn nhưng lại mạnh về phẩm Họ có một truyền thống kỷ luật lâu đời và chặt chẽ. Mỗi mệnh lệnh của cấp lãnh đạo Công giáo ban ra thường là được hàng giáo dân thi hành nghiêm chỉnh.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 18, 1971 trang nhất
Bài 14
XIV
Trong kỳ bầu cử bán phần Thượng Viện vừa qua, kỷ luật bỏ phiếu của khối cử tri Công giáo tỏ ra có phần sứt mẻ. Tuy nhiên, đó chỉ là một trục trặc nhỏ.
Dù sao khối giáo dân Công giáo vẫn là một lực lượng được coi như thuần nhất hơn cả. Vấn đề còn lại đối với khối Công giáo hiện nay là sự đồng nhất lập trường của các vị lãnh đạo tinh thần.
Nếu các vị Linh mục thường lẫn lộn việc đạo và việc đời, thì chắc chắn những lá phiếu của Công giáo không bao giờ có thể tản mát được. Và do đó, khối Công giáo này sẽ là một lực lượng quần chúng hùng mạnh.
Như chúng tôi đã có dịp trình bày ở những bài trước đây, ngày nay ở xã hội VN các chính đảng không có giá trị, vì không một chính đảng nào có thực lực, không một chính đảng nào có hậu thuẫn quần chúng đông đảo.
Chỉ còn lại Tôn giáo. Cả những chính đảng cũng dựa vào tôn giáo. Và vì các chính đảng phải dựa vào tôn giáo cho nên mặc nhiên các tôn giáo lớn trở thành một thứ siêu chính đảng. Do đó, yếu tố tôn giáo trong các cuộc bầu cử những cơ cấu dân cử là 2 tố quyết định.
Thế lực thứ ba là thế lực chính quyền. Thế lực này trước kia là thể lực mạnh nhất nhưng ngày nay nó chỉ mạnh ở một số địa phương. Các cuộc bầu Tổng thống, Thượng Viện, Hạ Viện 1967 và bán phần Thượng Viện 1970 cho thấy tại những nơi chỉ mục quan chiêm như Saigon Gia định, yếu tố chính quyền không có ưu thế. Trái lại thế lực này được gọi là tuyệt đối mạnh ở những địa phương xa xôi, nhất là tại những nơi thiếu an ninh.
Ngoài ba thế lực trên, hai tôn giáo Cao Đài Hòa Hảo cũng là một lực lượng đáng kể, nhưng chỉ ở một số địa phương bao quanh Thánh Địa của các tôn giáo này.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 19, 1971 trang nhất
Bài 15
XV
Theo sự dò hỏi của chúng tôi thì ngay từ bây giờ, các chánh khách đã bắt đầu lui tới cửa chùa và nhà thờ luôn luôn. Có những ông sáng chạy tới nhà thờ “lạy cha, Amen”, chiều tới chùa “Nam mô a di đà Phật”.
Những ông này tưởng như thế là khôn, bắt cá 2 tay. Nhưng thực ra thái độ đó chỉ tố giác tính chất «ma giáo», điều mà các vị lãnh đạo tinh thần kỵ nhất. Có thể, trên nguyên tắc vì lịch sự, các Thượng tọa và Linh Mục sẽ không nói ra. Nhưng sẽ không bao giờ các vị này lại ủng hộ bọn chánh khách ma đầu như vậy.
Không phải vấn đề kỳ thị tôn giáo mà vấn đề là những kẻ bắt cá hai tay thường cố tình tham lam tráo trở.
Trong quá khứ, khối cử tri Công giáo từng gặp phải những tay tráo trở một cách trắng trợn. Trong số báo Diều Hâu mới nhất, có một bài đề cập tới 1 ông Dân biểu bị coi là «giáo gian». Ông này là người Công giáo đắc cử nhờ phiếu bầu của cử tri Công giáo nhưng sau đó lại chạy theo Ấn Quang để hy vọng «ở xứ mù thì thằng chột làm vua.»
Thật ra Công giáo hay Phật giáo hay Cao Đài Hoà Hảo thì cũng là người V.N. có bổn phận phục vụ quyền lợi chung của đất nước dân tộc.
Nhưng bên cạnh quyền lợi tối thượng đó, đối với vai trò Dân biểu còn có khía cạnh quyền lợi địa phương hay thành phần xã hội mà mình đại diện. Một chính khách bước vào Hạ Viện bằng phiếu của công nhân - lao động - mang danh nghĩa đại diện Lao Động - mà khi sinh hoạt trong nghị trường lại chỉ bênh vực cho quyền lợi của một giai cấp tài phiệt chủ nhân là một điều không thể chấp nhận được.
Cũng vậy, một Dân biểu đắc cử bởi phiếu của cử tri Công giáo thì ít nhất phải có thành tín trước sau như một đối với quyền lợi tinh thần của Hội Thánh Công Giáo và phải biết phục vụ quyền lợi giáo dân, như thể một công việc Tông đồ, Chúa không bao giờ dạy các Tông đồ yêu kẻ này ghét kẻ kia. Tuy nhiên những tên «Judas» cũng không thể được vào nước Chúa. Nói cách khác, sự phản trắc là điều không thể chấp nhận được.
HỒNG DƯƠNG
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 20, 1971 trang nhất
Bài 16
XVI
Thật ra thì không ai có thể chấp nhận sự phản trắc. Trong kỳ bầu cử 1967, các ứng cử viên đã hứa rất nhiều nhưng suốt gần 4 năm nay, chưa có một ông Dân biểu nào thực hiện được 1/100 sự hứa hẹn của họ. Trái lại, hành động và tư cách của nhiều ông bà Dân biểu đã làm cho cử tri phải đỏ mặt vì thẹn. Người dân không thể không xấu hổ khi thấy vị đại diện của mình bán chữ ký, buôn lậu một cách trắng trợn. Trong trường hợp ông DB Nguyễn Ngọc Nghĩa đã trở thành một giai thoại điếm nhục. Trường hợp ông DB Phạm chí Thiện và Võ Văn Mẫu cũng là một nhục nhã cho ngành Lập Pháp.
Thị trường chính khách ô hợp và bẩn thỉu như vậy đó.
Với một tình trạng người làm chính trị kiểu ông Nghĩa ông Thiện, ông Mẫu, đất nước này làm sao khá được. Cuộc đấu tranh chính trị với CS mà chúng ta sắp phải đương đầu chắc chắn sẽ là một thảm bại, nếu chúng ta không kịp thời thanh lọc hết những chính khách bẩn thỉu, chấn chỉnh lại hàng ngũ những người đại diện dân.
Những khuôn mặt cũ rích trên sân khấu chính trị hiện nay hầu hết đã bị nám đen. Một cuộc Cách mạng toàn diện trong thị trường chính khứa cần phải được phát động ngay từ bây giờ.
Chẳng phải biết bắt chước con bồ nông của thi sĩ người Pháp mổ bụng thay hết ruột gan. Chỉ có một cuộc tẩy uế tận gốc rễ như vậy mới hy vọng cứu vãn được tình hình chính trị của miền Nam.
Và trong việc này, chính quyền không đủ khả năng làm. Bởi ngay trong chính quyền cũng còn đầy rẫy những thành phần chính khách xôi thịt.
Chỉ có người dân làm nổi. Người dân cùng một lúc phản tỉnh, cảnh giác, hợp quần, nhất chí dùng lá phiếu để gạt bỏ hết những khuôn mặt cũ rích mốc meo đang múa may quay cuồng trên sân khấu chính trị. Mang vào thị trường chính khứa một sinh khí mới.
Chúng tôi không dám quan niệm như Phó Tổng thống Kỳ phải gạt bỏ hết những người già. Nhưng chúng tôi quan niệm một thành phần trẻ chọn lọc dù sao cùng còn nhiệt huyết và hăng say lý tưởng phục vụ.
Nói như thế không có nghĩa người trẻ nào cũng làm việc được. Thật ra thực tế đã từng cho thấy nhiều người trẻ tuổi trong Hạ Viện hiện nay đã chỉ là một thứ giá áo túi cơm.
Khi nói tới những người trẻ, chúng tôi mong muốn nói tới một thành phần trẻ chọn lọc, hội đủ yếu tố «trẻ tuổi, trẻ tâm hồn, trẻ sáng kiến, nhưng già về suy tư và khả năng.»
Nói cách khác, đó là những người trẻ có kiến thức và khả năng, mà quá trình hoạt động chứng minh được tinh thần phục vụ còn hăng say.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 23, 1971 trang nhất
Bài 17
XVII
Chúng tôi mạn phép mở một dấu ngoặc lớn ở đây, để bắt vào một chuyện hết sức thời sự. Đó là vụ các Dân biểu buôn lậu bị thộp cổ tại trận. Các ông Phạm chí Thiện, Võ văn Mẫu và Nguyễn Quang Luyện.
Ông Võ văn Mẫu thì dính líu trong vụ 9 ký bạch phiến bị phát giác cách đây ít lâu. Ông Phạm chí Thiện mang lậu 4 ký bạch phiến và bị bắt quả tang tại phi trường Tân Sơn Nhứt. Cuối cùng là DB Nguyễn quang Luyện, đệ nhị phó chủ tịch Hạ Viện bị bắt quả tang tại Thái Lan mang lậu trong va li 15 kí lô vàng.
Thật ra đây không phải là lần đầu tiên xảy ra vụ DB buôn lậu. Trong quá khứ đã từng có nhiều ông DB xuất ngoại buôn lậu và bị phát giác. Số DB buôn lậu may mắn chưa bị phát giác còn nhiều hơn nữa. Những ông nay tuy chưa bị nhân viên hữu trách bắt quả tang, nhưng dư luận quần chúng thì lại biết rất rõ.
Các sự kiện này ít ra chứng minh cho những gì mà chúng tôi đã trình bày trong những bài trước đây về "thân phận Dân Biểu" nói riêng và về chính khứa nói chung.
Tình trạng chính trị ô hợp đã làm nảy sinh ra những chính khứa dơ bẩn và vô khả năng, bất xứng và số này tập trung khá đông ở trong Hạ Viện. Chúng tôi đã từng có dịp theo dõi sinh hoạt Hạ Viện suốt hơn 2 năm liền. Và điều mà chúng tôi có thể khẳng định là muốn tìm một ông DB có khả năng, sạch sẽ tư cách, có tỷ tưởng phục vụ … sẽ là một việc mò kim đáy biển.
Một nhận định khác của chúng tôi cũng đã được chứng minh là «những ông DB giàu có phần lớn là những người tham lam, thích vào Hạ Viện để làm áp phe hơn là làm việc nước.»
Chẳng hạn như trường hợp DB Luyện, ông ta là một người giàu. Bằng cớ là ông ta dám bỏ ra 19 triệu bạc chỉ để xây một cái pit xin [ piscine = swimming pool = hồ bơi ] trong nhà. Để có thể chi tiêu phung phí như thế tất nhiên ông ta phải có cách xoay tiền.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 24, 1971 trang nhất
Bài 18
XVIII
Hai ông DB Phạm chí Thiện và Nguyễn quang Luyện đều thuộc đơn vị Gia Định 1 tức là một nơi có số phiếu cử tri Công giáo được coi là quyết định.
Nói cách khác, 2 ông DB này đã nhờ xin được phiếu cử tri Công giáo mà đắc cử, do đó, trên phương diện tinh thần, ông Thiện và ông Luyện phải chịu trách nhiệm trước cử tri Công giáo Gia Định 1.
Trước hành vi bê bối của 2 ông Thiện, Luyện, có người cho rằng cử tri Công giáo Gia Định 1 có một phần trách nhiệm vì chính các cử tri này đã chọn bỏ phiếu cho 2 ông DB bê bối nói trên.
Cũng như khi một người con trai trưởng thành tự ý chọn vợ, chẳng may vớ phải cô vợ chẳng ra gì thì mình ráng chịu, không thể đổ trách nhiệm ấy cho ai được.
Lý luận như thế cũng đúng nếu quả thật các cử tri hoàn toàn đích thân chọn lựa ứng cử viên. Nhưng ở đây chúng ta hãy xem một vấn đề cần nêu ra là việc căn cứ trách nhiệm ấy lại hoàn toàn thể theo chọn lựa của các cử tri trong nề nếp tôn giáo và đoàn thể có kỷ luật rất chặt chẽ. Đối với thành phần phụ thuộc vào việc chọn lựa ứng cử viên thì họ sẽ chịu tùy thuộc một phần lớn vào sự chọn lựa của cấp lãnh đạo của họ. Họ sẽ bỏ phiếu cho ứng cử viên nào đã được cấp lãnh đạo tinh thần của họ chỉ định hay chính thức ủng hộ.
Chính đó là lý do tại sao các ứng cử viên luôn luôn phải chạy chọt các Thầy các Cha.
Sinh hoạt dân chủ ở xã hội Việt Nam chưa thành một truyền thống. Người dân nói chung còn chưa quen lắm với lề lối dân chủ nhất là chưa có kinh nghiệm đối với các sinh hoạt chính trị, do đó họ cũng chưa đào luyện được một ý thức chín chắn và quyền lực chính trị của mình qua lá phiếu và qua người đại diện của họ trong cử chính quyền. Bởi thế, nhiều khi họ chỉ coi công việc đi bầu như một bổn phận bất đắc dĩ phải thi hành chứ chưa ý thức rõ rệt đó còn là một quyền hạn để bảo đảm quyền lợi tinh thần và vật chất của họ.
Đó là tâm lý chung của phần lớn cử tri trong cuộc bầu cử 1967. Và hậu quả của tâm lý này là một Hạ Viện bất xứng, thiếu khả năng, bê bối, bẩn thỉu... như ngày nay.
Dù rất xót xa, nhưng cũng phải thành thật nhìn nhận 99% DB của chúng ta hiện nay chỉ là những thành phần múa rối, là những đào kép bất đắc dĩ, đóng tuồng một cách vụng về ngây ngô.
Nếu trong đó có được vài phần tử khôn ngoan, thủ đoạn thì lại chỉ là cái khôn ngoan thủ đoạn của giới làm áp phe.
Chúng ta không thể chấp nhận cái lý luận ngớ ngẩn của ông Luyện khi ông cho rằng DB Thiện vì nghèo nên mới phải mang thuốc phiện lậu đem về để lãnh công. Nói như vậy là gián tiếp nhục mạ giới nghèo.
Thật sự, nhiều người nghèo có lương tâm không làm công việc bẩn thỉu đó. Vả chăng, ông Luyện là một người rất giàu (có thể bỏ tới 19 triệu để xây một hồ tắm trong nhà) mà vẫn làm công việc buôn lậu như thường. Điều đó chứng minh hùng hồn rằng chính kẻ giàu hay làm bậy hơn kẻ nghèo.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar 26, 1971 trang nhất
Bài 19
XIX
Vả chăng, các DB không được cái vinh dự để tự coi là thành phần nghèo. Chưa kể những áp phe vặt như công tác đặc biệt, phụ cấp như vụ bán chữ ký và những áp phe lớn hơn như xuất ngoại đổi đô la và buôn lậu.
Nếu DB như vậy mà được coi là nghèo thì người công chức và người lính còn nghèo biết bao. Sẽ phải tìm một chữ nào khác thay thế chữ nghèo mà quân nhân, công chức đã giữ độc quyền trong hàng chục năm nay?!
Nói tóm lại, dối với các ông DB buôn lậu, không còn một lập luận nào có thể biện minh được cho tội trạng của các ông trước tòa án dư luận và tòa án lương tâm. Sự nghiệp chính trị của các ông bắt buộc phải chấm dút từ đây, và vết nhơ đó sẽ như một vết chàm không bao giờ tẩy sạch.
Trong một quốc gia đang bước sang giai đoạn đấu tranh chính trị cới quân cộng sản xâm lăng, một chính khách quốc gia bị đốt cháy là một thiệt thòi cho đất nước. Tuy nhiên, nếu chính khách bị đốt cháy hay đó là một kẻ bẩn thỉu như các ông Thiện, Luyện, thì đó là một cái lợi.
Cử tri Công giáo ở Gia Định sau vụ Thiện, Luyện đang dấy lên nỗi bất bình. Ngay như các vị lãnh tụ tinh thần cũng phải chia xẻ hành động mà hai ông Thiện, Luyện đã phản bội trắng trợn, làm nhục lây cho người đỡ đầu các ông và cho những cử tri đã bỏ phiếu cho các ông.
Do đó, người ta e ngại rằng các DB cũ nói chung sẽ khó mà tái đắc cử. Riêng các DB của đơn vị Gia định l càng không có hy vọng nào tái đắc cử.
Thật ra, nếu còn một chút liêm sỉ, các ông này không nên ra ứng cử nữa mới phải.
Tình trạng chính trị của chúng ta nhem nhuốc như vậy, nếu không có ngay một cuộc thanh lọc lớn, nếu không có một cuộc cải thiện sâu rộng, và nhất là nếu không tạo dựng ngay được một lớp người hoàn toàn mới thì sẽ không có hy vọng gì chiến thắng Cộng sản trong những giai đoạn sắp tới.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar 27, 1971 trang nhất
Bài 20 [ kỳ cuối ]
XX
Hiện nay, mọi người đều ý thức rằng cuộc chiến đấu của chúng ta đang chuyển hướng. Giai đoạn đấu tranh sắp tới sẽ là một cuộc đấu tranh chính trị.
Những chính khách sẽ là những chiến sĩ. Nhưng, với tình trạng này làm sao chúng ta có được thứ chiến sĩ gan dạ, có khả năng và tinh thần chiến đấu anh dũng, bất chấp những khó khăn gian khổ như các chiến sĩ quân sự của chúng ta tại các mặt trận Kampuchea, Hạ Lào.
Hãy tưởng tượng mặt trận chính trị toàn diện sau này, đoàn quân của chúng ta sẽ là những ông Nguyễn quang Luyện, Phạm chí Thiện, Lê Tài Hòa, Võ văn Mẫu, Kiều mộng Thu, Dương văn Ba v.v...
Một toán quân vô khả năng, bất xứng, tham những, hèn nhátt và ô hợp như vậy, làm sao có thể chiến thắng được?
Cho nên, chúng tôi quan niệm phải có một cuộc cách mạng toàn diện ngay trong ý thức bầu cử của cử tri, phải nhìn cho rõ người, phải xét đoán cho kỹ càng trước khi quyết định chọn lựa một ứng cử viên, phải gạt vấn đề tình cảm tầm thường và phải tự đặt cho mình một trách nhiệm nặng nề đối với lá phiếu mà mình xử dụng.
Các cử tri cũng phải nhận thức rõ rệt một nhu cầu cấp bách là thay đổi toàn diện và tận cùng bộ mặt «thị trường chính khứa» hôm nay. Đưa vào thị trường những người mới có khả năng thiện chí, trong sạch từ căn bản để gây một sinh khí mới cho sân khấu chính trị.
Chỉ có cách đó chúng ta mới hy vọng chiến thắng Cộng sản thêm một trận nữa trên bình diện chính trị và chiến thắng này mới là chiến thắng quyết định cho sự sống còn của dân tộc, sự trường tồn của đất nước.
HẾT
□ HỒNG DƯƠNG $pageOut $pageIn Phân đoạn 4
ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản
#Tien Tuyen Mar. 01, 1969 trang ba #Tien Tuyen Mar. 01, 1969 trang ba
(Bài 003) Sinh Viên Quốc Gia Thờ Ma Cộng Sản
SINH VIÊN QUỐC GIA THỜ MA CỘNG SẢN
NẰM VÙNG TUYÊN TRUYỀN, PHÁ HOẠI BỊ 5, 6 NĂM Khổ Sai.
SAIGON – Hoạt động cho CS, hai sinh viên Nguyễn Văn Chín và Hồ Hùng Văn đã can tội phản nghịch và lần lượt bị kết án sáu năm và năm năm khổ sai.
Theo cáo trạng của Tòa án Quân sự Mặt Trận Lưu Động Vùng III, Nguyễn văn Chín, bí danh Chi, sinh viên Khoa học Xã hội, thuộc Viện Đại học Vạn Hạnh, đầu tháng 2-68 sau đợt tổng công kích Tết Mậu Thân của CS, đã tham gia hoạt động trong Ủy ban Cứu trợ đồng bào chiến nạn của Tổng hội Sinh viên Saigon.
Tháng 3-68, do sự tuyên truyền của Bùi Nghị, Phó Chủ tịch ủy ban Cứu trợ nói trên, Chín tham gia hoạt động trong cánh sinh viên học sinh giải phóng Thủ đô của Việt Cộng lập ra. Trong thời gian này Chín đã xây dựng được nhiều cơ sở trong giới sinh viên học sinh Saigon.
Tháng 6-68 Chín thuê căn gác tại nhà số 129/23, đường Nguyễn Trãi, để tiện hoạt động trong khu vực phường Chợ Quán.
Cuối tháng 7-8, Chín được đề bạt làm Tổ Trưởng và đã bảy lần nhận của giao liên VC 1 số quan trọng truyền đơn, cờ của cái gọi là “MTGP”, tài liệu VC và hai súng lục K-54 Trung Cộng.
Chín đã phân phối số tài liệu và truyền đơn trên cho các tổ viên để rải và treo cờ tại các đường phố, rạp hát và các cư xá tản mác tại Saigon.
Chín đã tìm hiểu các thành phần quân nhân, cảnh sát và cán bộ chính phủ cư ngụ trong khu vực Chợ Quán để chờ dịp Việt cộng tổng công kích thì sẽ hướng dẫn bộ đội Cộng sản lùng bắt các thành phần quốc gia đem ra Tòa án Nhân dân của Việt Cộng xét xử.
Ngày 10-9-68, Chín bị bắt tại sào huyệt là căn nhà 129/23 Nguyễn Trãi.
Bị can thứ hai, Hồ Hùng Văn, là sinh viên năm thứ ba Luật Khoa Sài gòn. Năm 1967 Văn được bầu làm Tổng Thư ký Ban Chấp hành Sinh viên Luật khoa, do Nguyễn Đăng Trừng làm Chủ tịch và Trịnh Đình Ban làm Phó Chủ tịch.
Tháng 6-68, Văn được kết nạp vào tổ võ trang tuyên truyền của Chín.
Văn đã nhiều lần móc nối các sinh viên học sinh để xây dựng công tác, cùng thực hiện công tác rải truyền đơn, treo cờ v.v…
Vân bị bắt ngày 13-9-68 tại nhà.
Trước Tòa, 2 bị can nhận các hoạt động trên và khước từ lời biện hộ của Luật sư.
Tòa đã xác nhận tội trạng của 2 bị can và tuyên phạt với bản án như trên.
Phiên tòa chiều nay họp tại Pháp đình Saigon, đường Công Lý, do Đại Tá Trần văn Quyền ngồi ghế Chánh thẩm và Đại úy Trương thanh Kiều ngồi ghế Ủy viên Chánh phủ.
#Chính Luận Feb. 26, 1969 trang nhất
(Bài 004) Vụ Thích Thiện Minh bị bắt #Chính Luận Feb. 26, 1969 trang nhất
Tổng Nha Cảnh Sát Họp Báo Cho Biết: Nhờ Biết Trước Kế Hoạch Của Dịch 12 Tiếng Đồng Hồ Trước Khi Tiếng Súng Đầu Nổ
Phá Vỡ Mưu Toan Tổng Công Kích Đô Thành Đợt 4
BẮT SỐNG 32 ĐẶC CÔNG QUYẾT TỬ CỘNG SẢN.
«CỌP CÁI» QUẬN 6 ĐÃ BỊ SA BẪY, ĐANG TRUY LÙNG CÁC «CỌP CÁI» KHÁC Ở CHOLON
►Bắt Giữ Thượng Toạ Thiện Minh Vì «Khám Phá Thấy Nhiều Tài Liệu Cộng Sản Và 1 Căn Phòng Bí Mật Tại Cư Xá 294 Công Lý Do Thượng Toạ Làm Quản Đốc.»
►Phá Tan Một Tổ Chức Võ Trang Tuyên Truyền Cộng Sản Ở Đường Trương Minh Giảng, Bắt 11 Sinh Viên Với Nhiều Súng Đạn, Chất Nổ
by Duy Sinh
Saigon 25-2 – Đại tá Trần Văn Hai, Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, nhân dịp chủ toạ cuộc họp báo quan trọng sáng nay, cho biết mục đích họp báo là nhằm trình bày trước dư luận trong và ngoài nước những nỗ lực không ngừng và thành quả của ngành Cảnh Sát trong việc phá vỡ các tổ chức khủng bố, tấn công, xách động của Cộng sản trong thời gian gần đây. Chi tiết các thành quả đã được Thiếu Tá Nguyễn Mâu, Phụ Tá Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia Đặc Trách Cảnh Sát Đặc Biệt, Và Thẩm Phán Trang Sĩ Tấn, Giám Đốc Nha Cảnh Sát Đô Thành lần lượt trình bày.
Mưu Toan Tổng Công Kích Đợt 4
Trước hết, Thiếu Tá Nguyễn Mâu trình bày vụ tiêu diệt toàn bộ chỉ huy quận 6 của Việt cộng, thành phần nòng cốt của mưu toan tổng công kích đợt 4.
Do việc khai thác cung từ, tài liệu, Cảnh Sát Đặc Biệt khám phá ra công thức X 4 ngày J + 7 giải thích công thức cho thấy địch mưu toan tấn công Đô thành vào ngày 22 với chiến thuật tiền pháo hậu xung (pháo kích trước, xung phong phá hoại sau) sau đó sẽ xách động đấu tranh chính trị, phá nhà đèn, khủng bố ám sát, đặt chất nổ tối đa mà nỗ lực quan trọng nhất là nhằm vào quận 6. Nhờ có mật báo, Cảnh Sát Quốc Gia biết trước kế hoạch của địch 12 tiếng đồng hồ trước tiếng súng đầu tiên, nên đã kịp thời theo dõi khám phá, bao vây tiêu diệt toàn bộ chỉ huy của địch ở quận 6 (đặt tại số 314/6 đường Lò Siêu) bắt sống tại chỗ 43 tên đặc công quyết tử trong số đó có tên Nguyễn v. Thành tự Năm Tiến, bí thư thường uỷ được coi như quận trưởng quận 6 của Việt cộng. Chính Năm Tiến đã hợp tác trong các kế hoạch phản tình báo và hiện được coi như sĩ quan cao cấp hồi chánh.
Cọp Cái Bay Bướm
Thiếu Tá Nguyễn Mâu đem trình diện trước báo chí một nữ đặc công VC có biệt tài xử dụng súng K-54 và lái xe Honda rất tài tình bay bướm. Nữ đặc công này, tên Tăng thị Hoa, là một trong những con cọp cái hung thần của tổ chức đặc công VC quyết tử quận 6, hiện Tăng thị Hoa đang hợp tác với Cảnh sát để truy nã các con cọp cái khác tại Cholon. Cảnh Sát Đặc Biệt đã tịch thâu tại bộ chỉ huy này toàn bộ võ khí gồm 21 súng K-54, 8 AK-47, 2 Carbine, một số chất nổ khổng lồ C4 gồm 150 hộp chất nổ đủ loại. Vụ phá vỡ này khiến an ninh tại Cholon yên tịnh ít nhứt 1 tháng trước khi địch có thời giờ củng cố cơ sở.
Vụ Bắt Giữ Thượng toạ Thích Thiện Minh
Thẩm Phán Trang Sĩ Tấn, Giám Đốc Nha Cảnh Sát Đô Thành trình bày cặn kẽ vụ lục soát Cư Xá 294 Công Lý do tu sĩ Đỗ Xuân Hàng tức Thượng toạ Thích Thiện Minh làm Quản đốc.
Do việc bắt giữ tên Cao Duy Tuấn, bí thư chi bộ Cộng sản, theo cung từ, y đặt trụ sở tại Cư Xá 294 Công Lý nên vào hồi 2 giờ 30 đêm 23-2-1969, Cảnh Sát Đô Thành đã khám xét Cư Xá này theo đúng luật lệ hiện hành. Tại đây, Cảnh Sát tịch thâu 1 súng lục Trung cộng K-54 cùng nhiều tài liệu Cộng sản trong phòng A7 (phòng của Cao Duy Tuấn). Ngoài ra, Cảnh Sát còn bắt được nhiều thư chúc Tết của Hồ chí Minh, 3 mẫu thư được mang ra trình diện trong đó thư chúc Tết ký tên Hồ chí Minh với các câu như: - Năm qua thắng lợi vẻ vang, Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to. Vì độc lập vì tự do. Đánh cho Mỹ cút đánh cho nguỵ nhào. . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Tại phòng Thượng toạ Thiện Minh, Cảnh Sát đã bắt giữ 8 thanh niên bất phục tùng, đào ngũ, hoạt động cho Cộng sản.
Ông Tấn cho biết, Cảnh Sát còn tìm thấy một chiếc tủ có 2 đáy với cánh cửa ăn thông vào một căn phòng bí mật, mà nhu cầu điều tra chưa cho phép công bố những gì đã tìm thấy trong căn phòng này.
Tại Cư Xá 294, Cảnh Sát còn bắt giữ một số thanh niên bất phục tùng, không giấy tờ chứng minh, trốn trong các phòng tắm, mái nhà Cư Xá.
Quan trọng hơn cả, Cảnh Sát đã tìm thấy một lá thư do Thượng toạ Thiện Minh gửi cho một tu sĩ khác xác nhận tại Cư Xá này có cất giấu chất nổ, võ khí, tài liệu Cộng sản, và cất giấu thanh niên bất phục tùng, đào binh.
Đáp câu hỏi về số phận Thượng toạ Thiện Minh, ông Nguyễn Thạch Vân, Phụ tá Đặc biệt Phủ Thủ tướng cho biết, hiện Thượng toạ Thiện Minh được tạm lưu giữ tại mợt cơ quan an ninh và được cư xử rất tương xứng. Thượng toạ bị lưu giữ để trả lời về trách nhiệm hiểu biết – liên hệ giữa ông và tổ chức Cộng sản tại Cư Xá 294 Công Lý mà cơ quan an ninh vừa bắt giữ. Cuộc điều tra đang tiến hành. Nếu xét có tội thì việc đó thuộc thẩm quyền của cơ cấu Tư pháp còn Cảnh Sát chỉ có nhiệm vụ điều tra.
Nhân dịp này, ông Tấn xác nhận rằng, chỉ có một mình Thượng toạ Thiện Minh bị bắt giữ, ngoài ra không có một tu sĩ nào khác bị câu lưu.
Thẩm Phán Trang Sĩ Tấn cũng trình bày thành quả phá vỡ Tổ chức Võ trang Tuyên truyền Cộng sản tại đường Trương Minh Giảng, bắt giữ 11 sinh viên, 2 súng K-54, 200 viên đạn, 10 bánh thuốc nổ và một số ống loa.
Cảnh Sát Đô Thành đã đem trình diện sinh viên Phạm mạnh Hùng bị bắt quả tang trong khi dùng 20 lit xăng toan đốt chợ Bến Thành đêm 29 Tết, cùng tổ chức thả bong bóng truyền đơn tại Cửa Tây chợ Bến Thành. Ngoài ra còn phá vỡ tổ đặc công tại quận 4, bắt 4 đặc công, 3 kg TNT, 1 máy đánh chữ, 3 đồng hồ gài mìn.
Cuối cùng, Thẩm Phán Trang Sĩ Tấn kết luận rằng, những thành quả vừa trình bày chứng tỏ sự cố gắng tối đa, liên tục của Cảnh Sát Quốc Gia trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho các sinh hoạt chính trị quốc gia đồng thời đập tan mọi mưu toan phá hoại, tấn công, xách động quần chúng … của Cộng sản.
Trả lời Báo chí
Đáp câu hỏi của Chính Luận rằng những thành quả vừa trình bày có đủ khả năng đập tan mưu toan tấn công đợt 4 của Cộng sản không, và trong những ngày tới Cộng sản còn có thể tái diễn những vụ tấn công pháo kích không, Đại tá Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia cho biết, việc địch có khả năng tấn công Đô thành thuộc phạm vi của Thiếu tướng Tổng Trấn, riêng về phạm vi của Cảnh Sát, ông đoan chắc sẽ tiếp tục duy trì những thành quả đã thâu lượm được và quyết tâm phá tan mọi mưu toan phá hoại, khủng bố ám sát của Cộng sản để giữ an ninh cho đòng bào.
Thành phần chủ toạ cuộc họp báo cũng đã không tiết lộ con số sinh viên, thanh niên bị bắt tại Cư Xá 294 Công Lý mà chỉ cho biết có một số bị giữ và một số đã được trả tự do.
Trả lời những câu hỏi rằng, việc bắt giữ Thượng toạ Thiện Minh có ảnh hưởng gì tới Phật giáo hay không, ông Nguyễn Thạch Vân nói rằng cuộc điều tra chỉ hướng vào các tổ chức Cộng sản và những người liên hệ. Luật pháp được áp dụng đồng đều cho mọi công dân trong nước và quan niệm Pháp trị là nền tảng của Chế độ Pháp trị.
Tin tức trên sách Niên Ký “Việc Từng Ngày 1969” của Đoàn Thêm, cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, Saigon 1971
✑ trang 93
── Ngày 15-3-1969, Toà án Quân sự Lưu động Vùng III tuyên phạt: 10 năm khổ sai thượng toạ Thích Thiện Minh tức Đỗ Xuân Hàng; từ 3 năm tù ở đến 20 năm khổ sai 8 sinh viên bị bắt tại Cư xá Quảng Đức, Cư xá này bị tịch thu.
✑ trang 94
── Ngày 16-3-1969 lễ cầu nguyện tại chùa Ấn Quang Saigon, cho thượng toạ Thích Thiện Minh. Trong cuộc họp báo sau buổi lễ, thượng toạ Thích Trí Quang tuyên bố: người Mỹ phải chịu trách nhiệm về vụ án Thích Thiện Minh.
✑ trang 95
── Ngày 17-3-1969 Toà án Quân sự Mặt trận Vùng III tuyên phạt: 5 năm cấm cố thượng toạ Thích Thiện Minh tức Đỗ Xuân Hàng vì tội tán trợ đào binh; từ 2 năm tù ở đến 5 năm cấm cố 3 đào binh ngụ tại Cư xá Quảng Đức; Thượng toạ Thiện Minh chỉ phải chịu hình phạt nặng nhứt là 10 năm khổ sai do Toà án Quân sự tuyên phạt hôm 15-3 vừa qua.
── Theo một Văn thư gởi Thủ tướng [ Trần Văn Hương ], Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho phép giam giữ thượng toạ Thiện Minh tại một cơ sở riêng có đủ tiện nghi để điều trị và hành lễ.
✑ trang 173
── Ngày 24-5-1969: [ Thủ tướng Trần Văn Hương ] ký sắc lệnh hoán giảm còn 3 năm tù cho hình phạt 10 năm khổ sai và 5 năm cấm cố của Đỗ Xuân Hàng, pháp danh Thích Thiện Minh, sinh năm 1921 tại Quảng Trị (SL. 189/TT/SL)
#Tien Tuyen Oct. 31, 1969 trang nhất
#Tien Tuyen Oct. 31, 1969 trang nhất
Cùng với 310 can nhân được ân xá nhân dịp Quốc Khánh
T. Tọa THIỆN - MINH ĐÃ ĐƯỢC TRẢ TỰ DO SÁNG 30-10
★ Ông cho biết được đối xử tử tế và không hề bị đầu độc ★ Trước khi về chùa, Thượng Tọa được mời đến gặp Trung tướng Nguyễn Văn Minh
SAIGON 30-10 (VTX).— Thượng Tọa Thích Thiện Minh tức tu sĩ Đỗ xuân Hàng đã được phóng thích sáng 30-10.
Trong cuộc tiếp xúc với các đại diện báo chí tại doanh trại Tiểu đoàn 6 Quân Cảnh thuộc Trại Lê Văn Duyệt, Thượng Tọa Thiện Minh cho biết ông được tin chánh phủ phóng thích ông từ 21 giờ tối 29-10, và trong suốt thời gian bị giam giữ ở đây thượng tọa được đối xử một cách tử tế. Thượng Tọa Thiện Minh nói rõ «tôi được phép dạo quanh cửa nhà giam giữ này và được thân nhân thăm hỏi một tuần hai lần như chính phủ đã cho phép trước đây.»
Trước khi rời căn nhà giam gồm có đủ bàn thờ phật, phòng tiếp khách và một phòng ngủ hẹp, Thượng tọa Thiện Minh đã cải chính dư luận cho rằng ông bị đầu độc nên phải đi điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Ông nói rõ rằng “Tôi không tin có sự đầu độc tôi”.
Thượng tọa Thiện Minh cho biết hiện tại sức khỏe của ông rất yếu kém và phải tĩnh dưỡng một thời gian. Về các hoạt động trong những ngày tới Thượng Tọa Thiện Minh nói: “Tôi chưa có ý định gì”. Thượng tọa nói tiếp: “Tôi chưa biết Viện Hóa Đạo (Ấn Quang) có giao cho tôi trách nhiệm gì trong những ngày tới không ?”
Được hỏi về việc sẽ trở về chùa nào, Thượng Tọa Thiện Minh nói rằng «tùy ở đây muốn đưa tôi về đâu cũng được.»
Thiếu tá Nguyễn Khắc Chiểu Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu đoàn 6 Quân Cảnh đã nói với báo chí rằng “Chúng tôi nhận lệnh phóng thích Thượng Tọa từ sáng sớm, nhưng giấy tờ do Nha Quân Pháp chuyển tới lúc 10 giờ. Về giờ ra khỏi trại giam thì do Thượng Tọa Thiện Minh tự ấn định.
Cuối cùng, Thượng Tọa Thiện Minh đã yêu cầu đại diện báo chí chuyển lời cảm ơn đồng bào phật tử quốc nội và quốc ngoại đã lưu tâm đến tình trạng của ông. Thượng Tọa Thiện Minh cũng cho hay rằng sáng 30-10 Đại Đức Nhật Thiện đã tới thăm viếng ông.
Tới 11 giờ 30 sau khi tiếp xúc với báo chí Thượng Tọa Thiện Minh đã được mời lên một xe Jeep của Quân Cảnh. Theo lời sĩ quan báo chí Bộ Quốc Phòng cho biết Thượng Tọa Thiện Minh được mời đi gặp Trung Tướng Nguyễn văn Minh, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô trước khi rời khỏi trại Lê Văn Duyệt.
Tưởng cũng nên nhắc lại là Thượng Tọa Thiện Minh được phóng thích trong khuôn khổ cuộc ân xá 310 can nhân nhân dịp Lễ Quốc Khánh năm nay theo Sắc lệnh số 612 và 613 của Tổng thống ký ngày 29-10-1969.
LTC: Thích Thiện Minh không một lời cảm ơn chánh phủ đã đại xá cho mình: bản án 10 năm tù, rốt cuộc chỉ ở tù chưa tới 1 năm! Nhiều anh em bạn hữu của tôi khi đọc tới bản tin này, phần lớn đều ngạc nhiên tột độ khi thấy Chánh quyền Quốc gia đã quá sức nhân từ nhân ái, đã dành cho các tôn giáo một sự biệt đãi quá lớn. Các anh em nhận xét: nuông chìu quá hóa hư! Ngẫm lại, tôi thấy lời nhận xét hết sức chí lý!
Đại lễ cầu nguyện quốc thái dân an nhân ngày Quốc Khánh tại Việt Nam Quốc Tự
SAIGON 30-10. — Theo một thông cáo của văn phòng Viện Hóa Đạo, để kỷ niệm ngày Quốc Khánh 01-11-1963 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất sẽ tổ chức đại lễ cầu nguyện cho quốc thái dân an vào hồi 16 giờ, ngày 01-11-1963 tại Việt Nam Quốc Tự, 16 Trần Quốc Toản, Saigon.
Đại lễ được đặt dưới quyền chủ tọa của Thủ tướng Chánh phủ VNCH { Trần Thiện Khiêm }. [ Thủ tướng, cụ Trần Văn Hương, thoái vị ngày 23-8-1969. Ngày 23-8-1969: Đại tướng Trần Thiện Khiêm được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ định thành lập nội các mới. Ngày 1-9-1969: Nội Các Trần Thiện Khiêm trình diện. ]
Thông cáo cũng kêu gọi chư tôn Hòa Thượng, Thượng tọa Đại Đức Tăng, Ni cùng đồng bào Phật tử các Giáo phái, Hội đoàn trong 11 Quận Đô Thành và Gia Định, hoan hỷ quang lâm Việt Nam Quốc Tự đúng 16 giờ, ngày 1-11-69 kể trên để cùng chung cầu nguyện cho đất nước Việt Nam sớm được hòa bình an lạc.
Đồng thời Viện cũng yêu cầu quý Thượng Tọa các cấp Giáo Hội trên toàn quốc và Nha Tuyên úy Phật giáo nên tổ chức lễ kỷ niệm này một cách trọng thể để tưởng nhớ công đức hy sinh cao cả của cố Hòa thượng Thích Quảng Đức và Chư Thánh Tử Đạo, các chiến sĩ cùng đồng bào đã hy sinh cho đại nghĩa Quốc gia và Đạo Pháp.
LTC phụ chú:
A - Thích Thiện Minh (1921 – 1978) | Thích Trí Quang (1922 – 2019)
Đây là 2 thượng tọa Phật giáo được kể như 2 thủ lãnh xông xáo nhất của khối Phật giáo Ấn Quang trong mười năm từ 1965 đến 1975 tại VNCH, góp phần gây rối chánh quyền Quốc Gia và làm lợi cho CSBV.
Cả 2 nổi lên vào mùa Hè – tháng 5 – năm 1963 khi xách động phong trào Tranh đấu Phật giáo ồn náo ở Đài Phát thanh Huế, chống chính quyền Đệ I Cộng Hòa, Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Lúc này, Thiện Minh đang cầm đầu Ngành Thiếu Gia Đình Phật Tử [ * ] và vai vế còn nằm dưới Trí Quang. Nếu Trí Quang là một tay thuật sĩ về đầu óc của phe Phật giáo Tranh đấu thì Thiện Minh là một thủ túc của Trí Quang với chiến thuật dày kinh nghiệm. Khi cuộc biểu tình của Phật giáo khởi sự vào tháng 5-1963, Thiện Minh lập tức dùng Ngành Thiếu của mình để làm sôi thêm lửa nóng cho sinh viên học sinh. Giới Sinh viên đại học và học sinh trung học vốn xưa nay vẫn không để ý chính trị thì bây giờ được xúi giục xuống đường. Các nhóm biểu tình lập ra tại từng trường trong các trường đại học lớn ở Huế và Saigon.
Sau vụ đảo chánh lật đổ chế độ Đệ I Cộng Hòa ngày 1-11-1963, 2 thủ lãnh Thiện Minh và Trí Quang của phe Phật giáo Tranh đấu như ngôi sao xẹt bốc lên chín tầng mây và nghiễm nhiên biến thành một thế lực chính trị, thậm chí trở thành một thứ siêu chính quyền. Và ở đây, ta thấy lẽ Vô Thường của nhà Phật hiện lên rõ ràng. Giống như bất kỳ một tổ chức chính trị nào trên cõi đời ô trược này, trong hàng ngũ các đầu lãnh Phật giáo Tranh đấu bây giờ bắt đầu ngấm ngầm ló ra tình trạng chen vai thích cánh tranh dành ngôi thủ lãnh, làm xếp thiên hạ, cho dù bề ngoài thì vẫn mặc áo tràng vàng, đầu cạo trọc và luôn mồm nhân danh Đạo pháp.
Thời đoạn từ tháng 9-1966 trở về trước, giữa Thích Tâm Châu với Thích Trí Quang đã xảy diễn một mối bất bằng âm ỉ. Mối bất hòa đó ngày một phình to ra và tình trạng âm thầm tranh chấp giữa đôi bên trong lòng nội bộ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (PGVNTN) cũng ngày một tràn ra tung tóe hết còn giữ kín được nữa. Đỉnh điểm của việc Giáo hội PGVNTN bể làm hai có thể kể từ lúc Thích Tâm Châu quay về Sài Gòn vào đầu tháng 9-1966 (sau 2 tháng lánh mặt) giành lại Viện Hoá Đạo lúc này do Thích Thiện Hoa làm Quyền Viện Trưởng từ ngày 23-7-1966. Tâm Châu triệu tập một Đại Hội Phật giáo tổ chức từ ngày 21 đến 22 tháng 10-1966 tại Việt Nam Quốc Tự, số 16 đường Trần Quốc Toản, Cholon. Lúc này, phe Thượng toạ vây cánh với Trí Quang bèn quay về chùa Ấn Quang [ số 243 đường Sư Vạn Hạnh, Cholon ] và tự bầu ra một Hội đồng Viện của riêng họ. Kể từ đây, bỗng nhiên có 2 Viện Hoá Đạo: một thuộc Khối Việt Nam Quốc Tự - Thích Tâm Châu và một (tiếm danh) thuộc Khối Trí Quang (Ấn Quang). Phe Ấn Quang không hoặc ít dùng danh từ “Viện Hoá Đạo”, thay vào đó, thường là họ dùng danh từ “Viện Tăng Thống”. Khối Việt Nam Quốc Tự lặng lẽ hợp tác với chính quyền quốc gia, còn Khối Trí Quang thì chống.
Tết Nguyên Đán Mậu Thân nhằm ngày 29-1-1968, VC giả vờ giao ước hưu chiến 3 ngày để hai bên ăn Tết, nhưng đã thủ sẵn mưu hèn đánh trộm miền Nam ngay vào giờ Giao Thừa, gây nên thảm cảnh Máu Nhuộm Ngày Xuân, một tội ác của tập đoàn máu Cộng sản Hanoi vô tiền khoáng hậu trong lịch sử của nhân loại. Khi toàn dân miền Nam đang y phục chỉnh tề, nhang trầm nghi ngút, nghiêm trang hành lễ trước bàn thờ gia tiên đón giờ khắc thiêng liêng đầu năm mới thì VC đồng loạt khai hỏa tấn công 36 trong số 44 tỉnh miền Nam và 6 thị xã, cùng với 64 trong số 242 quận lỵ trên lãnh thổ VNCH. Riêng thủ đô Saigon, Việt cộng khởi sự tấn công vào đêm mồng 1 Tết.
Sau đây là các mục tin tức (có liên hệ tới phần Phụ Chú này) ghi lại trên sách Niên Ký “Việc Từng Ngày 1968” của Đoàn Thêm, do cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, Saigon 1969:
✑ ngày 2-2-1968 tức Mồng Bốn Tết: Khu chùa Ấn Quang bị cháy. Có 2 trái hoả tiễn B-40 rơi trúng phòng Thượng toạ Thích Trí Quang làm 1 tướng và 1 tá VC bị tử thương: có tin hành doanh của VC đặt tại chùa này. – trang 43
✑ ngày 2-3-1968: Cảnh sát Quốc gia khám phá 6 hầm bí mật trong phòng ngủ của các Sư ở Tịnh xá Giáo hội Tăng già Khất sĩ, đường Nguyễn Trung Trực, Gia Định – trang 81
✑ ngày 4-3-1968: Theo Tổng Nha Cảnh sát, Thượng toạ Thích Đôn Hậu (Khối Ấn Quang) đã đi theo VC từ ngày Huế bị đột nhập, và đã lên lời kêu gọi dân chúng hãy đi theo MTGP-mặt trận giặc phỉ- từ ngày 28-2 trên đài phát thanh VC – trang 82
(bạn đọc chú ý: sau cú tổng công kích đánh trộm vào giờ Giao Thừa Tết Mậu Thân bị thất bại ê chề, VC say máu mở tiếp một trận đánh thiêu thân đợt 2 từ ngày 5-5-1968 và lần này chúng bị Quân đội Quốc gia đánh trả đến tan tác. Miền Nam Quốc Gia chìm trong khói lửa chiến tranh ngay từ ngày đầu Xuân, cho nên các tờ báo lớn mà tôi đang có như Chính Luận, Tiền Tuyến, Hòa Bình … bị lâm vào tình trạng đình bản một cách tự nhiên. Chính Luận thì mãi tới ngày Aug. 19, 1968 mới tục bản, còn Tiền Tuyến thì tục bản vào đầu tháng 9-1968, Hòa Bình hoàn toàn không có số báo nào trong năm 1968. Vì thế, những tập sách Niên Ký của Đoàn Thêm là nguồn sử liệu vô cùng quý báu)
Ngày 22-2-1968 (nhằm ngày 25 Giêng Mậu Thân), Cảnh sát Đô thành bắt giữ Thích Trí Quang [ cùng với một vài chính khách khác có thiên hướng trung lập hoặc thân cộng như luật sư Trương Đình Dzu, và cựu Tổng Ủy Kinh tế Tài chánh (thời Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ 1965) Âu Trường Thanh ] đem đi giam lỏng một nơi cách biệt. Việc Trí Quang bị cô lập đã là cơ hội bằng vàng cho viên phó tướng hàng đầu của ông ta, Thích Thiện Minh, nghiễm nhiên trở thành thủ lãnh của đoàn Phật giáo Tranh đấu. Khi Trí Quang được thả ra vào ngày 30-6-1968, hai chiến hữu vốn thân thiết khi xưa, nay rục rịch kèn cựa nhau để giành quyền làm chủ đoàn Phật giáo Tranh đấu. Lúc này, Thích Thiện Minh là Phó Viện Tăng Thống/Hóa Đạo Ấn Quang kiêm Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ Thanh Niên Ấn Quang. Viện trưởng Viện Tăng Thống Ấn Quang là Thích Thiện Hoa. Tình trạng lục đục giữa Trí Quang với Thiện Minh bắt đầu từ đây.
Đến năm 1970, nội bộ Phật giáo rạn nứt trầm trọng có thể dẫn tới lại bể đôi. Lần này là ngay trong Khối Ấn Quang.
Ngày 7-9-1970, Thích Thiện Hoa, Viện trưởng Viện Tăng Thống/Hóa Đạo Ấn Quang đã bất đồng với Thích Huyền Quang Tổng Thư ký Viện Tăng Thống/Hóa Đạo Ấn Quang trong việc ủng hộ Liên danh nào trong cuộc bầu cử Bán phần Thượng Viện (diễn ra vào ngày ngày 30-8-1970) nên tự ý bỏ về quê (ở Trà Ôn, Vĩnh Long) nhiều ngày liền và đến ngày 14-9-1970 thì Thích Huyền Quang nắm quyền Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống/Hóa Đạo Ấn Quang. Cớ sự là, Thích Thiện Hoa ủng hộ một Liên danh có nhiều người miền Nam, còn Thích Huyền Quang thì ủng hộ Liên danh (số 11) dấu hiệu Hoa Sen do ông Vũ Văn Mẫu thụ ủy gồm nhiều người miền Trung. Kết quả bầu cử chính thức công bố vào ngày 14-9-1970: Liên danh Hoa Sen đắc cử (về nhất) với 1.149.597 phiếu. Vụ rạn nứt này không gàn gắn được. Sau đó, Thích Thiện Hoa ngỏ ý muốn từ chức Viện trưởng và đến cuối năm 1970, Thích Trí Thủ lên thay.
Ngày 15-6-1971, Thích Thiện Minh rút lui khỏi cả hai chức vụ Phó Viện Tăng Thống lẫn chức Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ Thanh Niên Ấn Quang. Theo các nguồn tin thân cận các đầu lãnh thượng tầng Khối Ấn Quang thì nguyên do khiến Thiện Minh làm đơn từ chức là vì sự bất đồng về việc ủng hộ liên danh tranh cử Hạ Nghị viện và Tổng thống [ cuộc bầu cử Hạ Viện sẽ diễn ra vào ngày 29-8-1971 và bầu cử Tổng thống diễn ra vào ngày 3-10-1971 ] giữa Thiện Minh với các chức sắc thượng tầng khác. Cũng theo nguồn tin nói trên, Thích Thiện Minh sẽ lập một phe nhóm khác, ban đầu là để tập trung vận động đưa người ra tranh cử vào Hạ Viện năm nay, cũng như có lập trường ủng hộ hay không cuộc bầu cử Tổng thống sắp tới, còn về sau thì chưa biết. Tuy nhiên, theo giới quan sát am hiểu tình hình thì Thích Thiện Minh và Thích Trí Quang kể như rã đám từ đây. Thiện Minh có ý muốn rút ra khỏi Khối Ấn Quang để hình thành một thế lực riêng của mình.
B – Thích Thiện Minh và PGVNTN chịu ơn Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng như thế nào?
Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng (1920 – 1970) [ xem Bài Đọc Thêm dưới đây ] là một trong những nhà đại phú bậc nhất Nam Việt Nam, mới về nước hồi tháng 11-1965 sau một năm xuất ngoại. Ông Nguyễn Cao Thăng là Tổng Giám Đốc Dược Viện “Office Pharmaceutique du Vietnam” (OPV), một viện Bào chế Dược phẩm bề thế của Việt Nam Cộng Hòa ( Nguyên OPV là một hãng dược phẩm của Pháp thành lập ở Huế hồi năm 1950 và Dược sĩ Thăng mua lại vào năm 1956. )
Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng đã hào phóng hiến đất xây cất Viện Đại học Vạn Hạnh (ở số 222 Trương Minh Giảng Saigon). Lễ đặt viên đá đầu tiên xây cất Viện Đại học Vạn Hạnh vào ngày 9-6-1965.
Ông cũng tài trợ kinh phí để dựng nên đạo tràng thuộc quyền Thích Thiện Minh [ xem phần C dưới đây ], thủ lãnh Ngành Thiếu Gia đình Phật tử Giáo hội PGVNTN.
C – Đạo tràng này là Cư Xá Quảng Đức, số 294 đường Công Lý Saigon, rất gần với chùa Vĩnh Nghiêm (339 Công Lý). Đây cũng là nơi đặt làm trụ sở Tổng Vụ Thanh Niên của Thượng toạ Thích Thiện Minh.
Sau khi miền Nam thất thủ, hàng Giáo phẩm cao cấp của Giáo Hội PGVNTN đều bị cộng sản bắt giam hoặc khống chế bằng lệnh miệng “cấm cố” trong đó có Thích Trí Quang.
Ngày 13-4-1978 Thích Thiện Minh bị cộng sản bắt giam nhiều tháng và rốt cuộc bị tra tấn đến chết tại Tổng Nha Cảnh Sát (cải danh thành Bộ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia kể từ 1971), số 266 đường Võ Tánh-quận Nhì Saigon, rồi đem xác ra Hàm Tân.
Ngày 18-10-1978, Thượng toạ Thích Trí Thủ (1909-1984), Viện Trưởng Viện Hoá Đạo (Viện Tăng Thống) PGVNTN Khối Ấn Quang từ năm 1970, đang trú ở chùa Quảng Hương Già Lam (số 498/11 Lê Quang Định, Gia Định) thì nhận được giấy báo tử của công an cộng sản báo tin Thích Thiện Minh đã chết tại Hàm Tân (tỉnh lỵ tỉnh Bình Tuy VNCH). Thượng toạ Trí Thủ cùng với vài môn đồ khăn gói đi ra Hàm Tân chỉ để đứng từ xa thi thể (đã được che đắp kỹ chỉ chừa ra khuôn mặt bị bầm tím và môi miệng bị dập đứt) mà nhận diện và xác nhận cái chết của Thích Thiện Minh trong giây lát, ngoài ra không được lại gần vuốt mắt hoặc cử hành bất cứ nghi thức an táng nào vì chính miệng cán bộ cộng sản nói Thích Thiện Minh là tù nhân do đó phải được trại giam đem chôn tại chỗ. Phái đoàn Thượng toạ Trí Thủ phải quay về và cho đến nay người ta vẫn không biết cộng sản đã chôn Thiện Minh ở đâu.
Cho đến ngày mãn phần 8-11-2019, Thích Trí Quang câm nín trước cái chết này, cũng như hoàn toàn im miệng từ 30-4-1975 trước hàng loạt vụ nhà nước cộng sản bách hại man rợ tàn khốc hàng giáo phẩm Giáo hội PGVNTN suốt mấy chục năm liền chưa thôi (gần nhất là vụ nhà nước Việt cộng vào ngày 8-9-2016, vì mưu đồ cướp đất đã công khai đập phá, san bằng Chùa Liên Trì (Trụ trì: Thượng tọa Thích Không Tánh, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Từ Thiện Giáo hội PGVNTN) toạ lạc tại khu Thủ Thiêm Xã An Khánh, Quận 9 Đô thành Saigon VNCH từ cuối thập niên 1950s.
Riêng Thích Trí Thủ, theo nguồn tin riêng hiếm hoi xì ra từ nội bộ Giáo hội PGVNTN, thì đã phải tự vẫn bằng chén thuốc độc tại Quảng Hương Già Lam ngày 02-4-1984, chưa đầy một tuần sau khi các vị sư cô Thích nữ Trí Hải, thượng tọa Thích Tuệ Sỹ và ông Lê mạnh Thát bị Cộng sản bắt giam.
Nguyên do Thích Trí Thủ phải tự vẫn là gì? Cho đến nay, không một chức sắc nào trong Giáo hội PGVNTN lên tiếng giải thích về việc này. Tương tự, Giáo hội PGVNTN hoàn toàn không phát ngôn gì về chặng hành trình lịch sử của Giáo hội trong giai đoạn 1964 - 1975 và sau 1975, từ những chức sắc đang còn ở trong nước cho chí người đang ở hải ngoại (ví dụ, Thích Nhất Hạnh, ở Pháp). Sự im lặng kỳ lạ này làm cho trang sử của Giáo hội PGVNTN bị chết ngang ở cột mốc năm 1964. Điều đó khiến ta không khỏi nhận thấy rằng, Giáo hội PGVNTN bị kẹt nặng không ăn nói gì được về quá trình hoạt động của họ từ 1965 - 1975 và từ 1975 đến nay (2025). Giả thử có chức sắc nào thuộc Giáo hội PGVNTN chịu nói ra hết sự thật giai đoạn từ 1965 - 1975 dưới chánh quyền quốc gia thì chỉ cho thấy hành trình của Giáo hội nầy toàn là một hành trình chính trị, xen lấn vào chính trị với những tham vọng quyền bính giả ảo chỉ tổ phá rối chánh quyền quốc gia, lén lút móc nối hoạt động ngầm cho Cộng sản, chớ hoàn toàn không có hoạt động hoằng dương Phật pháp lẽ ra phải là trọng trách chánh yếu của giới tăng lữ tu hành. Cũng vậy, nếu có chức sắc nào chịu kể ra hoạt động cuả Giáo hội PGVNTN giai đoạn sau tháng Tư Đen 1975 thì lại càng phơi bày rõ hơn cái vô minh, tà kiến, sai lầm của họ ở giai đoạn trước 1975, và tệ hơn, sẽ phơi ra trần trụi cái cốt thật của họ sau black April, họ hết còn vênh vang bề thế như dưới thời quốc gia, giờ đây những ông tăng quyền uy hợm mình ngày nào không những chịu bán mình cho quỷ, ngoan ngoãn khuất phục trước Cộng sản Hanoi mà còn tiếp tay cho chúng khai tử luôn Giáo hội PGVNTN vốn được chánh quyền quốc gia tôn trọng, cưng dưỡng, nhượng bộ, nuông chìu trong suốt mười năm thời Đệ II Cộng Hòa, như bạn đọc sẽ xem tiếp dưới đây việc khai tử Giáo hội PGVNTN:
Cuối năm 1970, Thích Trí Thủ lên thay Thích Thiện Hoa làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo Ấn Quang.
Khi Cộng sản âm mưu xóa tan GHPGVNTN vào năm 1980 bằng cái gọi là Thống Nhất Phật Giáo [ để thay vào đó là một hình rơm mới với tên gọi là "Giáo hội Phật giáo Việt Nam" (không có 2 chữ Thống Nhất) mà dân gian mỉa mai là Giáo hội Phật giáo QUỐC DOANH bởi vì Giáo hội này là một tổ chức hữu danh vô thực, hoàn toàn chịu sự điều khiển của Cộng sản dấu mặt đừng đằng sau ], thì Trí Thủ được làm Trưởng Ban Vận động thống nhất Phật giáo đó. Ban Vận động thống nhất Phật giáo này 'ra mắt' ngày 24-5-1980 tại Huế. Giáo hội Phật giáo QUỐC DOANH hình thành ngày 4-11-1981 tại Hanoi
Thích Trí Thủ là người đã có công lớn với Cộng sản Hanoi trong vụ Thống Nhất Phật Giáo hay nói đúng hơn là khai tử PGVNTN, xin xem Hồ sơ Thống Nhất Phật Giáo by Đỗ Trung Hiếu (1994) hay còn gọi là Bản tường trình Thống Nhất Phật Giáo. Đỗ Trung Hiếu là 1 cán bộ Cộng sản, được chỉ định thi hành việc liên lạc vận động thống nhất Phật giáo như thế này. Đến năm 1994, Hiếu phản tỉnh, liều mình tung ra 1 tài liệu 76 trang với tên gọi như vừa kể trên, gởi ra cho các tổ chức người Việt Quốc Gia hải ngoại. Đỗ Trung Hiếu lập tức bị bỏ tù 4, 5 năm. Sau khi ra tù Đỗ Trung Hiếu tiếp tục bị Cộng sản Hanoi trả thù với những cách thức mà chúng thường xài cho nạn nhân của chúng như, cô lập, quấy phá và gây cản trở, khó khăn trong mọi sinh hoạt của nạn nhân Đỗ Trung Hiếu. Đỗ Trung Hiếu lâm vào cảnh khốn cùng, bệnh hoạn và chết âm thầm trong một căn nhà xa xôi hẻo lánh ở vùng Cần Giờ, Saigon khoảng năm 2009, 2010.
[ * Ngành Thiếu Gia đình Phật tử: Là 1 trong 3 cấp Nam, Nữ Đoàn Sinh Gia đình Phật tử chia theo độ tuổi như sau:
- Ngành Đồng (còn gọi là Oanh Vũ): từ 6 đến 12 tuổi.
- Ngành Thiếu: từ 13 đến 18 tuổi.
- Ngành Thanh: từ 19 tuổi trở lên.
Một bậc Kỳ Nhân của VNCH
#Chinh Luan Dec. 9, 1970 trang ba
(Bài 005 a) Phụ Tá Nguyễn Cao Thăng đã từ trần
Ngày 8-12-1970, Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng từ trần trên bầu trời Ấn Độ khi ông đang ngồi trên phi cơ, chuyến bay từ Mỹ về Việt Nam, sau một thời gian điều trị bệnh ung thư ở Mỹ không có kết quả. Cùng đi trong chuyến bay này còn có Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, trở về Saigon sau chuyến công du Hoa Kỳ 3 tuần.
Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng là nhà Mạnh Thường Quân chủ lực của Trung tướng Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia Nguyễn Văn Thiệu từ thời 1965, và sau khi Tướng Thiệu đắc cử Tổng thống VNCH vào tháng 10-1967, ông là Phụ Tá đặc biệt của Tổng thống, đặc trách các cơ quan hiến định của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, và giữ một vai trò mắt xích trọng yếu cho Tổng Thống trong công vụ liên lạc với Quốc Hội lẫn phe Phật giáo.
Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng, quê quán Dương Lộc, tỉnh Quảng Trị, hưởng dương 50 tuổi, là một khuôn mặt lớn của chế độ Đệ II Cộng Hòa, là người trợ giúp rất đắc lực cho Tổng thống Thiệu. Có thể nói, mất đi ông Phụ Tá Nguyễn Cao Thăng, Tổng thống Thiệu như mất đi một cánh tay phải.
Bài Đọc Thêm
#Tien Tuyen Dec. 11, 1970 trang hai
(Bài 005 b) Ông Nguyễn Cao Thăng
by Ký Giả Lô Răng
Ông Nguyễn Cao Thăng đã chết. Trong chuyến trở về để nhìn thấy quê hương lần cuối, ông đã tắt thở ngay trên phi cơ. Ai cũng biết là bệnh ung thư là bất trị, nhưng đối với một người như ông Nguyễn Cao Thăng, giàu tỉ phú, ông nằm ngồi trên đống thuốc, không ai tin là ông từ giã cuộc đời mau như vậy.
⚫ Còn nhớ trước khi ông đi (vào khoảng đầu năm nay) ông còn đưa ra một lời tuyên bố rùng rợn “Người Mỹ phải chịu trách nhiệm về cuộc tấn công Tết Mậu Thân”. Xưa nay ông Nguyễn Cao Thăng vẫn là một người kín tiếng. Ông làm chính trị hậu trường, ít khi ông ra tiền diện nên lời tuyên bố của ông có một tiếng vang trong nước cũng như ngoài nước. Nhất là lúc đó ông vẫn còn là Phụ tá Đặc biệt cho Tổng Thống Thiệu. Một giả thuyết đã được nêu ra là ông Thăng đi kỳ này là để làm một công tác “tiền bầu cử”, cho cả Tòa Bạch Ốc lẫn Dinh Độc Lập. Nêu lại vấn đề CS tấn công khơi khơi đầu năm con Khỉ, khi quân Mỹ đang ở VN trên nửa triệu người, khi đình chiến 3 ngày Tết đã được chấp thuận, tức là cố ý gán trách nhiệm cho chính phủ Johnson... Đảng Dân Chủ, theo lịch sử Hoa Kỳ thì chỉ có ngừng chiến chứ không tuyên chiến. Ông Johnson đã đi ngược lại truyền thống ấy và tham gia cuộc chiến VN càng ngày càng nặng. Đến một lúc nào đó ông muốn rút chân ra, cuộc tấn công Mậu Thân của CS có thể là một nước “chạy làng” của chính quyền Dân chủ, nhưng nhờ nước An Nam chưa đến hồi mạt, nhờ dân giác ngộ, nhờ lính đánh tốt nên cái dự mưu kia không thành. Trong lúc thế giới tưởng rằng Nam VN mất đến nơi, thì đất nước này vẫn gượng dậy, đứng lên và trái với mọi điều dự đoán, cái thế của VNCH lại càng ngày càng được củng cố. Dù muốn dù không, thế giới phải ghi một điểm son cho QLVNCH, cho chính quyền hiện hữu. Thành ra chỉ một lời tuyên bố của ông Nguyễn Cao Thăng, mà đảng Cộng Hòa của ông Nixon có điểm, mà dinh Độc Lập của ta cũng có phần sáng giá.
⚫ Sự khôn ngoan thường lệ của ông Dược Sư họ Nguyễn đã khiến cho giả thuyết kia được phóng đi. Đến nay ông đã nhắm mắt lìa đời. Dù giả thuyết ấy không hoàn toàn được minh chứng nhưng ít ra nó cũng là một công tác cuối cùng của ông phục vụ cho Dinh Độc Lập.
⚫ Ở trong nước, ông được nói đến nhiều nhất dưới danh hiệu Ô. Pê Vê (tên tắt Công ty Dược phẩm của ông). Ông là một “ông anh chi tiền” cho một số khá lớn những nhà dân biểu, cho nên không lấy làm lạ khi tin ông mất đến Hạ Viện đã có một sự xúc động bàng hoàng. Sự xúc động này chắc chắn là thật sự, phát ra tự tâm can, không phải là “diễn xuất”, cả những nhà dân biểu thân cũng như chống chính quyền. Bởi vì dù thân hay chống thì các nhà dân biểu này cũng đều hơn một lần tiếp xúc với ông Phụ tá Nguyễn Cao Thăng... Từ khi ông Dược Sư ra đi đến nay, khá đông các nhà DB đã rách bươm ra trông thấy. Họ mong ông sớm trở về. Nhưng ông không tới hậu trường Hạ Viện mà đi luôn sang thế giới bên kia. Oh! le bon vieux temps s’est passé... [ Ôi, những ngày xưa thân ái nay còn đâu … ]
⚫ Nhìn vào tiểu sử của ông Nguyễn Cao Thăng, ai cũng phải nhận ông là người khôn khéo và thành công mỹ mãn ở đời. Ở hậu phương về, đang học dở dang, ông được giáo sư Huard nâng đỡ nên tốt nghiệp dược sĩ rất mau. Khi có văn bằng rồi (một thứ văn bằng hái ra tiền ở đất nước An Nam) ông làm hơn người khác và ngay trước năm 1960, ông đã trở thành tỉ phú rồi. Thời Đệ I Cộng Hòa ông đã là dân biểu, thời cách mạng và hậu cách mạng ông chỉ bị lôi thôi qua quít, vẫn yên tâm làm giàu, thời Đệ II Cộng Hòa thì ông lại càng sang trọng, càng nhiều tiền hơn nữa. Ông trở thành Thạch Sùng, Vương Khải của thời đại ngày nay. Ông lại còn thành công cả về đường tình ái. Phu nhân của ông vốn là hoa khôi trường Đồng Khánh, và ông lại còn có diễm phúc “hoa thơm đánh cả cụm” đem về trồng trong nhà...
⚫ Buồn thay, sự khôn ngoan tính toán của ông cũng không tránh nổi cái số. Đang ở tuyệt đỉnh giàu sang, quyền quý thì ông lìa trần. Theo Tây phương, tuổi 50 đang là tuổi phương cương của trí óc và thân thể. Theo Đông phương thì ngũ thập tri thiên mệnh, đó là cái lúc biết mệnh trời... Biết mệnh trời thì hoặc là tiến thêm trên con đường danh lợi, hoặc là lui về ở ẩn theo kiểu Nguyễn Công Trứ “theo sau... một đôi dì, bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” 1 . Ông chưa kịp hưởng nhàn chưa kịp tri thiên mệnh thì ông đã buông tay nhắm mắt. Than ôi! buồn cho ông mà lại tiếc cho ông!!...
Ký giả LÔ RĂNG
1: Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng
(trích Bài Ca Ngất Ngưởng - Hát Nói của Nguyễn Công Trứ)
$pageOut $pageIn Phân đoạn 5
đâm sau lưng chiến sĩ
#Tien Tuyen Feb. 24, 1971 trang ba
(Bài 006) Đạo Binh Thứ 5 #Tien Tuyen Feb. 24, 1971 trang ba
(Bài 006) Đạo Binh Thứ 5
by Kẹo Đồng (chuyên mục PHƠ, trang ba)
TRONG cái rét căm căm của thời tiết Hạ Lào, giữa một chiến trường chỉ gồm có rừng núi hoang vu mà lương thực chỉ còn cách trông cậy vào sự tiếp tế, các chiến sĩ anh dũng của ta vẫn đương đầu một cách oai hùng trước hỏa lực tấn công ác liệt của địch.
3 ngày ròng rã chiến đấu trong vòng vây và các đợt xung phong điên cuồng của Cộng quân, các chiến sĩ anh hùng của ta đã đổi mạng mình lấy 10 mạng địch. Sự chênh lệch của cuộc so tài đã thấy rõ: căn cứ của đơn vị ta chưa đầy đủ hệ thống phòng thủ kiên cố thì địch đã lợi dụng địa thế mang quân số đông gấp bội đến tấn công với đủ các loại súng, kể cả chiến xa, và còn được hỏa lực phòng không mạnh mẽ yểm trợ để ngăn chặn viện binh và Không lực can thiệp.
Một trận đánh kết thúc, nhưng chiến tranh chưa chấm dứt.
Địch muốn thăm dò phản ứng của ta hay muốn ra tay thị oai trước? Dù sao lối đánh của địch cũng đã được phơi bày phần nào. Với 2 võ sĩ thượng đài "quyết ăn thua đủ", việc một bên ra tay trước chỉ có lợi nhỏ nhưng sẽ tai hại lớn về sau.
"Trận đấu vẫn khởi đi trong sự dò dẫm của đôi bên”, đúng như các nhà phê thuật bóng tròn thường viết. Mặt trận Hạ Lào càng sôi động và ác liệt, các chiến sĩ của ta ở đó lại càng có dịp vẽ lên những hình ảnh oai dũng trong lòng mọi người.
Nhưng... khói lửa vùng Hạ Lào chỉ phủ kín các trang báo, còn mùi thuốc súng và máu không bay về được thủ đô. Cho nên có còn những kẻ phè phởn ở đây, đã được ăn ngon, được nốc rượu mạnh, lại còn dùng lời riễu cợt phỉ báng tập thể đông đảo chiến sĩ đang vùng lên ở khắp mọi chiến trường để đánh Cộng sản xâm lăng những đòn ác liệt hầu kết thúc cuộc chiến.
Khi Quân lực ta vừa vượt biên giới Lào - Việt, chính họ đã lo ngại cho sự sống còn của Cộng quân mà lớn tiếng phản đối. Giờ đây, khi địch tấn công ác liệt quân ta thì họ lên tiếng mỉa mai, riễu cợt. Đó chính là "đạo binh thứ 5" của giặc, bọn người đâm sau lưng chiến sĩ.
Đó là những quả mìn nổ đúng theo giờ đồng hồ. Vì họ đã hành động rất ăn khớp với tất cả mọi hành động của giặc.
LTC chú thích: Các bài trên (trang ba báo Tiền Tuyến) chuyên mục Phơ by Kẹo Đồng là những giòng xã thuyết nhận định, phân tích ... rất là sáng suốt và có giá trị làm sáng tỏ cục diện/hiện tình đất nước như một thiên chính luận chính thức của báo Tiền Tuyến, có thể do chính vị Chủ nhiệm, Trung tá Phạm Xuân Ninh (tức thi sĩ Hà Thượng Nhân) chấp bút (?), mà cho tới nay, sau hơn nửa thế kỷ, các nhận định, phân tích đó vẫn còn nguyên giá trị. [ mục PHƠ của Tiền Tuyến có dáng dấp tương tự như mục Ý KIẾN của nhựt báo Chính Luận — đăng trên trang nhất — (có lẽ) do Bác sĩ Chủ bút Đặng Văn Sung viết?! ]
#Chinh Luan Dec. 12, 1970 trang hai
(Bài 007) DIỄN ĐÀN: VÌ DÂN TỘC HAY KHÔNG by Vĩnh Nam (viết về group Nguyễn Ngọc Lan) (kỳ 01)
#Chinh Luan Dec. 12, 1970 trang hai
(Bài 007) DIỄN ĐÀN: VÌ DÂN TỘC HAY KHÔNG by Vĩnh Nam (viết về Nguyễn Ngọc Lan Group) (kỳ 01)
Linh-mục Nguyễn-Ngọc-Lan và các đồng-chí của ông mấy năm nay nổi bật hẳn lên trên mặt trận tư tưởng. Dù muốn dù không, dù đồng ý hay phản đối, người đọc cũng phải một lần tìm xem quan điểm của nhóm Nguyễn-Ngọc-Lan là thế nào.
Về quan điểm ấy, mỗi người phê phán một cách. Nhiều người cho nhóm Nguyễn-Ngọc-Lan nếu không phải là Cộng sản thì ít nhất cũng là những kẻ nối giáo cho giặc. Họ không dám nói nhóm ấy chủ trương nối giáo cho giặc, nhưng rõ ràng những sản phẩm của nhóm ấy đã mang lại hậu quả làm lợi cho địch rất nhiều. Vậy thì việc nối giáo cho giặc ở đây phải hiểu là một hành động ngay tình, vô ý.
Bởi vì họ rất tin tưởng ở lập trường của linh-mục Nguyễn-Ngọc-Lan, một linh mục trẻ, nhiệt tâm, có kiến thức và có thể nói là gương mẫu cho một cuộc sống tu trì đúng nghĩa... Một con người đạo đức và kiến thức song toàn như thế, không thể nào theo Cộng sản được, càng không bao giờ có thể nối giáo cho giặc. Tuy nhiên người ta vẫn có thể nối giáo cho giặc một cách vô tình và nhóm Nguyễn-Ngọc-Lan là một trong những người ấy!
Có người lại phê phán nhóm Ng.Ngọc-Lan mắc cái tật muốn được mọi người lưu ý, muốn làm những nhân vật anh hùng. Họ cũng bảo nhóm này hợm mình, muốn vượt lên trên để đóng vai trò lãnh đạo quần chúng, đứng ngoài bút giáo hóa nhân dân, thức tỉnh lương tâm con người.
Lắm người khác lại bảo nhóm Nguyễn Ngọc Lan mắc bệnh ảo tưởng, ảo tưởng về thực tế ở VN, nơi mà họ đã có thời gian tạm biệt để qua sống bên trời Âu châu đến độ phần nào quên khuấy mất cái thế đứng thực sự của quốc gia này...
Nhưng theo thiển ý của chúng tôi, thì nhóm của linh mục Nguyễn Ngọc Lan đã có lập trường và thái độ như là đã trình bày qua các tạp chí và sách xuất bản của họ là vì những nguyên do sau đây:
1) Mặc cảm Công giáo phạm tội
Phần lớn những người cộng tác với các tạp chí như Hành Trình, Đất Nước, Trình Bày, Đối Diện là người theo đạo công giáo; một số lớn lại còn là những vị chức sắc trong đạo hoặc những người trước vốn theo nghiệp tu nhưng nửa đường đứt gánh đành chèo thuyền tìm về cõi trần. Vì vậy họ ý thức sâu xa sự kiện công giáo ở Việt Nam. Sự kiện đó, cho đến nay, vẫn còn mang dáng dấp hàm hồ.
Ai cũng biết Đạo Công giáo xuất hiện trên mảnh đất này cùng một lúc với phong trào thực dân do Tây phương phát động. Có nhiều lúc hai phong trào đó hòa lẫn vào nhau một cách quá mật thiết đến không còn có thể tìm ra đường phân ranh. Thật khó mà xác định được rằng giáo hội, một cách minh nhiên, chủ trương đi chinh phục đất đai hoặc hỗ trợ các cuộc chinh phục ấy. Nhưng hiển nhiên một điều là chính Giáo hội hồi đó đã một phần nào rửa tội (baptiser) cho học thuyết Cộng sản sau này qua câu nói thời danh của họ: mục đích biện minh phương tiện.
Mục đích ở đây chính là công cuộc “mở mang Đạo Thánh Đức Chúa Trời ra khắp tứ phương thiên hạ” là “đi khắp thế gian, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Sứ mệnh truyền rao Phúc Âm cho muôn dân, giúp họ thoát ly tai ách “bụt thần” thực sự là mối ưu tư ngàn đời của Giáo Hội. Giáo hội cảm thấy như mình sẽ tự phản bội mình nếu không đi rao giảng. Từ mối ưu tư chân chính ấy bước qua hình thức cực đoan thực sự không xa, chỉ cần một bước: dùng ngay phương tiện của loài người bằng bất cứ giá nào để lời Chúa được nói lên, được rao giảng, dù có vì vậy mà phải xử dụng đến một phương tiện không mấy tốt đẹp.
Miễn là lời Chúa được rao giảng. Một cách ngay tình, các nhà truyền giáo ban đầu ở VN đã nghĩ vậy. Và do đó, họ đã tích cực giúp chúa Nguyễn khôi phục giang sơn bằng cách di chiêu dụng binh lính, thuyền bè, súng ống.
Vai trò của giám mục Bá Đa Lộc chỉ có nghĩa như vậy. Giúp Chúa Nguyễn để Chúa Nguyễn giúp mình có hoàn cảnh thuận lợi giảng đạo, Bá Đa Lộc không hề muốn lợi dụng Nguyễn Phúc Ánh cho một mục tiêu nào khác. Khi mà chính con cháu Nguyễn Phúc Ánh, vì một dun dủi lạch sử nào đó, đã xua đuổi, đã lên án bọn người tôn giáo, kết tội họ là tà đạo, chém giết họ không thương tiếc, chối từ cái quyền làm người Việt của họ, thì chính là lúc xuất hiện hàm hồ tính của đạo Công Giáo ở VN. Những người Việt khốn khổ bị săn đuổi kia đã chẳng còn biết trông cậy vào ai, đành phải trông nhờ vào ngoại nhân giải thoát. Những chức sắc trong đạo Công giáo như thấy mình bị dồn vào một chân tường, đành phải cực đoan hành động bằng cách ra mặt ủng hộ những cuộc viễn chinh giải thoát... Và từ đó, người Công giáo trở thành một đoàn người cô lập (des ghettos), bị đồng bào đồng hóa với ngoại nhân hoặc những kẻ bán nước.
Ngược lại, phía người Công giáo, vì bị săn đuổi như những con thú cùng đường, đành cũng phải khép kín như các môn đồ xưa lúc Chúa vừa bị đóng đinh thảm hại, để tìm an ninh cho riêng mình. Nghĩ cho cùng, thì đó là những hiểu lầm đáng tiếc nhất đã xảy ra cho con cái của mẹ VN khốn khổ. Có điều là hai thái độ cực đoan kia cứ có đất để mà tiếp tục sống mái. Các phần tử trí thức sáng suốt vấn đề, ở cả hai phía, thật sự là ít ỏi không đáng kể và do đó chẳng thay đổi được gì.
Hậu quả là một mặc cảm tội lỗi càng ngày càng đè nặng lên tâm hồn người công giáo ở VN... Cái mặc cảm ấy ngày nay vẫn còn y nguyên và có khi còn được bồi bổ thêm do những sự kiện mới đem đến suốt từ thời thực dân dài dằng dặc và những chế độ ưu đãi Công giáo... Đó chỉ là cái mặc cảm chạy theo ngoại bang, theo đuôi những thế lực mạnh dù đó là những thế lực phản động...
Nhiều người cảm thấy cần phải phá đổ cái mặc cảm “mắc dịch” ấy. Vì chẳng còn gì khổ cho bằng phải sống bằng mặc cảm. Chính vì vậy họ đã kết hợp lại, mục đích mời gọi mọi người trở về với dân tộc, đến cái độ cực đoan coi dân tộc như một thực thể có trước cả cá nhân, ngược cả giáo lý căn bản của giáo hội vốn coi con người cá nhân như thực thể tiên khởi...
Họ cố gắng ngoi lên khỏi cái mặc cảm nặng chĩu để đánh phá những chiêu bài bám nhờ ngoại bang. Họ lớn tiếng đả kích Mỹ với mục đích kéo người đồng đạo ra khỏi mê đạo cũ, lên đường “tìm về dân tộc” [ * ] dù có phải vì vậy mà bị thiệt thòi. Họ chạy theo những phe nhóm nào tranh đấu cho quyền lợi dân tộc, cho dù đó chỉ là những tên hề chánh trị, đầy mình những chiêu bài bịp bợm. Người thức thời dường như đang tỏ vẻ thương hại họ, thương quá, y như họ đã thương hại cái anh chàng trường giả học làm sang của kịch tác gia Molière. Vì có bao giờ các anh chàng trường giả học làm sang kia lại có thể một ngày một giờ trở thành sang bao giờ. Nhất nữa, anh ta vì nôn nóng muốn làm sang nên đã “bắt quàng” làm thầy toàn những anh chẳng mắc dịch...
Chúng tôi rất tin tưởng ở thiện chí của nhóm Cha Lan. Chúng tôi tin rằng họ đã hành động một cách bất vụ lợi. Nhưng họ đang là những anh trường giả học làm sang từ cực đoan nọ đang bước qua cực đoan kia. Từ mặc cảm này chạy qua mặc cảm khác. Cái vòng luẩn quẩn thực sự đang trùm phủ lấy họ. Người ta tin rằng mẹ Việt Nam đã thấu hiểu thiện chí của họ và mẹ đã sẵn sàng xóa mờ dĩ vãng của họ rồi. Và mẹ tha thiết xin họ ngừng ở đấy. Đủ rồi! Đừng tiến xa hơn nữa. Vì thật sự thế nào là quyền lợi dân tộc? Có hẳn đó là quyền lợi do người VN tạo nên và muốn bảo vệ không? Cũng như thế nào mới là cái “acte humain” [ hành động nhân bản ] có phải là bất cứ cái acte nào do con người tạo ra không, hay chỉ là những hành động do tự do của con người chấp nhận bằng ý thức và thực hiện? Cũng như vậy, trong bối cảnh lịch sử bây giờ, một anh chàng có thân xác Việt Nam trăm phần trăm, sinh và sống trên mảnh đất này ngay từ lúc đầu có hẳn đã là người Việt chưa? Cái gì làm cho anh ta là người Việt? Có Trời họa may mới trả lời được. Do đó mà dân tộc là một thực tại mơ hồ, không rõ rệt. Cần phải xác định nó trong không gian và thời gian. Ở bối cảnh này, quyền lợi dân tộc thiết thân là gì? Đó là một câu hỏi sẽ đưa lại một trăm câu trả lời. Không nhất thiết câu của anh phải đúng và câu của tôi phải sai hay ngược lại.
Vì không một ai có quyền tự đồng hóa mình với dân tộc, độc chiếm dân tộc làm vật sở hữu để muốn khoác cái áo nào cho dân tộc cũng được. Do đó đừng có lớn lối, lên án một cách tiên thiên. Tuy nhiên vẫn có một vài dấu hiệu khách quan đưa đến một quan điểm đa số về quyền lợi dân tộc trong không gian này và trong thời gian này.
Dấu chỉ rõ rệt nhất là gia tài dân tộc đang bị đe dọa phá tan. Kẻ đe dọa tất nhiên là các thế lực ngoại lai và những kẻ tiếp tay cho các thế lực đó. Một điều nghiệt ngã là sự tranh chấp giữa các thế lực kia ngay trên gia tài dân tộc đang là một thực tại thật khó tháo gỡ. Thật khó thoát ly khỏi cùng một lúc cả hai cái thế lực vĩ đại đang ảnh hưởng trên gia tài dân tộc.
Nếu không ngả theo thế lực này thì cũng phải ngả theo thế lực kia. Vấn đề vì vậy mà phải chọn lựa lấy một trong hai thế lực đó để rồi sau đó tìm cách thoát ly nốt. Hiển nhiên cần phải thoát ly cái thế lực có hại nhất cho gia tài dân tộc trước nhất đã.
Trong bối cảnh lịch sử bây giờ, thế lực có hại nhất cho gia tài dân tộc rõ rệt là thế lực nhằm hủy diệt dân tộc.
Ông Hồ, cho đến lúc gần nhắm mắt, vẫn còn mang hoài bão thực hiện nhiệm vụ quốc tế Cộng sản hóa toàn vùng Đông Nam Á, trong một diễn trình tiến tới thế giới đại đồng, đặt cơ sở trên quyền vô sản. Cái thế giới đại đồng ấy không hề còn chỗ cho dân tộc. Thế mà theo ông Lý chánh Trung thì gần như là ta chỉ thành người trong lòng dân tộc mà thôi. Nói khác đi, trong thế giới đại đồng phi dân tộc, người không còn là người. Chứ đừng nói đến người VN nữa. Vậy thì phải diệt cái thế lực khủng khiếp đó trước đi. Cái thế lực ấy không hề giấu diếm ý đồ xâm chiếm gia tài dân tộc này, việc xâm chiếm này đang trở thành một tín điều, một giới răn bất khả phản hồi, vô ngộ... Họ có thực hiện được ý đồ hay không thì lại là chuyện khác. Nhưng ý đồ thì đã rõ rệt.
Trong đoàn kỳ, họ bắt buộc phải dùng những chiến lược khôn khéo để đấu tranh giai đoạn và từng bước một, họ sẽ tiến tới đích nhắm. Cần phải ngăn chặn, cần phải dựa vào một thế lực khác. Thế lực này chẳng tốt lành gì, nhưng phải xài đỡ để chống giữ được trước làn sóng xâm lăng tàn bạo của những con người chỉ muốn hủy diệt chính dân tộc chứ không phải hủy diệt những cá nhân.
Bao giờ ngăn được làn sóng tàn bạo ấy, ta sẽ tìm cách hủy diệt nốt cái thế lực còn lại, giúp khôi phục khuôn mặt diễm lệ muôn đời của Mẹ dân tộc. Diễn trình lịch sử khách quan bắt ta phải theo con đường ấy. Làm khác là làm hại Dân tộc và làm hại một cách vô tình thì cũng vẫn là làm hại, làm hại một cách ngay tình thì vẫn là làm hại.
(Còn nữa)
#Chinh Luan Dec. 13_14, 1970 trang hai
VÌ DÂN-TỘC HAY KHÔNG?
của VĨNH-NAM
(TIẾP THEO VÀ HẾT)
II) Vuốt ve Cộng sản để được an thân
Cũng là những người Công Giáo như nhau, cũng là những nhà tu hành như nhau, nhưng rõ rệt nhóm của Cha Lan khác xa nhóm của Cha Lãm hoặc nhóm của Cha Thăm, trong phương cách đối thoại với người Cộng sản. Nhóm của Cha Thăm (Thẳng Tiến) thì gay gắt, nhóm của Cha Lãm (Xây Dựng) [ * ] cũng gay gắt chẳng kém, còn nhóm của Cha Lan thì hòa hoãn rõ rệt. Các nhóm kia bảo nhóm Cha Lan là Cộng sản trá hình. Nhóm Cha Lan thì bảo các nhóm kia là chống Cộng kiểu đà điểu. Ông nói ông phải, vãi nói vãi hay.
Nhưng tất cả đều có lý của mình. Chúng tôi không đời nào tin được rằng nhóm Cha Lan lại có thể hoạt động cho Cộng sản được, cũng như hai với hai không thể nào là năm được. Chúng tôi cũng cho rằng: trên phương diện chánh trị, mỗi một người có quyền phát biểu ý kiến của mình. Thẩm quyền giáo hội không có lý do gì ngăn cấm. Và khi đã là ý kiến cá nhân thì không thể nào nhân danh bất cứ một thế giá nào của giáo hội để lên án họ.
Thế giá giáo hội chỉ nên được viện dẫn trong phạm vi luân lý và tín lý mà thôi. Giáo hoàng Paul đệ lục hay bất cứ một chức sắc nào trong đạo khi phát biểu về chính trị thì ý kiến chỉ có giá trị như ý kiến của một giáo dân thường. Người ta lấy làm lạ: trong mấy năm gần đây, các phe nhóm luôn luôn sử dụng đến thế giá để bênh vực quan điểm chính trị của mình. Người lương thiện, thiết tưởng, không nên làm như vậy.
Trở lại nhóm của Cha Lan, chúng tôi thấy giọng điệu của họ đối với Cộng sản là giọng điệu đầy thân tình (Cộng sản, người anh em tôi!) [ xin xem chú thích ở Phân đoạn 6 ] đầy thán phục (20 năm Xây dựng Chủ nghĩa Xã hội) [ xin xem chú thích ở Phân đoạn 6 ] ... Có người coi những giọng điệu ấy như một liều thuốc đắng có tác dụng kích thích, mục đích chọc giận nhà cầm quyền miền Nam, giúp họ “sáng mắt” trước những thành quả xây dựng đầy sự tốt đẹp của phe địch và, nhờ thế, vì tự ái, nhà cầm quyền miền Nam sẽ cũng cố gắng thực hiện được ít là như vậy... Phải chăng, vì vậy, mà có lúc nhóm cha Lan đã tự coi mình là những kẻ chống Cộng sáng suốt chứ không phải như ai kia chống Cộng kiểu đà điểu?
Riêng phần chúng tôi, chúng tôi không tin rằng đó là chủ trương của nhóm cha Lan. Vì một điều dễ hiểu là họ những người biết nhiều hiểu rộng, đọc nhiều thấy nhiều, không thể nào không biết rằng sở dĩ miền Bắc đạt được thành quả như trên (nếu thực sự có thật như thế) là nhờ một chính sách tàn bạo nhằm bóc lột sức lao động của nhân dân dưới quyền. Những câu nói thường được nghe họ nhắc đến như «thi đua sản xuất cả trong ngày lễ», «một người làm việc bằng ba» ... chính là đã tố cáo cái chính sách tàn bạo ấy. Ở miền Nam, một chính sách như thế không thể nào thực hiện được. Mới bắt sinh viên học quân sự một tháng tại quân trường, mà chính các ngài còn chả chịu, thì còn nói đến cái gì khác nữa kia? Thế cho nên trong bối cảnh tự do này, nơi mà dù sao vẫn còn rất nhiều tự do gấp vạn lần miền Bắc, lại gặp thời chiến tranh, ta không thể nào đạt được một mức sản xuất giống như ở một chế độ độc tài. Cái giá của tự do là như thế. Hẳn những đồng chí của cha Lan cũng đồng ý như vậy, nên họ đã cố tình không nhắc đến sự đóng góp của nhân dân miền Bắc cho cái thành công của chế độ miền Bắc trong lãnh vực sản xuất (nếu có thể nói được là thành công). Nếu chỉ nhắc đến thành quả mà không thôi, thì thiết tưởng mấy nhà cầm quyền miền Bắc có thể được đặt ngang hàng với những bạo chúa Pharaon xưa trong những công trình xây cất vĩ đại như kim tự tháp, hay những tiêm bi (obélisque) khổng lồ chẳng hạn...
Hãnh diện hay không, mọi người đã thấy rõ. Người của Cha Lan là những người đầu tiên nhìn thấy điểm đó. Vả lại, họ làm sao quên được câu nói của Đức Kitô trả lời cho Thần Xấu: “Con người không chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn sống vì lời Chúa nữa”. Mà lời Chúa là lời giải phóng, nên con người còn sống vì Tự Do nữa kia, không Tự Do con người sẽ chết mòn mỏi, chết thảm thê ngay trong cái thân xác phì nộn. Nói tóm lại, làm sao nhóm cha Lan có thể biện minh được điểm: ca tụng miền Bắc là cách thúc đẩy miền Nam tiến lên để đè bẹp miền Bắc ngay trong công trình xây dựng. Vì một lẽ giản dị là họ không chủ tâm đưa ra quan điểm ấy, vậy thì họ nhằm cái gì trong các giọng điệu mà có người đã gọi là “nức nở ca ngợi miền Bắc” hoặc đầy thân tình, thân tình hơn là các giọng điệu họ dùng để nói với những người đang ở một bên với họ? Chúng tôi nghĩ họ làm thế là nhằm phục vụ một mưu đồ chính trị, nhằm đem lại an thân cho họ. Ai cũng thấy: từ ngày Giáo hoàng Jean XXIII lên trị vì giáo hội La Mã, nhiều sắc thái mới đã xuất hiện trong lòng giáo hội ấy.
Nhiều trao đổi hơn, nhiều cởi mở hơn, nhiều chào đón hơn, nhiều nụ cười hơn, đối ngay với những kẻ chủ trương bách hại mình, đã xuất hiện, làm cho bộ mặt cần cỗi của Hội Thánh Công Giáo đã gần như biến mất, và kể cả những địch thủ hằn học nhất cũng đã bắt đầu nhìn lại, bắt tay, chào hỏi... Cũng từ ngày đó, ta thấy nhiều nhân vật Cộng sản đặt chân tới sân Damase để vào bệ kiến Giáo Hoàng.
Con rể Kút Sếp đã không ngần ngại ca tụng bàn tay nồng dân của giáo hoàng Jean XXIII. Đầu sỏ của Cộng sản quốc tế là Podgorny cũng đã tới thăm Vatican. Nam Tư chính thức tiếp nối bang giao với Tòa Thánh. Tàu Cộng trả tự do cho giám mục Walsh, bắt chước hành động của Nga Xô trước đó ít năm qua vụ phóng thích giáo chủ Slippyi gì đó... Giọng điệu chung của Giáo Hội La Mã là một giọng điệu hòa hoãn, thân tình mỗi khi nhắc đến những quốc gia Cộng Sản, tuy về mặt thuyết vẫn tỏ ra vô cùng cứng rắn đối với chủ nghĩa Cộng sản. Điều đó cũng phải, vì trong bối cảnh chính trị ngày nay, thật có điên mới thực hiện chủ nghĩa Cộng sản y như Karl Marx, Lénine đã chủ trương. Có thể nói được chủ nghĩa Cộng sản đã chết ngay trong những quốc gia Cộng sản... Cho nên Giáo Hội Công giáo rất an tâm bắt tay các quốc gia Cộng sản mà vẫn không sợ lý thuyết của mình bị đầu độc.
Bắt tay như vậy rất có lợi. Vì ít ra, nhà cầm quyền tại các quốc gia đó cũng sẽ bớt đi tính cách cực đoan và do đó sẽ đối xử tốt hơn với những con cái của giáo hội hiện đang sống dưới quyền của họ... Người ta còn nhớ dưới triều đại của Giáo hoàng Pie XII, người công giáo gồm cả giáo dân lẫn linh mục và giám mục đã bị bách hại nhiều nhất, chính là do thái độ quá cứng rắn của ngài đối với thế giới Cộng sản.
Thái độ quá cứng rắn ấy thực sự lại là vấn đề chung của tất cả mọi chính quyền thuộc thế giới tự do lúc bấy giờ. Từ Âu sang Á, từ châu Mỹ đến châu Úc, đâu đâu cũng gặp thái độ ấy đối với phe Cộng. Sở dĩ thế giới tự do có thái độ ấy cũng là vì tin tưởng có thể đánh bại được cộng sản. Nhưng ngày nay, rõ rệt là ta không thể đánh bại được Cộng sản, ta không thể xua đuổi chúng khỏi lãnh địa con người (terre des hommes), ta không thể hủy diệt được họ, mà bắt buộc phải chấp nhận họ, dù là phải chấp nhận họ như một “thực tế”! Hậu quả là phải tìm cách để có thể sống chung với họ trong một hậu ý rất thực tế là mong họ để cho ta yên thân và dần dần dụ họ bạch hóa theo một “chánh sách chiêu hồi” khôn khéo! Giáo Hội Công giáo đã đi tiên phong trong thái độ ấy, ngay từ lúc Cộng sản đang hăng say sát hại con chiên của mình.
Hậu quả, như ta đã thấy, các quốc gia Cộng sản đã bắt đầu thay đổi thái độ và ngay cả cái anh chàng cứng đầu cứng cổ là Tàu Cộng cũng đã có một đối thái độ hòa hoãn đối với một thế lực mà xưa nay họ vẫn coi là gián điệp, là dụng cụ của đế quốc.
Ở Việt Nam, nhóm của Cha Lan có thể được coi là nhóm đầu tiên đi theo con đường ấy.
Vì họ là những phần tử Công giáo Cấp tiến, đa số du học từ các quốc gia Tây Âu, được đọc nhiều và thấy nhiều, do đó đã phát hiện được những vấn đề lớn. Có lẽ vì vậy, khi đưa ra những giọng điệu thân tình hoặc ca ngợi, họ cũng nhằm cùng một mục đích như những vị giáo hoàng ở La Mã đã nhắm: một cuộc sinh hoạt bình thường cho giáo hội địa phương.
Hẳn không một ai có thể quên được sự kiện nửa phần quê hương đang chính thức nằm dưới quyền quản trị của Cộng sản. Ở nửa phần quê hương ấy, đang có rất nhiều người Công giáo sinh sống, rất nhiều vị giám mục và linh mục cũng như Tu sĩ đang hành sự một cách hạn chế. Nhà cầm quyền miền Bắc từ trước vốn áp dụng một chính sách nhằm hạn chế công cuộc đào tạo hàng linh mục và tu sĩ cho nhu cầu giáo nội địa phương.
Do đó, công cuộc sinh hoạt của Giáo hội ấy đang gặp thật nhiều khó khăn. Trong một tinh thần “các thánh cùng thông công”, bắt buộc những người sống an ổn ở bên này phải tìm cách giúp đỡ để cho những người sống bên kia có thể sinh hoạt bình thường. Các ảnh hưởng đã được vận dụng kể cả cơ quan Caritas quốc tế qua vị đại diện là một giám mục Tây Đức nhằm liên lạc với nhà cầm quyền Hanoi.
Trong phạm vi sở trường của mình, người trí thức mệnh danh là cấp tiến chẳng còn biết làm gì hơn là lôi kéo cảm tình trên lãnh vực tư tưởng, trong quan điểm chính trị, với mục đích đánh tan cái thành kiến vốn có, vốn quy trách cho giáo hội La Mã là giáo hội phục vụ quyền lợi đế quốc. Chính vì vậy, các nhà trí thức công giáo đã cố gắng nói lên quan điểm của mình, không hẳn là quan điểm của giáo hội, nhưng là quan điểm của một nhóm Công giáo, để “cho ai kia” thấy rằng: ít nhất cũng đã có một cái gì thay đổi nơi người Công giáo và mình có thể tạm sống với họ được.
Chúng tôi nghĩ rằng đó là hậu ý của nhóm Cha Lan. Có nhiều người cho rằng: Có thể quan điểm đó đúng nhưng người ta không khía cạnh trên đây, rất có thể nhóm Cha Lan còn để lộ cho thấy một trò chơi trí thức.
Theo họ, thì nhóm Cha Lan phần lớn là những người từng đi du học ở Tây Âu trở về: người từ Pháp là Sorbonne, kẻ thì học ở Louvain. Tại các trung tâm tư tưởng đó, họ làm quen với rất nhiều trào lưu thế giới, được tiếp xúc giao dịch với nhiều môn phái, được đọc rất nhiều sách vở, và nhất là các tài liệu rất thời sự từ những quốc gia Cộng Sản mang tới hoặc từ những quốc gia thân hữu với Cộng sản cung cấp. Ngược lại, tại mảnh đất Giao Chỉ khốn khổ vì chiến tranh, vì chậm tiến này, nơi mà mầm dân chủ chỉ mới được gieo, chưa đủ màu mỡ để mà nẩy nở... mọi cái đều bị ngăn cấm, kể cả văn hóa phẩm của miền Bắc, hoặc bất cứ một sản phẩm nào của địch... Do đó, khi vớ được một tài liệu nào của địch, người ta mừng quá xá, mừng y như là anh chàng buôn đồ quốc cấm đi được chuyến hàng trót lọt. Một dạo, ở trường Đại học Văn khoa, người ta đem các-thứ nghiên cứu văn học của miền Bắc ra mà giảng coi như đó là một tài liệu quý giá. Người đầu tiên mang ra giới thiệu lại chính là ông Nguyễn Văn Trung. [ * ]
Trong các bài giảng của ông, thỉnh thoảng ông trưng ra một vài tài liệu mua được của miền Bắc và coi như một cái gì quý hóa làm tăng giá trị cho bài giảng... Ở trong một môi trường thích đồ "quốc cấm", như làm vậy thì người nào may mắn có được đồ quốc cấm không thể nào yên tay yên chân, bắt buộc họ phải mang ra bán và vì càng bán càng có người ham dùng, nên lại càng thêm hứng và bán ra thêm.
Nếu người bán không có mục đích ham lời, ham tiền, thì đúng đó là một nhà trí thức: Chỉ nhằm mục đích thỏa mãn thị hiếu độc giả và đồng thời giải thoát mình khỏi ấm ức vì đã trót có đồ quốc cấm.
Họ cũng còn bảo rằng: Vả lại tại các quốc gia chậm tiến, nơi mà dân chúng thật ít khoái nghe chính phủ, thì những giọng điệu khuynh tả lại rất ăn khách.
Con đường tiến thân mau nhất chính là con đường thiên tả. Tất nhiên, những anh chàng thiên tả rất dễ bị tù. Do đó có anh đã phải chua thêm vào cái măng xét thiên tả của mình cái câu đại cù lần: "không Cộng sản " để tránh tai bay vạ gió. Trường hợp nhóm Cha Lan thì khác; họ không cần cái măng xét đại cù lần ấy. Họ thiên tả thẳng thừng. Vì họ cóc có sợ ai.
Họ là các nhà tu hành hoặc ít nhất họ là những người đã may mắn chiếm được một địa vị khả quan có ảnh hưởng lớn trong xã hội nên họ cóc cần phải sợ ai. Như mấy ông linh mục thì ai mà dám bắt bớ? Cho dù là có bắt bớ thì đâu cảnh sát có dám cho họ ăn dùi cui... Đụng một tí là họ la hoảng đàn áp tôn giáo. Bố chính quyền cũng chẳng dám làm gì. Mà nếu có làm gì thì cũng chỉ đến thế là cùng, họ đâu có vợ con gì để mà hòng nhượng bộ.
Thật mấy ông linh mục đến thế là khôn! Do đó, họ có làm trò bảnh thiên tả, cũng chả ai làm gì họ... Nói tóm lại, họ muốn diễn một màn trò trí thức.
Chúng tôi không tin như vậy. Vì họ là những con người nhiệt huyết, chín chắn, không thể nào đồng hóa với những tên hề Chính trị hiện nay, miệng nó cái này cái nọ nhưng thật ra không phải tranh đấu vì những cái nọ cái này.
Những điều được viện dẫn để mà tranh đấu thực sự chỉ là những mục tiêu giả tạo, có cũng được mà không có cũng chẳng sao. Đằng sau những chiêu bài ấy mới là điều quan trọng. Trước sau, chúng tôi vẫn tin: nhóm cha Lan tranh đấu một cách ngay tình, một cách thành thực, chứ không phải làm dáng cho xôm trò. Nhưng họ đã chỉ tranh đấu thực sự cho những quyền lợi của giáo hội họ. Mà quyền lợi của một giáo hội người ta rất hoài nghi được đồng hóa với quyền lợi dân tộc. Dân tộc là một cái gì bao la bát ngát, mà tôn giáo chỉ là một thành phần. Cần phải vượt lên trên để tìm ra những nhu cầu thực sự của dân tộc. Nhưng như đã nói, tự nó dân tộc là một ý niệm mơ hồ không đủ năng lực của một thứ nước rửa tội. Do đó, cứ nhắm mắt hô hào trở về lòng dân tộc, thì đó là một tiếng kêu hoàn toàn chìm lắng vào sa mạc vô nghĩa. Xác định nhu cầu của dân tộc, cần phải lưu ý đến môi trường không gian và thời gian cụ thể; chứ không nên nhân danh bất cứ một nhân bản thuyết nào, một thứ lý thuyết tưởng tượng nào một thứ đạo nhân ái mơ tưởng nào đó.
Dân tộc chỉ có thể được phục vụ bằng thái độ khiêm cung đóng góp. Vì thái độ đó sẽ mang lại khách quan tính cho những con người phục vụ. Mà khách quan tính cũng chính là phổ quát tính, là chân lý vậy. Người ta rất mừng vì nhóm cha Lan đã thẳng tay phê phán những khuyết điểm, những tội lỗi (nếu quả đó là tội lỗi) của các nhà cai trị miền Nam cũng như của những người đến trợ giúp họ.
Qua những phê bình gay gắt ấy, người ta thấy nhóm cha Lan đang đóng vai trò của những tiên tri xưa không ngại cường quyền, xuất hiện công khai chỉ trích vua chúa quân quyền, trách mắng, lên án họ với một ý thức thanh lọc, đúng hơn là trong sạch hóa bộ máy công quyền nhằm phục vụ quyền lợi dân tộc.
Ông Thiệu hay bất cứ người nào lên cầm quyền ở cái môi trường chiến tranh và chậm tiến này, đều đều cần được những người như thế hướng dẫn vì phê bình là một cách hướng dẫn hiệu quả nhất. Người Mỹ thì chả tốt đẹp gì. Cứ nhìn ngay vào triết lý viện trợ của họ thì cũng đủ biết... Ấy thế nhưng, chỉ nên ngừng lại ở đó thôi. Vai trò của tiên tri nên ngừng lại, đừng đi quá.
Trong khung cảnh nội bộ, anh muốn mắng mỏ nhà cầm quyền làm sao thì mắng mỏ. Nhưng xin anh đừng nên mượn tiếng người ngoài để mà mắng mỏ. Cũng xin anh đừng nên ve vuốt kẻ thù, đừng nên cho chúng cái ấn tượng được ủng hộ. Vì bao lâu còn những cái ve vuốt ấy, những ấn tượng ủng hộ ấy thì là anh vô tình làm hại dân tộc. Vai trò tiên tri của anh đã mất ý nghĩa. Vì dân tộc hay không? Rõ ràng là không, một cách khách quan.
Vĩnh Nam - 16-10-1970
[ * LTC chú thích:
➜ “tìm về dân tộc” là giọng điệu Lý Chánh Trung (giáo sư Đại học Văn Khoa) khởi xướng qua các quyển tạp bút Tìm Về Dân Tộc (Trình Bày xuất bản, 1967), Tôn Giáo Và Dân Tộc (Lửa Thiêng, 1972) cùng với nhóm Linh mục Công giáo thiên tả Chân Tín, Nguyễn ngọc Lan (tạp chí Đối Diện) và Nguyễn văn Trung (các tạp chí như Hành Trình, Đất Nước, Trình Bày) dùng làm chiêu bài, luận điệu la lối để che đậy cái lốt cộng sản hoặc thân cộng của họ.
➜ Nguyễn văn Trung: khoa trưởng Đại học Văn Khoa, chủ trương tờ tạp chí Hành Trình ra mắt tháng 12-1964, cùng với nhiều trí thức thiên tả lẫn các cây bút Việt cộng nằm vùng. Vì Hành Trình có giọng điệu thiên cộng quá lố nên bị chính quyền quốc gia tịch thu và cảnh cáo nhiều lần, đến tháng 6-1966 tạp chí Hành Trình đóng cửa để tờ Đất Nước (ra số đầu tháng 4-1966) thế chỗ.
Trình Bày là tờ báo Bán Nguyệt san, số đầu ra ngày 1-8-1970.
Cả 3 tờ Hành Trình, Đất Nước, Trình Bày đều là chủ trương của Nguyễn văn Trung nhưng đề tên người khác làm chủ nhiệm để núp bóng, là những tờ báo có cùng luận điệu thiên cộng, bằng đủ mọi lối ngụy biện … rẻ tiền làm lợi cho cộng sản, chê bai, đả kích chánh quyền quốc gia.
➜ tờ báo (Công giáo) Thẳng Tiến. Chủ nhiệm: linh mục Phạm Văn Thăm, là Tuần báo, số 1 ra tháng 07-1962
➜ tờ báo (Công giáo) Xây Dựng. Chủ nhiệm: linh mục Nguyễn Quang Lãm, là nhật báo, số 1 ra ngày 02-01-1964
➜ Nhóm linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan: cho ra tờ tạp chí Đối Diện số đầu vào tháng 7-1968. Tờ báo này có xu hướng thiên Cộng càng ngày càng lộ liễu, đến nỗi khi đọc một số bài đăng trong đó làm độc giả tưởng đó là báo của Việt cộng (MTGP = Mặt trận Giặc Phỉ) xuất bản ở Saigon.
Hai linh mục Chân Tín, Nguyễn ngọc Lan là bè bạn hữu hảo cùng một giuộc với Nguyễn văn Trung (và với Lý Chánh Trung) nối lại thành một mô thức đối lập kiểu mẫu dẫn đầu một cách vênh vang, bề thế, kéo theo sau là một bầy lâu la đệ tử hăm hở hăng hái, cùng nhau hoạt động làm lợi cho Cộng sản, chống chánh quyền quốc gia.
Cơn mê sảng ảo giác hoang tưởng của băng trí thức Công giáo này chỉ chấm dứt khi chộ với băng nón cối dép râu trong rừng tràn ra đô thành; cơn mộng tưởng với những luận điệu lớn lối khoa trương "tìm về dân tộc" ra rả lâu nay của băng này tan nhanh như bọt nước xà phòng; trong chớp mắt, băng nón cối CSBV co giò đạp thẳng mặt băng trí thức Công giáo hoang tưởng từ cõi thiên đàng quốc gia rớt tòm xuống hố địa ngục cộng sản xã nghĩa; tấm bình phong đối lập của hai phe, phe của 2 anh cùng tên Trung liên thủ với phe 2 linh mục Chân Tín và Nguyễn ngọc Lan cũng rớt ào xuống và trơ trẽn lòi ra cái cốt khỉ: nín khe không dám thốt một lời nào vênh vang như những năm xưa khi còn được chánh quyền quốc gia biệt đãi, trọng vọng; hèn nhũn trước bạo quyền cộng sản không khác chi loài giun dế sát đất; ngậm miệng nhắm mắt trước những hành động của tập đoàn Cộng sản Bắc Việt đang vênh váo bạo ác giáng đòn thù thô bỉ hèn hạ lên quân và dân miền Nam.
Tệ hơn, 2 bên, 2 phe không nhìn mặt nhau, mà trở nên kình chống nhau nặng nề, tố giác nhau đủ thứ chuyện tầm thường, hạ cấp in hệt phường buôn gian bán lận ngoài chợ trời.
Nguyễn ngọc Lan viết (Nhật Ký I 1988; Nhật Ký II 1989 - 1990 và Nhật Ký III 1990 - 1991, gởi ra hải ngoại và do Nhà Xuất bản Tin, Paris, ấn hành năm 1993, trong đó tố giác Nguyễn văn Trung, Lý Chánh Trung đủ thứ chuyện lớn nhỏ, bêu mặt hai anh Trung này thậm tệ. Hiện LTC tôi không có bộ 3 tập Nhật Ký Nguyễn ngọc Lan này, nhưng bạn đọc có thể dễ dàng dùng Google Search Nhật Ký Nguyễn ngọc Lan để đọc những bài viết của nhiều người khác nhau nhận xét về bộ Nhật Ký đó dù hiện nay - 2025 - các bài ấy không còn nhiều trên Cyberspace.
Để phản pháo, Nguyễn văn Trung viết một xấp giấy pelure, 29 trang, đề ngày 4-10-1993, được đánh máy lại và công bố năm 2012, trong đó Nguyễn văn Trung tố cáo rằng, thời quốc gia (VNCH) Nguyễn ngọc Lan phụ trách làm kinh tài cho Việt cộng, tìm mọi cách lạc quyên gom góp tiền bạc rồi đổi ra ngoại tệ nạp cho Y4 (bí số của khu ủy Việt cộng vùng Sài Gòn - Gia Định), và tố Nguyễn ngọc Lan cũng đã từng vô 'bưng' của Việt cộng nhiều lần.
Đọc 29 trang của Nguyễn văn Trung cộng với các bài nhận xét vừa kể ở trên khả dĩ cho chúng ta cái nhìn trần trụi về 2 phe Nguyễn ngọc Lan — Nguyễn văn Trung khi họ đã tự lột mặt nạ. Bạn đọc chịu khó tìm hiểu thì xin xem 29 trang viết tay của Nguyễn văn Trung ở đây (xin ráng nén cái khó chịu khi đọc vì cách trình bày thô thiển, vụng về của chủ Blog này): phần 1 | phần 2 (và hết).
➜ Ngoài ra, Nguyễn ngọc Lan còn tìm cách lợi dụng không gian Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế 38 Kỳ Đồng để làm cơ sở hoạt động cho cộng sản, việc này Nguyễn ngọc Lan tự khoe trong tạp chí Đứng Dậy số 100 ra tháng 10-1977 [ đổi tên thành Đứng Dậy là vì sau black April, VC cho Đối Diện tiếp tục ra báo nhưng phải đổi tên Đối Diện thành Đứng Dậy ]. Cuối năm 1978, VC bóp chết luôn Đứng Dậy (ra số 114 là số cuối cùng) với lời phê Đứng Dậy «đã làm xong vai trò lịch sử».
Từ đây, các linh mục Chân Tín, Nguyễn ngọc Lan bị VC từ từ đá đít cho ra rìa. Riêng Nguyễn văn Trung còn bị nặng hơn: bị Cộng sản, người anh em tôi bắt bỏ tù năm 1976, thả ra cuối năm 1977. Nguyễn văn Trung trở thành một con bù nhìn hình rơm cho chế độ cộng sản Hanoi, im mồm mà sống, viết nhiều bài theo đơn đặt hàng của Hanoi, Cộng sản, người anh em tôi ra lệnh bảo viết bài gì thì viết bài đó, nín thở qua sông chờ ngày chạy thoát Cộng sản, người anh em tôi 😂.
Về sau, khi đã vượt thoát được ra hải ngoại vào năm 1993, Nguyễn văn Trung đã có thuật lại quá trình phá hoại quốc gia của ông ta, tuy không thuật hết, không chịu nói thẳng hết (còn nói quanh co, dấu dấu đút đút vì xấu xa quá, u mê quá, sai lầm quá …) nhưng đọc những lời lấp liếm quanh co ấy cũng đủ cho ta biết bộ mặt ngu dại của bầu đoàn trí thức Công giáo thiên cộng ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản này.
Câu Nguyễn văn Trung viết được nhiều người nhắc lại là: «tham gia cách mạng là tham gia vào một quá trình tự tiêu diệt sau này» qua bài “Tưởng Niệm Việt Nam Cộng Hòa” đăng nơi trang 3 tờ Nguyệt san Tạp chí Văn Học (hải ngoại) số 174 ra tháng 10-2000 (do Nguyễn Mộng Giác làm Chủ Bút).
Hay một câu khác, Nguyễn văn Trung viết «...nhận ra những gì mình đã nhân danh gọi là lý tưởng này nọ đôi khi chỉ che giấu những động cơ, mục tiêu cá nhân: Hám danh lợi quyền lực, muốn được xung tụng trọng vọng…» qua bài "Nhìn Lại Những Chặng Đường Đã Qua" là bản viết tay của Nguyễn văn Trung do Nguyễn Vy Khanh đánh máy lại và gửi đăng trên Web Thông Luận ngày 04-9-2007 nhưng hiện nay Web Thông Luận này đã tiêu vong, chỉ còn bản lưu (đăng lại năm 2019) của Văn Việt theo link nêu trên.
Nguyễn văn Trung còn viết nhiều bài đăng báo (Web) khác nữa từ sau năm 2000 (khi kỹ thuật điện toán và Internet phát triển rộng và nhanh thành Liên Mạng Toàn Cầu) nhưng tôi thấy không cần phải đăng lại ở đây thêm nữa làm gì, vì bạn đọc có thể tìm search đọc không khó gì, và cũng vì tôi thấy tuy nói, viết nhiều nhưng tựu trung, Nguyễn văn Trung phần lớn vẫn không thành thật, vẫn cố xào nấu chữ nghĩa, ngụy biện và che đậy những tội lỗi u mê của ông ta đã một thời ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản ở miền Nam Tự Do, nối giáo cho giặc, ru ngủ quần chúng và làm hại không ít người trẻ tin theo ông ta.
➜ Ngày 3/5/1998, Nguyễn ngọc Lan và Chân Tín đi bằng chiếc xe gắn máy honda dame đến dự đám tang tay Việt cộng phản tỉnh Nguyễn Văn Trấn vừa mới chết, tổ chức ở Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế 38 Kỳ Đồng. Ngay khi hai người chở nhau ra khỏi nhà thờ thì bị một bọn ba bốn người lạ mặt đi kẹp hai bên, trong đó có 1 tên co giò đạp vào bánh xe trước của chiếc xe honda dame làm hai người té nhào lăn ra giữa đường. Nguyễn Ngọc Lan bị thương nặng, bất tỉnh. Chân Tín bị thương nhẹ. Chỉ cần có chiếc xe hơi nào trờ tới là cả hai khó lòng sống sót.
➜ Tháng 5-1990, Cộng sản cho lệnh quản thúc (cấm cố) vô thời hạn Nguyễn Ngọc Lan ở Quận 10 Saigon và Chân Tín ở vùng Cần Giờ, Duyên Hải, là vùng ven xa đô thành Saigon 70 cây số.
➜ Nguyễn Ngọc Lan cởi áo dòng, lấy vợ vào năm 1977, chết năm 2007.
➜ Chân Tín chết năm 2012.
Cả 2 linh mục này, cho đến lúc chết, tuyệt không có lấy một lời nào tự kiểm, ăn năn sám hối tội lỗi của mình, cũng không một dòng nào tố cáo cái bộ mặt gian ác, phi nhân kinh tởm của Cộng sản Ba Đình.
Sau đây là vài bài báo cũ miền Nam, như những trang sử chắc nịch còn ghi lại những hoạt động núp dưới tấm áo 'đối lập' tiếp tay cho giặc, làm cho hậu phương rối ren thêm, do băng trí thức Công giáo thiên cộng này gây ra mà thực chất chỉ là đưa thân làm con rối cho cộng sản.
Chúng ta cũng có thêm loạt bài tham luận giá trị “Nghĩ Về Một Số Trí Thức Ảo Tưởng” của Ánh Việt, đăng làm 4 kỳ trên mục Diễn Đàn nơi trang 2 nhựt báo #Chính Luận, Oct. 6, 1970 (kỳ 1) cho đến Oct. 9, 1970 (kỳ 4 - tiếp theo và hết), thiết tưởng, cùng với bài “Vì Dân-Tộc Hay Không?”, tham luận của Vĩnh-Nam đăng làm 2 kỳ trên trang 2 #Chinh Luan Dec. 12, 1970 và #Chinh Luan Dec. 13_14, 1970 (đã đăng ở trên) ... tổng hợp lại khả dĩ cho ta nhận diện đúng bộ mặt thực của băng trí thức Công giáo thiên tả này.
Mời bạn đọc theo dõi qua Phân đoạn 6.
$pageOut $pageIn Đăng vào ngày cuối năm Tây 2025
Phân đoạn 6
#Chính Luận Feb. 23, 1971 trang ba
Linh mục Chân Tín, Chủ nhiệm báo “Đối Diện” tuyên bố: Kháng Án Để Tiếp Tục Ra Báo: quyết tạo điều kiện để ngưng bắn.
Saigon. – (TV) 22/2 Linh mục Chân Tín, Chủ nhiệm Nguyệt san Đối Diện vừa bị Tòa Sơ Thẩm Saigon đóng cửa báo này 6 tháng và phạt tù (9 tháng) Chủ Nhiệm cũng như tác giả 2 bài báo liên hệ, vào chiều ngày 20/2 tuyên bố, ông quyết tâm tạo điều kiện cho một cuộc ngưng bắn, khởi đầu cho sự hòa giải dân tộc và tiến tới hòa bình.
Trong cuộc phỏng vấn dành cho tờ New York Times tại Saigon, đáp câu hỏi của phóng viên báo này về lập trường của báo Đối Diện, vị Linh mục 50 tuổi, Linh mục Chân Tín, nói rằng: “sau 25 năm chiến tranh, chúng tôi ý thức rằng cuộc chiến tranh tại Việt Nam hiện nay là do 2 khối tư bản và cộng sản chủ trương, và có thể đưa dân tộc Việt tới chỗ diệt chủng”. Linh mục nói tiếp: “trong hoàn cảnh như vậy, chúng tôi xác tín rằng, trong tình người và tình dân tộc, mặc dù khác về ý thức hệ gây ra, người dân Việt Nam cũng phải dần dà tạo điều kiện để đi đến hòa giải dân tộc. Trong cuộc hòa giải này, theo Linh mục, việc ngưng bắn là điều kiện tiên quyết để đi tới hòa bình. Ông nói, “vì thế nguyệt san Đối Diện chúng tôi quyết tâm tạo điều kiện cho một cuộc ngưng bắn”. Linh mục Chân Tín nói thêm rằng, chính trong tinh thần này chúng tôi đã tìm hiểu những ưu khuyết điểm của chế độ miền Bắc nhằm đánh tan thái độ khép kín và xa cách giữa 2 miền Nam Bắc. Đề cập đến bài báo nhan đề “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” mà tác giả là Linh mục Trương Bá Cần đã bị Tòa kết án, Linh mục Chân Tín nói “đó là một phần trong chủ trương của chúng tôi tìm hiểu những ưu khuyết điểm của chế độ miền Bắc” … “một công trình nghiên cứu rất khách quan và vô tư, sự suy luận dựa trên những dữ kiện có thể có được” …
[ bài báo có nhan đề “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” của Linh mục Trương Bá Cần đăng làm 3 kỳ trên "Đối Diện số 14, số 15 và số 16. ]
#Đuốc Nhà Nam Feb. 21_22, 1971 trang nhất:
Ngày 18-2-1971, Linh mục Chân Tín chủ nhiệm báo "Đối Diện" và linh mục Trương Bá Cần, tác giả 2 bài đăng trên tờ báo này với tựa “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” và "Sản xuất dưới bom đạn Mỹ", mỗi vị bị Tòa tuyên án 9 tháng tù ở, và báo "Đối Diện" bị đóng cửa 6 tháng (mỗi bài báo với tựa như trên, là một vụ, vụ thứ nhứt mỗi vị bị phạt 3 tháng tù ở và vụ thứ nhì 6 tháng tù ở).
Tiếp theo vụ báo "Đối Diện" là tuần báo "Quật Khởi" bị truy tố "phổ biến những bài báo có luận điệu xuyên tạc với dụng ý làm phương hại đến nền an ninh quốc gia". Tòa phạt giáo sư Châu Tâm Luân quản lý báo "Quật Khởi" 500.000đ tiền phạt vạ và ĐÓNG CỬA VĨNH VIỄN tờ báo này. Báo "Quật Khởi" do Dân biểu Nguyễn trọng Nho làm chủ nhiệm, nên chỉ có Quản lý bị truy tố. [ vì dân Biểu VNCH được hưởng quyền "bất khả xâm phạm", thể theo Hiến Pháp VNCH ngày 1-4-1967, chi tiết như sau:
Để bảo đảm tính độc lập và quyền uy trong vai trò đại diện ý dân, Dân biểu và Nghị sĩ được hưởng một số đặc quyền cũng như bị một vài hạn chế. Một trong các đặc quyền đó là quyền Bất khả Xâm phạm: Nhằm ngăn ngừa bị uy hiếp và bảo vệ vai trò của người đại diên cho dân chúng, Dân biểu và Nghị sĩ được hưởng quyền Bất khả Xâm phạm (quyền này không áp dụng cho trường hợp các tội vi cảnh, hay liên quan đến kỷ luật nội bộ Nghị viện, hay quả tang phạm pháp). => Điều 37 – Khoản 2 Hiến Pháp VNCH (1967): "Trong suốt thời gian pháp nhiệm, ngoại trừ trường hợp quả tang phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử Dân biểu hay Nghị sĩ nếu không có sự chấp thuận của 3/4 tổng số Dân biểu hay Nghị sĩ" ]
#Tien Tuyen Sept. 17, 1971 trang ba
Tòa Đô chánh Thông Cáo chính thức sẽ đưa ra Tòa vụ họp bất hợp pháp đường Kỳ Đồng
SAIGON (VTX) — Tòa Đô Chánh trong một bản tin phổ biến hôm nay đã nói rõ về cuộc họp bất hợp pháp do Linh Mục Chân Tín tổ chức tối qua tại nhà xứ trong khuôn viên nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng cùng sự lộn xộn xảy ra sau đó khi anh em NDTV đến yêu cầu giải tán cuộc họp này.
Bản tin tòa Đô chánh cho biết vào lúc 20g45 ngày 14 tháng 9 năm 1971, Bộ Chỉ huy Cảnh sát Quốc Gia Thủ đô đã nhận được cuộc điện thoại do một ngoại kiều báo tin và yêu cầu cơ quan Cảnh sát đến can thiệp bảo vệ và đưa Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ McGovern ra khỏi khuôn viên nhà Dòng Chúa Cứu Thế đường Kỳ Đồng.
Bộ Chỉ huy Cảnh sát Quốc Gia Quận 3 nhận được lệnh, đã huy động Nhân viên công lực đến nơi mở cuộc điều tra và được biết như sau:
— Lúc 20g20, Linh mục Chân Tín có tổ chức một buổi họp không có giấy phép của cơ quan Hành chánh địa phương gồm độ 30 người có tên sau đây:
1. Linh mục Chân Tín 2. Linh mục Nguyễn ngọc Lan 3. Ni sư Huỳnh Liên 4. Đại đức Thích Liễu Minh 5. Giáo sư Trần tuấn Nhậm 6. Luật sư Nguyễn Long 7. Giáo sư Nguyễn văn Trung 8. Giáo sư Cao thị Quế Hương 9. Sinh viên Trần văn Long 10. Sinh viên Trần thị Lan.
Và một số sinh viên học sinh đoàn viên của nhóm gọi là toán xung kích để tham gia vào việc đốt xe ngoại quốc trong những ngày qua như:
— Nguyễn ngọc Thọ, Tăng quốc Kiệt, Ng văn Tạo, Trần thị Ngọc Diệp, Lê thành Yến, Lê ngọc Ba, Nguyễn thị Mân, Trần Hưng, Phạm thị Xuân Quế, Phạm văn Hoàng, Võ ngọc
(XEM TIẾP TRANG 6)
________________________________________
TIẾP THEO TRANG 3
Ẩn, Cao Lộc, Phạm cao An, Nguyễn thị Bảy, Lê Anh, Ngô Mật, Nguyễn thị Bình, Đỗ ngọc Long.
— Ngoài ra còn có 6 người ngoại quốc và 1 ngoại kiều tên là David Bourquin thuộc đoàn chí nguyện quốc tế mặc thường phục, trong đó có Thượng nghị sĩ McGovern cùng tham dự cuộc hội họp.
Cha Phó Bề Trên Dòng Chúa Cứu Thế không đồng ý cho Linh Mục Chân Tín mở cuộc hội họp không có giấy phép trong khuôn viên nhà thờ, và yêu cầu số người tham dự giải tán.
— Tuy nhiên số người này vẫn tiến hành cuộc hội họp, do đó anh em NDTV Khóm liên hệ đã vào ngăn cản cuộc hội họp và yêu cầu giải tán, rời khỏi khuôn viên nhà thờ nhưng bất thành.
— Số người tham dự cuộc họp bất hợp pháp đã đóng cửa phòng, xô đẩy các anh em NDTV, do đó đã có phản ứng của NDTV và giáo dân địa phương bằng cách nổi lửa đốt 1 chiếc xe chở hàng loại nhỏ và 8 chiếc xe gắn máy của nhóm người nói trên.
— Riêng số người ngoại quốc trong đó có Thượng Nghị Sĩ McGovern đã được Bộ Chỉ huy Cảnh sát Quốc gia quận 3 và Quân Cảnh Hoa kỳ bảo vệ hộ tống an toàn ra khỏi khu vực nói trên.
Bộ chỉ huy CSQG quận 3 đã lập biên bản nội vụ, ghi chung tất cả những người tổ chức cũng như tham dự cuộc hội họp bất hợp pháp nói trên. Hồ sơ nội vụ sẽ được chuyển trình Biện Lý Cuộc Tòa sơ thẩm Saigon.
— Số người tham dự cuộc họp bất hợp pháp đã được tự do ra về sau khi ghi cung, trong khi chờ đợi sự quyết định của cơ quan tư pháp hữu thẩm quyền.
An ninh trật tự tại khu vực nói trên đã hoàn toàn vãn hồi vào lúc 23 giờ cùng ngày.
Đăng vào ngày Tết Tây 2026
#Chính Luận Oct. 6, 1970 trang hai
DIỄN ĐÀN: Nghĩ Về Một Số Người Trí Thức Ảo Tưởng by Ánh Việt
(viết về Nguyễn văn Trung và băng trí thức Công giáo thiên cộng) (kỳ 01) (Bài 008) Nghĩ Về Một Số Người Trí Thức Ảo Tưởng by Ánh Việt
(viết về Nguyễn văn Trung và băng trí thức Công giáo thiên cộng) (kỳ 01)
I — Đặt vấn đề
Không phải tới hôm nay mới thấy xuất đầu lộ diện những kẻ đòi hòa bình không điều kiện mà ngay từ ba bốn năm qua, nhân dân miền Nam ta đã từng thấy khuôn mặt họ ẩn núp sau chiêu bài này, ngụy trang sau danh hiệu nọ, luồn lách trong tổ chức kia, để cố gắng nói lên tiếng nói lạc điệu giữa những chiến đấu sôi nổi của quân dân: đòi ngưng chiến với bất cứ giá nào. Tuy nhiên, cần nói toạc ra rằng, phải đợi cho đến hôm nay, nhân lúc giới lãnh đạo Saigon đang phải đối phó với những khó khăn dồn dập cả trong lẫn ngoài, những kẻ chủ bại ấy mới bám víu lấy cơ hội ngàn năm một thử đặng hùa nhau gióng trống phất cờ, tuyên truyền quảng cáo cho cái chủ trương cực kỳ phiêu lưu nguy hiểm nói trên. Vậy thì họ là ai? Họ đã bị chụp mũ một cách phi lý chăng? Tại sao đòi hòa bình tức khắc, hoặc kêu gọi liên hiệp, hô hào trung lập lại bị gọi là một chủ trương phiêu lưu nguy hiểm? Những yếu tố nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường bấp bênh ấy? Nếu mục tiêu đấu tranh của họ đạt được thì vận mệnh của miền Nam này sẽ đi tới đâu? Đó là những câu hỏi lớn đang cần một sự giải đáp thỏa đáng mà chúng tôi muốn thử đặt thành vấn đề tìm hiểu trong bài này.
Tưởng cũng cần minh xác thêm rằng chủ đích của người viết bài này không nhằm tranh luận với những người có lập trường chính trị hoàn toàn trái ngược với lập trường quốc gia, mà chỉ muốn bày tỏ một số quan điểm liên quan đến thời cuộc với một thiểu số trí thức trẻ đang được dư luận chú ý bởi những bài báo của họ. Nhiệt tình của tuổi trẻ và sức mạnh của ngòi bút vẫn là 2 nhân tố cơ bản tạo nên khả năng thuyết phục mạnh mẽ, dễ tác động vào tâm tư quần chúng hơn so với những lời tuyên bố ồn ào của các chính khách xôi thịt, các trí thức phòng trà. Mặt khác, do nhận thức rằng, ở người trí thức trẻ thường không có thái độ bảo thủ, khép kín như phần đông các bậc trí thức "đàn anh", mà ngược lại, thường tỏ ra cởi mở, sẵn sàng đón nhận phản ứng, như một Nguyễn văn Trung, người đáng được coi là đại diện cho lớp trí thức trẻ cấp tiến đã tự khẳng định: «Tôi vốn coi việc viết của mình phải nhằm thúc đẩy người khác phản ứng...»
«Với độc giả, tôi nghĩ thái độ tôn trọng nhất đối với họ là đòi hỏi họ phải phản ứng lại. Hoặc đồng ý hoặc phản đối. Thế nào cũng được, miễn là có phản ứng. Tôi coi việc phản ứng, ngay cả sự phản đối, là một thành công cho người viết...» (trích Nhận Định V của Nguyễn văn Trung) vì thế, chúng tôi mạnh dạn bày tỏ một số phản ứng cần thiết với hy vọng không bị ngộ nhận một cách đáng tiếc.
II — Chung quanh hiện tượng chụp mũ
Trong sinh hoạt chính trị ở miền Nam gần đây, người ta nghe nói nhiều đến từ ngữ chụp mũ.
Nhưng thế nào gọi là chụp mũ? Ai chụp và ai bị chụp? Lý do?
Để gợi phương hướng giải đáp mấy thắc mắc vừa kể, tưởng cần phải nêu bật lên trước hết cái nhiệm vụ chiến lược của Cộng sản là thôn tính miền Nam. Muốn hoàn thành nhiệm vụ chiến lược ấy, tập đoàn lãnh đạo Hà Nội, thông qua công cụ thực hiện là Mặt trận Giải phóng miền Nam và cái gọi là "chính phủ cách mạng lâm thời", đang ráo riết vận dụng mọi hình thức đấu tranh: quân sự, chính trị, ngoại giao, tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể. Trước âm mưu và chủ trương, sách lược đó, bất cứ hoạt động nào từ phía hàng ngũ quốc gia nếu có lợi trực tiếp hay gián tiếp cho đối phương đều dễ bị gán là thân Cộng. Lẽ cố nhiên, những người chụp mũ luôn luôn là các phần tử cá nhân, hoặc đoàn thể có lập trường triệt để và dứt khoát đối với Cộng sản (theo nghĩa đứng dắn nhất) cũng như "nạn nhân" của việc chụp mũ thường là những người vô tình hay hữu ý có hành vi ngôn ngữ làm lợi cho đường lối, chính sách của kẻ thù. Đó là chưa kể đến trường hợp có một số người đã tự chụp cho mình cái mũ khuynh tả, đối lập v.v… Phân tích như vậy là chỉ muốn nhấn mạnh rằng chụp mũ hay bị chụp mũ không phải là điều quan trọng, mà điều quan trọng chính là thái độ đúng đắn hay sai lệch, và hành động có lợi hay có hại của mỗi phía mà thôi.
Trong thực tế, nếu như có một số người về phía quần chúng cũng như về phía chính quyền thường mắc bệnh gán ghép cho kẻ khác những cái mũ thân Cộng, tay sai một cách hàm hồ, khiến gây chia rẽ, mâu thuẫn trong nội bộ quốc gia thì đồng thời, cũng có một số người bị chụp mũ là quá khích, là tiếp tay cho địch, không do ai tố cáo mà chính là do những việc làm nông nổi, bồng bột hoặc kém thận trọng, chủ yếu là do thái độ thiếu vô tư của họ tự phơi bày ra trước dư luận khiến cho quần chúng bất bình.
Muốn nhận diện số người này, không phải là điều khó khăn lắm. Họ là một số giáo sư đại học, nhà tu hành, nhà báo, dân biểu quy tụ chung quanh mấy cơ quan ngôn luận mang nhãn hiệu "cấp tiến" để dùng ngòi bút làm vũ khí đấu tranh, cổ vũ cho đòi hỏi chấm dứt chiến tranh không điều kiện đi đôi với việc thỏa mãn các yêu sách liên hiệp, trung lập v.v… Điểm tựa của những mục tiêu tranh đấu ấy luôn luôn được họ bám sát vào, là tinh thần Dân tộc.
Hai tiếng Dân tộc đã trở thành cơ sở lý luận của họ trong việc thể hiện và khai thác các đề tài hấp dẫn như bảo vệ chủ quyền, thực hiện dân chủ, cách mạng xã hội, thống nhất đất nước. Không ai chối cãi rằng các chủ đề vừa kể, tự bản thân chúng, có tác dụng kích thích tâm lý quần chúng yêu nước không ít. Tuy nhiên, người ta chỉ lấy làm tiếc rằng trong khi khai triển vấn đề, họ đã thiếu hẳn một thái độ khách quan cần thiết. Sự thiếu sót cố tình này đã là cái duyên cớ chính đáng cho mọi người nghi ngờ vào "thiện chí" của họ.
Trong vòng 5, 6 năm nay, những ai thường theo dõi bài viết của họ trên các tập chí, nguyệt san như Hành Trình, Đất Nước, Nghiên cứu Văn học, Đối Diện, Trình Bày và một số tác phẩm phổ biến hạn chế như Hoa Sen Trong Biển Lửa, Nhìn Kỹ Quê Hương [ của Thích Nhất Hạnh, 1966, 1967 ], hoặc công khai như Chứng Từ 5 Năm, Đường Hay Pháo Đài [ Nguyễn ngọc Lan, 1969 ], đều dễ dàng thấy rõ thái độ thiên lệch nói trên.
Từ các tiểu luận như "chủ quyền quốc gia trước sự can thiệp và chi phối của ngoại bang" (Hành Trình số 7 và 8) đến truyện ngắn như "Tấm căn cước bọc nhựa hay là vết tích của sự nhục nhã" (Hành Trình số 3 và số 4) cho đến cả những bài nhận định dưới hình thức trả lời phỏng vấn hoặc thư ngỏ như "Bắt Con Bỏ Chợ" và "Lá thư gửi sinh viên Huỳnh tấn Mẫm đang bị giam giữ tại Tổng nha cảnh sát công an" (Đối Diện số 10), qua cái nhìn một chiều, lối suy luận xa rời thực tế và giọng văn mỉa mai cay độc của tác giả các bài viết đó, người đọc thật khó mà tin được thái độ vô tư, xây dựng của họ. Thật ra, giữa một thời kỳ lịch sử gay go quyết liệt như miền Nam ta trong vòng 10 năm trở lại đây, những khó khăn phức tạp liên hệ đến đời sống chính trị, văn hóa, kinh tế, quân sự của đồng bào và chiến sĩ ta là những hiện tượng tất nhiên không thể tránh khỏi.
Thay vì đặt ra những thực trạng khó khăn ấy để gợi phương hướng giúp chính quyền giải quyết thì họ lại tập trung mũi nhọn vào việc đả kích giới lãnh đạo quốc gia, thóa mạ Hoa Kỳ, nhằm qui hết trách nhiệm về phía Saigon và Tòa Bạch Ốc cùng những đoàn thể, cá nhân chủ trương duy trì cuộc chiến tranh tự vệ mà chúng ta đang tiến hành.
Đọc kỹ các bài viết của họ, người ta thấy rõ ý hướng đả phá, buộc tội của tác giả đối với những ai đang tích cực tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào các hoạt động chống lại các cuộc vận động tái lập hòa bình tức khắc. Ý hướng đả phá thay thế cho thiện chí xây dựng hầu như đã trở thành tư tưởng chỉ đạo, quán xuyến từ đầu chí cuối ở nhiều bài báo. Kể ra thì họ cũng can đảm trong việc cố gắng phân tích, suy diễn và khoét sâu thêm các ung nhọt xã hội do chiến tranh gây ra, cũng như họ đã can đảm tố cáo những ai đang kiên quyết giữ vững lập trường chống Cộng, can đảm lên án các hành động đàn áp của chính quyền đối với các phong trào đòi chấm dứt chiến tranh với bất cứ giá nào, can đảm lên án chính sách can thiệp của Hoa Kỳ vào tình hình quân sự ở miền Nam. Dưới ngòi bút của họ, các hoạt động chiến tranh tự vệ đang diễn ra ở bên này vĩ tuyến 17 đã bị đồng hóa với những tội ác ghê tởm.
Tuy nhiên, tính can đảm nếu không đi đôi với một thái độ công bằng thì chỉ có nghĩa là một sự ngụy biện, khó được quần chúng thừa nhận, nhất là đối với người trí thức.
Không cần phải là người có trình độ kiến thức văn hóa cao, ai cũng có thể nhìn thấy thái độ bất công, vô trách nhiệm của số người cầm bút nói trên. Biểu hiện của thái độ bất công ấy được cụ thể hóa trong một số việc làm tiêu biểu của họ như:
— Thường xuyên phản kháng những người quốc gia tiếp tục chiến đấu chống Cộng, ráo riết đòi Mỹ rút về nước nhưng lại im lặng trước sự có mặt của bộ đội miền Bắc trên lãnh thổ VNCH cũng như im lặng trước chính sách xâm lược của Hà Nội là nguồn gốc gây nên cuộc chiến.
— Căm thù phẫn nộ trước các hành động vi phạm tự do dân chủ của chính quyền Saigon nhưng lại thờ ơ trước các hoạt động phá hoại liên tục của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đối với nền an ninh công cộng tại đây.
— Luôn luôn sốt sắng trong việc khai thác các vụ "bất lợi" do quân đội đồng minh hoặc chính quyền gây ra như các vụ Mỹ Lai, Bình Tuy, Côn Đảo nhưng lại hờ hững trước các hành động man rợ của đối phương như những cuộc tàn sát tập thể ở Huế và gần đây việc bộ đội giải phóng miền Nam tiến công, khủng bố Viện Cô Nhi An Hòa. [ * ]
— Sẵn sàng cổ động cho các hành động can thiệp vào nội bộ miền Nam của Hoa Kỳ, nhưng lại tán thưởng việc các sinh viên nước ngoài đến Saigon xách động biểu tình, bất chấp cả pháp luật và chủ quyền quốc gia.
— Hằn học đối với những cơ quan ngôn luận có lập trường chống Cộng rõ rệt như Xây Dựng, Thẳng Tiến, Chính Luận … nhưng lại tỏ ra đồng tình với các luận điệu tuyên truyền của Hà Nội về một số vấn đề chính trị, văn hóa.
— Nghiêm khắc lên án chính quyền Saigon không tôn trọng Hiến pháp nhưng lại khuyến khích các cuộc biểu tình, "xuống đường" của sinh viên, học sinh, gây xáo trộn sinh hoạt quần chúng đô thị.
— Lớn tiếng kêu gọi đoàn kết quốc gia, hòa đồng dân tộc nhưng lại thường đả kích, bôi nhọ các phần tử không cùng xu hướng, lập trường chính trị với mình, hoặc tung ra những luận điệu kỳ thị địa phương, chia rẽ giai cấp, tôn giáo.
(Xem tiếp trang 11)
Diễn Đàn
(Tiếp theo trang 2)
— Luôn miệng hô hào miền Nam Quốc gia ngừng bắn, nhưng không hề bày tỏ phản ứng ngay thẳng nào trước thái độ "hiếu chiến, ngoan cố" của giới lãnh đạo miền Bắc Cộng sản.
Tóm lại, có thể nói rằng, các bài báo của họ nếu đem tổng hợp lại thì sẽ có giá trị một bản cáo trạng hùng hồn về những tội ác tày trời do các nhà cầm quyền chế độ Saigon và người Mỹ gây ra cho đồng bào miền Nam. Và điều đáng chú ý là bản cáo trạng ấy chỉ được xây dựng bằng những yếu tố chủ quan, một chiều, lệch lạc, thiếu hẳn một căn bản tinh thần vô tư tối thiểu. Chính vì vậy mà dư luận quần chúng đã không dành cho họ những cảm tình tốt đẹp. Bởi họ là những phần tử trí thức, nên dư luận cũng thường tỏ ra khắt khe hơn trong việc đánh giá, phê phán. Chẳng hạn như đã có không ít người phân loại trong số họ chỉ gồm các thành phần ích kỷ hoặc thiển cận như sau:
— Bất mãn vì tham vọng cá nhân không được thỏa mãn, địa vị xã hội không được chiếu cố đúng mức.
— Xu thời, mị dân, cơ hội chủ nghĩa, muốn làm một thứ phù thủy chính trị hòng đoạt lấy một ngôi báu lãnh tụ.
— Đứng núi này trông núi nọ, nghĩ rằng một ngày nào đó, nếu chế độ này bị sụp đổ, thì họ sẽ được Cộng sản ban thưởng cho một ân huệ đặc biệt nhờ "thành tích" tranh đấu trong quá khứ.
— Bi quan dao động trước tình thế khó khăn, không tin vào sự tồn tại lâu dài của chế độ miền Nam nên cố gắng "làm một cái gì" để chứng minh với Cộng sản sau này với hy vọng sẽ được thoát khỏi xiềng xích cải tạo tư tưởng.
— Kiêu căng, hợm mình, chỉ thích đeo cặp kính đen ngòm vào mắt để nhìn đời đặng cho mình là nói đúng, bất chấp cả những sự thật khách quan.
— Là những trí thức nô lệ sách vở, ưa lý thuyết suông, không biết nhìn vào thực tiễn đấu tranh gay go tế nhị để rút ra những kinh nghiệm và nhận thức khoa học.
Sự phân loại trên đây bắt nguồn từ những phản ứng gay gắt của quần chúng đối với việc làm thiếu trách nhiệm của một thiểu số trí thức hiện đang sinh hoạt trong hàng ngũ quốc gia.
Riêng đối với một số độc giả bình tĩnh hơn (trong đó có cả kẻ cầm bút này) thì lại cho rằng trong số họ, phần đông là những người yêu nước và có nhiệt tình xã hội. Họ không chấp nhận chủ nghĩa mác xít bởi một lẽ rất đơn giản là con người tiểu tư sản với các yếu tính của tự do, độc lập như họ không thể phù hợp với những giáo điều công thức có tính cách nguyên tắc cố định máy móc. Họ cũng từ chối luôn chủ nghĩa tư bản với một xã hội thối nát và nhiều chênh lệch, bất công.
Do đó, họ là những người đứng lưng chừng ở giữa 2 thái cực, dường như không tìm thấy một lối thoát nào thích hợp với quan niệm sống của họ, thành ra lập trường chính trị của họ cũng sa vào trạng thái bấp bênh. Trong tình huống bế tắc đó, họ muốn đóng vai một nhà cách mạng, ít ra là trên mặt lý thuyết, để được giải tỏa những ẩn ức, khắc khoải của một tấm lòng yêu nước đang bị thời cuộc dày vò.
Hầu hết trong số họ gồm những người du học lâu năm ở các nước dân chủ phương Tây, bị ảnh hưởng nặng nề ở các trào lưu tư tưởng triết học xa lạ với hoàn cảnh xã hội VN. Do đó, những quan niệm và hành động của họ thường là cách biệt với lối sống và nếp suy tư của quần chúng ở một nước chậm tiến. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là họ đã phát biểu quá nhiều về những vấn đề liên quan đến chính trị, đến đấu tranh hòa bình trong khi chính bản thân họ chưa hề có kinh nghiệm thực tế về Cộng sản, hoặc vì quá chủ quan, tự cao, tự đại, nhận thức của họ về tình hình chiến tranh đã không xuất phát từ những sự kiện khách quan, nên tiếng nói của họ nhiều lúc trở nên ngây ngô, ảo tưởng. Người giàu óc châm biếm đã đồng hóa các việc làm ngây ngô của một số trí thức Saigon với cái gọi là "Tòa án quốc tế xử tội phạm chiến tranh của đế quốc Mỹ ở VN" do ông già lẩm cẩm Bertrand Russel [ Triết gia người Anh, cùng với J. P. Sartre, triết gia Pháp, là một trong vài trí thức thiên tả Tây phương tiêu biểu đã cắn ngon lành cái bã lừa gạt của Cộng sản Bắc Việt ] tổ chức cách đây 3 năm mà báo chí Saigon dạo ấy đã mỉa mai đó là một gánh xiếc.
(Còn tiếp)
[ * Đại tội ác của cộng sản tại cô nhi viện An Hòa
#Chinh Luan Sept. 1, 1970 trang nhất
#Chinh Luan Sept. 1, 1970 trang nhất
Tội đại ác của Cộng Sản ở Cô Nhi Viện An Hòa
Tung bộc phá vào phòng ngủ cô nhi, trói nhà sư mà bắn gục
▼ Cộng sản vơ vét hết tiền bạc, gà, heo của Cô Nhi Viện.
XUYÊN PHÙ, 30-8 (AP). — Trong những cuộc tấn công của Cộng sản tối qua, vụ dã man tàn bạo nhất phải kể đến là vụ tấn công vào một cô nhi viện Phật giáo tại An Hòa gần Đà Nẵng.
Toán đặc công Cộng sản mở cuộc tấn công vào cô nhi viện này, chúng yên trí quá vì rằng không có một sức kháng cự nào. Các trẻ em vào lúc đó, khoảng 1 giờ sáng, đang ngủ ngon.
Từng tiếng nổ đằng sau từ những ngọn đồi an toàn, chúng nã khoảng 50 phát đạn súng cối vào khu cô nhi viện, và khu các nữ y tá và một bệnh viện nhỏ do Tây Đức viện trợ.
Những phần tử đặc công khác bò lại gần bằng súng nhỏ và súng phóng lựu đạn hỏa tiễn vào khu của các nữ y tá, làm cho gian nhà phát cháy và một nữ y tá trẻ tuổi với đứa con trai mới đẻ của cô bị thiệt mạng. Thì thể đứa bé sau đó được bỏ vào một thùng đạn, đặt lên trên quan tài của người mẹ.
Bọn Cộng quân tiến dễ dàng qua một vườn rau. Tại đây không có lực lượng phòng thủ, không có cả vòng rào kẽm gai nữa. Khoảng 30 tên đã tiến vào trong cô nhi viện ném lựu đạn và bộc phá vào những gian nhà nơi khoảng 60 trẻ nhỏ đang run cầm cập co quắp lấy nhau nấp dưới giường.
Bọn đặc công mặc quân phục Bắc Việt nhả đạn liên thanh vào bất cứ vật gì di động.
Chúng kéo cổ Thượng Tọa Thích Nguyên Tri, trụ trì chùa An Hòa và là người điều khiển cô nhi viện, trói giật cánh khuỷu nhà tu hành và hành quyết ngay tại sân cô nhi viện.
Cuối cùng, trước khi lực lượng quân đội quốc gia tiếp cứu kịp đến, chúng biến về các ngọn đồi sau khi đã lấy hết tiền bạc, tất cả gà qué, và 3 con heo của cô nhi viện. Số heo còn lại bị chúng cho một tràng liên thanh chết hết.
Trong nửa tiếng đồng hồ làm cỏ cô nhi viện này, chúng đã giết 15 người và làm cho 45 người khác bị thương mà 2 phần 3 là các trẻ mồ côi. Kỳ dư là các nữ y tá và lao công giúp việc.
Khi mà Đại úy Phan huy Huỳnh quận trưởng đem 2 trung đội Nghĩa quân đến tiếp cứu thì địch đã đi được chừng nửa tiếng đồng hồ rồi.
Đại úy Huỳnh nói: “Chúng tôi không đặt lực lượng phòng thủ ở đây vì có ai nghĩ rằng Cộng quân lại tấn công một cô nhi viện bao giờ. Tôi nghĩ rằng có lẽ hôm nay là ngày bầu cử và Cộng quân phải làm một cái gì cho dân sợ mà không dám đi bầu.”
Không một đồn quân nào của VNCH hay Mỹ đóng chung quanh cô nhi viện bị tấn công.
Xuyên Phù, một ngôi làng thuộc quận Dục Đức chỉ cách căn cứ TQLC Mỹ ở An Hòa ngót 5 cây số và cách Đà Nẵng 35 cây số về phía Tây Nam. Tất cả vùng này được coi như bất an ninh và nguy hiểm.
Đến sáng Chủ nhật, những người sống sót, thu nhặt các tử thi đặt trên thềm ngôi chùa ở ngay gần cô nhi viện. Các cụ bà đến niệm Phật và các cụ ông trán còn buộc băng với vết máu khô thâm ra ngoài thành màu nâu đậm, kéo những tấm chăn phủ mặt lau rửa cho các trẻ em nằm bất động.
Một Thiếu tá VNCH bước vào khu nữ y tá trông thấy thi thể cháy đen của cô y tá liền thốt lên: “Trời ơi, Dã man quá!”
Ông bước quanh gian nhà trống thấy chiếc quan tài và thùng đạn đựng thi thể đứa nhỏ, ngồi bên là người chồng đang than khóc, ông Thiếu tá lắc đầu và nói thêm: “Dã man đến thế là cùng!”
#Chính Luận Oct. 7, 1970 trang hai
DIỄN ĐÀN: Nghĩ Về Một Số Người Trí Thức Ảo Tưởng (tiếp theo Kỳ 1) by Ánh Việt
Kỳ 2
Do những hiểu biết hời hợt, nông cạn về đường lối hành động của Cộng sản, việc làm của họ trong một số trường hợp, đã hóa ra phiêu lưu, tài tử, nếu không muốn nói rằng "theo đuôi Cộng sản", chỉ biết chống chiến tranh, đòi hòa bình mà không cần biết đến nguồn gốc của chiến tranh, thủ phạm của Hòa bình tại đất nước này là do đâu, do ai.
Cũng chính vì lập trường chính trị bấp bênh, nên họ đã gặp Sartre ở quan điểm hành động mơ hồ, luẩn quẩn khi đứng bên này, lúc ngả về bên kia, la lối om xòm, đả kích lung tung, kiêu căng trịch thượng, muốn làm một thứ anh hùng ví như con gà trống mỗi lần cất tiếng gáy thì ngỡ rằng sẽ gọi được mặt trời lên, nhưng thực chất lại chỉ biểu lộ một sự hoảng hốt, giật mình trước những khó khăn, gian khổ, giống như chú gà ri kia, vội vàng rúc đầu vào cánh mỗi lần nghe tiếng động mạnh.
Không ít người lấy làm ngạc nhiên khi thấy số trí thức nói trên đã bất chấp cả những khó khăn trở ngại tất nhiên do kẻ thù trong và ngoài nước gây ra cho miền Nam, cho nên họ ngày càng hung hăng gieo rắc tư tưởng đầu hàng chủ bại trong quần chúng. Họ đã cố tình quên đi cái sự thật sơ đẳng nhất, rằng nếu chỉ ngồi cầm bút chửi đổng một cách vô trách nhiệm thì quả là một chuyện dễ dàng, chứ đứng vào cương vị lãnh đạo một tập thể, một cộng đồng quốc gia dân tộc để giải quyết các vấn đề trọng đại mới là câu chuyện vừa tế nhị, vừa khó khăn.
Chỉ cần nêu ra một ví dụ nhỏ: GS Nguyễn văn Trung, trước ngày giữ chức vụ khoa trưởng Đại học Văn khoa, đã từng là một người nổi tiếng là quá khích nơi các bài báo "khuynh tả" của ông. Nhưng rồi khi bước vào thực tế, với nhiệt tình, khả năng và quyền hạn sẵn có, ông đã chẳng làm được gì đáng kể trong việc góp phần cải thiện một nền giáo dục đại học tiến bộ, suốt cả gần một năm điều khiển phân khoa ấy. Sự kiện trớ trêu này đáng lẽ phải là một bài học kinh nghiệm quý báu cho những ai quen nghề soi mói, nguyền rủa, đả kích không đúng chỗ đúng hướng.
Nhưng bản tính cao ngạo đã làm cho họ không dám nhìn thẳng vào những sự thật gay go quyết liệt đang hiện ra sững sờ trước mắt để bình tĩnh tìm cách khắc phục.
Các đòi hỏi hết sức phi lý đi đôi với những đề nghị bất chính của họ chung quanh vấn đề giải quyết chiến tranh ở miền Nam nước ta, nếu chỉ được phổ biến dưới hình thức tuyên bố ồn ào thì có lẽ không đến nỗi nguy hiểm lắm vì quần chúng coi đó như một trò hề của những kẻ múa rối trên sân khấu.
Nhưng tiếng nói của họ lại được truyền đi dưới hình thức văn chương, sách báo vốn là phương tiện tuyên truyền mang nhiều hiệu lực, vì thế họ có điều kiện phun ra những nọc độc, trước hết là thủ tiêu ý chí đấu tranh cho một nền hòa bình chân chính và lâu dài của nhân dân ta. Mặt khác, trong thực tế, họ lại là những giáo sư đại học, những nhà tu hành, những ký giả, dân biểu, với uy tín do chức vụ và nghề nghiệp thiêng liêng đó ban cho, những tiếng nói nguy hiểm của họ không khỏi tác hại đến một số "đồ đệ" khiến cho hàng ngũ quốc gia vì vậy mà lỏng lẻo, suy yếu thêm. Trong tình hình đó, những kẻ được hưởng lợi nhiều nhất chính là tập đoàn lãnh đạo Hanoi và những phần tử cầm đầu của cái gọi là MTGPMN.
III — Ngây thơ hay ấu trĩ?
Để chứng minh sự hiểu biết quá non nớt, ngây ngô về đường lối hành động của Cộng sản ở một số trí thức nói trên, chúng tôi xin đưa ra dưới đây 2 trường hợp điển hình:
1) Ngây thơ về sách lược giai đoạn của Cộng sản
Trong bài bút ký nhan đề "Nói chuyện với người đã khuất" trong tạp chí Đất Nước số tháng 10-1969 nhân dịp Hồ-Chí-Minh từ trần, sau khi tâm tắc ca ngợi tài đức của họ Hồ mà tác giả "cảm thấy như là một bổn phận" (sic), giáo sư Lý chánh Trung đã nhận định: "... nếu nhìn lại những hành động công khai của cụ từ năm 1954, phải nhận rằng cụ đã luôn luôn đặt ưu tiên cho những cố gắng hòa giải: hòa giải với các đảng phái quốc gia năm 1946, với Pháp năm 1946, và 1954, với chế độ Ngô đình Diệm những năm 1957–1959 (?) khi miền Bắc không còn đòi Tổng tuyển cử như đã dự trù trong hiệp định Genève mà chỉ yêu cầu hiệp thương, nối lại quan hệ bình thường giữa 2 miền".
Rõ ràng là nhận định này đã phản ánh một vốn liếng hiểu biết vô cùng ấu trĩ về các chiến thuật của người Cộng sản, đồng thời cũng phủ nhận luôn cái chân lý khách quan ở chỗ tác giả cho rằng "miền Bắc không đòi Tổng tuyển cử như đã dự trù trong hiệp định Genève" (Sự thật là do chính quyền và nhân dân miền Nam lúc đó không công nhận giá trị của hiệp định Genève chứ đâu phải do thiện chí muốn hòa giải của họ Hồ).
Chắc chắn không một người VN có ít nhiều kinh nghiệm sống với Cộng sản lại nghĩ rằng việc Hồ chí Minh thành lập chính phủ liên hiệp với các đảng phái quốc gia vào năm 1946 là biểu hiện của một tinh thần cố gắng hòa giải. Sự thật hoàn toàn khác hẳn. Sau một năm cướp chính quyền, Cộng sản ngày càng gặp những khó khăn trở ngại trong việc lãnh đạo kháng chiến, chủ yếu là sự bất hợp tác của các đảng phái quốc gia. Để khắc phục trở ngại đó, Hồ chí Minh phải mở rộng thành phần chính phủ, tức là liên hiệp, một trong 3 hình thức sách lược căn bản (Mặt trận, Hòa bình, Trung lập) của kế hoạch xâm lược. Đối với người Cộng sản, mục đích của việc thiết lập chính phủ liên hiệp (không thể gọi là hòa giải như giáo sư Lý chánh Trung đã nhận định) là vừa được tiếng là có tinh thần đoàn kết dân tộc, lại vừa có điều kiện kiểm soát đặng tiến tới đàn áp, tiêu diệt các phần tử đối lập. Bằng chứng rõ rệt nhất là sau ngày Chính phủ liên hiệp ấy được thành lập không lâu, họ Hồ đã thẳng tay loại trừ các đảng phái quốc gia, điển hình là vụ tàn sát, thủ tiêu Quốc Dân Đảng ở phố Ôn Như Hầu Hà Nội. Bởi thế, việc Hồ mời cụ Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam v.v. ..tham gia chính phủ nhất thiết không thể được coi là một cử chỉ đoàn kết, hay một thiện chí hòa giải các mâu thuẫn nội bộ quốc gia mà chỉ là một chiến thuật tạm thời, nếu không muốn nói là một thủ đoạn vô cùng nham hiểm.
Thủ đoạn nham hiểm đó cũng đã được phơi bày lộ liễu trong một chỉ thị của Lénine: "Phải biết dùng mọi chiến lược, mọi mánh lưới, những cách thức hoạt động ngấm ngầm, làm ngơ và che dấu sự thật nhằm mục đích duy nhất là xâm nhập vào các nghiệp đoàn, bám sát vào các tổ chức để từ đó mà hành động với bất cứ giá nào" (trích dẫn theo Minh Võ trong quyển Sách Lược Xâm Lăng Của Cộng Sản [ xuất bản ở Saigon 1963 ]).
Chính vì coi sự tráo trở, lật lọng, mưu mô như một nguyên tắc hành động, nên các lãnh tụ Cộng sản ở VN, trong quá khứ cũng như hiện tại, đã tạm thời "hòa giải" với những người quốc gia qua việc thành lập Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc, và gần đây là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Mục đích của chiến thuật giai đoạn này cũng đã được vạch rõ trong bài xã luận "Chính sách Mặt trận của Đảng ta" do Xuân Thủy viết ở tạp chí Học tập (số 1-1960) cơ quan lý luận của trung ương đảng Lao động, đồng thời cũng đã được ghi trong chương lĩnh của MTGPMN sau này. Có đoạn viết nguyên văn như sau: "Mặt trận chủ trương đoàn kết bất cứ người nào có thể đoàn kết được, tranh thủ bất cứ người nào có thể tranh thủ được, trung lập bất cứ người nào có thể trung lập được, cố nhằm phân hóa kẻ thù đến cao độ và cô lập chúng, đồng thời kiếm thêm nhiều bạn ở trong và ngoài nước..."
Vài sự kiện tiêu biểu về chiến thuật hành động của Cộng sản vừa trích dẫn tưởng cũng đủ khẳng định một cách mạnh mẽ rằng tin vào thiện chí hòa giải của người Cộng sản chỉ là một điều ngây ngô hão huyền, đáng thương hại.
2) Ngây thơ về phương pháp tuyên truyền của Cộng Sản.
Sau bài biên khảo dài chiếm 20 trang nhan đề "Từ cách mạng tháng 10 đến cách mạng tháng 8" đăng trên tạp chí Đất Nước (số 3 tháng Giêng 1968) vừa qua, linh mục Trương bá Cần lại cao hứng viết tiếp một tham luận tràng giang đại hải với cái tiêu đề khá hấp dẫn "25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc" đăng ở tạp chí Đối Diện qua 3 số liên tiếp, chiếm gần 90 trang (các số 14, 15, 16). Không cần nói đến lời ca ngợi một cách nhiệt thành của tác giả đối với chủ nghĩa mác xít lê nin cũng như đối với các lãnh tụ của phương trào cách mạng vô sản quốc tế, cũng như không cần nói đến việc tác giả đề cao đường lối, chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội của miền Bắc như những thành tựu vĩ đại, hoặc tuyên truyền cho ảnh hưởng của chế độ chính trị miền Bắc bằng cách trích dẫn một đoạn trong bài diễn văn của Lê Duẩn với nội dung nói lên những hứa hẹn quyến rũ của một "chế độ ưu việt" đã làm kết luận cho bài tham luận của mình, mà chỉ cần bàn đến tính chất ngây thơ của tác giả trong việc tin tưởng vào các con số thống kê được phổ biến công khai trên các sách, báo Hanoi cũng đã thấy rõ sự lầm lẫn đáng tiếc.
Dựa vào những con số thống kê về các thu hoạch trong những địa hạt nông nghiệp, thương mại, văn hóa, kỹ thuật, công nghiệp nặng, nhẹ, cũng như dựa vào các lời tuyên bố, các nghị quyết của Lê Duẩn, Trường Chinh, hoặc Chính trị bộ trung ương đảng, tác giả đã làm cho những người đọc non nớt ngộ nhận rằng tập đoàn lãnh đạo miền Bắc đã có những nỗ lực phi thường rất đáng khâm phục trong sự nghiệp xây dựng một miền Bắc độc lập và giàu mạnh, hay nói cách khác, đã hoàn thành một cách tốt đẹp công cuộc dân tộc dân chủ trên một nửa tổ quốc. Nếu chỉ đơn thuần căn cứ vào những con số thống kê tỉ mỉ kèm theo những bảng đồ biểu như tác giả đã sưu tầm và trình bày thì quả là chế độ miền Bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao Động, đã đạt những thắng lợi lớn về đủ mọi phương diện. Tuy nhiên, người đọc có ý thức lấy làm tiếc rằng đấy chỉ là những con số được trích dẫn theo các báo chí, sách vở có tính cách tuyên truyền của nhà nước Cộng sản miền Bắc, chẳng hạn như tuần báo "Vietnam en marche" các cuốn "Kháng chiến trường kỳ nhất định thắng lợi" của Trường Chinh, "Thanh niên với cách mạng xã hội chủ nghĩa" của Lê Duẩn, "Sự nghiệp, kinh tế và văn hóa 1945–1956" của Nghiêm xuân Yêm (bộ trưởng nông nghiệp) hoặc dựa theo tài liệu của Viện kinh tế và tài liệu của một số ký giả quốc tế thân Cộng như Bernard Fall. Nói đến tuyên truyền là nói đến cái nguyên tắc "tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại", tưởng không mấy ai mà chưa biết. Một điều đáng tiếc nữa là sau mỗi phần trích dẫn, tác giả đã không bày tỏ một nhận xét khách quan nào. Thái độ im lặng trong trường hợp đó chỉ có nghĩa là một sự tán đồng, ngưỡng mộ.
(Xem tiếp trang 11)
Diễn đàn
(Tiếp theo trang 2)
Có thể tác giả làm như vậy là muốn biểu thị một thái độ khách quan trong việc biên khảo chăng? Nhưng tác giả đã quên rằng trong hoàn cảnh đấu tranh chính trị phức tạp ở miền Nam hiện nay, thái độ "muốn làm ra vẻ khách quan" ấy đã vô tình phục vụ đắc lực cho đường lối kế hoạch tuyên truyền của đối phương. Riêng đối với những ai đã có dịp sống chung với Cộng sản, hay ít ra có tinh thần vô tư trong việc nghiên cứu về lý thuyết và hành động của Cộng sản, đều nhận thức được rằng việc giới thiệu thành tích bằng những con số phóng đại là một trong các phương pháp tuyên truyền rất hiệu quả, thường có tác động mạnh mẽ vào tâm lý quần chúng theo chiều hướng có lợi cho đảng mà cán bộ Cộng sản không hề quên.
IV) Hòa bình thật hay chỉ là chiêu bài?
Trong những ngày gần đây, với sự đỡ đầu của ngoại bang, một số trí thức ở miền Nam đã lợi dụng "quyền bất khả xâm phạm" của họ, cụ thể như dân biểu Ngô công Đức, đã cố gắng khuấy động lên phong trào phản chiến, đưa ra các giải pháp chính trị cực kỳ phiêu lưu, phản động. Hậu thuẫn cho những giải pháp vô trách nhiệm đó, vẫn là những tiếng nói hằn học, những lời buộc tội phiến diện, những phân tích nhận định một chiều, những phán đoán thiếu cơ sở thực tế khách quan của một số ít trí thức, đứng đầu là linh mục Nguyễn ngọc Lan, thông qua các bài báo của họ chung quanh vấn đề chiến tranh và hòa bình. Điều đáng chú ý là ở mỗi bài viết của mình, họ đã khôn khéo viện dẫn đến các thông điệp của Đức Giáo Hoàng để làm bình phong che đậy cái ý đồ bất công hoặc làm cơ sở cho các lập luận máy móc do họ đưa ra. Vẫn là những giọng điệu kết án Mỹ can thiệp vào chủ quyền miền Nam, vẫn là những lời khích động tâm lý hiếu hòa của quần chúng, chứ không hề thấy họ bày tỏ một thái độ nghiêm chỉnh nào trước các hoạt động gây chiến của Cộng sản HN. Họ đòi Mỹ rút quân không điều kiện, đòi hòa bình tức khắc, đòi quyền sống bức thiết cho đồng bào, đòi thiết lập chính phủ lâm thời kết hợp với việc chống bắt lính, chống quân sự học đường, chống tăng cường quân đội v.v… chỉ là sự học vẹt lại một cách trơ trẽn các luận điệu tuyên truyền già nua mồm mép của đài Hà Nội mà quần chúng thường nghe lải nhải ngày này qua ngày khác đến nhàm tai.
(Còn tiếp).
#Chính Luận Oct. 8, 1970 trang hai
DIỄN ĐÀN: Nghĩ Về Một Số Người Trí Thức Ảo Tưởng (tiếp theo Kỳ 2) by Ánh Việt
Kỳ 3
Ai mà không oán ghét chiến tranh! Ai mà không muốn được sống trong thanh bình, tự do, no ấm? Nhưng việc chấm dứt chiến tranh cũng như tái lập hòa bình phải được giải quyết trên căn bản nào, trong những điều kiện nào thật hợp tình hợp lý, chứ đâu phải chỉ đơn phương miền Nam buông súng, đơn phương lính Mỹ rút đi là có hòa bình ngay!
Thử tưởng tượng rằng một ông chủ nhà kia, thay vì tống cổ bọn cướp ra khỏi vườn, lại đuổi những người hàng xóm không cho họ vào giúp mình can thiệp ngăn chặn các hành động mờ ám của bọn du thủ du thực, đặt vấn đề như thế thì có khác gì đòi Mỹ rút quân, đòi chiến sĩ ta ngưng bắn trong khi vẫn làm ngơ trước các hoạt động vũ trang của địch? Giải quyết vấn đề chiến tranh miền Nam theo chiều hướng ấy có khác gì mở toang cửa cho bọn cướp vào nhà tung hoành, dọn đường cho chúng giành lấy địa vị chủ nhân ông?
Bởi quá ngây thơ nên Linh mục Trương Bá Cần và một số "đồng chí" của ông đã không biết rằng người Cộng Sản không bao giờ muốn xây dựng một nền hòa bình đích thực.
Chủ trương cố định này đã từng được xác nhận qua những chỉ thị, giáo điều của các lãnh tụ Cộng sản quốc tế như Lénin: "Nguyên tắc căn bản của chiến lược và chiến thuật Sô Viết là sự chủ trương một cuộc chiến tranh toàn diện, triệt để và vô hạn định." hoặc Mao Trạch Đông: "Nhiệm vụ trung tâm của cách mạng, hình thức cao đẳng của cách mạng chính là chinh phục quyền bính bằng vũ khí, nghĩa là bằng chiến tranh. Nguyên tắc cách mạng của chủ nghĩa Mác Lê này có giá trị ở khắp nơi, đối với Trung hoa cũng như các nước khác" (trích Minh Võ trong Sách Lược Xâm Lăng Của Cộng sản, sách đã dẫn). Chủ trương này tự nó tố cáo quan niệm về danh từ hòa bình hoàn toàn đối lập với cách hiểu thông thường của chúng ta. Nói khác đi, hòa bình theo ý nghĩa của Cộng sản, chỉ là một chiêu bài, một cạm bẫy, một viên thuốc độc bọc đường, một chiến thuật nhất thời của phe yếu nhằm đối phó với một địch thủ mạnh hơn, đúng như Clausewitz lý thuyết gia Cộng sản đệ tam quốc tế đã viết: "Sự ký kết hòa ước chỉ là một giai đoạn chuẩn bị chiến tranh".
V. — Dân tộc hay chỉ là một nhãn hiệu?
Nhân bàn đến chiến thuật liên hiệp, hòa bình của Cộng sản, người ta không thể không nói tới chiêu bài quen thuộc khác của các lãnh tụ cách mạng vô sản: đó là 2 tiếng Dân tộc. Trong các tài liệu văn hóa phổ biến tại miền Bắc, người ta thấy nói đến rất nhiều cái gọi là "hình thức dân tộc kết hợp với nội dung xã hội chủ nghĩa". Điều đó có nghĩa là Cộng sản vận dụng từ ngữ dân tộc như một chiếc áo màu mè nhằm che đậy cái thực chất "vong bản" ở bên trong.
Trên lãnh vực chính trị, hai chữ dân tộc có giá trị của một nhãn hiệu kích thích tâm lý yêu nước của quần chúng, nhất là đối với lớp trí thức đặng lôi cuốn họ tham gia vào con đường cách mạng vô sản quốc tế hoàn toàn xa lạ với quyền lợi của tổ quốc mình. Đặc biệt ở những nước thuộc địa, hoặc những nước nhược tiểu, chậm tiến như VN, các lãnh tụ Cộng sản coi hai tiếng dân tộc như một nhân tố tích cực, có tầm ảnh hưởng sinh tử đối với quá trình đấu tranh của đảng:
"Nhân tố dân tộc chẳng những thúc đẩy phong trào cách mạng của công nhân và nông dân mà còn kích thích tinh thần yêu nước của các tầng lớp khác trong nhân dân. Nó quyết định phần lớn tính chất độc đáo của cách mạng thuộc địa." (Quốc tế Cộng sản với Vấn đề Dân tộc và Thuộc địa. NXB Sự Thật, Hà Nội 1960).
Từ ý nghĩa đó, các khẩu hiệu, tổ chức như "giải phóng dân tộc", "cách mạng dân tộc", "liên minh dân tộc dân chủ" v.v... do Cộng Sản khai sinh, cần được hiểu như một chiến thuật giai đoạn nhằm đánh lừa những người có lý tưởng yêu nước, có tinh thần quốc gia, chỉ phục vụ cho chủ trương chiến lược của họ chứ tuyệt nhiên không đáp ứng nguyện vọng đoàn kết, hòa đồng dân tộc của đa số nhân dân. Cái nhãn định "chủ nghĩa Cộng sản phát triển nhờ chiếc cầu quốc gia dân tộc" chính là rút ra từ bài học kinh nghiệm về sự lợi dụng và phản bội của Cộng sản mà mọi người quốc gia sáng suốt không có quyền làm ngơ.
VI.— Một cái nhìn đại cương vào sơ đồ đấu tranh của Cộng sản VN.
Trong khi say sưa phấn đấu cho một lý tưởng cao quý, con người ta thường bị thu hút bởi những danh từ hào nhoáng đẹp đẽ như Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, nên cũng dễ bị lợi dụng. Đó cũng là trường hợp Việt Minh cướp chính quyền ngày 10-8-1945 biến cuộc biểu tình vĩ đại của các đảng phái quốc gia tại Hà nội thành cuộc tổng khởi nghĩa của họ cách đây 25 năm.
Kinh nghiệm ê chề về sự lợi dụng trắng trợn và thô bỉ ấy đã là một bài học cảnh giác sâu sắc cho các phần tử yêu nước chân chính. Do đó, các khẩu hiệu, tôn chỉ quyến rũ như "Phấn đấu xây dựng một nước VN hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" (của Mặt trận tổ quốc) hoặc "đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo, các nhân sĩ yêu nước ở Nam Việt Nam, không phân biệt xu hướng chính trị để đấu tranh... thực hiện hòa bình, độc lập, dân chủ hoàn thành thống nhất tổ quốc" (của MTGPMN) đã không còn tác dụng thu hút nữa. Tuy nhiên, trong hàng ngũ quốc gia ở miền Nam ta, vẫn còn một thiểu số trí thức, hoặc vì tuổi đời còn trẻ, chưa có kinh nghiệm bản thân đối với Cộng sản, hoặc vì quá chủ quan và tự đại, nên đã vô tình đi vào con đường đấu tranh của đối phương.
Như nhiều người đã biết, mục tiêu cuối cùng của các đảng Cộng sản là tiến tới xích hóa toàn cầu. Mưu đồ ấy cũng đã được phản ánh một phần nào qua định nghĩa quen thuộc trước đây của Hồ Chí Minh như: "cuộc chiến tranh ở VN là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới do Liên xô lãnh đạo" hoặc của Trường Chinh như "cuộc đấu tranh giai cấp ở VN là một hình thái đấu tranh giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa".
Để đạt tới mục tiêu đó, các lãnh tụ Cộng sản ở các nước có nhiệm vụ xây dựng tại địa phương mình một chế độ chính trị trên cơ sở các nguyên lý hành động mác xít - lêninnit tức chủ nghĩa Cộng sản. Trên bình diện lý thuyết, con đường hành động của các đảng Cộng sản địa phương không ra ngoài các kế hoạch sách lược có tính cách giáo điều, kinh điển của Lénin, nhưng trong thực tiễn, để phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể và thích nghi với đặc điểm tình hình của từng giai đoạn, con đường đi của họ được vận dụng theo một sơ đồ đấu tranh uyển chuyển, chủ yếu là về
(Xem tiếp trang 11)
________________________________________
Diễn Đàn
(Tiếp theo trang 2)
Mặt chiến thuật xâm lược, phương pháp tuyên truyền, cách giải quyết các mâu thuẫn nội bộ quốc gia v.v.
Riêng tại VN, sơ đồ đấu tranh nói trên đã được mô tả qua bài trả lời của Hồ Chí Minh với phóng viên nhật báo L’Unita, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Ý, vào tháng 6 năm 1959.
Họ Hồ nói: "Chúng ta đang xây dựng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, chúng ta chỉ đang xây dựng xã hội chủ nghĩa trên một phần nửa xứ sở trong khi phần nửa khác chúng ta còn phải đánh đổ đế quốc và chấm dứt chế độ dân chủ tư sản. Điều này có nghĩa là trên thực tế, đảng ta có nhiệm vụ thực hiện cùng một lúc 2 cuộc cách mạng, một ở miền Bắc và một ở miền Nam". Hơn một năm sau, sơ đồ đấu tranh ấy được cụ thể hóa trong nghị quyết của Đại hội Đảng Lao Động lần thứ 3 (họp vào đầu tháng 9-1960) theo đó, nhiệm vụ trung tâm của Cộng sảnVN Nam là "củng cố miền Bắc và giải phóng miền Nam". (Ở đây, chúng ta chỉ đề cập tới phần liên hệ đến miền Nam).
Theo cách nói của Hồ Chí Minh, thì "đánh đổ đế quốc Mỹ và chấm dứt chế độ dân chủ tư sản" có nghĩa là đuổi Mỹ ra khỏi miền Nam và tiêu diệt giai cấp phú địa hào.
Thật ra đây chỉ là một chiêu bài quá quen thuộc mà các lãnh tụ Cộng sản VN đã từng sử dụng ngay từ thời kỳ đầu cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 với nhiệm vụ của nó đã được giải thích là "phản đế bài phong", và sau này, nhãn hiệu đó lại được dán vào cho tổ chức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam với cái ý nghĩa một cuộc cách mạng "dân tộc dân chủ". Điều đáng vạch trần ra đây là âm mưu của Cộng sản trong việc lợi dụng chiêu bài dân tộc dân chủ (tức phản đế bài phong).
Cộng sản vốn biết rằng VN là một nước nông nghiệp, tuyệt đại bộ phận nhân dân làm nghề cày ruộng. Vậy muốn dành lấy hậu thuẫn sức mạnh to lớn ấy cần phải tuyên truyền thế nào cho quần chúng nông thôn hiểu rằng đảng bị đàn áp, bóc lột thậm tệ, nhằm sách động họ dậy chống lại các thế lực cầm quyền để rồi sau đó, sẽ được phân chia ruộng đất.
Như thế, người nông dân vừa được giải phóng về mặt chính trị, lại vừa được quyền làm chủ ruộng đất của mình. Đó là ý nghĩa đơn giản nhất về quan niệm dân tộc dân chủ đối với người nông dân ít học mà Cộng sản hy vọng rằng với chiêu bài nói trên, họ sẽ thu hút được cảm tình và sự ủng hộ của đông đảo nông thôn.
Riêng đối với tầng lớp trí thức ở thành thị, Cộng sản lại khôn ngoan hơn trong việc khai thác tâm lý. Đối với thành phần này, việc kích thích tinh thần dân tộc, ý thức dân chủ không có gì khác hơn là khai thác các vấn đề chủ quyền quốc gia, những xung đột giữa lãnh đạo và quần chúng, những bất mãn của nhân dân yêu nước đối với sự can thiệp của ngoại bang, đi đôi với việc phát động các phong trào đấu tranh đòi tự do ngôn luận, tự do nghiệp đoàn, tự do hội họp, bất chấp cả những hạn chế tất yếu của hoàn cảnh một nước đang có chiến tranh. Điều cần nhấn mạnh là Cộng sản triệt để vận dụng quan niệm dân chủ Tây phương vào việc khai thác tâm lý của giới trí thức bằng cách lấy ngay các mục tiêu đấu tranh xây dựng dân chủ mà người trí thức hằng theo đuổi làm mục tiêu tranh đấu của họ, tức là dùng chiến thuật "gậy ông đập lưng ông".
Trong quá trình tiến hành nhiệm vụ nói trên, dĩ nhiên, các cán bộ Cộng sản không bao giờ sao lãng các thủ đoạn gây chia rẽ, xáo trộn, phân hóa hàng ngũ quốc gia bằng cách đào sâu thêm những mâu thuẫn đã có, hoặc nếu chưa có thì phải tạo ra trong mọi lĩnh vực, mọi môi trường sinh hoạt xã hội. Thủ đoạn nguy hiểm này cũng đã được vạch rõ trong chỉ thị của Lénine gửi cho các đảng viên, cán bộ Cộng sản: "Trong cuộc đấu tranh cách mạng, muốn đạt được thắng lợi, đảng lãnh đạo phải biết lợi dụng mâu thuẫn tạm thời trong nội bộ kẻ thù mà thực hiện liên minh có điều kiện với những người có thể là bạn đồng minh mạnh của cách mạng, dù chỉ là bạn đồng minh tạm thời, bấp bênh, không chắc chắn và có điều kiện". (Những nguyên lý của chủ nghĩa Lénin, Sự Thật, Hà nội 1964).
Tóm lại, trong quá trình tiến hành các sách lược đấu tranh, chủ yếu là lợi dụng và khai thác các mâu thuẫn nội bộ quốc gia nhằm phân hóa cao độ hàng ngũ của ta, các cán bộ Cộng sản luôn luôn hành động theo những phương châm chiến lược cổ điển. Các phương châm chiến lược ấy cũng đã được Staline nói rõ như:
— "Thấu suốt tư tưởng cách mạng bạo lực, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, kết hợp khởi nghĩa ở nông thôn với khởi nghĩa ở thành thị để giành chính quyền... không thể đấu tranh chính trị đơn thuần, cũng không thể có ảo tưởng đấu tranh hòa bình hợp pháp.
— Tích cực chuẩn bị, chớp lấy thời cơ, dũng cảm phát động toàn dân khởi nghĩa giành chủ quyền".
Staline còn giải thích thêm rằng: "Thời cơ cách mạng đã đến là lúc mà cuộc khủng hoảng đã phát triển đến tột độ, lúc mà đội tiên phong đã sẵn sàng chiến đấu đến cùng, lúc mà những lực lượng hậu bị đã sẵn sàng ủng hộ đội tiền phong và lúc mà hàng ngũ địch đã hỗn mang đến cao độ" (Sách đã dẫn, trang 98).
Như đã nói ở trên, các phương châm chiến lược và chiến thuật hành động của người Cộng sản có tính cách nguyên tắc, giáo điều. Do đó, các cán bộ của họ buộc phải tuân theo một cách máy móc cuồng tín, không được quyền thắc mắc, suy nghĩ về những thay đổi của tình hình đất nước cũng như đối tượng đấu tranh.
Chính vì vậy mà cách đây 25 năm, để động viên tinh thần yêu nước của quần chúng, các lãnh tụ Cộng sản Việt Nam cũng đã chú ý đến mâu thuẫn giữa nhân dân và tập đoàn thống trị thực dân phong kiến đương thời. Sau ngày kháng chiến chống Pháp chấm dứt, Cộng sản lại hướng mọi nỗ lực tuyên truyền vào cái gọi là mâu thuẫn cơ bản của xã hội miền Nam, coi Mỹ là đối tượng tranh đấu thay cho Pháp trước kia, như tạp chí Học Tập, cơ quan lý luận của Trung ương đảng Lao động đã viết:
"... Mâu thuẫn giữa một bên là nhân dân Miền Nam bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản, giai cấp tư sản dân tộc, các tầng lớp và cá nhân yêu nước khác, một bên là đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng gồm những bọn thân Mỹ phản động nhất trong giai cấp địa chủ và tư sản mại bản ngày càng bộc lộ sâu sắc, kịch liệt và chỉ có thể giải quyết bằng cách đánh đổ chính quyền miền Nam" (Số tháng 7-1961)
Cho đến nay, sau hơn 9 năm, Cộng sản vẫn giữ nguyên luận điệu tuyên truyền cũ rích ấy, nhưng vẫn không hấp dẫn được đông đảo nhân dân ta. Bằng chứng hùng hồn nhất là chế độ Cộng Hòa tại miền Nam vẫn tồn tại và ngày càng được phát triển.
(Còn một kỳ)
#Chính Luận Oct. 9, 1970 trang hai
DIỄN ĐÀN: Nghĩ Về Một Số Người Trí Thức Ảo Tưởng (tiếp theo Kỳ 3 và hết) by Ánh Việt
Kỳ 4 (kỳ cuối)
Hiện nay, những khó khăn do chiến tranh gây ra, đặc biệt là do sự tuyệt vọng trong chủ trương đấu tranh quân sự để lật đổ chế độ miền Nam, Cộng sản đã phải thay đổi đường lối chiến thuật bằng cách khuấy động lên phong trào nguy hòa, kết hợp với việc thổi phồng những mâu thuẫn giữa lớp người này với lớp người khác, giữa tôn giáo miền này với tôn giáo kia, giữa quần chúng và giới lãnh đạo, và chủ yếu là giữa dân tộc Việt Nam với đồng minh Mỹ nhằm làm suy yếu tiềm lực chống Cộng của quân & dân miền Nam. Trước tình hình đó, một số trí thức cầm bút đang hung hăng chĩa mũi nhọn vào việc đả kích, bôi nhọ Hoa Kỳ, đòi Mỹ rút quân, kêu gào lập chính phủ lâm thời, hô hào thỏa hiệp với Mặt trận GPMN trong một số đề nghị phi lý của họ, hằn học với những cá nhân, đoàn thể, tổ chức có lập trường quốc gia kiên định; chuyên nghề bi đát hóa các tệ nạn xã hội, trầm trọng hóa tình hình mọi mặt ở miền Nam; tất cả những việc làm quá khích đó mang ý nghĩa tích cực nào dối với sự nghiệp cải tạo xã hội, xây dựng dân chủ, giải quyết chiến tranh không? Hay chỉ có tác dụng vô tình tiếp tay với Cộng sản trong mưu đồ xâm lược miền Nam, bồi dưỡng thêm sinh lực cho một kẻ thù hiếu chiến, ngoan cố vốn đang bị suy yếu và sa lầy trên con đường cách mạng bạo lực hung hãn?
VII — Thực tế hay ảo tưởng?
Trước lúc vào tổng kết bài này, người viết muốn được xác định một lần nữa rằng các dẫn chứng và nhận định ở các phần trên đây không nhằm bôi nhọ uy tín cá nhân hoặc chụp mũ “thân cộng” một số trí thức đang quay lưng hoặc tự tách mình ra khỏi hàng ngũ chống Cộng của đồng bào miền Nam mà chỉ muốn nói lên một lời yêu cầu tha thiết với họ rằng vì vận mệnh và tiền đồ miền Nam, các ngài hãy xét lại hành vi và thái độ của mình trong quá khứ và hiện tại.
Từ mấy năm nay, theo dõi những luận điệu hằn học, đả kích sống sượng, gay gắt của các ngài được vung vãi trên một số sách báo, bất cứ một người nào có lập trường quốc gia vững chắc cũng không thể chấp nhận được. Quả vậy, nếu như những trang chữ của các ngài có gây được một vài ảnh hưởng tốt đẹp nào đó, chẳng hạn như thức tỉnh được một số phần tử trí thức quen thói cầu an, hưởng lạc, hoặc truyền vào các bạn trẻ tuổi một ngọn lửa nhiệt tình, thì đồng thời, nhiều bài báo của các ngài cũng dễ gây hoang mang chia rẽ, xung đột không ít trong hàng ngũ nhân dân, cũng như trong quần chúng tín đồ công giáo, và nhất là gần đây, đã làm tổn thương nặng nề đến lập trường chống Cộng của nhân dân miền Nam, qua việc đòi hòa bình tức khắc. Nói thế không có nghĩa là chính phủ và nhân dân miền Nam muốn duy trì chiến tranh, muốn kéo dài cảnh chết chóc rừng rợn trên quê hương đất nước này, mà chỉ muốn nhấn mạnh thái độ bất công của các ngài ở chỗ các ngài chỉ biết đòi miền Nam ngưng bắn mà không có một lời nào chỉ trích các hoạt động gây chiến, khủng bố, phá hoại của giới lãnh đạo Cộng sản Hà Nội cùng bè lũ của họ ở bên này vĩ tuyến 17. Nói thế cũng không có nghĩa là chính phủ và nhân dân miền Nam lên án những người yêu hòa bình mà chỉ muốn biểu lộ ý chí tôn trọng một nền hòa bình trong tự do và công lý chứ không thể chấp nhận một thứ hòa bình giả hiệu, tức là loại hòa bình diễn ra dưới nanh vuốt thống trị của Cộng sản.
Nói đến vấn đề hòa bình, chắc chắn có nhiều người quan tâm và mong ước hơn cả các ngài nữa. Hàng triệu chiến sĩ, công chức, cán bộ và quần chúng lao động ở những vùng thiếu an ninh, nếu so với cuộc sống nhàn nhã, thong dong của các ngài, thì khát vọng hòa bình ở các thành phần vừa kể, hẳn nhiên nung nấu, thiết tha hơn các ngài gấp bội. Nhưng đối với họ, thà chấp nhận hy sinh, gian khổ, đấu tranh cho một nền hòa bình chính nghĩa, đích thực, chứ không thể chịu cúi đầu khoanh tay nhận lấy một thứ hòa bình tạm bợ, mong manh, mở đường cho kẻ thù tiến công và chiếm đoạt sau này.
Các ngài từng lớn tiếng khẳng định rằng sự có mặt của quân đội nước ngoài trên lãnh thổ miền Nam là nguyên nhân gây ra chiến tranh và để giải quyết chiến tranh, chỉ có biện pháp duy nhất là quân đồng minh phải rút ra khỏi miền Nam. Nhận định này rõ ràng là hết sức ngây thơ, nếu không muốn nói đó chỉ là cái loa tuyên truyền và cổ vũ cho lập trường chính trị của Hà Nội và MTGP. Chẳng lẽ các ngài đã cố tình quên rằng Cộng sản phát động cuộc chiến tranh tại miền Nam này từ năm 1960, nghĩa là ngay sau khi Hà Nội vừa thiết lập xong tổ chức MTGPMN (thực chất đấy là một công cụ thi hành các đường lối chính sách của họ) và các lực lượng quân đội Mỹ, Úc, Đại Hàn, Tân Tây Lan chỉ mới đặt chân vào lãnh thổ miền Nam bắt đầu từ năm 1965 theo lời yêu cầu của giới lãnh đạo Saigon.
Sự thật về nguồn gốc chiến tranh miền Nam rõ rệt như ban ngày, tại sao các ngài lại có thái độ nhập nhằng đánh lận con đen, để rồi ngày nay ráo riết đòi quân đội Đồng minh về nước? Có bao giờ các ngài nghĩ đến hậu quả của việc quân đội Đồng minh rút ra khỏi miền Nam đối với số phận của mười lăm triệu đồng bào và sự tồn tại của chế độ ta, nhất là trong tình hình miền Nam đang bị phân hóa như hiện nay? Nói vậy không có nghĩa là phủ nhận sức mạnh của quân dân ta và thần thánh hóa vai trò của các chiến sĩ nước bạn mà chỉ muốn nêu bật một sự thật quan trọng, rằng trong giai đoạn quyết định của cuộc chiến đấu chống lại một lực lượng thù địch không phải chỉ riêng một ít đơn vị vũ trang ở miền Nam này mà là chống cả một tập thể quân đội Miền Bắc với sự yểm trợ tích cực của đế quốc Nga Sô, đế quốc Tàu Cộng, thì nhân dân ta vẫn còn cần đến sự giúp đỡ của các nước bạn về cả hai mặt vũ khí và nhân lực. Mặc dù sự có mặt của đông đảo quân đội nước ngoài tại đây đã ít nhiều làm va chạm và xáo trộn nếp sinh hoạt tinh thần lẫn vật chất của đồng bào ta, nhưng ta vẫn phải chấp nhận họ như chấp nhận một nhu cầu thiết thân cho sự sống còn của chế độ miền Nam, ít ra là trong giai đoạn lịch sử hiện nay.
Vì thế, giải quyết vấn đề chiến tranh miền Nam theo quan điểm của các ngài, chỉ cần rút quân đội đồng minh ra khỏi miền Nam mà không đặt điều kiện cụ thể nào đối với sự có mặt của hàng trăm nghìn bộ đội Cộng sản Bắc Việt ở đây, là chẳng khác gì đặt cái cày trước con trâu, là chỉ đốn cây ở ngọn mà không đào tận gốc, là vẫn duy trì mầm mống chiến tranh, là sa vào cạm bẫy của đối phương, là đầu hàng địch một cách nhục nhã, hèn nhát.
________________________________________
Diễn đàn
(Tiếp theo trang 2)
Các ngài có biết rằng chính vì các ngài là trí thức, lại thường tự vỗ ngực cho mình là những người yêu nước thương nòi, nên việc làm của các ngài cũng thường bị quần chúng đánh giá một cách gắt gao không? Một số người này thì bảo các ngài bị lóa mắt trước một vài cái hay của miền Bắc mà quên đi những cái dở vô cùng tai hại trong chủ trương đường lối chính sách độc tài, chuyên chính khắc nghiệt của tập đoàn lãnh đạo Cộng sản Hà Nội; nhóm người nọ thì bảo các ngài đang định đóng vai thần tượng, hoặc những anh hùng cá nhân, muốn dư luận phải chú ý đến các hành vi ngôn ngữ cử chỉ đối lập ngang ngửa của mình; không ít người thì cho rằng các ngài bị mặc cảm nặng nề về một số bất công thối nát của tư bản Tây phương nên dễ bị lôi cuốn bởi những nét hấp dẫn trong các thứ sách báo tuyên truyền của Cộng sản; và những người vô tư nhất — thành phần này chiếm đa số — thì nhận định rằng: bởi các ngài chưa từng là nạn nhân của chế độ Cộng sản, chưa có một vốn liếng kinh nghiệm đấu tranh nào đối với Cộng sản, lại chỉ biết Cộng sản qua một vài tác phẩm kinh điển của Marx hay một vài văn kiện tuyên truyền có tính cách quyến rũ như bản Tuyên ngôn Cộng sản, nên mới có những hành động phiêu lưu và ảo tưởng.
Tính chất phiêu lưu và ảo tưởng nơi việc làm của các ngài được biểu hiện ở khuynh hướng đả phá tích cực lập trường chiến đấu của quân dân ta và đồng minh, ở các đòi hỏi thành lập chính phủ chuyển tiếp nhằm tiến tới một chính phủ liên hiệp và một chính sách trung lập, ở thái độ phủ nhận giá trị pháp lý của chế độ miền Nam, mà không biết rằng chính các đòi hỏi đó cũng là những mục tiêu đấu tranh căn bản của đối phương nhằm làm thất bại mọi chủ trương và hoạt động của chính phủ và nhân dân ta.
Tính chất phiêu lưu và ảo tưởng nơi việc làm của các ngài còn được cụ thể hóa ở chỗ các ngài tin tưởng rằng Cộng sản Hà Nội cũng đang mong muốn đất nước sớm hòa bình và thống nhất trong tự do và phồn thịnh như niềm mơ ước của nhân dân ta mà không hiểu biết thế nào là chủ trương chiến lược và thế nào là chính sách giai đoạn của người Cộng sản.
Cuối cùng, tính chất phiêu lưu và ảo tưởng còn thể hiện ở chỗ các ngài nghĩ rằng những lời ve vãn, thiết tha kiểu “Cộng sản, người anh em của tôi” (Nguyễn Văn Trung, tạp chí Đất Nước số 3), những lời suy tôn chân thành kiểu “Nói chuyện với người đã khuất” (Lý Chánh Trung, Đất Nước số 14) những lời tán dương nức nở trong bài “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” (Trương Bá Cần, Đối Diện các số 14, 15, 16) đối với các lãnh tụ và chế độ Hà Nội kèm theo thái độ lăng nhục không tiếc lời của Nguyễn Ngọc Lan đối với giới cầm quyền và chế độ quốc gia ở Saigon (trong loạt bài viết cho báo Tin Sáng gần đây) là có thể làm lay chuyển được tâm tình và ý chí của đối phương.
Nhìn vào các việc làm có tính cách phiêu lưu và ảo tưởng của các ngài, nhiều người đã tự hỏi có đúng là các ngài thơ ngây thật sự hay chỉ là một thái độ ngụy tín, biện lận? Là những nhà trí thức ưa tìm tòi, nghiên cứu và phát hiện các vấn đề lớn, tại sao các ngài đã không nghĩ đến trường hợp những Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường ở ngoài kia và những Lê Văn Hảo, Trần Triệu Luật ở trong này, cũng chỉ vì quá tin tưởng ở người Cộng sản mà ngày nay phải kéo dài một cuộc đời nô lệ nhục nhã trong sự khống chế nghiệt ngã của những người mà trước kia họ đã từng hết lòng ủng hộ và tin tưởng.
VIII — Chú đà điểu và con thiêu thân
Đã đến lúc nhân dân miền Nam cần nói thẳng với số người trí thức ảo tưởng rằng: các ngài nên xác định một cách đúng đắn và dứt khoát chỗ đứng của mình trong chế độ miền Nam. Phản ứng sôi nổi tới mức thiếu cả sự bình tĩnh của quần chúng trong mấy ngày vừa qua đối với những việc làm phản bội của Ngô Công Đức [ * ] tưởng cũng đủ mang đến cho các ngài một đề tài suy nghĩ. Nếu như các ngài dùng ngòi bút sắc bén phanh phui các tệ nạn xã hội nhằm góp phần cải thiện chế độ miền Nam là điều đáng tán thưởng thì ngược lại, thái độ chính trị lập lờ hoặc cực tả của các ngài lại là một điều bất lợi cho công cuộc chiến đấu vì quyền lợi chung của dân tộc ta.
Như các ngài đã thấy rõ, trên lĩnh vực sinh hoạt chính trị, tiếng nói phản chiến gắt gao của các ngài thông qua những bài báo đả kích ác ý ác độc đối với những ai đang quyết tâm giữ vững lập trường chống Cộng, cho đến nay tiếng nói đó vẫn không hề tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của đa số quần chúng.
Các ngài thường mỉa mai thái độ cương quyết đánh thắng Cộng sản ở những người quốc gia yêu nước nhiệt thành là “chống Cộng lối con đà điểu” (Đối Diện số 16), nhưng các ngài có hiểu rằng những việc làm phiêu lưu nguy hiểm của các ngài lại chỉ có nghĩa như những con thiêu thân? Con đà điểu chúi đầu xuống đất nhưng vẫn còn được sống, được quờ quạng lên bước dưới ánh sáng mặt trời, chứ hành động của con thiêu thân chỉ dẫn đến cái chết lập tức một cách khờ dại, cuồng tín và vô nghĩa.
Ở những dòng cuối cùng này, người viết muốn được nói lên một lời yêu cầu khẩn thiết: Xin các ngài đừng lợi dụng chức vụ tôn giáo này, địa vị xã hội nọ, môi trường hoạt động kia, đừng tìm cách ngăn cản cuộc chiến đấu chống Cộng nghĩa của nhân dân miền Nam. Lẽ cố nhiên, cuộc chiến đấu ấy rồi sẽ đến ngày kết thúc, nhưng chắc chắn sẽ không kết thúc trong những điều kiện ô nhục và bất công như các ngài thường đòi hỏi.
Chế độ miền Nam này tuy chưa phải là một chế độ lý tưởng, nhưng ít ra, ở đây các ngài cũng còn được quyền tự do hưởng thụ và ăn nói, kể cả sự chỉ trích bừa bãi vô trách nhiệm, khác hẳn với chế độ mà đối phương của chúng ta đã lầm lì thiết lập tại miền Bắc và đang lăm le thiết lập tiếp tại miền Nam này, trong đó mỗi công dân kể cả giáo sư, dân biểu và nhà tu hành như các ngài chỉ còn là những công cụ sản xuất theo các chỉ tiêu kế hoạch của đảng và nhà nước Cộng sản mà thôi./.
____________
[ * LTC tóm lược bản tin này (của VTX) do Tiền Tuyến đăng lại:
#Tien Tuyen Sept. 19, 1970 trang nhất
Đề Nghị Lập Chính Phủ Lâm Thời Của Một Số Dân Biểu Bị Đả Kích Kịch Liệt
Ngày 17-9-1970, các dân biểu [ hoạt động nội tuyến cho Cộng sản ] do Ngô công Đức dẫn đầu gồm có Dương văn Ba, Hồ ngọc Nhuận, Lý quý Chung, đã đăng trên một số tờ báo ở Saigon một bản đề nghị «Thành lập một chính phủ lâm thời tại Nam Việt Nam, thực hiện ngưng bắn trên toàn lãnh thổ để đưa đến việc tổ chức tuyển cử tự do nhằm định đoạt tương lai chính trị của miền Nam». Đề nghị này bị hầu hết các chính khách miền Nam phản đối kịch liệt, trong đó có một số chính đảng phẫn nộ hăm dọa sẽ có biện pháp thích đáng dành cho Ngô công Đức và đồng bọn.
LTC: hai bài tham luận của Vĩnh Nam và của Ánh Việt trên báo Chính Luận trên đây cho đến nay – 2026 – vẫn còn nguyên giá trị bao lâu cuộc trường chinh diệt trừ Cộng sản trên giải đất Việt Nam này chưa kết thúc.
Luận cứ của hai cây bút đặc sắc này của báo Chính Luận cho ta thấy hai ông có sự am hiểu thấu đáo về người Cộng sản chuyên nghề thủ đoạn gian tà chỉ chực thôn tính người Quốc gia. Sự am hiểu đó là một chữ ký bảo đảm hai ông có đủ thẩm quyền nói lên những lời tuyên ngôn của người Quốc Gia không chấp nhận chế độ Cộng sản ở mọi thời.
Thêm nữa, hai bài tham luận còn chứng tỏ một tinh thần văn minh, hiếu hòa của bậc trí thức chơn chánh khi viết bài trình bày sát rạt chủ đề sinh tử của cả miền Nam nhưng vẫn dùng lời lẽ ôn hòa và tôn trọng dành cho những kẻ trí thức thiên tả, những kẻ đang ra sức phá hoại công cuộc vệ quốc của miền Nam, gây phân tán nhân tâm, lũng đoạn hàng ngũ trong những giờ khắc cần sự đoàn kết hơn bao giờ hết. Bộ mặt thật – cốt khỉ – của băng trí thức thiên tả này đã lộ diện trần truồng một cách nham nhở, thảm hại và đớn hèn ngay sau khi bầy CSBV nón cối dép râu trong rừng tràn ra đô thành Saigon black April.
Vì thế hôm nay đọc lại những dòng chính luận này, chúng ta không khỏi lấy làm tiếc rằng, những Nguyễn văn Trung, Nguyễn ngọc Lan, Chân Tín, Lý chánh Trung và những bè lũ hữu hảo với họ v.v… không xứng đáng được trọng nể như vậy. Tuy nhiên, vì muốn giữ vẹn trang Sử miền Nam Quốc Gia với những giá trị Tự do, Nhân bản vàng ròng không chối cãi, nên tôi vẫn kiên nhẫn typing và đăng lên ở Library này, trước là để san sẻ với anh em Quốc Gia nào còn hùng tâm quyết chí, sau là để làm hành trang cho lớp người đến sau trên chặng đường nhận lãnh trọng trách tái thiết Quốc Gia Việt Nam Tự Do sắp tới.
_________________________
$pageOut $pageIn Phân đoạn 7
Vụ Nguyễn văn Trung (tiếp theo)
LTC: Sau bài tham luận của Ánh Việt trên đây, thì Nguyễn văn Trung đâu có chịu im, mà viết bài "Lên tiếng" đáp lại, được Nhựt báo Chính Luận đăng làm 2 kỳ: Chinh Luan Oc. 29, 1970 tr hai « Nói với ông Ánh Việt, tác giả bài ‘Nghĩ về một số người thức ảo tưởng’ » by Nguyễn văn Trung (kỳ 1) và Chinh Luan Oc. 30, 1970 tr hai kỳ 2 (và hết.)
Tưởng đâu Nguyễn văn Trung đọc những lời tâm huyết, ôn tồn khuyên nhủ như Ánh Việt đã viết thế kia, thì sẽ hồi tâm, phục thiện trước những chứng cứ rành rành thiết cận sự an nguy của miền Nam trước cơn xâm lăng hung hãn bằng võ khí Nga Tàu do CSBV gây ra. Nhưng không! Bài "Lên tiếng" của Nguyễn văn Trung chứng tỏ một tâm địa dối trá, tiểu nhân nhỏ nhen, cho dù Nguyễn văn Trung đã tìm đủ cách xảo ngữ mẹo thuật xào nấu ý tưởng và chữ nghĩa để đánh trống lảng vấn đề chánh, để làm loãng đi, xô giạt đi chủ đề vệ quốc đang sinh tử trong khói lửa chiến tranh nóng hổi từng giờ, làm cho người đọc không thể không tự hỏi thế Nguyễn văn Trung đang ở đâu? ở Việt Nam hay ở La Mã? đang nói về đề tài gì? về chuyện quân & dân miền Nam đang thời chiến, ngày đêm nỗ lực đánh tan Cộng quân từ miền Bắc kéo vô đây gây máu lửa ngút trời cho dân lành, hay Nguyễn văn Trung đang bàn về một chủ đề giáo khoa nơi bàn giấy lớp học trong thời bình? Thói bất lương tự trong xương của tay trí thức mắt mù và vô liêm sỉ này làm LTC tôi không chịu nổi cho dù hôm nay là đã 55 năm kể từ ngày anh ta làm trò múa rối. Do đó, tôi không có đủ vui vẻ để retyping bài đáp lại kia của anh ta, mà chỉ post vào đây nguyên dạng ảnh chụp bài báo Chính Luận để bạn đọc theo dõi.
Sau đây là Lời Tòa Soạn Chính Luận (ra ngày Oct. 29, 1970 trang hai) khi đăng bài "Lên tiếng" của Nguyễn văn Trung:
LTS: GS Nguyễn văn Trung, nguyên khoa trưởng Đại Học Văn Khoa, vừa gửi tới Chính Luận bài "Lên tiếng" đăng tải dưới đây để trả lời bài "Nghĩ về một số người trí thức ảo tưởng" của ông Ánh Việt đăng cách đây mấy tuần ở mục này.
Bài lên tiếng của GS Trung, lẽ dĩ nhiên sẽ bác bỏ mọi nhận định của ông Ánh Việt và sẽ chứng minh thực tế không ảo tưởng trong tư tưởng cũng như trong hành động của ông và các nhà trí thức đã được đề cập. Tuy nhiên ngoài cái phần thông lệ đó ra, bài lên tiếng của GS Trung gợi lên một điều khá mới mẻ và khá thành thật. Đó là điều ông có vẻ thành thật tin tưởng rằng chủ nghĩa Cộng sản hay tổ chức Cộng sản mạnh lắm đến nỗi không ai – kể cả Cộng sản – có thể hiểu thấu và tổ chức Cộng sản mạnh lắm đến nỗi không thể bị đánh bại hoàn toàn. Còn "phía bên này" tất nhiên là hoàn toàn dở. Thực tế có như thế hay không đó lại là chuyện khác. Nhưng đây dường như là nguyên nhân sâu xa đã khiến GS Trung đứng hẳn qua lập trường được gọi là "cấp tiến".
#Chinh Luan Oct. 29, 1970 trang hai #Chinh Luan Oct. 29, 1970 trang 11
#Chinh Luan Oct. 30, 1970 trang hai #Chinh Luan Oct. 30, 1970 trang 11 $pageOut $pageIn Phân đoạn 8
Cục diện cuộc chiến CSBV xâm lăng miền Nam
Chinh Luan Sept 1, 1970 trang nhất
Ý KIẾN - Chuyện Bi Hài
Cuộc thi đua ngắn hạn, từ 15-8 đến 5-9, do Cộng sản Phân Cục Miền Nam phát động đã sắp hết hạn. Mục tiêu của cuộc thi đua được đề ra là «liên tục tấn công — liên tục nổi dậy». Nhưng kết quả đạt được cho tới nay chẳng thế nào gọi được là «liên tục tấn công, liên tục nổi dậy».
Cho tới nay, thành tích lớn nhất mà cuộc thi đua của Cộng sản đã đạt được chỉ là một vụ pháo kích và tấn công ở địa phận Quảng Nam và mục tiêu có ý nghĩa nhất là một cô nhi viện. Dù vậy đây chưa phải là điểm nổi bật nhất trong giai đoạn được gọi là «thi đua liên tục tấn công, liên tục nổi dậy». Điểm nổi bật nhất trong giai đoạn thi đua là: 13 ngày sau ngày hạ lệnh thi đua, chủ tịch chính phủ ma Huỳnh tấn Phát, qua một bài diễn văn dài dòng kể lể về sự tất thắng của Cộng sản và sự tất thua của Quốc gia, đã hạ một câu rằng «Mỹ vẫn còn theo đuổi ảo vọng tìm thế mạnh trong sự xuống thang» và rằng «nếu ta (Cộng sản) không từ mọi cố gắng để tìm giải pháp chính trị thỏa đáng cho miền Nam thì mặt khác ta cũng không lùi một bước nào trước ý đồ của đế quốc Mỹ...»
Lời tuyên bố của Huỳnh tấn Phát, đem đối chiếu với thực tế chiến trường, đối chiếu với lập trường Trung ương CSVN (mới đây do Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp trình bày) và đối chiếu với thái độ của các thượng cấp Nga Tàu của Hanoi, cho thấy phía Cộng sản còn có nhiều vấn đề rắc rối hơn là phía VNCH và đồng minh Hoa kỳ.
Về quân sự, mệnh lệnh được ban ra từ Hà nội là phải chuyển đổi cuộc chiến trở về thế «chiến tranh nhân dân» nghĩa là phải chịu tụt lùi để có thể đứng lâu, nhưng tại trận tiền, Cộng sản Phân Cục Miền Nam lại hạ lệnh «liên tục tấn công — liên tục nổi dậy» nghĩa là mệnh lệnh leo thang đã đưa tới cuộc «dậy non Mậu Thân», đã từng phung phí cả trăm ngàn sinh mạng Cộng quân mà kết quả là một bước lùi dài. Như thế quan điểm của hai bên rõ ràng là đối nghịch. Sự đối nghịch chỉ có thể tăng thêm nếu một bên không chịu từ bỏ quan điểm của mình. Bởi vì trước mắt cả hai bên cùng thấy giống nhau là: địch vẫn xuống thang mà ta vẫn ở thế mạnh.
Về chính trị, Trung Ương CS VN kín đáo hơn và khéo léo hơn. Họ đã âm thầm để cho Souphanouvong của họ ở Lào chịu thương thuyết trong cái thế kém với hy vọng thử tách đất Lào ra khỏi toàn bộ Đông Dương đặng may ra cứu gỡ cho con đường xâm nhập đi Nam khỏi bị mưa bom Mỹ, giúp họ gây lại phần nào thế giá trước khi phải chấp nhận một giải pháp chung cuộc về vấn đề Miền Nam. Ngoài ra Hà Nội tuy là làm già, để đến nỗi tân trưởng phái đoàn Mỹ phải nổi sùng, nhưng không dám để nổi sùng hơn thêm, và Xuân Thủy đã vội vàng bỏ cả giỗ ông Hồ mà đi Ba Lê. Chuyến đi Ba Lê của Xuân Thủy được bắn tiếng là sẽ «nói chuyện kín với Mỹ» trong cái ý đồ là gây mâu thuẫn Việt Mỹ. Nhưng mà gây được hay không là chuyện khác. Chỉ biết rằng cho tới nay, về mặt công khai, Trung Ương Cộng Sản VN trong cái thế chờ đợi chưa chịu từ bỏ lập trường quyết liệt một cách vô vọng.
Trong khi đó, có lẽ đây là lần đầu tiên Cộng sản phân cục Miền Nam thở ra cái giọng bất thường «không từ mọi cố gắng nào để tìm một giải pháp chính trị thỏa đáng cho tình hình Miền Nam». Nếu hiểu rằng đây là một bước đi trước của Phân Cục đối với Trung Ương và đó cũng là một dấu hiệu khác biệt thì vụ «chuyện riêng chuyện kín Hoa Kỳ — Bắc Kỳ» không phải chỉ gây thắc mắc cho VNCH mà còn thê gây thắc mắc hơn cho MTGP. Nghĩa là bằng mệnh lệnh «liên tục tấn công liên tục nổi dậy», Phân Cục đòi Trung Ương liên tục đóng góp xương máu chứ không phải đóng góp mệnh lệnh. Nếu không được thế thì «đàn em» đành phải tìm cách riêng để kiếm lối sống cho chính mình và cũng là để biện minh cho cuộc chém giết làng xóm trong Nam đã kéo quá dài.
Sự tình bi hài này chẳng có gì là khó hiểu. CSVN mà có làm được gì là tùy theo ý muốn của Cộng sản Quốc Tế. Hiện nay thì Cộng sản Quốc Tế tuy có chia ra thành hai đầu nhưng chẳng có cái đầu nào là không đi tìm cái thế bồ bịch với thế lực mà họ vẫn gọi là đế quốc (Mỹ). Nga Xô qua một loạt chính sách đã thể hiện sự cương quyết đi tìm cái thế sống chung. Tàu cộng tuy vẫn hung hăng nhưng đó chỉ là cái hung hăng ngoài miệng, cái hung hăng làm giá, còn mục đích cuối cùng vẫn là sống cái đã. Mục đích của Cộng Sản Quốc Tế có vẻ bần tiện nhưng đó là cách thực tế đi tìm sự sống. Còn mục đích của Cộng Sản VN rất lý tưởng (lý tưởng về phương diện lý thuyết) tuy nhiên có điều hơi tiếc là nó chỉ đưa tới cái chết. Để an ủi thôi thì cũng nên gọi đó là cái chết anh hùng cho một chủ nghĩa.
$pageOut $pageIn Phân đoạn 9
khai phóng tri thức, bắt kịp đà tiến bộ kỹ thuật
#Tien Tuyen Jul. 6, 1972 trang năm
Một Nghề Mới Mẻ: Thảo Chương Viên Điện Toán #Tien Tuyen Jul. 6, 1972 trang năm
trang 5 #Tien Tuyen mỗi Thứ Năm hàng tuần | Chuyên trang Kinh tế - Chính trị | Tri Vũ phụ trách
(Bài 010) Một Nghề Mới Mẻ: Thảo Chương Viên Điện Toán
Một tháng có thể kiếm được từ 30.000đ tới 60.000đ nếu làm việc tại Việt Nam, từ 700 tới 1000 Mỹ kim (tương đương với 297.000đ VN tới 425.000đ VN) nếu làm việc tại ngoại quốc. Đó là tương lai của các chuyên viên điện toán được huấn luyện tại Việt Nam.
Kỹ sư Nguyễn Từ Huân, Chủ tịch Hội Chuyên viên Điện toán Việt Nam cho biết như trên, trong dịp lễ mãn khóa lớp Thảo Chương Viên Điện Toán khóa 3 được tổ chức tại Bộ Lao Động.
Các lớp điện toán mới xuất hiện trong khoảng hai năm nay nhưng đã cung ứng một số chuyên viên điện toán đáng kể cho Việt Nam và cho cả ngoại quốc. Theo ông Huân và một số giáo sư huấn luyện lớp điện toán, với đà phát triển trong tương lai của xã hội Việt Nam về mọi mặt nhất là trong thời kỳ kinh tế hậu chiến, thì tương lai của các chuyên viên này rất rực rỡ.
Vài sự kiện không ngờ
Kỹ sư Nguyễn Từ Huân, cũng trong buổi lễ còn nói nhiều sự kiện đáng kể về tương lai của các chuyên viên điện toán được huấn luyện tại Việt Nam.
Ông Huân cho biết hiện nay, Đại Tá Nguyễn Thành Huê, tốt nghiệp khóa phân tích về tổ chức trong năm qua tại Bộ Lao Động đang là chỉ huy trưởng của Trung tâm Điện toán Quân Tiếp Vụ. Trung tâm này hiện nay là một trung tâm với những máy móc và sự tổ chức có thể nói là lớn nhất Việt Nam. Điều đáng kể nữa là trung tâm này, nếu đem nó sánh với các trung tâm khác ở Đông Nam Á, không thua kém bất cứ một trung tâm nào.
Mặt khác, bốn nữ thảo chuơng viên điện toán khóa II do Bộ lao Động tổ chức hiện đã ký hợp đồng làm việc tại ngoại quốc, một người làm tại một nhà xuất bản rất lớn tại Pháp còn ba người kia làm tại các Trung tâm Điện toán Hoa Kỳ. Ông nói lương của những người này hiện vào khoảng 700 tới 1000 Mỹ kim, một tháng.
Ông cũng cho biết hiện nay, các lớp huấn luyện điện toán tổ chức trong vòng hai năm qua, đã có 107 chuyên viên điện toán trong vòng hai năm nay, gồm có 87 người tốt nghiệp ngành thảo chương viên và 20 người phân tích viên.
Ngoài ra, hiện nay, trong số những người tốt nghiệp đã có một người làm quản đốc một Trung tâm Huấn luyện Điện Toán của chính phủ, 3 người được giao phó tổ chức việc tại các cơ quan dân chính và quân sự tại Hoa Kỳ hoặc các xí nghiệp ngoại quốc tại Việt Nam; sáu người giúp việc cho các công ty quốc doanh, 4 người sang tu nghiệp tại tại Hoa Kỳ và Nhật Bản.
Lương của những người làm việc tại Việt Nam, theo ông Huân, không kể các công chức quân nhân, thì vào khoảng từ 30.000 cho tới 100.000 đồng.
Những người này theo ông Huân, các xí nghiệp đều ghi nhận là họ có đầy đủ khả năng để làm việc, nếu không muốn nói là nhiều khi rất xuất sắc.
Tú Tài II, có thể theo học
Đặc biệt là các lớp điện toán nêu trên đều được tổ chức tại Việt Nam. Đã có tất cả một lớp phân tích nghề nghiệp, ba lớp thảo chương viên. Các lớp nói trên do Hội Chuyên viên Điện toán Việt Nam đảm trách, với sự cộng tác của Bộ lao động và Cơ quan USRID. Tất cả các lớp kia đều học tại Bộ Lao Động, đường Trần Hưng Đạo Sài Gòn.
Muốn theo học lớp này, các học viên phải có bằng Tú Tài II trở lên và qua một thời kỳ thi tuyển do Bộ Lao Động tổ chức. Một số học viên có khả năng sẽ được theo học. Việc dự thi tuyển cũng khá gay go. Trong lớp Thảo Chương Viên Điện Toán khóa III, có tất cả 422 người ghi danh ứng thí nhưng chỉ có 42 người được theo học và chỉ có 33 người tốt nghiệp.
Kể từ hai năm nay, có tất cả tới 1.700 người ghi tên theo học, nhưng chỉ có 107 chuyên viên tốt nghiệp mà thôi.
Có lẽ lý do khiến nhiều người ghi tên là vì tương lai của các học viên là «khá» như vừa kể trên. Nhiều vị phụ huynh đã khuyến khích con cháu theo học lớp này. Cô Lê thị Phương Lan, một học viên tốt nghiệp ưu hạng lớp Thảo Chương Viên Khóa III, đã xác nhận: cô theo học vì Ba cô nói rằng, nghề này sẽ có tương lai khá. Cô cũng nói với bạn bè là cô cũng ở vào trường hợp tương tự.
Một số các học viên khác theo học vì ý thích, như anh Nguyễn Hữu Sự, một học viên ưu hạng khác cùng lớp với cô Lan, cho rằng anh học lớp này vì tò mò muốn hiểu biết về ngành khoa học điện toán. Nhưng dù là lý do nào, các học viên khác cũng có đủ khả năng vì đã qua kỳ thi tuyển.
Tuy là một ngành học mới nhưng các học viên đã học một cách dễ dàng. Mặc dầu đậu Tú Tài I và II ban văn chương [ ban C ], cô Phương Lan cho biết học về ngành này không mấy khó khăn. Cô nói: Môn học không hẳn thiên về Toán mà người ta vẫn lầm tưởng. Anh Nguyễn Hữu Sự cho biết chương trình học gồm có 4 phần và kéo dài trong sáu tháng.
Phần thứ nhất, học về những hiểu biết của ngành điện toán; phần thứ hai học về máy điện toán IBM 360, một loại máy điện toán thông dụng hiện tại. Trong phần này, các học viên được chỉ bảo rành rọt về sự nhận dữ kiện, biến đổi dữ kiện và phát dữ kiện của máy. Phần thứ ba và tư, giảng về hai hệ thống ngôn ngữ điện toán RPG, và Cobol.
Ngôn ngữ điện toán là một loại ngôn ngữ đặc biệt, người ta phải đổi các dữ kiện này theo những con số hoặc dấu hiệu, ký hiệu đặc biệt để chuyển vào máy IBM, và khi máy này phát trở ra thì phải đọc các ngôn ngữ này để hiểu được các dữ kiện.
Cô Phương Lan cho biết, tuy vậy, cô đã phải cất công để học, mất gấp 4, 5 lần học thi Tú Tài vì phải học nhiều. Cô cho rằng, không cần kéo dài lớp này ra quá vì 6 tháng cũng đã đủ để hiểu, và cũng không nên rút ngắn thời gian học lại vì sẽ thiếu.
Một số học viên khác đều đồng ý như trên. Các lớp học trên gồm cả nam và nữ học viên. Trong Khóa 3 Thảo Chương Viên có tất cả 13 nữ học viên vì 20 nam học viên.
Huấn luyện tại Việt Nam thì tiết kiệm được 255 triệu bạc VN.
Nhờ chương trình huấn luyện viên, theo kỹ sư Nguyễn Từ Huân, một số người đủ mọi thành phần xã hội, một trình độ … đã có được một nghề nghiệp tiến bộ «Tân kỳ và đắc dụng nhất trên thế giới». Thành phần như trên gồm đủ các tầng lớp công chức, tư chức, quân nhân tại ngũ, cựu quân nhân, và sinh viên v.v. theo học. Trình độ học vấn thì cũng đủ mọi ngành khác nhau.
Người đậu Tú Tài II ban C như cô Lan, Cao học Hóa học như anh Nguyễn Hữu Sự, một số thành phần khác như các sinh viên tốt nghiệp Chính trị Kinh doanh, Luật … cũng có thể theo học.
Chương trình nói trên khi huấn luyện tại VN, theo kỹ sư Huân, có thể tiết kiệm được 600 ngàn Mỹ kim, tức tương đương với 255 triệu bạc VN theo hối suất hiện tại.
Theo ông Huân, từ trước tới giờ, mọi công tác huấn luyện và tu nghiệp chuyên viên ngành điện toán đều chi thực hiện tại quốc ngoại rất tốn kém và đòi hỏi nhiều điều kiện, thể thức phức tạp. Phí tổn cho mỗi học viên được gởi theo học ngành này vào khoảng 5.000 Mỹ kim tức là tương đương với 2.125.000 theo hối xuất hiện tại.
Ông Huân cũng nói rằng, mặc dù huấn luyện tại VN nhưng các học viên không thua gì các học viên được huấn luyện ở ngoại quốc, bằng cớ là các kết quả đã kể trên.
Ông Marvin Tank, Phó Giám đốc Cơ quan USAID, nói rằng, chương trình của cơ quan này cho biết, các học viên rất nhanh và giỏi.
Cần thiết cho hậu chiến.
Ngoài sự giúp ích cho các học viên có một nghề nghiệp bảo đảm lợi tức cao là một lẽ, còn lẽ khác là với các lớp điện toán này mở ra, ta phải nhìn tới một khía cạnh khác, đó là sự quan tâm tới việc đầu tư nhân lực cho tương lai. Ông Tổng trưởng Lao Động Đàm Sỹ Hiến đã nói với các học viên như vậy.
Kỹ sư Huân cũng nói rằng: Vấn đề huấn nghệ các chuyên viên Điện toán rất cần thiết cho thời hậu chiến.
Theo ông Huân, máy điện toán được áp dụng trong mọi ngành kế toán, quản trị vật liệu, quản trị xí nghiệp, tài chánh nhân viên và nhiều lãnh vực khác.
Ông cũng cho biết điện toán còn áp dụng vào Y Khoa để khám bệnh, vào Luật Khoa, Giáo Dục, Thuế Khóa, Bầu Cử v.v.
Điện toán, theo ông, chắc chắn sẽ giữ vai trò của một chìa khóa trong các lãnh vực kinh tế, đời sống xã hội cho quốc gia VN, nhất là trong thời kỳ hậu chiến sắp tới.
Mở những lớp điện toán hiện tại là khởi đầu những bước nhỏ mà Bộ Lao Động đã tiên phong đi tới và chắc chắn còn những bước nữa tiếp tục. Ông nói, «với các học viên trong tương lai, chúng tôi hy vọng điện toán sẽ xuất hiện ở mọi ngành và các học viên hiện tại sẽ len lỏi vào mọi lãnh vực, mọi khung cảnh của chính phủ và xí nghiệp, để đem nhiệt huyết và kinh nghiệm ngõ hầu đương đầu với tình trạng của một quốc gia đang cần gây dựng lại.»
LTC: Khi làm lại bài này, tôi vừa typing mà trong lòng vừa rưng rưng thầm khóc. Đây là một (trong những) bằng chứng rõ ràng, giản dị ai cũng thấy được, hiểu được để nói rằng, nếu VNCH không bị đồng minh Mỹ phản trắc thì muôn đời CSBV không thể nào mó tới nổi phố phường miền Nam chớ đừng nói là ăn cướp được Saigon, và nhứt là, VNCH sẽ là nước đi đầu trong tiến trình hóa Rồng hóa Hổ ở khu vực Đông Nam Á ngay trong thập niên 1980s.
Và ngày nay, 50 năm sau ngày black April, nhìn lại nước mình bị bầy chó cộng xã nghĩa phá tan tành, mọi giá trị bị đảo lộn hoàn toàn, và tương lai của cả xứ sở chìm trong u tối, vô vọng ... thì tôi nghĩ chỉ có tượng đá mới không biết khóc là gì.
$pageOut $pageIn $pageOut $pageIn $pageOut
các Phần tiếp theo ==>































No comments:
Post a Comment
Enter you comment ...