by Le Tung Chau, Khởi đăng ngày Oct. 5, 2023 | tái tục ngày Dec. 2, 2025
phần ghi trong ngoặc vuông [ ] là do LTC phụ chú
phần ghi trong ngoặc vuông [ ] là do LTC phụ chú
Bạn đọc thân mến,
Trong khi chờ đợi làm tiếp các Posts chủ đề cuộc chiến vệ quốc và kiến quốc của VNCH hai mươi năm [*] đang còn dang dở, LTC xin cống hiến bạn đọc Mục "Đọc Báo Miền Nam", trích ra từ các nhật báo cũ mà tôi hiện có, dùng kỹ thuật OCR (Optical character recognition) chuyển nguyên văn từ Image sang Text rồi edit lại một đôi chỗ cho đúng nguyên bản.
Đây là nơi ưu tiên tuyển lựa những tin tức nổi bật có giá trị lịch sử, những bài xã thuyết hoặc nhận định thời cuộc hoặc bình luận sắc sảo nóng hổi thời chiến trên hai mặt:
— về mặt quân sự, vệ quốc: bè lũ CSBV từ miền Bắc kéo quân vào xâm lăng miền Nam bị QLVNCH anh dũng đánh trả khiến chúng thua xiển liểng trên hầu hết các chiến trường.
— về mặt chính trị: bọn ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản ở miền Nam nối giáo cho giặc, đâm sau lưng chiến sĩ, làm tôi tớ cho tà quyền Cộng sản Hanoi, không ngừng lén lút tung mưu hèn kế bẩn hòng khuấy đảo nhân tâm, phá hoại cuộc sống yên lành của người dân Nam; mặt khác chúng còn phá rối chính quyền Quốc Gia, đè thêm gánh nợ đời vốn đã thừa trĩu nặng trên vai Tổng Thống Thiệu và Chánh phủ VNCH.
— Ngoài ra, miền Nam còn bị gặm nhấm sinh lực bởi một bọn người thừa cơ đục nước béo cò, nhân cơn khói lửa chiến tranh, ra sức múa rối trên vũ đài chính trị; hoặc thậm thụt đầu cơ tích trữ, buôn lậu làm lũng đoạn kinh tế quốc gia, làm chảy máu nội lực quốc gia đang rất cần sự ưu khỏe để đảm đương cuộc chiến vệ quốc.
— về mặt kiến quốc: trong tình thế đất nước phải chiến đấu sống còn trước dã tâm xâm lăng nhuộm đỏ của khối cộng sản quốc tế Nga - Tàu qua tập đoàn tay sai cộng sản Ba Đình, thế nhưng VNCH vẫn không ngừng hoàn thiện mọi mặt sinh hoạt, từ văn minh giáo dục, xã hội, cho đến khuếch trương kỹ nghệ, và khai phóng tri thức, bắt kịp đà tiến bộ kỹ thuật — technology — của nhân loại ngõ hầu dọn đường sẵn cho thời kỳ hậu chiến mau chóng tái thiết và phát triển xứ sở.
Trong sức lực và thiện chí của một cá nhân, tôi cố gắng phân loại nguồn báo chí nói trên ra thành nhiều đề mục, và chuyển tất cả thành Text làm thành một kho lưu trữ quý báu cho pho Sử VNCH và Sử Quốc - Cộng hai mươi năm mà tôi nghĩ sẽ vô cùng hữu ích cho mọi chung tay ngày mai tái thiết quốc gia Việt Nam hậu cộng sản.
LTC Kính Cáo
Oct. 05, 2023
Trong khi chờ đợi làm tiếp các Posts chủ đề cuộc chiến vệ quốc và kiến quốc của VNCH hai mươi năm [*] đang còn dang dở, LTC xin cống hiến bạn đọc Mục "Đọc Báo Miền Nam", trích ra từ các nhật báo cũ mà tôi hiện có, dùng kỹ thuật OCR (Optical character recognition) chuyển nguyên văn từ Image sang Text rồi edit lại một đôi chỗ cho đúng nguyên bản.
Đây là nơi ưu tiên tuyển lựa những tin tức nổi bật có giá trị lịch sử, những bài xã thuyết hoặc nhận định thời cuộc hoặc bình luận sắc sảo nóng hổi thời chiến trên hai mặt:
— về mặt quân sự, vệ quốc: bè lũ CSBV từ miền Bắc kéo quân vào xâm lăng miền Nam bị QLVNCH anh dũng đánh trả khiến chúng thua xiển liểng trên hầu hết các chiến trường.
— về mặt chính trị: bọn ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản ở miền Nam nối giáo cho giặc, đâm sau lưng chiến sĩ, làm tôi tớ cho tà quyền Cộng sản Hanoi, không ngừng lén lút tung mưu hèn kế bẩn hòng khuấy đảo nhân tâm, phá hoại cuộc sống yên lành của người dân Nam; mặt khác chúng còn phá rối chính quyền Quốc Gia, đè thêm gánh nợ đời vốn đã thừa trĩu nặng trên vai Tổng Thống Thiệu và Chánh phủ VNCH.
— Ngoài ra, miền Nam còn bị gặm nhấm sinh lực bởi một bọn người thừa cơ đục nước béo cò, nhân cơn khói lửa chiến tranh, ra sức múa rối trên vũ đài chính trị; hoặc thậm thụt đầu cơ tích trữ, buôn lậu làm lũng đoạn kinh tế quốc gia, làm chảy máu nội lực quốc gia đang rất cần sự ưu khỏe để đảm đương cuộc chiến vệ quốc.
— về mặt kiến quốc: trong tình thế đất nước phải chiến đấu sống còn trước dã tâm xâm lăng nhuộm đỏ của khối cộng sản quốc tế Nga - Tàu qua tập đoàn tay sai cộng sản Ba Đình, thế nhưng VNCH vẫn không ngừng hoàn thiện mọi mặt sinh hoạt, từ văn minh giáo dục, xã hội, cho đến khuếch trương kỹ nghệ, và khai phóng tri thức, bắt kịp đà tiến bộ kỹ thuật — technology — của nhân loại ngõ hầu dọn đường sẵn cho thời kỳ hậu chiến mau chóng tái thiết và phát triển xứ sở.
Trong sức lực và thiện chí của một cá nhân, tôi cố gắng phân loại nguồn báo chí nói trên ra thành nhiều đề mục, và chuyển tất cả thành Text làm thành một kho lưu trữ quý báu cho pho Sử VNCH và Sử Quốc - Cộng hai mươi năm mà tôi nghĩ sẽ vô cùng hữu ích cho mọi chung tay ngày mai tái thiết quốc gia Việt Nam hậu cộng sản.
LTC Kính Cáo
Oct. 05, 2023
$pageIn
Phân đoạn 1
#Chính Luận Sept. 28, 1972 trang hai
(Bài 001) Tầm Mức Quan Trọng Trong Việc Gọi Đích Danh Các Tổ Chức Cộng sản tại Việt Nam – THEO LỜI KHUYÊN CỦA CHÁNH PHỦ by Á Trình
❁ LTC: Xin lưu ý bạn đọc:
✑ những nhãn - đề mục như vầy là cốt để phân loại – một cách tương đối – các bài báo, bản tin v.v... và nhờ đó bạn đọc sẽ dễ xác định nội dung cần đọc, tra cứu.
✑ tuy nhiên, có một lưu ý cần thiết với bạn đọc là, những gì tôi chọn lọc phục hồi lại ở đây từ các trang báo cũ miền Nam Quốc Gia, là không hoàn toàn đủ, mà đấy chỉ có thể gọi là một phần nào, một tập hợp nhỏ chứng cứ tiêu biểu cho từng đề mục mà thôi, bởi vì trong mười năm với riêng 2 tờ nhựt báo Chính Luận, Tiền Tuyến thì số báo đã lên đến hơn 6.000 tờ rồi, mỗi tờ 8 trang. Chưa kể các báo khác như Hòa Bình, Cấp Tiến v.v...
✑ Vì thế, công việc phục hồi nội dung giá trị - giá trị về mặt Sử liệu cũng như về các bình diện khác: xã hội, văn hóa, giáo dục, nghệ thuật, kỹ thuật, công kỹ nghệ v.v... - hiện hữu trong số lượng đồ sộ hơn 10.000 số báo cũ miền Nam, thì phải cần đến một Toán chuyên viên lành nghề, cùng với phương tiện máy móc dồi dào, đắc dụng, cùng nhau làm việc miệt mài trong dài ngày.
Còn LTC với sức lực có hạn của người làm việc một mình cùng phương tiện nghèo nàn, ít ỏi của một người, thì không thể nào làm tròn hết dù rất mong muốn, và vì thế xin bạn đọc xem đây chỉ là một cố gắng hết mình có thể được của một cá nhân thôi.
Danh chính, Ngôn thuận
Danh bất chính, Ngôn bất thuận tất sự bất thành
(Khổng Tử)
Chính danh là một chủ trương lớn trong học thuyết chính trị của Khổng gia. Theo Khổng Tử, sở dĩ thiên hạ nhà Chu lâm vào cảnh đại loạn suốt hơn 500 năm là vì giữa danh xưng sự vật và sự việc trong thực tế đã không phù hợp nhau nên mới có cảnh vua không ra vua, cha không ra cha, con không ra con và trong cái mớ xã hội xà bần thủa đó không còn cách nào để phân biệt chính và tà, gian và ngay, đúng và không đúng, nói theo triết lý Tây phương thì đã xây hiện tượng không phù hợp giữa tư tưởng và sự vật.
Ngày nay việc dùng danh từ trong lãnh vực chính trị cũng là một vấn đề quan trọng, nhiều nhà chính trị nổi tiếng như Churchill, De Gaulle chẳng hạn, trước hết là những nhà ma thuật về ngôn ngữ, quần chúng thường bị lôi cuốn vào lý luận của các chính trị gia vì ngôn ngữ hùng hồn của họ.
CS vốn sở trường về tuyên truyền, ngôn ngữ đã chiếm hơn một nửa trong nghệ thuật tuyên truyền nên CS đã dành cho ngôn ngữ và danh từ do chúng đặt ra một địa vị quan trọng. ví dụ những danh từ như " Việt gian, phản động " là cả một công cụ đàn áp tinh thần đối với quần chúng, ghê gớm không kém gì súng đạn và những thủ đoạn khủng bố mà chúng vẫn thường dùng, hơn nữa chính những danh từ nói trên đã giúp chúng hợp lý hóa và hợp thức hóa những thủ đoạn tàn nhẫn của chúng trước con mắt mọi người.
Cuộc chiến đấu giữa Dân chủ và Cộng sản tại Việt Nam trên bình diện quân sự có từ lâu, cuộc chiến đấu chính trị từ trước đến nay vẫn được dùng, nhưng những danh từ như đấu tranh chính trị với Cộng sản thực ra mới được đề cập mới đây và nó được đánh dấu như một chuyển hướng đấu tranh trong tương lai một khi im bặt tiếng súng.
Trong chiều hướng đó, gần dây các báo hàng ngày vừa đề cập đến một lời khuyên của Phủ Tổng Thống minh định rõ những danh từ thường được dùng để gọi và chỉ các tổ chức Cộng Sản đề tránh mọi sự nhầm lẫn nguy hại.
Kiểm điểm lại những danh từ để chỉ Cộng sản
CSVN là một tổ chức của Cộng Sản quốc tế, ai cũng biết, vậy nhưng nếu những người CSViệt Nam công khai tự tuyên bố trước dư luận rằng họ là Cộng Sản thì sự việc đã không có gì rắc rối, đen trắng rõ ràng, thiện ác dễ phân biệt. Ngặt vì bọn Cộng sản Việt Nam lại xảo quyệt thường ẩn núp dưới những danh từ khác để đánh lừa dân chúng chỉ vì họ biết dân chúng Việt Nam ghê sợ họ. Vì vậy, việc đầu tiên của họ Hồ khi nắm chính quyền tại miền Bắc là giải tán đảng Cộng Sản Đông Dương để rồi núp sau danh xưng “V.N. Cách mạng đồng minh" hay là Việt Minh, danh từ đó có nghĩa là những người cách mạng Việt Nam cùng thề với nhau giải phóng đất nước. Từ trước đến nay hai danh từ cách mạng vẫn được nhân dân VN kính trọng và có kẻ lại coi nó như một thứ phép lạ để giải quyết mọi vấn đề. Nhưng hai danh từ Việt Minh vẫn không ổn vì cộng sản đã sớm loại hết mọi đồng minh bằng sắt máu.
Đúng lý ra tại VN chỉ có 2 hạng người làm chính trị là Việt Cộng và Việt Quốc đề phân định ranh giới giữa quốc gia và CS quốc tế. Nhưng bọn CSVN lại luôn luôn che đậy nhãn hiệu CS của họ để đánh lừa nhân dân rằng họ cũng là phân tử quốc gia VN, vì vậy mà họ thay thế đảng Lao động vào đảng CS trong thời kháng Pháp; chỉ sau này khi đất nước chia đôi họ mới ra mặt nhận họ là những người chủ trương thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc. Tại miền Nam sau 54 một chánh phủ quốc gia thuần túy ra đời đặt CS ra ngoài vòng pháp luật vì vậy nên vào năm 60 bọn cộng sản hoạt động tại miền Nam dựng lên MTDTGPMN để che đậy nhãn hiệu CS và che dậy sự chỉ huy của CSBV đặng lừa dối dân chúng miền Nam trong kế hoạch tuyên truyền xích hóa của họ.
Để chi rõ tên rõ mặt bọn hoạt động cho CS tại miền Nam, danh từ VC thường được dùng đến và thói quen của các nhà báo nước ngoài, danh từ VC được dùng để chỉ những phần tử CS miền Nam, người Mỹ thường dùng bằng danh từ “vi xi”, phiên âm của hai chữ VC theo tiếng Mỹ để gọi CS miền Nam vì vậy mà vô hình trung người ta có thể lầm CS miền Nam hoạt động dưới danh từ MTGPMN là một tổ chức riêng của bọn người này khác với tổ chức CS tại Hà Nội.
Sau cuộc “tổng khởi nghĩa" Tết Mậu Thân, bọn Cộng sản miền Bắc và miền Nam thấy rằng dân chúng miền Nam tự do không chấp nhận chế độ và chủ nghĩa Cộng sản nên vội thay hình đổi dạng một lần nữa với danh từ “chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam" trong đó MTGPMN chỉ là một thành phần mà thôi, chúng lập ra chính phủ ma này với mục đích để có phần trong cuộc hội đàm Ba lê và để đòi cho được sự tham gia chúng vào một chánh phủ “3 thành phần” sau này.
Ý nghĩa chính danh của chính phủ VNCH
Theo lời khuyên của chính phủ thì từ nay các báo chí không nên dùng danh từ "Việt cộng" nữa vì danh từ này đã bị thói quen dùng sai để chỉ bọn cộng sản miền Nam và cũng không nên dùng danh từ "MTGPMN" nữa, vì tổ chức này không bao giờ thực sự có tại miền Nam. Mục đích của sự chính danh này là để xóa bỏ một thói quen tai hại đưa đến những sự diễn giải nội dung chính trị sai lầm.
Theo chính phủ thì hiện nay MTDTGPMN chỉ là một bộ phận trá hình của CS miền Bắc, chúng chịu sự chỉ huy trực tiếp về mọi mặt quân sự, chính trị của CSBV, miền Nam không có CS mà chỉ có CS miền Bắc, bọn này hiện đang xâm lăng miền Nam, vi phạm thỏa ước Giơ ne năm 54, hơn nữa sau vụ Tết Mậu Thân, hạ tầng cơ sở và mọi hình thức hoạt động của MTDTGPMN đã bị loại từ vật chất đến pháp lý. Hiến Pháp Đệ nhị Cộng Hòa đặt CS và mọi hình thức ngụy trang của CS ra ngoài vòng pháp luật. Hiện nay cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam là do CSBV chủ trương cho nên “cái gọi là MTDTGPMN, CPCMLT” cũng chỉ là những hình thức che đậy của CS, chúng không thể nhân danh ai ở miền Nam vì chúng chỉ là công cụ của CS miền Bắc.
Hệ quả chính trị và pháp lý theo sự chính danh này thật quan trọng.
Trước hết theo thuyết chính danh này thì sự có mặt của bọn Nguyễn Thị Bình tại hội đàm Ba Lê là phi pháp vì tổ chức này chỉ là một công cụ của Hà Nội, sau nữa cái “gọi là chính phủ cách mạng lâm thời" không dân, không đất, không trụ sở, đừng nói đến thủ đô, chắc chắn không có danh nghĩa và pháp lý của một chính phủ, chúng cũng không phải là một chính phủ "lưu vong” nữa vì chưa bao giờ chúng muốn mang hai chữ lưu vong mặc dù trên thực tế chúng đang ăn gởi nằm nhờ Hà Nội. Như vậy chúng không có quyền đòi hỏi gì và cũng không có quyền ăn nói. Hiểu như vậy thì hiện nay chánh phủ VNCH đang đánh nhau với chánh phủ VNDCCH CS Bắc Việt, nếu như có một giải pháp chính trị đề chấm dứt chiến tranh thì hai chánh phủ này phải nói chuyện với nhau.
Thứ nữa, ý kiến cho rằng muốn chấm dứt chiến tranh, người Việt phải nói chuyện với người Việt để tìm một giải pháp chính trị, cũng phải được hiểu cho cặn kẽ hơn. Danh từ người Việt ở đây quá mơ hồ theo thuyết chính danh vì người Việt Cộng Sản tức Việt Cộng không có căn bản pháp lý tại miền Nam, không có sự hiện diện vật chất trong chế độ VNCH hợp pháp. những tổ chức như MTDTGPMN hay CPCMLTMN chỉ là những tổ chức 'ma' do cộng sản Bắc Việt đặt ra để làm tay sai. Như vậy chúng không thể nhân danh ai dứng ra đòi hỏi thành lập một “chánh phủ hòa hợp dân tộc 3 thành phần" như hiện nay chúng chủ trương ở Ba Lê. Nhưng theo bản tuyên bố ngày 27 tháng Giêng 1972 của TT Thiệu thì người Việt cũng có thể nói chuyện với người Việt được để chấm dứt chiến tranh miễn là người “Việt" bên kia từ bỏ hàng ngũ, từ bỏ vũ khí trở về với tư cách thường dân nói chuyện trong khuôn khổ Hiến Pháp VNCH. Đó giải pháp lý tưởng, nhưng nếu có những người Việt bên kia trở về với điều kiện nói trên chắc chắn họ chẳng có tư cách gì để nói chuyện mà cũng chẳng có chuyện mà nói, có được nói cũng chẳng ai nghe. Đó là vấn đề.
Có lẽ chính danh trước rồi sự thành sau
Lời khuyên bỏ hẳn những danh từ “VC”, 'MTDTGPMNV’ hiện đã được hai đài phát thanh và phát hình áp dụng triệt để, báo chí cũng đã mau lẹ áp dụng theo lời khuyến cáo chánh thức. Từ đây trong ngôn ngữ mất hẳn hai danh từ này, đó là một “bước tiến chánh trị” song song với những thắng lợi quân sự. Một vật gì không được ai nhắc đến lần lần hết công dụng hay muốn có công dụng phải thay đổi danh xưng. Cuộc chiến tranh hiện nay đang đi vào chiều hướng chấm dứt nên mọi cố gắng giản lược càng nhiều càng hay những vấn đề phức tạp để những người có trách nhiệm tìm giải pháp được dễ dàng, như vậy người ta có thể nghĩ rằng việc loại bỏ hai danh từ trên nằm trong kế hoạch tìm một giải pháp trong tương lai.
Báo chí Việt Nam đã thực hiện lời khuyến cáo còn báo chí nước ngoài thì sao, liệu họ có vì lười biếng mà dùng theo thói quen không ? Điều tốt hơn hết là một vật gì khi đã không còn được nói đến thì tìm cách thủ tiêu nó đi cho rảnh mắt vì dần dần người ta sẽ quên hẳn nó, như vậy sau khi chính danh còn phải đập tan các tổ chức Cộng Sản nữa thì sự mới thành.
Chinh danh xong sự mới thành, hay sự thành rồi mới chính danh, mọi rắc rối nằm trong quá trình thuận và nghịch nêu trên!
#Chính Luận Sept. 28, 1972 trang hai
(Bài 002) Thị Trường «Chính Khứa» by HỒNG DƯƠNG
LTC:
– Đây là Tiểu khảo về Chính khách và Đảng phái tại miền Nam Quốc Gia của Ký giả Hồng Dương [ ** ] , một cây bút chủ lực và xuất sắc của nhựt báo Tiền Tuyến nói riêng và của làng báo chí Quốc Gia nói chung.
– Tiểu khảo Thị Trường «Chính Khứa» của Ký giả Hồng Dương đăng làm 20 kỳ trên #Tiền Tuyến, bài khởi đầu đăng trên trang nhất #Tiền Tuyến Feb. 21_22, 1971 và đăng rải rác những ngày tiếp theo, không hoàn toàn liên tục bởi vì có những ngày có tin tức cần loan hơn đã chiếm hết đất của các cột báo. Kỳ cuối (thứ 20) đăng trên trang nhất #Tiền Tuyến Mar. 27, 1971.
Đây không chỉ là một khảo sát tình hình chung về các hoạt động chính trị phong phú tại miền Nam Tự Do mà còn là một bức tranh khắc họa không khí tự do chính trị tại VNCH với tất cả điểm hay và dở của sự tự do ấy. Do đó, công trình tiểu khảo ý vị, sâu xa và độc đáo của ký giả kỳ cựu Hồng Dương còn có giá trị ở chỗ thực hiện một biên niên sử thu nhỏ về thế nào là tự do mà những bạn đọc nào ít thời giờ chỉ cần đọc xong là cũng có thể thấu rõ tính tự do nội tại của VNCH như thế nào. Đồng thời nếu bạn đọc lấy nền tự do ấy để làm một so sánh, đối chiếu với chế độ Cộng sản miền Bắc thì SỰ THẬT sẽ được phơi trần: thế nào là Chánh Nghĩa Quốc Gia ở miền Nam, thế nào là bản chất gian tà ngụy tặc của Cộng sản miền Bắc ... sẽ càng lồ lộ ra rõ hơn bao giờ hết.
[ **: Hồng Dương vào làm trong tòa soạn Nhật báo Ngôn Luận khoảng năm 1957, 1958. Năm ấy Nhật báo Ngôn Luận đã sống vững, Chủ nhiệm Hồ Anh ăn nên, làm ra, có nhà in riêng, mở lớn tòa soạn, lấy thêm nhân viên là Hồng Dương, Phan Nghị, hai họa sĩ Văn Hiếu, Huy Tường.
Hồng Dương trẻ hơn tôi khoảng bẩy, tám tuổi, anh có tên Hồng Dương vì trước đó anh là võ sĩ Quyền Anh – boxeur – Lò Võ Hồng Việt. Tất cả những võ sinh Lò Hồng Việt đều có tên Hồng. Tôi quen ba võ sĩ Hồng Việt là Hồng Dương, Hồng Cương, Hồng Trực. Võ sĩ Hồng Dương từng lên đài trong những năm 1955, 1956.
Ký giả Hồng Dương Nguyễn Hữu Hùng đẹp trai, sống sạch, đàng hoàng, anh không ngồi cả buổi đấu láo, uống la ve ở tiệm như nhiều ký giả cùng thời, anh không nghiện ngập, anh có số đào hoa nhưng không bị tai tiếng, không bị nàng nào thù hận. Tôi thường nói về Hồng Dương với người ngoài làng báo: “Alain Delon của chúng tôi đấy.” (trích bài "Hồng Dương. Trịnh Viết Thành" của nhà văn Hoàng Hải Thủy posted on Dec. 3, 2012 trên Wordpress Blog Hoàng Hải Thủy)
#Tien Tuyen Feb. 21_22, 1971 trang nhất
Thị Trường «Chính Khứa»
Bài 01:
I
Lời Mở Đầu
Ngày nay, 2 tiếng chính trị không còn xa lạ đối với quảng đại quần chúng VN. Chúng ta lại cũng biết một cách thừa thãi rằng người làm chính trị được gọi là chính khách.
Nhưng chính trị không phải là một vấn đề mới mẻ, và chính khách cũng có thể là một chuyện có tính cách cổ tích. Kể từ loài người bắt đầu có cuộc sống xã hội sơ khai là đã có chính trị, do đó, đã có chính khách.
Tuy nhiên, hình như chưa một quốc gia nào, một xã hội nào lại hẳn một hiện tượng rõ rệt và phổ quát về tính chất «thị trường hóa» chính khách như ở xã hội VN ta ngày nay.
Nói cách khác thì hiện nay mỗi chính khách của chúng ta đều mang giá trị của một con vật hoặc đồ vật thương mại được (animal ou objet commerçable).
Do đó, cũng như tất cả những con vật và đồ vật thương mại được, nên chính khách của chúng ta có hẳn một thị trường, giống như thị trường...xe hơi, rau cỏ, gà vịt, trâu bò heo v.v....
Có thị trường tất có vấn đề giá cả, và cái giá cả đó lên xuống trồi sụt theo những quy luật riêng của nó. Tuy nhiên đôi khi giá cả trên thị trường chính khách cũng bị chi phối bởi một vài quy luật giống các quy luật kinh tế.
Chẳng hạn mức cung và cầu chênh lệch thì tất cả sẽ xảy ra một sự xáo trộn về giá cả. Ngoài ra, lại còn có vấn đề «mùa màng» cũng ảnh hưởng khá nhiều tới vật giá.
Mặt khác, lại cũng tùy... nhãn hiệu mà vấn đề giá cả khác nhau. Trên thị trường chính khứa hiện nay, các chính khách mang nhiều «mác» khác nhau giống như dầu cù là: Nào là cù là con Hổ, cù là con Mèo, cù là Mạc phu....
Bởi tất cả những điều đã trình bày ở trên, viết về thị trường chính khứa là cả một vấn đề phức tạp, chưa kể còn có thể gặp nhiều sự đụng chạm. Vì thế, người viết xin kính cẩn nhấn mạnh là phóng sự này được viết trong một tinh thần nhận xét phân tích vô tư. Nếu không vô tư với mọi người, thì ít nhất cũng là một sự vô tư đối với người viết.
Chẳng hạn khi người viết đề cập tới chính khách A, thì xin hiểu rằng không phải người viết muốn nói về cá nhân ông A mà là về cái bánh xe trong guồng máy xã hội.
Khi anh thợ máy bảo rằng cái bugi số 2 bị hư có nghĩa là chiếc bugi đó xài nhiều quá đã đến lúc cần thay thế, vì sợi chấu (trấu) hết còn bắt lửa được. Nếu để nó dơ, bộ máy sẽ trục trặc chứ không phải anh thợ máy hiềm thù cá nhân cái bugi số 2.
(Còn tiếp)
#Tien Tuyen Feb. 23, 1971
Bài 02:
II
Thường thường, nói tới chính khách, người ta hay nghĩ tới đảng phái. Ông chính khách A này là người của ĐV đấy, còn ông B kia là người của QDĐ, ông C là của TĐV v.v…
Kể ra, đề cập tới vần đề chính trị hay chính khách mà không nhắc tới chính đảng, là một một thiếu sót. Nhưng ở Việt Nam, nói tới chính đảng là cả một vần đề phức tạp về mọi khía cạnh. Chính đảng nhiều như lá vàng mùa thu, mỗi chính đảng lại phân hóa thành năm bảy hệ phái, mỗi hệ phái chia ra làm ba bốn khuynh hướng. Và điều bi đát nhứt là chả có khuynh hướng nào rõ rệt.
Thê thảm hơn cả, có lẽ hiện tượng có lẽ là hiện tượng có những chính đảng mà chồng là đảng trưởng và vợ, con, đầy tớ là đảng viên.
Bởi cái lẽ nêu trên, hai tiếng ‘chính đảng’ dần dần bị lố bịch hóa. Người tự trọng đôi khi nghe nói tới ‘chính đảng’ là phải đỏ mặt, do đó gần đây người ta ít dùng chữ ‘chính đảng’ mà thay vào đó người ta gọi bằng «lực lượng» tỉ như lực lượng DCXH. hoặc gọi bằng «phong trào» tỉ như phong trào QGCT.
Tuy nhiên, tự trong bản chất thì ‘lực lượng’ hay ‘phong trào’ hay ‘mặt trận’ hay ‘đảng’ thì cũng chẳng khác gì nhau: phân hóa, băng hoại, hoặc xôi thịt.
Vì vậy, người dân nói chung không còn tin tưởng được vào những đảng phái nữa.
Kém về tổ chức, phân hóa, băng hoại, lại không thâu phục được lòng tin của quần chúng, tức là yếu tố hậu thuẫn của nhân dân nên hầu hết đảng phái, phong trào, lực lượng … ở Việt Nam chỉ còn cái thùng rỗng.
Về điểm này, quần chúng ý thức được một cách rất rõ rệt. Cứ thử nhìn trở lại những cuộc bầu cử truớc đây ắt rõ. Không có một đảng phái nào đủ khả năng đưa người của mình vào các cơ quan dân cử. Bằng cớ rõ ràng hơn cả là trong kỳ bầu cử bán phần Thượng Viện hồi tháng 9-1970, nhiều chính khách của những đảng phái tên tuổi đã phải chạy chọt «nằm vùng» ở những liên danh không thuộc đảng mình. Nói là «nằm vùng» chứ thật ra là dựa vào những liên danh mà trong đó đa số ra ứng cử với tư cách độc lập với ứng cử viên đảng phái, là yếu tố quyết định.
Và rõ hơn nữa là kết quả cuộc bầu cử cho thấy, các liên danh đắc cử vào Thượng Viện vừa qua đều không mang danh nghĩa đảng phái nào. Một vài liên danh mang danh nghĩa đảng phái đã bị thất cử.
Ngay trong kỳ bầu cử Hạ Nghị Viện 1967 cũng vậy, đại đa số người đắc cử Dân Biểu đều không có đảng phái hoặc ít ra là cũng không đắc cử nhờ vào danh nghĩa đảng phái. Họ đắc cử hoặc vì uy tín cá nhân (rất hiếm) hoặc nhờ là gà của chính quyền hoặc nhờ là đệ tử ruột của …Đức Thánh Trần.
( còn nữa )
LTC chú thích: các chữ viết tắt trong bài này:
Có lẽ vì ngại đụng chạm nên tác giả Hồng Dương chỉ viết tắt tên các chính đảng mà thực ra tại miền Nam lúc bấy giờ, dù viết tắt cái tên đảng nhưng đọc qua ai cũng biết.
➯ ĐV: Đại Việt Quốc Dân Đảng, do lãnh tụ Trương Tử Anh sáng lập vào ngày 10-12-1939 tại Hà Nội, thường gọi là đảng Đại Việt. Năm 1964, ĐV bị tách ra thành 2 đảng mới: một là với đảng viên vào hàng cao cấp Hà Thúc Ký tách ra khỏi Đại Việt Quốc Dân Đảng để thành lập Đại Việt Cách Mạng Đảng do Hà Thúc Ký làm lãnh tụ (ĐVCM); và hai là, với hai đảng viên vào hàng cao cấp Nguyễn Ngọc Huy và Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, tách ra khỏi Đại Việt Quốc Dân Đảng để thành lập Đảng Tân Đại Việt (TĐV).
➯ QDĐ: thường viết tắt là VNQDĐ: Việt Nam Quốc Dân Đảng do lãnh tụ Nguyễn Thái Học thành lập vào ngày 25-12-1927 tại Bắc Việt.
Từ thời Thủ tướng Nguyễn Khánh (1964), VNQDĐ phân hoá thành 3 hệ phái:
— VNQDĐ Xứ Bộ Miền Nam: ông Nguyễn Hoà Hiệp và ông Trần Văn Tuyên (từ 1967). Hoạt động ở miền Tây Nam Phần.
— VNQDĐ Thống Nhất hay còn gọi là Kỳ Bộ VNQDĐ: ông Nguyễn Đình Lương (từ 1968), liên thủ với các nhóm VNQDĐ miền Trung, Tân Chính, Chủ Lực. Hoạt động ở Miền Trung.
và
— Trung ương Đảng bộ VNQDĐ: ông Vũ Hồng Khanh và ông Phạm Thái, từ 1969. Hoạt động ở Saigon. Vào ngày 1-5-1969, VNQDĐ hợp nhất 2 nhóm Trung ương thuộc Vũ Hồng Khanh và Xứ Bộ Miền Nam thuộc Nguyễn Hoà Hiệp vào làm một.
➯ DCXH: Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng, thường gọi tắt là Dân Xã Đảng, thành lập vào khoảng năm 1967-1968, một trong mấy hệ phái Hoà Hảo bắt nguồn từ Tổ chức (chưa thành Chánh đảng) Dân Xã Hoà Hảo nguyên thuỷ thời Đức Thầy (Giáo chủ) Huỳnh Phú Sổ tháng 8-1945. Do ông Trình Quốc Khánh làm lãnh tụ (Bí Thư Đảng).
➯ QGCT: thường viết tắt là PTQGCT. Phong trào Quốc Gia Cấp Tiến do Nguyễn Ngọc Huy, cựu đảng viên Đại Việt thành lập ngày 20-4-1969. Do đã mang danh phận Tổng Thư ký [ đứng đầu, tương đương Chủ tịch ] đảng Tân Đại Việt của mình rồi, nên Nguyễn Ngọc Huy e là mình sẽ hết quyền tư cách đứng đầu tổ chức chính trị mới này. Để thay cho mình việc đó, ông mời Thạc sĩ Nguyễn Văn Bông [ Thạc sĩ Công Pháp Quốc Tế ], là vị Giáo sư khả kính và là Viện trưởng Học Viện Quốc gia Hành Chánh lừng danh của VNCH, nơi đào tạo công chức cao cấp cho Chính quyền Quốc Gia, làm Tổng Thư ký Phong trào Quốc Gia Cấp Tiến. Giáo sư Bông nhận lời và Giáo sư Huy làm Phó Tổng Thư ký PTQGCT. Cơ quan ngôn luận của PTQGCT là tờ nhựt báo Cấp Tiến (thành lập năm 1969).
#Tien Tuyen Feb. 24, 1971 trang nhất
Bài 03:
III
Nói cho rõ hơn, thực chất của hầu hết đảng phái chính trị ở VN không có gì cả.
Ở những thời xa xưa, dưới sự thống trị của Tây thực dân, một vài đảng phái đã gây được tiếng vang lớn, một phần vì họ có được những lãnh tụ tài giỏi. Còn đầy ắp lý tưởng trong đầu, và tình yêu nước trong hồn. Những người này chỉ biết sống chết với cứu cánh giải phóng Dân tộc khỏi bàn tay thống trị của thực dân Tây.
Một yếu tố khác khiến cho đa số chính đảng thời xưa nổi tiếng là tính chất bí mật. Họ hoạt động trong bóng tối, và phương thức đấu tranh của họ gồm cả những hoạt động quân sự và bạo động. Một vài cuộc khủng bố, ám sát đủ gây tiếng vang.
Ngày nay, tình thế đã đổi khác, do đó, đòi hỏi những phương thức đấu tranh khác. Nhiều chính đảng đã gặp sự lúng túng trong việc tạo lập một quan niệm đấu tranh mới, lúng túng cả trong việc xây dựng một ý thức hệ và một chính sách chung.
Bởi vậy sự chia rẽ, phân hóa đã xảy ra trong nhiều nội bộ chính đảng. Thêm vào đó nhiều chính khách thời nay đã mắc phải căn bệnh «lãnh tụ lố bịch». Hơi bất đồng kiến là kiếm cách nhảy ra 1 đảng mới để được làm lãnh tụ, ngõ hầu dễ bề tranh phần xôi thịt lớn.
Ý thức chính trị của đa số chính khách xuất thân từ những chính đảng đã trở nên sa đọa.
Ở những quốc gia mới giải phóng khỏi ách thực dân, tinh thần dân chủ thường là con dao hai lưỡi và chúng ta quả là đã bị đứt tay vì nó. Nhiều người, hoặc bè nhóm đã lợi dụng tinh thần dân chủ để mưu tạo lập thế đứng riêng rẽ mà họ đinh ninh là sẽ gây được lợi ích cá nhân.
Do đó, đảng phái ở đây bị long mất hết rễ trong quần chúng, như con rết bị rụng hết chân.
Vì tinh thần vị kỷ, vì bệnh lãnh tụ lố bịch, chính đảng mọc ra như nấm. Chính đảng càng nhiều, thế lực của mỗi đảng càng suy yếu. Như bó đũa được cởi giây buộc và bung ra.
Ngày nay những ai còn đặt tin tưởng vào chính đảng quả là những người ngây thơ. Nhiều chính quyền gần đây đã mắc vào lầm lẫn đó. Họ tưởng qui tụ được một vài cái «lọ độc bình» là có thể tạo lập được một thế chính trị vững vàng. Sự thật lại trái lại! Thực tế đã chứng minh những chiếc «lọ cổ» chính trị đã hoàn toàn vô giá trị, và chỉ gây thêm sự lung lay cho chân ghế thế lực chính trị.
Trong giai đoạn này của đất nước, những người khôn ngoan không dựa vào chính đảng. Họ đi tìm sự hỗ trợ ở những thành phần nhiệt tâm, những thành phần ít ra còn giữ được lý tưởng trong vòng 10 năm nữa. Đây là một thử thách lớn đối với những người muốn làm công việc lãnh đạo.
#Tien Tuyen Feb. 26, 1971 trang nhất [ số ra ngày Feb. 25 tạm hoãn nhiều bài vở để đưa tin Đại tướng Đỗ Cao Trí tử nạn phi cơ trực thăng vào trưa ngày 23-2-1971 khi ông đang bay thị sát hành quân trên không phận tỉnh Tây Ninh giáp giới với Miên, trong chiến dịch Hành Quân Ngoại Biên của QLVNCH nhằm quét sạch hang ổ sào huyệt của bọn CSBV ẩn núp trên đất Cao Miên để rình rình đánh trộm vào Quân Khu III VNCH. Đại tướng Đỗ Cao Trí tử nạn cùng với 1 sĩ quan tùy viên của ông và 2 viên hoa tiêu khi phi cơ phát nổ. Người duy nhất sống sót (bị thương nặng) là ký giả Francois Sully của tờ tuần báo Mỹ Newsweek ]
Bài 04:
IV
Sự kiện người ta mất tin tưởng vào các chính đảng là một điều tai hại cho sinh hoạt chính trị, và do đó rất bất lợi cho công cuộc chiến đấu chống cộng sản. Nhất là trong giai đoạn sắp tới, mặt trận chính trị sẽ vô cùng sôi động và khốc liệt.
Trong khi đó, những người mang danh chính khách trong xã hội này ngày càng thấy xuất hiện đông đảo. Những người này hình như cũng ý thức được sự bất lực và bất xứng của chính đảng, nên họ đã không dám đứng hẳn vào một lực lượng nào. Cái từ ngữ "không đảng phái" trở nên hấp dẫn, như một bảngo hiệu "ăn khách."
Từ đó đưa tới tình trạng thị trường chính khách bị tràn ngập, mức cung vượt quá mức cầu. Tệ hại hơn là hầu như mỗi chính khách có một quan niệm chính trị riêng, một phương thức hoạt động riêng, một đường lối riêng, một chính sách riêng, v.v…
Hay nói đúng hơn, đại đa số chính khách ngày nay không ai có được một quan niệm chính trị đúng đắn và rõ rệt. Thậm chí, người mang danh chính khách, tham gia sinh hoạt chính trị, mà trong khi chưa hiểu chính trị là gì.
Nhận xét này thoạt nghe có vẻ quá đáng. Nhưng sự thật là như vậy. Nếu ai chịu khó theo dõi sinh hoạt ở Hạ Viện trong ba năm nay ắt thấy rõ. Đến nỗi có nhiều nhà báo phát ngớ ngẩn tự hỏi hoặc hỏi nhau «tại sao ông đó lại đắc cử.»
Nếu nhìn nhận các ông nghị viên cũng là chính khách, thì tình trạng còn đáng buồn hơn. Có những ông nghị chưa hiểu cái khác biệt giữa sắc luật với nghị định: chưa hiểu ngay cả quyền hạn của chính vai trò của mình.
Hiện tượng tràn ngập chính khách và là những chính khách chỉ có vỏ không có ruột đã đưa tới tình trạng quần chúng coi thường chính khách. Khi một món hàng bị quần chúng chê là hàng tồi, thì mãi lực của giới tiêu thụ về món hàng này sẽ giảm đi, do đó mất giá. Vì thế mới xảy ra tình trạng chính khứa... bán son.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Feb. 27, 1971 trang nhất
Bài 05:
V
"Cái thảm kịch ngày hôm nay là do chính trị." Cả trăm năm trước Napoléon đã có một nhận xét như vậy. Tất nhiên đó là thảm kịch đã xảy ra cho nước Pháp. Nhưng thảm kịch do chính trị cũng đã xảy ra cho xã hội VN ngày nay.
Hiệu tượng chính trị bị biến chất thành một thứ nghề (métier) để kiếm chác bả vinh hoa phú quý chính là một thảm kịch trước mắt thế hệ trẻ đang chuẩn bị hoặc vừa khởi sự dấn thân nhập cuộc.
Những người trẻ, đặc biệt là những phần tử trí thức trẻ, bị dồn tới chỗ phải cảm thấy như là mình bất lực trước những vận động lịch sử của dân tộc. (Hãy nên hiểu «phần tử trí thức là người đem lại giá trị cho những thứ mà tự chúng không có» — nói theo kiểu Paul Vardly — hoặc là «những người suy tư, không phải bọn lộng chữ, lợi dụng, bịp bợm và ăn bám», nói theo kiểu Henri Barbusse.)
Phần lớn những người đang làm chính trị cho tới hôm nay đã có một quan niệm chủ bại về chính trị. Cứu cánh của họ không phải là một cuộc cách mạng xã hội toàn diện, giải phóng dân tộc, và giải phóng thân phận con người. Cứu cánh của họ là nhà lầu xe hơi và quyền thế.
Tất nhiên làm chính trị là phải nghĩ tới quyền lực. Có quyền lực hay nói cách khác là có chính quyền trong tay mới khả dĩ chuyển được quan niệm, tư tưởng chính trị của mình thành hành động để giải quyết những vấn đề chính trị trong chiều hướng cách mạng cải thiện xã hội, tức là khunh hướng hướng thượng.
Nhưng ở đây, chúng ta thấy quyền lực vẫn chỉ là phương tiện — phương tiện hữu hiệu để đạt tới cuộc cách cách mạng xã hội.
Nhiều người làm chính trị cho tới nay đã sẵn sàng bán linh hồn cho quỉ với một giá … phải chăng?!. Loại người này đầy dẫy trên chính trường nhất là tại nghị trường. Họ không quan niệm quyền lực là phương tiện khai triển và hành động hóa tư tưởng cải tạo xã hội. Họ nhìn nó như một thứ cần câu … cơm, và vinh hoa.
Cho nên người dân hôm nay hoàn toàn mất tin tưởng vào họ, xa lánh họ, ghê tởm họ. Do đó họ bị dồn vào thế cô lập, trở thành những «chính khách cô đơn», loay hoay chạy đôn chạy đáo tìm khách hàng nào chịu trả giá.
Nhưng vì thiếu một thứ then chốt (nhãn hiệu chính đảng không còn ăn khách nữa), nên họ bị mất giá. Đôi khi bán son mà vẫn không ai mua.
Để cố tạo cho mình một giá trị giả tưởng, nhiều chính khách đã đổ xô tới các khối tôn giáo. Hiện tượng này vô tình đã biến các tôn giáo, vốn là thế lực thần quyền, biến thành thế tục hoặc lực lượng áp lực. Dần dần, một vài tôn giáo biến thành … hãng sản xuất hoặc tiệm buôn chính khách. Và những khối tôn giáo trở thành những thế lực chính trị có thực lực nhứt mặc dù phải ôm khư khư cái tính chất thần hóa. Tình trạng này của xã hội Việt Nam trở nên gần giống như tình trạng cán cân thế lực trong các xã hội Âu Châu thời phong kiến. Giai cấp tăng lữ trở thành những ông vua không ngai.
( còn tiếp )
[ * ]:
Thị Trường «Chính Khứa» by HỒNG DƯƠNG (tiếp theo)
#Tien Tuyen Feb. 28, 1971 trang nhất
Bài 06:
VI
Ở xã hội VN có rất nhiều tôn giáo; Đông nhất là Phật giáo, nhưng mạnh nhất có lẽ là Công giáo. Có một đạo, lực lượng Phật giáo đã trở nên rất mạnh.
Nhưng rồi do lỗi của một số vị lãnh đạo, lực lượng bị nứt rạn chia đôi, kình chống nhau, khiến cho cái thế bị suy yếu. Bao giờ cũng vậy, sự chia rẽ nứt rạn tranh chấp trong nội bộ luôn luôn đưa đến kết quả tự làm suy yếu.
Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là ngày nay Phật Giáo mất ảnh hưởng trên thị trường chính khách VN.
Nhãn hiệu AQ vẫn còn rất ăn khách nhất là nó lại được gắn liền với nhãn hiệu hòa bình tức khắc trong mọi chiến dịch quảng cáo.
Người ta thấy nhiều chính khách đã chạy tới chùa để xin được mang nhãn hiệu AQ. Những cỡ chính khách tập sự như TCQ, NVĐ, PHN, KMT v.v... là những kẻ cả đời không biết tới chùa chiền, không thuộc một câu kinh kệ. Họ không đích thực là Phật tử. Họ chỉ tới chùa khi thấy thuận tiện cho việc quảng cáo tên tuổi họ.
Thật ra nếu Phật mà không từ bi, nếu ngài mà hiển linh, thì chắc chắn những chính khách loại đó sẽ bị Ngài vặn cổ chết tức khắc.
Những người Phật tử chân chính đều tỏ ra không hài lòng bọn chính khách xôi thịt dựa hơi này. Qua gần 4 năm của Quốc Hội Đệ nhị Cộng Hòa, người Phật tử thật sự đã chán nản những kẻ vỗ ngực đại diện cho họ.
Người ta không hề thấy các Nghị sĩ, Dân biểu mang nhãn hiệu AQ làm việc cho cử tri bao giờ, những công việc thiết thực liên hệ mật thiết tới đời sống hằng ngày của họ. Mà chỉ thấy mấy ông NS, DB này làm công việc vuốt đuôi những lời tuyên bố của các thầy.
Trong kỳ bầu cử sắp tới, những DB, NS loại trên rất ít có hy vọng xin được phiếu của cử tri.
(còn nữa)
các chữ viết tắt:
ÂQ: Ấn Quang
tên Dân biểu viết tắt trong bài này:
KMT: Kiều Mộng Thu (tên thật là Trương Ngọc Thu)
(các chữ khác chưa định được ... Xin vui lòng chờ ...)
#Tien Tuyen Mar. 2, 1971 trang nhất
Bài 07:
VII
Xin trở lại với hiện tượng các tôn giáo biến thành tiệm buôn hoặc hãng sản xuất chính khách. Trước khi đó, một số vị lãnh đạo tôn giáo đã trở thành những tay "thợ chính trị."
Không ai có thể chối được chứng vị Thượng Tọa, Đại Đức như Tr. Q., HQ., NT., PS., ĐN., TC. v.v... không làm chính trị. Và, chiếc áo đen của LM HQ cũng đã nhuốm đầy mùi chính trị. [ Tr. Q = Thích Trí Quang ; HQ = Thích Huyền Quang; ĐN = Thích Đức Nghiệp; TC = Thích Tâm Châu; LM HQ = Linh mục Hoàng Quỳnh ]
Phải nhìn nhận, từ 1963 tới nay AQ là tiệm đã sản xuất và tung ra thị trường nhiều chính khách hơn cả. Phần lớn sản phẩm của AQ là những khuôn mặt mới, nhưng cũng có một vài sản phẩm mạo hóa.
Nghĩa là, có những chính khách mang nhãn hiệu AQ được bày bán ở thị trường nhưng phẩm chất đích thực lại không phải do AQ sản xuất. Chẳng hạn như bà LSNPĐ, TS V.V.M. [ (bà) Luật sư Nguyễn Phước Đại; TS VVM = tiến sĩ Vũ Văn Mẫu ].
Gần đây người ta nhắc nhiều tới một sản phẩm được coi như của AQ đó là ông DVM [ Dương Văn Minh ], nhưng thực sự ai cũng biết ông DVM vốn không phải do hãng sản xuất chính khách AQ chế tạo.
Các sự kiện nêu trên cho thấy 2 khía cạnh của 1 vấn đề mà chúng ta đã có dịp trình bày từ các bài trước: giá trị của nhãn hiệu chính đảng đã mất; Tôn giáo trở thành thế lực chính trị hiển nhiên.
Trong các cuộc bầu cử, nếu ứng cử viên do một chính đảng công nhận và chính thức đưa ra, sẽ nắm nhiều phần thua, nhưng nếu do một tôn giáo lớn đưa ra, sẽ nắm nhiều phần thắng.
Cứ xem cuộc bầu cử bán phần Thượng Viện vừa qua ắt rõ: Trong 3 liên danh đắc cử, thì 1 mang nhãn hiệu Phật giáo AQ, 1 mang nhãn hiệu Công giáo, liên danh thứ ba cũng đã phải trông chờ vào nhiều phần tử tôn giáo nằm trong liên danh. Kỳ dư, các liên danh của những đảng thân chính quyền hay đối lập với chính quyền đều rớt một cách thảm hại.
( còn nữa )
LTC phụ chú:
➯ Thích Trí Quang sinh ngày 21-12-1923 tại Quảng Bình. Là đệ tử của Hòa Thượng Thích Trí Độ, Chủ tịch Hội Phật Giáo Cứu Quốc, vốn là Hội Phật giáo do Việt Minh đẻ ra. Do đó, Trí Quang bị thực dân Pháp bắt giam năm 1946. Năm 1947, khi được thả, ông theo Việt Minh vào chiến khu chống Pháp. Nhưng không bao lâu sau đó ông từ bỏ Việt Minh và trở lại miền Nam tu hành cho tới năm 1963. Tháng 5-1963, dưới chiêu bài ‘cảm thấy có trách nhiệm phải đứng lên bảo vệ Phật tử và Đạo pháp’ sau sự kiện kên bằng “Pháp Nạn Phật giáo’ với 8 thanh niên Phật tử bị bắn chết trong đám đông biểu tình bạo động chống chính phủ vào đêm 8-5-1963 ở bên kia cầu Trường Tiền. Trí Quang nổi như cồn qua sự kiện này mà người ta nói rằng, đó là sự kiện đánh dấu khởi đầu của cuộc đảo chánh lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963.
➯ Thích Tâm Châu sinh ngày 2-11-1921 tại tỉnh Ninh Bình, Bắc Việt. Vào Nam đầu thập niên 1950, nơi đây ông là sáng lập viên của Tổng hội Phật giáo Việt Nam tại Huế. Khi Giáo hội Phật giáo Thống nhất (GHPGVNTN) thành lập vào tháng Giêng 1964, ông được bầu làm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo của Giáo hội, ông giữ chức vụ này cho đến năm 1967.
➯ Thích Huyền Quang, Thích Đức Nghiệp là các thượng tọa cùng phe Ấn Quang với Trí Quang.
Để hiểu rõ tình hình Phật Giáo tại VNCH và vì sao Phật Giáo bị chia làm 2 Khối, xin bạn đọc theo dõi phần tôi tóm lược sau đây:
Phật giáo đồ ở VNCH chia ra nhiều phe phái nhưng đại để về khuynh hướng chính trị có thể chia thành ba phe.
✦ Một phe ở các tỉnh địa đầu, một phe là người Bắc di cư vào lập nghiệp quanh vùng đô thành Sài Gòn, và phe còn lại trấn tại vùng Châu thổ Cửu Long.
✦ Các nhóm Phật giáo Tranh đấu chủ yếu dồn về ở các tỉnh địa đầu giới tuyến, nguyên cả một vùng có Quân đoàn I trong đó. Thích Trí Quang, là thầy tu hoạt động dưới danh nghĩa Phật giáo đình đám nhất, là thủ lãnh của nhóm này. Nếu nói về mặt chính danh thì ông ta chỉ mang một chức sắc tôn giáo, thế nhưng đó lại là người xách động khá hữu hiệu. Ông ta ưa làm dư luận sôi sục và quy tụ các tu sĩ vốn bàng quan về chính trị của miền Nam lại rồi đem các giáo ngữ đặc trưng như “bảo vệ đạo pháp” hoặc “tự do tín ngưỡng” cấy vào các chủ đề chính trị. Trí Quang bị tố cáo là thân Cộng, chứa chấp những phần tử tay chân của Cộng sản miền Bắc gài vào dựa hơi để làm loạn phá rối chính quyền Quốc Gia. Mặt khác, những luận điệu của Trí Quang đã bộc lộ một đường lối cực đoan bài ngoại kết hợp với tuyên ngôn “hòa bình bằng mọi giá”. Có thể Trí Quang không về phe với cộng sản, nhưng ông ta rất ngây thơ về chính trị, thốt ra nhiều luận điệu sặc mùi ý thức hệ một chiều quá tương cận với CSBV nếu ta đem so với sự đa chiều thoải mái của miền Nam Quốc Gia.
✦ Phe quanh vùng thủ đô Saigon thì do Thích Tâm Châu dẫn dầu, có nhiều người Bắc di cư nên họ có cảm tình với chính quyền Quốc Gia hơn. Thích Tâm Châu là Hội Chủ Tổng hội Phật giáo, một cơ cấu điều hành không mấy chặt chẽ đối với nhiều tông phái Phật giáo phân nhánh của Việt Nam. Giống như Trí Quang, mục tiêu chính của Tâm Châu là quy tụ các hội đoàn, tông phái Phật giáo về một mối, và góp sức với Hiến chương Phật giáo được chính phủ phê chuẩn để thành lập Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) ở miền Nam Quốc Gia [ 1 Vụ Hiến Chương Phật Giáo ] như một Giáo Hội chính thức danh chánh ngôn thuận. Tâm Châu đã thuyết phục thành công mười bốn trong số mười sáu hệ phái Phật giáo gia nhập GHPGVNTN. Sau vụ đảo chính ông Diệm, ban đầu Tâm Châu đứng chung với Trí Quang, nhưng rốt cuộc ông đã đoạn giao với Trí Quang và quay về thế hậu thuẫn sau lưng chính quyền Quốc Gia.
(✦ Phe thứ ba, chủ yếu là Sư sãi Việt gốc Miên ở vùng hạ lưu Châu thổ Nam Phần hay Nam kỳ Lục tỉnh, thường ít đả động tới chính trị. Đây là phe cánh Phật Giáo coi như không đáng kể ở miền Nam Quốc Gia).
Sau khi lập trường hoạt động của Thích Tâm Châu đổi chiều, thì mối bất bằng giữa Thích Tâm Châu với Thích Trí Quang ngày một loang dần.
Từ nhiều ngày trước tháng 9-1966, vụ khủng hoảng nội bộ Giáo hội Phật giáo do tranh chấp giữa đôi bên đã bùng ra. Từ trước, Tâm Châu đã tạm lánh mặt 2 tháng trong khi chờ cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến (vào ngày 11-9-1966) hoàn tất, và vào ngày 15-9-1966, Thích Tâm Châu quay về Sài Gòn giành lại Viện Hoá Đạo từ tay các đối thủ trong giới Phật giáo Tranh đấu. Vị Tăng Thống Giáo hội Phật giáo [ Hoà thượng Thích Tịnh Khiết ] kêu gọi mở một Đại Hội để dàn xếp tranh chấp giữa Trí Quang và Tâm Châu. Ngày 2-10-1966, nhằm có thẩm quyền trước khi Đại Hội Phật giáo [ 2 ] diễn ra, Tâm Châu về lấy lại Viện Hoá Đạo ở Việt Nam Quốc Tự và buộc Hội đồng Viện Hoá Đạo [ do Thượng toạ Thích Thiện Hoa được phe Ấn Quang bầu làm Quyền Viện Trưởng từ ngày 23-7-1966 nhân lúc Thượng toạ Thích Tâm Châu tạm lánh mặt 2 tháng ] phải thoái vị. Tâm Châu rắp tâm bầu ra một Hội đồng Viện mới và giũ bỏ hết vây cánh của Trí Quang. Với những toan tính của Tâm Châu, Đại Hội Phật giáo được triệu tập từ ngày 21 đến 22 tháng 10 [ tại Việt Nam Quốc Tự, số 16 đường Trần Quốc Toản, Cholon ], lập tức trở nên lộn xộn với nhiều lời qua tiếng lại bất đồng, đã vậy giới Phật giáo Tranh đấu còn vu cho Tâm Châu đủ thứ, từ “thân Chính quyền” cho tới bị Hoa Kỳ mua chuộc với “một triệu Mỹ kim” [ 3 ]. Đó là luận điệu vu cáo vừa xảo trá vừa nực cười nếu ta biết rằng CIA đã chi tiền cho Trí Quang trong mấy năm liền [ 4 ]. Trong khi Đại Hội đang lắm rối ren thì các Thượng toạ vây cánh với Trí Quang quay về chùa Ấn Quang [ số 243 đường Sư Vạn Hạnh, Cholon ] và tự bầu ra một Hội đồng Viện của riêng họ vào 3 giờ sáng ngày 23-10-1966 [ 5: xem chi tiết ở trang 29 & 30 “Bạch Thư về Vấn đề Chia rẽ của Ấn Quang với Việt Nam Quốc Tự” ] và đề cử Thượng toạ Thích thiện Hoa làm Viện trưởng Viện Hóa đạo Ấn Quang. Tâm Châu tố giác Hội đồng mạo nhận này và tuyên bố dự định thành lập một Giáo hội Phật giáo Thống nhất Cải cách. Được Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ (lúc này đương chức Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, tương đương Thủ Tướng VNCH, điều hành chánh phủ) kín đáo yểm trợ, đến cuối năm 1966, Tâm Châu đã gầy được một liên minh từ các hệ phái khác nhau gồm thâu vào Giáo hội Phật giáo, đẩy Trí Quang vào thế cô lập ở chùa Ấn Quang. Một ký giả viết rằng “Bị cảnh sát truy lùng, bị rách bươm vì óc bè phái phe cánh và bị nhục mặt tai tiếng chính trị khi hô hào tẩy chay bầu cử bất thành, Trí Quang và bầy bộ hạ của ông ta dường như trắng tay chẳng còn sức bật đòn bẩy nào”. Trên vũ đài chính trị, thế lực của Trí Quang coi như đã tàn, nhưng các bài báo bảo rằng ông ta đã hết thời thì hãy còn hấp tấp quá.
Chú thích:
[ 2: kể từ đây, bỗng nhiên có 2 Viện Hoá Đạo: một thuộc Khối Việt Nam Quốc Tự - Thích Tâm Châu và một (tiếm danh) thuộc Khối Trí Quang (Ấn Quang). Nhưng cũng kể từ lúc này (tháng 10-1966) trở đi, trên các sách khảo cứu và Nhật Báo Saigon dùng danh từ “Viện Hoá Đạo đường Trần Quốc Toản” hoặc “Viện Hoá Đạo Việt Nam Quốc Tự” để trỏ Khối Viện Hoá Đạo để phân biệt với Khối Ấn Quang (bên phe Ấn Quang không hoặc ít dùng danh từ “Viện Hoá Đạo”, thay vào đó, thường là họ dùng danh từ “Viện Tăng Thống” ]
[ 3: xin đọc Ahern, CIA and the Generals, trang 38. Ahern chú rõ rằng cho đến giữa mùa hè năm 1966, CIA mới thôi không trả tiền cho Trí Quang nữa.
[ 4: bài báo “Political Power of Buddhists Only a Memory in Vietnam,” đăng trên báo Mỹ New York Times, Dec. 19, 1966, trang 4.
[ 1 Vụ Hiến Chương Phật Giáo: Để diễn bày rõ sự kiện cuộc đấu “tranh chấp về Hiến Chương Phật giáo” tạm tính từ ngày 18-7-1967 giữa hai phe/khối Phật giáo (Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang), trước hết, tôi xin tóm lược các diễn tiến hầu bạn đọc như sau:
- Bản Hiến Chương đầu tiên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) hình thành sau một Đại hội Thống nhất Phật giáo gồm 11 Giáo Phái và Hội Đoàn Phật Giáo nhóm họp tại Chùa Xá Lợi Saigon từ ngày 30-12-1963, đạt kết quả biểu quyết vào ngày 04-01-1964 (thường gọi là Hiến Chương 04-01-1964). Hiến Chương 04-01-1964 được công nhận bởi Sắc luật 158-SL/CT ngày 14-05-1964 do chính phủ Nguyễn Khánh chuẩn y.
- Hiến Chương 04-01-1964 được tu chính lần thứ nhất tại Đại hội Khoáng đại kỳ II của GHPGVNTN ngày 14-12-1965, và được Sắc luật 005/66 do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia ký chuẩn y ngày 26-02-1966.
- Bản “Hiến Chương tu chính” (lần thứ hai) do Khối Việt Nam Quốc Tự (Thích Tâm Châu) tu chính vào ngày 14-3-1967, và đã được Sắc luật 023/67 do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu ký chuẩn y ngày 18-7-1967. Điều 2 của Sắc Luật 023/67 huỷ bỏ Sắc Luật số 005/66.
Kể từ đây mới sinh ra cuộc tranh chấp gay gắt không dứt giữa 2 Khối Phật giáo nói trên, hay nói đúng hơn là tranh chấp xuất phát từ phe Ấn Quang, vì Ấn Quang cho rằng, Sắc Luật 023/67 thừa nhận Bản “Hiến Chương tu chính” (lần thứ hai) tức là duy chỉ có Khối Việt Nam Quốc Tự là có tư cách hợp pháp chính thức. Việc tranh chấp này biến thành cuộc tranh đấu quy mô đối kháng lại chính quyền qua sự kiện Ngày 28-9-1967 có 500 tăng ni thuộc phe Ấn Quang, hồi hơn 8 giờ sáng, đã đi tuần hành từ Cholon qua tới trước Dinh Độc Lập trao thư yêu cầu thu hồi Sắc Luật 023/67 thừa nhận Hiến Chương mới của Phật giáo do Viện Hoá Đạo đường Trần Quốc Toản soạn thảo. Tại đây đã diễn ra buổi Đối thoại 20 phút giữa Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thượng toạ Thích Trí Quang. Các tăng ni ra về lúc quá trưa.
Xin xem ở dưới đây bài tường thuật của nhựt báo Chính Luận Sept. 30, 1967 về cuộc đối thoại này, kèm một vài hình ảnh của vụ Phật giáo Tranh đấu này. Chú ý, các hình ảnh là thuộc © Bettmann/CORBIS và Photographer Co Rentmeester của tạp chí LIFE của Mỹ đăng tải lúc đương thời (thường là không có chú thích), nay LTC tôi tra cứu tin tức từ các số nhật báo Chính Luận, Tiền Tuyến và chú thích lại hình ảnh cho rõ ràng.
➯ Linh mục Hoàng Quỳnh là khuôn mặt tiêu biểu vang tiếng nhất trong khoảng tám trăm ngàn người Công giáo miền Bắc di cư vào Nam. Tại Bắc Việt, Hoàng Quỳnh từng chỉ huy Tổng bộ Tự vệ Công giáo nổi tiếng thuộc hạt Phát Diệm đã đẩy lui quân Cộng sản nhiều năm liền. Sau Hiệp định Genève 1954, Hoàng Quỳnh chăn dắt giáo dân trong Nam, cuối cùng ông về ngụ tại giáo xứ của ông ở Sài Gòn, tại đây ông nẩy nở mối thân thiết với ông Diệm. Trước mối nguy sinh ra từ các vụ Phật giáo Tranh đấu vào năm 1965 đã thôi thúc Hoàng Quỳnh lập ra “Lực lượng Đại Đoàn Kết”, mà cuối cùng chuyển thành một chính đảng thân Công giáo là Nhân Xã Đảng (Việt Nam Nhân xã Cách mạng Đảng). Hoàng Quỳnh trở thành một lãnh tụ chính trị xông xáo trực diện, và Lực lượng Đại Đoàn Kết cũng đồng lòng với ông một tuyên ngôn lập trường theo đó đòi hỏi phải đạt được chiến thắng quân sự trước Cộng sản.
Một vài hình ảnh quý ghi lại cuộc tranh đấu của phe Phật giáo Ấn Quang khởi từ ngày 28-9-1967 tại Saigon. Photos by © Bettmann/CORBIS và Photographer: Co Rentmeester của tạp chí LIFE của Mỹ vốn không ghi chú thích. Sưu tập và chú thích by Le Tung Chau Sept. 2023.
#Chính Luận Sept. 30, 1967 trang nhất #Chính Luận Sept. 30, 1967 trang nhất
CUỘC ĐỐI THOẠI . . . ĐẦU ĐƯỜNG
CUỘC ĐỐI THOẠI SÔI NỔI ĐẦU ĐƯỜNG GIỮA Trung Tướng THIỆU và Thượng Tọa TRÍ QUANG
SAIGON, 29.9 Hai ngày trước khi Quốc Hội lưu nhiệm họp để xét kết quả cuộc bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống của nền Đệ nhị Cộng Hòa Việt Nam, 500 tăng ni dưới quyền chỉ đạo của Thượng Tọa Trí Quang đã xuống đường kéo đến Dinh Độc Lập đòi hủy bỏ bản Hiến Chương mới và phục hồi Hiến Chương cũ cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Như Chính Luận đã loan báo trong số báo hôm qua, cuộc xuống đường của tăng ni đã diễn ra trong bầu không khí ôn hòa và trật tự và được xe Cảnh Sát không có võ trang dẫn đường. về cảnh sát không có trang dẫn đường. Vì không nỡ để cho tăng ni ngồi phơi nắng trong khi một phái đoàn chỉ đạo đi vào trong Dinh hội kiến với các nhà lãnh đạo quốc gia, T.Tọa Trí Quang đã đối thoại với Trung Tướng Thiệu trước cửa Dinh Độc Lập. Cuộc đối thoại «giữa đầu đường» này rất hào hứng và sôi nổi trong khi người ta thấy thoáng trong hàng biểu ngữ có nhiều biểu ngữ viết "Tưởng Thiệu không xứng đáng lãnh đạo QG".
10g15, Đoàn Tăng Ni kéo tới trước Dinh Độc Lập. 10g25, một đoàn cảnh sát dã chiển tới tăng cường với dùi cui cầm tay, lựu đạn cay gài sau lưng. Đứng gần đó, phía bên phải lề đường Dinh Độc Lập, là Chuẩn Tướng Loan vận thường phục tay cầm chai la de 33 đi đi lại lại.
Dưới trời nắng gắt, các tăng ni đã sắp hàng ba đứng dàn dài từ trước cổng Dinh Độc Lập tới đường Pasteur. Còn dân chúng thì đứng ở 2 bên lề đường. Các ký giả trong và ngoài nước quen như mọi lần đứng bao quanh lấy các thượng tọa lãnh đạo cuộc biểu tình mà chụp hình, mà phỏng vấn. Nhưng, chỉ trong giây lát ngắn ngủi, nhân viên cảnh sát đã tới nhã nhặn yêu cầu «các anh chị chép gì thì chép, bây giờ hãy lui ra bên kia đã» (bên kia tức là lề đường đối diện với Dinh Độc Lập). 10g30 ông Đổng Lý Văn phòng UBLĐQG (Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia), Đại Tá Vũ Đức Nhuận vận âu phục bước ra tiếp xúc với phái đoàn Tăng Ni.
Đại Đức Thích Hộ Giác dùng máy phóng thanh cung thỉnh 4 vị Thượng Tọa trong UBBVHC [ ủy ban bảo vệ hiến chương ] trình thỉnh nguyện thư lên Trung Tướng Chủ tịch UBLĐQG [ Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, tương đương Quốc Trưởng ].
Khi Đại tá Nhuận cầm thỉnh nguyện thư quay vào lập Dinh Độc Lập, Đại Đức Hộ Giác cho biết là các tăng ni tiếp tục ngồi lại đây để chờ đợi sự trả lời của Trung Tướng Thiệu rồi sau đó mới «ra về trong trật tự». 10g40, Các tăng ni ngồi xuống đường tụng kinh. Trong số những biểu ngữ viết bằng Anh và Việt ngữ mà các tăng ni đem theo, có vài cái đáng chú ý như "Tưởng Thiệu không xứng đáng lãnh đạo Quốc gia", "Phản đối Tướng Thiệu đù đày Phật tử", "Phản đối Sắc luật 23/67", "Phản đối âm mưu phân hóa Phật giáo".... 10g45, Đại tá Nhuận trở ra cho biết Tướng Thiệu mời 2 vị đại diện của phái đoàn vào trong Dinh nói chuyện. Đại Đức Hộ Giác tỏ ý bằng lòng, nhưng Thượng Tọa Trí Quang không chịu. Ông đề nghị hoặc Tướng Thiệu ra đây hoặc để cho tất cả Tăng Ni vào gặp «vì nếu để đại diện vào, còn Tăng Ni ở lại ngồi dưới nắng, không đành.»
TƯỚNG THIỆU, TƯỚNG KỲ ra
11 giờ 15, có tin Tướng Thiệu sắp ra, cảnh sát liền được lệnh đẩy lui ký giả ra xa 20 thước. Một số ký giả cứ đứng ì ra khiến một vị chỉ huy Cảnh Sát (vận thường phục) nổi nóng hét to: « Nếu không lui sẽ dùng sức ». Nhiều ký giả ngoại quốc đã nổi sùng chống cự lại khi thấy mình bị đẩy quá mạnh.
Nhưng sau đó, có lẽ cảm thông với báo chí, nên cảnh sát đã cho những ai có giấy tờ chứng nhận là ký giả được lọt qua khỏi hàng rào tay của cảnh sát để bước vào lề đường phía Dinh Độc Lập.
11 giờ 35, phía trong hàng rào sắt của Dinh Độc Lập được tăng cường 1 tiểu đội binh sĩ tay cầm khí giới.
11 giờ 46, chính quyền thông báo Trung Tướng Thiệu sẽ ra nói chuyện với Tăng Ni.
Đi cùng Trung Tướng Thiệu có Thiếu Tướng Kỳ, Đại Tướng Cao Văn Viên, Thiếu Tướng Linh Quang Viên.
Tướng Thiệu lên tiếng
Ngỏ lời với Tăng Ni, Trung Tướng Thiệu cho biết thể theo lời yêu cầu của các Tăng Ni, nhà cầm quyền đã để cho các Tăng Ni đến đây một cách tốt đẹp.
Và khi phái đoàn tới đây, ông đã cho ông Đổng lý Văn phòng ra nhận thư thỉnh nguyện. Sau khi đọc xong thư thỉnh nguyện, ông đã cho ông Đổng lý ra nói với phái đoàn là ông sẵn sàng mời một phái đoàn chức sắc vào dinh « thảo luận một cách cởi mở », Trung Tướng Thiệu nói tiếp: « nhưng rất tiếc quý vị từ chối lời mời ».
« Để giải quyết tình trạng đất nước, và chứng minh một lần nữa chúng tôi không có ý gì miệt thị quý vị, và cũng không đặt nặng vấn đề tự ái trong chức vụ Chủ tịch UBLĐQG nên tôi cũng ra đây để đầu trần đứng dưới nắng như quý vị ».
Đề cập tới vấn đề Hiến chương mới của Phật giáo, Trung Tướng Thiệu cho biết là ông có nhận được mấy lá thư của các thượng tọa bên chùa Ấn Quang gửi lên, nhưng sở dĩ ông không trả lời, vì trên phương diện pháp lý, chính quyền chỉ liên lạc với một Viện Hóa đạo và 1 vị Viện trưởng mà thôi. Ông mong «quý vị thông cảm cho điều đó.» Tuy nhiên để giải quyết vấn đề một cách êm thắm tốt đẹp Trung Tướng Thiệu cho hay là ông gửi người trung gian tiếp xúc các Thượng Tọa với tư cách cá nhân để tìm hiểu sự mong muốn của các Thượng Tọa cũng như giải thích lập trường của chính quyền.
Còn về vấn đề các Thượng Tọa bảo Tướng Thiệu miệt thị Phật giáo, tướng Thiệu nhấn mạnh: « quý vị nói tôi miệt thị, điều đó hoàn toàn không đúng ». Ông nói tiếp: « chúng tôi nghĩ rằng với cương vị 1 người lãnh đạo quốc gia, vì có trách nhiệm đối với quốc dân, để giải quyết tình trạng đất nước, nên chúng tôi đã gạt bỏ vấn đề tự ái cá nhân, ra đây tiếp xúc với các tăng ni, như vậy không thể nói là tôi miệt thị quý vị được ».
Đề cập tới bản tuyên cáo số 1 do các Thượng Tọa bên chùa Ấn Quang phổ biến trong cuộc họp báo ngày 24-9-67, Trung Tướng Thiệu nói là tuyên cáo này có sự xen lấn giữa vấn đề chính trị với bản Hiến Chương Phật giáo. Ông nói từ ngày bầu cử tới nay, ông không mở miệng nói một tiếng gì, vì ông quan niệm đó là quyền của Quốc Hội, quyền của nhân dân, cho nên «khi quý vị nói bầu cử gian lận, Thượng Nghị viện nằm trong tay Cần Lao điều đó chúng tôi không dám nói.
Nếu bảo bầu cử gian lận, thì đã có Quốc Hội và Hội đồng Tuyển cử Trung ương cứu xét. Còn việc Thượng viện là của Cần Lao hay không là do dân chúng sử dụng quyền tối thượng bằng lá phiếu của mình.»
Về việc ký bản Hiến chương Phật giáo mới, tướng Thiệu cho rằng, đứng trên cương vị chính quyền và chỉ có thể công nhận một Viện Hóa Đạo, nên về khía cạnh pháp lý, chính quyền chỉ biết VHĐ và Thượng Tọa Tâm Châu mà thôi (có nhiều tiếng la ó phản đối). Trung Tướng Thiệu nói tiếp: « Thượng Tọa Tâm Châu đưa bản Hiến chương lên, chúng tôi quan niệm đó là của 1 đoàn thể, nên không xen vào nội bộ. Chúng tôi chỉ làm công việc chuẩn y, chứ không xé Hiến chương nào cả. Hiến chương mới này do chính Thượng Tọa Tâm Châu lúc đó là viện trưởng đệ lên, cho nên vấn đề Hiến chương này hay Hiến chương nọ, đối với chính quyền, nó chỉ có giá trị đối với các ông Viện trưởng và những người ký trong bản Hiến chương đó. Thật sự, chúng tôi không có xé Hiến chương. Chúng tôi cũng không có truất phế đức Tăng thống, vì chính quyền không được lạm quyền đó ».
Còn việc yêu cầu thu hồi sắc luật 23/67, tướng Thiệu cho biết cần phải có một thời gian để UBLĐQG và UBHPTƯ thảo luận lại. Tướng Thiệu nhấn mạnh: « quý vị bảo hiến chương này không giá trị, phi pháp, chúng tôi đứng trên lập trường lúc nào cũng muốn Phật giáo thống nhất ».
« Nếu quý vị thấy chính quyền có thể làm được gì để chấm dứt tình trạng phân hóa, chúng tôi sẵn sàng làm việc đó. Quý vị đòi chúng tôi thu hồi sắc luật đó ngay tức khắc, trong khi chúng tôi còn cần thảo luận với UBLĐQG, chúng tôi phải mời vị viện trưởng VHĐ mới và Thượng Tọa Tâm Châu tới thảo luận. Sáng nay Thượng Tọa Tâm Châu có nói với chúng tôi là sẵn sàng gặp Thượng Tọa Trí Quang bất cứ ở chỗ nào, bất cứ lúc nào để đặt lại vấn đề Hiến Chương và Thống nhất Giáo hội. Nếu quý vị chấp nhận, chúng tôi sẽ mời Thượng Tọa Tâm Châu, Thượng Tọa Trí Quang cùng chúng tôi thảo luận, đi đến một giải pháp tốt đẹp cho quốc gia. Nếu quý vị muốn tiếp xúc riêng với Thượng Tọa Tâm Châu để giải quyết, chúng tôi sẵn sàng. Nếu quý vị cần tới chúng tôi, chúng tôi sẽ đến để tìm giải pháp với một tinh thần rất là vô tư ».
Sau hết, Trung Tướng Thiệu mong « quý vị thông cảm cho ».
T.Tọa Trí Quang trả lời
Tới đây, Thượng Tọa Trí Quang, đại diện cho 500 Tăng ni đã ngỏ lời với tướng Thiệu là Thượng tọa không thể để cho 500 Tăng ni ngồi ngoài nắng đợi một phái đoàn vào tiếp kiến tướng Thiệu được. (Có nhiều tiếng vỗ tay khiến Thượng Tọa Trí Quang phải yêu cầu «miễn cho việc vỗ tay để chúng tôi được thưa chuyện cùng quý vị lãnh đạo quốc gia»). Sau khi cám ơn các tướng lãnh đã ra tiếp xúc, Thượng Tọa Trí Quang nói là Thượng Tọa đã lãnh hội tất cả những lời trình bày của Trung Tướng Thiệu và nhận thấy rằng «lập trường của chính phủ từ cuộc họp báo của Phật giáo tới nay vẫn là duy nhất.» Theo Thuợng Tọa, sắc luật 23 là một sắc luật vượt quá luật lệ hành chánh, «rõ ràng là hiến chương đã bị xé, tôn giáo bị thủ tiêu về pháp lý, do đó tính mạng chúng tôi kể như không còn nữa.» T. Tọa nhấn mạnh: «chính quyền đã xen vào nội bộ PG, chứ không phải nội bộ PG phân hóa. Chúng tôi không thể nào chấp nhận những tên giáo gian với sự hỗ trợ của chính quyền để phản giáo. (Tới đây lại có tiếng νỗ tay khiến Thượng Tọa Trí Quang phải yêu cầu ngưng vỗ tay một lần nữa đề giữ lễ độ trong cuộc nói chuyện với các vị lãnh đạo quốc gia.) T. Tọa Trí Quang nói tiếp «nếu quý vị thấy nguyện vọng chúng tôi là đúng, thì quý vị hãy lắng nghe và giải quyết ngay. Còn nếu quý vị cho là không đúng thì chúng tôi là kẻ có tội đáng chém, quý vị hãy cho lập pháp trường cát tại đây, chúng tôi sẵn sàng thọ tội.».
Trình bày về việc thành lập VHĐ mới, T.Tọa Trí Quang cho rằng Đại hội Phật giáo trước đây đã chính thức tiếp nhận sự từ chức của Thượng Tọa Tâm Châu và chính đại hội này cũng đã bị phá hoại bởi nhiều phần tử được sự hỗ trợ của chính quyền. Do đó, các Thượng Tọa phải bầu ra 1 hội đồng VHĐ mới, và Hội đồng này đã làm việc trong sự chèn ép cũng như không được chính quyền công nhận. Thượng Tọa Trí Quang nhấn mạnh là «Giáo hội không phải là ở nơi một người nhờ thế lực của chính quyền tạo ra, mà quan niệm rằng Giáo hội phải bảo vệ sự thuần nhất.»
Để kết luận Thượng Tọa Trí Quang đã ngỏ lời cảm ơn Trung Tướng Thiệu đã «dành cho chúng tôi một sự lễ độ, tỏ ra xứng đáng một người lãnh đạo quốc gia»
Đáp từ của tướng Thiệu
Lên tiếng lần thứ nhì, Trung Tướng Thiệu xin các tăng ni đừng nghĩ đến là «chúng tôi không cứu xét tới nguyện vọng của quý vị. Chúng tôi sẽ cứu xét với tất cả thiện chí. Còn như quý vi bảo tới đây như kẻ có tội có thể đem xử bắn, trong thâm tâm chúng tôi không bao giờ nghĩ tới. Chúng tôi sẽ triệu tập UBLĐQG, chính phủ, và nếu quý vị chấp nhận, chúng tôi sẽ mời quý vị tới thảo luận. Nếu quý vị không chấp nhận ngồi chung với Thượng Tọa Tâm Châu hay Viện Hóa Đạo, đó là quyền của quý vị, chúng tôi sẽ cứu xét nguyện vọng của quý vị với tất cả thiện chí, cần phải có một thời gian tối thiểu. Nếu quý vị bằng lòng, chúng tôi sẽ mời quý vị vào thảo luận ngay bây gιờ.
T.Tọa Trí Quang lại có ý kiến
Để trả lời Trung Tứng Thiệu, Thượng Tọa Trí Quang nói là khi đi, các vị hòa thượng đã nhắn nhủ các tăng ni phải mang về sắc luật 005/66, do đó nếu không nhận được điều gì gọi là một chút cho đỡ khổ tâm, thì phái đoàn không thể về được, vì không dám phụ lòng ủy thác của các Hòa Thượng. Nếu 24 giờ đồng hồ sau, Tăng ni không nhận được gì mới mẻ, thì chúng tôi sẽ quay lại gặp quý vị. Nếu Trung Tướng chấp thuận cho ngồi đâu, anh em chúng tôi sẽ nghe theo hầu chuyện quý vị 1 ngày hay 100 ngày cũng được. Nhân dịp này, T. Tọa Trí Quang cho biết, cách đây 48 tiếng đồng hồ, ông mới được gặp «một đại diện bán công khai của Trung Tướng»
Tướng Thiệu lên tiếng lần thứ 3
Lên tiếng lần thứ 3, Trung Tướng Thiệu cho biết là 12 hay 24 tiếng đồng hồ, ông không thể nào trả lời dứt khoát ngay được. Chúng tôi sẽ thảo luận với quý vị trong thiện chí, cởi mở, xin quý vị yên tâm. Có lẽ trong chiều nay, tôi sẽ mời quý vị tới thảo luận.
5 vị Thượng Tọa Đại Đức ở lại
Tới dây T.Tọa Trí Quang hạ lệnh cho tăng ni, Phật tử ra về, còn ông và cái vị trong UBBVHC ở lại « hầu chuyện với Trung Tướng ngay từ bây giờ ».
Lên tiếng lần thứ tư, Trung Tướng Thiệu nói: «chúng tôi sẽ mời quý vị nào ở lại tới một chỗ nào đàng hoàng đầy đủ tiện nghi để thảo luận của một cách cởi mở. Đó là lời thành thật một người lãnh đạo quốc gia cũng như của một công dân đối với một Tôn giáo.»
Trong khi đó, T. Tọa Trí Quang mặc đầu đã hạ lệnh cho Tăng ni ra về nhưng ông vẫn còn nghi ngờ lời hứa của Trung Tướng Thiệu nên «xin phép được ngồi lại đây.»
Khi Trung Tướng Thiệu và các tướng lãnh trở vào Dinh Độc Lập, lúc đó là 12 giờ 25, các Tăng Ni Phật tử lần lượt ra về trong trật tự, còn lại 5 thượng tọa là Trí Quang, Pháp Tri, Quảng Long, Pháp Lan và Hộ Giác.
Và để khỏi kẹt đường xe cộ lưu thông, các thượng tọa đã lại ngồi bên gốc cây đối diện Dinh Độc Lập để chờ sự trả lời của Trung Tướng Thiệu.
LTC phụ chú:
Khi đoàn tăng ni cứ ngồi lì ở công viên bên kia đường [ trước Dinh Độc Lập ], tướng Thiệu cho lập một vòng đai cảnh sát bao vây đoàn Phật giáo Tranh đấu này nhưng cứ để mặc họ và không quấy rầy gì họ hết. Sau đó tướng Thiệu cử đặc phái viên đến du thuyết với cả Trí Quang lẫn Tâm Châu và khuyên họ ngồi lại với nhau mà giải quyết vấn đề. Trí Quang bất hợp tác và gọi Tâm Châu là “kẻ phản giáo”.
Ông Thiệu rất khéo nói với báo chí rằng đây là một sự vụ thuần tôn giáo chứ chẳng phải chính trị, tuy vậy ông sẵn sàng bàn thảo với cả hai phe Phật giáo. Ông cũng khéo điều động đằng sau hậu trường, đánh trúng tim đen của phe Ấn Quang bằng cách gây áp lực với Quốc Hội phải chấp đơn ứng cử vào Hạ Nghị Viện của các ứng cử viên thân Ấn Quang mà trong kỳ bầu cử Thượng Viện đã bị bác.
Đoàn biểu tình ngồi chẳng được công chúng hưởng ứng hay ngó ngàng gì tới, thế là trong vòng 2 tuần, đoàn teo dần chỉ còn chưa đầy 100 người.
Nhờ tướng Thiệu biết kềm chế cho nên đã dập tắt mưu mô của Trí Quang tính biến cuộc biểu tình nhỏ thành cuộc biểu tình quy mô chống chính phủ. Đã vậy, ông Thiệu còn hứa rằng nếu Trí Quang từ bỏ chuyện biểu tình đi, thì ông sẽ tái cứu xét vụ Hiến Chương.
Đến ngày 10 tháng 10, ông sân tăng này đành rút bỏ phiên tranh đấu cô độc và quay về chùa Ấn Quang. Ngay tiếp đó, Tâm Châu ra thông cáo tạm ngưng áp dụng bản Hiến Chương Tu Chính trong khi chờ có một bản Hiến Chương mới khác.
Với tài khôn khéo, thận trọng, Tướng Thiệu đã rất khéo khi giữ cho tình hình bất ổn không leo thang và qua đó cũng đã chứng tỏ rằng một Trí Quang hùng hổ ngày nào nay chỉ còn là một tay kiếm khách bị phế bỏ võ công. Ông ta sẽ chẳng bao giờ còn vác mặt xuống đường được nữa.
$pageOut $pageIn Phân đoạn 3
#Tien Tuyen Mar. 3, 1971 trang nhất
Bài 08:
VIII
Có một điều người ta có thể trông thấy rất rõ là khối AQ [Ấn Quang] có một tham vọng chính trị rộng lớn. Cuộc vận động của PG [Phật Giáo] lật đổ chế độ Đệ I Cộng Hòa đã đưa 1 số lãnh tụ Phật giáo lên đỉnh vinh quang và quyền lực. Một dạo, các vị này đã trở thành một thứ siêu chính quyền.
Thói đời, những người phút chốc được bốc lên ngồi cao quyền thế thường hay bị "say quyền lực" (ivre de pouvoir). Quyền lực trở thành một ám ảnh thường xuyên.
Vài vị lãnh đạo Phật giáo muốn thừa thắng xông lên theo chiến thuật đánh mau đánh mạnh nắm vội thời cơ.
Lẽ ra, ý đồ này có nhiều hy vọng thành đạt, nếu không có sự nứt rạn bất ngờ đưa tới chia rẽ trong nội bộ PGTN [Phật Giáo Thống Nhất].
Sự chia rẽ đó đưa tới tình trạng suy yếu trầm trọng. Khối VNQT [Việt Nam Quốc Tự] thu mình lại trong vỏ hoạt động xã hội, trong khi khối AQ tiếp tục vận động duy trì và bành trướng thế lực dưới chiêu bài đối lập, và nay thì chiêu bài khác.
Do đó, AQ trở thành trung tâm thu hút những chính khách lỡ thời, thất bại, bất mãn. Và, sau này, thêm những chính khách tập sự ùn ùn kéo tới.
Về phía AQ, vì phát triển lực lượng, bành trướng thế lực, củng cố hạ tầng nên cũng mở rộng cửa từ bi đón nhận mọi người tìm tới. Tất nhiên mọi tổ chức lúc đầu đều có sự ô hợp nên không đáng trách.
Duy có 1 điều đáng nêu ra là lập trường của khối AQ cho tới nay vẫn còn mập mờ. Khuynh hướng cũng chưa rõ rệt. Từ đó, những chính khách mang nhãn hiệu AQ cũng không tránh khỏi có những thái độ làm cho người Quốc Gia e ngại.
Không phải có ý chụp mũ, chỉ nhìn thẳng vào thực trạng người ta sẽ thấy ngay với đường lối hiện nay của AQ, kẻ thù chung sẽ rất dễ trà trộn để mập mờ đánh lận con đen.
Hẳn là các vị lãnh đạo hãng sản xuất và phát hành chính khách AQ không có dụng tâm như vậy. Song thực trạng của khối đã tạo nên kẽ hở đó. Các cuộc vận động của khối AQ gần giống với những trò thực tập đi giây.
Ngày nay, sản phẩm của AQ tràn ngập thị trường. Người ta thấy rõ đang có tình trạng lạm phát chính khách. Có những người trở thành chính khách sau một cơn ngủ mê.
Đấy lại là tình trạng chung của rất nhiều đảng phái, lực lượng, do từ sự vơ bèo gạt tép mà ra.
Đó cũng là một trong những lý do đưa tới tình trạng sinh hoạt chính trị bi thảm ngày nay.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 5, 1971 trang nhất
Bài 09:
IX
Sự bi thảm của sinh hoạt chính trị miền nam trở nên trầm trọng kể từ khi các lực lượng đảng phái hoàn toàn mất hẳn thể đứng trong quần chúng.
Họ như những tảng bèo rời rạc lềnh bềnh trên mặt nước "chạm không tới đất, cất không tới trời". Do đó các chính khách xuất thân từ đảng phái trở nên bơ vơ.
Cho tới khi chính quyền có ý định tập hợp một số chính đảng để tạo một hậu thuẫn chính trị, thì nhiều chính khách đang vất vưởng vội chạy đi tìm đồng chí để lập đảng. Với hy vọng được lọt vào mắt xanh của chính quyền.
Ở đây, chúng tôi xin phép nhấn mạnh cả chính quyền lẫn các chính khách và chính đảng đều phạm lầm lỗi lớn.
Chính quyền lầm tưởng các chính đảng có thực lực, hay ít ra tập hợp họ lại thì sẽ có một thực lực chính trị. Tại sao lại bảo chính quyền quan niệm như vậy là lầm lẫn, chúng tôi đã trình bày ở những bài trước.
Các chính khách lầm lẫn vì tưởng rằng với nhãn hiệu chính đảng này chính đảng nọ, họ sẽ được quần chúng tin tưởng, do đó họ sẽ thành công trong sự nghiệp chính trị.
Các chính đảng lầm tưởng với thế lực giả tạo họ có thể lòe thiên hạ và "mặc cả" được với chính quyền để đổi lấy một hai ghế trong chính phủ và trong các cơ cấu dân cử.
Nói một cách văn hoa đôi chút thì tất cả đã là một ngộ nhận lớn lao.
Tuy nhiên, chúng tôi muốn thẳng thắn nhìn nhận ý hướng tốt của chính quyền khi cố gắng lập ra một đảng chính quyền. Hành động này ít ra cũng đáp ứng phần nào sự khuyến khích của Hiến Pháp tiến tới một chế độ chính trị lưỡng đảng.
Nếu chính quyền thành công trong việc tạo lập một đảng cầm quyền có thực lực thì có lẽ những đảng phái ở ngoài chính quyền nhất là những đảng phái sẵn có đường lối đối lập đã phải thấy ngay một nhu cầu cấp bách là đứng vào với nhau để tạo thế đối lập lớn tương xứng.
Từ đó, ý hướng tiến tới một sinh hoạt chính trị lưỡng đảng sẽ dễ dàng.[ * ]
Nhưng rất tiếc, tinh thần quyền lợi phe nhóm còn quá nặng. Thực lực không có, và các lãnh tụ mải mê với quyền lợi cá nhân, đã không chịu củng cố. Cho nên sự kết hợp của 6 đảng phái đã chỉ làm cho thể chính trị của Quốc gia thêm nát.
Khi đảng chính quyền không có thực lực thì phe nhóm đảng phái bên ngoài không thấy nhu cầu cần phải kết hợp. Trái lại việc 6 đảng đứng vào với chính quyền đã khiến đẻ ra thêm một số chính đảng. Tình trạng đa đảng, do đó, cũng thêm hỗn tạp và ô hợp. Nhiều chính đảng mọc ra chỉ với mục đích duy nhất là để gạ đổi chác với chính quyền.
( còn nữa )
[ *: LTC phụ chú:
#Tiền Tuyến Apr. 8, 1969 trang nhất
Thông điệp Tổng Thống ngày 7-4-1969 kêu gọi kết hợp đảng phái
#Tiền Tuyến Apr. 8, 1969 trang nhất
Thông điệp Tổng Thống ngày 7-4-1969 kêu gọi kết hợp đảng phái
Sáng ngày 7-4-1969, đọc Thông Điệp trong phiên họp khoáng đại của Lưỡng Viện Quốc Hội
Tổng Thống Thiệu Kêu Gọi Kết Hợp Đảng Phái Quốc Gia
DÙ KẾT HỢP ĐỂ ĐỐI LẬP
★ Đích thân đứng ra tập hợp các lực lượng chính trị không phải muốn tìm hậu thuẫn để củng cố địa vị mà vì muốn thống nhất ý chí và hành động của toàn dân để đối phó với kẻ thù. ★ Hy vọng Quốc Hội sẽ chóng thông qua 2 Quy chế Báo chí và Chánh đảng. ★ Dân còn đói khát, còn bị áp bức bóc lột thì quốc gia chưa thể vững mạnh. ★ Nông dân phải trở thành tiểu điền chủ. Công nhân sẽ không còn bị bóc lột.
#Tien Tuyen Mar. 6, 1971 trang nhất
Bài 10 01
Và
#Tien Tuyen Mar. 10, 1971
Bài 10 02
(gộp hai bài vào làm một)
Bài 10:
X
Trong bài hôm qua, chúng tôi đã khẳng định «có nhiều chính đảng đã vội vã mọc lên chỉ với mục đích duy nhất là để gạ đổi chác với chính quyền.»
Đấy cũng lại là một thật sự bi thảm!
Tình trạng đa đảng ở xứ này mang hai ý nghĩa: Thứ nhất là nó chứng tỏ có sữ dân chủ tự do trong sinh hoạt chính trị. Thứ hai là nó cho thấy sự phân hóa trầm trọng trong hàng ngũ chính khách quốc gia.
Ý nghĩa thứ nhất chắc chắn chỉ là một sự rỗng tuếch. Bởi nó hoàn toàn vô ích đối với sự lớn mạnh của sinh hoạt chính trị của chúng. Trong khi đó, ý nghĩa thứ hai lại là một sự nguy hại cho đất nước vì tiềm lực chính trị của một quốc gia mà bị phân hóa thì sớm muộn cũng đưa dân tộc tới chỗ lụn bại.
Chúng ta có thể suy nghĩ trên câu nói này của Marc Aurèle «những gì không mang lợi cho tổ ong thì cũng vô ích cho con ong.»
Các vị lãnh tụ cũng cần suy nghĩ kỹ hơn. Chẳng hạn khi một đồng chí của ông HTK [ Hà Thúc Ký ] tách ra khỏi đảng (rồi lập đảng khác) với hy vọng ông sẽ được chia một ghế trong nội các, tức là ông đã làm cho đảng của ông HTK yếu đi, và chính đảng mới của ông cũng không khỏe gì. Do đó, bản thân ông cũng không có lợi lộc. Bằng cớ là rốt cuộc ông chẳng được chia tí phần xôi thịt nào.
Chúng ta còn có thể dùng một hình ảnh khác để thấy rõ cái bất lợi của tình trạng đa đảng do cái kết quả của sự phân hóa: Đó là hình ảnh những con châu chấu lẻ loi bị lũ trẻ mục đồng đem chắp sợi chỉ vào chân mà đùa chơi, và từng đàn châu chấu như thế có khả năng tiêu diệt cả một cánh đồng lúa chín trong chớp mắt.
Để đóng góp cho sự bi thảm thêm trầm trọng với tình trạng đa đảng, là sự kiện những đảng phái lại đều có khuynh hướng ly tâm — cái Tâm ở đây là quyền lợi chung của dân tộc. Mỗi đảng đều chỉ hướng về một quyền lợi của đảng mình hay đúng hơn, là quyền lợi của vị lãnh tụ đảng.
Sự phân hóa ở lãnh vực đảng đưa tới sự sa đọa ở lãnh vực cá nhân chính khách. Loại chính khách sa đọa đầy dẫy trên thị trường và mặc sức tác oai tác quái vì những người còn liêm sỉ đã rút vào bóng tối để gậm nhấm nỗi buồn cô đơn, tuyệt vọng.
Hạ Viện là một phần của "thị trưởng chính khứa". Chúng ta thấy gì ở cái phần thị trường này? Thực tế bao năm qua đã trả lời quá rõ.
( còn nữa )
Một cách thành thực chúng tôi không dám tin rằng quý vị chính khách trong tòa nhà Lập Pháp [ Hạ Viện ] sẽ có thể tái đắc cử vào tháng 8 tới đây. Cử tri ngày nay đã rất sáng suốt. Riêng đối với quí vị chính khách đang ngồi ở Hạ Viện thì cứ tri đã có kinh nghiệm.
Họ đã bị lừa bịp một lần, họ không thể bị lừa bịp lần nữa.
Dường như phần lớn quí vị đương kim Dân biểu cũng đã ý thức được điều đó. Chúng tôi được nghe một người bạn Dân Biểu tâm sự rằng từ nay đến tháng Năm, nếu không có thuốc — nghĩa là không có sự đỡ đầu của một thế lực tuyệt đối nào đó — thì ông ta sẽ trở về mở quán nước giải khát cho vợ bán.
Một ông Dân Biểu khác — mà chúng tôi cũng hơi quen biết — than rằng, kỳ bầu cử tới rất có thể ông ta sẽ phải tốn khoảng 20 triệu bạc để mua phiếu! Tất nhiên phải hiểu hai chữ «mua phiếu» nghĩa là mua của những vị có quyền thế hoặc có khả năng bán phiếu, chứ rất ít khi mua trực tiếp của cử tri.
Như chúng tôi đã trình bày, cử tri ngày nay rất sáng suốt và ý thức. Họ không đời nào bán rẻ lương tâm để lấy 500 đồng bạc. Cầm mấy trăm đó để phải bỏ phiếu cho một kẻ bất xứng là một điều sỉ nhục mà họ không thể nào chấp nhận.
Hơn thế, người dân thường có một lối lý luận giản dị: Nếu ứng cử viên là người "xứng đáng", có thành tâm thiện chí và liêm sỉ, thì ông ta sẽ không bao giờ «mua phiếu» như vậy. Một kẻ đã có thể bỏ tiền ra mua phiếu tất không tin ở tư cách của mình và, hơn thế, tất là kẻ có đầu óc mua quan bán tước. Do đó, nếu đắc cử, ông ta không ngại gì mà "bán linh hồn" để kiếm lời!
Trong ba năm vừa qua, các vị Dân Biểu, Nghị Sĩ đã kiếm chác được một số tiền khá lớn qua những vụ bán chữ ký, và xuất ngoại buôn lậu. Kỳ này, họ sẵn sàng bỏ vốn lớn để kiểm lời to trong nhiệm kỳ 71-75.
Kỳ bầu cử 67, người ta đã thấy những ông tổ tham nhũng tung ra cả 2, 3 chục triệu để đắc cử. Hầu chạy tội và tiếp tục kiếm chác. Cặp "bài trùng" ở Hạ Viện là một điển hình.
Những tay tài phiệt, tư bản, tham nhũng tung tiền ra ứng cử, tất nhiên không hề nhằm mục đích phục vụ dân chúng.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 11, 1971 trang nhất
Bài 11
XI
Khi khẳng định «những tay tư bản tài phiệt tung hàng chục triệu ra ứng cử, họ không nhằm mục đích phục vụ quần chúng,» chúng tôi đã căn cứ trên thực tế xã hội và hiện trạng sinh hoạt chính trị để rút ra luật luật đó.
Bọn tư bản tài phiệt đã ngụp lặn trong vũng bùn hôi tanh của tiền bạc. Đối với họ, tiền bạc đã trở thành cứu cánh của cuộc đời, cho nên lý tưởng phục vụ bất vụ lợi không còn trong họ nữa.
Họ ra ứng cử hay ra tham chính không ngoài một trong hai mục đích hoặc cả hai mục đích sau đây: Mua danh và tạo uy thế để củng cố cái gia sản kếch xù của họ, bảo vệ quyền lợi kinh tế của họ, từng được gầy dựng trên lưng người dân nghèo.
Ở Thượng cũng như Hạ Viện, chúng ta thấy có nhiều tay trọc phú. Và, suốt 3 năm, thử hỏi những tay trọc phú đó đã làm gì, nếu không là những vận động ngầm để độc quyền buôn bán xi măng, giây thép gai, thuốc tây v.v...
Một xã cách mạng lão thành của chúng ta đã nhận định rất đúng khi ông nói: «Bọn trọc phú không bao giờ làm chính trị vì dân chúng. Họ làm chính trị vì họ và cho họ.»
Bởi vì bọn trọc phú không bao giờ muốn có những cuộc cách mạng xã hội, là điều kiện tiên quyết cải thiện đời sống quần chúng, nâng cao mức sống đồng bào và kiện toàn sức mạnh dân tộc.
Cách mạng xã hội sẽ tước bỏ mọi đặc ân của bọn trọc phú. Một sự công bằng xã hội sẽ là kẻ thù của bọn trọc phú. Chúng ta chợ đợi những tay trọc phú nhường cơm xẻ áo cho chúng ta ư?
Đó là những lý do cắt nghĩa tại sao người dân không thể tin tưởng vào tinh thần phục vụ của những kẻ tung ra hàng chục triệu để mua một tước vị Đại diện. Người dân họ không cần 500 bạc vì nó không giúp cho đời sống họ dễ thở hơn, không giúp họ có công ăn việc làm, không giúp con cái họ có trường học. Người dân cần những sự phục vụ, cần những bộ óc sáng tạo cách mạng.
Do đó, họ cần những người thành tâm thiện chí và có lý tưởng phục vụ.
Chúng tôi muốn nói tới người dân ngày hôm nay đã sáng suốt hơn sau nhiều keo bị lừa đảo bịp bợm bởi một bọn chính khách ma đầu.
Chúng tôi có thể quả quyết rằng, nếu đã từng có những vụ mua bán phiếu thì chắc chắn không phải cử tri đã bán phiếu vì bán như thế là bán chính lương tâm mình. những phần bất cứ phải bối như vậy bản chất lâu lượng tâm hồn. Bọn chính khách trọc phú đã mua phiếu của một số kẻ có quyền uy theo từng cử tri. Chính vì thế mà có hiện tượng lạm phát chính khứa và phần lớn là những chính khứa ma đầu.
Điều chua xót là từ khi có Quốc Hội, dân chúng ngày càng khổ cực hơn cả về tinh thần lẫn vật chất. Nói như thế không phải chúng tôi phủ nhận sự hữu ích của cơ cấu lập pháp trong một chế độ dân chủ phân quyền.
Nhưng cơ cấu này chỉ hữu ích khi nó bao gồm những thành phần có tâm huyết và có tinh thần phục vụ quần chúng.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 12, 1971 trang nhất
Bài 12
XII
Trong Hạ viện của chúng ta hiện nay, người có khả năng và thiện chí đếm được trên đầu ngón tay. Ngay cả những kẻ mang danh đối lập và thường gây huyên náo cũng chỉ là những cái thùng rỗng.
Các ông DB này chưa từng làm một việc gì hữu ích thiết thực cho dân. Họ chỉ lăm le chửi chính phủ và tìm cách hạ chính phủ nếu trong đó không gồm đa số là những người đồng bọn với họ.
Hơn thế, trong khi vỗ ngực là đối lập, họ sẵn sàng bán chữ ký với giá cao. Vụ kiến nghị và vụ Luật Ngân sách 71 là một bằng cớ hùng hồn! Tất cả những ông lớn tiếng chống đối nhất đều đã thò bút ký và giơ tay biểu quyết.
Những hành vi của đa số DB trong 3 năm qua đã làm nản lòng người dân. Họ làm cho cử tri thất vọng. Trong kỳ bầu cử tới đây, hoặc là cử tri sẽ chán ngấy đến không muốn đi bầu nữa, hoặc họ bỏ phiếu bừa với ý nghĩ «chọn lựa nào thì cũng vậy thôi. Thằng nào cũng như thằng nấy.»
Phản ứng tâm lý trên sẽ rất nguy hiểm. Cuộc bầu cử sẽ trở thành một cuộc xổ số. Và nếu tình trạng đó xảy ra thì một lần nữa toà nhà lập pháp của chúng ta lại chứa đựng 90% phần tử bất xứng.
Còn một mối nguy quan trọng hơn cũng có thể xảy ra nếu cử tri đi bầu với tâm trạng "cho xong việc".
Chúng ta đều biết hiện nay, trên phương diện quân sự, Cộng sản đã thua nặng và rõ rệt; chúng đã hoàn toàn tuyệt vọng ở lãnh vực này. Do đó, chiến tranh quân sự sớm muộn cũng tàn lụi. Nhưng cuộc xung đột giữa hai ý thức hệ Quốc Gia và Cộng sản chưa thể chấm dứt vì CS không dễ gì từ bỏ ý đồ xích hóa miền Nam.
Do đó, chúng sẽ quay sang mưu tìm chiến thắng bằng phương tiện chính trị thuần túy. Nhiều nhà quan sát đã tiên đoán kỳ bầu cử 71, CS sẽ đưa người của chúng ra ứng cử, với hy vọng cài càng nhiều càng tốt tay sai của chúng vào các cơ cấu dân cử.
□ HỒNG DƯƠNG
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 14_15, 1971 trang nhất
Bài 13
XIII
Nhận xét đó không xa thực tế, vấn đề các bộ CS nằm vùng ngoài hay trong chính quyền thông phái là một điều mới lạ. Trong quá khứ, đã có những cán bộ CS nằm vùng trong cơ quan Hành Pháp cũng như Lập Pháp bị lật mặt ra. Vụ HVT [ Huỳnh văn Trọng ] và vụ TNC [ Trần Ngọc Châu, Dân Biểu ] là hai trường hợp điển hình.
Do đó, người dân không thể không cảnh giác. Chúng tôi nhắn danh một người quốc gia không chấp nhận CS có bổn phận lưu ý cử tri.
Chúng tôi cũng muốn lưu ý cả những ông chính khách đang tự nhận là đối lập – với chính quyền – nhưng hành động của các ông lại là chống người Quốc gia, chống chủ nghĩa Quốc gia.
Nói tóm lại, có nhiều ông chính khách đối lập vô ý thức, thay vì chống đường lối thi hành chính sách hay có thể chống chính sách, thì lại chống chế độ.
Quốc gia này là quốc gia chống cộng hay nói đúng hơn là quốc gia này không chấp nhận được Cộng sản, lập trường đó được ghi rất kỹ trong Hiến Pháp. Vậy thì không thể có vấn đề đối lập nhân danh CS hoặc gián tiếp binh vực CS.
Nhân nói tới đối lập, chúng tôi tự thấy có bổn phận phải trình bày sơ qua tình trạng đối lập hiện nay trong thị trường chính trị VN.
Hiện nay, cái mác đối lập được coi là ăn khách trên thị trường chính trị VN. Bởi vì tổ chức chính trị của chúng ta chịu ảnh hưởng nặng của tổ chức chính trị Tây phương ngày nay, được gọi là chế độ dân chủ. Và theo đó, đối lập được coi như một sự cần yếu, một phương pháp hợp pháp và thích hợp nhất để làm cho đường lối chính trị được sáng sủa.
Chẳng hạn ở Anh, lãnh tụ đối lập được hưởng mọi ưu đãi của nhà nước, bởi họ quan niệm đối lập như một bổn phận công dân; Người làm công việc đối lập là thi hành bổn phận công dân.
Ở Mỹ cũng vậy, không nhất thiết người ở đảng đối lập không được quyền ngồi ngay trong chính phủ. Không ai cấm cản một ông Tổng thống đảng Cộng Hòa xử dụng những Bộ trưởng là người của đảng Dân chủ.
Nói như vậy để cho thấy đối lập đúng nghĩa không phải là kẻ thù của nhau đến mức phải tìm mọi cách để tiêu diệt nhau.
Nhưng ở thị trường chính trị VN, người ta đã quan niệm sai lầm vô ý hoặc cố tình vấn đề đối lập.
□ HỒNG DƯƠNG
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 17, 1971 trang nhất
Bài 13
XIII (tiếp theo)
Trên nguyên tắc, chúng tôi không muốn đề cập tới trường hợp từng cá nhân chính khách. Tuy nhiên, một đôi thì phải nhắc tới ông A ông B, chẳng qua chỉ là để dẫn chứng.
Bây giờ chúng tôi xin trở lại với vấn đề bầu cử, một vấn đề liên hệ trực tiếp tới «thị trường chính khứa.»
Ngay từ bây giờ, người ta đã thấy các chính khứa rầm rộ chạy ngược chạy xuôi, chui cửa trước lòn cửa sau để tìm những thế lực hậu thuẫn. Điều mỉa mai là những người thành tâm thiện chí, có khả năng và tha thiết với quyền lợi tổ quốc dân tộc thì phần lớn lại đói rách, cô đơn và yếu thế.
Những người này lại không thể chạy cửa hậu, và do đó họ sẽ vô cùng vất vả nếu muốn tham dự việc nước một cách tích cực.
Nói về thế lực hậu thuẫn cho cuộc bầu cử, hiện nay người ta thấy có 3 thế lực chính:
1) Lực lượng Thiên Chúa Giáo.
2) Lực lượng Phật giáo Ấn Quang.
3) Chính quyền.
Ba thế lực này nếu đem so sánh thì hơi khó để mà kết luận thế lực nào mạnh. Tuy nhiên, một cách khách quan, người ta vẫn có thể tìm ra một tương quan tương đối.
Về lực lượng Phật Giáo, số lượng có thể đông đảo hơn Thiên Chúa Giáo. Nhưng đó là lý thuyết. Bởi vì dân VN có một thói quen hiểu những người không Công giáo là những người theo đạo thờ phụng tổ tiên nghĩa là cũng có cúng vái nhưng không đi chùa, không biết tới các Thượng tọa, Đại đức.
Lại nữa, vì Phật giáo mới được tổ chức lại, cho nên vấn đề kỷ luật bỏ phiếu chưa được chặt chẽ.
Trong khi đó, khối Công Giáo tuy lượng ít hơn nhưng lại mạnh về phẩm Họ có một truyền thống kỷ luật lâu đời và chặt chẽ. Mỗi mệnh lệnh của cấp lãnh đạo Công giáo ban ra thường là được hàng giáo dân thi hành nghiêm chỉnh.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 18, 1971 trang nhất
Bài 14
XIV
Trong kỳ bầu cử bán phần Thượng Viện vừa qua, kỷ luật bỏ phiếu của khối cử tri Công giáo tỏ ra có phần sứt mẻ. Tuy nhiên, đó chỉ là một trục trặc nhỏ.
Dù sao khối giáo dân Công giáo vẫn là một lực lượng được coi như thuần nhất hơn cả. Vấn đề còn lại đối với khối Công giáo hiện nay là sự đồng nhất lập trường của các vị lãnh đạo tinh thần.
Nếu các vị Linh mục thường lẫn lộn việc đạo và việc đời, thì chắc chắn những lá phiếu của Công giáo không bao giờ có thể tản mát được. Và do đó, khối Công giáo này sẽ là một lực lượng quần chúng hùng mạnh.
Như chúng tôi đã có dịp trình bày ở những bài trước đây, ngày nay ở xã hội VN các chính đảng không có giá trị, vì không một chính đảng nào có thực lực, không một chính đảng nào có hậu thuẫn quần chúng đông đảo.
Chỉ còn lại Tôn giáo. Cả những chính đảng cũng dựa vào tôn giáo. Và vì các chính đảng phải dựa vào tôn giáo cho nên mặc nhiên các tôn giáo lớn trở thành một thứ siêu chính đảng. Do đó, yếu tố tôn giáo trong các cuộc bầu cử những cơ cấu dân cử là 2 tố quyết định.
Thế lực thứ ba là thế lực chính quyền. Thế lực này trước kia là thể lực mạnh nhất nhưng ngày nay nó chỉ mạnh ở một số địa phương. Các cuộc bầu Tổng thống, Thượng Viện, Hạ Viện 1967 và bán phần Thượng Viện 1970 cho thấy tại những nơi chỉ mục quan chiêm như Saigon Gia định, yếu tố chính quyền không có ưu thế. Trái lại thế lực này được gọi là tuyệt đối mạnh ở những địa phương xa xôi, nhất là tại những nơi thiếu an ninh.
Ngoài ba thế lực trên, hai tôn giáo Cao Đài Hòa Hảo cũng là một lực lượng đáng kể, nhưng chỉ ở một số địa phương bao quanh Thánh Địa của các tôn giáo này.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 19, 1971 trang nhất
Bài 15
XV
Theo sự dò hỏi của chúng tôi thì ngay từ bây giờ, các chánh khách đã bắt đầu lui tới cửa chùa và nhà thờ luôn luôn. Có những ông sáng chạy tới nhà thờ “lạy cha, Amen”, chiều tới chùa “Nam mô a di đà Phật”.
Những ông này tưởng như thế là khôn, bắt cá 2 tay. Nhưng thực ra thái độ đó chỉ tố giác tính chất «ma giáo», điều mà các vị lãnh đạo tinh thần kỵ nhất. Có thể, trên nguyên tắc vì lịch sự, các Thượng tọa và Linh Mục sẽ không nói ra. Nhưng sẽ không bao giờ các vị này lại ủng hộ bọn chánh khách ma đầu như vậy.
Không phải vấn đề kỳ thị tôn giáo mà vấn đề là những kẻ bắt cá hai tay thường cố tình tham lam tráo trở.
Trong quá khứ, khối cử tri Công giáo từng gặp phải những tay tráo trở một cách trắng trợn. Trong số báo Diều Hâu mới nhất, có một bài đề cập tới 1 ông Dân biểu bị coi là «giáo gian». Ông này là người Công giáo đắc cử nhờ phiếu bầu của cử tri Công giáo nhưng sau đó lại chạy theo Ấn Quang để hy vọng «ở xứ mù thì thằng chột làm vua.»
Thật ra Công giáo hay Phật giáo hay Cao Đài Hoà Hảo thì cũng là người V.N. có bổn phận phục vụ quyền lợi chung của đất nước dân tộc.
Nhưng bên cạnh quyền lợi tối thượng đó, đối với vai trò Dân biểu còn có khía cạnh quyền lợi địa phương hay thành phần xã hội mà mình đại diện. Một chính khách bước vào Hạ Viện bằng phiếu của công nhân - lao động - mang danh nghĩa đại diện Lao Động - mà khi sinh hoạt trong nghị trường lại chỉ bênh vực cho quyền lợi của một giai cấp tài phiệt chủ nhân là một điều không thể chấp nhận được.
Cũng vậy, một Dân biểu đắc cử bởi phiếu của cử tri Công giáo thì ít nhất phải có thành tín trước sau như một đối với quyền lợi tinh thần của Hội Thánh Công Giáo và phải biết phục vụ quyền lợi giáo dân, như thể một công việc Tông đồ, Chúa không bao giờ dạy các Tông đồ yêu kẻ này ghét kẻ kia. Tuy nhiên những tên «Judas» cũng không thể được vào nước Chúa. Nói cách khác, sự phản trắc là điều không thể chấp nhận được.
HỒNG DƯƠNG
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 20, 1971 trang nhất
Bài 16
XVI
Thật ra thì không ai có thể chấp nhận sự phản trắc. Trong kỳ bầu cử 1967, các ứng cử viên đã hứa rất nhiều nhưng suốt gần 4 năm nay, chưa có một ông Dân biểu nào thực hiện được 1/100 sự hứa hẹn của họ. Trái lại, hành động và tư cách của nhiều ông bà Dân biểu đã làm cho cử tri phải đỏ mặt vì thẹn. Người dân không thể không xấu hổ khi thấy vị đại diện của mình bán chữ ký, buôn lậu một cách trắng trợn. Trong trường hợp ông DB Nguyễn Ngọc Nghĩa đã trở thành một giai thoại điếm nhục. Trường hợp ông DB Phạm chí Thiện và Võ Văn Mẫu cũng là một nhục nhã cho ngành Lập Pháp.
Thị trường chính khách ô hợp và bẩn thỉu như vậy đó.
Với một tình trạng người làm chính trị kiểu ông Nghĩa ông Thiện, ông Mẫu, đất nước này làm sao khá được. Cuộc đấu tranh chính trị với CS mà chúng ta sắp phải đương đầu chắc chắn sẽ là một thảm bại, nếu chúng ta không kịp thời thanh lọc hết những chính khách bẩn thỉu, chấn chỉnh lại hàng ngũ những người đại diện dân.
Những khuôn mặt cũ rích trên sân khấu chính trị hiện nay hầu hết đã bị nám đen. Một cuộc Cách mạng toàn diện trong thị trường chính khứa cần phải được phát động ngay từ bây giờ.
Chẳng phải biết bắt chước con bồ nông của thi sĩ người Pháp mổ bụng thay hết ruột gan. Chỉ có một cuộc tẩy uế tận gốc rễ như vậy mới hy vọng cứu vãn được tình hình chính trị của miền Nam.
Và trong việc này, chính quyền không đủ khả năng làm. Bởi ngay trong chính quyền cũng còn đầy rẫy những thành phần chính khách xôi thịt.
Chỉ có người dân làm nổi. Người dân cùng một lúc phản tỉnh, cảnh giác, hợp quần, nhất chí dùng lá phiếu để gạt bỏ hết những khuôn mặt cũ rích mốc meo đang múa may quay cuồng trên sân khấu chính trị. Mang vào thị trường chính khứa một sinh khí mới.
Chúng tôi không dám quan niệm như Phó Tổng thống Kỳ phải gạt bỏ hết những người già. Nhưng chúng tôi quan niệm một thành phần trẻ chọn lọc dù sao cùng còn nhiệt huyết và hăng say lý tưởng phục vụ.
Nói như thế không có nghĩa người trẻ nào cũng làm việc được. Thật ra thực tế đã từng cho thấy nhiều người trẻ tuổi trong Hạ Viện hiện nay đã chỉ là một thứ giá áo túi cơm.
Khi nói tới những người trẻ, chúng tôi mong muốn nói tới một thành phần trẻ chọn lọc, hội đủ yếu tố «trẻ tuổi, trẻ tâm hồn, trẻ sáng kiến, nhưng già về suy tư và khả năng.»
Nói cách khác, đó là những người trẻ có kiến thức và khả năng, mà quá trình hoạt động chứng minh được tinh thần phục vụ còn hăng say.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 23, 1971 trang nhất
Bài 17
XVII
Chúng tôi mạn phép mở một dấu ngoặc lớn ở đây, để bắt vào một chuyện hết sức thời sự. Đó là vụ các Dân biểu buôn lậu bị thộp cổ tại trận. Các ông Phạm chí Thiện, Võ văn Mẫu và Nguyễn Quang Luyện.
Ông Võ văn Mẫu thì dính líu trong vụ 9 ký bạch phiến bị phát giác cách đây ít lâu. Ông Phạm chí Thiện mang lậu 4 ký bạch phiến và bị bắt quả tang tại phi trường Tân Sơn Nhứt. Cuối cùng là DB Nguyễn quang Luyện, đệ nhị phó chủ tịch Hạ Viện bị bắt quả tang tại Thái Lan mang lậu trong va li 15 kí lô vàng.
Thật ra đây không phải là lần đầu tiên xảy ra vụ DB buôn lậu. Trong quá khứ đã từng có nhiều ông DB xuất ngoại buôn lậu và bị phát giác. Số DB buôn lậu may mắn chưa bị phát giác còn nhiều hơn nữa. Những ông nay tuy chưa bị nhân viên hữu trách bắt quả tang, nhưng dư luận quần chúng thì lại biết rất rõ.
Các sự kiện này ít ra chứng minh cho những gì mà chúng tôi đã trình bày trong những bài trước đây về "thân phận Dân Biểu" nói riêng và về chính khứa nói chung.
Tình trạng chính trị ô hợp đã làm nảy sinh ra những chính khứa dơ bẩn và vô khả năng, bất xứng và số này tập trung khá đông ở trong Hạ Viện. Chúng tôi đã từng có dịp theo dõi sinh hoạt Hạ Viện suốt hơn 2 năm liền. Và điều mà chúng tôi có thể khẳng định là muốn tìm một ông DB có khả năng, sạch sẽ tư cách, có tỷ tưởng phục vụ … sẽ là một việc mò kim đáy biển.
Một nhận định khác của chúng tôi cũng đã được chứng minh là «những ông DB giàu có phần lớn là những người tham lam, thích vào Hạ Viện để làm áp phe hơn là làm việc nước.»
Chẳng hạn như trường hợp DB Luyện, ông ta là một người giàu. Bằng cớ là ông ta dám bỏ ra 19 triệu bạc chỉ để xây một cái pit xin [ piscine = swimming pool = hồ bơi ] trong nhà. Để có thể chi tiêu phung phí như thế tất nhiên ông ta phải có cách xoay tiền.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 24, 1971 trang nhất
Bài 18
XVIII
Hai ông DB Phạm chí Thiện và Nguyễn quang Luyện đều thuộc đơn vị Gia Định 1 tức là một nơi có số phiếu cử tri Công giáo được coi là quyết định.
Nói cách khác, 2 ông DB này đã nhờ xin được phiếu cử tri Công giáo mà đắc cử, do đó, trên phương diện tinh thần, ông Thiện và ông Luyện phải chịu trách nhiệm trước cử tri Công giáo Gia Định 1.
Trước hành vi bê bối của 2 ông Thiện, Luyện, có người cho rằng cử tri Công giáo Gia Định 1 có một phần trách nhiệm vì chính các cử tri này đã chọn bỏ phiếu cho 2 ông DB bê bối nói trên.
Cũng như khi một người con trai trưởng thành tự ý chọn vợ, chẳng may vớ phải cô vợ chẳng ra gì thì mình ráng chịu, không thể đổ trách nhiệm ấy cho ai được.
Lý luận như thế cũng đúng nếu quả thật các cử tri hoàn toàn đích thân chọn lựa ứng cử viên. Nhưng ở đây chúng ta hãy xem một vấn đề cần nêu ra là việc căn cứ trách nhiệm ấy lại hoàn toàn thể theo chọn lựa của các cử tri trong nề nếp tôn giáo và đoàn thể có kỷ luật rất chặt chẽ. Đối với thành phần phụ thuộc vào việc chọn lựa ứng cử viên thì họ sẽ chịu tùy thuộc một phần lớn vào sự chọn lựa của cấp lãnh đạo của họ. Họ sẽ bỏ phiếu cho ứng cử viên nào đã được cấp lãnh đạo tinh thần của họ chỉ định hay chính thức ủng hộ.
Chính đó là lý do tại sao các ứng cử viên luôn luôn phải chạy chọt các Thầy các Cha.
Sinh hoạt dân chủ ở xã hội Việt Nam chưa thành một truyền thống. Người dân nói chung còn chưa quen lắm với lề lối dân chủ nhất là chưa có kinh nghiệm đối với các sinh hoạt chính trị, do đó họ cũng chưa đào luyện được một ý thức chín chắn và quyền lực chính trị của mình qua lá phiếu và qua người đại diện của họ trong cử chính quyền. Bởi thế, nhiều khi họ chỉ coi công việc đi bầu như một bổn phận bất đắc dĩ phải thi hành chứ chưa ý thức rõ rệt đó còn là một quyền hạn để bảo đảm quyền lợi tinh thần và vật chất của họ.
Đó là tâm lý chung của phần lớn cử tri trong cuộc bầu cử 1967. Và hậu quả của tâm lý này là một Hạ Viện bất xứng, thiếu khả năng, bê bối, bẩn thỉu... như ngày nay.
Dù rất xót xa, nhưng cũng phải thành thật nhìn nhận 99% DB của chúng ta hiện nay chỉ là những thành phần múa rối, là những đào kép bất đắc dĩ, đóng tuồng một cách vụng về ngây ngô.
Nếu trong đó có được vài phần tử khôn ngoan, thủ đoạn thì lại chỉ là cái khôn ngoan thủ đoạn của giới làm áp phe.
Chúng ta không thể chấp nhận cái lý luận ngớ ngẩn của ông Luyện khi ông cho rằng DB Thiện vì nghèo nên mới phải mang thuốc phiện lậu đem về để lãnh công. Nói như vậy là gián tiếp nhục mạ giới nghèo.
Thật sự, nhiều người nghèo có lương tâm không làm công việc bẩn thỉu đó. Vả chăng, ông Luyện là một người rất giàu (có thể bỏ tới 19 triệu để xây một hồ tắm trong nhà) mà vẫn làm công việc buôn lậu như thường. Điều đó chứng minh hùng hồn rằng chính kẻ giàu hay làm bậy hơn kẻ nghèo.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar 26, 1971 trang nhất
Bài 19
XIX
Vả chăng, các DB không được cái vinh dự để tự coi là thành phần nghèo. Chưa kể những áp phe vặt như công tác đặc biệt, phụ cấp như vụ bán chữ ký và những áp phe lớn hơn như xuất ngoại đổi đô la và buôn lậu.
Nếu DB như vậy mà được coi là nghèo thì người công chức và người lính còn nghèo biết bao. Sẽ phải tìm một chữ nào khác thay thế chữ nghèo mà quân nhân, công chức đã giữ độc quyền trong hàng chục năm nay?!
Nói tóm lại, dối với các ông DB buôn lậu, không còn một lập luận nào có thể biện minh được cho tội trạng của các ông trước tòa án dư luận và tòa án lương tâm. Sự nghiệp chính trị của các ông bắt buộc phải chấm dút từ đây, và vết nhơ đó sẽ như một vết chàm không bao giờ tẩy sạch.
Trong một quốc gia đang bước sang giai đoạn đấu tranh chính trị cới quân cộng sản xâm lăng, một chính khách quốc gia bị đốt cháy là một thiệt thòi cho đất nước. Tuy nhiên, nếu chính khách bị đốt cháy hay đó là một kẻ bẩn thỉu như các ông Thiện, Luyện, thì đó là một cái lợi.
Cử tri Công giáo ở Gia Định sau vụ Thiện, Luyện đang dấy lên nỗi bất bình. Ngay như các vị lãnh tụ tinh thần cũng phải chia xẻ hành động mà hai ông Thiện, Luyện đã phản bội trắng trợn, làm nhục lây cho người đỡ đầu các ông và cho những cử tri đã bỏ phiếu cho các ông.
Do đó, người ta e ngại rằng các DB cũ nói chung sẽ khó mà tái đắc cử. Riêng các DB của đơn vị Gia định l càng không có hy vọng nào tái đắc cử.
Thật ra, nếu còn một chút liêm sỉ, các ông này không nên ra ứng cử nữa mới phải.
★
Tình trạng chính trị của chúng ta nhem nhuốc như vậy, nếu không có ngay một cuộc thanh lọc lớn, nếu không có một cuộc cải thiện sâu rộng, và nhất là nếu không tạo dựng ngay được một lớp người hoàn toàn mới thì sẽ không có hy vọng gì chiến thắng Cộng sản trong những giai đoạn sắp tới.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar 27, 1971 trang nhất
Bài 20 [ kỳ cuối ]
XX
Hiện nay, mọi người đều ý thức rằng cuộc chiến đấu của chúng ta đang chuyển hướng. Giai đoạn đấu tranh sắp tới sẽ là một cuộc đấu tranh chính trị.
Những chính khách sẽ là những chiến sĩ. Nhưng, với tình trạng này làm sao chúng ta có được thứ chiến sĩ gan dạ, có khả năng và tinh thần chiến đấu anh dũng, bất chấp những khó khăn gian khổ như các chiến sĩ quân sự của chúng ta tại các mặt trận Kampuchea, Hạ Lào.
Hãy tưởng tượng mặt trận chính trị toàn diện sau này, đoàn quân của chúng ta sẽ là những ông Nguyễn quang Luyện, Phạm chí Thiện, Lê Tài Hòa, Võ văn Mẫu, Kiều mộng Thu, Dương văn Ba v.v...
Một toán quân vô khả năng, bất xứng, tham những, hèn nhátt và ô hợp như vậy, làm sao có thể chiến thắng được?
Cho nên, chúng tôi quan niệm phải có một cuộc cách mạng toàn diện ngay trong ý thức bầu cử của cử tri, phải nhìn cho rõ người, phải xét đoán cho kỹ càng trước khi quyết định chọn lựa một ứng cử viên, phải gạt vấn đề tình cảm tầm thường và phải tự đặt cho mình một trách nhiệm nặng nề đối với lá phiếu mà mình xử dụng.
Các cử tri cũng phải nhận thức rõ rệt một nhu cầu cấp bách là thay đổi toàn diện và tận cùng bộ mặt «thị trường chính khứa» hôm nay. Đưa vào thị trường những người mới có khả năng thiện chí, trong sạch từ căn bản để gây một sinh khí mới cho sân khấu chính trị.
Chỉ có cách đó chúng ta mới hy vọng chiến thắng Cộng sản thêm một trận nữa trên bình diện chính trị và chiến thắng này mới là chiến thắng quyết định cho sự sống còn của dân tộc, sự trường tồn của đất nước.
HẾT
□ HỒNG DƯƠNG $pageOut $pageIn Phân đoạn 4
#Tien Tuyen Mar. 01, 1969 trang ba #Tien Tuyen Mar. 01, 1969 trang ba
(Bài 003) Sinh Viên Quốc Gia Thờ Ma Cộng Sản
SINH VIÊN QUỐC GIA THỜ MA CỘNG SẢN
NẰM VÙNG TUYÊN TRUYỀN, PHÁ HOẠI BỊ 5, 6 NĂM Khổ Sai.
SAIGON – Hoạt động cho CS, hai sinh viên Nguyễn Văn Chín và Hồ Hùng Văn đã can tội phản nghịch và lần lượt bị kết án sáu năm và năm năm khổ sai.
Theo cáo trạng của Tòa án Quân sự Mặt Trận Lưu Động Vùng III, Nguyễn văn Chín, bí danh Chi, sinh viên Khoa học Xã hội, thuộc Viện Đại học Vạn Hạnh, đầu tháng 2-68 sau đợt tổng công kích Tết Mậu Thân của CS, đã tham gia hoạt động trong Ủy ban Cứu trợ đồng bào chiến nạn của Tổng hội Sinh viên Saigon.
Tháng 3-68, do sự tuyên truyền của Bùi Nghị, Phó Chủ tịch ủy ban Cứu trợ nói trên, Chín tham gia hoạt động trong cánh sinh viên học sinh giải phóng Thủ đô của Việt Cộng lập ra. Trong thời gian này Chín đã xây dựng được nhiều cơ sở trong giới sinh viên học sinh Saigon.
Tháng 6-68 Chín thuê căn gác tại nhà số 129/23, đường Nguyễn Trãi, để tiện hoạt động trong khu vực phường Chợ Quán.
Cuối tháng 7-8, Chín được đề bạt làm Tổ Trưởng và đã bảy lần nhận của giao liên VC 1 số quan trọng truyền đơn, cờ của cái gọi là “MTGP”, tài liệu VC và hai súng lục K-54 Trung Cộng.
Chín đã phân phối số tài liệu và truyền đơn trên cho các tổ viên để rải và treo cờ tại các đường phố, rạp hát và các cư xá tản mác tại Saigon.
Chín đã tìm hiểu các thành phần quân nhân, cảnh sát và cán bộ chính phủ cư ngụ trong khu vực Chợ Quán để chờ dịp Việt cộng tổng công kích thì sẽ hướng dẫn bộ đội Cộng sản lùng bắt các thành phần quốc gia đem ra Tòa án Nhân dân của Việt Cộng xét xử.
Ngày 10-9-68, Chín bị bắt tại sào huyệt là căn nhà 129/23 Nguyễn Trãi.
Bị can thứ hai, Hồ Hùng Văn, là sinh viên năm thứ ba Luật Khoa Sài gòn. Năm 1967 Văn được bầu làm Tổng Thư ký Ban Chấp hành Sinh viên Luật khoa, do Nguyễn Đăng Trừng làm Chủ tịch và Trịnh Đình Ban làm Phó Chủ tịch.
Tháng 6-68, Văn được kết nạp vào tổ võ trang tuyên truyền của Chín.
Văn đã nhiều lần móc nối các sinh viên học sinh để xây dựng công tác, cùng thực hiện công tác rải truyền đơn, treo cờ v.v…
Vân bị bắt ngày 13-9-68 tại nhà.
Trước Tòa, 2 bị can nhận các hoạt động trên và khước từ lời biện hộ của Luật sư.
Tòa đã xác nhận tội trạng của 2 bị can và tuyên phạt với bản án như trên.
Phiên tòa chiều nay họp tại Pháp đình Saigon, đường Công Lý, do Đại Tá Trần văn Quyền ngồi ghế Chánh thẩm và Đại úy Trương thanh Kiều ngồi ghế Ủy viên Chánh phủ.
#Chính Luận Feb. 26, 1969 trang nhất
(Bài 004) Vụ Thích Thiện Minh bị bắt #Chính Luận Feb. 26, 1969 trang nhất
Tổng Nha Cảnh Sát Họp Báo Cho Biết: Nhờ Biết Trước Kế Hoạch Của Dịch 12 Tiếng Đồng Hồ Trước Khi Tiếng Súng Đầu Nổ
Phá Vỡ Mưu Toan Tổng Công Kích Đô Thành Đợt 4
BẮT SỐNG 32 ĐẶC CÔNG QUYẾT TỬ CỘNG SẢN.
«CỌP CÁI» QUẬN 6 ĐÃ BỊ SA BẪY, ĐANG TRUY LÙNG CÁC «CỌP CÁI» KHÁC Ở CHOLON
►Bắt Giữ Thượng Toạ Thiện Minh Vì «Khám Phá Thấy Nhiều Tài Liệu Cộng Sản Và 1 Căn Phòng Bí Mật Tại Cư Xá 294 Công Lý Do Thượng Toạ Làm Quản Đốc.»
►Phá Tan Một Tổ Chức Võ Trang Tuyên Truyền Cộng Sản Ở Đường Trương Minh Giảng, Bắt 11 Sinh Viên Với Nhiều Súng Đạn, Chất Nổ
by Duy Sinh
Saigon 25-2 – Đại tá Trần Văn Hai, Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, nhân dịp chủ toạ cuộc họp báo quan trọng sáng nay, cho biết mục đích họp báo là nhằm trình bày trước dư luận trong và ngoài nước những nỗ lực không ngừng và thành quả của ngành Cảnh Sát trong việc phá vỡ các tổ chức khủng bố, tấn công, xách động của Cộng sản trong thời gian gần đây. Chi tiết các thành quả đã được Thiếu Tá Nguyễn Mâu, Phụ Tá Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia Đặc Trách Cảnh Sát Đặc Biệt, Và Thẩm Phán Trang Sĩ Tấn, Giám Đốc Nha Cảnh Sát Đô Thành lần lượt trình bày.
Mưu Toan Tổng Công Kích Đợt 4
Trước hết, Thiếu Tá Nguyễn Mâu trình bày vụ tiêu diệt toàn bộ chỉ huy quận 6 của Việt cộng, thành phần nòng cốt của mưu toan tổng công kích đợt 4.
Do việc khai thác cung từ, tài liệu, Cảnh Sát Đặc Biệt khám phá ra công thức X 4 ngày J + 7 giải thích công thức cho thấy địch mưu toan tấn công Đô thành vào ngày 22 với chiến thuật tiền pháo hậu xung (pháo kích trước, xung phong phá hoại sau) sau đó sẽ xách động đấu tranh chính trị, phá nhà đèn, khủng bố ám sát, đặt chất nổ tối đa mà nỗ lực quan trọng nhất là nhằm vào quận 6. Nhờ có mật báo, Cảnh Sát Quốc Gia biết trước kế hoạch của địch 12 tiếng đồng hồ trước tiếng súng đầu tiên, nên đã kịp thời theo dõi khám phá, bao vây tiêu diệt toàn bộ chỉ huy của địch ở quận 6 (đặt tại số 314/6 đường Lò Siêu) bắt sống tại chỗ 43 tên đặc công quyết tử trong số đó có tên Nguyễn v. Thành tự Năm Tiến, bí thư thường uỷ được coi như quận trưởng quận 6 của Việt cộng. Chính Năm Tiến đã hợp tác trong các kế hoạch phản tình báo và hiện được coi như sĩ quan cao cấp hồi chánh.
Cọp Cái Bay Bướm
Thiếu Tá Nguyễn Mâu đem trình diện trước báo chí một nữ đặc công VC có biệt tài xử dụng súng K-54 và lái xe Honda rất tài tình bay bướm. Nữ đặc công này, tên Tăng thị Hoa, là một trong những con cọp cái hung thần của tổ chức đặc công VC quyết tử quận 6, hiện Tăng thị Hoa đang hợp tác với Cảnh sát để truy nã các con cọp cái khác tại Cholon. Cảnh Sát Đặc Biệt đã tịch thâu tại bộ chỉ huy này toàn bộ võ khí gồm 21 súng K-54, 8 AK-47, 2 Carbine, một số chất nổ khổng lồ C4 gồm 150 hộp chất nổ đủ loại. Vụ phá vỡ này khiến an ninh tại Cholon yên tịnh ít nhứt 1 tháng trước khi địch có thời giờ củng cố cơ sở.
Vụ Bắt Giữ Thượng toạ Thích Thiện Minh
Thẩm Phán Trang Sĩ Tấn, Giám Đốc Nha Cảnh Sát Đô Thành trình bày cặn kẽ vụ lục soát Cư Xá 294 Công Lý do tu sĩ Đỗ Xuân Hàng tức Thượng toạ Thích Thiện Minh làm Quản đốc.
Do việc bắt giữ tên Cao Duy Tuấn, bí thư chi bộ Cộng sản, theo cung từ, y đặt trụ sở tại Cư Xá 294 Công Lý nên vào hồi 2 giờ 30 đêm 23-2-1969, Cảnh Sát Đô Thành đã khám xét Cư Xá này theo đúng luật lệ hiện hành. Tại đây, Cảnh Sát tịch thâu 1 súng lục Trung cộng K-54 cùng nhiều tài liệu Cộng sản trong phòng A7 (phòng của Cao Duy Tuấn). Ngoài ra, Cảnh Sát còn bắt được nhiều thư chúc Tết của Hồ chí Minh, 3 mẫu thư được mang ra trình diện trong đó thư chúc Tết ký tên Hồ chí Minh với các câu như: - Năm qua thắng lợi vẻ vang, Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to. Vì độc lập vì tự do. Đánh cho Mỹ cút đánh cho nguỵ nhào. . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Tại phòng Thượng toạ Thiện Minh, Cảnh Sát đã bắt giữ 8 thanh niên bất phục tùng, đào ngũ, hoạt động cho Cộng sản.
Ông Tấn cho biết, Cảnh Sát còn tìm thấy một chiếc tủ có 2 đáy với cánh cửa ăn thông vào một căn phòng bí mật, mà nhu cầu điều tra chưa cho phép công bố những gì đã tìm thấy trong căn phòng này.
Tại Cư Xá 294, Cảnh Sát còn bắt giữ một số thanh niên bất phục tùng, không giấy tờ chứng minh, trốn trong các phòng tắm, mái nhà Cư Xá.
Quan trọng hơn cả, Cảnh Sát đã tìm thấy một lá thư do Thượng toạ Thiện Minh gửi cho một tu sĩ khác xác nhận tại Cư Xá này có cất giấu chất nổ, võ khí, tài liệu Cộng sản, và cất giấu thanh niên bất phục tùng, đào binh.
Đáp câu hỏi về số phận Thượng toạ Thiện Minh, ông Nguyễn Thạch Vân, Phụ tá Đặc biệt Phủ Thủ tướng cho biết, hiện Thượng toạ Thiện Minh được tạm lưu giữ tại mợt cơ quan an ninh và được cư xử rất tương xứng. Thượng toạ bị lưu giữ để trả lời về trách nhiệm hiểu biết – liên hệ giữa ông và tổ chức Cộng sản tại Cư Xá 294 Công Lý mà cơ quan an ninh vừa bắt giữ. Cuộc điều tra đang tiến hành. Nếu xét có tội thì việc đó thuộc thẩm quyền của cơ cấu Tư pháp còn Cảnh Sát chỉ có nhiệm vụ điều tra.
Nhân dịp này, ông Tấn xác nhận rằng, chỉ có một mình Thượng toạ Thiện Minh bị bắt giữ, ngoài ra không có một tu sĩ nào khác bị câu lưu.
Thẩm Phán Trang Sĩ Tấn cũng trình bày thành quả phá vỡ Tổ chức Võ trang Tuyên truyền Cộng sản tại đường Trương Minh Giảng, bắt giữ 11 sinh viên, 2 súng K-54, 200 viên đạn, 10 bánh thuốc nổ và một số ống loa.
Cảnh Sát Đô Thành đã đem trình diện sinh viên Phạm mạnh Hùng bị bắt quả tang trong khi dùng 20 lit xăng toan đốt chợ Bến Thành đêm 29 Tết, cùng tổ chức thả bong bóng truyền đơn tại Cửa Tây chợ Bến Thành. Ngoài ra còn phá vỡ tổ đặc công tại quận 4, bắt 4 đặc công, 3 kg TNT, 1 máy đánh chữ, 3 đồng hồ gài mìn.
Cuối cùng, Thẩm Phán Trang Sĩ Tấn kết luận rằng, những thành quả vừa trình bày chứng tỏ sự cố gắng tối đa, liên tục của Cảnh Sát Quốc Gia trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho các sinh hoạt chính trị quốc gia đồng thời đập tan mọi mưu toan phá hoại, tấn công, xách động quần chúng … của Cộng sản.
Trả lời Báo chí
Đáp câu hỏi của Chính Luận rằng những thành quả vừa trình bày có đủ khả năng đập tan mưu toan tấn công đợt 4 của Cộng sản không, và trong những ngày tới Cộng sản còn có thể tái diễn những vụ tấn công pháo kích không, Đại tá Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia cho biết, việc địch có khả năng tấn công Đô thành thuộc phạm vi của Thiếu tướng Tổng Trấn, riêng về phạm vi của Cảnh Sát, ông đoan chắc sẽ tiếp tục duy trì những thành quả đã thâu lượm được và quyết tâm phá tan mọi mưu toan phá hoại, khủng bố ám sát của Cộng sản để giữ an ninh cho đòng bào.
Thành phần chủ toạ cuộc họp báo cũng đã không tiết lộ con số sinh viên, thanh niên bị bắt tại Cư Xá 294 Công Lý mà chỉ cho biết có một số bị giữ và một số đã được trả tự do.
Trả lời những câu hỏi rằng, việc bắt giữ Thượng toạ Thiện Minh có ảnh hưởng gì tới Phật giáo hay không, ông Nguyễn Thạch Vân nói rằng cuộc điều tra chỉ hướng vào các tổ chức Cộng sản và những người liên hệ. Luật pháp được áp dụng đồng đều cho mọi công dân trong nước và quan niệm Pháp trị là nền tảng của Chế độ Pháp trị.
—⚜—
Tin tức trên sách Niên Ký “Việc Từng Ngày 1969” của Đoàn Thêm, cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, Saigon 1971
✑ trang 93
── Ngày 15-3-1969, Toà án Quân sự Lưu động Vùng III tuyên phạt: 10 năm khổ sai thượng toạ Thích Thiện Minh tức Đỗ Xuân Hàng; từ 3 năm tù ở đến 20 năm khổ sai 8 sinh viên bị bắt tại Cư xá Quảng Đức, Cư xá này bị tịch thu.
✑ trang 94
── Ngày 16-3-1969 lễ cầu nguyện tại chùa Ấn Quang Saigon, cho thượng toạ Thích Thiện Minh. Trong cuộc họp báo sau buổi lễ, thượng toạ Thích Trí Quang tuyên bố: người Mỹ phải chịu trách nhiệm về vụ án Thích Thiện Minh.
✑ trang 95
── Ngày 17-3-1969 Toà án Quân sự Mặt trận Vùng III tuyên phạt: 5 năm cấm cố thượng toạ Thích Thiện Minh tức Đỗ Xuân Hàng vì tội tán trợ đào binh; từ 2 năm tù ở đến 5 năm cấm cố 3 đào binh ngụ tại Cư xá Quảng Đức; Thượng toạ Thiện Minh chỉ phải chịu hình phạt nặng nhứt là 10 năm khổ sai do Toà án Quân sự tuyên phạt hôm 15-3 vừa qua.
── Theo một Văn thư gởi Thủ tướng [ Trần Văn Hương ], Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho phép giam giữ thượng toạ Thiện Minh tại một cơ sở riêng có đủ tiện nghi để điều trị và hành lễ.
✑ trang 173
── Ngày 24-5-1969: [ Thủ tướng Trần Văn Hương ] ký sắc lệnh hoán giảm còn 3 năm tù cho hình phạt 10 năm khổ sai và 5 năm cấm cố của Đỗ Xuân Hàng, pháp danh Thích Thiện Minh, sinh năm 1921 tại Quảng Trị (SL. 189/TT/SL)
—⚜—
#Tien Tuyen Oct. 31, 1969 trang nhất
#Tien Tuyen Oct. 31, 1969 trang nhất
Cùng với 310 can nhân được ân xá nhân dịp Quốc Khánh
T. Tọa THIỆN - MINH ĐÃ ĐƯỢC TRẢ TỰ DO SÁNG 30-10
★ Ông cho biết được đối xử tử tế và không hề bị đầu độc ★ Trước khi về chùa, Thượng Tọa được mời đến gặp Trung tướng Nguyễn Văn Minh
SAIGON 30-10 (VTX).— Thượng Tọa Thích Thiện Minh tức tu sĩ Đỗ xuân Hàng đã được phóng thích sáng 30-10.
Trong cuộc tiếp xúc với các đại diện báo chí tại doanh trại Tiểu đoàn 6 Quân Cảnh thuộc Trại Lê Văn Duyệt, Thượng Tọa Thiện Minh cho biết ông được tin chánh phủ phóng thích ông từ 21 giờ tối 29-10, và trong suốt thời gian bị giam giữ ở đây thượng tọa được đối xử một cách tử tế. Thượng Tọa Thiện Minh nói rõ «tôi được phép dạo quanh cửa nhà giam giữ này và được thân nhân thăm hỏi một tuần hai lần như chính phủ đã cho phép trước đây.»
Trước khi rời căn nhà giam gồm có đủ bàn thờ phật, phòng tiếp khách và một phòng ngủ hẹp, Thượng tọa Thiện Minh đã cải chính dư luận cho rằng ông bị đầu độc nên phải đi điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Ông nói rõ rằng “Tôi không tin có sự đầu độc tôi”.
Thượng tọa Thiện Minh cho biết hiện tại sức khỏe của ông rất yếu kém và phải tĩnh dưỡng một thời gian. Về các hoạt động trong những ngày tới Thượng Tọa Thiện Minh nói: “Tôi chưa có ý định gì”. Thượng tọa nói tiếp: “Tôi chưa biết Viện Hóa Đạo (Ấn Quang) có giao cho tôi trách nhiệm gì trong những ngày tới không ?”
Được hỏi về việc sẽ trở về chùa nào, Thượng Tọa Thiện Minh nói rằng «tùy ở đây muốn đưa tôi về đâu cũng được.»
Thiếu tá Nguyễn Khắc Chiểu Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu đoàn 6 Quân Cảnh đã nói với báo chí rằng “Chúng tôi nhận lệnh phóng thích Thượng Tọa từ sáng sớm, nhưng giấy tờ do Nha Quân Pháp chuyển tới lúc 10 giờ. Về giờ ra khỏi trại giam thì do Thượng Tọa Thiện Minh tự ấn định.
Cuối cùng, Thượng Tọa Thiện Minh đã yêu cầu đại diện báo chí chuyển lời cảm ơn đồng bào phật tử quốc nội và quốc ngoại đã lưu tâm đến tình trạng của ông. Thượng Tọa Thiện Minh cũng cho hay rằng sáng 30-10 Đại Đức Nhật Thiện đã tới thăm viếng ông.
Tới 11 giờ 30 sau khi tiếp xúc với báo chí Thượng Tọa Thiện Minh đã được mời lên một xe Jeep của Quân Cảnh. Theo lời sĩ quan báo chí Bộ Quốc Phòng cho biết Thượng Tọa Thiện Minh được mời đi gặp Trung Tướng Nguyễn văn Minh, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô trước khi rời khỏi trại Lê Văn Duyệt.
Tưởng cũng nên nhắc lại là Thượng Tọa Thiện Minh được phóng thích trong khuôn khổ cuộc ân xá 310 can nhân nhân dịp Lễ Quốc Khánh năm nay theo Sắc lệnh số 612 và 613 của Tổng thống ký ngày 29-10-1969.
LTC: Thích Thiện Minh không một lời cảm ơn chánh phủ đã đại xá cho mình: bản án 10 năm tù, rốt cuộc chỉ ở tù chưa tới 1 năm! Nhiều anh em bạn hữu của tôi khi đọc tới bản tin này, phần lớn đều ngạc nhiên tột độ khi thấy Chánh quyền Quốc gia đã quá sức nhân từ nhân ái, đã dành cho các tôn giáo một sự biệt đãi quá lớn. Các anh em nhận xét: nuông chìu quá hóa hư! Ngẫm lại, tôi thấy lời nhận xét hết sức chí lý!
Đại lễ cầu nguyện quốc thái dân an nhân ngày Quốc Khánh tại Việt Nam Quốc Tự
SAIGON 30-10. — Theo một thông cáo của văn phòng Viện Hóa Đạo, để kỷ niệm ngày Quốc Khánh 01-11-1963 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất sẽ tổ chức đại lễ cầu nguyện cho quốc thái dân an vào hồi 16 giờ, ngày 01-11-1963 tại Việt Nam Quốc Tự, 16 Trần Quốc Toản, Saigon.
Đại lễ được đặt dưới quyền chủ tọa của Thủ tướng Chánh phủ VNCH { Trần Thiện Khiêm }. [ Thủ tướng, cụ Trần Văn Hương, thoái vị ngày 23-8-1969. Ngày 23-8-1969: Đại tướng Trần Thiện Khiêm được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ định thành lập nội các mới. Ngày 1-9-1969: Nội Các Trần Thiện Khiêm trình diện. ]
Thông cáo cũng kêu gọi chư tôn Hòa Thượng, Thượng tọa Đại Đức Tăng, Ni cùng đồng bào Phật tử các Giáo phái, Hội đoàn trong 11 Quận Đô Thành và Gia Định, hoan hỷ quang lâm Việt Nam Quốc Tự đúng 16 giờ, ngày 1-11-69 kể trên để cùng chung cầu nguyện cho đất nước Việt Nam sớm được hòa bình an lạc.
Đồng thời Viện cũng yêu cầu quý Thượng Tọa các cấp Giáo Hội trên toàn quốc và Nha Tuyên úy Phật giáo nên tổ chức lễ kỷ niệm này một cách trọng thể để tưởng nhớ công đức hy sinh cao cả của cố Hòa thượng Thích Quảng Đức và Chư Thánh Tử Đạo, các chiến sĩ cùng đồng bào đã hy sinh cho đại nghĩa Quốc gia và Đạo Pháp.
──✿──
LTC phụ chú:
A - Thích Thiện Minh (1921 – 1978) | Thích Trí Quang (1922 – 2019)
Đây là 2 thượng tọa Phật giáo được kể như 2 thủ lãnh xông xáo nhất của khối Phật giáo Ấn Quang trong mười năm từ 1965 đến 1975 tại VNCH, góp phần gây rối chánh quyền Quốc Gia và làm lợi cho CSBV.
Cả 2 nổi lên vào mùa Hè – tháng 5 – năm 1963 khi xách động phong trào Tranh đấu Phật giáo ồn náo ở Đài Phát thanh Huế, chống chính quyền Đệ I Cộng Hòa, Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Lúc này, Thiện Minh đang cầm đầu Ngành Thiếu Gia Đình Phật Tử [ * ] và vai vế còn nằm dưới Trí Quang. Nếu Trí Quang là một tay thuật sĩ về đầu óc của phe Phật giáo Tranh đấu thì Thiện Minh là một thủ túc của Trí Quang với chiến thuật dày kinh nghiệm. Khi cuộc biểu tình của Phật giáo khởi sự vào tháng 5-1963, Thiện Minh lập tức dùng Ngành Thiếu của mình để làm sôi thêm lửa nóng cho sinh viên học sinh. Giới Sinh viên đại học và học sinh trung học vốn xưa nay vẫn không để ý chính trị thì bây giờ được xúi giục xuống đường. Các nhóm biểu tình lập ra tại từng trường trong các trường đại học lớn ở Huế và Saigon.
Sau vụ đảo chánh lật đổ chế độ Đệ I Cộng Hòa ngày 1-11-1963, 2 thủ lãnh Thiện Minh và Trí Quang của phe Phật giáo Tranh đấu như ngôi sao xẹt bốc lên chín tầng mây và nghiễm nhiên biến thành một thế lực chính trị, thậm chí trở thành một thứ siêu chính quyền. Và ở đây, ta thấy lẽ Vô Thường của nhà Phật hiện lên rõ ràng. Giống như bất kỳ một tổ chức chính trị nào trên cõi đời ô trược này, trong hàng ngũ các đầu lãnh Phật giáo Tranh đấu bây giờ bắt đầu ngấm ngầm ló ra tình trạng chen vai thích cánh tranh dành ngôi thủ lãnh, làm xếp thiên hạ, cho dù bề ngoài thì vẫn mặc áo tràng vàng, đầu cạo trọc và luôn mồm nhân danh Đạo pháp.
Thời đoạn từ tháng 9-1966 trở về trước, giữa Thích Tâm Châu với Thích Trí Quang đã xảy diễn một mối bất bằng âm ỉ. Mối bất hòa đó ngày một phình to ra và tình trạng âm thầm tranh chấp giữa đôi bên trong lòng nội bộ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (PGVNTN) cũng ngày một tràn ra tung tóe hết còn giữ kín được nữa. Thời điểm Giáo hội PGVNTN bể làm hai có thể kể từ lúc Thích Tâm Châu quay về Sài Gòn vào đầu tháng 9-1966 (sau 2 tháng lánh mặt) giành lại Viện Hoá Đạo lúc này do Thích Thiện Hoa làm Quyền Viện Trưởng từ ngày 23-7-1966. Tâm Châu triệu tập một Đại Hội Phật giáo tổ chức từ ngày 21 đến 22 tháng 10-1966 tại Việt Nam Quốc Tự (viết tắt là VNQT hay có khi chỉ gọi là Quốc Tự), số 16 đường Trần Quốc Toản, Cholon. Lúc này, phe Thượng toạ vây cánh với Trí Quang bèn quay về chùa Ấn Quang (số 243 đường Sư Vạn Hạnh, Cholon) và tự bầu ra một Hội đồng Viện của riêng họ vào 3 giờ sáng ngày 23-10-1966. Kể từ đây, bỗng nhiên có 2 Viện Hoá Đạo: một thuộc Khối Việt Nam Quốc Tự - Thích Tâm Châu và một (tiếm danh) thuộc Khối Trí Quang (Ấn Quang). Phe Ấn Quang không hoặc ít dùng danh từ “Viện Hoá Đạo”, thay vào đó, thường là họ dùng danh từ “Viện Tăng Thống”. Khối Việt Nam Quốc Tự lặng lẽ hợp tác với chính quyền quốc gia, còn Khối Trí Quang thì chống. Sự chống đối của phe Ấn Quang nhắm vào Khối Việt Nam Quốc Tự - Thích Tâm Châu lên tới đỉnh điểm vào đầu tháng 5-1970 khi phe Ấn Quang kéo qua tấn công chiếm cứ VNQT gây cảnh hãi hùng mà báo giới đương thời gọi là Máu Đổ Cửa Thiền. Mời bạn đọc xem chi tiết nơi phân đoạn 9 của Post này.
Tết Nguyên Đán Mậu Thân nhằm ngày 29-1-1968, VC giả vờ giao ước hưu chiến 3 ngày để hai bên ăn Tết, nhưng đã thủ sẵn mưu hèn đánh trộm miền Nam ngay vào giờ Giao Thừa, gây nên thảm cảnh Máu Nhuộm Ngày Xuân, một tội ác của tập đoàn máu Cộng sản Hanoi vô tiền khoáng hậu trong lịch sử của nhân loại. Khi toàn dân miền Nam đang y phục chỉnh tề, nhang trầm nghi ngút, nghiêm trang hành lễ trước bàn thờ gia tiên đón giờ khắc thiêng liêng đầu năm mới thì VC đồng loạt khai hỏa tấn công 36 trong số 44 tỉnh miền Nam và 6 thị xã, cùng với 64 trong số 242 quận lỵ trên lãnh thổ VNCH. Riêng thủ đô Saigon, Việt cộng khởi sự tấn công vào đêm mồng 1 Tết.
Sau đây là các mục tin tức (có liên hệ tới phần Phụ Chú này) ghi lại trên sách Niên Ký “Việc Từng Ngày 1968” của Đoàn Thêm, do cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, Saigon 1969:
✑ ngày 2-2-1968 tức Mồng Bốn Tết: Khu chùa Ấn Quang bị cháy. Có 2 trái hoả tiễn B-40 rơi trúng phòng Thượng toạ Thích Trí Quang làm 1 tướng và 1 tá VC bị tử thương: có tin hành doanh của VC đặt tại chùa này. – trang 43
✑ ngày 2-3-1968: Cảnh sát Quốc gia khám phá 6 hầm bí mật trong phòng ngủ của các Sư ở Tịnh xá Giáo hội Tăng già Khất sĩ, đường Nguyễn Trung Trực, Gia Định – trang 81
✑ ngày 4-3-1968: Theo Tổng Nha Cảnh sát, Thượng toạ Thích Đôn Hậu (Khối Ấn Quang) đã đi theo VC từ ngày Huế bị đột nhập, và đã lên lời kêu gọi dân chúng hãy đi theo MTGP-mặt trận giặc phỉ- từ ngày 28-2 trên đài phát thanh VC – trang 82
(bạn đọc chú ý: sau cú tổng công kích đánh trộm vào giờ Giao Thừa Tết Mậu Thân bị thất bại ê chề, VC say máu mở tiếp một trận đánh thiêu thân đợt 2 từ ngày 5-5-1968 và lần này chúng bị Quân đội Quốc gia đánh trả đến tan tác. Miền Nam Quốc Gia chìm trong khói lửa chiến tranh ngay từ ngày đầu Xuân, cho nên các tờ báo lớn mà tôi đang có như Chính Luận, Tiền Tuyến, Hòa Bình … bị lâm vào tình trạng đình bản một cách tự nhiên. Chính Luận thì mãi tới ngày Aug. 19, 1968 mới tục bản, còn Tiền Tuyến thì tục bản vào đầu tháng 9-1968, Hòa Bình hoàn toàn không có số báo nào trong năm 1968. Vì thế, những tập sách Niên Ký của Đoàn Thêm là nguồn sử liệu vô cùng quý báu)
Ngày 22-2-1968 (nhằm ngày 25 Giêng Mậu Thân), Cảnh sát Đô thành bắt giữ Thích Trí Quang [ cùng với một vài chính khách khác có thiên hướng trung lập hoặc thân cộng như luật sư Trương Đình Dzu, và cựu Tổng Ủy Kinh tế Tài chánh (thời Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ 1965) Âu Trường Thanh ] đem đi giam lỏng một nơi cách biệt. Việc Trí Quang bị cô lập đã là cơ hội bằng vàng cho viên phó tướng hàng đầu của ông ta, Thích Thiện Minh, nghiễm nhiên trở thành thủ lãnh của đoàn Phật giáo Tranh đấu. Khi Trí Quang được thả ra vào ngày 30-6-1968, hai chiến hữu vốn thân thiết khi xưa, nay rục rịch kèn cựa nhau để giành quyền làm chủ đoàn Phật giáo Tranh đấu. Lúc này, Thích Thiện Minh là Phó Viện Tăng Thống/Hóa Đạo Ấn Quang kiêm Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ Thanh Niên Ấn Quang. Viện trưởng Viện Tăng Thống Ấn Quang là Thích Thiện Hoa. Tình trạng lục đục giữa Trí Quang với Thiện Minh bắt đầu từ đây.
Đến năm 1970, nội bộ Phật giáo rạn nứt trầm trọng có thể dẫn tới lại bể đôi. Lần này là ngay trong Khối Ấn Quang.
Ngày 7-9-1970, Thích Thiện Hoa, Viện trưởng Viện Tăng Thống/Hóa Đạo Ấn Quang đã bất đồng với Thích Huyền Quang Tổng Thư ký Viện Tăng Thống/Hóa Đạo Ấn Quang trong việc ủng hộ Liên danh nào trong cuộc bầu cử Bán phần Thượng Viện (diễn ra vào ngày ngày 30-8-1970) nên tự ý bỏ về quê (chùa Phước Hậu ở Trà Ôn, Vĩnh Long) nhiều ngày liền và đến ngày 14-9-1970 thì Thích Huyền Quang nắm quyền Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống/Hóa Đạo Ấn Quang. Cớ sự là, Thích Thiện Hoa ủng hộ một Liên danh có nhiều người miền Nam, còn Thích Huyền Quang thì ủng hộ Liên danh (số 11) dấu hiệu Hoa Sen do ông Vũ Văn Mẫu thụ ủy gồm nhiều người miền Trung. Kết quả bầu cử chính thức công bố vào ngày 14-9-1970: Liên danh Hoa Sen đắc cử (về nhất) với 1.149.597 phiếu. Vụ rạn nứt này không gàn gắn được. Sau đó, Thích Thiện Hoa ngỏ ý muốn từ chức Viện trưởng và Thích Huyền Quang vẫn giữ chức vụ Xử lý Thường vụ Viện trưởng. Ngày 23-1-1973, Thích Thiện Hoa từ trần tại nhà thương Grall Saigon vì bệnh cũ tái phát, thọ 55 tuổi, người chính thức lên chức Viện trưởng Viện Hóa đạo Ấn Quang là Thích Trí Thủ (đang giữ chức Tổng Vụ trưởng Tổng vụ Hoằng pháp Ấn Quang). Cũng ngày này, theo giờ Mỹ là ngày 22-1-1973, cựu Tổng thống Mỹ Johnson cũng từ trần tại Quân Y Viện Brooke vì bệnh tim, thọ 64 tuổi.
Ngày 15-6-1971, Thích Thiện Minh rút lui khỏi cả hai chức vụ Phó Viện Tăng Thống lẫn chức Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ Thanh Niên Ấn Quang. Theo các nguồn tin thân cận các đầu lãnh thượng tầng Khối Ấn Quang thì nguyên do khiến Thiện Minh làm đơn từ chức là vì sự bất đồng về việc ủng hộ liên danh tranh cử Hạ Nghị viện và Tổng thống [ cuộc bầu cử Hạ Viện sẽ diễn ra vào ngày 29-8-1971 và bầu cử Tổng thống diễn ra vào ngày 3-10-1971 ] giữa Thiện Minh với các chức sắc thượng tầng khác. Cũng theo nguồn tin nói trên, Thích Thiện Minh sẽ lập một phe nhóm khác, ban đầu là để tập trung vận động đưa người ra tranh cử vào Hạ Viện năm nay, cũng như có lập trường ủng hộ hay không cuộc bầu cử Tổng thống sắp tới, còn về sau thì chưa biết. Tuy nhiên, theo giới quan sát am hiểu tình hình thì Thích Thiện Minh và Thích Trí Quang kể như rã đám từ đây. Thiện Minh có ý muốn rút ra khỏi Khối Ấn Quang để hình thành một thế lực riêng của mình.
B – Thích Thiện Minh và PGVNTN chịu ơn Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng như thế nào?
Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng (1920 – 1970) [ xem Bài Đọc Thêm dưới đây ] là một trong những nhà đại phú bậc nhất Nam Việt Nam, mới về nước hồi tháng 11-1965 sau một năm xuất ngoại. Ông Nguyễn Cao Thăng là Tổng Giám Đốc Dược Viện “Office Pharmaceutique du Vietnam” (OPV), một viện Bào chế Dược phẩm bề thế của Việt Nam Cộng Hòa ( Nguyên OPV là một hãng dược phẩm của Pháp thành lập ở Huế hồi năm 1950 và Dược sĩ Thăng mua lại vào năm 1956. )
Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng đã hào phóng hiến đất xây cất Viện Đại học Vạn Hạnh (ở số 222 Trương Minh Giảng Saigon). Lễ đặt viên đá đầu tiên xây cất Viện Đại học Vạn Hạnh vào ngày 9-6-1965.
Ông cũng tài trợ kinh phí để dựng nên đạo tràng thuộc quyền Thích Thiện Minh [ xem phần C dưới đây ], thủ lãnh Ngành Thiếu Gia đình Phật tử Giáo hội PGVNTN.
C – Đạo tràng này là Cư Xá Quảng Đức, số 294 đường Công Lý Saigon, rất gần với chùa Vĩnh Nghiêm (339 Công Lý) thường gọi là Miền Vĩnh Nghiêm. Đây cũng là nơi đặt làm trụ sở Tổng Vụ Thanh Niên của Thượng toạ Thích Thiện Minh.
Sau khi miền Nam thất thủ, hàng Giáo phẩm cao cấp của Giáo Hội PGVNTN đều bị cộng sản bắt giam hoặc khống chế bằng lệnh miệng “cấm cố” trong đó có Thích Trí Quang.
Ngày 13-4-1978 Thích Thiện Minh bị cộng sản bắt giam nhiều tháng và rốt cuộc bị tra tấn đến chết tại Tổng Nha Cảnh Sát (cải danh thành Bộ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia kể từ 1971), số 266 đường Võ Tánh-quận Nhì Saigon, rồi đem xác ra Hàm Tân.
Ngày 18-10-1978, Thượng toạ Thích Trí Thủ (1909-1984), Viện Trưởng Viện Hoá Đạo (Viện Tăng Thống) PGVNTN Khối Ấn Quang từ năm 1970, đang trú ở chùa Quảng Hương Già Lam (số 498/11 Lê Quang Định, Gia Định) thì nhận được giấy báo tử của công an cộng sản báo tin Thích Thiện Minh đã chết tại Hàm Tân (tỉnh lỵ tỉnh Bình Tuy VNCH). Thượng toạ Trí Thủ cùng với vài môn đồ khăn gói đi ra Hàm Tân chỉ để đứng từ xa thi thể (đã được che đắp kỹ chỉ chừa ra khuôn mặt bị bầm tím và môi miệng bị dập đứt) mà nhận diện và xác nhận cái chết của Thích Thiện Minh trong giây lát, ngoài ra không được lại gần vuốt mắt hoặc cử hành bất cứ nghi thức an táng nào vì chính miệng cán bộ cộng sản nói Thích Thiện Minh là tù nhân do đó phải được trại giam đem chôn tại chỗ. Phái đoàn Thượng toạ Trí Thủ phải quay về và cho đến nay người ta vẫn không biết cộng sản đã chôn Thiện Minh ở đâu.
Cho đến ngày mãn phần 8-11-2019, Thích Trí Quang câm nín trước cái chết này, cũng như hoàn toàn im miệng từ 30-4-1975 trước hàng loạt vụ nhà nước cộng sản bách hại man rợ tàn khốc hàng giáo phẩm Giáo hội PGVNTN suốt mấy chục năm liền chưa thôi (gần nhất là vụ nhà nước Việt cộng vào ngày 8-9-2016, vì mưu đồ cướp đất đã công khai đập phá, san bằng Chùa Liên Trì (Trụ trì: Thượng tọa Thích Không Tánh, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Từ Thiện Giáo hội PGVNTN) toạ lạc tại khu Thủ Thiêm Xã An Khánh, Quận 9 Đô thành Saigon VNCH từ cuối thập niên 1950s.
Riêng Thích Trí Thủ, theo nguồn tin riêng hiếm hoi xì ra từ nội bộ Giáo hội PGVNTN, thì đã phải tự vẫn bằng chén thuốc độc tại Quảng Hương Già Lam ngày 02-4-1984, chưa đầy một tuần sau khi các vị sư cô Thích nữ Trí Hải, thượng tọa Thích Tuệ Sỹ và ông Lê mạnh Thát bị Cộng sản bắt giam.
Nguyên do Thích Trí Thủ phải tự vẫn là gì? Cho đến nay, không một chức sắc nào trong Giáo hội PGVNTN lên tiếng giải thích về việc này. Tương tự, Giáo hội PGVNTN hoàn toàn không phát ngôn gì về chặng hành trình lịch sử của Giáo hội trong giai đoạn 1964 - 1975 và sau 1975, từ những chức sắc đang còn ở trong nước cho chí người đang ở hải ngoại (ví dụ, Thích Nhất Hạnh, ở Pháp). Sự im lặng kỳ lạ này làm cho trang sử của Giáo hội PGVNTN bị chết ngang ở cột mốc năm 1964. Điều đó khiến ta không khỏi nhận thấy rằng, Giáo hội PGVNTN bị kẹt nặng không ăn nói gì được về quá trình hoạt động của họ từ 1965 - 1975 và từ 1975 đến nay (2025). Giả thử có chức sắc nào thuộc Giáo hội PGVNTN chịu nói ra hết sự thật giai đoạn từ 1965 - 1975 dưới chánh quyền quốc gia thì chỉ cho thấy hành trình của Giáo hội nầy toàn là một hành trình chính trị, xen lấn vào chính trị với những tham vọng quyền bính giả ảo chỉ tổ phá rối chánh quyền quốc gia, lén lút móc nối hoạt động ngầm cho Cộng sản, chớ hoàn toàn không có hoạt động hoằng dương Phật pháp lẽ ra phải là trọng trách chánh yếu của giới tăng lữ tu hành. Cũng vậy, nếu có chức sắc nào chịu kể ra hoạt động cuả Giáo hội PGVNTN giai đoạn sau tháng Tư Đen 1975 thì lại càng phơi bày rõ hơn cái vô minh, tà kiến, sai lầm của họ ở giai đoạn trước 1975, và tệ hơn, sẽ phơi ra trần trụi cái cốt thật của họ sau black April, họ hết còn vênh vang bề thế như dưới thời quốc gia, giờ đây những ông tăng quyền uy hợm mình ngày nào không những chịu bán mình cho quỷ, ngoan ngoãn khuất phục trước Cộng sản Hanoi mà còn tiếp tay cho chúng khai tử luôn Giáo hội PGVNTN vốn được chánh quyền quốc gia tôn trọng, cưng dưỡng, nhượng bộ, nuông chìu trong suốt mười năm thời Đệ II Cộng Hòa, như bạn đọc sẽ xem tiếp dưới đây việc khai tử Giáo hội PGVNTN:
Đầu năm 1973, Thích Trí Thủ lên thay Thích Thiện Hoa làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo Ấn Quang.
Khi Cộng sản âm mưu xóa tan GHPGVNTN vào năm 1980 bằng cái gọi là Thống Nhất Phật Giáo [ để thay vào đó là một hình rơm mới với tên gọi là "Giáo hội Phật giáo Việt Nam" (không có 2 chữ Thống Nhất) mà dân gian mỉa mai là Giáo hội Phật giáo QUỐC DOANH bởi vì Giáo hội này là một tổ chức hữu danh vô thực, hoàn toàn chịu sự điều khiển của Cộng sản dấu mặt đừng đằng sau ], thì Trí Thủ được làm Trưởng Ban Vận động thống nhất Phật giáo đó. Ban Vận động thống nhất Phật giáo này 'ra mắt' ngày 24-5-1980 tại Huế. Giáo hội Phật giáo QUỐC DOANH hình thành ngày 4-11-1981 tại Hanoi
Thích Trí Thủ là người đã có công lớn với Cộng sản Hanoi trong vụ Thống Nhất Phật Giáo hay nói đúng hơn là khai tử PGVNTN, xin xem Hồ sơ Thống Nhất Phật Giáo by Đỗ Trung Hiếu (1994) hay còn gọi là Bản tường trình Thống Nhất Phật Giáo. Đỗ Trung Hiếu là 1 cán bộ Cộng sản, được chỉ định thi hành việc liên lạc vận động thống nhất Phật giáo như thế này. Đến năm 1994, Hiếu phản tỉnh, liều mình tung ra 1 tài liệu 76 trang với tên gọi như vừa kể trên, gởi ra cho các tổ chức người Việt Quốc Gia hải ngoại. Đỗ Trung Hiếu lập tức bị bỏ tù 4, 5 năm. Sau khi ra tù Đỗ Trung Hiếu tiếp tục bị Cộng sản Hanoi trả thù với những cách thức mà chúng thường xài cho nạn nhân của chúng như, cô lập, quấy phá và gây cản trở, khó khăn trong mọi sinh hoạt của nạn nhân Đỗ Trung Hiếu. Đỗ Trung Hiếu lâm vào cảnh khốn cùng, bệnh hoạn và chết âm thầm trong một căn nhà xa xôi hẻo lánh ở vùng Cần Giờ, Saigon khoảng năm 2009, 2010.
[ * Ngành Thiếu Gia đình Phật tử: Là 1 trong 3 cấp Nam, Nữ Đoàn Sinh Gia đình Phật tử chia theo độ tuổi như sau:
- Ngành Đồng (còn gọi là Oanh Vũ): từ 6 đến 12 tuổi.
- Ngành Thiếu: từ 13 đến 18 tuổi.
- Ngành Thanh: từ 19 tuổi trở lên.
————— ୨୧ —————
#Chinh Luan Dec. 9, 1970 trang ba
(Bài 005 a) Phụ Tá Nguyễn Cao Thăng đã từ trần
Ngày 8-12-1970, Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng từ trần trên bầu trời Ấn Độ khi ông đang ngồi trên phi cơ, chuyến bay từ Mỹ về Việt Nam, sau một thời gian điều trị bệnh ung thư ở Mỹ không có kết quả. Cùng đi trong chuyến bay này còn có Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, trở về Saigon sau chuyến công du Hoa Kỳ 3 tuần.
Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng là nhà Mạnh Thường Quân chủ lực của Trung tướng Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia Nguyễn Văn Thiệu từ thời 1965, và sau khi Tướng Thiệu đắc cử Tổng thống VNCH vào tháng 10-1967, ông là Phụ Tá đặc biệt của Tổng thống, đặc trách các cơ quan hiến định của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, và giữ một vai trò mắt xích trọng yếu cho Tổng Thống trong công vụ liên lạc với Quốc Hội lẫn phe Phật giáo.
Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng, quê quán Dương Lộc, tỉnh Quảng Trị, hưởng dương 50 tuổi, là một khuôn mặt lớn của chế độ Đệ II Cộng Hòa, là người trợ giúp rất đắc lực cho Tổng thống Thiệu. Có thể nói, mất đi ông Phụ Tá Nguyễn Cao Thăng, Tổng thống Thiệu như mất đi một cánh tay phải.
──✿──
Bài Đọc Thêm
#Tien Tuyen Dec. 11, 1970 trang hai
(Bài 005 b) Ông Nguyễn Cao Thăng
by Ký Giả Lô Răng
Ông Nguyễn Cao Thăng đã chết. Trong chuyến trở về để nhìn thấy quê hương lần cuối, ông đã tắt thở ngay trên phi cơ. Ai cũng biết là bệnh ung thư là bất trị, nhưng đối với một người như ông Nguyễn Cao Thăng, giàu tỉ phú, ông nằm ngồi trên đống thuốc, không ai tin là ông từ giã cuộc đời mau như vậy.
⚫ Còn nhớ trước khi ông đi (vào khoảng đầu năm nay) ông còn đưa ra một lời tuyên bố rùng rợn “Người Mỹ phải chịu trách nhiệm về cuộc tấn công Tết Mậu Thân”. Xưa nay ông Nguyễn Cao Thăng vẫn là một người kín tiếng. Ông làm chính trị hậu trường, ít khi ông ra tiền diện nên lời tuyên bố của ông có một tiếng vang trong nước cũng như ngoài nước. Nhất là lúc đó ông vẫn còn là Phụ tá Đặc biệt cho Tổng Thống Thiệu. Một giả thuyết đã được nêu ra là ông Thăng đi kỳ này là để làm một công tác “tiền bầu cử”, cho cả Tòa Bạch Ốc lẫn Dinh Độc Lập. Nêu lại vấn đề CS tấn công khơi khơi đầu năm con Khỉ, khi quân Mỹ đang ở VN trên nửa triệu người, khi đình chiến 3 ngày Tết đã được chấp thuận, tức là cố ý gán trách nhiệm cho chính phủ Johnson... Đảng Dân Chủ, theo lịch sử Hoa Kỳ thì chỉ có ngừng chiến chứ không tuyên chiến. Ông Johnson đã đi ngược lại truyền thống ấy và tham gia cuộc chiến VN càng ngày càng nặng. Đến một lúc nào đó ông muốn rút chân ra, cuộc tấn công Mậu Thân của CS có thể là một nước “chạy làng” của chính quyền Dân chủ, nhưng nhờ nước An Nam chưa đến hồi mạt, nhờ dân giác ngộ, nhờ lính đánh tốt nên cái dự mưu kia không thành. Trong lúc thế giới tưởng rằng Nam VN mất đến nơi, thì đất nước này vẫn gượng dậy, đứng lên và trái với mọi điều dự đoán, cái thế của VNCH lại càng ngày càng được củng cố. Dù muốn dù không, thế giới phải ghi một điểm son cho QLVNCH, cho chính quyền hiện hữu. Thành ra chỉ một lời tuyên bố của ông Nguyễn Cao Thăng, mà đảng Cộng Hòa của ông Nixon có điểm, mà dinh Độc Lập của ta cũng có phần sáng giá.
⚫ Sự khôn ngoan thường lệ của ông Dược Sư họ Nguyễn đã khiến cho giả thuyết kia được phóng đi. Đến nay ông đã nhắm mắt lìa đời. Dù giả thuyết ấy không hoàn toàn được minh chứng nhưng ít ra nó cũng là một công tác cuối cùng của ông phục vụ cho Dinh Độc Lập.
⚫ Ở trong nước, ông được nói đến nhiều nhất dưới danh hiệu Ô. Pê Vê (tên tắt Công ty Dược phẩm của ông). Ông là một “ông anh chi tiền” cho một số khá lớn những nhà dân biểu, cho nên không lấy làm lạ khi tin ông mất đến Hạ Viện đã có một sự xúc động bàng hoàng. Sự xúc động này chắc chắn là thật sự, phát ra tự tâm can, không phải là “diễn xuất”, cả những nhà dân biểu thân cũng như chống chính quyền. Bởi vì dù thân hay chống thì các nhà dân biểu này cũng đều hơn một lần tiếp xúc với ông Phụ tá Nguyễn Cao Thăng... Từ khi ông Dược Sư ra đi đến nay, khá đông các nhà DB đã rách bươm ra trông thấy. Họ mong ông sớm trở về. Nhưng ông không tới hậu trường Hạ Viện mà đi luôn sang thế giới bên kia. Oh! le bon vieux temps s’est passé... [ Ôi, những ngày xưa thân ái nay còn đâu … ]
⚫ Nhìn vào tiểu sử của ông Nguyễn Cao Thăng, ai cũng phải nhận ông là người khôn khéo và thành công mỹ mãn ở đời. Ở hậu phương về, đang học dở dang, ông được giáo sư Huard nâng đỡ nên tốt nghiệp dược sĩ rất mau. Khi có văn bằng rồi (một thứ văn bằng hái ra tiền ở đất nước An Nam) ông làm hơn người khác và ngay trước năm 1960, ông đã trở thành tỉ phú rồi. Thời Đệ I Cộng Hòa ông đã là dân biểu, thời cách mạng và hậu cách mạng ông chỉ bị lôi thôi qua quít, vẫn yên tâm làm giàu, thời Đệ II Cộng Hòa thì ông lại càng sang trọng, càng nhiều tiền hơn nữa. Ông trở thành Thạch Sùng, Vương Khải của thời đại ngày nay. Ông lại còn thành công cả về đường tình ái. Phu nhân của ông vốn là hoa khôi trường Đồng Khánh, và ông lại còn có diễm phúc “hoa thơm đánh cả cụm” đem về trồng trong nhà...
⚫ Buồn thay, sự khôn ngoan tính toán của ông cũng không tránh nổi cái số. Đang ở tuyệt đỉnh giàu sang, quyền quý thì ông lìa trần. Theo Tây phương, tuổi 50 đang là tuổi phương cương của trí óc và thân thể. Theo Đông phương thì ngũ thập tri thiên mệnh, đó là cái lúc biết mệnh trời... Biết mệnh trời thì hoặc là tiến thêm trên con đường danh lợi, hoặc là lui về ở ẩn theo kiểu Nguyễn Công Trứ “theo sau... một đôi dì, bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” 1 . Ông chưa kịp hưởng nhàn chưa kịp tri thiên mệnh thì ông đã buông tay nhắm mắt. Than ôi! buồn cho ông mà lại tiếc cho ông!!...
Ký giả LÔ RĂNG
1: Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng
(trích Bài Ca Ngất Ngưởng - Hát Nói của Nguyễn Công Trứ)
$pageOut $pageIn Phân đoạn 5
#Tien Tuyen Feb. 24, 1971 trang ba
(Bài 006) Đạo Binh Thứ 5 #Tien Tuyen Feb. 24, 1971 trang ba
(Bài 006) Đạo Binh Thứ 5
by Kẹo Đồng (chuyên mục PHƠ, trang ba)
TRONG cái rét căm căm của thời tiết Hạ Lào, giữa một chiến trường chỉ gồm có rừng núi hoang vu mà lương thực chỉ còn cách trông cậy vào sự tiếp tế, các chiến sĩ anh dũng của ta vẫn đương đầu một cách oai hùng trước hỏa lực tấn công ác liệt của địch.
3 ngày ròng rã chiến đấu trong vòng vây và các đợt xung phong điên cuồng của Cộng quân, các chiến sĩ anh hùng của ta đã đổi mạng mình lấy 10 mạng địch. Sự chênh lệch của cuộc so tài đã thấy rõ: căn cứ của đơn vị ta chưa đầy đủ hệ thống phòng thủ kiên cố thì địch đã lợi dụng địa thế mang quân số đông gấp bội đến tấn công với đủ các loại súng, kể cả chiến xa, và còn được hỏa lực phòng không mạnh mẽ yểm trợ để ngăn chặn viện binh và Không lực can thiệp.
Một trận đánh kết thúc, nhưng chiến tranh chưa chấm dứt.
Địch muốn thăm dò phản ứng của ta hay muốn ra tay thị oai trước? Dù sao lối đánh của địch cũng đã được phơi bày phần nào. Với 2 võ sĩ thượng đài "quyết ăn thua đủ", việc một bên ra tay trước chỉ có lợi nhỏ nhưng sẽ tai hại lớn về sau.
"Trận đấu vẫn khởi đi trong sự dò dẫm của đôi bên”, đúng như các nhà phê thuật bóng tròn thường viết. Mặt trận Hạ Lào càng sôi động và ác liệt, các chiến sĩ của ta ở đó lại càng có dịp vẽ lên những hình ảnh oai dũng trong lòng mọi người.
Nhưng... khói lửa vùng Hạ Lào chỉ phủ kín các trang báo, còn mùi thuốc súng và máu không bay về được thủ đô. Cho nên có còn những kẻ phè phởn ở đây, đã được ăn ngon, được nốc rượu mạnh, lại còn dùng lời riễu cợt phỉ báng tập thể đông đảo chiến sĩ đang vùng lên ở khắp mọi chiến trường để đánh Cộng sản xâm lăng những đòn ác liệt hầu kết thúc cuộc chiến.
Khi Quân lực ta vừa vượt biên giới Lào - Việt, chính họ đã lo ngại cho sự sống còn của Cộng quân mà lớn tiếng phản đối. Giờ đây, khi địch tấn công ác liệt quân ta thì họ lên tiếng mỉa mai, riễu cợt. Đó chính là "đạo binh thứ 5" của giặc, bọn người đâm sau lưng chiến sĩ.
Đó là những quả mìn nổ đúng theo giờ đồng hồ. Vì họ đã hành động rất ăn khớp với tất cả mọi hành động của giặc.
—⚜—
LTC chú thích: Các bài trên (trang ba báo Tiền Tuyến) chuyên mục Phơ by Kẹo Đồng là những giòng xã thuyết nhận định, phân tích ... rất là sáng suốt và có giá trị làm sáng tỏ cục diện/hiện tình đất nước như một thiên chính luận chính thức của báo Tiền Tuyến, có thể do chính vị Chủ nhiệm, Trung tá Phạm Xuân Ninh (tức thi sĩ Hà Thượng Nhân) chấp bút (?), mà cho tới nay, sau hơn nửa thế kỷ, các nhận định, phân tích đó vẫn còn nguyên giá trị. [ mục PHƠ của Tiền Tuyến có dáng dấp tương tự như mục Ý KIẾN của nhựt báo Chính Luận — đăng trên trang nhất — (có lẽ) do Bác sĩ Chủ bút Đặng Văn Sung viết?! ]
#Chinh Luan Dec. 12, 1970 trang hai
(Bài 007) DIỄN ĐÀN: VÌ DÂN TỘC HAY KHÔNG by Vĩnh Nam (viết về group Nguyễn Ngọc Lan) (kỳ 01)
#Chinh Luan Dec. 12, 1970 trang hai
(Bài 007) DIỄN ĐÀN: VÌ DÂN TỘC HAY KHÔNG by Vĩnh Nam (viết về Nguyễn Ngọc Lan Group) (kỳ 01)
Linh-mục Nguyễn-Ngọc-Lan và các đồng-chí của ông mấy năm nay nổi bật hẳn lên trên mặt trận tư tưởng. Dù muốn dù không, dù đồng ý hay phản đối, người đọc cũng phải một lần tìm xem quan điểm của nhóm Nguyễn-Ngọc-Lan là thế nào.
Về quan điểm ấy, mỗi người phê phán một cách. Nhiều người cho nhóm Nguyễn-Ngọc-Lan nếu không phải là Cộng sản thì ít nhất cũng là những kẻ nối giáo cho giặc. Họ không dám nói nhóm ấy chủ trương nối giáo cho giặc, nhưng rõ ràng những sản phẩm của nhóm ấy đã mang lại hậu quả làm lợi cho địch rất nhiều. Vậy thì việc nối giáo cho giặc ở đây phải hiểu là một hành động ngay tình, vô ý.
Bởi vì họ rất tin tưởng ở lập trường của linh-mục Nguyễn-Ngọc-Lan, một linh mục trẻ, nhiệt tâm, có kiến thức và có thể nói là gương mẫu cho một cuộc sống tu trì đúng nghĩa... Một con người đạo đức và kiến thức song toàn như thế, không thể nào theo Cộng sản được, càng không bao giờ có thể nối giáo cho giặc. Tuy nhiên người ta vẫn có thể nối giáo cho giặc một cách vô tình và nhóm Nguyễn-Ngọc-Lan là một trong những người ấy!
Có người lại phê phán nhóm Ng.Ngọc-Lan mắc cái tật muốn được mọi người lưu ý, muốn làm những nhân vật anh hùng. Họ cũng bảo nhóm này hợm mình, muốn vượt lên trên để đóng vai trò lãnh đạo quần chúng, đứng ngoài bút giáo hóa nhân dân, thức tỉnh lương tâm con người.
Lắm người khác lại bảo nhóm Nguyễn Ngọc Lan mắc bệnh ảo tưởng, ảo tưởng về thực tế ở VN, nơi mà họ đã có thời gian tạm biệt để qua sống bên trời Âu châu đến độ phần nào quên khuấy mất cái thế đứng thực sự của quốc gia này...
Nhưng theo thiển ý của chúng tôi, thì nhóm của linh mục Nguyễn Ngọc Lan đã có lập trường và thái độ như là đã trình bày qua các tạp chí và sách xuất bản của họ là vì những nguyên do sau đây:
1) Mặc cảm Công giáo phạm tội
Phần lớn những người cộng tác với các tạp chí như Hành Trình, Đất Nước, Trình Bày, Đối Diện là người theo đạo công giáo; một số lớn lại còn là những vị chức sắc trong đạo hoặc những người trước vốn theo nghiệp tu nhưng nửa đường đứt gánh đành chèo thuyền tìm về cõi trần. Vì vậy họ ý thức sâu xa sự kiện công giáo ở Việt Nam. Sự kiện đó, cho đến nay, vẫn còn mang dáng dấp hàm hồ.
Ai cũng biết Đạo Công giáo xuất hiện trên mảnh đất này cùng một lúc với phong trào thực dân do Tây phương phát động. Có nhiều lúc hai phong trào đó hòa lẫn vào nhau một cách quá mật thiết đến không còn có thể tìm ra đường phân ranh. Thật khó mà xác định được rằng giáo hội, một cách minh nhiên, chủ trương đi chinh phục đất đai hoặc hỗ trợ các cuộc chinh phục ấy. Nhưng hiển nhiên một điều là chính Giáo hội hồi đó đã một phần nào rửa tội (baptiser) cho học thuyết Cộng sản sau này qua câu nói thời danh của họ: mục đích biện minh phương tiện.
Mục đích ở đây chính là công cuộc “mở mang Đạo Thánh Đức Chúa Trời ra khắp tứ phương thiên hạ” là “đi khắp thế gian, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Sứ mệnh truyền rao Phúc Âm cho muôn dân, giúp họ thoát ly tai ách “bụt thần” thực sự là mối ưu tư ngàn đời của Giáo Hội. Giáo hội cảm thấy như mình sẽ tự phản bội mình nếu không đi rao giảng. Từ mối ưu tư chân chính ấy bước qua hình thức cực đoan thực sự không xa, chỉ cần một bước: dùng ngay phương tiện của loài người bằng bất cứ giá nào để lời Chúa được nói lên, được rao giảng, dù có vì vậy mà phải xử dụng đến một phương tiện không mấy tốt đẹp.
Miễn là lời Chúa được rao giảng. Một cách ngay tình, các nhà truyền giáo ban đầu ở VN đã nghĩ vậy. Và do đó, họ đã tích cực giúp chúa Nguyễn khôi phục giang sơn bằng cách di chiêu dụng binh lính, thuyền bè, súng ống.
Vai trò của giám mục Bá Đa Lộc chỉ có nghĩa như vậy. Giúp Chúa Nguyễn để Chúa Nguyễn giúp mình có hoàn cảnh thuận lợi giảng đạo, Bá Đa Lộc không hề muốn lợi dụng Nguyễn Phúc Ánh cho một mục tiêu nào khác. Khi mà chính con cháu Nguyễn Phúc Ánh, vì một dun dủi lạch sử nào đó, đã xua đuổi, đã lên án bọn người tôn giáo, kết tội họ là tà đạo, chém giết họ không thương tiếc, chối từ cái quyền làm người Việt của họ, thì chính là lúc xuất hiện hàm hồ tính của đạo Công Giáo ở VN. Những người Việt khốn khổ bị săn đuổi kia đã chẳng còn biết trông cậy vào ai, đành phải trông nhờ vào ngoại nhân giải thoát. Những chức sắc trong đạo Công giáo như thấy mình bị dồn vào một chân tường, đành phải cực đoan hành động bằng cách ra mặt ủng hộ những cuộc viễn chinh giải thoát... Và từ đó, người Công giáo trở thành một đoàn người cô lập (des ghettos), bị đồng bào đồng hóa với ngoại nhân hoặc những kẻ bán nước.
Ngược lại, phía người Công giáo, vì bị săn đuổi như những con thú cùng đường, đành cũng phải khép kín như các môn đồ xưa lúc Chúa vừa bị đóng đinh thảm hại, để tìm an ninh cho riêng mình. Nghĩ cho cùng, thì đó là những hiểu lầm đáng tiếc nhất đã xảy ra cho con cái của mẹ VN khốn khổ. Có điều là hai thái độ cực đoan kia cứ có đất để mà tiếp tục sống mái. Các phần tử trí thức sáng suốt vấn đề, ở cả hai phía, thật sự là ít ỏi không đáng kể và do đó chẳng thay đổi được gì.
Hậu quả là một mặc cảm tội lỗi càng ngày càng đè nặng lên tâm hồn người công giáo ở VN... Cái mặc cảm ấy ngày nay vẫn còn y nguyên và có khi còn được bồi bổ thêm do những sự kiện mới đem đến suốt từ thời thực dân dài dằng dặc và những chế độ ưu đãi Công giáo... Đó chỉ là cái mặc cảm chạy theo ngoại bang, theo đuôi những thế lực mạnh dù đó là những thế lực phản động...
Nhiều người cảm thấy cần phải phá đổ cái mặc cảm “mắc dịch” ấy. Vì chẳng còn gì khổ cho bằng phải sống bằng mặc cảm. Chính vì vậy họ đã kết hợp lại, mục đích mời gọi mọi người trở về với dân tộc, đến cái độ cực đoan coi dân tộc như một thực thể có trước cả cá nhân, ngược cả giáo lý căn bản của giáo hội vốn coi con người cá nhân như thực thể tiên khởi...
Họ cố gắng ngoi lên khỏi cái mặc cảm nặng chĩu để đánh phá những chiêu bài bám nhờ ngoại bang. Họ lớn tiếng đả kích Mỹ với mục đích kéo người đồng đạo ra khỏi mê đạo cũ, lên đường “tìm về dân tộc” [ * ] dù có phải vì vậy mà bị thiệt thòi. Họ chạy theo những phe nhóm nào tranh đấu cho quyền lợi dân tộc, cho dù đó chỉ là những tên hề chánh trị, đầy mình những chiêu bài bịp bợm. Người thức thời dường như đang tỏ vẻ thương hại họ, thương quá, y như họ đã thương hại cái anh chàng trường giả học làm sang của kịch tác gia Molière. Vì có bao giờ các anh chàng trường giả học làm sang kia lại có thể một ngày một giờ trở thành sang bao giờ. Nhất nữa, anh ta vì nôn nóng muốn làm sang nên đã “bắt quàng” làm thầy toàn những anh chẳng mắc dịch...
Chúng tôi rất tin tưởng ở thiện chí của nhóm Cha Lan. Chúng tôi tin rằng họ đã hành động một cách bất vụ lợi. Nhưng họ đang là những anh trường giả học làm sang từ cực đoan nọ đang bước qua cực đoan kia. Từ mặc cảm này chạy qua mặc cảm khác. Cái vòng luẩn quẩn thực sự đang trùm phủ lấy họ. Người ta tin rằng mẹ Việt Nam đã thấu hiểu thiện chí của họ và mẹ đã sẵn sàng xóa mờ dĩ vãng của họ rồi. Và mẹ tha thiết xin họ ngừng ở đấy. Đủ rồi! Đừng tiến xa hơn nữa. Vì thật sự thế nào là quyền lợi dân tộc? Có hẳn đó là quyền lợi do người VN tạo nên và muốn bảo vệ không? Cũng như thế nào mới là cái “acte humain” [ hành động nhân bản ] có phải là bất cứ cái acte nào do con người tạo ra không, hay chỉ là những hành động do tự do của con người chấp nhận bằng ý thức và thực hiện? Cũng như vậy, trong bối cảnh lịch sử bây giờ, một anh chàng có thân xác Việt Nam trăm phần trăm, sinh và sống trên mảnh đất này ngay từ lúc đầu có hẳn đã là người Việt chưa? Cái gì làm cho anh ta là người Việt? Có Trời họa may mới trả lời được. Do đó mà dân tộc là một thực tại mơ hồ, không rõ rệt. Cần phải xác định nó trong không gian và thời gian. Ở bối cảnh này, quyền lợi dân tộc thiết thân là gì? Đó là một câu hỏi sẽ đưa lại một trăm câu trả lời. Không nhất thiết câu của anh phải đúng và câu của tôi phải sai hay ngược lại.
Vì không một ai có quyền tự đồng hóa mình với dân tộc, độc chiếm dân tộc làm vật sở hữu để muốn khoác cái áo nào cho dân tộc cũng được. Do đó đừng có lớn lối, lên án một cách tiên thiên. Tuy nhiên vẫn có một vài dấu hiệu khách quan đưa đến một quan điểm đa số về quyền lợi dân tộc trong không gian này và trong thời gian này.
Dấu chỉ rõ rệt nhất là gia tài dân tộc đang bị đe dọa phá tan. Kẻ đe dọa tất nhiên là các thế lực ngoại lai và những kẻ tiếp tay cho các thế lực đó. Một điều nghiệt ngã là sự tranh chấp giữa các thế lực kia ngay trên gia tài dân tộc đang là một thực tại thật khó tháo gỡ. Thật khó thoát ly khỏi cùng một lúc cả hai cái thế lực vĩ đại đang ảnh hưởng trên gia tài dân tộc.
Nếu không ngả theo thế lực này thì cũng phải ngả theo thế lực kia. Vấn đề vì vậy mà phải chọn lựa lấy một trong hai thế lực đó để rồi sau đó tìm cách thoát ly nốt. Hiển nhiên cần phải thoát ly cái thế lực có hại nhất cho gia tài dân tộc trước nhất đã.
Trong bối cảnh lịch sử bây giờ, thế lực có hại nhất cho gia tài dân tộc rõ rệt là thế lực nhằm hủy diệt dân tộc.
Ông Hồ, cho đến lúc gần nhắm mắt, vẫn còn mang hoài bão thực hiện nhiệm vụ quốc tế Cộng sản hóa toàn vùng Đông Nam Á, trong một diễn trình tiến tới thế giới đại đồng, đặt cơ sở trên quyền vô sản. Cái thế giới đại đồng ấy không hề còn chỗ cho dân tộc. Thế mà theo ông Lý chánh Trung thì gần như là ta chỉ thành người trong lòng dân tộc mà thôi. Nói khác đi, trong thế giới đại đồng phi dân tộc, người không còn là người. Chứ đừng nói đến người VN nữa. Vậy thì phải diệt cái thế lực khủng khiếp đó trước đi. Cái thế lực ấy không hề giấu diếm ý đồ xâm chiếm gia tài dân tộc này, việc xâm chiếm này đang trở thành một tín điều, một giới răn bất khả phản hồi, vô ngộ... Họ có thực hiện được ý đồ hay không thì lại là chuyện khác. Nhưng ý đồ thì đã rõ rệt.
Trong đoàn kỳ, họ bắt buộc phải dùng những chiến lược khôn khéo để đấu tranh giai đoạn và từng bước một, họ sẽ tiến tới đích nhắm. Cần phải ngăn chặn, cần phải dựa vào một thế lực khác. Thế lực này chẳng tốt lành gì, nhưng phải xài đỡ để chống giữ được trước làn sóng xâm lăng tàn bạo của những con người chỉ muốn hủy diệt chính dân tộc chứ không phải hủy diệt những cá nhân.
Bao giờ ngăn được làn sóng tàn bạo ấy, ta sẽ tìm cách hủy diệt nốt cái thế lực còn lại, giúp khôi phục khuôn mặt diễm lệ muôn đời của Mẹ dân tộc. Diễn trình lịch sử khách quan bắt ta phải theo con đường ấy. Làm khác là làm hại Dân tộc và làm hại một cách vô tình thì cũng vẫn là làm hại, làm hại một cách ngay tình thì vẫn là làm hại.
(Còn nữa)
#Chinh Luan Dec. 13_14, 1970 trang hai
VÌ DÂN-TỘC HAY KHÔNG?
của VĨNH-NAM
(TIẾP THEO VÀ HẾT)
II) Vuốt ve Cộng sản để được an thân
Cũng là những người Công Giáo như nhau, cũng là những nhà tu hành như nhau, nhưng rõ rệt nhóm của Cha Lan khác xa nhóm của Cha Lãm hoặc nhóm của Cha Thăm, trong phương cách đối thoại với người Cộng sản. Nhóm của Cha Thăm (Thẳng Tiến) thì gay gắt, nhóm của Cha Lãm (Xây Dựng) [ * ] cũng gay gắt chẳng kém, còn nhóm của Cha Lan thì hòa hoãn rõ rệt. Các nhóm kia bảo nhóm Cha Lan là Cộng sản trá hình. Nhóm Cha Lan thì bảo các nhóm kia là chống Cộng kiểu đà điểu. Ông nói ông phải, vãi nói vãi hay.
Nhưng tất cả đều có lý của mình. Chúng tôi không đời nào tin được rằng nhóm Cha Lan lại có thể hoạt động cho Cộng sản được, cũng như hai với hai không thể nào là năm được. Chúng tôi cũng cho rằng: trên phương diện chánh trị, mỗi một người có quyền phát biểu ý kiến của mình. Thẩm quyền giáo hội không có lý do gì ngăn cấm. Và khi đã là ý kiến cá nhân thì không thể nào nhân danh bất cứ một thế giá nào của giáo hội để lên án họ.
Thế giá giáo hội chỉ nên được viện dẫn trong phạm vi luân lý và tín lý mà thôi. Giáo hoàng Paul đệ lục hay bất cứ một chức sắc nào trong đạo khi phát biểu về chính trị thì ý kiến chỉ có giá trị như ý kiến của một giáo dân thường. Người ta lấy làm lạ: trong mấy năm gần đây, các phe nhóm luôn luôn sử dụng đến thế giá để bênh vực quan điểm chính trị của mình. Người lương thiện, thiết tưởng, không nên làm như vậy.
Trở lại nhóm của Cha Lan, chúng tôi thấy giọng điệu của họ đối với Cộng sản là giọng điệu đầy thân tình (Cộng sản, người anh em tôi!) [ xin xem chú thích ở Phân đoạn 6 ] đầy thán phục (20 năm Xây dựng Chủ nghĩa Xã hội) [ xin xem chú thích ở Phân đoạn 6 ] ... Có người coi những giọng điệu ấy như một liều thuốc đắng có tác dụng kích thích, mục đích chọc giận nhà cầm quyền miền Nam, giúp họ “sáng mắt” trước những thành quả xây dựng đầy sự tốt đẹp của phe địch và, nhờ thế, vì tự ái, nhà cầm quyền miền Nam sẽ cũng cố gắng thực hiện được ít là như vậy... Phải chăng, vì vậy, mà có lúc nhóm cha Lan đã tự coi mình là những kẻ chống Cộng sáng suốt chứ không phải như ai kia chống Cộng kiểu đà điểu?
Riêng phần chúng tôi, chúng tôi không tin rằng đó là chủ trương của nhóm cha Lan. Vì một điều dễ hiểu là họ những người biết nhiều hiểu rộng, đọc nhiều thấy nhiều, không thể nào không biết rằng sở dĩ miền Bắc đạt được thành quả như trên (nếu thực sự có thật như thế) là nhờ một chính sách tàn bạo nhằm bóc lột sức lao động của nhân dân dưới quyền. Những câu nói thường được nghe họ nhắc đến như «thi đua sản xuất cả trong ngày lễ», «một người làm việc bằng ba» ... chính là đã tố cáo cái chính sách tàn bạo ấy. Ở miền Nam, một chính sách như thế không thể nào thực hiện được. Mới bắt sinh viên học quân sự một tháng tại quân trường, mà chính các ngài còn chả chịu, thì còn nói đến cái gì khác nữa kia? Thế cho nên trong bối cảnh tự do này, nơi mà dù sao vẫn còn rất nhiều tự do gấp vạn lần miền Bắc, lại gặp thời chiến tranh, ta không thể nào đạt được một mức sản xuất giống như ở một chế độ độc tài. Cái giá của tự do là như thế. Hẳn những đồng chí của cha Lan cũng đồng ý như vậy, nên họ đã cố tình không nhắc đến sự đóng góp của nhân dân miền Bắc cho cái thành công của chế độ miền Bắc trong lãnh vực sản xuất (nếu có thể nói được là thành công). Nếu chỉ nhắc đến thành quả mà không thôi, thì thiết tưởng mấy nhà cầm quyền miền Bắc có thể được đặt ngang hàng với những bạo chúa Pharaon xưa trong những công trình xây cất vĩ đại như kim tự tháp, hay những tiêm bi (obélisque) khổng lồ chẳng hạn...
Hãnh diện hay không, mọi người đã thấy rõ. Người của Cha Lan là những người đầu tiên nhìn thấy điểm đó. Vả lại, họ làm sao quên được câu nói của Đức Kitô trả lời cho Thần Xấu: “Con người không chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn sống vì lời Chúa nữa”. Mà lời Chúa là lời giải phóng, nên con người còn sống vì Tự Do nữa kia, không Tự Do con người sẽ chết mòn mỏi, chết thảm thê ngay trong cái thân xác phì nộn. Nói tóm lại, làm sao nhóm cha Lan có thể biện minh được điểm: ca tụng miền Bắc là cách thúc đẩy miền Nam tiến lên để đè bẹp miền Bắc ngay trong công trình xây dựng. Vì một lẽ giản dị là họ không chủ tâm đưa ra quan điểm ấy, vậy thì họ nhằm cái gì trong các giọng điệu mà có người đã gọi là “nức nở ca ngợi miền Bắc” hoặc đầy thân tình, thân tình hơn là các giọng điệu họ dùng để nói với những người đang ở một bên với họ? Chúng tôi nghĩ họ làm thế là nhằm phục vụ một mưu đồ chính trị, nhằm đem lại an thân cho họ. Ai cũng thấy: từ ngày Giáo hoàng Jean XXIII lên trị vì giáo hội La Mã, nhiều sắc thái mới đã xuất hiện trong lòng giáo hội ấy.
Nhiều trao đổi hơn, nhiều cởi mở hơn, nhiều chào đón hơn, nhiều nụ cười hơn, đối ngay với những kẻ chủ trương bách hại mình, đã xuất hiện, làm cho bộ mặt cần cỗi của Hội Thánh Công Giáo đã gần như biến mất, và kể cả những địch thủ hằn học nhất cũng đã bắt đầu nhìn lại, bắt tay, chào hỏi... Cũng từ ngày đó, ta thấy nhiều nhân vật Cộng sản đặt chân tới sân Damase để vào bệ kiến Giáo Hoàng.
Con rể Kút Sếp đã không ngần ngại ca tụng bàn tay nồng dân của giáo hoàng Jean XXIII. Đầu sỏ của Cộng sản quốc tế là Podgorny cũng đã tới thăm Vatican. Nam Tư chính thức tiếp nối bang giao với Tòa Thánh. Tàu Cộng trả tự do cho giám mục Walsh, bắt chước hành động của Nga Xô trước đó ít năm qua vụ phóng thích giáo chủ Slippyi gì đó... Giọng điệu chung của Giáo Hội La Mã là một giọng điệu hòa hoãn, thân tình mỗi khi nhắc đến những quốc gia Cộng Sản, tuy về mặt thuyết vẫn tỏ ra vô cùng cứng rắn đối với chủ nghĩa Cộng sản. Điều đó cũng phải, vì trong bối cảnh chính trị ngày nay, thật có điên mới thực hiện chủ nghĩa Cộng sản y như Karl Marx, Lénine đã chủ trương. Có thể nói được chủ nghĩa Cộng sản đã chết ngay trong những quốc gia Cộng sản... Cho nên Giáo Hội Công giáo rất an tâm bắt tay các quốc gia Cộng sản mà vẫn không sợ lý thuyết của mình bị đầu độc.
Bắt tay như vậy rất có lợi. Vì ít ra, nhà cầm quyền tại các quốc gia đó cũng sẽ bớt đi tính cách cực đoan và do đó sẽ đối xử tốt hơn với những con cái của giáo hội hiện đang sống dưới quyền của họ... Người ta còn nhớ dưới triều đại của Giáo hoàng Pie XII, người công giáo gồm cả giáo dân lẫn linh mục và giám mục đã bị bách hại nhiều nhất, chính là do thái độ quá cứng rắn của ngài đối với thế giới Cộng sản.
Thái độ quá cứng rắn ấy thực sự lại là vấn đề chung của tất cả mọi chính quyền thuộc thế giới tự do lúc bấy giờ. Từ Âu sang Á, từ châu Mỹ đến châu Úc, đâu đâu cũng gặp thái độ ấy đối với phe Cộng. Sở dĩ thế giới tự do có thái độ ấy cũng là vì tin tưởng có thể đánh bại được cộng sản. Nhưng ngày nay, rõ rệt là ta không thể đánh bại được Cộng sản, ta không thể xua đuổi chúng khỏi lãnh địa con người (terre des hommes), ta không thể hủy diệt được họ, mà bắt buộc phải chấp nhận họ, dù là phải chấp nhận họ như một “thực tế”! Hậu quả là phải tìm cách để có thể sống chung với họ trong một hậu ý rất thực tế là mong họ để cho ta yên thân và dần dần dụ họ bạch hóa theo một “chánh sách chiêu hồi” khôn khéo! Giáo Hội Công giáo đã đi tiên phong trong thái độ ấy, ngay từ lúc Cộng sản đang hăng say sát hại con chiên của mình.
Hậu quả, như ta đã thấy, các quốc gia Cộng sản đã bắt đầu thay đổi thái độ và ngay cả cái anh chàng cứng đầu cứng cổ là Tàu Cộng cũng đã có một đối thái độ hòa hoãn đối với một thế lực mà xưa nay họ vẫn coi là gián điệp, là dụng cụ của đế quốc.
Ở Việt Nam, nhóm của Cha Lan có thể được coi là nhóm đầu tiên đi theo con đường ấy.
Vì họ là những phần tử Công giáo Cấp tiến, đa số du học từ các quốc gia Tây Âu, được đọc nhiều và thấy nhiều, do đó đã phát hiện được những vấn đề lớn. Có lẽ vì vậy, khi đưa ra những giọng điệu thân tình hoặc ca ngợi, họ cũng nhằm cùng một mục đích như những vị giáo hoàng ở La Mã đã nhắm: một cuộc sinh hoạt bình thường cho giáo hội địa phương.
Hẳn không một ai có thể quên được sự kiện nửa phần quê hương đang chính thức nằm dưới quyền quản trị của Cộng sản. Ở nửa phần quê hương ấy, đang có rất nhiều người Công giáo sinh sống, rất nhiều vị giám mục và linh mục cũng như Tu sĩ đang hành sự một cách hạn chế. Nhà cầm quyền miền Bắc từ trước vốn áp dụng một chính sách nhằm hạn chế công cuộc đào tạo hàng linh mục và tu sĩ cho nhu cầu giáo nội địa phương.
Do đó, công cuộc sinh hoạt của Giáo hội ấy đang gặp thật nhiều khó khăn. Trong một tinh thần “các thánh cùng thông công”, bắt buộc những người sống an ổn ở bên này phải tìm cách giúp đỡ để cho những người sống bên kia có thể sinh hoạt bình thường. Các ảnh hưởng đã được vận dụng kể cả cơ quan Caritas quốc tế qua vị đại diện là một giám mục Tây Đức nhằm liên lạc với nhà cầm quyền Hanoi.
Trong phạm vi sở trường của mình, người trí thức mệnh danh là cấp tiến chẳng còn biết làm gì hơn là lôi kéo cảm tình trên lãnh vực tư tưởng, trong quan điểm chính trị, với mục đích đánh tan cái thành kiến vốn có, vốn quy trách cho giáo hội La Mã là giáo hội phục vụ quyền lợi đế quốc. Chính vì vậy, các nhà trí thức công giáo đã cố gắng nói lên quan điểm của mình, không hẳn là quan điểm của giáo hội, nhưng là quan điểm của một nhóm Công giáo, để “cho ai kia” thấy rằng: ít nhất cũng đã có một cái gì thay đổi nơi người Công giáo và mình có thể tạm sống với họ được.
Chúng tôi nghĩ rằng đó là hậu ý của nhóm Cha Lan. Có nhiều người cho rằng: Có thể quan điểm đó đúng nhưng người ta không khía cạnh trên đây, rất có thể nhóm Cha Lan còn để lộ cho thấy một trò chơi trí thức.
Theo họ, thì nhóm Cha Lan phần lớn là những người từng đi du học ở Tây Âu trở về: người từ Pháp là Sorbonne, kẻ thì học ở Louvain. Tại các trung tâm tư tưởng đó, họ làm quen với rất nhiều trào lưu thế giới, được tiếp xúc giao dịch với nhiều môn phái, được đọc rất nhiều sách vở, và nhất là các tài liệu rất thời sự từ những quốc gia Cộng Sản mang tới hoặc từ những quốc gia thân hữu với Cộng sản cung cấp. Ngược lại, tại mảnh đất Giao Chỉ khốn khổ vì chiến tranh, vì chậm tiến này, nơi mà mầm dân chủ chỉ mới được gieo, chưa đủ màu mỡ để mà nẩy nở... mọi cái đều bị ngăn cấm, kể cả văn hóa phẩm của miền Bắc, hoặc bất cứ một sản phẩm nào của địch... Do đó, khi vớ được một tài liệu nào của địch, người ta mừng quá xá, mừng y như là anh chàng buôn đồ quốc cấm đi được chuyến hàng trót lọt. Một dạo, ở trường Đại học Văn khoa, người ta đem các-thứ nghiên cứu văn học của miền Bắc ra mà giảng coi như đó là một tài liệu quý giá. Người đầu tiên mang ra giới thiệu lại chính là ông Nguyễn Văn Trung. [ * ]
Trong các bài giảng của ông, thỉnh thoảng ông trưng ra một vài tài liệu mua được của miền Bắc và coi như một cái gì quý hóa làm tăng giá trị cho bài giảng... Ở trong một môi trường thích đồ "quốc cấm", như làm vậy thì người nào may mắn có được đồ quốc cấm không thể nào yên tay yên chân, bắt buộc họ phải mang ra bán và vì càng bán càng có người ham dùng, nên lại càng thêm hứng và bán ra thêm.
Nếu người bán không có mục đích ham lời, ham tiền, thì đúng đó là một nhà trí thức: Chỉ nhằm mục đích thỏa mãn thị hiếu độc giả và đồng thời giải thoát mình khỏi ấm ức vì đã trót có đồ quốc cấm.
Họ cũng còn bảo rằng: Vả lại tại các quốc gia chậm tiến, nơi mà dân chúng thật ít khoái nghe chính phủ, thì những giọng điệu khuynh tả lại rất ăn khách.
Con đường tiến thân mau nhất chính là con đường thiên tả. Tất nhiên, những anh chàng thiên tả rất dễ bị tù. Do đó có anh đã phải chua thêm vào cái măng xét thiên tả của mình cái câu đại cù lần: "không Cộng sản " để tránh tai bay vạ gió. Trường hợp nhóm Cha Lan thì khác; họ không cần cái măng xét đại cù lần ấy. Họ thiên tả thẳng thừng. Vì họ cóc có sợ ai.
Họ là các nhà tu hành hoặc ít nhất họ là những người đã may mắn chiếm được một địa vị khả quan có ảnh hưởng lớn trong xã hội nên họ cóc cần phải sợ ai. Như mấy ông linh mục thì ai mà dám bắt bớ? Cho dù là có bắt bớ thì đâu cảnh sát có dám cho họ ăn dùi cui... Đụng một tí là họ la hoảng đàn áp tôn giáo. Bố chính quyền cũng chẳng dám làm gì. Mà nếu có làm gì thì cũng chỉ đến thế là cùng, họ đâu có vợ con gì để mà hòng nhượng bộ.
Thật mấy ông linh mục đến thế là khôn! Do đó, họ có làm trò bảnh thiên tả, cũng chả ai làm gì họ... Nói tóm lại, họ muốn diễn một màn trò trí thức.
Chúng tôi không tin như vậy. Vì họ là những con người nhiệt huyết, chín chắn, không thể nào đồng hóa với những tên hề Chính trị hiện nay, miệng nó cái này cái nọ nhưng thật ra không phải tranh đấu vì những cái nọ cái này.
Những điều được viện dẫn để mà tranh đấu thực sự chỉ là những mục tiêu giả tạo, có cũng được mà không có cũng chẳng sao. Đằng sau những chiêu bài ấy mới là điều quan trọng. Trước sau, chúng tôi vẫn tin: nhóm cha Lan tranh đấu một cách ngay tình, một cách thành thực, chứ không phải làm dáng cho xôm trò. Nhưng họ đã chỉ tranh đấu thực sự cho những quyền lợi của giáo hội họ. Mà quyền lợi của một giáo hội người ta rất hoài nghi được đồng hóa với quyền lợi dân tộc. Dân tộc là một cái gì bao la bát ngát, mà tôn giáo chỉ là một thành phần. Cần phải vượt lên trên để tìm ra những nhu cầu thực sự của dân tộc. Nhưng như đã nói, tự nó dân tộc là một ý niệm mơ hồ không đủ năng lực của một thứ nước rửa tội. Do đó, cứ nhắm mắt hô hào trở về lòng dân tộc, thì đó là một tiếng kêu hoàn toàn chìm lắng vào sa mạc vô nghĩa. Xác định nhu cầu của dân tộc, cần phải lưu ý đến môi trường không gian và thời gian cụ thể; chứ không nên nhân danh bất cứ một nhân bản thuyết nào, một thứ lý thuyết tưởng tượng nào một thứ đạo nhân ái mơ tưởng nào đó.
Dân tộc chỉ có thể được phục vụ bằng thái độ khiêm cung đóng góp. Vì thái độ đó sẽ mang lại khách quan tính cho những con người phục vụ. Mà khách quan tính cũng chính là phổ quát tính, là chân lý vậy. Người ta rất mừng vì nhóm cha Lan đã thẳng tay phê phán những khuyết điểm, những tội lỗi (nếu quả đó là tội lỗi) của các nhà cai trị miền Nam cũng như của những người đến trợ giúp họ.
Qua những phê bình gay gắt ấy, người ta thấy nhóm cha Lan đang đóng vai trò của những tiên tri xưa không ngại cường quyền, xuất hiện công khai chỉ trích vua chúa quân quyền, trách mắng, lên án họ với một ý thức thanh lọc, đúng hơn là trong sạch hóa bộ máy công quyền nhằm phục vụ quyền lợi dân tộc.
Ông Thiệu hay bất cứ người nào lên cầm quyền ở cái môi trường chiến tranh và chậm tiến này, đều đều cần được những người như thế hướng dẫn vì phê bình là một cách hướng dẫn hiệu quả nhất. Người Mỹ thì chả tốt đẹp gì. Cứ nhìn ngay vào triết lý viện trợ của họ thì cũng đủ biết... Ấy thế nhưng, chỉ nên ngừng lại ở đó thôi. Vai trò của tiên tri nên ngừng lại, đừng đi quá.
Trong khung cảnh nội bộ, anh muốn mắng mỏ nhà cầm quyền làm sao thì mắng mỏ. Nhưng xin anh đừng nên mượn tiếng người ngoài để mà mắng mỏ. Cũng xin anh đừng nên ve vuốt kẻ thù, đừng nên cho chúng cái ấn tượng được ủng hộ. Vì bao lâu còn những cái ve vuốt ấy, những ấn tượng ủng hộ ấy thì là anh vô tình làm hại dân tộc. Vai trò tiên tri của anh đã mất ý nghĩa. Vì dân tộc hay không? Rõ ràng là không, một cách khách quan.
Vĩnh Nam - 16-10-1970
[ * LTC chú thích:
➜ “tìm về dân tộc” là giọng điệu Lý Chánh Trung (giáo sư Đại học Văn Khoa) khởi xướng qua các quyển tạp bút Tìm Về Dân Tộc (Trình Bày xuất bản, 1967), Tôn Giáo Và Dân Tộc (Lửa Thiêng, 1972) cùng với nhóm Linh mục Công giáo thiên tả Chân Tín, Nguyễn ngọc Lan (tạp chí Đối Diện) và Nguyễn văn Trung (các tạp chí như Hành Trình, Đất Nước, Trình Bày) dùng làm chiêu bài, luận điệu la lối để che đậy cái lốt cộng sản hoặc thân cộng của họ.
➜ Nguyễn văn Trung: khoa trưởng Đại học Văn Khoa, chủ trương tờ tạp chí Hành Trình ra mắt tháng 12-1964, cùng với nhiều trí thức thiên tả lẫn các cây bút Việt cộng nằm vùng. Vì Hành Trình có giọng điệu thiên cộng quá lố nên bị chính quyền quốc gia tịch thu và cảnh cáo nhiều lần, đến tháng 6-1966 tạp chí Hành Trình đóng cửa để tờ Đất Nước (ra số đầu tháng 4-1966) thế chỗ.
Trình Bày là tờ báo Bán Nguyệt san, số đầu ra ngày 1-8-1970.
Cả 3 tờ Hành Trình, Đất Nước, Trình Bày đều là chủ trương của Nguyễn văn Trung nhưng đề tên người khác làm chủ nhiệm để núp bóng, là những tờ báo có cùng luận điệu thiên cộng, bằng đủ mọi lối ngụy biện … rẻ tiền làm lợi cho cộng sản, chê bai, đả kích chánh quyền quốc gia.
➜ tờ báo (Công giáo) Thẳng Tiến. Chủ nhiệm: linh mục Phạm Văn Thăm, là Tuần báo, số 1 ra tháng 07-1962
➜ tờ báo (Công giáo) Xây Dựng. Chủ nhiệm: linh mục Nguyễn Quang Lãm, là nhật báo, số 1 ra ngày 02-01-1964
➜ Nhóm linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan: cho ra tờ tạp chí Đối Diện số đầu vào tháng 7-1968. Tờ báo này có xu hướng thiên Cộng càng ngày càng lộ liễu, đến nỗi khi đọc một số bài đăng trong đó làm độc giả tưởng đó là báo của Việt cộng (MTGP = Mặt trận Giặc Phỉ) xuất bản ở Saigon.
Hai linh mục Chân Tín, Nguyễn ngọc Lan là bè bạn hữu hảo cùng một giuộc với Nguyễn văn Trung (và với Lý Chánh Trung) nối lại thành một mô thức đối lập kiểu mẫu dẫn đầu một cách vênh vang, bề thế, kéo theo sau là một bầy lâu la đệ tử hăm hở hăng hái, cùng nhau hoạt động làm lợi cho Cộng sản, chống chánh quyền quốc gia.
Cơn mê sảng ảo giác hoang tưởng của băng trí thức Công giáo này chỉ chấm dứt khi chộ với băng nón cối dép râu trong rừng tràn ra đô thành; cơn mộng tưởng với những luận điệu lớn lối khoa trương "tìm về dân tộc" ra rả lâu nay của băng này tan nhanh như bọt nước xà phòng; trong chớp mắt, băng nón cối CSBV co giò đạp thẳng mặt băng trí thức Công giáo hoang tưởng từ cõi thiên đàng quốc gia rớt tòm xuống hố địa ngục cộng sản xã nghĩa; tấm bình phong đối lập của hai phe, phe của 2 anh cùng tên Trung liên thủ với phe 2 linh mục Chân Tín và Nguyễn ngọc Lan cũng rớt ào xuống và trơ trẽn lòi ra cái cốt khỉ: nín khe không dám thốt một lời nào vênh vang như những năm xưa khi còn được chánh quyền quốc gia biệt đãi, trọng vọng; hèn nhũn trước bạo quyền cộng sản không khác chi loài giun dế sát đất; ngậm miệng nhắm mắt trước những hành động của tập đoàn Cộng sản Bắc Việt đang vênh váo bạo ác giáng đòn thù thô bỉ hèn hạ lên quân và dân miền Nam.
Tệ hơn, 2 bên, 2 phe không nhìn mặt nhau, mà trở nên kình chống nhau nặng nề, tố giác nhau đủ thứ chuyện tầm thường, hạ cấp in hệt phường buôn gian bán lận ngoài chợ trời.
Nguyễn ngọc Lan viết (Nhật Ký I 1988; Nhật Ký II 1989 - 1990 và Nhật Ký III 1990 - 1991, gởi ra hải ngoại và do Nhà Xuất bản Tin, Paris, ấn hành năm 1993, trong đó tố giác Nguyễn văn Trung, Lý Chánh Trung đủ thứ chuyện lớn nhỏ, bêu mặt hai anh Trung này thậm tệ. Hiện LTC tôi không có bộ 3 tập Nhật Ký Nguyễn ngọc Lan này, nhưng bạn đọc có thể dễ dàng dùng Google Search Nhật Ký Nguyễn ngọc Lan để đọc những bài viết của nhiều người khác nhau nhận xét về bộ Nhật Ký đó dù hiện nay - 2025 - các bài ấy không còn nhiều trên Cyberspace.
Để phản pháo, Nguyễn văn Trung viết một xấp giấy pelure, 29 trang, đề ngày 4-10-1993, được đánh máy lại và công bố năm 2012, trong đó Nguyễn văn Trung tố cáo rằng, thời quốc gia (VNCH) Nguyễn ngọc Lan phụ trách làm kinh tài cho Việt cộng, tìm mọi cách lạc quyên gom góp tiền bạc rồi đổi ra ngoại tệ nạp cho Y4 (bí số của khu ủy Việt cộng vùng Sài Gòn - Gia Định), và tố Nguyễn ngọc Lan cũng đã từng vô 'bưng' của Việt cộng nhiều lần.
Đọc 29 trang của Nguyễn văn Trung cộng với các bài nhận xét vừa kể ở trên khả dĩ cho chúng ta cái nhìn trần trụi về 2 phe Nguyễn ngọc Lan — Nguyễn văn Trung khi họ đã tự lột mặt nạ. Bạn đọc chịu khó tìm hiểu thì xin xem 29 trang viết tay của Nguyễn văn Trung ở đây (xin ráng nén cái khó chịu khi đọc vì cách trình bày thô thiển, vụng về của chủ Blog này): phần 1 | phần 2 (và hết).
➜ Ngoài ra, Nguyễn ngọc Lan còn tìm cách lợi dụng không gian Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế 38 Kỳ Đồng để làm cơ sở hoạt động cho cộng sản, việc này Nguyễn ngọc Lan tự khoe trong tạp chí Đứng Dậy số 100 ra tháng 10-1977 [ đổi tên thành Đứng Dậy là vì sau black April, VC cho Đối Diện tiếp tục ra báo nhưng phải đổi tên Đối Diện thành Đứng Dậy ]. Cuối năm 1978, VC bóp chết luôn Đứng Dậy (ra số 114 là số cuối cùng) với lời phê Đứng Dậy «đã làm xong vai trò lịch sử».
Từ đây, các linh mục Chân Tín, Nguyễn ngọc Lan bị VC từ từ đá đít cho ra rìa. Riêng Nguyễn văn Trung còn bị nặng hơn: bị Cộng sản, người anh em tôi bắt bỏ tù năm 1976, thả ra cuối năm 1977. Nguyễn văn Trung trở thành một con bù nhìn hình rơm cho chế độ cộng sản Hanoi, im mồm mà sống, viết nhiều bài theo đơn đặt hàng của Hanoi, Cộng sản, người anh em tôi ra lệnh bảo viết bài gì thì viết bài đó, nín thở qua sông chờ ngày chạy thoát Cộng sản, người anh em tôi 😂.
Về sau, khi đã vượt thoát được ra hải ngoại vào năm 1993, Nguyễn văn Trung đã có thuật lại quá trình phá hoại quốc gia của ông ta, tuy không thuật hết, không chịu nói thẳng hết (còn nói quanh co, dấu dấu đút đút vì xấu xa quá, u mê quá, sai lầm quá …) nhưng đọc những lời lấp liếm quanh co ấy cũng đủ cho ta biết bộ mặt ngu dại của bầu đoàn trí thức Công giáo thiên cộng ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản này.
Câu Nguyễn văn Trung viết được nhiều người nhắc lại là: «tham gia cách mạng là tham gia vào một quá trình tự tiêu diệt sau này» qua bài “Tưởng Niệm Việt Nam Cộng Hòa” đăng nơi trang 3 tờ Nguyệt san Tạp chí Văn Học (hải ngoại) số 174 ra tháng 10-2000 (do Nguyễn Mộng Giác làm Chủ Bút).
Hay một câu khác, Nguyễn văn Trung viết «...nhận ra những gì mình đã nhân danh gọi là lý tưởng này nọ đôi khi chỉ che giấu những động cơ, mục tiêu cá nhân: Hám danh lợi quyền lực, muốn được xung tụng trọng vọng…» qua bài "Nhìn Lại Những Chặng Đường Đã Qua" là bản viết tay của Nguyễn văn Trung do Nguyễn Vy Khanh đánh máy lại và gửi đăng trên Web Thông Luận ngày 04-9-2007 nhưng hiện nay Web Thông Luận này đã tiêu vong, chỉ còn bản lưu (đăng lại năm 2019) của Văn Việt theo link nêu trên.
Nguyễn văn Trung còn viết nhiều bài đăng báo (Web) khác nữa từ sau năm 2000 (khi kỹ thuật điện toán và Internet phát triển rộng và nhanh thành Liên Mạng Toàn Cầu) nhưng tôi thấy không cần phải đăng lại ở đây thêm nữa làm gì, vì bạn đọc có thể tìm search đọc không khó gì, và cũng vì tôi thấy tuy nói, viết nhiều nhưng tựu trung, Nguyễn văn Trung phần lớn vẫn không thành thật, vẫn cố xào nấu chữ nghĩa, ngụy biện và che đậy những tội lỗi u mê của ông ta đã một thời ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản ở miền Nam Tự Do, nối giáo cho giặc, ru ngủ quần chúng và làm hại không ít người trẻ tin theo ông ta.
➜ Ngày 3/5/1998, Nguyễn ngọc Lan và Chân Tín đi bằng chiếc xe gắn máy honda dame đến dự đám tang tay Việt cộng phản tỉnh Nguyễn Văn Trấn vừa mới chết, tổ chức ở Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế 38 Kỳ Đồng. Ngay khi hai người chở nhau ra khỏi nhà thờ thì bị một bọn ba bốn người lạ mặt đi kẹp hai bên, trong đó có 1 tên co giò đạp vào bánh xe trước của chiếc xe honda dame làm hai người té nhào lăn ra giữa đường. Nguyễn Ngọc Lan bị thương nặng, bất tỉnh. Chân Tín bị thương nhẹ. Chỉ cần có chiếc xe hơi nào trờ tới là cả hai khó lòng sống sót.
➜ Tháng 5-1990, Cộng sản cho lệnh quản thúc (cấm cố) vô thời hạn Nguyễn Ngọc Lan ở Quận 10 Saigon và Chân Tín ở vùng Cần Giờ, Duyên Hải, là vùng ven xa đô thành Saigon 70 cây số.
➜ Nguyễn Ngọc Lan cởi áo dòng, lấy vợ vào năm 1977, chết năm 2007.
➜ Chân Tín chết năm 2012.
Cả 2 linh mục này, cho đến lúc chết, tuyệt không có lấy một lời nào tự kiểm, ăn năn sám hối tội lỗi của mình, cũng không một dòng nào tố cáo cái bộ mặt gian ác, phi nhân kinh tởm của Cộng sản Ba Đình.
Sau đây là vài bài báo cũ miền Nam, như những trang sử chắc nịch còn ghi lại những hoạt động núp dưới tấm áo 'đối lập' tiếp tay cho giặc, làm cho hậu phương rối ren thêm, do băng trí thức Công giáo thiên cộng này gây ra mà thực chất chỉ là đưa thân làm con rối cho cộng sản.
Chúng ta cũng có thêm loạt bài tham luận giá trị “Nghĩ Về Một Số Trí Thức Ảo Tưởng” của Ánh Việt, đăng làm 4 kỳ trên mục Diễn Đàn nơi trang 2 nhựt báo #Chính Luận, Oct. 6, 1970 (kỳ 1) cho đến Oct. 9, 1970 (kỳ 4 - tiếp theo và hết), thiết tưởng, cùng với bài “Vì Dân-Tộc Hay Không?”, tham luận của Vĩnh-Nam đăng làm 2 kỳ trên trang 2 #Chinh Luan Dec. 12, 1970 và #Chinh Luan Dec. 13_14, 1970 (đã đăng ở trên) ... tổng hợp lại khả dĩ cho ta nhận diện đúng bộ mặt thực của băng trí thức Công giáo thiên tả này.
Mời bạn đọc theo dõi qua Phân đoạn 6.
$pageOut $pageIn Đăng vào ngày cuối năm Tây 2025
Phân đoạn 6
#Chính Luận Feb. 23, 1971 trang ba
Linh mục Chân Tín, Chủ nhiệm báo “Đối Diện” tuyên bố: Kháng Án Để Tiếp Tục Ra Báo: quyết tạo điều kiện để ngưng bắn.
Saigon. – (TV) 22/2 Linh mục Chân Tín, Chủ nhiệm Nguyệt san Đối Diện vừa bị Tòa Sơ Thẩm Saigon đóng cửa báo này 6 tháng và phạt tù (9 tháng) Chủ Nhiệm cũng như tác giả 2 bài báo liên hệ, vào chiều ngày 20/2 tuyên bố, ông quyết tâm tạo điều kiện cho một cuộc ngưng bắn, khởi đầu cho sự hòa giải dân tộc và tiến tới hòa bình.
Trong cuộc phỏng vấn dành cho tờ New York Times tại Saigon, đáp câu hỏi của phóng viên báo này về lập trường của báo Đối Diện, vị Linh mục 50 tuổi, Linh mục Chân Tín, nói rằng: “sau 25 năm chiến tranh, chúng tôi ý thức rằng cuộc chiến tranh tại Việt Nam hiện nay là do 2 khối tư bản và cộng sản chủ trương, và có thể đưa dân tộc Việt tới chỗ diệt chủng”. Linh mục nói tiếp: “trong hoàn cảnh như vậy, chúng tôi xác tín rằng, trong tình người và tình dân tộc, mặc dù khác về ý thức hệ gây ra, người dân Việt Nam cũng phải dần dà tạo điều kiện để đi đến hòa giải dân tộc. Trong cuộc hòa giải này, theo Linh mục, việc ngưng bắn là điều kiện tiên quyết để đi tới hòa bình. Ông nói, “vì thế nguyệt san Đối Diện chúng tôi quyết tâm tạo điều kiện cho một cuộc ngưng bắn”. Linh mục Chân Tín nói thêm rằng, chính trong tinh thần này chúng tôi đã tìm hiểu những ưu khuyết điểm của chế độ miền Bắc nhằm đánh tan thái độ khép kín và xa cách giữa 2 miền Nam Bắc. Đề cập đến bài báo nhan đề “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” mà tác giả là Linh mục Trương Bá Cần đã bị Tòa kết án, Linh mục Chân Tín nói “đó là một phần trong chủ trương của chúng tôi tìm hiểu những ưu khuyết điểm của chế độ miền Bắc” … “một công trình nghiên cứu rất khách quan và vô tư, sự suy luận dựa trên những dữ kiện có thể có được” …
[ bài báo có nhan đề “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” của Linh mục Trương Bá Cần đăng làm 3 kỳ trên "Đối Diện số 14, số 15 và số 16. ]
#Đuốc Nhà Nam Feb. 21_22, 1971 trang nhất:
Ngày 18-2-1971, Linh mục Chân Tín chủ nhiệm báo "Đối Diện" và linh mục Trương Bá Cần, tác giả 2 bài đăng trên tờ báo này với tựa “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” và "Sản xuất dưới bom đạn Mỹ", mỗi vị bị Tòa tuyên án 9 tháng tù ở, và báo "Đối Diện" bị đóng cửa 6 tháng (mỗi bài báo với tựa như trên, là một vụ, vụ thứ nhứt mỗi vị bị phạt 3 tháng tù ở và vụ thứ nhì 6 tháng tù ở).
Tiếp theo vụ báo "Đối Diện" là tuần báo "Quật Khởi" bị truy tố "phổ biến những bài báo có luận điệu xuyên tạc với dụng ý làm phương hại đến nền an ninh quốc gia". Tòa phạt giáo sư Châu Tâm Luân quản lý báo "Quật Khởi" 500.000đ tiền phạt vạ và ĐÓNG CỬA VĨNH VIỄN tờ báo này. Báo "Quật Khởi" do Dân biểu Nguyễn trọng Nho làm chủ nhiệm, nên chỉ có Quản lý bị truy tố. [ vì dân Biểu VNCH được hưởng quyền "bất khả xâm phạm", thể theo Hiến Pháp VNCH ngày 1-4-1967, chi tiết như sau:
—⚜—
#Tien Tuyen Sept. 17, 1971 trang ba
Tòa Đô chánh Thông Cáo chính thức sẽ đưa ra Tòa vụ họp bất hợp pháp đường Kỳ Đồng
SAIGON (VTX) — Tòa Đô Chánh trong một bản tin phổ biến hôm nay đã nói rõ về cuộc họp bất hợp pháp do Linh Mục Chân Tín tổ chức tối qua tại nhà xứ trong khuôn viên nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng cùng sự lộn xộn xảy ra sau đó khi anh em NDTV đến yêu cầu giải tán cuộc họp này.
Bản tin tòa Đô chánh cho biết vào lúc 20g45 ngày 14 tháng 9 năm 1971, Bộ Chỉ huy Cảnh sát Quốc Gia Thủ đô đã nhận được cuộc điện thoại do một ngoại kiều báo tin và yêu cầu cơ quan Cảnh sát đến can thiệp bảo vệ và đưa Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ McGovern ra khỏi khuôn viên nhà Dòng Chúa Cứu Thế đường Kỳ Đồng.
Bộ Chỉ huy Cảnh sát Quốc Gia Quận 3 nhận được lệnh, đã huy động Nhân viên công lực đến nơi mở cuộc điều tra và được biết như sau:
— Lúc 20g20, Linh mục Chân Tín có tổ chức một buổi họp không có giấy phép của cơ quan Hành chánh địa phương gồm độ 30 người có tên sau đây:
1. Linh mục Chân Tín 2. Linh mục Nguyễn ngọc Lan 3. Ni sư Huỳnh Liên 4. Đại đức Thích Liễu Minh 5. Giáo sư Trần tuấn Nhậm 6. Luật sư Nguyễn Long 7. Giáo sư Nguyễn văn Trung 8. Giáo sư Cao thị Quế Hương 9. Sinh viên Trần văn Long 10. Sinh viên Trần thị Lan.
Và một số sinh viên học sinh đoàn viên của nhóm gọi là toán xung kích để tham gia vào việc đốt xe ngoại quốc trong những ngày qua như:
— Nguyễn ngọc Thọ, Tăng quốc Kiệt, Ng văn Tạo, Trần thị Ngọc Diệp, Lê thành Yến, Lê ngọc Ba, Nguyễn thị Mân, Trần Hưng, Phạm thị Xuân Quế, Phạm văn Hoàng, Võ ngọc
(XEM TIẾP TRANG 6)
________________________________________
TIẾP THEO TRANG 3
Ẩn, Cao Lộc, Phạm cao An, Nguyễn thị Bảy, Lê Anh, Ngô Mật, Nguyễn thị Bình, Đỗ ngọc Long.
— Ngoài ra còn có 6 người ngoại quốc và 1 ngoại kiều tên là David Bourquin thuộc đoàn chí nguyện quốc tế mặc thường phục, trong đó có Thượng nghị sĩ McGovern cùng tham dự cuộc hội họp.
Cha Phó Bề Trên Dòng Chúa Cứu Thế không đồng ý cho Linh Mục Chân Tín mở cuộc hội họp không có giấy phép trong khuôn viên nhà thờ, và yêu cầu số người tham dự giải tán.
— Tuy nhiên số người này vẫn tiến hành cuộc hội họp, do đó anh em NDTV Khóm liên hệ đã vào ngăn cản cuộc hội họp và yêu cầu giải tán, rời khỏi khuôn viên nhà thờ nhưng bất thành.
— Số người tham dự cuộc họp bất hợp pháp đã đóng cửa phòng, xô đẩy các anh em NDTV, do đó đã có phản ứng của NDTV và giáo dân địa phương bằng cách nổi lửa đốt 1 chiếc xe chở hàng loại nhỏ và 8 chiếc xe gắn máy của nhóm người nói trên.
— Riêng số người ngoại quốc trong đó có Thượng Nghị Sĩ McGovern đã được Bộ Chỉ huy Cảnh sát Quốc gia quận 3 và Quân Cảnh Hoa kỳ bảo vệ hộ tống an toàn ra khỏi khu vực nói trên.
Bộ chỉ huy CSQG quận 3 đã lập biên bản nội vụ, ghi chung tất cả những người tổ chức cũng như tham dự cuộc hội họp bất hợp pháp nói trên. Hồ sơ nội vụ sẽ được chuyển trình Biện Lý Cuộc Tòa sơ thẩm Saigon.
— Số người tham dự cuộc họp bất hợp pháp đã được tự do ra về sau khi ghi cung, trong khi chờ đợi sự quyết định của cơ quan tư pháp hữu thẩm quyền.
An ninh trật tự tại khu vực nói trên đã hoàn toàn vãn hồi vào lúc 23 giờ cùng ngày.
—⚜—
Đăng vào ngày Tết Tây 2026
#Chính Luận Oct. 6, 1970 trang hai
(Bài 008) DIỄN ĐÀN: Nghĩ Về Một Số Người Trí Thức Ảo Tưởng by Ánh Việt
(viết về Nguyễn văn Trung và băng trí thức Công giáo thiên cộng) (kỳ 01) (Bài 008) Nghĩ Về Một Số Người Trí Thức Ảo Tưởng by Ánh Việt
(viết về Nguyễn văn Trung và băng trí thức Công giáo thiên cộng) (kỳ 01)
I — Đặt vấn đề
Không phải tới hôm nay mới thấy xuất đầu lộ diện những kẻ đòi hòa bình không điều kiện mà ngay từ ba bốn năm qua, nhân dân miền Nam ta đã từng thấy khuôn mặt họ ẩn núp sau chiêu bài này, ngụy trang sau danh hiệu nọ, luồn lách trong tổ chức kia, để cố gắng nói lên tiếng nói lạc điệu giữa những chiến đấu sôi nổi của quân dân: đòi ngưng chiến với bất cứ giá nào. Tuy nhiên, cần nói toạc ra rằng, phải đợi cho đến hôm nay, nhân lúc giới lãnh đạo Saigon đang phải đối phó với những khó khăn dồn dập cả trong lẫn ngoài, những kẻ chủ bại ấy mới bám víu lấy cơ hội ngàn năm một thử đặng hùa nhau gióng trống phất cờ, tuyên truyền quảng cáo cho cái chủ trương cực kỳ phiêu lưu nguy hiểm nói trên. Vậy thì họ là ai? Họ đã bị chụp mũ một cách phi lý chăng? Tại sao đòi hòa bình tức khắc, hoặc kêu gọi liên hiệp, hô hào trung lập lại bị gọi là một chủ trương phiêu lưu nguy hiểm? Những yếu tố nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường bấp bênh ấy? Nếu mục tiêu đấu tranh của họ đạt được thì vận mệnh của miền Nam này sẽ đi tới đâu? Đó là những câu hỏi lớn đang cần một sự giải đáp thỏa đáng mà chúng tôi muốn thử đặt thành vấn đề tìm hiểu trong bài này.
Tưởng cũng cần minh xác thêm rằng chủ đích của người viết bài này không nhằm tranh luận với những người có lập trường chính trị hoàn toàn trái ngược với lập trường quốc gia, mà chỉ muốn bày tỏ một số quan điểm liên quan đến thời cuộc với một thiểu số trí thức trẻ đang được dư luận chú ý bởi những bài báo của họ. Nhiệt tình của tuổi trẻ và sức mạnh của ngòi bút vẫn là 2 nhân tố cơ bản tạo nên khả năng thuyết phục mạnh mẽ, dễ tác động vào tâm tư quần chúng hơn so với những lời tuyên bố ồn ào của các chính khách xôi thịt, các trí thức phòng trà. Mặt khác, do nhận thức rằng, ở người trí thức trẻ thường không có thái độ bảo thủ, khép kín như phần đông các bậc trí thức "đàn anh", mà ngược lại, thường tỏ ra cởi mở, sẵn sàng đón nhận phản ứng, như một Nguyễn văn Trung, người đáng được coi là đại diện cho lớp trí thức trẻ cấp tiến đã tự khẳng định: «Tôi vốn coi việc viết của mình phải nhằm thúc đẩy người khác phản ứng...»
«Với độc giả, tôi nghĩ thái độ tôn trọng nhất đối với họ là đòi hỏi họ phải phản ứng lại. Hoặc đồng ý hoặc phản đối. Thế nào cũng được, miễn là có phản ứng. Tôi coi việc phản ứng, ngay cả sự phản đối, là một thành công cho người viết...» (trích Nhận Định V của Nguyễn văn Trung) vì thế, chúng tôi mạnh dạn bày tỏ một số phản ứng cần thiết với hy vọng không bị ngộ nhận một cách đáng tiếc.
II — Chung quanh hiện tượng chụp mũ
Trong sinh hoạt chính trị ở miền Nam gần đây, người ta nghe nói nhiều đến từ ngữ chụp mũ.
Nhưng thế nào gọi là chụp mũ? Ai chụp và ai bị chụp? Lý do?
Để gợi phương hướng giải đáp mấy thắc mắc vừa kể, tưởng cần phải nêu bật lên trước hết cái nhiệm vụ chiến lược của Cộng sản là thôn tính miền Nam. Muốn hoàn thành nhiệm vụ chiến lược ấy, tập đoàn lãnh đạo Hà Nội, thông qua công cụ thực hiện là Mặt trận Giải phóng miền Nam và cái gọi là "chính phủ cách mạng lâm thời", đang ráo riết vận dụng mọi hình thức đấu tranh: quân sự, chính trị, ngoại giao, tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể. Trước âm mưu và chủ trương, sách lược đó, bất cứ hoạt động nào từ phía hàng ngũ quốc gia nếu có lợi trực tiếp hay gián tiếp cho đối phương đều dễ bị gán là thân Cộng. Lẽ cố nhiên, những người chụp mũ luôn luôn là các phần tử cá nhân, hoặc đoàn thể có lập trường triệt để và dứt khoát đối với Cộng sản (theo nghĩa đứng dắn nhất) cũng như "nạn nhân" của việc chụp mũ thường là những người vô tình hay hữu ý có hành vi ngôn ngữ làm lợi cho đường lối, chính sách của kẻ thù. Đó là chưa kể đến trường hợp có một số người đã tự chụp cho mình cái mũ khuynh tả, đối lập v.v… Phân tích như vậy là chỉ muốn nhấn mạnh rằng chụp mũ hay bị chụp mũ không phải là điều quan trọng, mà điều quan trọng chính là thái độ đúng đắn hay sai lệch, và hành động có lợi hay có hại của mỗi phía mà thôi.
Trong thực tế, nếu như có một số người về phía quần chúng cũng như về phía chính quyền thường mắc bệnh gán ghép cho kẻ khác những cái mũ thân Cộng, tay sai một cách hàm hồ, khiến gây chia rẽ, mâu thuẫn trong nội bộ quốc gia thì đồng thời, cũng có một số người bị chụp mũ là quá khích, là tiếp tay cho địch, không do ai tố cáo mà chính là do những việc làm nông nổi, bồng bột hoặc kém thận trọng, chủ yếu là do thái độ thiếu vô tư của họ tự phơi bày ra trước dư luận khiến cho quần chúng bất bình.
Muốn nhận diện số người này, không phải là điều khó khăn lắm. Họ là một số giáo sư đại học, nhà tu hành, nhà báo, dân biểu quy tụ chung quanh mấy cơ quan ngôn luận mang nhãn hiệu "cấp tiến" để dùng ngòi bút làm vũ khí đấu tranh, cổ vũ cho đòi hỏi chấm dứt chiến tranh không điều kiện đi đôi với việc thỏa mãn các yêu sách liên hiệp, trung lập v.v… Điểm tựa của những mục tiêu tranh đấu ấy luôn luôn được họ bám sát vào, là tinh thần Dân tộc.
Hai tiếng Dân tộc đã trở thành cơ sở lý luận của họ trong việc thể hiện và khai thác các đề tài hấp dẫn như bảo vệ chủ quyền, thực hiện dân chủ, cách mạng xã hội, thống nhất đất nước. Không ai chối cãi rằng các chủ đề vừa kể, tự bản thân chúng, có tác dụng kích thích tâm lý quần chúng yêu nước không ít. Tuy nhiên, người ta chỉ lấy làm tiếc rằng trong khi khai triển vấn đề, họ đã thiếu hẳn một thái độ khách quan cần thiết. Sự thiếu sót cố tình này đã là cái duyên cớ chính đáng cho mọi người nghi ngờ vào "thiện chí" của họ.
Trong vòng 5, 6 năm nay, những ai thường theo dõi bài viết của họ trên các tập chí, nguyệt san như Hành Trình, Đất Nước, Nghiên cứu Văn học, Đối Diện, Trình Bày và một số tác phẩm phổ biến hạn chế như Hoa Sen Trong Biển Lửa, Nhìn Kỹ Quê Hương [ của Thích Nhất Hạnh, 1966, 1967 ], hoặc công khai như Chứng Từ 5 Năm, Đường Hay Pháo Đài [ Nguyễn ngọc Lan, 1969 ], đều dễ dàng thấy rõ thái độ thiên lệch nói trên.
Từ các tiểu luận như "chủ quyền quốc gia trước sự can thiệp và chi phối của ngoại bang" (Hành Trình số 7 và 8) đến truyện ngắn như "Tấm căn cước bọc nhựa hay là vết tích của sự nhục nhã" (Hành Trình số 3 và số 4) cho đến cả những bài nhận định dưới hình thức trả lời phỏng vấn hoặc thư ngỏ như "Bắt Con Bỏ Chợ" và "Lá thư gửi sinh viên Huỳnh tấn Mẫm đang bị giam giữ tại Tổng nha cảnh sát công an" (Đối Diện số 10), qua cái nhìn một chiều, lối suy luận xa rời thực tế và giọng văn mỉa mai cay độc của tác giả các bài viết đó, người đọc thật khó mà tin được thái độ vô tư, xây dựng của họ. Thật ra, giữa một thời kỳ lịch sử gay go quyết liệt như miền Nam ta trong vòng 10 năm trở lại đây, những khó khăn phức tạp liên hệ đến đời sống chính trị, văn hóa, kinh tế, quân sự của đồng bào và chiến sĩ ta là những hiện tượng tất nhiên không thể tránh khỏi.
Thay vì đặt ra những thực trạng khó khăn ấy để gợi phương hướng giúp chính quyền giải quyết thì họ lại tập trung mũi nhọn vào việc đả kích giới lãnh đạo quốc gia, thóa mạ Hoa Kỳ, nhằm qui hết trách nhiệm về phía Saigon và Tòa Bạch Ốc cùng những đoàn thể, cá nhân chủ trương duy trì cuộc chiến tranh tự vệ mà chúng ta đang tiến hành.
Đọc kỹ các bài viết của họ, người ta thấy rõ ý hướng đả phá, buộc tội của tác giả đối với những ai đang tích cực tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào các hoạt động chống lại các cuộc vận động tái lập hòa bình tức khắc. Ý hướng đả phá thay thế cho thiện chí xây dựng hầu như đã trở thành tư tưởng chỉ đạo, quán xuyến từ đầu chí cuối ở nhiều bài báo. Kể ra thì họ cũng can đảm trong việc cố gắng phân tích, suy diễn và khoét sâu thêm các ung nhọt xã hội do chiến tranh gây ra, cũng như họ đã can đảm tố cáo những ai đang kiên quyết giữ vững lập trường chống Cộng, can đảm lên án các hành động đàn áp của chính quyền đối với các phong trào đòi chấm dứt chiến tranh với bất cứ giá nào, can đảm lên án chính sách can thiệp của Hoa Kỳ vào tình hình quân sự ở miền Nam. Dưới ngòi bút của họ, các hoạt động chiến tranh tự vệ đang diễn ra ở bên này vĩ tuyến 17 đã bị đồng hóa với những tội ác ghê tởm.
Tuy nhiên, tính can đảm nếu không đi đôi với một thái độ công bằng thì chỉ có nghĩa là một sự ngụy biện, khó được quần chúng thừa nhận, nhất là đối với người trí thức.
Không cần phải là người có trình độ kiến thức văn hóa cao, ai cũng có thể nhìn thấy thái độ bất công, vô trách nhiệm của số người cầm bút nói trên. Biểu hiện của thái độ bất công ấy được cụ thể hóa trong một số việc làm tiêu biểu của họ như:
— Thường xuyên phản kháng những người quốc gia tiếp tục chiến đấu chống Cộng, ráo riết đòi Mỹ rút về nước nhưng lại im lặng trước sự có mặt của bộ đội miền Bắc trên lãnh thổ VNCH cũng như im lặng trước chính sách xâm lược của Hà Nội là nguồn gốc gây nên cuộc chiến.
— Căm thù phẫn nộ trước các hành động vi phạm tự do dân chủ của chính quyền Saigon nhưng lại thờ ơ trước các hoạt động phá hoại liên tục của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đối với nền an ninh công cộng tại đây.
— Luôn luôn sốt sắng trong việc khai thác các vụ "bất lợi" do quân đội đồng minh hoặc chính quyền gây ra như các vụ Mỹ Lai, Bình Tuy, Côn Đảo nhưng lại hờ hững trước các hành động man rợ của đối phương như những cuộc tàn sát tập thể ở Huế và gần đây việc bộ đội giải phóng miền Nam tiến công, khủng bố Viện Cô Nhi An Hòa. [ * ]
— Sẵn sàng cổ động cho các hành động can thiệp vào nội bộ miền Nam của Hoa Kỳ, nhưng lại tán thưởng việc các sinh viên nước ngoài đến Saigon xách động biểu tình, bất chấp cả pháp luật và chủ quyền quốc gia.
— Hằn học đối với những cơ quan ngôn luận có lập trường chống Cộng rõ rệt như Xây Dựng, Thẳng Tiến, Chính Luận … nhưng lại tỏ ra đồng tình với các luận điệu tuyên truyền của Hà Nội về một số vấn đề chính trị, văn hóa.
— Nghiêm khắc lên án chính quyền Saigon không tôn trọng Hiến pháp nhưng lại khuyến khích các cuộc biểu tình, "xuống đường" của sinh viên, học sinh, gây xáo trộn sinh hoạt quần chúng đô thị.
— Lớn tiếng kêu gọi đoàn kết quốc gia, hòa đồng dân tộc nhưng lại thường đả kích, bôi nhọ các phần tử không cùng xu hướng, lập trường chính trị với mình, hoặc tung ra những luận điệu kỳ thị địa phương, chia rẽ giai cấp, tôn giáo.
(Xem tiếp trang 11)
Diễn Đàn
(Tiếp theo trang 2)
— Luôn miệng hô hào miền Nam Quốc gia ngừng bắn, nhưng không hề bày tỏ phản ứng ngay thẳng nào trước thái độ "hiếu chiến, ngoan cố" của giới lãnh đạo miền Bắc Cộng sản.
Tóm lại, có thể nói rằng, các bài báo của họ nếu đem tổng hợp lại thì sẽ có giá trị một bản cáo trạng hùng hồn về những tội ác tày trời do các nhà cầm quyền chế độ Saigon và người Mỹ gây ra cho đồng bào miền Nam. Và điều đáng chú ý là bản cáo trạng ấy chỉ được xây dựng bằng những yếu tố chủ quan, một chiều, lệch lạc, thiếu hẳn một căn bản tinh thần vô tư tối thiểu. Chính vì vậy mà dư luận quần chúng đã không dành cho họ những cảm tình tốt đẹp. Bởi họ là những phần tử trí thức, nên dư luận cũng thường tỏ ra khắt khe hơn trong việc đánh giá, phê phán. Chẳng hạn như đã có không ít người phân loại trong số họ chỉ gồm các thành phần ích kỷ hoặc thiển cận như sau:
— Bất mãn vì tham vọng cá nhân không được thỏa mãn, địa vị xã hội không được chiếu cố đúng mức.
— Xu thời, mị dân, cơ hội chủ nghĩa, muốn làm một thứ phù thủy chính trị hòng đoạt lấy một ngôi báu lãnh tụ.
— Đứng núi này trông núi nọ, nghĩ rằng một ngày nào đó, nếu chế độ này bị sụp đổ, thì họ sẽ được Cộng sản ban thưởng cho một ân huệ đặc biệt nhờ "thành tích" tranh đấu trong quá khứ.
— Bi quan dao động trước tình thế khó khăn, không tin vào sự tồn tại lâu dài của chế độ miền Nam nên cố gắng "làm một cái gì" để chứng minh với Cộng sản sau này với hy vọng sẽ được thoát khỏi xiềng xích cải tạo tư tưởng.
— Kiêu căng, hợm mình, chỉ thích đeo cặp kính đen ngòm vào mắt để nhìn đời đặng cho mình là nói đúng, bất chấp cả những sự thật khách quan.
— Là những trí thức nô lệ sách vở, ưa lý thuyết suông, không biết nhìn vào thực tiễn đấu tranh gay go tế nhị để rút ra những kinh nghiệm và nhận thức khoa học.
Sự phân loại trên đây bắt nguồn từ những phản ứng gay gắt của quần chúng đối với việc làm thiếu trách nhiệm của một thiểu số trí thức hiện đang sinh hoạt trong hàng ngũ quốc gia.
Riêng đối với một số độc giả bình tĩnh hơn (trong đó có cả kẻ cầm bút này) thì lại cho rằng trong số họ, phần đông là những người yêu nước và có nhiệt tình xã hội. Họ không chấp nhận chủ nghĩa mác xít bởi một lẽ rất đơn giản là con người tiểu tư sản với các yếu tính của tự do, độc lập như họ không thể phù hợp với những giáo điều công thức có tính cách nguyên tắc cố định máy móc. Họ cũng từ chối luôn chủ nghĩa tư bản với một xã hội thối nát và nhiều chênh lệch, bất công.
Do đó, họ là những người đứng lưng chừng ở giữa 2 thái cực, dường như không tìm thấy một lối thoát nào thích hợp với quan niệm sống của họ, thành ra lập trường chính trị của họ cũng sa vào trạng thái bấp bênh. Trong tình huống bế tắc đó, họ muốn đóng vai một nhà cách mạng, ít ra là trên mặt lý thuyết, để được giải tỏa những ẩn ức, khắc khoải của một tấm lòng yêu nước đang bị thời cuộc dày vò.
Hầu hết trong số họ gồm những người du học lâu năm ở các nước dân chủ phương Tây, bị ảnh hưởng nặng nề ở các trào lưu tư tưởng triết học xa lạ với hoàn cảnh xã hội VN. Do đó, những quan niệm và hành động của họ thường là cách biệt với lối sống và nếp suy tư của quần chúng ở một nước chậm tiến. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là họ đã phát biểu quá nhiều về những vấn đề liên quan đến chính trị, đến đấu tranh hòa bình trong khi chính bản thân họ chưa hề có kinh nghiệm thực tế về Cộng sản, hoặc vì quá chủ quan, tự cao, tự đại, nhận thức của họ về tình hình chiến tranh đã không xuất phát từ những sự kiện khách quan, nên tiếng nói của họ nhiều lúc trở nên ngây ngô, ảo tưởng. Người giàu óc châm biếm đã đồng hóa các việc làm ngây ngô của một số trí thức Saigon với cái gọi là "Tòa án quốc tế xử tội phạm chiến tranh của đế quốc Mỹ ở VN" do ông già lẩm cẩm Bertrand Russel [ Triết gia người Anh, cùng với J. P. Sartre, triết gia Pháp, là một trong vài trí thức thiên tả Tây phương tiêu biểu đã cắn ngon lành cái bã lừa gạt của Cộng sản Bắc Việt ] tổ chức cách đây 3 năm mà báo chí Saigon dạo ấy đã mỉa mai đó là một gánh xiếc.
(Còn tiếp)
[ * Đại tội ác của cộng sản tại cô nhi viện An Hòa
#Chinh Luan Sept. 1, 1970 trang nhất
#Chinh Luan Sept. 1, 1970 trang nhất
Tội đại ác của Cộng Sản ở Cô Nhi Viện An Hòa
Tung bộc phá vào phòng ngủ cô nhi, trói nhà sư mà bắn gục
▼ Cộng sản vơ vét hết tiền bạc, gà, heo của Cô Nhi Viện.
XUYÊN PHÙ, 30-8 (AP). — Trong những cuộc tấn công của Cộng sản tối qua, vụ dã man tàn bạo nhất phải kể đến là vụ tấn công vào một cô nhi viện Phật giáo tại An Hòa gần Đà Nẵng.
Toán đặc công Cộng sản mở cuộc tấn công vào cô nhi viện này, chúng yên trí quá vì rằng không có một sức kháng cự nào. Các trẻ em vào lúc đó, khoảng 1 giờ sáng, đang ngủ ngon.
Từng tiếng nổ đằng sau từ những ngọn đồi an toàn, chúng nã khoảng 50 phát đạn súng cối vào khu cô nhi viện, và khu các nữ y tá và một bệnh viện nhỏ do Tây Đức viện trợ.
Những phần tử đặc công khác bò lại gần bằng súng nhỏ và súng phóng lựu đạn hỏa tiễn vào khu của các nữ y tá, làm cho gian nhà phát cháy và một nữ y tá trẻ tuổi với đứa con trai mới đẻ của cô bị thiệt mạng. Thì thể đứa bé sau đó được bỏ vào một thùng đạn, đặt lên trên quan tài của người mẹ.
Bọn Cộng quân tiến dễ dàng qua một vườn rau. Tại đây không có lực lượng phòng thủ, không có cả vòng rào kẽm gai nữa. Khoảng 30 tên đã tiến vào trong cô nhi viện ném lựu đạn và bộc phá vào những gian nhà nơi khoảng 60 trẻ nhỏ đang run cầm cập co quắp lấy nhau nấp dưới giường.
Bọn đặc công mặc quân phục Bắc Việt nhả đạn liên thanh vào bất cứ vật gì di động.
Chúng kéo cổ Thượng Tọa Thích Nguyên Tri, trụ trì chùa An Hòa và là người điều khiển cô nhi viện, trói giật cánh khuỷu nhà tu hành và hành quyết ngay tại sân cô nhi viện.
Cuối cùng, trước khi lực lượng quân đội quốc gia tiếp cứu kịp đến, chúng biến về các ngọn đồi sau khi đã lấy hết tiền bạc, tất cả gà qué, và 3 con heo của cô nhi viện. Số heo còn lại bị chúng cho một tràng liên thanh chết hết.
Trong nửa tiếng đồng hồ làm cỏ cô nhi viện này, chúng đã giết 15 người và làm cho 45 người khác bị thương mà 2 phần 3 là các trẻ mồ côi. Kỳ dư là các nữ y tá và lao công giúp việc.
Khi mà Đại úy Phan huy Huỳnh quận trưởng đem 2 trung đội Nghĩa quân đến tiếp cứu thì địch đã đi được chừng nửa tiếng đồng hồ rồi.
Đại úy Huỳnh nói: “Chúng tôi không đặt lực lượng phòng thủ ở đây vì có ai nghĩ rằng Cộng quân lại tấn công một cô nhi viện bao giờ. Tôi nghĩ rằng có lẽ hôm nay là ngày bầu cử và Cộng quân phải làm một cái gì cho dân sợ mà không dám đi bầu.”
Không một đồn quân nào của VNCH hay Mỹ đóng chung quanh cô nhi viện bị tấn công.
Xuyên Phù, một ngôi làng thuộc quận Dục Đức chỉ cách căn cứ TQLC Mỹ ở An Hòa ngót 5 cây số và cách Đà Nẵng 35 cây số về phía Tây Nam. Tất cả vùng này được coi như bất an ninh và nguy hiểm.
Đến sáng Chủ nhật, những người sống sót, thu nhặt các tử thi đặt trên thềm ngôi chùa ở ngay gần cô nhi viện. Các cụ bà đến niệm Phật và các cụ ông trán còn buộc băng với vết máu khô thâm ra ngoài thành màu nâu đậm, kéo những tấm chăn phủ mặt lau rửa cho các trẻ em nằm bất động.
Một Thiếu tá VNCH bước vào khu nữ y tá trông thấy thi thể cháy đen của cô y tá liền thốt lên: “Trời ơi, Dã man quá!”
Ông bước quanh gian nhà trống thấy chiếc quan tài và thùng đạn đựng thi thể đứa nhỏ, ngồi bên là người chồng đang than khóc, ông Thiếu tá lắc đầu và nói thêm: “Dã man đến thế là cùng!”
—⚜—
#Chính Luận Oct. 7, 1970 trang hai
DIỄN ĐÀN: Nghĩ Về Một Số Người Trí Thức Ảo Tưởng (tiếp theo Kỳ 1) by Ánh Việt
Kỳ 2
Do những hiểu biết hời hợt, nông cạn về đường lối hành động của Cộng sản, việc làm của họ trong một số trường hợp, đã hóa ra phiêu lưu, tài tử, nếu không muốn nói rằng "theo đuôi Cộng sản", chỉ biết chống chiến tranh, đòi hòa bình mà không cần biết đến nguồn gốc của chiến tranh, thủ phạm của Hòa bình tại đất nước này là do đâu, do ai.
Cũng chính vì lập trường chính trị bấp bênh, nên họ đã gặp Sartre ở quan điểm hành động mơ hồ, luẩn quẩn khi đứng bên này, lúc ngả về bên kia, la lối om xòm, đả kích lung tung, kiêu căng trịch thượng, muốn làm một thứ anh hùng ví như con gà trống mỗi lần cất tiếng gáy thì ngỡ rằng sẽ gọi được mặt trời lên, nhưng thực chất lại chỉ biểu lộ một sự hoảng hốt, giật mình trước những khó khăn, gian khổ, giống như chú gà ri kia, vội vàng rúc đầu vào cánh mỗi lần nghe tiếng động mạnh.
Không ít người lấy làm ngạc nhiên khi thấy số trí thức nói trên đã bất chấp cả những khó khăn trở ngại tất nhiên do kẻ thù trong và ngoài nước gây ra cho miền Nam, cho nên họ ngày càng hung hăng gieo rắc tư tưởng đầu hàng chủ bại trong quần chúng. Họ đã cố tình quên đi cái sự thật sơ đẳng nhất, rằng nếu chỉ ngồi cầm bút chửi đổng một cách vô trách nhiệm thì quả là một chuyện dễ dàng, chứ đứng vào cương vị lãnh đạo một tập thể, một cộng đồng quốc gia dân tộc để giải quyết các vấn đề trọng đại mới là câu chuyện vừa tế nhị, vừa khó khăn.
Chỉ cần nêu ra một ví dụ nhỏ: GS Nguyễn văn Trung, trước ngày giữ chức vụ khoa trưởng Đại học Văn khoa, đã từng là một người nổi tiếng là quá khích nơi các bài báo "khuynh tả" của ông. Nhưng rồi khi bước vào thực tế, với nhiệt tình, khả năng và quyền hạn sẵn có, ông đã chẳng làm được gì đáng kể trong việc góp phần cải thiện một nền giáo dục đại học tiến bộ, suốt cả gần một năm điều khiển phân khoa ấy. Sự kiện trớ trêu này đáng lẽ phải là một bài học kinh nghiệm quý báu cho những ai quen nghề soi mói, nguyền rủa, đả kích không đúng chỗ đúng hướng.
Nhưng bản tính cao ngạo đã làm cho họ không dám nhìn thẳng vào những sự thật gay go quyết liệt đang hiện ra sững sờ trước mắt để bình tĩnh tìm cách khắc phục.
Các đòi hỏi hết sức phi lý đi đôi với những đề nghị bất chính của họ chung quanh vấn đề giải quyết chiến tranh ở miền Nam nước ta, nếu chỉ được phổ biến dưới hình thức tuyên bố ồn ào thì có lẽ không đến nỗi nguy hiểm lắm vì quần chúng coi đó như một trò hề của những kẻ múa rối trên sân khấu.
Nhưng tiếng nói của họ lại được truyền đi dưới hình thức văn chương, sách báo vốn là phương tiện tuyên truyền mang nhiều hiệu lực, vì thế họ có điều kiện phun ra những nọc độc, trước hết là thủ tiêu ý chí đấu tranh cho một nền hòa bình chân chính và lâu dài của nhân dân ta. Mặt khác, trong thực tế, họ lại là những giáo sư đại học, những nhà tu hành, những ký giả, dân biểu, với uy tín do chức vụ và nghề nghiệp thiêng liêng đó ban cho, những tiếng nói nguy hiểm của họ không khỏi tác hại đến một số "đồ đệ" khiến cho hàng ngũ quốc gia vì vậy mà lỏng lẻo, suy yếu thêm. Trong tình hình đó, những kẻ được hưởng lợi nhiều nhất chính là tập đoàn lãnh đạo Hanoi và những phần tử cầm đầu của cái gọi là MTGPMN.
III — Ngây thơ hay ấu trĩ?
Để chứng minh sự hiểu biết quá non nớt, ngây ngô về đường lối hành động của Cộng sản ở một số trí thức nói trên, chúng tôi xin đưa ra dưới đây 2 trường hợp điển hình:
1) Ngây thơ về sách lược giai đoạn của Cộng sản
Trong bài bút ký nhan đề "Nói chuyện với người đã khuất" trong tạp chí Đất Nước số tháng 10-1969 nhân dịp Hồ-Chí-Minh từ trần, sau khi tâm tắc ca ngợi tài đức của họ Hồ mà tác giả "cảm thấy như là một bổn phận" (sic), giáo sư Lý chánh Trung đã nhận định: "... nếu nhìn lại những hành động công khai của cụ từ năm 1954, phải nhận rằng cụ đã luôn luôn đặt ưu tiên cho những cố gắng hòa giải: hòa giải với các đảng phái quốc gia năm 1946, với Pháp năm 1946, và 1954, với chế độ Ngô đình Diệm những năm 1957–1959 (?) khi miền Bắc không còn đòi Tổng tuyển cử như đã dự trù trong hiệp định Genève mà chỉ yêu cầu hiệp thương, nối lại quan hệ bình thường giữa 2 miền".
Rõ ràng là nhận định này đã phản ánh một vốn liếng hiểu biết vô cùng ấu trĩ về các chiến thuật của người Cộng sản, đồng thời cũng phủ nhận luôn cái chân lý khách quan ở chỗ tác giả cho rằng "miền Bắc không đòi Tổng tuyển cử như đã dự trù trong hiệp định Genève" (Sự thật là do chính quyền và nhân dân miền Nam lúc đó không công nhận giá trị của hiệp định Genève chứ đâu phải do thiện chí muốn hòa giải của họ Hồ).
Chắc chắn không một người VN có ít nhiều kinh nghiệm sống với Cộng sản lại nghĩ rằng việc Hồ chí Minh thành lập chính phủ liên hiệp với các đảng phái quốc gia vào năm 1946 là biểu hiện của một tinh thần cố gắng hòa giải. Sự thật hoàn toàn khác hẳn. Sau một năm cướp chính quyền, Cộng sản ngày càng gặp những khó khăn trở ngại trong việc lãnh đạo kháng chiến, chủ yếu là sự bất hợp tác của các đảng phái quốc gia. Để khắc phục trở ngại đó, Hồ chí Minh phải mở rộng thành phần chính phủ, tức là liên hiệp, một trong 3 hình thức sách lược căn bản (Mặt trận, Hòa bình, Trung lập) của kế hoạch xâm lược. Đối với người Cộng sản, mục đích của việc thiết lập chính phủ liên hiệp (không thể gọi là hòa giải như giáo sư Lý chánh Trung đã nhận định) là vừa được tiếng là có tinh thần đoàn kết dân tộc, lại vừa có điều kiện kiểm soát đặng tiến tới đàn áp, tiêu diệt các phần tử đối lập. Bằng chứng rõ rệt nhất là sau ngày Chính phủ liên hiệp ấy được thành lập không lâu, họ Hồ đã thẳng tay loại trừ các đảng phái quốc gia, điển hình là vụ tàn sát, thủ tiêu Quốc Dân Đảng ở phố Ôn Như Hầu Hà Nội. Bởi thế, việc Hồ mời cụ Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam v.v. ..tham gia chính phủ nhất thiết không thể được coi là một cử chỉ đoàn kết, hay một thiện chí hòa giải các mâu thuẫn nội bộ quốc gia mà chỉ là một chiến thuật tạm thời, nếu không muốn nói là một thủ đoạn vô cùng nham hiểm.
Thủ đoạn nham hiểm đó cũng đã được phơi bày lộ liễu trong một chỉ thị của Lénine: "Phải biết dùng mọi chiến lược, mọi mánh lưới, những cách thức hoạt động ngấm ngầm, làm ngơ và che dấu sự thật nhằm mục đích duy nhất là xâm nhập vào các nghiệp đoàn, bám sát vào các tổ chức để từ đó mà hành động với bất cứ giá nào" (trích dẫn theo Minh Võ trong quyển Sách Lược Xâm Lăng Của Cộng Sản [ xuất bản ở Saigon 1963 ]).
Chính vì coi sự tráo trở, lật lọng, mưu mô như một nguyên tắc hành động, nên các lãnh tụ Cộng sản ở VN, trong quá khứ cũng như hiện tại, đã tạm thời "hòa giải" với những người quốc gia qua việc thành lập Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc, và gần đây là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Mục đích của chiến thuật giai đoạn này cũng đã được vạch rõ trong bài xã luận "Chính sách Mặt trận của Đảng ta" do Xuân Thủy viết ở tạp chí Học tập (số 1-1960) cơ quan lý luận của trung ương đảng Lao động, đồng thời cũng đã được ghi trong chương lĩnh của MTGPMN sau này. Có đoạn viết nguyên văn như sau: "Mặt trận chủ trương đoàn kết bất cứ người nào có thể đoàn kết được, tranh thủ bất cứ người nào có thể tranh thủ được, trung lập bất cứ người nào có thể trung lập được, cố nhằm phân hóa kẻ thù đến cao độ và cô lập chúng, đồng thời kiếm thêm nhiều bạn ở trong và ngoài nước..."
Vài sự kiện tiêu biểu về chiến thuật hành động của Cộng sản vừa trích dẫn tưởng cũng đủ khẳng định một cách mạnh mẽ rằng tin vào thiện chí hòa giải của người Cộng sản chỉ là một điều ngây ngô hão huyền, đáng thương hại.
2) Ngây thơ về phương pháp tuyên truyền của Cộng Sản.
Sau bài biên khảo dài chiếm 20 trang nhan đề "Từ cách mạng tháng 10 đến cách mạng tháng 8" đăng trên tạp chí Đất Nước (số 3 tháng Giêng 1968) vừa qua, linh mục Trương bá Cần lại cao hứng viết tiếp một tham luận tràng giang đại hải với cái tiêu đề khá hấp dẫn "25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc" đăng ở tạp chí Đối Diện qua 3 số liên tiếp, chiếm gần 90 trang (các số 14, 15, 16). Không cần nói đến lời ca ngợi một cách nhiệt thành của tác giả đối với chủ nghĩa mác xít lê nin cũng như đối với các lãnh tụ của phương trào cách mạng vô sản quốc tế, cũng như không cần nói đến việc tác giả đề cao đường lối, chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội của miền Bắc như những thành tựu vĩ đại, hoặc tuyên truyền cho ảnh hưởng của chế độ chính trị miền Bắc bằng cách trích dẫn một đoạn trong bài diễn văn của Lê Duẩn với nội dung nói lên những hứa hẹn quyến rũ của một "chế độ ưu việt" đã làm kết luận cho bài tham luận của mình, mà chỉ cần bàn đến tính chất ngây thơ của tác giả trong việc tin tưởng vào các con số thống kê được phổ biến công khai trên các sách, báo Hanoi cũng đã thấy rõ sự lầm lẫn đáng tiếc.
Dựa vào những con số thống kê về các thu hoạch trong những địa hạt nông nghiệp, thương mại, văn hóa, kỹ thuật, công nghiệp nặng, nhẹ, cũng như dựa vào các lời tuyên bố, các nghị quyết của Lê Duẩn, Trường Chinh, hoặc Chính trị bộ trung ương đảng, tác giả đã làm cho những người đọc non nớt ngộ nhận rằng tập đoàn lãnh đạo miền Bắc đã có những nỗ lực phi thường rất đáng khâm phục trong sự nghiệp xây dựng một miền Bắc độc lập và giàu mạnh, hay nói cách khác, đã hoàn thành một cách tốt đẹp công cuộc dân tộc dân chủ trên một nửa tổ quốc. Nếu chỉ đơn thuần căn cứ vào những con số thống kê tỉ mỉ kèm theo những bảng đồ biểu như tác giả đã sưu tầm và trình bày thì quả là chế độ miền Bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao Động, đã đạt những thắng lợi lớn về đủ mọi phương diện. Tuy nhiên, người đọc có ý thức lấy làm tiếc rằng đấy chỉ là những con số được trích dẫn theo các báo chí, sách vở có tính cách tuyên truyền của nhà nước Cộng sản miền Bắc, chẳng hạn như tuần báo "Vietnam en marche" các cuốn "Kháng chiến trường kỳ nhất định thắng lợi" của Trường Chinh, "Thanh niên với cách mạng xã hội chủ nghĩa" của Lê Duẩn, "Sự nghiệp, kinh tế và văn hóa 1945–1956" của Nghiêm xuân Yêm (bộ trưởng nông nghiệp) hoặc dựa theo tài liệu của Viện kinh tế và tài liệu của một số ký giả quốc tế thân Cộng như Bernard Fall. Nói đến tuyên truyền là nói đến cái nguyên tắc "tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại", tưởng không mấy ai mà chưa biết. Một điều đáng tiếc nữa là sau mỗi phần trích dẫn, tác giả đã không bày tỏ một nhận xét khách quan nào. Thái độ im lặng trong trường hợp đó chỉ có nghĩa là một sự tán đồng, ngưỡng mộ.
(Xem tiếp trang 11)
Diễn đàn
(Tiếp theo trang 2)
Có thể tác giả làm như vậy là muốn biểu thị một thái độ khách quan trong việc biên khảo chăng? Nhưng tác giả đã quên rằng trong hoàn cảnh đấu tranh chính trị phức tạp ở miền Nam hiện nay, thái độ "muốn làm ra vẻ khách quan" ấy đã vô tình phục vụ đắc lực cho đường lối kế hoạch tuyên truyền của đối phương. Riêng đối với những ai đã có dịp sống chung với Cộng sản, hay ít ra có tinh thần vô tư trong việc nghiên cứu về lý thuyết và hành động của Cộng sản, đều nhận thức được rằng việc giới thiệu thành tích bằng những con số phóng đại là một trong các phương pháp tuyên truyền rất hiệu quả, thường có tác động mạnh mẽ vào tâm lý quần chúng theo chiều hướng có lợi cho đảng mà cán bộ Cộng sản không hề quên.
IV) Hòa bình thật hay chỉ là chiêu bài?
Trong những ngày gần đây, với sự đỡ đầu của ngoại bang, một số trí thức ở miền Nam đã lợi dụng "quyền bất khả xâm phạm" của họ, cụ thể như dân biểu Ngô công Đức, đã cố gắng khuấy động lên phong trào phản chiến, đưa ra các giải pháp chính trị cực kỳ phiêu lưu, phản động. Hậu thuẫn cho những giải pháp vô trách nhiệm đó, vẫn là những tiếng nói hằn học, những lời buộc tội phiến diện, những phân tích nhận định một chiều, những phán đoán thiếu cơ sở thực tế khách quan của một số ít trí thức, đứng đầu là linh mục Nguyễn ngọc Lan, thông qua các bài báo của họ chung quanh vấn đề chiến tranh và hòa bình. Điều đáng chú ý là ở mỗi bài viết của mình, họ đã khôn khéo viện dẫn đến các thông điệp của Đức Giáo Hoàng để làm bình phong che đậy cái ý đồ bất công hoặc làm cơ sở cho các lập luận máy móc do họ đưa ra. Vẫn là những giọng điệu kết án Mỹ can thiệp vào chủ quyền miền Nam, vẫn là những lời khích động tâm lý hiếu hòa của quần chúng, chứ không hề thấy họ bày tỏ một thái độ nghiêm chỉnh nào trước các hoạt động gây chiến của Cộng sản HN. Họ đòi Mỹ rút quân không điều kiện, đòi hòa bình tức khắc, đòi quyền sống bức thiết cho đồng bào, đòi thiết lập chính phủ lâm thời kết hợp với việc chống bắt lính, chống quân sự học đường, chống tăng cường quân đội v.v… chỉ là sự học vẹt lại một cách trơ trẽn các luận điệu tuyên truyền già nua mồm mép của đài Hà Nội mà quần chúng thường nghe lải nhải ngày này qua ngày khác đến nhàm tai.
(Còn tiếp).
#Chính Luận Oct. 8, 1970 trang hai
DIỄN ĐÀN: Nghĩ Về Một Số Người Trí Thức Ảo Tưởng (tiếp theo Kỳ 2) by Ánh Việt
Kỳ 3
Ai mà không oán ghét chiến tranh! Ai mà không muốn được sống trong thanh bình, tự do, no ấm? Nhưng việc chấm dứt chiến tranh cũng như tái lập hòa bình phải được giải quyết trên căn bản nào, trong những điều kiện nào thật hợp tình hợp lý, chứ đâu phải chỉ đơn phương miền Nam buông súng, đơn phương lính Mỹ rút đi là có hòa bình ngay!
Thử tưởng tượng rằng một ông chủ nhà kia, thay vì tống cổ bọn cướp ra khỏi vườn, lại đuổi những người hàng xóm không cho họ vào giúp mình can thiệp ngăn chặn các hành động mờ ám của bọn du thủ du thực, đặt vấn đề như thế thì có khác gì đòi Mỹ rút quân, đòi chiến sĩ ta ngưng bắn trong khi vẫn làm ngơ trước các hoạt động vũ trang của địch? Giải quyết vấn đề chiến tranh miền Nam theo chiều hướng ấy có khác gì mở toang cửa cho bọn cướp vào nhà tung hoành, dọn đường cho chúng giành lấy địa vị chủ nhân ông?
Bởi quá ngây thơ nên Linh mục Trương Bá Cần và một số "đồng chí" của ông đã không biết rằng người Cộng Sản không bao giờ muốn xây dựng một nền hòa bình đích thực.
Chủ trương cố định này đã từng được xác nhận qua những chỉ thị, giáo điều của các lãnh tụ Cộng sản quốc tế như Lénin: "Nguyên tắc căn bản của chiến lược và chiến thuật Sô Viết là sự chủ trương một cuộc chiến tranh toàn diện, triệt để và vô hạn định." hoặc Mao Trạch Đông: "Nhiệm vụ trung tâm của cách mạng, hình thức cao đẳng của cách mạng chính là chinh phục quyền bính bằng vũ khí, nghĩa là bằng chiến tranh. Nguyên tắc cách mạng của chủ nghĩa Mác Lê này có giá trị ở khắp nơi, đối với Trung hoa cũng như các nước khác" (trích Minh Võ trong Sách Lược Xâm Lăng Của Cộng sản, sách đã dẫn). Chủ trương này tự nó tố cáo quan niệm về danh từ hòa bình hoàn toàn đối lập với cách hiểu thông thường của chúng ta. Nói khác đi, hòa bình theo ý nghĩa của Cộng sản, chỉ là một chiêu bài, một cạm bẫy, một viên thuốc độc bọc đường, một chiến thuật nhất thời của phe yếu nhằm đối phó với một địch thủ mạnh hơn, đúng như Clausewitz lý thuyết gia Cộng sản đệ tam quốc tế đã viết: "Sự ký kết hòa ước chỉ là một giai đoạn chuẩn bị chiến tranh".
V. — Dân tộc hay chỉ là một nhãn hiệu?
Nhân bàn đến chiến thuật liên hiệp, hòa bình của Cộng sản, người ta không thể không nói tới chiêu bài quen thuộc khác của các lãnh tụ cách mạng vô sản: đó là 2 tiếng Dân tộc. Trong các tài liệu văn hóa phổ biến tại miền Bắc, người ta thấy nói đến rất nhiều cái gọi là "hình thức dân tộc kết hợp với nội dung xã hội chủ nghĩa". Điều đó có nghĩa là Cộng sản vận dụng từ ngữ dân tộc như một chiếc áo màu mè nhằm che đậy cái thực chất "vong bản" ở bên trong.
Trên lãnh vực chính trị, hai chữ dân tộc có giá trị của một nhãn hiệu kích thích tâm lý yêu nước của quần chúng, nhất là đối với lớp trí thức đặng lôi cuốn họ tham gia vào con đường cách mạng vô sản quốc tế hoàn toàn xa lạ với quyền lợi của tổ quốc mình. Đặc biệt ở những nước thuộc địa, hoặc những nước nhược tiểu, chậm tiến như VN, các lãnh tụ Cộng sản coi hai tiếng dân tộc như một nhân tố tích cực, có tầm ảnh hưởng sinh tử đối với quá trình đấu tranh của đảng:
"Nhân tố dân tộc chẳng những thúc đẩy phong trào cách mạng của công nhân và nông dân mà còn kích thích tinh thần yêu nước của các tầng lớp khác trong nhân dân. Nó quyết định phần lớn tính chất độc đáo của cách mạng thuộc địa." (Quốc tế Cộng sản với Vấn đề Dân tộc và Thuộc địa. NXB Sự Thật, Hà Nội 1960).
Từ ý nghĩa đó, các khẩu hiệu, tổ chức như "giải phóng dân tộc", "cách mạng dân tộc", "liên minh dân tộc dân chủ" v.v... do Cộng Sản khai sinh, cần được hiểu như một chiến thuật giai đoạn nhằm đánh lừa những người có lý tưởng yêu nước, có tinh thần quốc gia, chỉ phục vụ cho chủ trương chiến lược của họ chứ tuyệt nhiên không đáp ứng nguyện vọng đoàn kết, hòa đồng dân tộc của đa số nhân dân. Cái nhãn định "chủ nghĩa Cộng sản phát triển nhờ chiếc cầu quốc gia dân tộc" chính là rút ra từ bài học kinh nghiệm về sự lợi dụng và phản bội của Cộng sản mà mọi người quốc gia sáng suốt không có quyền làm ngơ.
VI.— Một cái nhìn đại cương vào sơ đồ đấu tranh của Cộng sản VN.
Trong khi say sưa phấn đấu cho một lý tưởng cao quý, con người ta thường bị thu hút bởi những danh từ hào nhoáng đẹp đẽ như Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, nên cũng dễ bị lợi dụng. Đó cũng là trường hợp Việt Minh cướp chính quyền ngày 10-8-1945 biến cuộc biểu tình vĩ đại của các đảng phái quốc gia tại Hà nội thành cuộc tổng khởi nghĩa của họ cách đây 25 năm.
Kinh nghiệm ê chề về sự lợi dụng trắng trợn và thô bỉ ấy đã là một bài học cảnh giác sâu sắc cho các phần tử yêu nước chân chính. Do đó, các khẩu hiệu, tôn chỉ quyến rũ như "Phấn đấu xây dựng một nước VN hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" (của Mặt trận tổ quốc) hoặc "đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo, các nhân sĩ yêu nước ở Nam Việt Nam, không phân biệt xu hướng chính trị để đấu tranh... thực hiện hòa bình, độc lập, dân chủ hoàn thành thống nhất tổ quốc" (của MTGPMN) đã không còn tác dụng thu hút nữa. Tuy nhiên, trong hàng ngũ quốc gia ở miền Nam ta, vẫn còn một thiểu số trí thức, hoặc vì tuổi đời còn trẻ, chưa có kinh nghiệm bản thân đối với Cộng sản, hoặc vì quá chủ quan và tự đại, nên đã vô tình đi vào con đường đấu tranh của đối phương.
Như nhiều người đã biết, mục tiêu cuối cùng của các đảng Cộng sản là tiến tới xích hóa toàn cầu. Mưu đồ ấy cũng đã được phản ánh một phần nào qua định nghĩa quen thuộc trước đây của Hồ Chí Minh như: "cuộc chiến tranh ở VN là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới do Liên xô lãnh đạo" hoặc của Trường Chinh như "cuộc đấu tranh giai cấp ở VN là một hình thái đấu tranh giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa".
Để đạt tới mục tiêu đó, các lãnh tụ Cộng sản ở các nước có nhiệm vụ xây dựng tại địa phương mình một chế độ chính trị trên cơ sở các nguyên lý hành động mác xít - lêninnit tức chủ nghĩa Cộng sản. Trên bình diện lý thuyết, con đường hành động của các đảng Cộng sản địa phương không ra ngoài các kế hoạch sách lược có tính cách giáo điều, kinh điển của Lénin, nhưng trong thực tiễn, để phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể và thích nghi với đặc điểm tình hình của từng giai đoạn, con đường đi của họ được vận dụng theo một sơ đồ đấu tranh uyển chuyển, chủ yếu là về
(Xem tiếp trang 11)
________________________________________
Diễn Đàn
(Tiếp theo trang 2)
Mặt chiến thuật xâm lược, phương pháp tuyên truyền, cách giải quyết các mâu thuẫn nội bộ quốc gia v.v.
Riêng tại VN, sơ đồ đấu tranh nói trên đã được mô tả qua bài trả lời của Hồ Chí Minh với phóng viên nhật báo L’Unita, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Ý, vào tháng 6 năm 1959.
Họ Hồ nói: "Chúng ta đang xây dựng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, chúng ta chỉ đang xây dựng xã hội chủ nghĩa trên một phần nửa xứ sở trong khi phần nửa khác chúng ta còn phải đánh đổ đế quốc và chấm dứt chế độ dân chủ tư sản. Điều này có nghĩa là trên thực tế, đảng ta có nhiệm vụ thực hiện cùng một lúc 2 cuộc cách mạng, một ở miền Bắc và một ở miền Nam". Hơn một năm sau, sơ đồ đấu tranh ấy được cụ thể hóa trong nghị quyết của Đại hội Đảng Lao Động lần thứ 3 (họp vào đầu tháng 9-1960) theo đó, nhiệm vụ trung tâm của Cộng sảnVN Nam là "củng cố miền Bắc và giải phóng miền Nam". (Ở đây, chúng ta chỉ đề cập tới phần liên hệ đến miền Nam).
Theo cách nói của Hồ Chí Minh, thì "đánh đổ đế quốc Mỹ và chấm dứt chế độ dân chủ tư sản" có nghĩa là đuổi Mỹ ra khỏi miền Nam và tiêu diệt giai cấp phú địa hào.
Thật ra đây chỉ là một chiêu bài quá quen thuộc mà các lãnh tụ Cộng sản VN đã từng sử dụng ngay từ thời kỳ đầu cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 với nhiệm vụ của nó đã được giải thích là "phản đế bài phong", và sau này, nhãn hiệu đó lại được dán vào cho tổ chức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam với cái ý nghĩa một cuộc cách mạng "dân tộc dân chủ". Điều đáng vạch trần ra đây là âm mưu của Cộng sản trong việc lợi dụng chiêu bài dân tộc dân chủ (tức phản đế bài phong).
Cộng sản vốn biết rằng VN là một nước nông nghiệp, tuyệt đại bộ phận nhân dân làm nghề cày ruộng. Vậy muốn dành lấy hậu thuẫn sức mạnh to lớn ấy cần phải tuyên truyền thế nào cho quần chúng nông thôn hiểu rằng đảng bị đàn áp, bóc lột thậm tệ, nhằm sách động họ dậy chống lại các thế lực cầm quyền để rồi sau đó, sẽ được phân chia ruộng đất.
Như thế, người nông dân vừa được giải phóng về mặt chính trị, lại vừa được quyền làm chủ ruộng đất của mình. Đó là ý nghĩa đơn giản nhất về quan niệm dân tộc dân chủ đối với người nông dân ít học mà Cộng sản hy vọng rằng với chiêu bài nói trên, họ sẽ thu hút được cảm tình và sự ủng hộ của đông đảo nông thôn.
Riêng đối với tầng lớp trí thức ở thành thị, Cộng sản lại khôn ngoan hơn trong việc khai thác tâm lý. Đối với thành phần này, việc kích thích tinh thần dân tộc, ý thức dân chủ không có gì khác hơn là khai thác các vấn đề chủ quyền quốc gia, những xung đột giữa lãnh đạo và quần chúng, những bất mãn của nhân dân yêu nước đối với sự can thiệp của ngoại bang, đi đôi với việc phát động các phong trào đấu tranh đòi tự do ngôn luận, tự do nghiệp đoàn, tự do hội họp, bất chấp cả những hạn chế tất yếu của hoàn cảnh một nước đang có chiến tranh. Điều cần nhấn mạnh là Cộng sản triệt để vận dụng quan niệm dân chủ Tây phương vào việc khai thác tâm lý của giới trí thức bằng cách lấy ngay các mục tiêu đấu tranh xây dựng dân chủ mà người trí thức hằng theo đuổi làm mục tiêu tranh đấu của họ, tức là dùng chiến thuật "gậy ông đập lưng ông".
Trong quá trình tiến hành nhiệm vụ nói trên, dĩ nhiên, các cán bộ Cộng sản không bao giờ sao lãng các thủ đoạn gây chia rẽ, xáo trộn, phân hóa hàng ngũ quốc gia bằng cách đào sâu thêm những mâu thuẫn đã có, hoặc nếu chưa có thì phải tạo ra trong mọi lĩnh vực, mọi môi trường sinh hoạt xã hội. Thủ đoạn nguy hiểm này cũng đã được vạch rõ trong chỉ thị của Lénine gửi cho các đảng viên, cán bộ Cộng sản: "Trong cuộc đấu tranh cách mạng, muốn đạt được thắng lợi, đảng lãnh đạo phải biết lợi dụng mâu thuẫn tạm thời trong nội bộ kẻ thù mà thực hiện liên minh có điều kiện với những người có thể là bạn đồng minh mạnh của cách mạng, dù chỉ là bạn đồng minh tạm thời, bấp bênh, không chắc chắn và có điều kiện". (Những nguyên lý của chủ nghĩa Lénin, Sự Thật, Hà nội 1964).
Tóm lại, trong quá trình tiến hành các sách lược đấu tranh, chủ yếu là lợi dụng và khai thác các mâu thuẫn nội bộ quốc gia nhằm phân hóa cao độ hàng ngũ của ta, các cán bộ Cộng sản luôn luôn hành động theo những phương châm chiến lược cổ điển. Các phương châm chiến lược ấy cũng đã được Staline nói rõ như:
— "Thấu suốt tư tưởng cách mạng bạo lực, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, kết hợp khởi nghĩa ở nông thôn với khởi nghĩa ở thành thị để giành chính quyền... không thể đấu tranh chính trị đơn thuần, cũng không thể có ảo tưởng đấu tranh hòa bình hợp pháp.
— Tích cực chuẩn bị, chớp lấy thời cơ, dũng cảm phát động toàn dân khởi nghĩa giành chủ quyền".
Staline còn giải thích thêm rằng: "Thời cơ cách mạng đã đến là lúc mà cuộc khủng hoảng đã phát triển đến tột độ, lúc mà đội tiên phong đã sẵn sàng chiến đấu đến cùng, lúc mà những lực lượng hậu bị đã sẵn sàng ủng hộ đội tiền phong và lúc mà hàng ngũ địch đã hỗn mang đến cao độ" (Sách đã dẫn, trang 98).
Như đã nói ở trên, các phương châm chiến lược và chiến thuật hành động của người Cộng sản có tính cách nguyên tắc, giáo điều. Do đó, các cán bộ của họ buộc phải tuân theo một cách máy móc cuồng tín, không được quyền thắc mắc, suy nghĩ về những thay đổi của tình hình đất nước cũng như đối tượng đấu tranh.
Chính vì vậy mà cách đây 25 năm, để động viên tinh thần yêu nước của quần chúng, các lãnh tụ Cộng sản Việt Nam cũng đã chú ý đến mâu thuẫn giữa nhân dân và tập đoàn thống trị thực dân phong kiến đương thời. Sau ngày kháng chiến chống Pháp chấm dứt, Cộng sản lại hướng mọi nỗ lực tuyên truyền vào cái gọi là mâu thuẫn cơ bản của xã hội miền Nam, coi Mỹ là đối tượng tranh đấu thay cho Pháp trước kia, như tạp chí Học Tập, cơ quan lý luận của Trung ương đảng Lao động đã viết:
"... Mâu thuẫn giữa một bên là nhân dân Miền Nam bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản, giai cấp tư sản dân tộc, các tầng lớp và cá nhân yêu nước khác, một bên là đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng gồm những bọn thân Mỹ phản động nhất trong giai cấp địa chủ và tư sản mại bản ngày càng bộc lộ sâu sắc, kịch liệt và chỉ có thể giải quyết bằng cách đánh đổ chính quyền miền Nam" (Số tháng 7-1961)
Cho đến nay, sau hơn 9 năm, Cộng sản vẫn giữ nguyên luận điệu tuyên truyền cũ rích ấy, nhưng vẫn không hấp dẫn được đông đảo nhân dân ta. Bằng chứng hùng hồn nhất là chế độ Cộng Hòa tại miền Nam vẫn tồn tại và ngày càng được phát triển.
(Còn một kỳ)
#Chính Luận Oct. 9, 1970 trang hai
DIỄN ĐÀN: Nghĩ Về Một Số Người Trí Thức Ảo Tưởng (tiếp theo Kỳ 3 và hết) by Ánh Việt
Kỳ 4 (kỳ cuối)
Hiện nay, những khó khăn do chiến tranh gây ra, đặc biệt là do sự tuyệt vọng trong chủ trương đấu tranh quân sự để lật đổ chế độ miền Nam, Cộng sản đã phải thay đổi đường lối chiến thuật bằng cách khuấy động lên phong trào nguy hòa, kết hợp với việc thổi phồng những mâu thuẫn giữa lớp người này với lớp người khác, giữa tôn giáo miền này với tôn giáo kia, giữa quần chúng và giới lãnh đạo, và chủ yếu là giữa dân tộc Việt Nam với đồng minh Mỹ nhằm làm suy yếu tiềm lực chống Cộng của quân & dân miền Nam. Trước tình hình đó, một số trí thức cầm bút đang hung hăng chĩa mũi nhọn vào việc đả kích, bôi nhọ Hoa Kỳ, đòi Mỹ rút quân, kêu gào lập chính phủ lâm thời, hô hào thỏa hiệp với Mặt trận GPMN trong một số đề nghị phi lý của họ, hằn học với những cá nhân, đoàn thể, tổ chức có lập trường quốc gia kiên định; chuyên nghề bi đát hóa các tệ nạn xã hội, trầm trọng hóa tình hình mọi mặt ở miền Nam; tất cả những việc làm quá khích đó mang ý nghĩa tích cực nào dối với sự nghiệp cải tạo xã hội, xây dựng dân chủ, giải quyết chiến tranh không? Hay chỉ có tác dụng vô tình tiếp tay với Cộng sản trong mưu đồ xâm lược miền Nam, bồi dưỡng thêm sinh lực cho một kẻ thù hiếu chiến, ngoan cố vốn đang bị suy yếu và sa lầy trên con đường cách mạng bạo lực hung hãn?
VII — Thực tế hay ảo tưởng?
Trước lúc vào tổng kết bài này, người viết muốn được xác định một lần nữa rằng các dẫn chứng và nhận định ở các phần trên đây không nhằm bôi nhọ uy tín cá nhân hoặc chụp mũ “thân cộng” một số trí thức đang quay lưng hoặc tự tách mình ra khỏi hàng ngũ chống Cộng của đồng bào miền Nam mà chỉ muốn nói lên một lời yêu cầu tha thiết với họ rằng vì vận mệnh và tiền đồ miền Nam, các ngài hãy xét lại hành vi và thái độ của mình trong quá khứ và hiện tại.
Từ mấy năm nay, theo dõi những luận điệu hằn học, đả kích sống sượng, gay gắt của các ngài được vung vãi trên một số sách báo, bất cứ một người nào có lập trường quốc gia vững chắc cũng không thể chấp nhận được. Quả vậy, nếu như những trang chữ của các ngài có gây được một vài ảnh hưởng tốt đẹp nào đó, chẳng hạn như thức tỉnh được một số phần tử trí thức quen thói cầu an, hưởng lạc, hoặc truyền vào các bạn trẻ tuổi một ngọn lửa nhiệt tình, thì đồng thời, nhiều bài báo của các ngài cũng dễ gây hoang mang chia rẽ, xung đột không ít trong hàng ngũ nhân dân, cũng như trong quần chúng tín đồ công giáo, và nhất là gần đây, đã làm tổn thương nặng nề đến lập trường chống Cộng của nhân dân miền Nam, qua việc đòi hòa bình tức khắc. Nói thế không có nghĩa là chính phủ và nhân dân miền Nam muốn duy trì chiến tranh, muốn kéo dài cảnh chết chóc rừng rợn trên quê hương đất nước này, mà chỉ muốn nhấn mạnh thái độ bất công của các ngài ở chỗ các ngài chỉ biết đòi miền Nam ngưng bắn mà không có một lời nào chỉ trích các hoạt động gây chiến, khủng bố, phá hoại của giới lãnh đạo Cộng sản Hà Nội cùng bè lũ của họ ở bên này vĩ tuyến 17. Nói thế cũng không có nghĩa là chính phủ và nhân dân miền Nam lên án những người yêu hòa bình mà chỉ muốn biểu lộ ý chí tôn trọng một nền hòa bình trong tự do và công lý chứ không thể chấp nhận một thứ hòa bình giả hiệu, tức là loại hòa bình diễn ra dưới nanh vuốt thống trị của Cộng sản.
Nói đến vấn đề hòa bình, chắc chắn có nhiều người quan tâm và mong ước hơn cả các ngài nữa. Hàng triệu chiến sĩ, công chức, cán bộ và quần chúng lao động ở những vùng thiếu an ninh, nếu so với cuộc sống nhàn nhã, thong dong của các ngài, thì khát vọng hòa bình ở các thành phần vừa kể, hẳn nhiên nung nấu, thiết tha hơn các ngài gấp bội. Nhưng đối với họ, thà chấp nhận hy sinh, gian khổ, đấu tranh cho một nền hòa bình chính nghĩa, đích thực, chứ không thể chịu cúi đầu khoanh tay nhận lấy một thứ hòa bình tạm bợ, mong manh, mở đường cho kẻ thù tiến công và chiếm đoạt sau này.
Các ngài từng lớn tiếng khẳng định rằng sự có mặt của quân đội nước ngoài trên lãnh thổ miền Nam là nguyên nhân gây ra chiến tranh và để giải quyết chiến tranh, chỉ có biện pháp duy nhất là quân đồng minh phải rút ra khỏi miền Nam. Nhận định này rõ ràng là hết sức ngây thơ, nếu không muốn nói đó chỉ là cái loa tuyên truyền và cổ vũ cho lập trường chính trị của Hà Nội và MTGP. Chẳng lẽ các ngài đã cố tình quên rằng Cộng sản phát động cuộc chiến tranh tại miền Nam này từ năm 1960, nghĩa là ngay sau khi Hà Nội vừa thiết lập xong tổ chức MTGPMN (thực chất đấy là một công cụ thi hành các đường lối chính sách của họ) và các lực lượng quân đội Mỹ, Úc, Đại Hàn, Tân Tây Lan chỉ mới đặt chân vào lãnh thổ miền Nam bắt đầu từ năm 1965 theo lời yêu cầu của giới lãnh đạo Saigon.
Sự thật về nguồn gốc chiến tranh miền Nam rõ rệt như ban ngày, tại sao các ngài lại có thái độ nhập nhằng đánh lận con đen, để rồi ngày nay ráo riết đòi quân đội Đồng minh về nước? Có bao giờ các ngài nghĩ đến hậu quả của việc quân đội Đồng minh rút ra khỏi miền Nam đối với số phận của mười lăm triệu đồng bào và sự tồn tại của chế độ ta, nhất là trong tình hình miền Nam đang bị phân hóa như hiện nay? Nói vậy không có nghĩa là phủ nhận sức mạnh của quân dân ta và thần thánh hóa vai trò của các chiến sĩ nước bạn mà chỉ muốn nêu bật một sự thật quan trọng, rằng trong giai đoạn quyết định của cuộc chiến đấu chống lại một lực lượng thù địch không phải chỉ riêng một ít đơn vị vũ trang ở miền Nam này mà là chống cả một tập thể quân đội Miền Bắc với sự yểm trợ tích cực của đế quốc Nga Sô, đế quốc Tàu Cộng, thì nhân dân ta vẫn còn cần đến sự giúp đỡ của các nước bạn về cả hai mặt vũ khí và nhân lực. Mặc dù sự có mặt của đông đảo quân đội nước ngoài tại đây đã ít nhiều làm va chạm và xáo trộn nếp sinh hoạt tinh thần lẫn vật chất của đồng bào ta, nhưng ta vẫn phải chấp nhận họ như chấp nhận một nhu cầu thiết thân cho sự sống còn của chế độ miền Nam, ít ra là trong giai đoạn lịch sử hiện nay.
Vì thế, giải quyết vấn đề chiến tranh miền Nam theo quan điểm của các ngài, chỉ cần rút quân đội đồng minh ra khỏi miền Nam mà không đặt điều kiện cụ thể nào đối với sự có mặt của hàng trăm nghìn bộ đội Cộng sản Bắc Việt ở đây, là chẳng khác gì đặt cái cày trước con trâu, là chỉ đốn cây ở ngọn mà không đào tận gốc, là vẫn duy trì mầm mống chiến tranh, là sa vào cạm bẫy của đối phương, là đầu hàng địch một cách nhục nhã, hèn nhát.
________________________________________
Diễn đàn
(Tiếp theo trang 2)
Các ngài có biết rằng chính vì các ngài là trí thức, lại thường tự vỗ ngực cho mình là những người yêu nước thương nòi, nên việc làm của các ngài cũng thường bị quần chúng đánh giá một cách gắt gao không? Một số người này thì bảo các ngài bị lóa mắt trước một vài cái hay của miền Bắc mà quên đi những cái dở vô cùng tai hại trong chủ trương đường lối chính sách độc tài, chuyên chính khắc nghiệt của tập đoàn lãnh đạo Cộng sản Hà Nội; nhóm người nọ thì bảo các ngài đang định đóng vai thần tượng, hoặc những anh hùng cá nhân, muốn dư luận phải chú ý đến các hành vi ngôn ngữ cử chỉ đối lập ngang ngửa của mình; không ít người thì cho rằng các ngài bị mặc cảm nặng nề về một số bất công thối nát của tư bản Tây phương nên dễ bị lôi cuốn bởi những nét hấp dẫn trong các thứ sách báo tuyên truyền của Cộng sản; và những người vô tư nhất — thành phần này chiếm đa số — thì nhận định rằng: bởi các ngài chưa từng là nạn nhân của chế độ Cộng sản, chưa có một vốn liếng kinh nghiệm đấu tranh nào đối với Cộng sản, lại chỉ biết Cộng sản qua một vài tác phẩm kinh điển của Marx hay một vài văn kiện tuyên truyền có tính cách quyến rũ như bản Tuyên ngôn Cộng sản, nên mới có những hành động phiêu lưu và ảo tưởng.
Tính chất phiêu lưu và ảo tưởng nơi việc làm của các ngài được biểu hiện ở khuynh hướng đả phá tích cực lập trường chiến đấu của quân dân ta và đồng minh, ở các đòi hỏi thành lập chính phủ chuyển tiếp nhằm tiến tới một chính phủ liên hiệp và một chính sách trung lập, ở thái độ phủ nhận giá trị pháp lý của chế độ miền Nam, mà không biết rằng chính các đòi hỏi đó cũng là những mục tiêu đấu tranh căn bản của đối phương nhằm làm thất bại mọi chủ trương và hoạt động của chính phủ và nhân dân ta.
Tính chất phiêu lưu và ảo tưởng nơi việc làm của các ngài còn được cụ thể hóa ở chỗ các ngài tin tưởng rằng Cộng sản Hà Nội cũng đang mong muốn đất nước sớm hòa bình và thống nhất trong tự do và phồn thịnh như niềm mơ ước của nhân dân ta mà không hiểu biết thế nào là chủ trương chiến lược và thế nào là chính sách giai đoạn của người Cộng sản.
Cuối cùng, tính chất phiêu lưu và ảo tưởng còn thể hiện ở chỗ các ngài nghĩ rằng những lời ve vãn, thiết tha kiểu “Cộng sản, người anh em của tôi” (Nguyễn Văn Trung, tạp chí Đất Nước số 3), những lời suy tôn chân thành kiểu “Nói chuyện với người đã khuất” (Lý Chánh Trung, Đất Nước số 14) những lời tán dương nức nở trong bài “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” (Trương Bá Cần, Đối Diện các số 14, 15, 16) đối với các lãnh tụ và chế độ Hà Nội kèm theo thái độ lăng nhục không tiếc lời của Nguyễn Ngọc Lan đối với giới cầm quyền và chế độ quốc gia ở Saigon (trong loạt bài viết cho báo Tin Sáng gần đây) là có thể làm lay chuyển được tâm tình và ý chí của đối phương.
Nhìn vào các việc làm có tính cách phiêu lưu và ảo tưởng của các ngài, nhiều người đã tự hỏi có đúng là các ngài thơ ngây thật sự hay chỉ là một thái độ ngụy tín, biện lận? Là những nhà trí thức ưa tìm tòi, nghiên cứu và phát hiện các vấn đề lớn, tại sao các ngài đã không nghĩ đến trường hợp những Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường ở ngoài kia và những Lê Văn Hảo, Trần Triệu Luật ở trong này, cũng chỉ vì quá tin tưởng ở người Cộng sản mà ngày nay phải kéo dài một cuộc đời nô lệ nhục nhã trong sự khống chế nghiệt ngã của những người mà trước kia họ đã từng hết lòng ủng hộ và tin tưởng.
VIII — Chú đà điểu và con thiêu thân
Đã đến lúc nhân dân miền Nam cần nói thẳng với số người trí thức ảo tưởng rằng: các ngài nên xác định một cách đúng đắn và dứt khoát chỗ đứng của mình trong chế độ miền Nam. Phản ứng sôi nổi tới mức thiếu cả sự bình tĩnh của quần chúng trong mấy ngày vừa qua đối với những việc làm phản bội của Ngô Công Đức [ * ] tưởng cũng đủ mang đến cho các ngài một đề tài suy nghĩ. Nếu như các ngài dùng ngòi bút sắc bén phanh phui các tệ nạn xã hội nhằm góp phần cải thiện chế độ miền Nam là điều đáng tán thưởng thì ngược lại, thái độ chính trị lập lờ hoặc cực tả của các ngài lại là một điều bất lợi cho công cuộc chiến đấu vì quyền lợi chung của dân tộc ta.
Như các ngài đã thấy rõ, trên lĩnh vực sinh hoạt chính trị, tiếng nói phản chiến gắt gao của các ngài thông qua những bài báo đả kích ác ý ác độc đối với những ai đang quyết tâm giữ vững lập trường chống Cộng, cho đến nay tiếng nói đó vẫn không hề tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của đa số quần chúng.
Các ngài thường mỉa mai thái độ cương quyết đánh thắng Cộng sản ở những người quốc gia yêu nước nhiệt thành là “chống Cộng lối con đà điểu” (Đối Diện số 16), nhưng các ngài có hiểu rằng những việc làm phiêu lưu nguy hiểm của các ngài lại chỉ có nghĩa như những con thiêu thân? Con đà điểu chúi đầu xuống đất nhưng vẫn còn được sống, được quờ quạng lên bước dưới ánh sáng mặt trời, chứ hành động của con thiêu thân chỉ dẫn đến cái chết lập tức một cách khờ dại, cuồng tín và vô nghĩa.
Ở những dòng cuối cùng này, người viết muốn được nói lên một lời yêu cầu khẩn thiết: Xin các ngài đừng lợi dụng chức vụ tôn giáo này, địa vị xã hội nọ, môi trường hoạt động kia, đừng tìm cách ngăn cản cuộc chiến đấu chống Cộng nghĩa của nhân dân miền Nam. Lẽ cố nhiên, cuộc chiến đấu ấy rồi sẽ đến ngày kết thúc, nhưng chắc chắn sẽ không kết thúc trong những điều kiện ô nhục và bất công như các ngài thường đòi hỏi.
Chế độ miền Nam này tuy chưa phải là một chế độ lý tưởng, nhưng ít ra, ở đây các ngài cũng còn được quyền tự do hưởng thụ và ăn nói, kể cả sự chỉ trích bừa bãi vô trách nhiệm, khác hẳn với chế độ mà đối phương của chúng ta đã lầm lì thiết lập tại miền Bắc và đang lăm le thiết lập tiếp tại miền Nam này, trong đó mỗi công dân kể cả giáo sư, dân biểu và nhà tu hành như các ngài chỉ còn là những công cụ sản xuất theo các chỉ tiêu kế hoạch của đảng và nhà nước Cộng sản mà thôi./.
____________
[ * LTC tóm lược bản tin này (của VTX) do Tiền Tuyến đăng lại:
#Tien Tuyen Sept. 19, 1970 trang nhất
Đề Nghị Lập Chính Phủ Lâm Thời Của Một Số Dân Biểu Bị Đả Kích Kịch Liệt
Ngày 17-9-1970, các dân biểu [ hoạt động nội tuyến cho Cộng sản ] do Ngô công Đức dẫn đầu gồm có Dương văn Ba, Hồ ngọc Nhuận, Lý quý Chung, đã đăng trên một số tờ báo ở Saigon một bản đề nghị «Thành lập một chính phủ lâm thời tại Nam Việt Nam, thực hiện ngưng bắn trên toàn lãnh thổ để đưa đến việc tổ chức tuyển cử tự do nhằm định đoạt tương lai chính trị của miền Nam». Đề nghị này bị hầu hết các chính khách miền Nam phản đối kịch liệt, trong đó có một số chính đảng phẫn nộ hăm dọa sẽ có biện pháp thích đáng dành cho Ngô công Đức và đồng bọn.
──✿──
LTC: hai bài tham luận của Vĩnh Nam và của Ánh Việt trên báo Chính Luận trên đây cho đến nay – 2026 – vẫn còn nguyên giá trị bao lâu cuộc trường chinh diệt trừ Cộng sản trên giải đất Việt Nam này chưa kết thúc.
Luận cứ của hai cây bút đặc sắc này của báo Chính Luận cho ta thấy hai ông có sự am hiểu thấu đáo về người Cộng sản chuyên nghề thủ đoạn gian tà chỉ chực thôn tính người Quốc gia. Sự am hiểu đó là một chữ ký bảo đảm hai ông có đủ thẩm quyền nói lên những lời tuyên ngôn của người Quốc Gia không chấp nhận chế độ Cộng sản ở mọi thời.
Thêm nữa, hai bài tham luận còn chứng tỏ một tinh thần văn minh, hiếu hòa của bậc trí thức chơn chánh khi viết bài trình bày sát rạt chủ đề sinh tử của cả miền Nam nhưng vẫn dùng lời lẽ ôn hòa và tôn trọng dành cho những kẻ trí thức thiên tả, những kẻ đang ra sức phá hoại công cuộc vệ quốc của miền Nam, gây phân tán nhân tâm, lũng đoạn hàng ngũ trong những giờ khắc cần sự đoàn kết hơn bao giờ hết. Bộ mặt thật – cốt khỉ – của băng trí thức thiên tả này đã lộ diện trần truồng một cách nham nhở, thảm hại và đớn hèn ngay sau khi bầy CSBV nón cối dép râu trong rừng tràn ra đô thành Saigon black April.
Vì thế hôm nay đọc lại những dòng chính luận này, chúng ta không khỏi lấy làm tiếc rằng, những Nguyễn văn Trung, Nguyễn ngọc Lan, Chân Tín, Lý chánh Trung và những bè lũ hữu hảo với họ v.v… không xứng đáng được trọng nể như vậy. Tuy nhiên, vì muốn giữ vẹn trang Sử miền Nam Quốc Gia với những giá trị Tự do, Nhân bản vàng ròng không chối cãi, nên tôi vẫn kiên nhẫn typing và đăng lên ở Library này, trước là để san sẻ với anh em Quốc Gia nào còn hùng tâm quyết chí, sau là để làm hành trang cho lớp người đến sau trên chặng đường nhận lãnh trọng trách tái thiết Quốc Gia Việt Nam Tự Do sắp tới.
_________________________
$pageOut $pageIn Phân đoạn 7
Vụ Nguyễn văn Trung (tiếp theo)
LTC: Sau bài tham luận của Ánh Việt trên đây, thì Nguyễn văn Trung đâu có chịu im, mà viết bài "Lên tiếng" đáp lại, được Nhựt báo Chính Luận đăng làm 2 kỳ: Chinh Luan Oc. 29, 1970 trang hai « Nói với ông Ánh Việt, tác giả bài ‘Nghĩ về một số người thức ảo tưởng’ » by Nguyễn văn Trung (kỳ 1) và Chinh Luan Oc. 30, 1970 trang hai (kỳ 2 và hết.)
Tưởng đâu Nguyễn văn Trung đọc những lời tâm huyết, ôn tồn khuyên nhủ như Ánh Việt đã viết thế kia, thì sẽ hồi tâm, phục thiện trước những chứng cứ rành rành thiết cận sự an nguy của miền Nam trước cơn xâm lăng hung hãn bằng võ khí Nga Tàu do CSBV gây ra. Nhưng không! Bài "Lên tiếng" của Nguyễn văn Trung chứng tỏ một tâm địa dối trá, tiểu nhân nhỏ nhen, cho dù Nguyễn văn Trung đã tìm đủ cách xảo ngữ mẹo thuật xào nấu ý tưởng và chữ nghĩa để đánh trống lảng vấn đề chánh, để làm loãng đi, xô giạt đi chủ đề vệ quốc đang sinh tử trong khói lửa chiến tranh nóng hổi từng giờ, làm cho người đọc không thể không tự hỏi thế Nguyễn văn Trung đang ở đâu? ở Việt Nam hay ở La Mã? đang nói về đề tài gì? về chuyện quân & dân miền Nam đang thời chiến, ngày đêm nỗ lực đánh tan Cộng quân từ miền Bắc kéo vô đây gây máu lửa ngút trời cho dân lành, hay Nguyễn văn Trung đang bàn về một chủ đề giáo khoa nơi bàn giấy lớp học trong thời bình? Thói bất lương tự trong xương của tay trí thức mắt mù và vô liêm sỉ này làm LTC tôi không chịu nổi cho dù hôm nay là đã 55 năm kể từ ngày anh ta làm trò múa rối. Do đó, tôi không có đủ vui vẻ để retyping bài đáp lại kia của anh ta, mà chỉ post vào đây nguyên dạng ảnh chụp bài báo Chính Luận để bạn đọc theo dõi.
Sau đây là Lời Tòa Soạn Chính Luận (ra ngày Oct. 29, 1970 trang hai) khi đăng bài "Lên tiếng" của Nguyễn văn Trung:
LTS: GS Nguyễn văn Trung, nguyên khoa trưởng Đại Học Văn Khoa, vừa gửi tới Chính Luận bài "Lên tiếng" đăng tải dưới đây để trả lời bài "Nghĩ về một số người trí thức ảo tưởng" của ông Ánh Việt đăng cách đây mấy tuần ở mục này.
Bài lên tiếng của GS Trung, lẽ dĩ nhiên sẽ bác bỏ mọi nhận định của ông Ánh Việt và sẽ chứng minh thực tế không ảo tưởng trong tư tưởng cũng như trong hành động của ông và các nhà trí thức đã được đề cập. Tuy nhiên ngoài cái phần thông lệ đó ra, bài lên tiếng của GS Trung gợi lên một điều khá mới mẻ và khá thành thật. Đó là điều ông có vẻ thành thật tin tưởng rằng chủ nghĩa Cộng sản hay tổ chức Cộng sản mạnh lắm đến nỗi không ai – kể cả Cộng sản – có thể hiểu thấu và tổ chức Cộng sản mạnh lắm đến nỗi không thể bị đánh bại hoàn toàn. Còn "phía bên này" tất nhiên là hoàn toàn dở. Thực tế có như thế hay không đó lại là chuyện khác. Nhưng đây dường như là nguyên nhân sâu xa đã khiến GS Trung đứng hẳn qua lập trường được gọi là "cấp tiến".
#Chinh Luan Oct. 29, 1970 trang hai (kỳ 1) #Chinh Luan Oct. 29, 1970 trang 11
#Chinh Luan Oct. 30, 1970 trang hai (kỳ 2 và hết) #Chinh Luan Oct. 30, 1970 trang 11
$pageOut $pageIn Phân đoạn 8
Chinh Luan Sept 1, 1970 trang nhất
Ý KIẾN - Chuyện Bi Hài
Cuộc thi đua ngắn hạn, từ 15-8 đến 5-9, do Cộng sản Phân Cục Miền Nam phát động đã sắp hết hạn. Mục tiêu của cuộc thi đua được đề ra là «liên tục tấn công — liên tục nổi dậy». Nhưng kết quả đạt được cho tới nay chẳng thế nào gọi được là «liên tục tấn công, liên tục nổi dậy».
Cho tới nay, thành tích lớn nhất mà cuộc thi đua của Cộng sản đã đạt được chỉ là một vụ pháo kích và tấn công ở địa phận Quảng Nam và mục tiêu có ý nghĩa nhất là một cô nhi viện. Dù vậy đây chưa phải là điểm nổi bật nhất trong giai đoạn được gọi là «thi đua liên tục tấn công, liên tục nổi dậy». Điểm nổi bật nhất trong giai đoạn thi đua là: 13 ngày sau ngày hạ lệnh thi đua, chủ tịch chính phủ ma Huỳnh tấn Phát, qua một bài diễn văn dài dòng kể lể về sự tất thắng của Cộng sản và sự tất thua của Quốc gia, đã hạ một câu rằng «Mỹ vẫn còn theo đuổi ảo vọng tìm thế mạnh trong sự xuống thang» và rằng «nếu ta (Cộng sản) không từ mọi cố gắng để tìm giải pháp chính trị thỏa đáng cho miền Nam thì mặt khác ta cũng không lùi một bước nào trước ý đồ của đế quốc Mỹ...»
Lời tuyên bố của Huỳnh tấn Phát, đem đối chiếu với thực tế chiến trường, đối chiếu với lập trường Trung ương CSVN (mới đây do Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp trình bày) và đối chiếu với thái độ của các thượng cấp Nga Tàu của Hanoi, cho thấy phía Cộng sản còn có nhiều vấn đề rắc rối hơn là phía VNCH và đồng minh Hoa kỳ.
Về quân sự, mệnh lệnh được ban ra từ Hà nội là phải chuyển đổi cuộc chiến trở về thế «chiến tranh nhân dân» nghĩa là phải chịu tụt lùi để có thể đứng lâu, nhưng tại trận tiền, Cộng sản Phân Cục Miền Nam lại hạ lệnh «liên tục tấn công — liên tục nổi dậy» nghĩa là mệnh lệnh leo thang đã đưa tới cuộc «dậy non Mậu Thân», đã từng phung phí cả trăm ngàn sinh mạng Cộng quân mà kết quả là một bước lùi dài. Như thế quan điểm của hai bên rõ ràng là đối nghịch. Sự đối nghịch chỉ có thể tăng thêm nếu một bên không chịu từ bỏ quan điểm của mình. Bởi vì trước mắt cả hai bên cùng thấy giống nhau là: địch vẫn xuống thang mà ta vẫn ở thế mạnh.
Về chính trị, Trung Ương CS VN kín đáo hơn và khéo léo hơn. Họ đã âm thầm để cho Souphanouvong của họ ở Lào chịu thương thuyết trong cái thế kém với hy vọng thử tách đất Lào ra khỏi toàn bộ Đông Dương đặng may ra cứu gỡ cho con đường xâm nhập đi Nam khỏi bị mưa bom Mỹ, giúp họ gây lại phần nào thế giá trước khi phải chấp nhận một giải pháp chung cuộc về vấn đề Miền Nam. Ngoài ra Hà Nội tuy là làm già, để đến nỗi tân trưởng phái đoàn Mỹ phải nổi sùng, nhưng không dám để nổi sùng hơn thêm, và Xuân Thủy đã vội vàng bỏ cả giỗ ông Hồ mà đi Ba Lê. Chuyến đi Ba Lê của Xuân Thủy được bắn tiếng là sẽ «nói chuyện kín với Mỹ» trong cái ý đồ là gây mâu thuẫn Việt Mỹ. Nhưng mà gây được hay không là chuyện khác. Chỉ biết rằng cho tới nay, về mặt công khai, Trung Ương Cộng Sản VN trong cái thế chờ đợi chưa chịu từ bỏ lập trường quyết liệt một cách vô vọng.
Trong khi đó, có lẽ đây là lần đầu tiên Cộng sản phân cục Miền Nam thở ra cái giọng bất thường «không từ mọi cố gắng nào để tìm một giải pháp chính trị thỏa đáng cho tình hình Miền Nam». Nếu hiểu rằng đây là một bước đi trước của Phân Cục đối với Trung Ương và đó cũng là một dấu hiệu khác biệt thì vụ «chuyện riêng chuyện kín Hoa Kỳ — Bắc Kỳ» không phải chỉ gây thắc mắc cho VNCH mà còn thê gây thắc mắc hơn cho MTGP. Nghĩa là bằng mệnh lệnh «liên tục tấn công liên tục nổi dậy», Phân Cục đòi Trung Ương liên tục đóng góp xương máu chứ không phải đóng góp mệnh lệnh. Nếu không được thế thì «đàn em» đành phải tìm cách riêng để kiếm lối sống cho chính mình và cũng là để biện minh cho cuộc chém giết làng xóm trong Nam đã kéo quá dài.
Sự tình bi hài này chẳng có gì là khó hiểu. CSVN mà có làm được gì là tùy theo ý muốn của Cộng sản Quốc Tế. Hiện nay thì Cộng sản Quốc Tế tuy có chia ra thành hai đầu nhưng chẳng có cái đầu nào là không đi tìm cái thế bồ bịch với thế lực mà họ vẫn gọi là đế quốc (Mỹ). Nga Xô qua một loạt chính sách đã thể hiện sự cương quyết đi tìm cái thế sống chung. Tàu cộng tuy vẫn hung hăng nhưng đó chỉ là cái hung hăng ngoài miệng, cái hung hăng làm giá, còn mục đích cuối cùng vẫn là sống cái đã. Mục đích của Cộng Sản Quốc Tế có vẻ bần tiện nhưng đó là cách thực tế đi tìm sự sống. Còn mục đích của Cộng Sản VN rất lý tưởng (lý tưởng về phương diện lý thuyết) tuy nhiên có điều hơi tiếc là nó chỉ đưa tới cái chết. Để an ủi thôi thì cũng nên gọi đó là cái chết anh hùng cho một chủ nghĩa.
#Tien Tuyen May. 21, 1970 trang năm Văn Hóa - Chính Trị
NHỮNG MỤC TIÊU MỚI CỦA CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM
Trong tháng 4-1970 cộng sản BV leo thang chiến tranh rõ rệt bằng các cuộc tấn công vào các tiền đồn biên giới của VNCH, trên một chiến tuyến dài gần 300 cây số, đồng thời mở hàng loạt các vụ pháo kích bằng hỏa tiễn vào các đô thị và thị trấn, trong đó có thủ đô Saigon cũng bị pháo kích trong ba đêm liền.
Trong các cuộc tấn công của cộng sản, có cuộc vây hãm hai tiền đồn Dakseang và Dakpet của VNCH kéo dài suốt 26 ngày, với hy vọng tạo một Điện Biên Phủ ở miền Nam.
Theo tin tức giới quân sự thì các cuộc tấn công của Cộng sản nằm trong cao điểm Hè, nhắm nhiều mục tiêu chiến lược và chiến thuật để gỡ thế bị động hiện nay của Cộng sản tại chiến trường VN và Cam Bốt.
CÁC MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC
1. Tìm nơi phân tán quân. Hiện quân đội cộng sản đang lâm vào thế kẹt "lưỡng đầu thọ địch". Tại VNCH, quân đội cộng sản bị săn đuổi khắp nơi, không còn dựa vào các làng mạc để đóng quân được nữa, vì chính phủ VNCH đã kiểm soát hơn 90% đất đai nông thôn. Tại Cam Bốt hàng chục ngàn quân cộng sản trước đây ẩn trú an toàn tại các sào huyệt bất khả xâm phạm nay đã bị truy nã gắt gao. Vì vậy cộng sản cần phải mở rộng địa bàn nông thôn VN để có thể phân tán bớt một số quân đồn trú tại Cam Bốt.
2. Phá kế hoạch "Việt Nam hóa chiến tranh". Các cuộc tấn công của cộng sản nhằm cầm chân quân đội Hoa Kỳ khiến chính phủ Nixon không thể rút quân đúng thời hạn và không giữ đúng được lời cam kết với dân chúng Mỹ. Cộng sản sợ kế hoạch thay quân dần dần của Hoa kỳ tại VN mà thành công, thì sẽ làm chúng mất đối tượng tuyên truyền, đồng thời có thể làm dịu dư luận phản chiến tại Hoa kỳ.
CÁC MỤC TIÊU CHIẾN THUẬT
1. Chọc thủng màng lưới phòng vệ biên giới VNCH. Cộng sản mở nhiều trận đánh lớn nhằm buộc liên quân Việt Mỹ phải tập trung vào những địa điểm trọng yếu, tạo ra những kẻ hở trong màng lưới phòng vệ biên giới của VNCH. Khi đó cộng sản cho xâm nhập những toán quân nhỏ vào vùng đông dân cư, một đằng để phân tán lực lượng, một mặt để hỗ trợ cho các lực lượng du kích địa phương khi có cơ hội thuận tiện sẽ tập trung lại thành các đơn vị lớn mở các cuộc tấn công vào các đô thị và thị trấn của VN.
2. Cắt đôi VNCH thành hai vùng. Cộng sản đã tấn công vây hãm hai tiền đồn Dakseang và Dakpet thuộc tỉnh Kontum ở cách Saigon 400 cây số về hướng Tây, và chỉ cách biên giới Lào-Việt từ 8 đến 12 cây số. Nếu tiêu diệt được hai đồn này, cộng sản có thể chiếm thị trấn Kontum và mở rộng hành lang xâm nhập từ đường mòn Hồ chí Minh vào miền Nam, rồi từ đó đánh thẳng xuống Nha Trang ở sát bãi biển miền Trung, cắt đôi VNCH thành hai vùng cô lập. Chúng đã thất bại.
3. Cướp lương thực. Công cuộc bình định và phát triển nông thôn, và cuộc đảo chính ở Cam Bốt đã làm cho cộng sản bị thiếu thốn lương thực trầm trọng. Sự kiện này đã được một hàng binh cao cấp của cộng sản, Thiếu tá Đặng ngọc Toàn, nguyên tiểu đoàn trưởng Việt Cộng thuộc Đặc khu Quảng Đà tiết lộ. Kể từ đầu năm 1970, các cán bộ VC đã nhận được chỉ thị phải tự túc 4 tháng lương thực trong một năm, và việc tiếp tế gạo bị giảm đi phân nửa. Do đó, cộng sản phải tìm cách lọt vào sống lẫn lộn trong dân làng để liệu cách sống tự túc, nghĩa là cướp bóc của dân mà sống, khỏi cần đến tiếp tế của Trung ương cộng sản ngoài Hanoi.
4. Bảo vệ cơ sở hậu cần. Các cuộc tấn công của cộng sản còn nhằm làm trì hoãn các cuộc hành quân ngoại biên chinh phạt của liên quân Việt Mỹ sang lãnh thổ Cam Bốt, giúp cho cộng sản có đủ thời giờ di tản hoặc ngụy trang các cơ sở hậu cần đặt trên đất Cam Bốt. Các cơ sở này được thiết lập cách biên giới VNCH từ 20 đến 30 cây số và không được phòng vệ vững chắc vì trước đây cộng sản ỷ vào sự che chở của cựu Quốc trưởng Sihanouk.
Trong những năm trước, cộng sản luôn luôn vượt biên giới tấn công VNCH. Khi bị truy kích hoặc oanh tạc trả đũa thì cựu Quốc trưởng Sihanouk lại lên tiếng tố cáo VNCH vi phạm nền trung lập của Cam Bốt.
5. Kỷ niệm sinh nhật Hồ chí Minh. Các cuộc tấn công của cộng sản cũng nhằm sửa soạn kỷ niệm ngày 19-5, ngày kỷ niệm sinh nhật Hồ chí Minh, đồng thời cũng là ngày thành lập đảng Cộng sản Đông Dương. Sự thực thì cộng sản dùng những ngày lễ này như những phương tiện để khích thích tinh thần các cán binh đã bị suy nhược, vào những mục đích chính trị và chiến tranh của cộng sản.
Nhiều quan sát viên cho rằng các cuộc tấn công mới của cộng sản trong cao điểm Hè chỉ là những hành động bị động, như câu phương ngôn của Việt Nam bảo là: "vào chỗ chết để tìm con đường sống".
#Tien Tuyen May 22, 1970 trang nhất
Sau những thất bại nặng nề từ Tết Mậu Thân
Cộng sản MỞ CUỘC CHỈNH HUẤN #Tien Tuyen May 22, 1970 trang nhất
Sau những thất bại nặng nề từ Tết Mậu Thân
Cộng sản MỞ CUỘC CHỈNH HUẤN TƯ TƯỞNG CÁN BINH TOÀN MIỀN
★ Tinh thần cán binh sa sút, ngao ngán chiến tranh đã đưa Trung ương Cục Cộng sản Miền Nam vào chỗ khó khăn suy sụp ★ VC đã phải chấp nhận sự lùi bước trong chiến lược.
⚫ HOÀNG ÂN
SAIGON 21-5 (H. A). — Sau hai năm thất bại chua cay cả chính trị lẫn quân sự, Trung ương Cục Cộng sản miền Nam đã phải mở cuộc chỉnh huấn tư tưởng cán binh toàn miền.
Mục đích của cuộc chỉnh huấn to tát này là để nhận định quá trình cuộc chiến do Cộng sản phát động tại miền Nam, trong giai đoạn «Tổng công kích – Tổng khởi nghĩa» năm 68 – 69 đồng thời đề ra nhiệm vụ trong năm 70 và kế tiếp.
Những sự khó khăn của Cộng sản hiện nay
Theo tài liệu «Mật» của Cộng sản thì hiện nay Trung ương Cục miền Nam đã phải gặp những khó khăn trở ngại như: cán binh yếu kém tinh thần và kỷ luật, tư tưởng hữu khuynh, tiêu cực, ngại khó khăn, sợ ác liệt, ngao ngán chiến tranh kéo dài, hoài nghi, không tin tưởng vào thắng lợi.
Ngoài ra, Cán bộ còn thiếu tinh thần trách nhiệm với binh sĩ, có tác phong quân phiệt, quan liêu, mệnh lệnh, hưởng lạc, tham ô, hủ hóa [ dâm dật, là loại chữ riêng Cộng sảnBV dùng ] và những hành động bất lương. Còn binh sĩ thì tư tưởng tự do, vô tổ chức, vô kỷ luật, không triệt để chấp hành thượng lệnh.
Những sự kiện nêu trên đã đưa Trung ương Cục Miền Nam vào chỗ khó khăn trở ngại và thất bại nặng nề.
Cộng sản phải chấp nhận một sự thụt lùi
Trước đây, khi mở cuộc «Tổng công kích, tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân (1968) Cộng sản âm mưu thắng nhanh. Nhưng qua 2 năm chiến đấu bị thất bại nặng nề Cộng sản phải ước tính lại tình hình bằng cách nêu ra 3 khả năng của chúng mà trong đó có khả năng «giằng co giữa Cộng sản và VNCH» cũng như khả năng «trở lại thế du kích chiến». Như vậy, trong tư tưởng chỉ đạo chiến tranh Cộng sản đã phải chấp nhận một sự lùi bước trong chiến lược.
Ngoài ra, Cộng sản còn đề ra năm 70 là năm giành «Thắng lợi quyết định» nhưng nếu không xong thì để qua năm 71. Như vậy chứng tỏ rằng Cộng sản không dám dứt khoát thời gian, vì khả năng và thực lực của chúng hiện tại không cho phép.
Hơn nữa mục tiêu đề ra của Cộng sản chỉ có tính cách khích động tinh thần cán binh hơn là thực tế.
Theo sự nhận xét của giới chức quân sự thì sở dĩ tinh thần cán binh Cộng sản ngày càng suy nhược là do ảnh hưởng chiến cuộc gây ra. Như vậy càng đánh càng thua, chúng càng tạo thêm nhiều khó khăn và mâu thuẫn trong nội bộ. Vì thế Cộng sản phải cấp tốc đề ra chương trình chỉnh huấn nhằm ổn định tư tưởng cán binh sau các cuộc tấn công bị thất bại và đồng thời để chuẩn bị đương đầu với những khó khăn mới.
$pageOut $pageIn
Phân đoạn 9
#Chinh Luan May 5, 1970 trang nhất #Chinh Luan May 5, 1970 trang nhất
DO KẾ HOẠCH BỐ TRÍ TÀI TÌNH, TỈ MỈ, VÀ BÍ MẬT ĐƯỢC BẢO VỆ ĐẾN PHÚT CHÓT
Ấn Quang hành quân chớp nhoáng chiếm VNQT
chiêu hồi Viện trưởng Viện Hóa Đạo đối phương
★ Cả một loạt tuyên ngôn tuyên cáo được tung ra để phát huy chiến quả thu được.
★ Phe thất thủ đang ráo riết chuẩn bị phản công sau khi cuộc đột kích đang đêm bị bẻ gãy.
✺ Tâm Chung
SAIGON, 4-5. — Vài ngày sau khi liên quân Việt Mỹ bất thần mở cuộc tấn công vào các căn cứ Cộng Sản VN trong nội địa Miên gây chấn động dư luận quốc tế thì tại Saigon một cuộc hành quân chớp nhoáng đã diễn ra vào tối hôm qua do giáo hội Phật giáo Ấn Quang thực hiện để chiếm đóng trụ sở trung ương của giáo hội Phật giáo Việt Nam Quốc Tự. Cuộc hành quân cỡ nhỏ khác cũng đang gây chấn động dư luận Phật tử trong nước và tuy rằng cuộc chiến đấu đã xảy ra giửa hai phe trong giới vốn nổi tiếng là có chủ trương hòa bình, bất bạo động, thể nhưng một ít máu cũng đã đổ ra.
Hồi 7 giờ tối qua, sau khi hội họp tại Chùa Ấn Quang, khoảng 1.000 Phật tử bắt đầu «xuống đường» kéo thẳng xuống VN Quốc Tự cầm đầu bởi Đại đức Huyền Diệu cùng hơn 100 Hướng đạo sinh Phật tử với gậy gộc và theo sau phần đông là đàn bà, trẻ con.
Trong khi đi đường, Đại đức Huyền Diệu cũng đã nhiều lần bắc loa kêu gọi «chính quyền đừng xen vào nội bộ Phật Giáo» và có lẽ Cảnh sát đã nghe theo nên không có một hành động ngăn cản nào cả.
Vì vậy, đoàn biểu tình đã thừa thắng xông lên và tiến vào VN Quốc Tự dễ dàng. Trong khi đó tại VN Quốc Tự đang hành lễ hằng tuần và cuộc lễ đã phải ngưng ngay lại nửa chừng.
Dân biểu Dương văn Thụy từ đoàn biểu tình Ấn Quang đã tiến vào gặp Hòa thượng Minh Thành, Viện trưởng Viện Hóa Đạo VNQT, và thuyết phục ông nên đi về chùa Ấn Quang để tránh sự phạm thượng của những phật tử quá khích. Trong khi đó đoàn biểu tình đang đứng hò hét đầy ngoài sân. Hòa Thượng Minh Thành sau giây lát suy nghĩ đã đồng ý và được Dân biểu Thụy «hộ tống» ra ngõ sau để lên Taxi. Khi về tới chùa Ấn Quang, Hòa Thượng Minh Thành đã gặp Thượng tọa Thiện Hoa (Viện trưởng Viện Hóa Đạo Ấn Quang). Một cuộc lễ sám hối đã được cử hành ngay sau đó và Hòa Thượng đã ký vào tuyên cáo 6 điểm trao trả chức viện trưởng Viện Hóa Đạo (VHĐ) của VNQT cho Thượng tọa Thiện Hoa, trả ngôi VN Quốc Tự cho Phật giáo Ấn Quang, kêu gọi Hội đồng VNQT hãy đoàn kết sau lưng Thượng tọa Thiện Hoa để tái lập sự thống nhất giáo hội, yêu cầu nhà cầm quyền từ nay đừng can thiệp vào nội bộ giáo hội để tránh sự phân hóa. Tuyên cáo của Hòa Thượng Minh Thành kết thúc: «Tôi thành tâm đảnh lễ đức lão Hòa thượng Tăng Thống Thích Tịnh Khiết và Hội Đồng VHĐ, xin sám hối tất cả tội lỗi của tôi trong việc tham gia giáo hội PGVNQT trước đây».
Sau khi chiếm được VN Quốc Tự một cách dễ dàng rồi, đoàn hướng đạo Phật tử Ấn Quang đã kéo cờ hiệu của Ấn Quang lên bên cạnh ngọn cờ Phật giáo và căng ở cổng VNQT tấm biểu ngữ cũng chữ lớn: «Yêu cầu chính quyền chấm dứt xen vào phá hoại Phật giáo VN». Đoàn ra thông cáo kêu gọi Phật tử tạm ngưng các cuộc lễ bái để chấn chỉnh lại chùa, cùng nhau chia người ra canh gác khắp nơi. Một số đông những người biểu tình đã ở lại VN Quốc Tự.
Đến 3 giờ sáng nay có một số người mặc thường phục (mà phe Ấn Quang cho là Cảnh sát) với sự hỗ trợ của Nhân Dân Tự Vệ toan đội nhập VNQT, nhưng đã bị những người canh gác tại đây ngăn chặn nên họ đã nổ súng và cuộc xô xát diễn ra khoảng 30 phút bằng gạch đá và gây cho một đại đức bị thương.
Sau vụ xô xát, một số các Phật tử ở lại trong VNQT, một số thì bỏ về nhà mình ở gần đó ngay cả trong giờ giới nghiêm.
Theo đại đức Nhật Thường của Ấn Quang, trưởng ban điều hành VNQT, thì sự việc xảy ra kể trên chỉ là do đệ tử của Thượng tọa Tâm Châu hay người của chính quyền. Vậy chính quyền cũng phải chịu trách nhiệm vì trong khi đó là giờ giới nghiêm không thể có thường dân đi lại.
Phát ngôn viên văn phòng VHĐ/PG Ấn Quang cho biết: Giáo hội trung ương đã bổ nhiệm Thượng tọa Từ Nhơn làm trụ trì VNQT đồng thời một ủy ban thu hồi VNQT đã được thành lập do 3 đại đức Liễu Minh, Huyền Diệu, Pháp Siêu đứng đầu. Trong thư ngỏ gửi đồng bào Phật tử, Phật giáo Ấn Quang kêu gọi sự đồng tâm nhất trí và nỗ lực xây dựng giáo hội mà trong đó có ngôi VNQT vừa được thu hồi sau nhiều năm «bị chính quyền chiếm đoạt.»
Mặt khác, Tổng đoàn Thanh niên Tăng Ni VN, và hội đoàn Phật tử Vụ thuộc giáo phái Ấn Quang phổ biến quyết định rằng:
— Tăng, tín đồ VN nhất quyết thu hồi VNQT bằng mọi giá.
— Cung thỉnh các bậc tôn túc trung ương trở về VNQT để tiếp tục hoàn thành sứ mạng trước dân tộc và đạo pháp.
— Vì tiền đồ của dân tộc và đạo pháp, các vị đi ngược lại nguyện vọng của đại đa số quần chúng phải thật tâm sám hối và trở về đường chánh.
Ngoài ra 1 tuyên cáo của sinh viên phật tử Ấn Quang đã cương quyết cùng toàn thể tăng ni và tín đồ Phật tử thu hồi VNQT trụ sở Trung ương của GHPGVNTN.
Hiện nay, Hòa thượng Minh Thành vẫn còn lưu lại chùa Ấn Quang. Tất cả các sư sãi khác tại VNQT, sau khi xảy ra cảnh «về chùa» bất ngờ kể trên, một số đã lẩn trốn ra ngoài để về Miền Vĩnh Nghiêm, một số bị bắt đưa về chùa Ấn Quang. Một số khác là Học Tăng đang theo học nội trú tại VN Quốc Tự sáng nay đã chán nản mang khăn gói bỏ về tỉnh.
Trong khi đó, có tin Thượng tọa Tâm Châu đang ở Vũng Tàu, Thượng tọa Đức Nghiệp ở Đà Lạt và Thượng tọa Huyền Minh không biết ở đâu.
Một nguồn tin khác cho hay ngay khi ngôi VNQT bị Phật Giáo Ấn Quang thu hồi xong, các tăng ni thuộc VHĐ/VNQT vẫn còn một số ở trong các phòng tu học của Học Tăng, có chiếc cầu ngăn đôi chánh điện và phòng trọ, trên chiếc cầu này được bỏ lên một khúc cây to làm hàng rào ngăn chặn ngay chính giữa không cho ai qua lại.
Nguồn tin thông thạo từ giới thân cận VHĐ/VNQT cho biết: nội trong ngày hôm nay Thượng tọa Tâm Giác sẽ nhóm họp hội đồng viện để tỏ rõ thái độ trước sự việc VNQT bị xâm chiếm và có thể ông sẽ vận động võ sinh nhu đạo của các võ đường Quang Trung xuống Saigon để chiếm lại VNQT.
Trong khi đó thì phe Ấn Quang vẫn canh gác chặt chẽ và cấm ngặt không cho ai ra vào VNQT.
Theo tin tức của hãng Reuter, Đại đức Pháp Siêu nói ông tin là chính phủ sẽ mưu toan tìm cách lấy lại Việt Nam Quốc Tự để trả lại cho phe ủng hộ chính phủ. Ông nói thêm là VN Quốc Tự hôm nay được chiếm giữ để chuẩn bị cho cuộc tổ chức lớn vào ngày Phật Đản sắp tới 15 tháng Tư Âm lịch tức nhằm ngày 19-5 Dương lịch.
#Tien Tuyen May 5, 1970 trang nhất
Hồi 7 giờ kém 15 chiều Chủ nhật sau khi hội thảo,
ẤN QUANG TIẾN CHIẾM V.N. QUỐC TỰ
BẮT CÓC HÒA THƯỢNG VIỆN TRƯỞNG!
#Tien Tuyen May 5, 1970 trang nhất
Hồi 7 giờ kém 15 chiều Chủ nhật sau khi hội thảo,
ẤN QUANG TIẾN CHIẾM V.N. QUỐC TỰ
BẮT CÓC HÒA THƯỢNG VIỆN TRƯỞNG!
★ Dân Biểu DƯƠNG VĂN THỤY ĐÃ KÈM SÁT Hòa Thượng MINH THÀNH (VIỆN TRƯỞNG VNQT) ĐI LỐI SAU VỀ ẤN QUANG.
◙ Thượng Tọa TÂM GIÁC SẼ VẬN ĐỘNG CÁC VÕ SINH NHU ĐẠO HÀNH QUÂN TÁI CHIẾM VNQT?
NGUYỄN KHẮC NHẪN
SAIGON 4-5-70 (TT). — 6g45 chiều hôm qua sau cuộc hội thảo về vụ Việt kiều bị thảm sát ở Cam-bốt, bất ngờ Đại đức Pháp Siêu tay run run cầm micro đọc 1 quyết định quan trọng của Hội tăng ni VN và Hội đoàn Phật Tử Vụ về quyết định Thâu hồi VNQT. Hàng ngàn đồng bào Phật tử, tăng ni Ấn Quang ngược đường Sư Vạn Hạnh tiến về VNQT.
Trong khi đó quanh các góc đường, Cảnh sát chìm nổi lại báo động phong tỏa các con đường tiến về hướng Tòa Đại sứ Miên.
15 phút sau, Phật giáo Ấn Quang đã vào chánh điện VNQT không gặp một chống đối nào.
7g20 dân biểu Dương văn Thụy, cùng với 2 tăng khác thuộc khối AQ từ ngôi chánh điện VNQT tiến qua cây cầu gỗ đi vào ngôi nhà trú ngụ của Hòa Thượng Thích Minh Thạnh, Viện trưởng Viện Hóa Đạo VNQT. Hòa Thượng đã ra khỏi cửa để gặp dân biểu Thụy để hỏi sự việc xảy ra. Sau khi nghe dân biểu Thụy trình bày lý do, và mời Hòa thượng về chùa Ấn Quang để gặp các Thượng Tọa bên đó, Hòa Thượng Minh Thạnh với dáng điệu mệt mỏi, chán nản trả lời:
— Tôi thì sao cũng được.
Nhưng lúc dân biểu Thụy dẫn Hòa Thượng qua các hành lang sâu hun hút để đi ra ngoài, khi ngang qua một căn phòng nhỏ, Hòa Thượng Minh Thành dừng lại ngập ngừng nói: Hay các anh nhốt tôi vào đây cũng được.
Dân biểu Thụy không ngớt phân trần thuyết phục, và một tay choàng ngang hông dẫn hòa thượng Minh Thạnh đi. Thay vì đi lối trước, Dân biểu Thụy sợ bất trắc nên đã ra lối ngõ sau, băng qua một bãi cỏ và để Hòa thượng Minh Thành trong căn phòng nhỏ Viện Cô Nhi với 2 tăng sĩ kèm sát bên. Dân biểu Thụy lại đi ra, và 15 phút sau ông ngồi trên một chiếc Taxi mang số ED 7148 băng ngang vườn cỏ ra ngõ Tô Hiến Thành để xe chở Hòa Thượng về chùa Ấn Quang.
Trong khi đó, bên trong chánh điện VNQT, những hồi chuông trống bát nhã vẫn không ngớt vang lên. Đại Đức Pháp Siêu đọc 1 thông cáo của Hội đồng Viện Hóa Đạo cho biết đại đức Từ Nhơn được bổ nhiệm làm trụ trì ngôi VNQT.
10 giờ đêm, có một tăng sĩ Ấn Quang đi từ chùa Ấn Quang qua đây phổ biến một bức thư của HT Minh Thành có nội dung chính là từ chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo. Trong khi đó các Thanh niên Thiện chí vẫn chia thành nhiều toán để phòng thủ chống cự một cuộc tái chiếm khác.
Trả lời một câu hỏi của chúng tôi, nếu có một cuộc tấn công của Cảnh sát hoặc Phật tử VNQT thì sẽ quý vị đối phó như thế nào?
Đại đức Huyền Diệu, Chủ tịch UB Thâu hồi VNQT cho biết: sẵn sàng chết nên miếng đất VNQT này để bảo vệ đến cùng, và Đại đức nói rằng nơi này là tài sản xương máu của Phật giáo đồ VN.
Trong khi Phật giáo Ấn Quang tiến vào VNQT thì Thượng tọa Tâm Châu đang ở Vũng Tàu, Thượng tọa Đức Nghiệp đang ở Đà Lạt và Thượng tọa Huyền Minh vắng mặt. Được hỏi có phải vì sự vắng mặt của các nhân vật quan trọng VNQT mà Phật giáo Ấn Quang mới quyết định bất ngờ thâu hồi VNQT hay không?
Đại đức Huyền Diệu cho biết, dù có Thượng tọa Tâm Châu hay Đức Nghiệp vẫn thi hành nghiêm chỉnh quyết định của Hội đồng Viện Hóa đạo. Đại đức còn nhấn mạnh:
— Rất tiếc vào đây không có Thượng tọa Tâm Châu.
Bên ngoài máy phóng thanh từng lúc vẫn vang lên lời kêu gọi:
— Đã đến lúc «Tà lực» phản dân tộc phản giáo hội phải chấm dứt. Phật giáo VN nhất định phải thu hồi VNQT.
12g đêm, đồng bào Phật tử lần lượt ra về, bên trong VNQT chỉ còn các thanh niên thiện chí và các tăng sĩ có nhiệm vụ canh gác các ngả ra vào để đề phòng mọi chuyện bất trắc.
Đến 3 giờ sáng, có khoảng 20 người mặc thường phục đột nhập vào VNQT, liền bị các thanh niên thiện chí phát giác, thế là một cuộc xô xát rùng rợn đã xảy ra. Nhiều tiếng súng nổ, xen lẫn với tiếng hò reo la hét, tiếng thất thanh cầu cứu.
1 tăng sĩ đã bị trúng đạn ngã quỵ, thương thế trầm trọng.
Khoảng 20 phút sau toán người lạ mặt rút đi.
Thượng Tọa Tâm Giác sẽ chiếm lại VNQT
Trong một tuyên cáo, đoàn sinh viên Phật tử Saigon đã cương quyết cùng toàn thể Tăng Ni và Tín đồ Phật tử thu hồi VNQT trụ sở Trung ương của GHPGVNTN.
Ngay khi ngôi VNQT được Phật Giáo Ấn Quang thu hồi xong, các Tăng ni thuộc VHĐ/VNQT vẫn còn ở lại trong các phòng tu học dành cho Học tăng và Học ni, bên ngoài là một chiếc cầu ngăn đôi Chánh điện với dãy phòng trọ này, lúc này được gác lên một thanh sắt chắn ngay ở giữa — không cho qua lại.
Một nguồn tin phát xuất từ đoàn sinh viên Phật tử Saigon cho biết sáng nay 4-5-1970 Thượng tọa Thích Tâm Giác sẽ vận động võ sinh Nhu Đạo của các Võ Đường Quang Trung xuống Saigon chiếm lại chùa VNQT.
Chúng tôi đang theo dõi các diễn biến và sẽ tiếp tục tường thuật trong các số báo kế tiếp.
Cầu Bến Hải ngăn đôi VNQT và Ấn Quang
Cho đến lúc chúng tôi viết bản tin này thì tại bên trong khuôn viên VNQT đã được chia đôi bởi một cây cầu ván bắc ngang, một bên là chùa VNQT, một bên là nơi tu học và chỗ ở của những học tăng học ni thuộc VNQT. Đoàn tăng ni Phật tử Ấn Quang đã chiếm phần trước của bên trong vòng cầu, còn phần bên kia cầu thuộc về phe VNQT.
#Chinh Luan May 6, 1970 trang nhất
Giữa tiếng súng nổ, tiếng hò hét, tiếng chửi bới và tiếng chuông mõ inh ỏi
SAU GẦN 3 GIỜ ÁC CHIẾN ẤN-QUANG BỊ ĐÁNH BẬT KHỎI QUỐC-TỰ!
#Chinh Luan May 6, 1970 trang nhất
Giữa tiếng súng nổ, tiếng hò hét, tiếng chửi bới và tiếng chuông mõ inh ỏi
SAU GẦN 3 GIỜ ÁC CHIẾN ẤN-QUANG BỊ ĐÁNH BẬT KHỎI QUỐC-TỰ!
★ Người chỉ huy cuộc chống trả của Ấn-Quang loan báo:
Ấn-Quang bị thiệt mạng trên 10 người và phía đối phương đốt luôn xác chết.
★ Vài dãy nhà và nhiều xe cộ bị đốt cháy.
★ 37 người bị bắt giữ trong đó có 2 lính có súng.
SAIGON, 5-5. — Sau một ngày tiến chiếm và làm chủ VNQT, «quân» của Ấn-Quang đã bị «quân» của VNQT đánh bật ra vào hồi rạng sáng hôm nay qua mấy giờ đồng hồ chiến ác liệt. Sân chùa VNQT lần này lại nhuộm thêm máu và ngọn lửa... hận thù đã thiêu rụi hai dãy nhà trong VNQT.
10 xe GMC kéo tới
Theo lời thuật lại của đồng bào quanh khu VNQT thì vào lúc 3g15, tức là còn trong giờ giới nghiêm, có khoảng 10 chiếc xe GMC nhà binh trên xe chở đầy người tiến thẳng tới trước cổng VNQT thì dừng lại. Những người này mặc thường phục, có một số khoác ngoài bằng áo giáp Cảnh sát Dã chiến, trên tay họ kẻ cầm gậy gộc người cầm súng rời khỏi xe tiến tới trước cổng VNQT. Trên đầu họ có bịt bao ni lông trắng và tay trái có đeo một giải băng màu vàng.
Tất cả đều được hướng dẫn bởi một nhà sư (mà theo lời Đại Đức Nhật Thường thì vị sư này là Thượng tọa Tâm Giác, Đại Tá Giám đốc Nha Tuyên úy Phật giáo QLVNCH).
Chiêu hồi không xong mới khai hỏa
Trước hết, «quân» của VNQT dùng loa phóng thanh kêu gọi «chiêu hồi» «quân» ở bên trong. Để đáp lại lời kêu gọi này, «quân» Ấn-Quang ở bên trong liền cho khua chuông mõ báo động ầm ĩ.
5 phút nặng nề trôi qua. Bất thần từ phía ngoài một tràng đạn M16 nổ lên ròn rã. Tiếp theo là tiếng la ó, hò hét ầm ĩ của cả bên trong lẫn bên ngoài.
Vẫn theo lời đồng bào ở quanh khu VNQT thì «quân» VNQT nổ súng, dường như «quân» bên trong cũng đáp lễ lại bằng một tràng súng tương tự.
Thế rồi cứ thế đó từng tràng súng thì nhau nổ từng hồi, hòa lẫn với tiếng la hét, tiếng chửi bới, tiếng chuông mõ.
Hỗn chiến
Khoảng nửa giờ sau «quân» VNQT được lệnh tấn công ba mặt. Phía cổng VNQT, 1 chiếc xe GMC rồ máy rồi tông thẳng vào. «Quân» bên trong nhào ra nghênh chiến. Gậy gộc vung lên tới tấp. Đồng thời cùng lúc «quân» VNQT tấn công vào phía cổng hậu VNQT và bên hông điện thờ Quách Thị Trang. Quân hai bên đã đánh nhau túi bụi bằng gậy gộc, bằng gạch đá, bằng nhu đạo và cả... võ tự do nữa.
Trong dịp này hàng trăm quả lựu đạn cay được tung ra, khói bốc ra mù mịt. Trận đánh giáp lá cà kéo dài hơn 1 tiếng đồng hồ thì «quân» Ấn-Quang có vẻ yếu thế dần rồi rút chạy. Một số «quân» của Ấn Quang đã bị bắt làm tù binh, bị trói và bị bịt mắt dẫn ra xe.
Trong số bị bắt này người ta bảo có cả ông Trưởng đoàn Thanh niên Phật tử Thiện chí (Ấn Quang).
Có tin nói có 4 người chết và trong số đó có cả người của phe Quốc Tự. Nguồn tin chính thức loan báo có 37 người bị giữ trong số này có 2 người mặc quân phục võ trang bằng súng carbin.
Lửa hận thù bốc cháy
Trong lúc hai bên đánh nhau thì ngọn lửa (không biết do phe nào đốt, phe tiến đánh hay phe rút lui) từ dãy nhà dùng làm trường dạy nghề may vá cho các Tăng Ni ở phía trước sân VNQT bốc cháy.
Vì không có ai chữa lửa ngay nên ngọn lửa mặc sức tung hoành, đốt rụi cả dãy nhà trên chục căn và có hàng trăm xe gắn máy, Vespa, Honda, máy may cũng bị ngọn lửa đốt ra tro. Sau đó xe cứu hỏa đã tới dập tắt đám cháy.
Cảnh sát phong tỏa
Sau khi trận chiến kết thúc, tất cả các ngả đường vào VNQT đều bị phong tỏa. Cảnh sát Dã Chiến và Cảnh Sát sắc phục (áo trắng) đã án ngữ các ngả đường bằng nhiều hàng rào kẽm gai, cô lập hoàn toàn khu vực xảy ra trận ác chiến vừa qua. Báo chí cũng không được bén mảng tới trước khu VNQT.
Chẳng một ai được ra vào qua lại, do đó nhà báo không biết rõ ở bên trong VNQT hiện ra sao đành chỉ còn nước đứng ở xa mà nhìn vào, và thấy rằng VNQT giờ đây chẳng khác gì một bãi chiến trường sau khi im tiếng súng. Dãy nhà bị đốt cháy đêm qua, bây giờ vẫn còn bốc khói. Và quanh khu vực VNQT, từng toán Phật tử tụm lại bàn tán, chỉ trỏ. Mọi người đều có vẻ dè dặt, e ngại.
Viện Hóa Đạo Ấn Quang
Tại khu VHĐ Ấn Quang vào sáng nay quang cảnh vô cùng rộn rịp. Ký giả, đồng bào, SV tụ họp tại đây rất đông. Lúc 10 giờ, một cuộc «họp báo» đã được tổ chức tại phòng khách VHĐ Ấn Quang, thuyết trình viên là Đại Đức Thích Nhật Thường, Phụ tá Tổng thư ký Phật giáo Ấn Quang.
Theo Đại Đức Nhật Thường thì chính Đại Đức là người chỉ huy cuộc chống trả khi VNQT bị tấn công tái chiếm hồi đêm qua. Theo Đại Đức Nhật Thường thì trong VNQT đêm qua, có 600 người vừa tăng ni vừa phật tử và dân chúng theo phe Ấn Quang. Một số người được lệnh phải ở lại giữ VNQT cho dẫu có phải chết.
Cũng theo Đại Đức Nhật Thường thì lúc 3g30 sáng, Thượng tọa Thích Tâm Giác mặc đồ trận đeo lon Đại tá đích thân điều khiển trận đánh chiếm lại VNQT. Lực lượng của Thượng tọa Tâm Giác gồm có quân đội, Cảnh sát Dã chiến mặc giáp và nhiều võ sinh trường Nhu đạo Quang Trung. Phe tấn công ồ ạt theo nhiều ngả tiến vào, kể cả ngả leo tường. Súng, lựu đạn cay, mã tấu được dùng rất nhiều. Có cả màn đánh xáp lá cà nữa. Phía Ấn Quang dùng gậy gộc và bất cứ thứ gì gặp được để chống lại. Trận đánh kéo dài cho đến 6 giờ 20 thì chấm dứt. Phía cố thủ bị thương hoặc chết nhiều quá nên phải tháo chạy. Theo lời Đại Đức Nhật Thường thì trận đánh này «tàn bạo hơn cả cuộc tàn sát Việt kiều ở Cao Miên.»
Theo lời Đại Đức Nhật Thường thì phe Ấn Quang bị chết trên 10 người và bị thương cả 100 người. Lúc 11 giờ sáng nay, Ấn Quang vẫn chưa kiểm điểm được có tất cả bao nhiêu người chết, bị thương hoặc mất tích. Trong lúc hoảng hốt chạy trốn, một số thường dân theo phe Ấn Quang bị mất giấy tờ nên đành phải chạy về chùa Ấn Quang náu thân không dám ra đường. Đại Đức Nhật Thường nói rằng chính Đại tá Đô Trưởng mang xe đến VNQT chở đi 3 xác chết. Theo lời Đại Đức Nhật Thường quả quyết thì phe tấn công đã đốt cháy luôn cả xác người chết và nhiều xe gắn máy của phe Ấn Quang. Đại Đức Nhật Thường nói, theo luật tù binh thì khi đã bắt được tù binh rồi thì không được đánh nữa. Thế mà phía Thượng tọa Tâm Châu đã bắt được người bên kia rồi mà còn mang ra ngoài đường đánh thêm nữa.
Giáo sư Hoàng Châu, Trưởng Ban Trật tự của Ủy ban Thâu hồi VNQT đã bị bắt và đang bị giam ở chùa Từ Quang.
Đại Đức Nhật Thường kết luận rằng đây là lực lượng của Miền Vĩnh Nghiêm đến đánh chiếm VNQT.
Còn phía Thượng tọa Tâm Châu thì chưa thấy lên tiếng.
Vì trận đánh đêm qua là một việc rất quan trọng cho nên phe Ấn Quang còn nhóm họp hội đồng để thảo luận đã rồi mới có thái độ.
Cuộc họp báo của Đại Đức Nhật Thường tiến hành tới đây thì có người chạy ra la thất thanh «có địch! có địch!» rồi một nhà sư líu xíu báo cáo với Đại Đức Nhật Thường «thưa thầy, có một tên của phe Tâm Châu về đây dò xét, đã bị bắt, bây giờ ta làm thế nào?» Đại Đức Nhật Thường nhanh nhẹn rẽ đám ký giả, thoát đi vào phía hậu viện, vừa đi miệng vừa lẩm bẩm «để đó! để đó!...».
Một ngày chiếm đóng
Buổi tối trước khi xảy ra trận chiến, Việt Nam Quốc Tự dưới dưới tay Ấn Quang khoác một bộ mặt khác hẳn trước đây. Ngay cổng chính là một biểu ngữ lớn đề chữ «yêu cầu chính quyền không được xen vào nội bộ Phật giáo», bên cạnh là những chiếc loa tranh đấu phát thanh liên hồi các tuyên cáo và kêu gọi phật tử bình tĩnh, đề phòng sự phá hoại bất kỳ từ đâu tới. Cổng vào chùa chỉ hé mở với sự canh gác soát xét cẩn mật của các Phật tử mặc đồng phục cầm gậy gộc.
Bên trong chánh điện, hương khói đơn sơ, không một tiếng kinh cầu nào được vang lên vì tiếng hát cộng đồng của những đoàn hướng đạo sinh Phật tử vang vang với những bài ca như «cách mạng mùa thu...».
Trong sân VNQT cũng căng đầy lều trại, dây nhợ và gậy gộc ngổn ngang bên cạnh những hàng thực phẩm tiếp tế từ bên ngoài để nuôi quân cắm trại 24/24 giờ tại đây. Từ ban chiều, tại đường Trần Quốc Toản, giao thông bị cản trở vì đồng bào tập trung rất đông trước ccửa cổng VNQT, có tới hàng trăm đồng bào chen lấn để được nhìn vào bên trong VNQT.
Trong đám đông đó, chúng tôi thấy có rất nhiều «thầy áo nâu» và không thấy 1 bóng «áo vàng» nào cả. Trời càng về tối, số người tập trung càng đông, thỉnh thoảng có một vài anh lính Mỹ bị kẹt đường không đi được, bèn đứng lên trên xe xích lô máy la lối om sòm, cuối cùng đành nhảy xuống len lỏi ra ngoài cuốc bộ vậy...
Trong khi đó, thì đồng bào Phật tử thuộc phe VNQT lại tập trung tại 2 chùa Giác Minh và Từ Quang. Số đông phật tử này đều có võ trang gậy, túi ni lông và trái chanh tươi. Tin tức từ trong đám đông đó cho biết Thượng tọa Tâm Châu từ Vũng Tàu vừa về đến Saigon là đã liên tiếp mở nhiều cuộc họp mặt với các Thượng tọa, Đại Đức VNQT để bàn thảo kế hoạch hành quân tái chiếm VNQT.
Đến 11 giờ khuya thì đồng bào tản mát ra về dần dần. Điểm đặc biệt đáng ghi nhận là trong khi đồng bào tập trung ồn ào trước VNQT như thế thì chẳng thấy bóng một nhân viên công lực sắc phục xuất hiện ở đó cho tới hơn 3 giờ khuya thì trận chiến xảy ra.
Cho tới 12 giờ trưa nay (5-5) chưa thấy một thông cáo chính thức nào của chính quyền về vụ này.
#Tien Tuyen May 6, 1970 trang ba
Sau khi chiếm Việt Nam Quốc Tự, phe Ấn Quang bị phản công đêm 5-5-70
V.N. QUỐC TỰ CHÁY NGẤT TRỜI #Tien Tuyen May 6, 1970 trang ba
Sau khi chiếm Việt Nam Quốc Tự, phe Ấn Quang bị phản công đêm 5-5-70
V.N. QUỐC TỰ CHÁY NGẤT TRỜI
HÀNG TRĂM NGƯỜI ĐÃ BỊ BẮT ĐI
KHÔNG RÕ AI BẮT VÀ BẮT ĐI ĐÂU
★ TOÁN TÁI CHIẾM VNQT, ĐƯỢC XE CAM NHÔNG CHỞ TỚI VỚI ĐẦY ĐỦ SÚNG ỐNG — ĐÃ KHAI HỎA VANG RỀN TRƯỚC KHI XÂM NHẬP ◩ PHÍA TRONG CÓ NHIỀU NGƯỜI BỊ THƯƠNG
SAIGON. — Như đồng bào đã biết, Phật tử Ấn Quang vừa chiếm VNQT vào tối ngày 3-5, được mấy tiếng đồng hồ thì đến 3 giờ sáng ngày 4-5, có 1 số người lạ mặt độ 20 tên võ trang tấn công vào VNQT. Sau 15 phút, thanh niên sinh viên canh giữ bên trong VNQT đã chống cự với tốp người lạ mặt nọ làm họ yếu thế phải rút lui. Chỉ có 1 tu sĩ bị trúng đạn bị thương khá nặng, còn ngoài ra, có một số phật tử bị xây xát.
Tấn công lần thứ 2 mãnh liệt hơn
Qua 3 giờ 30 sáng 5-5, tại V.N.Q.T đang có đông sinh viên thanh niên phật tử và nhiều học tăng đang canh gác thì bên ngoài có nhiều toán người võ trang nổ súng và tiến vào VNQT.
Theo đồng bào cho biết trước giờ nói trên, có nhiều xe chở toán người võ trang gậy gộc đến bao vây 4 phía VNQT, họ nổ nhiều loạt súng đủ loại, tiếng súng nổ kéo dài 15 phút thì có mấy chiếc xe cam nhông tông vào cửa chánh làm cửa tung ra và toán người vũ trang tiến vào bên trong bắn như mưa làm cho bên trong mặc dầu rất đông sinh viên, tăng ni và phật tử nhưng không thể chống cự nổi. Trong toán người xông vào VNQT, người ta thấy có đủ giới phận sự, từ mặc đồ nhà binh có, thường phục có, và các loại súng. Ngoài ra một số thanh niên và phụ nữ cũng được các xe cam nhông chở đến, mỗi người trùm đầu 1 bao ni lông và nơi tay có cột 1 miếng vải vàng. Ngoài số người nói trên còn có nhiều thầy tu cũng võ trang bằng gậy. Khi họ tiến vào được bên trong VNQT thì các thanh niên, sinh viên, học tăng, đồng bào phật tử trụ tại VNQT không còn chạy được, chỉ đưa tay cho tốp người ngoài vào đánh. Họ bị trói, bịt mắt, rồi bị lôi ra đường Trần Quốc Toản dồn lại một đống chờ cho đông lên rồi thì có xe đến chở đi.
Bên trong còn nhiều loạt súng nổ làm cho các căn phòng làm việc đều bị trúng đạn bể cửa, lủng vách, tủ kính bị đạn bể tan tành; và dãy nhà Tổng vụ Hành chánh và Tài chánh bị thiêu rụi hoàn toàn, cháy luôn cả nhà và đồ đạc trong phòng.
Tại dãy nhà dạy học may ở phía sau có trên 20 cái máy may cũng bị đốt và một số xe gắn máy như Vespa, Honda rồi xe đạp của sinh viên học sinh đều bị đốt cháy, tất cả khoảng trên 100 chiếc.
Số người bị thương được người ta ước lượng vừa tăng, Đại đức, thanh niên, sinh viên học sinh và đồng bào phật tử gồm cả trăm người, nhưng số người này bị toán người tấn công chở đi hết, nên người ta chưa biết được đích xác là bao nhiêu người.
Trong khi lửa cháy trong dãy nhà làm văn phòng Tổng vụ Hành chánh, có một đội vòi rồng cứu hỏa được tin cấp báo đến nơi nhưng bị ngăn chặn tại góc đường Pétrus Ký và Trần Quốc Toản. Sau cùng đoàn xe cứu hỏa mới vào được thì bên trong đã bị cháy thiệt hại nặng nề.
Sau khi tái chiếm VNQT tốp người có võ trang đã rút về chỉ còn để lại số thanh niên giữ trật tự của VNQT trước đây, nay họ trở về «cầm quyền» như cũ.
Sáng ngày 5-5, tất cả các con đường lưu thông vào VNQT như Trần Quốc Toản, Pétrus Ký, Kiều Công Hai bị cô lập chặt chẽ không ai qua lại được.
Nhà chức trách Quận 10 và ông Biện Lý đến làm biên bản
Sau khi VNQT bị tái chiếm, nơi đây đã hóa ra một cảnh tượng điêu tàn: sáng ngày 5-5, có nhà chức trách Cảnh sát Quận 10 và ông Biện Lý Quận cùng nhân viên Tư pháp đến VNQT làm biên bản nhưng bị toán giữ trật tự tại ngõ này không cho vào và sự canh gác trước VNQT rất cẩn mật.
—⚜—
#Tien Tuyen May 6, 1970 trang ba
PHƠ by Kẹo Đồng
HÀNH QUÂN CHIẾM... CHÙA!
Trong một nước đang có chiến tranh như nước ta, dù là bồ câu hay diều hâu, hay... «gà» (chữ của Dân biểu Nguyễn Trọng Nho) ai nấy cũng đều bị ảnh hưởng của quân sự. Làm gì cũng có chiến lược, chiến thuật, dù là chính khách, gian thương hay... tham nhũng.
Đến như quý vị tu hành thì ai cũng cho rằng quý vị đó phải ở trên cao hơn con người trần tục, nghĩa là không bao giờ xử dụng những chiến lược chiến thuật của chúng sinh đang ngụp lặn trong tham sân si.
Nhưng chiều Chủ nhật vừa rồi, một chuyện động trời đã xảy ra: Phe giáo Ấn Quang đã «tiến chiếm» Việt Nam Quốc tự.
Sự thật VNQT là một ngôi chùa lớn của Phật giáo VN, vậy thì Phật giáo thuộc phe phái nào cũng có thể đến đó tu hành được. Nó là của phe Thượng Tọa Tâm Châu thì nó cũng là nơi thờ Phật. Nó về với phe Ấn Quang thì đó cũng là nơi thờ Đức Thích Ca.
Nhưng ngôi chùa đó đã bị «tiến chiếm». Và vì được gọi là «tiến chiếm» nên người ta thấy trong đó có tính chất một cuộc «hành quân». Bởi vì trước hết nó có yếu tố... bất ngờ y như quân lực VN bất thần đánh thốc vào vùng Mỏ Vẹt ở Cam Bốt. Bởi vì việc tiến chiếm VNQT của phe Phật giáo Ấn Quang là một quyết định... «hợp thời cơ», bởi vì Cảnh sát đang bận... «dàn chào» ở Tòa Đại Sứ Cam Bốt và các trường Đại, Trung Học ở Saigon, chưa kể việc Thượng tọa Tâm Châu có việc phải đi Vũng Tàu. Trường hợp này cũng giống như QLVNCH và Hoa Kỳ tiến đánh Cộng sản ở Cam Bốt sau khi Sihanouk bị hạ bệ.
Sau khi chiếm VNQT, một Đại Đức tuyên đọc quyết định cử Thượng Tọa Từ Nhơn làm trụ trì, trường hợp này cũng giống như khi Sihanouk bị truất phế thì ông Cheng Heng được cử làm Quốc Trưởng Lâm Thời Cam Bốt.
Trong lúc đó lại có tin Trung Tá Thượng Tọa Tâm Giác đang chiêu mộ võ sinh nhu đạo của ông để tái chiếm VNQT, trường hợp giống như Sihanouk tính chuyện trở về Cam Bốt lấy lại chánh quyền.
Không ngờ chuyện ở bên Cam Bốt lại đang được tái diễn ở VN, không phải trên địa hạt chính trị mà trên địa hạt tôn giáo. Vì Cam Bốt là một quốc gia rất sùng mộ đạo Phật.
Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát.
$pageOut $pageIn Phân đoạn 10
#Chinh Luan May 7, 1970 trang ba
TRONG LÚC «CHIẾN TRƯỜNG» VNQT ĐANG ĐƯỢC THU DỌN
Ấn Quang lẫn VNQT đều họp báo TỐ CÁO NHAU TƠI BỜI
#Chinh Luan May 7, 1970 trang ba
TRONG LÚC «CHIẾN TRƯỜNG» VNQT ĐANG ĐƯỢC THU DỌN
Ấn Quang lẫn VNQT đều họp báo TỐ CÁO NHAU TƠI BỜI
❖ Ở chùa Ấn Quang, lẫn trong tiếng «Nam mô» là những tiếng đòi «chặt đầu 3 giáo gian Tâm Châu, Tâm Giác, Đức Nghiệp»
◙ VNQT không nhận đã chiếm lại chùa, Ấ.Q. dọa chiếm lại VNQT
❁ ĐƯỜNG THIÊN LÝ
SAIGON 6-5. — Sáng nay, trong lúc «chiến trường» Việt Nam Quốc Tự ở đường Trần Quốc Toản đang được thu dọn và theo lời yêu cầu của Dân Biểu Hồ Ngọc Cứ, Biện Lý Cuộc sẽ được yêu cầu đến kiểm kê xác chết thì tại chùa Ấn Quang đường Sư Vạn Hạnh và chùa Từ Quang đường Phan Thanh Giản Saigon đang trong không khí hội họp rất sôi nổi căng thẳng.
Tại chùa Từ Quang
Thượng tọa Thích Tâm Châu đã phổ biến cho báo chí bản Thông Bạch số 201, là tiếng nói chính thức đầu tiên của phe VN Quốc Tự về vụ giao chiến đẫm máu hôm 5-5-1970.
Thông bạch này trước hết nói về nguyên nhân đưa đến cuộc chiến, đó là, do hội nghị sơ bộ ngày 1-5-70 tại Võ đường Nhu Đạo Quang Trung bị thất bại. Sau nhiều lần tiếp xúc trước, hội nghị này đã khai diễn lúc 19g30 và kéo đến 22 giờ thì bế tắc.
Phe Ấn Quang gồm các Thượng Tọa Thiện Minh, Trí Thủ, Huyền Quang, Đức Nhuận... Phe VNQT có Thượng Tọa Tâm Châu và Tâm Giác. Bên Ấn Quang nói trước và nhất quyết đòi lấy Hiến Chương Phật Giáo đầu tiên để làm tiên quyết cho các cuộc thương thảo thống nhất. Bên Quốc Tự thì đề nghị cả 2 bên cứ chính thức gặp nhau, xé bỏ cả 3 bản Hiến Chương rồi lập một Hiến Chương mới.
Sau khi bế tắc, hai bên có hẹn gặp nhau lại, nhưng theo bên Quốc Tự thì Ấn Quang đã không giữ thành tín, xua quân chiếm VNQT.
Đoạn sau của Thông bạch, gián tiếp thanh minh rằng, đêm 4 rạng ngày 5 tháng 5, Thượng Tọa Tâm Châu không có mặt trong cuộc hành quân vì theo đó, thì lúc 10g10 ngày 3-5-70, Thượng Tọa Tâm Châu đã đi Vũng Tàu để lo tắm gội cho binh lính bị bệnh tê liệt và mãi đến đúng 11 giờ 30 ngày 5-5-70 mới trở về Saigon.
Thông bạch số 104 tiếp theo cũng của VN Quốc Tự mang chữ ký của Viện trưởng Hóa Đạo Minh Thành, nói rằng hôm Ấn Quang tiến vào VNQT, ông đã bị bắt và bị buộc ký vào tờ giấy đã thảo sẵn, và nay ông cực lực lên án hành vi đó.
Thông bạch tiếp theo là mời tất cả chư tăng Phật tử tập trung về trụ sở VNQT lúc 16 giờ chiều ngày 4-5-70 để nghe Thượng Tọa Minh Thành kể lại diễn tiến nội vụ và Thượng Tọa Tâm Châu nói về nhiệm vụ của Phật tử trong giai đoạn hiện tại, Thông bạch ghi rõ, Phật tử đến dự phải mang theo thẻ Căn Cước để kiểm soát an ninh.
Tại Ấn Quang
Dưới tượng Phật Di Đà thật cao, tay bắt ấn «Tam Muội», một hàng Thượng tọa Thiện Hoa, Thiện Minh, Hộ Giác, Pháp Tri, Huyền Quang và Pháp Lan đã chủ tọa một cuộc họp báo đầy tiếng nói máu lửa lúc 20 giờ hôm nay.
Thượng Tọa Trí Quang vắng mặt với lý do thường được nói đến: bị bệnh Suyễn!
Dưới một chút là 3 Đại đức trong Ủy Ban thu hồi VNQT gồm Huyền Diệu, Pháp Siêu, và Nhật Thường. Ba thầy này được giới thiệu như là đã chỉ huy chiếm VNQT rồi chỉ huy chống trả khi bị tái chiếm.
Dưới một chút nữa là 3 Dân biểu Nguyễn Đại Bảng, Trần Công Quốc và Phạm Tấn Nho.
Sau hết là báo chí và phật tử.
Mở đầu, Ban Tổ chức tuyên bố lý do, được kể như đây là một cuộc họp báo máu, vì máu đã chảy tràn lan trong VNQT, máu đã chảy trong lòng Phật giáo đồ.
Lên án giáo gian và chính quyền
Tiếp theo, Thượng Tọa Thiện Hoa đọc bản tuyên cáo 7 điểm lên án gay gắt giáo gian và chính quyền.
Trong phần mở đầu, cũng như bên Quốc Tự, Ấn Quang vạch rõ sự bế tắc của Hội nghị Hiến Chương hôm 1-5 và quy trách nhiệm cho bên Quốc Tự ngoan cố không muốn thu xếp, nên sau 34 giờ chờ đợi, bắt buộc Ấn Quang phải ra tay hành động.
Chiếm VNQT, Ấn Quang còn hy vọng chờ đợi một cuộc đối thoại cởi mở hiểu biết về đạo vị của bên kia, nhưng bên kia lại chọn sắt thép để giải quyết.
Vì thế, Ấn Quang kết tội 3 «giáo gian Tâm Châu, Tâm Giác và Đức Nghiệp» và đòi phải đền tội giết người, đốt chùa cướp của là những tội mà Thượng Tọa Thiện Minh nói phải «chặt đầu».
Điều 2 và 3 bản tuyên cáo tố cáo chính quyền làm hậu thuẫn đắc lực cho giáo gian và vi phạm Hiến Pháp trong âm mưu cướp đoạt VNQT.
Giáo Hội Ấn Quang tán thán sự hy sinh đóng góp xương máu của giáo dân và thông báo sẽ tổ chức “cùng khắp”, nhất loạt cầu siêu trên toàn quốc vào ngày 10-5-70.
Số tử thương tăng vọt
Bản tuyên cáo ghi Ấn Quang có 5 chết, 53 bị thương nhưng vào giữa chừng cuộc họp báo, có tin giờ chót vừa kiểm kê được thì số người chết đã lên đến 10 người, bị thương lên 100 và 50 bị bắt mất tích.
3 nhân chứng quả quyết
Ba nhân chứng sau đây đã được Ban Tổ chức mời lên quay lại khúc phim thảm sát tại VNQT. Theo cách tả chân rùng rợn, 3 nhân chứng này đã gây xúc động cho người nghe và theo sự mô tả của họ thì chính Thượng Tọa Tâm Châu đã lái xe nhà binh như 1 tướng lãnh xuất hiện đầu tiên để chỉ huy, tiếp theo là Thượng Tọa Tâm Giác bắn 3 phát súng khai hỏa rồi cuộc tấn công bắt đầu.
Nhân chứng Đại Đức Hạnh Châu nhân danh ký giả báo Saigon Mới, nói rằng thảm sát kinh hoàng quá, không ngôn ngữ nào tả xiết.
Dân biểu Quốc khóc
Nhân chứng Dân biểu Trần Công Quốc vừa khóc vừa kêu gọi Phật tử phải đoàn kết để quyết liệt chống lại tập đoàn phản dân tộc.
Sau hết là nhân chứng Đại Đức Giác Nguyên, nhân danh đệ tử của thầy Tâm Châu lên tố cáo thầy đã chỉ huy cuộc tàn sát VNQT.
Sẽ tái chiếm VNQT
Trong phần trả lời câu hỏi của báo chí, Thượng Tọa Thiện Minh không tiết lộ kế hoạch tái chiếm VNQT lần thứ hai, nhưng ông nói «VNQT đương và sẽ là một cơ sở của Giáo Hội vì đó là xương máu của mình, nhất là cơ sở đó ngày nay không còn phải là nơi tôn thờ nữa, chúng tôi nhất quyết phải loại trừ bọn giáo gian. Tôi đã phản ảnh đúng mức thái độ của Hội đồng Viện trong phiên họp gần nhứt là như vậy».
Điều đặc biệt đáng ghi nhận trong cuộc họp báo máu này, trước và sau mỗi câu của quý chư tôn Thượng Tọa Đại Đức đều có câu niệm thông thường «Nam mô A Di Đà Phật».
Bên ngoài, Cảnh Sát Dã Chiến ứng trực đề phòng có biểu tình, và đã sắp thành hàng, tay cầm ma trắc chờ đợi.
Phản ứng đầu tiên của Phật tử Huế
Theo Dân Biểu Nguyễn Đại Bảng thì trong một cuộc điện đàm hôm qua, Đại diện Phật tử Huế là ông Nguyễn tắc Luyện nói rằng, Phật tử Huế đã vô cùng xúc động trước tin VNQT bị tấn công và cho biết Phật tử Huế sẽ siết chặt hàng ngũ để chờ lệnh của Giáo Hội Ấn Quang.
Đại Tá Đô Trưởng minh xác
— Hôm nay Văn phòng Đại Tá Đô Trưởng Đỗ Kiến Nhiễu lên tiếng minh xác về lời tố cáo của Đại Đức Nhật Thường (Ấn Quang) nói rằng Đại Tá đã lái xe vào VNQT chở đi 3 xác chết.
Văn phòng Đại Tá Nhiễu xác định là Đại Tá Đô Trưởng hoàn toàn đứng bên ngoài cuộc tranh chấp của Phật Giáo về VNQT và Đại Tá chỉ hoàn toàn lo giữ an ninh trật tự cho dân đô thành.
#Tien Tuyen May 12, 1970 trang nhất Hành Quân Ngoại Biên 1970 Map #Tien Tuyen May 8. 1970 trang nhất Nhận Định — Thu Ngắn Chiến Tranh #Tien Tuyen May 8. 1970 trang nhất
Nhận Định —
Thu Ngắn Chiến Tranh
NHỮNG hình ảnh của "Thời sự Quân đội" chiếu trên màn ảnh Vô tuyến Truyền hình mấy ngày qua đã cho thấy kết quả thực tiễn của các cuộc hành quân do QLVN Cộng Hòa và Hoa Kỳ chủ động tại vùng Mỏ Vẹt và Lưỡi Câu bên kia biên giới Cambốt.
Hàng ngàn tấn võ khí, đạn dược, thực phẩm, thuốc men bị tịch thu đã nói lên sự quan trọng của các căn cứ Cộng sản trên đất Miên. Đánh thẳng vào các căn cứ đó để hủy diệt là rút ngắn chiến tranh là tiết kiệm xương máu cho đồng bào và chiến sĩ ta, vì nếu ta không ra tay kịp thời thì cái gọi là "Chiến dịch X" của Cộng sản có lẽ đã gây nhiều đau thương tang tóc và phá hoại tại VN trong những ngày qua, bởi những kho súng đạn và thực phẩm nói trên sẽ giúp cho Cộng sản có đủ phương tiện thực hiện các mưu định ngông cuồng của chúng.
Nhờ những cuộc hành quân của QLVNCH và Hoa Kỳ tại vùng mà Cộng sản lập mật khu và bản doanh "Trung ương Cục Miền Nam" của chúng, nên Cộng quân phải rút sâu vào nội địa Cambốt và không thể mở những cuộc tấn công ở VN như chúng đã dự định.
Nếu Bộ binh và Không lực ta cùng đồng minh san bằng tất cả các căn cứ địch trên đất Cambốt thì phải một thời gian khá lâu Cộng quân mới tái thiết được. Nhưng điều này có lẽ khó thực hiện, bởi nếu Chính phủ Cambốt hoan hỉ chấp nhận các cuộc hành quân đang diễn ra hiện nay trên lãnh thổ Khmer thì Chính phủ này cũng sẽ không ngần ngại thỏa thuận để Không quân Đồng Minh dội bom các căn cứ Cộng quân nếu sau này chúng tái lập trên đất Cambốt.
Mặt khác, nguồn tin mới nhất cho biết Quân Đoàn II đã tung 1 Sư đoàn sang Cambốt cắt ngang đoạn cuối của đường mòn Hồ Chí Minh. Như vậy các cuộc hành quân tại Cambốt và các cuộc oanh tạc những căn cứ tập trung của địch ở Quảng Bình, Nghệ An đã có một mục đích rõ rệt: tiêu diệt tất cả mọi phương tiện và năng lực gây chiến của Cộng sản để chặn đứng mọi mưu toan tấn công của địch ở VN, và buộc Cộng sản phải đi đến chỗ thương thuyết nghiêm chỉnh.
Muốn phòng thủ hữu hiệu thì phải tấn công. Chờ địch đánh mới chống cự thì người phải chết, nhà phải tan. Chi bằng tìm đến tận sào huyệt của địch mà đánh tức là một cách chấm dứt chiến tranh từ trong trứng. Đó là một hành động hòa bình thực tiễn chứ không phải mở rộng chiến tranh như Cộng sản đã già mồm hộ hoán, trong khi chính chúng đã mở ra trận Chiến tranh ở VN, ở Lào, rồi ở Cambốt.
TIỀN TUYẾN
──✿──
Tien Tuyen May 12, 1970 trang nhất
Nhận Định —
Chuyện Không Ngờ
CHỈ tại một căn cứ tiếp liệu của Cộng sản trong vùng Lưỡi Câu, Quân Lực VN và Hoa Kỳ đã tịch thu trên 7.500 vũ khí từ súng lục đến đại liên phòng không. Đây là số vũ khí bị tịch thu được coi là lớn nhất chưa từng thấy trong cuộc chiến tranh tại Đông Dương từ trước đến nay.
Số vũ khí lớn lao bị tịch thu nói trên cộng với hàng tấn vũ khí, đạn dược khác đã bị tịch thu từ khi có cuộc hành quân đánh thẳng vào những sào huyệt của địch tại Cambốt, đã chứng minh lý do chính đáng của các cuộc hành quân này.
Những tài liệu bắt được của Cộng sản cho thấy địch không ngờ có những trận tấn công đại qui mô như vậy vào các mật khu của chúng. Cộng sản chỉ ước lượng những cuộc tấn công nhỏ, có tính cách ngắn ngủi và phá hủy qua loa. Nhưng lần này thì Cộng sản đã hoàn toàn sửng sốt. Một số lớn căn cứ quan trọng của chúng đã bị khám phá và sẽ còn nhiều căn cứ khác bị khám phá. Nếu biết rằng Cộng sản phải mất hết biết bao công phu và xương máu mới đưa được các số vũ khí lớn lao đó vào những mật khu ở bên kia biên giới Việt Miên và sẽ dự tính bao nhiêu chuyện “ác ôn côn đồ” trong trận chiến tại VN vào những ngày tháng tới thì mới thấy các cuộc hành quân trên lãnh thổ Cambốt đã có một giá trị quý báu không có gì sánh được.
Vì ý thức được như vậy nên các chiến sĩ VN như diều gặp gió, càng thêm hăng say phấn khởi, vì chưa bao giờ họ được đánh những trận lớn mà chiến quả lại vĩ đại như thế. Một căn cứ của địch bị phát giác, bị phá hủy, súng đạn của địch bị tịch thu là như chặt lần từng cánh tay, từng cái chân của Cộng quân ở VN. Không còn kho tiếp liệu chính ở Cambốt, Cộng quân ở VN như con người không có trái tim để cung cấp máu cho các huyết quản trong cơ thể, cho nên đã thiếu thốn và đói kém nay Cộng quân chỉ còn nước chờ chết.
Người ta phải tưởng tượng là Cộng quân ở miền Nam hốt hoảng và tinh thần sa sút đến bực nào. Có thể nói là cán binh Cộng sản ở miền Nam còn xuống tinh thần gấp mấy lần khi họ nghe Hồ chí Minh chết. Mất “bác Hồ” chỉ là mất một phần tin tưởng, còn mất cái kho tiếp liệu ở Cambốt là coi như bó tay chịu chết.
Tuy nhiên, những viên chỉ huy Cộng sản không để cho cán binh của chúng có thì giờ hốt hoảng trước viễn ảnh làm “người Bô-hê-miên lang thang”. Vì vậy Cộng quân ở VNCH đã tăng gia pháo kích và đột kích tại một vài nơi. Pháo kích để lấy máu dân chúng mà rửa hận thảm bại, còn đột kích thì là một cách tự tử phù hợp nhất, vì vừa gây được chút tiếng vang vừa giải quyết được nạn “thiếu tiếp tế”.
TIỀN TUYẾN
──✿──
#Tien Tuyen May 8, 1970 phụ trang (trang 10)
Hành Quân Phá Sào Huyệt Địch Trên Lãnh Thổ Cam Bốt $pageOut $pageIn Phân đoạn 11
#Chinh Luan May 7, 1970 trang ba
NHẬN ĐỊNH RẰNG Cộng sản ĐÃ LỢI DỤNG CÁC XÁO TRỘN ĐANG TÌM CÁCH XÂM NHẬP ĐÔ THÀNH
CHÍNH PHỦ ÁP DỤNG HAI BIỆN PHÁP MẠNH: tăng giờ giới nghiêm, đóng cửa các trường học
★ Thủ Tướng giải thích với phái đoàn Thượng Viện về 3 vụ: Sinh Viên, Ấn Quang – Việt Nam Quốc Tự, người Việt gốc Miên và cho biết ở trường Hồ Ngọc Cẩn, học sinh đã đào hố cá nhân trong trường.
⚫ CHÍNH PHỦ «ĐỨNG HẲN RA NGOÀI» VỤ PHẬT GIÁO
SAIGON 6-5. — Tòa Tổng Trấn Saigon – Gia Định cho hay: Lợi dụng các cuộc xáo trộn tại Đô thành, Cộng sản đang tìm cách xâm nhập để phá hoại và tạo tình trạng bất an tại Đô thành. Với tư cách trách nhiệm bảo vệ sinh mạng và tài sản đồng bào, Tổng Trấn Saigon – Gia Định tạm thời ấn định lại giờ giới nghiêm kể từ thứ Tư ngày 6-5 như sau:
Tại Đô Thành
1. Từ 23g đến 05g30 sáng (thay vì từ 1g đến 5g30 sáng).
— Tại các quận 1, 2, 3, 4, 5 và 10.
— Một phần quận 6 giới hạn bởi đường Lục Tỉnh, công trường Duy Linh, đường Minh Phụng, đường Bình Tiên và bến Lê Quang Liêm.
— Một phần quận 11 giới hạn bởi công trường Duy Linh, đại lộ Trần Quốc Toản, đường Dương Công Trừng chạy thẳng đến giáp ranh Đô Thành.
2. Từ 22g đến 5g30 sáng (thay vì từ 23g đến 5g30):
—Tại các quận 7, 8, 9 cùng phần còn lại của các quận 6 và 11.
Tại Gia Định
1. Từ 23g đến 5g30: Khu vực thị xã Gia Định bao gồm quận lỵ Gò Vấp, xã Phú Nhuận và Thị Nghè.
2. Từ 22g đến 5g30: Xa lộ Biên Hòa từ cầu Xa lộ đến giáp ranh tỉnh Gia Định – Biên Hòa cùng khu vực Đông Ông Cộ, Cầu Sơn.
Đóng cửa các trường học
Hội Đồng Nội Các trong phiên họp sáng ngày 5-5 đã quyết định đóng cửa tất cả các trường Đại Học, Trung Học, Tiểu Học Công lập và Tư thục các ngành Phổ Thông, Kỹ Thuật và Chuyên nghiệp trong vùng Saigon – Gia Định kể từ ngày 6-5 cho đến khi có lệnh mới.
Dịp này, Bộ Giáo Dục cũng yêu cầu các phụ huynh Sinh Viên, phụ huynh học sinh trong thời gian các trường nghỉ học hãy khuyên nhủ con em nên tránh những nơi tụ tập đông người cùng mọi hành động có thể gây xáo trộn trật tự công cộng.
— Tin VTX cho hay, Hội Đồng Nội Các thu hẹp ngoài việc quyết định tăng giờ giới nghiêm, đóng cửa các trước ốc, còn quyết định một biện pháp khác là tăng cường hệ thống an ninh trên toàn lãnh thổ Biệt Khu Thủ Đô.
Thủ Tướng giải thích
Trong cuộc tiếp xúc sáng nay với báo Chính Luận, Nghị Sĩ Bùi Văn Giải, Chủ Tịch Ủy Ban Nội Vụ Thượng Viện đã cho hay là vào lúc 15g30 chiều qua, Thủ Tướng Khiêm đã tiếp 1 Phái Đoàn Nghị sĩ gồm 5 vị do ông hướng dẫn để trình bày về 3 vấn đề: vụ tranh đấu của SV, vụ VNQT và Ấn Quang và vụ người Việt gốc Miên. Tham dự buổi tiếp xúc này, ngoài Thủ tướng còn có ông Phó Thủ tướng Nguyễn Lưu Viên, ông Quốc Vụ Khanh Nguyễn Tiến Hỷ, ông Bộ trưởng Liên lạc Quốc Hội, ông Thứ trưởng Bộ Nội Vụ …
Trong cuộc tiếp xúc này, ông Phó Thủ tướng cho biết là cuộc tranh đấu của Sinh viên hiện nay không những xuất hiện tại Saigon mà còn bùng nổ tại các thành phố khác nữa. Cuộc tranh đấu đã chuyển sang giai đoạn nguy hiểm cho an ninh quốc gia vì nó không còn do các ban đại diện các trường điều khiển mà do những bàn tay lạ nhúng vào. Cuộc tranh đấu đã lan tới học sinh các trường Trung học và họ chủ trương chiếm giữ các trường. Điển hình là trường Hồ Ngọc Cẩn Gia Định đã bị chiếm giữ và các em đã đào hố cá nhân ngay trong trường rồi giăng nhiều biểu ngữ từ ngoài đem vào. Vì vậy Chính phủ phải có biện pháp. Thứ nhất là cho các học sinh các trường nghỉ học. Thứ hai là đột nhập vào tòa Đại sứ Miên bắt hết các Sinh Viên. Số Sinh Viên bị bắt gồm 74 người trong đó chỉ có 13 Sinh Viên, số còn lại là 51 HS phần đông dưới 15 tuổi, 1 nữ tu sĩ và 7 người không có giấy tờ.
Hiện nay chưa có phản ứng gì sau vụ bắt này nhưng Chính phủ vẫn nhận thấy tình thế chưa có thể gọi là tạm yên.
Ngoài ra theo Thủ tướng thì ông đã chỉ thị cho Bộ Nội Vụ dành mọi sự dễ dàng trong việc lập thủ tục hợp thức hóa Tổng hội Sinh viên. Các SV đã được mời tới Bộ để lập thủ tục và chính phủ đã định dành một biệt thự hơn 2000 thước vuông tọa lạc tại số 207 đường Hồng Bàng để anh em Sinh viên làm trụ sở nhưng tiếc thay Hội Quả Phụ Tử Sĩ đã nhanh chân chiếm mất rồi.
Về vụ tranh chấp giữa VNQT và Ấn Quang. Thủ Tướng cho biết đây là một vấn đề phức tạp gây thêm nhiều khó khăn cho đất nước trong tình trạng hiện tại nhưng vì vấn đề thuộc phạm vi nội bộ của Phật Giáo nên chính quyền đứng hẳn ra ngoài. Thủ Tướng cũng quả quyết là trong vụ chiếm lại VNQT không có việc quân đội tham gia. Nếu có báo nào đã đăng tin như thế thì xin hãy cải chính lại. Quân đội có can thiệp chăng cũng chỉ là vấn đề giữ gìn an ninh công cộng mà thôi.
Về vụ người Việt gốc Miên, theo thông cáo của UB tranh đấu do Thượng tọa Kim Sang ký thì là vì trong giai đoạn hiện tại có nhiều biến chuyển quan trọng nên để tránh mọi sự lợi dụng của Cộng Sản, các UB Tranh đấu 14 tỉnh hãy bình tĩnh chờ lệnh mới, vì vậy nên Thủ Tướng cho rằng vấn đề này đã tạm ổn.
Các cuộc xuống đường của SV bất thành
Sáng nay Tổng Hội SV Saigon cho hay 19 SV trong số các SVHS bị bắt ở Tòa ĐS Miên đã bị giải qua Biện Lý Cuộc vì tội « phá rối trị an », trong số có SV Thắng, quyền Chủ tịch THSV Saigon. Cũng tin trên cho biết SV Thắng, Trực và Hiền mặt mày đều sưng húp. Hầu hết các học sinh bị bắt đã được trả tự do từ chiều qua do sự bảo lãnh của Phụ huynh. Riêng các SV còn lại vẫn bị giữ tại Quận 3. Đêm qua SV tổ chức Đêm không ngủ, ca hát tưng bừng trong bót.
— Sáng nay, cuộc xuống đường của Sinh Viên Kỹ Thuật Phú Thọ đã bất thành vì Cảnh Sát phong tỏa chặt chẽ. Ngay từ sáng qua các Phân Khoa Đại Học cũng đều phong tỏa như vậy. Ở Đại Học Kiến Trúc, Ban Đại Diện SV đã ra kháng thư phản đối Chính Quyền đã cho hàng trăm CSDC (Cảnh Sát Dã Chiến) đến trèo vào trường bất chấp sự phản đối của Giáo Sư Khoa Trưởng. Ban Đại Diện kêu gọi toàn thể SV Kiến Trúc ngày 9-5 này tới trường để tích cực đòi Cảnh Sát phải rút khỏi trường.
— Đại Hội Học sinh dự định tổ chức vào sáng nay ở Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp cũng bất thành vì Cảnh Sát phong tỏa rất kỹ. Khoảng 200 HS tụ tập ở bên hông sân vận động Hoa Lư và Bộ Xã Hội đã bị Cảnh Sát giải tán, không có gì đáng tiếc xảy ra.
#Tien Tuyen May 7, 1970 trang nhất
Một Sĩ quan thuộc Nha Tuyên úy Phật giáo cho biết:
2 Thượng Tọa Tâm Châu và Tâm Giác không có mặt khi tái chiếm V.N.Q.T.
◙ Hòa Thượng Minh Thành đã trốn khỏi chùa Ấn Quang
▣ Sáng 6-5, khu Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp bị phong tỏa nên kẹt xe kinh khủng suốt mấy tiếng đồng hồ.
❁ NHẤT GIANG
SAIGON 6-5 (NG) — Đại úy Nguyễn Thụy Hòa, Phụ tá Khối Giáo vụ thuộc Nha Tuyên úy Phật Giáo sáng 6-5 đã tiếp một ký giả trong nước đến phỏng vấn Thượng Tọa Thích Tâm Giác, Giám đốc Nha Tuyên úy Phật giáo về việc có nguồn tin Thượng tọa Thích Tâm Giác đã chỉ huy việc tái chiếm VN Quốc Tự trong đêm 5-5-70.
Đại úy Hòa cho biết đêm đó Thượng tọa Thích Tâm Giác đã ngủ lại ở dưới Trường Nhu Đạo Quang Trung. Tuy nhiên, sau vụ khối giáo phái Ấn Quang chiếm VNQT, Thượng tọa sợ có chuyện không hay xảy ra nên trong đêm ngày 4 rạng ngày 5-5, Thượng tọa ngủ ở Nha Tuyên Úy Phật giáo và không hề đi đâu vắng mặt một phút nào. Trung sĩ I Hoàng Toại, người thư ký của Thượng tọa Thích Tâm Giác cũng xác nhận như vậy và anh nói anh rất lấy làm ngạc nhiên đến sững sờ khi nghe nói Thượng Tọa Thích Tâm Giác đã có mặt và chỉ huy việc tái chiếm VNQT. Anh nói nếu cụ đi ra ngoài thì chính anh là kẻ phải mở cửa cho cụ, và đêm hôm đó, cụ ngủ ở trong phòng Giám đốc, còn tôi luôn luôn túc trực ở ngoài.
Tiếp theo đó, Đại úy Hòa cho biết về phản ứng của Giáo hội PGVNTN thuộc VNQT về việc khối Ấn Quang chiếm ngụ bất hợp pháp VNQT. Giáo hội đã định sẽ áp dụng theo căn bản pháp lý và sẽ nhờ công lý can thiệp. Đồng thời hôm 1-5-70 chư thượng tọa bên Ấn Quang như Hòa thượng Trí Thủ, Thượng tọa Thiện Minh, Thượng tọa Đức Nhuận, Thượng tọa Mãn Giác, Thượng tọa Huyền Quang còn thọ trai chung với Thượng tọa Tâm Châu và Thượng tọa Tâm Giác tại Trường Nhu đạo Quang Trung để thông cảm về vấn đề thống nhất Giáo hội và các vị trong giáo hội đều tin tưởng rằng cuộc họp mặt thân mật này sẽ mở đầu cho những ngày tươi sáng về sau. Nhưng đau đớn thay, chữ “thành tín” đã không còn được tôn trọng. Đại úy Hòa cũng xác nhận về Thượng tọa Thích Tâm Châu đã đi Vũng Tàu cho đến 10 giờ sáng 5-5, Thượng tọa mới từ Vũng Tàu về đến Saigon.
Kể lại khúc phim Hòa thượng Minh Thành đi trốn
Sau đó, Đại úy Hòa đã kể lại khúc phim Hòa thượng Minh Thành bị phe Ấn Quang bắt về VNQT và bắt ép ký vào một tờ Thông Bạch đã đánh máy sẵn và người bắt ép là Thượng tọa Mãn Giác. Hòa thượng Minh Thành còn bị dọa nếu không ký sẽ bị đem trả về VNQT giao cho những thanh niên vừa chiếm VNQT và sẽ «không bảo đảm tính mạng». Sau đó Hòa Thượng đã bị giam cầm tại một căn phòng trong chùa Ấn Quang cho đến 5 giờ sáng, Hòa thượng xin phép đi tiểu và đã lẻn ra được khỏi chùa. Hòa thượng đi bộ về đường Trần Quốc Toản, vào Trại Phan Đình Phùng ở gần VNQT để nhờ gọi điện thoại cho Cảnh sát nhưng không thấy đến, sau đó phải nhờ gọi về Nha Tuyên Úy Phật giáo và ở đây đã cho một chiếc xe đến đón Hòa thượng.
Đến sáng ngày 4-5, Hòa thượng Minh thành với tư cách viện Trưởng viện Hóa Đạo kiêm Trụ Trì VNQT đã đến Biện Lý Cuộc trình bày sự việc với ông Phó Biện Lý Phòng 3. Buổi chiều, Nha Giám Đốc Cảnh Sát Đô Thành cũng đã lấy lời khai của Hòa thượng. Hiện Hòa thượng Minh Thành đang trú ngụ nhờ ở chùa Vĩnh Nghiêm.
Chỉ là một chuyện tranh giành ảnh hưởng
Ngoài ra, Đại úy Hòa cũng cho biết về việc chiếm đi chiếm lại VNQT có thể là do một nhóm người quá khích chủ xướng để cố ý làm tan nát nội bộ Phật giáo.
Cũng như việc nói Thượng tọa Tâm Giác chỉ huy bên phía VNQT có thể «đẩy» Thượng tọa ra khỏi chức Giám đốc Nha Tuyên úy Phật giáo vì từ lâu có một nhóm người vẫn muốn Thượng tọa Mãn Giác thay thế Thượng tọa Tâm Giác mà không được.
Đường phố Saigon ngày 6-5
Sáng ngày 6-5, các đường phố ở Saigon đều bị kẹt kinh khủng vì một số đường bị phong tỏa. Một số học sinh gồm nữ sinh Trung học Gia Long và một vài trường Tư Thục đã tụ họp ở đường Đinh Tiên Hoàng trước sân vận động Hoa Lư để toan vào Trung tâm Quốc Gia Nông Nghiệp ở đường Cường Để, nhưng sau đó đã ra về. Đường Trần Quốc Toản và xung quanh VN Quốc Tự cũng vẫn còn bị phong tỏa.
—⚜—
#Tien Tuyen May 7, 1970 trang ba
"GIẶC ĐẾN BỒ ĐỀ?" Tien Tuyen May 7 1970
PHƠ
by Kẹo Đồng
"GIẶC ĐẾN BỒ ĐỀ?"
SẤM của cụ Trạng Trình có câu rằng... "Giặc đến Bồ Đề thì giặc lại tan".
Phải chăng đây là điềm... hòa bình sắp xuất hiện?
Vì súng đã nổ và máu đã đổ nơi cửa thiền khi Phật giáo giành nhau ngôi Việt Nam Quốc Tự. Đánh nhau ngay trong chùa thì có khác nào "chiến tranh đến tận Bồ Đề", vì "giặc" nói trong câu sấm là "giặc giã" chứ đâu phải giặc ở ngoài?
Nếu Phật giáo VN phải... hy sinh đến như vậy để có hòa bình cho đất nước thì cũng là một điều đáng ghi khắc công đức.
Nhưng tên Kẹo Đồng chỉ là một kẻ đoán mò, vậy thì không nên tin "lời bàn Mao tôn Cương" của hắn.
Trong khi đó, các hãng thông tấn ngoại quốc đánh tê-lê-típ đi khắp thế giới, nguyên văn như sau:
SAIGON — 5/5. — Sau hơn 32 tiếng đồng hồ chiếm đóng ngôi chùa lớn nhất VN, các nhà sư VN đã bị một số các nhà sư VN khác tấn công chiếm lại. Phật tử VN trong chùa này đã bị Phật tử VN ở ngoài tràn ngập, vì họ có súng. Một số nhà trong ngôi chùa này đã bốc cháy và người ta được biết do tay những Phật tử (không biết bên nào) đốt. Theo dư luận từ VN cho biết thì các nhà sư và Phật tử VN của cả hai bên đều tôn thờ một Đức Phật, đều tụng kinh cùng một thứ tiếng, đều gõ chuông gõ mõ theo một nhịp điệu như nhau. Cho đến giờ này, chính Đức Phật cũng không hiểu vì sao mà họ lại chia rẽ, và giành nhau một ngôi chùa, vì chùa nào cũng có tượng Phật giống nhau. Hơn nữa, theo Kinh Phật dạy thì Phật lại ở trong … tâm con người chứ không phải ở mô cả. Người ta tự hỏi: Phải chăng vì nước VN chịu đựng chiến tranh quá lâu nên ai cũng bị... «ảnh hưởng chiến tranh, kể ngay cả tôn giáo?»
#Chinh Luan May 8, 1970 trang ba
Thượng tọa Tâm Giác chính thức xác nhận: Chính Phật tử tự động tái chiếm VNQT
VNQT tố cáo: Ấn Quang tàn bạo hơn Cộng sản
#Chinh Luan May 8, 1970 trang ba
Thượng tọa Tâm Giác chính thức xác nhận: Chính Phật tử tự động tái chiếm VNQT
VNQT tố cáo: Ấn Quang tàn bạo hơn Cộng sản
Ấn Quang sẽ làm lễ cầu siêu sớm hơn 2 ngày
★ Thượng tọa TÂM CHÂU TỐ ẤN QUANG ĐÃ PHỤC RƯỢU CHO VNQT SAY ĐỂ VNQT KÝ...
❖ ẤN QUANG CỐ LIÊN HỆ VỤ VNQT VỚI CÁC VỤ THẢM SÁT MỸ LAI, VIỆT KIỀU Ở MIÊN.
LÊ HOÀNG PHÚ – ĐƯỜNG THIÊN LÝ
SAIGON 7-5. — Trong lúc các Thượng tọa Tâm Châu, Tâm Giác cùng xác nhận những người đã đến tái chiếm VNQT đêm vừa rồi là «các Phật tử đã tự động tiến chiếm» thì cả 2 phía VNQT lẫn Ấn Quang đều đang ráo riết chuẩn bị các cuộc họp báo kế tiếp các cuộc họp báo trước và đều nói là «để làm sáng tỏ vấn đề». Riêng Ấn Quang sẽ tổ chức «lễ cầu siêu các nạn nhân bị thảm sát ở VNQT» vào ngay chiều 8-5 tức là sớm trước hơn đã định 2 ngày.
2 Thượng tọa Tâm Châu, Tâm Giác đã nói những gì?
Mặc áo nâu sồng, hút thưốc tây, nhai trầu và chiếc dù mang sẵn trên vai trong khi ngồi nói chuyện, đó là Đại Tá Thích Tâm Giác, Giám đốc Nha Tuyên úy Phật Giáo, người được bên Ấn Quang xem là Tổng lãnh binh trận đánh bật 600 người của Ấn Quang ra khỏi VNQT hôm 5-5.
Thượng Tọa Tâm Giác đã trả lời cuộc phỏng vấn của chúng tôi tại Miền Vĩnh Nghiêm chiều 6-5 sau khi ông hoàn toàn phủ nhận sự hiện diện của mình trong đêm tái chiếm VNQT trước một số đông tín đồ và tỏ ý than phiền dư luận đã thiên lệch quá nhiều khi gán cho ông và Thượng Tọa Tâm Châu những tội ác ghê gớm qua 2 ngày nay.
Chúng tôi hỏi: Thưa Thượng Tọa, như vậy theo thượng tọa, ai là người chỉ huy cuộc tái chiếm đó? Thượng Tọa đáp: «Do Phật tử tự động tiến chiếm».
Chúng tôi hỏi: «Thượng Tọa nghĩ sao về một số nhân chứng của Ấn Quang, quả quyết đã thấy Thượng Tọa mặc sắc phục, đeo súng mang lon chỉ huy cuộc giao chiến?»
Thượng Tọa đáp: «Tôi không dại gì làm vậy, hơn nữa tôi là một nhà tu».
Chúng tôi hỏi: «Trong đêm đánh nhau, Thượng Tọa ở đâu?» Thượng Tọa đáp: «Tôi ngủ ở Nha Tuyên úy. Chỉ có Đại úy Đức là sĩ quan trực, Hạ sĩ Thành, vì nghe tin VNQT bị đốt cháy hết, nên lái xe lên xem và xe đó đã bị Cảnh Sát giữ».
Chúng tôi hỏi: «Trong trường hợp Ấn Quang trở lại VNQT lần thứ hai...?» Thượng Tọa đáp: «Tôi vẫn mong các Ngài ấy trở về để được đón rước trong nghi lễ hòa hợp. Tôi không mong có bạo lực, vì bất cứ hình thức bạo lực nào cũng không phải là nhiệm mầu của đạo pháp».
Trong khi cuộc nói chuyện đang diễn ra, thì có 2 bà tín đồ vào, bò sát đất lễ bái Thượng tọa và nói rằng: «Xin Thầy phải nói hết, nói sao cho mọi người biết, chứ cứ để dọc báo thấy nói Thượng tọa thế này, thế kia, chúng con buồn lắm...».
Chúng tôi cáo từ bước ra tìm Thượng Tọa Tâm Châu, Thượng Tọa Tâm Châu ngồi xuống cạnh tôi. Bây giờ tôi mới có dịp quan sát gần, Thượng tọa mặc áo vàng để hở một khoảng vai bên phải thật lớn, da trắng hồng, Thượng tọa cười tươi, đôi mắt dưới làn kính trắng có vẻ lạc quan và tự tin. Câu thứ nhất Thượng tọa nói ý như Thượng tọa Tâm Giác, nghĩa là do Phật tử tự động.
Câu thứ hai, chúng tôi hỏi khác đi rằng: «Ấn Quang đòi đi kiện quý Thầy về tội giết người, đốt chùa cướp của, Thầy nghĩ sao?» Thượng tọa Tâm Châu hỏi lại: «Thế còn cái tội chiếm gia cư và bắt người trái phép hôm trước của họ ai kiện?»
Chúng tôi hỏi, trường hợp đệ tử của Thầy là Giác Nguyên hôm qua đã lên án Thầy ở Ấn Quang? Thượng tọa Tâm Châu cố nhớ giây lâu rồi nhắc đi nhắc lại cái “tên tục” của nhân chứng Giác Nguyên – mà chúng tôi không tiện viết ra đây – rồi nói: «Có, đó là một người đi lang thang được tôi nhận nuôi một lúc ở chùa Từ Quang, nhưng đã đuổi đi từ lâu vì hay ưa tranh đấu bậy bạ».
Về câu hỏi Ấn Quang vẫn giữ lập trường trở lại VNQT thì sao? Thượng tọa cười đáp vỏn vẹn 1 tiếng «tùy» với một ý nghĩa đặc biệt.
Chúng tôi hỏi, do căn bản nào mà 2 bên không đồng ý 1 bản Hiến Chương?. Thượng tọa đáp «chúng tôi quan niệm tổ chức thì thống nhất, nhưng chủ quyền mỗi giáo phái phải có, như vậy mới tránh được độc tài».
Sau hết, Thượng Tọa Tâm Châu nói, sau đêm đổ máu, ông vẫn còn hy vọng có cơ duyên thống nhất Phật Giáo.
Một xe hơi bóng loáng có người mở cửa sẵn chờ bên thềm, thấy thế, tôi nghiêng mình cáo biệt.
«Ông già chịu chơi»
Trước đó, như tin chúng tôi đã loan, theo 1 thông báo của bên Quốc Tự một lễ cầu an, nói chuyện dự định tổ chức tại VNQT nhưng vào giờ chót lại thay đổi về Miền Vĩnh Nghiêm.
Thượng Tọa Thích Minh Thành, Viện trưởng Viện Hóa Đạo Quốc Tự, sau khi trốn thoát khỏi Ấn Quang trở về, đã kể lại sự kiện ông bị bắt, bị ép ký tên và sám hối. Khác với tiếng nói văn vẻ của hai Thượng Tọa Tâm Châu, Tâm Giác, bằng giọng nói chơn chất đơn giản của người miền Nam, Thượng Tọa Minh Thành nói rằng, ông đã từng bị Cộng sản bắt, nhưng «Cộng sản đã không ngược đãi tàn tệ bằng mấy ngày bị Ấn Quang bắt».
Thượng Tọa Minh Thành cho biết, khi Ấn Quang vào Quốc Tự, ông đã bị ép buộc ký vào tờ giao lại chùa, kèm theo tiếng hăm dọa: «Nếu không ký, sẽ bị đánh». Vì vậy, từ nay, Thượng Tọa không còn muốn nhắc đến 2 tiếng Ấn Quang nữa, dù vẫn hoạt động cho Phật giáo được thống nhất. Đến đây, đằng sau có tiếng một người nói lớn: «Ông già chịu chơi thật».
Thượng Tọa Minh Thành năm nay 70 tuổi.
Phục rượu cho say để ký
Trước tín đồ, Thượng tọa Tâm Châu tiết lộ những bí mật trong buổi hội đàm sơ bộ ở Võ đường Nhu Đạo hôm 1-5. Theo đó thì bên kia có 6, bên này có 2, do Thượng Tọa Tâm Giác mời ăn cơm chay. Cơm nước xong đem vấn đề Hiến Chương ra bàn.
Theo Thượng tọa Tâm Châu thì bên kia đã đánh 3 đòn quyết liệt, đòn thứ nhất là Đại đức Giác Đức giả khóc hu hu một cách mùi mẫn, đòn thứ hai cũng Đại đức Giác Đức hăm dọa: «Nếu các Thầy không thống nhất thì tôi sẽ làm mạnh».
Đỡ đòn, Thượng Tọa Tâm Châu nhắc lại, nguyên văn: «Chú đừng có đe dọa, một mình tôi, cũng không sợ. Nếu cần, chứ cứ đứng ra lập lực lượng thứ ba mà hành động, loại chúng tôi ra. Tôi chỉ muốn đi lang thang trên khắp thế giới cho khoái để làm thơ, tôi bất cần...».
Đòn quyết liệt sau cùng là sau khi phục rượu cho say, Đại đức Giác Đức đã đưa ra dự thảo đánh máy 1 bản tuyên cáo để mời bên Quốc Tự ký. Tuyên cáo gồm 3 điểm: Thứ nhất, hai bên Quốc Tự và Ấn Quang đồng ý bỏ Hiến chương 2 và 3. Thứ hai, tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh của Đức Tăng Thống Tịnh Khiết, và thứ ba, Hòa Thượng Tăng Thống Tịnh Khiết sẽ ra giáo chỉ cho Ủy ban Thường vụ lo sắp xếp việc thống nhất.
Thượng Tọa Tâm Châu nói rằng, đây là chuyện trẻ con muốn khôn người lớn, họ tưởng phục rượu cho chúng tôi say ngà là đưa gì cũng ký, nhưng chúng tôi đã không dại.
Thượng Tọa Tâm Châu nói, tôi không ngờ mới bữa tối ngày 1-5 còn ngồi ăn nói với nhau thì cách hai ngày sau họ tráo trở điều này khiến cho tôi liên tưởng đến Tết Mậu Thân, VC tuyên bố hưu chiến để đánh úp miền Nam.
Có tiếng vỗ tay, ban tổ chức đã phải thường xuyên kêu gọi: Phật tử bình tĩnh!
Trong việc tiến chiếm này, Thượng Tọa Tâm Châu nêu đích danh Dân biểu Dương Văn Thụy và quy trách nhiệm cho Quốc Hội về những tội chiếm nhà, bắt người trái phép do Dân biểu này gây ra.
Dạy võ nhưng hiền
Trong 1 Thông Bạch gửi quân nhân Phật tử các cấp, Đại Tá Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo xác nhận ý thức đại hùng, đại lực nhưng đại từ bi để phủ nhận những tin đồn ác ý về ông.
Trước Phật từ miền Vĩnh Nghiêm, Thượng Tọa Tâm Giác nói rằng tuy ông dạy võ nhưng ông hiền khô, và Nha Tuyên Úy không phải là cái Nha đi đánh nhau, thế mà người ta vu cho rằng, Đại Tá đã bảo «tách! tách», để tấn công VNQT.
Thượng Tọa nói, sở dĩ người ta dễ đồn đãi như vậy là vì trong tay ông có quân và có đến 2000 Võ Sĩ Sĩ đạo. Ông kết luận: nếu cứ tiếp tục giả dối với nhau như thế thì làm sao mà có được hòa bình?
Buổi nói chuyện đã kết thúc bằng một bài kinh cầu.
Cả 2 phe đều nhộn nhịp chuẩn bị
SAIGON 7-5. — Hôm nay, Đoàn Thanh Niên Phật Giáo Ấn Quang đã công bố tuyên cáo cho biết:
Đoàn TNPT đã nhận lệnh của Hội đồng VHĐ tiếp thu VNQT, nhưng đêm 4 rạng 5-5-70 Chánh quyền đã hỗ trợ cho một nhóm người quân nhân, nhà tu với đầy đủ súng ống tàn sát Phật tử tại VNQT trong đó có 2 đoàn sinh Phật tử bị thương, Đoàn Trưởng Hoàng Châu bị bắt và đánh đập tàn nhẫn, yêu cầu:
1. Chánh quyền chịu trách nhiệm trao trả anh Hoàng Châu lại cho gia đình Phật tử.
2. Cực lực lên án tập đoàn «giáo gian».
3. Phải trả 2 xác chết Nguyễn hòa Bình và Tâm Biên lại cho gia đình Phật tử.
Ngoài ra Tổng Đoàn Phật Tử Thiện Chí cùng với học sinh Phật Tử Vụ Ấn Quang hôm nay cũng ra một văn thư cho biết sẽ tổ chức tại Chùa Ấn Quang, lúc 8g30 ngày 8-5-1970 buổi «lễ Cầu Siêu và Cầu An cho các thanh niên, Sinh viên và học sinh nạn nhân trong vụ thảm sát tại VNQT vừa qua».
Như vậy, lễ cầu siêu này được tổ chức sớm hơn dự định hai ngày so với như đã được loan báo trước đây.
Quang cảnh Chùa Ấn Quang sáng nay có vẻ nhộn nhịp. Kẻ ra, người vào. Một số thanh niên, thiếu nữ bị thương nằm la liệt. Ngoài sân, một số hình ảnh trong vụ thảm sát Mỹ Lai Quảng Ngãi cũng như Việt kiều tại Cam Bốt được gắn trên bảng cùng với hàng chữ đỏ: «Xin liên tưởng hình ảnh vụ thảm sát này qua hình ảnh cuồng sát tại VNQT ngày 5-5-70».
Chiều nay, 7-5, lúc 18 giờ, các hội đoàn Phật Tử Ấn Quang sẽ họp khẩn để thảo luận về các vấn đề thời sự.
— Trong khi đó thì chùa Từ Quang (của Thượng tọa Tâm Châu trên đường Phan Thanh Giản Saigon) cũng hết sức rộn rịp lo tổ chức họp báo và ấn loát các bản thông bạch. Cuộc họp báo này dự định tổ chức tại VNQT vào 10 giờ sáng thứ Sáu 8-5 để làm sáng tỏ mọi khía cạnh trong biến cố Phật giáo vừa qua cũng như loan báo lập trường của Việt Nam Quốc Tự.
Tuy nhiên, địa điểm dự định trên đây chưa hoàn toàn chắc chắn, vì hôm nay, khu vực VNQT vẫn bị phong tỏa, và đến ngày mai, liệu điều kiện an ninh có đủ để cho phép giải tỏa khu vực này hay không?
Luật sư Liễng lại lên án Chính Quyền
Lực Lượng Quốc Gia Tiến Bộ (LLQGTB) của Luật sư Trần Ngọc Liễng lại vừa ra tuyên cáo tố cáo chính quyền đang âm mưu đàn áp gây chia rẽ nội bộ tôn giáo qua vụ thảm sát VNQT. Nhân dịp này, LLQGTB còn lên án Chính Quyền về đủ mọi vụ khác như: bắt bớ giam cầm tra tấn SV, đàn áp TPB, làm ngơ trước vụ Việt kiều Cam Bốt bị tàn sát, còn cung cấp võ khí và nhân lực để củng cố chế độ Cam Bốt, và sau rốt lên án chính quyền đang che dấu sự bất lực của mình trên mọi lãnh vực đối nội đối ngoại bằng cách mở rộng chiến tranh, phối hợp với Hoa Kỳ hành quân qua Cam Bốt và tái oanh tạc miền Bắc.
—⚜—
#Chinh Luan May 8, 1970 trang ba
Trong khi Ấn Quang loan báo có đến 10 người chết, 100 bị thương, Tòa Đô Chánh ra thông cáo cho hay:
Chẳng có người nào chết
chỉ có 30 người bị thương
SAIGON 7-5 (VTX). — Tòa Đô Chánh hôm qua đã ra một thông cáo nói về vụ xô xát VNQT xảy ra trong đêm 4 rạng 5-5 vừa qua. Theo Tòa Đô Chánh, chưa có người nào được ghi nhận tử thương trong vụ này mà chỉ có 20 người bị thương hiện đang được điều trị tại bệnh viện.
Dưới đây là nguyên văn thông cáo của Tòa Đô Chánh:
SỔ TAY
SỨC MẤY ghi chép
ĐIỂM BÁO
Vụ Việt Nam Quốc Tự bị thất thủ, rồi lại tái chiếm, là một biến cố quan trọng nhất của Phật Giáo từ 1963 đến nay. Hai ngày liền, tất cả các báo ở Thủ Đô đều chạy tin lớn về biến cố này. Tất nhiên, mỗi báo, tùy theo cái nhìn của mình, đã đặt tựa khác nhau.
Từ ngày người dân phải đóng thuế kiệm ước phi pháp, cái gì cũng đắt đỏ, mỗi gia đình, mỗi ngày thường chỉ mua một tờ báo, có gia đình chỉ đi mướn mà đọc chứ không mua. Để bạn đọc có dịp nhìn qua một lượt tất cả các báo đối với biến cố kể trên, sau đây Sức Mấy xin làm một cuộc điểm báo, ghi lại tất cả tựa lớn của các báo về vụ VNQT trong 2 ngày 5 và 6-5-70.
1. — Ngày 5-5, tức là VNQT bị chiếm, các báo chạy tựa như sau:
— Ấn Quang đã «tiếp thu» VN Quốc Tự (Tiếng Vang 8 cột).
— Đại Quân Ấn Quang đã chiếm gọn VNQT (Thủ Đô 8 cột).
— Hòa Thượng Thích Minh Thành trao trả VNQT cho Ấn Quang (Tin Điển 2 cột).
— Ấn Quang tiến chiếm VNQT bắt cóc Hòa Thượng Viện Trưởng (Tiền Tuyến 4 cột).
— Tối 3-5: Phật Tử, Tăng Ni, Đại Đức Ấn Quang xuống đường kéo đến chiếm VNQT. Nhiều tiếng súng nổ, một tu sĩ bị thương nặng. Một số Phật tử bị bắt đem đi (Thời Đại Mới 4 cột).
— Đêm 3-5: Hàng ngàn Phật tử tiến chiếm VNQT bị giải tán mạnh, một số bị thương. Kết cuộc Phật Giáo Ấn Quang đã thu hồi VNQT (Tin Sớm 5 cột).
— Ấn Quang bất thần xua quân chiếm VNQT. Viện Trưởng VNQT chấp thuận thống nhất (Độc Lập 4 cột).
— Xuống đường bất bạo động với lực lượng 2.000 tăng ni, thanh niên, Sinh viên học sinh và đồng bào Phật tử, Ấn Quang tiến chiếm VNQT (Tin Sáng 8 cột).
— 5.000 Phật Tử xuống đường chiếm VNQT (Công Luận 8 cột).
— Phật Giáo sôi động: Ấn Quang tái tiếp thu VNQT. Xô xát đẫm máu đầu tiên: một tăng sĩ (Ấn Quang) bị bắn thọ thương (Sự Thật 8 cột).
— Khối Phật Tử của Thượng tọa Tâm Châu chuẩn bị phản ứng sau khi Phật Tử Ấn Quang tiến quân thu hồi VNQT (Tia Sáng 4 cột).
— Một biến chuyển quan trọng trong hàng ngũ Phật Giáo: Hàng ngàn tăng ni Phật tử thu hồi VNQT vào tối 3-5 (Saigon Mới 3 cột).
— Sau khi VNQT về phái Ấn Quang. Xô xát súng nổ và bắt cóc Phật Tử (Đuốc Nhà Nam 2 cột).
— Phật Giáo Ấn Quang «kéo quân» chiếm VNQT. Thượng Tọa Tâm Giác sẽ huy động Võ sinh tái chiếm (Xây Dựng 3 cột).
— Phật Tử Ấn Quang chiếm VNQT (Điện Tín 6 cột).
— Đêm 3-5: PG Ấn Quang thâu hồi VNQT chớp nhoáng (Cấp Tiến 8 cột).
— Súng nổ «phản công», 2 phe Phật Giáo gườm nhau sau khi Ấn Quang kéo đến «giải phóng» VNQT (Dân Ý 5 cột).
— Ấn Quang «hành quân chớp nhoáng» đã tiến chiếm VNQT (Hòa Bình 3 cột).
2. — Ngày 6-5, sau khi Ấn Quang bị đánh bật khỏi VNQT, các báo chạy tựa như sau:
3 giờ sáng 5-5, 3 đợt tấn công. ẤQ và VNQT ác chiến đẫm máu gậy gộc, mã tấu, súng nổ, lửa cháy (Xây Dựng 4 cột).
— Lửa cháy, máu đổ thịt rơi ở VNQT (Tiếng Vang 8 cột).
— Xô xát đẫm máu tại VN Quốc Tự, Thượng tọa Tâm Giác cầm đầu một nhóm người võ trang tấn công VNQT (Saigon Mới 7 cột).
— Như đám giặc! Phe Thượng tọa Tâm Châu «tái chiếm» VNQT (Tiếng Việt 8 cột).
— Đêm hãi hùng đầy máu lửa tại VNQT (Điện Tín 8 cột).
— Đạn lửa ngập trời! Các sư giành Chùa, máu loang cửa Phật... Khuya 4-5, VN Quốc Tự lại đổi chủ (Sự Thật 8 cột).
— Tử chiến suốt 3 giờ tại VNQT, tranh từng tấc đất, máu loang cửa Phật Đài (Thủ Đô 8 cột).
— Súng nổ rền, lửa cháy rực, VNQT bị tái chiếm (Dân Ý 8 cột).
— 3g30 sáng 5-5: Phe Tâm Giác võ trang súng, lựu đạn, đi xe cam nhông nổ súng thảm sát «tái chiếm» VN Quốc Tự (Công Luận 8 cột).
— Súng nổ, lửa cháy, người chết tại VNQT giữa giờ giới nghiêm (Tia Sáng 6 cột).
— Lực lượng bí mật bắn giết, Phật tử VNQT bị hỏa thiêu cháy cả giờ (Độc Lập 4 cột).
— 3 giờ 15: Phe Tuyên Úy Phật Giáo dùng súng đạn tái chiếm VNQT (Cấp Tiến 8 cột).
— Đại Tá TUPG Th. Tâm Giác, Th. Đức Nghiệp, Th. Tâm Châu đích thân chỉ huy dẫn lính tái chiếm VNQT bằng vũ lực (Tin Điển 8 cột).
— Hỏa thiêu VNQT sau khi tái chiếm (Thời Đại Mới 8 cột).
— Máu lửa tại VNQT! (Đuốc Nhà Nam 8 cột).
— Cuộc tái chiếm đẫm máu VNQT 2 chết, 50 bị thương (Hòa Bình 3 cột).
— Ấn Quang thất thủ VNQT (Tin Sáng 8 cột).
— VNQT cháy ngất trời, hàng trăm người đã bị bắt đi, không rõ ai bắt và bắt đi đâu (Tiền Tuyến 3 cột).
$pageOut $pageIn Phân đoạn 12
#Chinh Luan May 9, 1970 trang ba
Ấn Quang kêu gọi ... — Tâm Châu dọa kiện ... #Chinh Luan May 9, 1970 trang ba
Ấn Quang kêu gọi ... — Tâm Châu dọa kiện ...
————— ୨୧ —————
Tố Tòa Đô Chánh, tố Ti Vi, tố Mỹ và bảo đã thấy hồn Phật tử hiện về đòi trả thù
Ấn Quang kêu gọi Phật Giáo đồ tỏ căm phẫn bằng hành động tích cực
▶ Mời Phật Giáo Thế Giới đến điều tra vụ thảm sát và đòi Phật Giáo Thế Giới khai trừ Thượng tọa Tâm Châu.
❁ LÊ HOÀNG PHÚ
SAIGON 8-5. — Đại Đức Nhật Thường, Tổng Thư Ký Ủy Ban Đặc Trách vụ V.N.Q.T (Ấn Quang) hôm nay tuyên bố cực lực phản đối bản thông cáo của Tòa Đô Chánh nói về biến cố V.N.Q.T, nhất là bài bình luận của Đài Truyền Hình VN dựa trên bản thông cáo này, đã không phản ảnh đúng sự thật, che dấu tội ác của những kẻ sát nhân.
Đại Đức nhấn mạnh, khuya hôm đó, hàng ngàn quân nhân đủ mọi binh chủng, đủ loại vũ khí đã tràn vào VNQT bắn xả láng, gây thương tích cho hàng trăm người, một số người chết và một số khác mất tích. Nhiều người đã thấy tận mắt xe Hồng Thập Tự Mỹ di chuyển một số xác chết ra khỏi khu vực này.
Đại Đức Nhật Thường cũng cho biết chính tận mắt của ông đã thấy hai Thượng Tọa Tâm Giác và Đức Nghiệp có mặt ngay trong đêm biến cố tại VNQT và Đại Đức bảo đảm có thật 100 phần trăm. Đại Đức cũng cho biết, sáng hôm nay, Đại Hội Đồng Viện Hóa Đạo Ấn Quang họp khoáng đại để kiểm điểm công việc đã qua cũng như sắp tới. Ngoài ra, Văn Phòng VHĐ Ấn Quang đang soạn thảo một bản thông cáo mới, chỉ thị cho các cấp giáo hội làm lễ truy điệu cho những người đã chết.
Hồn Phật Tử đòi trả thù
Trong cuộc tiếp xúc riêng với Chính Luận sáng nay, Đại Đức Pháp Siêu, Tổng Vụ Phó Tổng Vụ Cư Sĩ đã kể lại rằng, vào lúc 2 giờ sáng nay, trong lúc Đại Đức đang nằm nghỉ, thì oan hồn của một em bé Phật Tử, bị chết hôm 5-5 bằng hai phát súng lục vào thái dương và bụng, đã hiện về khóc và nói với Đại Đức rằng, em yêu cầu những người còn sống hãy loại trừ cho được những tên phản đạo. Hồn oan cũng cho biết, em chết không bao giờ em tiếc, nhưng chỉ bận bọn giáo gian vẫn còn sống.
Đại Đức Pháp Siêu còn tố cáo hai Thượng Tọa Đức Nghiệp và Tâm Giác đã quyên tiền để ăn mừng chiến thắng trên sự chết chóc của đồng đạo, và hỏi tiếp rằng, đó là chiến thắng hay là mối ô nhục của một đời người? Đại Đức Pháp Siêu muốn nhắn gởi với những kẻ dùng bạo lực rằng: «sắt thép và súng đạn có làm cho những người yêu dân tộc, đạo pháp chùn bước trên bước đường đấu tranh hay không. Hay là lịch sử đã từng chứng minh chính những kẻ dùng sắt thép phải bị tiêu diệt bởi sắt thép?»
Đại Đức Pháp Siêu cũng nhận định về bản thông bạch của Thượng Tọa Tâm Châu «làm ra vẻ như can gián hai bên» chỉ là một kỹ thuật hạ cấp để lừa bịp dư luận. Thử hỏi, nếu ba Thượng Tọa Tâm Châu, Tâm Giác và Đức Nghiệp không chỉ huy vụ này thì ai làm?
Ấn Quang thuyết pháp
Đại Đức Tâm Thanh, trong cuộc thuyết pháp tối hôm qua tại chùa Ấn Quang đã nhấn mạnh rằng, đừng tưởng vụ Việt Nam Q.T. không liên quan đến những vấn đề khác. Ông nhắc lại thái độ của chính quyền qua vụ Trần Ngọc Châu, SVHS, Thương Phế Binh và nhất là vụ V.N.Q.T mới đây đã kết luận «đấy chính là sắc thái của nền Dân Chủ Pháp Trị tại VN.»
Đại Đức Tâm Thanh cho rằng vụ Mỹ Lai có đến 900 người chết, vụ cáp duồn tại Cam Bốt thây trôi đầy sông, nhưng vụ cuồng sát tại VNQT vừa rồi gấp trăm, gấp ngàn lần vụ Mỹ Lai, vì nó xảy do chính bàn tay của các tu sĩ, mang áo cà sa, vì nó xảy ra vào đúng ngày 1-4 Âm lịch là ngày chay tịnh của tất cả mọi người. Đại Đức cũng nhắc lại một vài nguồn dư luận cho rằng "mấy ông thầy chùa lắm chuyện bày đặt đánh chùa làm gì để giết hại lẫn nhau" để rồi phiên trách báo chí tại sao lại dùng chữ "tái chiếm VNQT". Ông nói ngôi chùa đó là của tất cả chúng ta, chúng tôi chỉ tạm rời nó từ năm 1966, và bây giờ chúng tôi trở về ngôi chùa cũ mà thôi, nhưng không được. Chính những tên giáo gian kia mới là kẻ cướp chiếm ngôi chùa của chúng tôi.
TỐ MỸ
Đại Đức Tâm Thanh nói với khoảng 500 Phật tử Tăng Ni dự thính rằng, ngay vào lúc mà chúng ta tưởng hòa bình đã đến gần khi Mỹ lại tái oanh tạc Bắc Việt, tiến quân qua Cam Bốt, khiến cuộc chiến lan rộng cùng khắp nơi, và đẩy hòa bình ra xa ngoài tầm mức ước vọng của chúng ta. Tuy nhiên, theo Đại Đức, trước khi quốc gia có hòa bình, Phật Giáo phải thống nhất trước cái đã.
Phật tử đòi xuống đường
Theo lời tiết lộ của Đại Đức Tâm Thanh, một số Phật tử đã đến xin Đại Đức cho phép «đi trả thù, thầy cho chúng con đi bắn, đi giết, chúng con say thuốc súng rồi, chúng con phải xuống đường, nợ máu phải trả bằng máu». Tuy nhiên, Đại Đức và Giáo Hội đã khuyên bảo anh em bình tĩnh, và hãy biến vụ VNQT thành một bài kinh thánh thiện muôn đời bất diệt, và hãy để yên cho người đời nguyền rủa.
Đại Đức cho biết, hôm nay, Biện Lý Cuộc sẽ đưa những tên sát nhân ra Tòa Đại Hình để xét xử. Theo Đại Đức Tâm Thanh, Ông Đô Trưởng Đỗ Kiến Nhiễu đã thấy 16 bàn tay nổi lềnh bềnh trong hồ nước V.N.Q.T khi ông này viếng thăm nơi đây vào sáng hôm qua. Nhiều tiếng tặc lưỡi nổi lên làm gián đoạn cuộc thuyết pháp.
Hippy: du thủ du thực
Trong khi kể chuyện về những kẻ dùng bạo lực, Đại Đức Tâm Thanh có nhắc đến tên của ba tên du thủ, du thực chuyên cướp của giết người, thì dường như để cho mọi người dễ hiểu, Đại Đức Tâm Thanh đã ví rằng, ngày xưa người ta gọi là du thủ du thực, còn ngày nay người ta gọi là Hippy, lan tràn từ bên Tây qua!
Tuyên bố 6 điểm
Trước khi kết thúc buổi thuyết pháp dài 90 phút, Đại Đức Tâm Thanh đã giới thiệu một thanh niên Phật tử lên đọc một bản thông cáo gọi là của đồng bào Phật Tử Saigon Gia Định, trích nguyên văn như sau:
Thượng tọa TRÍ QUANG yêu cầu Phật tử chớ quá khích bạo động
SAIGON. — Có mặt ở Saigon trong suốt thời gian Ấn Quang tiến chiếm VNQT và đêm máu lửa ở VNQT, chiều hôm qua, Thượng tọa Trí Quang đã lên đường rời Saigon đi Huế. Nói về chuyến đi này, một nguồn tin từ Ấn Quang cho hay "đây là dịp đánh dấu việc thầy hoạt động trở lại". Tin này cho hay, Thượng tọa Trí Quang về Huế để xoa dịu dư luận sôi sục của Phật tử miền này.
Nguồn tin trên còn tiết lộ cho người ta thấy là trong cuộc họp khẩn, đại đa số giới lãnh đạo AQ đều đi đến quyết định chiếm VNQT bằng bất cứ giá nào nhưng Thượng tọa Trí Quang đã không đồng ý ý kiến này. Thượng tọa Trí Quang nói rằng sự rạn nứt giữa 2 khối đã quá trầm trọng, nếu làm như vậy, càng khơi thêm sâu sự rạn nứt đó, chỉ đau lòng Phật Tử mà thôi. Hơn nữa trong hoàn cảnh đất nước hiện nay, mọi hoạt động tranh đấu đều bất lợi vì nhiều bàn tay ngoại bang sẽ nhúng vào. Trước phiên họp, Thượng Tọa Trí Quang đã tình nguyện bay ra Trung để dùng uy tín của mình để trấn an Phật Tử, yêu cầu họ đừng quá khích bạo động. Cũng nguồn tin trên cho hay một số tăng sĩ cấp tiến đã ủng hộ triệt để quan niệm của Thượng tọa Trí Quang và họ tin rằng sẽ có 1 biện pháp thống nhất Phật Giáo được nêu ra trong thời gian gần đây với sự hoạt động tích cực của Thượng tọa Trí Quang, biện pháp thống nhất sẽ có cơ thành tựu.
—⚜—
Thượng tọa TÂM CHÂU DỌA SẼ ĐI KIỆN những ai gọi ông là giáo gian
và đòi giao lần Giáo Hội cho giới trẻ có học lãnh đạo
⚫ Thượng tọa Đức Nghiệp tiết lộ đêm tái chiếm VNQT có mặt cả một số nhân vật cao cấp Hành pháp
◈ ĐƯỜNG THIÊN LÝ
SAIGON 8-5. — Trong cuộc họp báo sáng nay tại Miền Vĩnh Nghiêm, bên Quốc Tự đã chính thức công nhận về hành động chiếm VNQT mà Thượng tọa Thích Đức Nghiệp gọi chỉ là hành động «đuổi những kẻ cướp nhà ra ngoài». Đây là nguyên văn 1 đoạn trong bản thông cáo của Quốc Tự:
Thượng tọa Đức Nghiệp nói rằng, ông còn gặp một số đông nhân vật cao cấp bên Hành pháp nhưng xin dấu tên. Thượng tọa xác nhận rằng đêm đó có đến VNQT bằng xe Jeep để xem tình hình và trở về ngay Miền Vĩnh Nghiêm lúc 3g34 phút, vừa đến thì nhận được điện thoại của Phật Tử tại địa điểm nói trên cho biết họ đã khởi sự tấn công và ông đã dùng xe Jeep lên lầu chùa Từ Quang để đứng xem, nhưng ông thề rằng, trước đó ông không hay biết gì cả.
Hạn định 3 ngày
Thượng tọa Tâm Châu khi trả lời báo chí đã lược trình diễn tiến «hòa đàm chiến tranh» từ ngày 1-5-70 đến nay như Chính Luận đã đăng tải và nói thêm rằng, nếu năm nay tổ chức được lễ Phật Đản chung thì có thể thống nhất và nên giao lần Giáo Hội cho giới trẻ có học lãnh đạo, loại dần những người có vết dơ ra làm cố vấn.
Thượng tọa Tâm Châu đã vô cùng phẫn nộ về các Dân biểu Kiều Mộng Thu, Dương Văn Thụy và Ấn Quang gọi ông là giáo gian. Thượng tọa Tâm Châu lập luận thế nào là gian, ngay như sau:
— Phải chăng đưa Phật xuống đường là ngay, còn để Phật mà thờ là gian? Mở miệng ra là nói đến bắn, giết là ngay và trốn tránh vào Tòa Đại Sứ Mỹ trong lúc Phật giáo đang tranh đấu bên ngoài là ngay?
Thượng tọa Tâm Châu hạn định 3 ngày kể từ hôm nay, nếu sau đó, ai còn lớn tiếng nói ông là giáo gian, ông sẽ đi kiện và để xem hiệu lực của nước dân chủ pháp trị này tới đâu.
2 cái bóng bên ngoài
Trong cuộc họp báo, Thượng tọa Tâm Châu đã lớn tiếng tố cáo (bên Ấn Quang) đích danh các Thượng tọa Giác Đức, Thiện Minh, Huyền Quang... nhưng tuyệt nhiên ông không nhắc đến tên của Thượng Tọa Trí Quang, trong lúc đó thì Thượng Tọa Giác Đức quả quyết rằng, hai cái bóng bên ngoài Hội Đồng Giáo Hội là Tâm Châu và Trí Quang mới thật là vai trò quyết định mọi chuyện.
Tố cáo Thượng tọa Trí Quang
Một ấn bản của Đoàn Thanh Niên Tăng Ni phân phát cho báo chí thì lại gọi đích danh bàn tay trong hậu trường là Thượng tọa Trí Quang ra để hài tội, nhất là tội phỉ báng Phật tử Bắc Việt rằng chỉ có tam quy mà không có ngũ giới (Ngũ giới là dâm ô, rượu chè, nói láo, sát sanh, bài bạc), và phỉ báng người miền Nam chỉ đóng vai cầm cờ chạy hiệu. Thượng tọa Trí Quang đã ham danh lợi đóng vai lãnh tụ hơn là tu hành và vì vậy mà dân Saigon đã hiểu Trí Quang đồng nghĩa với thù hận.
Hắn đó, Hắn đó
Chủ tọa cuộc họp báo, Hòa Thượng Minh Thành, Viện Trưởng Hóa Đạo VNQT đã diễn lại khúc phim ông bị bên kia bắt với nhiều chi tiết thật ly kỳ:
#Chinh Luan May 9, 1970 trang 2 — DIỄN ĐÀN DIỄN ĐÀN
... ĐỂ PHẬT GIÁO VN SỚM THOÁT KHỎI KIẾP NẠN THẢM KHỐC
của Phật-Tử TRƯƠNG-LÊ
LTS: Kiếp nạn khủng khiếp mới xảy ra tại Việt Nam Quốc Tự đã gây kinh hoàng cho Phật tử cũng như các giới đồng bào. Một Phật tử thuộc giáo hội Ấn Quang, ông Trương Lê, vừa gửi tới Chính Luận lá thư ngỏ đăng tải dưới đây nhằm kêu gọi cả hai giới lãnh đạo và Phật tử hai khối hãy kịp thời dừng lại, «đừng đào sâu thêm hố chia rẽ, đừng dấn thêm những bước phiêu lưu...»
Tâm Thư Kính Gửi Chư Thượng Tọa, Đại Đức lãnh đạo hai khối Phật Giáo Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự
Kính thưa chư Thượng tọa, Đại Đức.
Cùng quý Đạo Hữu thân mến.
Thật đau xót khi tôi phải dùng đến tiếng «phe» tự giới thiệu, với chính những đạo hữu của tôi, rằng tôi là một phật tử thuộc «phe Ấn Quang» ngay trong phần mở đầu bức tâm thư này. Sự phân biệt cay đắng phi lý và dai dẳng diễn ra giữa đám con Phật làm cau mặt nát lòng đấng từ phụ Thế Tôn Đại Từ Đại Bi Đại Giác của tất cả chúng ta.
Tệ hại hơn nữa, sự phân biệt hận thù hiềm khích ấy lại vừa là nguyên nhân của một kiếp nạn kinh hoàng làm xúc động sửng sốt mọi giới đồng bào Phật tử cũng như không Phật tử ở phe bên này cũng như ở phe bên kia: máu thịt của đồng đạo đã thực sự rơi đổ dưới chân Phật đài, tại nơi mà mới ngày nào, năm nào, tất cả chúng ta còn đồng lòng mừng mừng tủi tủi, cùng hy vọng vinh quang chung của Giáo Hội trong tình thương ruột thịt chân thành thiêng liêng nhất của những người đã đem và sẵn sàng hy sinh tất cả cho sự lớn mạnh của Giáo Hội và chỉ cho Giáo Hội.
Việt Nam Quốc Tự, biểu tượng của nền thống nhất Giáo Hội, của tình đoàn kết, nơi rao giảng Từ Bi Hỷ Xả, ngày nay chỉ còn là đổ nát, tro tàn loang máu đỏ, chứng tích thảm hại của hiềm khích chia rẽ, kết quả khốc liệt của những hành động hiếu sát bồng bột.
Ai là thủ phạm trực tiếp, gián tiếp gây nên thảm cảnh này? Không ai xa lạ, mà chính là tất cả chúng ta, là quý Đạo Hữu của tôi bên này lẫn bên kia, là Quý Thầy của tôi bên này lẫn bên kia. Trước đấng Thế Tôn, chúng ta đều phải cúi đầu nhận mình là thủ phạm, bởi chúng ta đã làm ngược lại lời khuyên dạy thống thiết cao minh của Người «Oán thù nên cởi, không nên buộc». Chúng ta, tất cả chúng ta, đều phải thành tâm sám hối đã trót hành động nhân danh tự ái, ích kỷ, bè phái, chứ không phải nhân danh Đạo của Người, trừ phi chúng ta cố tình ngụy biện để bôi nhọ Từ Bi Hỷ Xả của Người. Chúng ta thảy đều phải là thủ phạm, là kẻ có tội trong kiếp nạn này.
Ai sẽ phải gánh lấy trách nhiệm nghiệm trọng này? Lại cũng chính là tất cả chúng ta. Chúng ta đã từng đoàn kết, đồng lao cộng khổ, đã thành đạt sự nghiệp thống nhất Giáo Hội. Nhưng, cũng giữa chúng ta, một sớm một chiều, bất đồng chính kiến đã làm băng hoại nền thống nhất từng được xây dựng bằng cả máu xương của con Phật ấy. Chúng ta lại đã tỏ ra bất lực trong trách nhiệm dung hòa những chính kiến dị đồng bằng các phương cách ôn hòa tốt đẹp mà Phật Tổ đã vạch sẵn cho chúng ta. Chúng ta đã tiếp tục bôi mặt nhau như kẻ thù hằn. Những từ ngữ xấu xa nhất đã được chúng ta sử dụng điên cuồng như những kẻ mệ muội đã chỉ vào các đồng đạo phía đối lập.
Mỉa mai thay, trong khi đó, chúng ta cả 2 phía đều đang khoác chung mẫu áo, cùng biểu dương một màu cờ, cùng tụng niệm một lời kinh, cùng tôn thờ một đấng Thế Tôn, cùng hãnh diện nhận mình là con của Phật và danh xưng Giáo Hội vẫn là Giáo Hội PGVN Thống Nhất! Tất cả những tương đồng thiêng liêng tối thượng đó há chưa đủ giá trị tuyệt đối để được chúng ta cùng nhau long trọng đem đặt lên trên hết thảy các dị biệt chính kiến kia sao? Viễn tượng suy đồi của tập thể PGVN chia rẽ há chưa đủ là một cảnh giác nghiêm trọng để chúng ta dẹp bỏ hiềm khích mà cùng tương nhượng ngồi lại với nhau để giải quyết một cách ôn hòa hay sao?
Chúng ta đã bất lực một cách phi lý. Chúng ta lại phạm phải những lỗi lầm phi lý hơn nữa khi chúng ta chọn tới con đường hiếu động đẫm máu để giải quyết bất đồng nội bộ. Hậu quả tức thời của những lỗi lầm ấy thật đã quá thê thảm.
Nếu ngần ấy vẫn chưa đủ để thức tỉnh tất cả chúng ta, nếu chúng ta vẫn tiếp tục tự đồng hóa mình với vô minh hiếu sát, vẫn tiếp tục lao mình hành động ngược lại Từ Bi Hỷ Xả của Đạo Pháp thì chắc chắn chúng ta sẽ còn phạm nhiều lỗi lầm hơn nữa, tạo nhiều kiếp sát hơn nữa và hậu quả sẽ khủng khiếp không lường trước được. Phật Giáo VN đã phân hóa sẽ phân hóa hợn nữa. Dân Tộc VN đã ngửa nghiêng điêu đứng vì bạo lực sẽ còn ngửa nghiêng điêu đứng hơn nữa vì sự tranh thắng giữa chính chúng ta.
Các Đạo Hữu gục ngã trong khuôn viên VNQT đã chết đi để lại cho tất cả chúng ta một bài học, một bài học thê thảm về chia rẽ nội bộ. Nếu chúng ta, cả hai bên, vẫn chưa rút ra được bài học thực tế đó, vẫn chưa chịu ngừng tay lại, thì cái chết của những người con Phật kia sẽ hoàn toàn vô nghĩa và hồn thiêng của họ sẽ mãi mãi ngậm hờn.
Tôi biết rằng có những Đạo Hữu của tôi, bên phía của tôi, đang hăng hái trông chờ một quyết định phản ứng mạnh mẽ của các cấp lãnh đạo đối với biến cố đau lòng vừa qua. Tôi cũng biết rằng có những Đạo Hữu của tôi, ở phía bên kia, đang sẵn sàng hành động quyết liệt không kém để chống trả. Sức mạnh tập thể của Giáo Hội, đáng lẽ được xử dụng vào những mục tiêu hữu ích nhằm phục vụ Dân Tộc và Chánh Đạo, sẽ phải huy động một cách uổng phí để đương đầu đối nghịch lẫn nhau.
Hố chia rẽ đã được đào sâu thêm giữa đồng đạo chúng ta. Những vọng động vô minh đã dẫn dắt chúng ta đến sát bờ hố thẳm đó, nhìn về nhau với uất hận căm hờn. Tôi khẩn khoản van cầu quý Đạo Hữu của tôi, quý Thầy của tôi, bên này cũng như bên kia, đừng nên có thêm quyết định nào vô tình biến hố thẳm chia rẽ kia thực sự trở thành hố diệt vong chung cho cả chúng ta, cho cả tập thể Phật giáo VN. Kẻ thủ lợi sau cùng sẽ vẫn luôn luôn là những kẻ thù bên ngoài Phật Giáo, bên ngoài Giáo Hội lúc nào cũng sẵn sàng rình rập khai thác sơ hở của anh em đồng đạo chúng ta.
Đừng quên rằng bạo hành không bao giờ là tôn chỉ của Đạo và tranh thắng bằng xô xát không thể nào mang lại vinh quang cho Giáo hội.
Tiền đồ của Giáo hội, của Quốc Gia không cho phép chúng ta dấn những bước phiêu lưu dài hơn nữa. Hãy cùng nhìn về Phật Tổ, hãy hướng theo con đường sáng soi ánh Đạo Từ Bi của Ngài, hãy vì tương lai PGVN mà dẹp bỏ tị hiềm, tự ái vô nghĩa để cùng tiến tới hòa giải trong tình đồng đạo thiêng liêng.
Hãy để những cá nhân lỡ phạm tội cho công lý thẩm quyền xét xử. Họ sẽ phải đền tội xứng đáng trước pháp luật về những thảm sát do chính họ gây ra. Còn chúng ta, Đạo chúng ta, Đạo của Phật Tổ, chỉ chủ trương cảm hóa chứ không đặt nặng trừng phạt. Chúng ta kêu gọi chính quyền hãy thực thi luật pháp quốc gia một cách nghiêm chỉnh phân minh để ngăn ngừa sự tái diễn những thảm cảnh đáng tiếc tương tự.
Chúng ta hãy bình tĩnh đề cao cảnh giác để chặn đứng ngay những bàn tay ác ý có thể đang cố tình phá vỡ mọi nỗ lực hòa giải của chúng ta.
Kính thưa chư Thượng Tọa, Đại Đức lãnh đạo hai khối.
Quý Thầy là những bậc quản thông giáo lý Phật Tổ. Quý Thầy là những người đã phát tâm đem Đạo cứu Đời. Quý Thầy hãy lắng nghe tiếng van xin khẩn thiết của những Phật tử yêu Đạo kính Thầy chúng tôi, đang chân thành trông ngóng quý Thầy mau sớm có những quyết định ôn hòa sáng suốt kịp thời.
Nguyện cầu Phật Tổ Từ Bi gia hộ để PGVN sớm thoát khỏi kiếp nạn thảm khốc hiện nay.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
5-5-1970
TRƯƠNG LÊ
Pháp danh MINH-TUẤN
#Tien Tuyen May 9, 1970 trang nhất
✺ VUA CHẠY CỜ — KÉP ĐỘC
TỬU KẾ
Vụ hành quân chiếm và tái chiếm Việt NamQT đã là một vết nhơ cho lịch sử Phật giáo Việt Nam. Các vị lãnh đạo tinh thần hai khối AQ và Việt NamQT dù muốn dù không đều phải chịu trách nhiệm.
Hiện tại, cả 2 phe đều đang tìm cách đổ tội cho nhau, nên phải tố cáo nhau, lật tẩy nhau, do đó, vạch áo cho người xem.
Phe AQ tố cáo Thượng tọa Tâm Châu cố tình phá vỡ mọi cố gắng đi tới thống nhất, và tự nhận là mình có thiện chí đầy mình.
Phe Việt NamQT cũng tự cho mình có thiện chí, còn «đối phương» thì ngoan cố.
Thật ra, theo Kép Độc, cả 2 phe đều đáng được gán cho những điều mà phe bên nọ tố phe bên kia. Và, những tố cáo đó càng nhiều thì vết nhơ trong lịch sử PGViệt Nam càng lớn, đồng thời trách nhiệm của quý thầy càng nặng, và nghiệp chướng càng dầy.
Như mới đây, báo Hòa Bình có tường thuật lại những lời Thượng tọa Tâm Châu đã tố cáo một số quý thầy phe AQ.
Theo lời Thượng tọa Tâm Châu thì Đại đức Giác Đức (phe AQ, học trò cũ của Tâm Châu) đã phục rượu Thượng Tọa, để toan ép phe Việt NamQT ký vào một bản tuyên cáo gì đó.
Nếu đúng như vậy thì phe phục rượu lẫn phe bị phục rượu đều không xứng đáng là con Phật. Rượu là một trong ba thứ cấm kỵ của nhà Phật (Tửu, Sắc, Đồ) [ Đồ = sát sinh ]. Người mang cái xấu đó ra để lừa gạt kẻ khác là vô đạo, và một Thượng tọa mà lại để bị phục rượu thì cũng không xứng đáng tí nào. Bởi không uống rượu thì làm sao bị phục rượu được.
Một truyền thuyết trong sách Phật có kể rằng xưa kia có kẻ phạm tội bị quan quyền ép làm một trong 3 điều sau đây thì sẽ được tha: đốt nhà, giết mẹ và vợ, hoặc uống rượu.
Kẻ này sau khi cân nhắc đã nhận uống rượu vì cho là vô hại nhất. Nhưng sau khi uống say, hắn đã nổi điên đốt nhà. Mẹ và vợ ra can thì bị hắn giết luôn.
Xem đó thì biết nếu có đốt nhà cũng chỉ phạm 1 tội ác, còn uống rượu đã gây ra 3 tội ác.
Không hiểu tại sao quý thầy lại lựa chọn ngay cái đầu mối của những tội ác đó mà... xài như vậy?
—⚜—
Tien Tuyen May 9, 1970 trang hai
Đem Đạo Vào Đời
⚫ Nơi gọi là Việt Nam Quốc Tự đã là chiến trường sắt máu cho 2 phe Phật Tử. Máu đã đổ chan hòa trước mặt đấng Từ bi. Một đồng nghiệp ở đây đã viết: chuông mõ đã biến thành dụng cụ báo động — nhà trai gác chuông đã biến thành lô cốt — các con Phật, thay vì được thuyết giảng về đức hiếu sinh thì lại được huấn thị là phải chiến đấu dù có chết. Không biết có lý do nào biện minh nổi cho những hành động đầy sân si, thù hận kể trên không?
◕ Kẻ viết bài này, kinh qua những biến thiên của Phật Giáo trong khoảng năm, mười năm gần đây, thấy rằng đã đến lúc đặt lại một vấn đề đã cũ nhưng luôn luôn còn giá trị: vấn đề chính danh. Xin lấy ngay đối tượng tranh đấu của 2 phe để làm minh chứng. Đó là một khoảng đất tại đường Trần Quốc Toản, được mệnh danh là Việt Nam Quốc Tự. Trên phương diện giá trị vật chất, thực tiễn thì khu này thua cái vẻ trang nghiêm bề thế của khu Vĩnh Nghiêm. Chùa chiền, phòng ốc cũng mới chỉ được xây cất bằng vật liệu nhẹ, không thể sánh được với cái kiến trúc tân kỳ nhiệm mầu đạo vị của chùa Xá Lợi. Tại sao mà 2 phe lại phải thi hành đủ mọi âm mưu, đủ mọi phương tiện để giành giật khu này như vậy? Phải chăng phe nào cũng muốn ôm lấy hai chữ Quốc Tự cho mình — Việt Nam Quốc Tự, theo như chỗ hiểu biết của kẻ viết bài này có nghĩa là Chùa của nước Việt Nam. Nước Việt Nam ta có bao nhiêu là chùa, tại sao chỉ nơi này mới được gọi là quốc tự? Nước ta ở vị trí một giao điểm của lục địa Trung Ấn, nên mang trong mình bao nhiêu là màu sắc tôn giáo, bao nhiêu là tín ngưỡng dị đồng. Trong cái xe chở đấu đong đạo phái ở đây, từ lớn cho đến nhỏ chưa có đạo nào cho nơi thờ phượng của mình mang chữ «quốc» cả, thì Phật Giáo lại tự phong cho một bất động sản của mình là quốc tự. Trong Hiến Pháp của ta cũng chưa hề nói đến vấn đề quốc giáo, thì 2 chữ quốc tự kia có phải là một danh xưng nghiêm chỉnh hay không? Danh bất chính tất ngôn bất thuận — ngôn bất thuận tất sự bất thành — tôi nghĩ rằng đầu mối của mọi sự tranh chấp trong Phật Giáo, đều bắt nguồn từ hai chữ «quốc tự» kể trên. Giả thử như khuôn viên khu nhà chùa chiền trên đường Trần Quốc Toản được mang tên là Tâm Châu Tự (giả thử thôi) thì chắc đã không xảy ra «Hỏa thiêu Hồng Liên Tự» dở khóc dở cười cho đồng bào các giới.
◔ Tôi là một kẻ hiểu thật là lõm bõm về Phật Giáo. Nghe nói là lúc kẻ hèn này mới được sinh ra, khó nuôi quá, nên phải làm cái lễ bán khoán làm con «đức ông». Lớn lên một chút theo bà, theo mẹ ra chùa thì con mắt trẻ thơ của tôi không hiểu thế được thế nào là Phật — vì ngoài chùa có nhiều Phật quá. Có ông Thiện lại có ông Ác, có đức ông nghiêm chỉnh, có Phật Bà Quan Âm hiền từ, có ông mập nhịn ăn mà mặc, có ông gầy nhịn mặc mà ăn, có ông Phật cười, có ông Phật khóc. Anh em chúng tôi mỗi đứa tùy theo sở thích và lựa chọn lại yêu riêng một vị Phật của mình. Tuy là con đức ông, nhưng bản tâm tôi lại yêu đức Phật Bà Quan Âm Thị Kính, đức Phật thật hiền, thật đẹp, trên tay có con chim xanh đậu xuống.
◐ Đến khi lớn lên, cái bản tính bông lông của tôi lại khiến tôi yêu đạo Phật bằng một khía cạnh khác. Tôi yêu cái quan niệm «Phật tại tâm». Phật không hề phân chia giai cấp, không bắt buộc phải theo một đường lối nhất định nào, không hạn định ở nơi nào, lúc nào, ai cũng có Phật tính và ai cũng có thể thành Phật được bằng cái «giác» của mình. Trong cái việc «trở nên người», Phật cho chúng sinh nhiều tự do nhất. Mỗi người đều có quyền hướng về Phật theo đường lối của mình. Phật cũng không hề kể công ơn với bất cứ ai, vì «thành» hay «bất thành» đều hoàn toàn do mình định lấy.
⚫ Với cái quan niệm rất là thường tục của tôi về Phật, tôi lấy làm ngạc nhiên tại sao các thầy lại bắt chúng sinh phải đi theo đường lối riêng của các thầy vẽ sẵn. Phật đâu có trao bằng độc quyền rao bán cho ai. «Có thì có tự mảy may, không thì cả thế gian này cũng không», vậy tại sao chỉ vì một cái hư danh — mà các thầy lại hướng dẫn chúng sinh vào con đường tương tàn tương sát. Phật đâu có dạy nói dối, nói là họp bàn về thống nhất đạo pháp mà sự thật lại là giữa giờ giới nghiêm kéo đi chiếm đất. Phật cũng thường giới răn là không nên sát sinh, dù là con sâu cái kiến, Phật đâu có dạy nổ súng vào người đồng chủng bao giờ.
◕ Hay là thời đại mới, kỷ cương mới nên phải «đem đạo vào đời» theo cách ấy đó chăng?
Ký giả LÔ RĂNG
$pageOut $pageIn Phân đoạn 13
#Chinh Luan May 10_11, 1970 trang hai
LÀM SAO GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHẬT GIÁO VN? #Chinh Luan May 10_11, 1970 trang hai
LÀM SAO GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHẬT GIÁO VN?
◐ ĐÃ ĐẾN LÚC MỔ CÁI NHỌT BỌC RA CHƯA? ◔ SAU CÁC BIẾN CỐ NÃO NỀ, CẦN ĐẶT THẲNG VẤN ĐỀ VÀ ĐI TÌM MỘT GIẢI PHÁP CHO DỨT KHOÁT. ◔ QUAY LẠI CUỐN PHIM NÃO NỀ, VÀ ĐI TÌM NHỮNG SỰ THẬT. ◔ THÁI ĐỘ CỦA ĐỐI BÊN SAU CÁC BIẾN CỐ MỚI THẬT ĐÁNG KỂ. ★ NHỮNG Ý KIẾN TRÀN NGẬP, GHI KHÔNG HẾT, NHƯNG CŨNG CỐ GHI. ◔ NHỮNG NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM NÊN DỨT KHOÁT LẦN NÀY, KHỎI ĐỂ XẢY RA NHỮNG THẢM CẢNH VỀ SAU... ❁ ĐỪNG QUÊN RẰNG HÀNG PHẬT TỬ CÓ HIỂU BIẾT ĐÃ CHÁN NGÁN LẮM...
— Bài Của TRIỆU-VIỆT.
Người viết là một Phật tử, vốn chẳng có chân ở giáo phái Phật giáo nào, — mà đến nay nguyện viết một bài thật khách quan, cũng tự thấy là khó. Rất có thể người viết sẽ bị cả hai phe Phật giáo cùng chê, cùng giận, nhưng biết làm thế nào?.. Tuy công việc khó, nhưng người viết cũng ráng để nói thẳng ra một ít điều; nhất là nêu lên ý kiến thẳng thắn của một số những nhân vật quốc gia và Phật tử, hi vọng rằng «thuốc đắng dã tật». Phật tử thật ra đã buồn lòng rất nhiều, nhiều lắm rồi, từ lâu lắm rồi. Nhưng sinh lực tung vào những cuộc đấu tranh nội bộ, giá mà đem đặt vào những công trình xây dựng văn hóa và xã hội cho đất nước khốn khổ này, như kế hoạch mà Phật giáo Thống Nhất đã nêu lên tại Đại Hội Phật Giáo đầu tiên, sau ngày chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, tại chùa Xá Lợi, thì có phải đã hay biết bao nhiêu cho Phật giáo Việt Nam?
Cứ phải đi tìm một nền Phật giáo thống nhất trong khi Phật giáo đã chia rẽ hẳn.
Vấn đề Thống nhất Phật giáo mà khối Ấn Quang đặt ra từ trước đến nay đã không được đặt trên căn bản thỏa hiệp hoan hỉ và đồng lao cộng khổ. Qua nhiều tuyên ngôn của những nhân vật Ấn Quang từng được loan báo ra ngoài, khối đó biểu lộ một sức đấu tranh lúc nào cũng mạnh mẽ và gay gắt với tất cả các lực lượng khác, và luôn với cả chính quyền (có lẽ vì những cuộc đấu tranh chống chính quyền của mình mà khối đó từng được cảm tình của những giới vốn không ưa người cầm quyền chính, dù giới đó ở những khuynh hướng nào).
Bởi thế mà sự thống nhất Phật giáo, đối với Ấn Quang, chỉ có nghĩa là một cuộc thu hút, một cuộc chiêu hồi. Người ta nhớ lại biết bao nhiêu tuyên ngôn phát xuất từ Ấn Quang (nhất là tuyên ngôn của Giáo hội tiếp theo Đại hội Cư Sĩ vừa rồi — mà Chính Luận đã có phân tích) những tuyên ngôn đó đã từ khước sự thống nhất mà chỉ đặt vấn đề chiêu hồi mà thôi?
Bởi thế mà những người am hiểu, khi thấy vấn đề đoàn kết Phật giáo được đặt ra gần đây, đã không tin tưởng gì cho lắm! Nhất là tình hình nội bộ Phật giáo và tư tưởng chính trị đã đi xa khác trước, nhiều lắm rồi.
Và người ta cũng không quên rằng: dù hai Giáo Hội Quốc Tự và Ấn Quang có đoàn kết lại với nhau một cách chặt chẽ, thì họ cũng chỉ tạo được hình ảnh của một Phật Giáo VN chưa thống nhất, bởi vì cái hình ảnh thống nhất ấy chỉ mới gom được một phần của Phật giáo mà thôi.
Phật giáo VN đã chia ra nhiều mảnh từ lâu!
Người ta nhớ lại hồi Phật giáo đấu tranh chống chế độ Diệm. Lúc đó, Phật giáo có thống nhất, tuy chưa thống nhất được trọn vẹn. Đến khi ông Diệm đổ rồi, Phật giáo đã triệu tập Đại Hội tại Chùa Xá Lợi lần đầu tiên, và đã đưa ra kế hoạch 20 năm của Phật giáo (Lập trường học khắp nơi, mở các công trình cứu trợ xã hội...) và cùng đưa ra Hiến Chương Phật giáo Thống nhất đầu tiên.
Giới Phật tử hết sức vui mừng và hi vọng.
Nhưng sự vui mừng và hi vọng ấy tắt ngấm ngay vì trong nội bộ của Giáo Hội, có những phần tử gay gắt hơn những phần tử khác, nhất quyết đặt nền thống trị lên các thành phần khác của Phật giáo và buộc các thành phần khác phải hủy thể trước một Hội đồng Viện Hóa Đạo có trọn quyền.
Đó là lý do khiến cho Hội Phật Học Nam Việt rút ra đầu tiên, rồi đến các Giáo hội khác của Phật giáo miền Nam.
Hồi đó, những giáo hội li khai đó đã bị đả kích, bị bôi lọ không ít trong khi họ chỉ cố chống đỡ bằng những bản thông bạch trình bày lý do phải li khai. Dần dần người đời hiểu được lý do của những giáo hội Phật giáo miền Nam là hợp lý: họ không muốn bị hủy thể và trao hết vận mạng cho những người không phải là họ, mà họ không tin; họ cũng không muốn bị đưa vào những cuộc phiêu lưu chính trị bất tận, trong khi họ chỉ muốn tu, học, nghiên cứu, một cách hiền hòa.
Và như vậy thì Phật giáo đã chia rẽ từ lâu rồi, đâu phải đến ngày nay mới chia rẽ? Phật giáo Thống Nhất VN khi đó chỉ còn hai khối: khối Tâm Châu và khối Trí Quang (xin lỗi: gọi như vậy cho tiện, mặc dù là không đúng, vì danh hiệu một người không thể biểu hiệu cho cả Giáo Hội).
Bản chất hai khối Phật giáo còn lại
Và, dù nói thẳng ra, thì khối của thầy Tâm Châu là khối của các Phật tử miền Bắc di cư vào Nam, ảnh hưởng của khối này có nhiều ở Saigon Gia Định, các thị xã lớn miền Nam và Nam Trung Việt.
Còn khối của thầy Trí Quang có nhiều ảnh hưởng ở miền Trung, nhất là vùng Thừa Thiên và vùng Quảng Nam.
Để khỏi mang tiếng chỉ là Bắc hoặc chỉ là Trung, mỗi khối Phật giáo nói trên đều cố thỉnh những vị sư miền Nam đứng vào tổ chức của mình. Đồng thời, khối của thầy Trí Quang từ đất Huế tiến vào Nam, để lập thế tại đất Thủ Đô then chốt.
Hai khối còn đoàn kết với nhau qua cuộc đấu tranh tiếp sau đó dù rằng không hoàn toàn đồng ý với nhau. Rồi các sự bất đồng ý kiến xuất hiện dần dần, không những trong quan niệm đấu tranh mà luôn cả trong các quan niệm chính trị nữa.
Cuộc tranh đấu đầu tiên mở ra trong thời kỳ tướng Nguyễn Khánh cầm quyền. Đất Huế đấu tranh đầu tiên, và tụ tập chung quanh thầy Trí Quang lúc đó, là một lô giáo sư và nhân vật đất Huế, xử dụng những tờ tạp chí như trong một quốc gia vô chính phủ, đả kích luôn cả các đảng phái Quốc Gia ở miền Trung hồi đó. Bộ phận của thầy Tâm Châu không hưởng ứng cuộc tranh đấu đó trong lúc đầu, nhưng cuộc tranh đấu cũng đã lan dần vào Nam. Nguyễn Khánh đi vào những vết chân độc đoán, tự cô lập hóa và càng ngày càng yếu, và đến cuối cùng thì Nguyễn Khánh lập mưu đẩy hai khối Phật Giáo và Công giáo chống nhau để Khánh được thoát hiểm .
Tuy nhiên, trước làn sóng sinh viên, học sinh, Khánh chỉ tạm nhượng bộ, lánh mặt một thời gian ngắn rồi lại xuất hiện trở lại, với tất cả uy thế. Uy thế đó về sau chỉ bị đánh đổ là vì cuộc xấp trận của các tướng trẻ, để rồi quyền chuyển sang tay một Thượng Hội Đồng.
Khi cụ Trần văn Hương lên cầm quyền, với sự hỗ trợ của Phật giáo miền Nam, Phật giáo Thống Nhất của hai phái Tâm Châu và Trí Quang đã đoàn kết phát động ngay cuộc đấu tranh chống chính phủ.
Nhưng rồi quyền lại vào tay thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ (Uỷ Ban Hành chánh Trung Ương). Khối thầy Tâm Châu không chống chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ; trong khi đó, khối thầy Trí Quang phát động cuộc đấu tranh ghê gớm, và Huế, Đà Nẵng nổi loạn, các Tư lệnh Tiểu khu, Tỉnh trưởng theo về phe thầy Trí Quang đem quân li khai với chính quyền trung ương, thành lập mặt trận đàng hoàng, chùa chiền biến thành lô cốt. Chính phủ Trung Ương trao quyền đánh dẹp cho đại tá Loan. Mấy tướng đại biểu miền Trung ra ngoài đó đều bị «cháy». Cuối cùng là cuộc đánh dẹp đẫm máu, người chết đầy rẫy, sình thúi kinh khiếp trong các đường phố. Tiếp đó là phong trào «bàn thờ xuống đường», lan cả vào trong Nam. Nhưng cuối cùng, cuộc nội dậy được dẹp yên.
Mở màn những cuộc tranh đấu nội bộ
Dĩ nhiên là trong nội bộ Phật giáo mệnh danh Thống Nhất hồi đó, các sự chia rẽ bên trong đã trầm trọng rồi, vì hàng chục những nguyên nhân khác nhau.
Một bên chủ trương đấu tranh ôn hòa và ẩn nhẫn để gây ảnh hưởng và không còn coi chánh quyền là đối tượng đấu tranh nữa. Còn bên kia nhất quyết đấu tranh chống các chính quyền.
Và đường lối chánh trị, chia rẽ hoàn toàn: một bên có đường lối quốc gia rõ rệt, chấp nhận cuộc chiến tranh chống Cộng để kiến tạo hòa bình (sự kiện thầy Tâm Giác làm Giám đốc Nha Tuyên Uý Phật giáo trong quân lực). Còn bên kia chủ hòa rõ rệt, chống chiến tranh, và không có lập trường rõ rệt đối với Cộng sản.
Những lập trường đó có thể bắt nguồn từ bản chất những con người: Hầu hết các thầy trong khối giáo hội BV di cư là những người Quốc Gia, có những thầy là đảng viên trong những đảng quốc gia cách mạng, sự hiện diện của họ là một biểu hiện chống Cộng (những thầy nòng cốt ở lại BV để tranh đấu tiếp, đã bị Cộng sản giết sau khi họ tiếp thu miền Bắc). Phần khác, có những người trí thức nổi tiếng cầm đầu phong trào tranh đấu của Phật giáo miền Trung đã lộ bộ mặt cán bộ Cộng sản, (như anh em Hoàng phủ Ngọc Tường), khi họ đứng ra làm các công việc cho Cộng quân hồi Huế bị chiếm dịp Tết Mậu Thân.
Cho nên người viết không ngần ngại viết ra để nêu lên một lý do chia rẽ, có thể là lý do trầm trọng nhất: đó là lý do bất đồng chánh kiến. Khi mà chánh trị đã xâm nhập tôn giáo, theo mấy phía khác nhau, thì khó mà thống nhất được. Nói vậy không phải là chê rằng Phật giáo đã để cho chánh trị xâm nhập, — vì trong thật tế, tôn giáo nào cũng có chánh trị, nhất là Thiên chúa Giáo, nhưng tôn giáo khác đã thống nhất được là vì họ thống nhất được chủ trương chánh trị.
Tranh chấp.
Trước khi chia rẽ nhau, những cuộc hội nghị đã mở ra ở VNQT. Đó là những cuộc họp gay gắt. Thầy Trí Quang và các thầy miền Trung đòi hạ bệ thầy Tâm Châu khỏi chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo. Các thầy miền Bắc không chịu.
Những cuộc cãi lộn thật là gay gắt.
(Xem tiếp trang 11)
LÀM SAO GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHẬT GIÁO V.N.?
(Tiếp theo trang 2)
Thầy Trí Quang đã nói: «Những sư Bắc Kỳ thật là lộn xộn!» Thầy Tâm Giác đáp lễ: «Những sư Trung Kỳ muốn gì đây, nói thẳng ra». Những cuộc tranh chấp đưa dẫn đến các tranh chấp địa phương, và những danh từ «sư Bắc Kỳ» từng được tung ra. Đó là những chuyện buồn.
Từ đấy, có giáo hội Việt Nam Quốc Tự và giáo hội Ấn Quang.
Bây giờ, đường hé mở vào thống nhất thì cũng lại bị lấp lại ngay vì cái chuyện Hiến Chương. Hiến Chương thứ nhất của Phật giáo thống nhất đi đến sự phá hủy các giáo phái khác nhau cho nên phái của thầy Tâm Châu không thể chấp nhận, tin chắc rằng Hiến Chương đã làm tan nát Giáo Hội Thống Nhất thì không thể gây lại được nền thống nhất. Trái lại, phái của Thầy Trí Quang đòi phải lấy lại Hiến Chương thứ nhất đó. Phái thầy Tâm Châu đã xin hủy cả Hiến Chương của mình (đã được nhà nước công nhận) để đề nghị cả 2 bên cùng nhau đi tìm một Hiến Chương mới, nhưng cũng không xong. Thế rồi đã xảy ra cuộc đánh chiếm VN Quốc Tự vào tối ngày 3-5-1970, 48g sau bữa tiệc tẩy trần giữa 2 phe tại võ đường Quang Trung của thầy Tâm Giác...
(CÒN TIẾP)
#Chinh Luan May 12, 1970 trang hai
LÀM SAO GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHẬT GIÁO VN?
Bài của TRIỀU-VIỆT (Tiếp theo)
Bài 02
Đề cập đến các biến cố xảy ra
Bây giờ, người viết xin đề cập đến các biến cố đã xảy ra tại VN Quốc Tự. Những chuyện ghi sau có thể là những chuyện bên lề, có thể là ý kiến thâu lượm được tại chỗ, nhưng cái đó mới là quan trọng. Những sự thật được cố tình giấu kín do các tuyên ngôn, hoặc được làm sai lệch đi do những cuộc xách động, thì phải bằng những tình tiết nhỏ, những nhận xét của chứng nhân nhỏ, mới tìm được sự thật.
Cuộc tấn công của lực lượng Ấn Quang
Cuộc tấn công của lực lượng Ấn Quang đã được làm bằng những toán thanh niên mang gậy gộc. Vài ba trăm người thôi, không phải nhiều như người ta thường nói. Đánh chiếm quốc tự chẳng khó khăn gì vì là cuộc đánh bất ngờ. Quốc Tự bao giờ cũng mở rộng cửa đến đêm khuya, người ra vào tự do, và bên trong chỉ có những văn phòng làm việc với những em cô nhi ở vào một khu biệt lập.
Bên chánh điện là nơi thờ tự, chỉ có mấy sư lành hiền. Phía ngoài là mấy dãy nhà cây. Bên trong, phía tay mặt, sau các dãy nhà cây, là văn phòng của các thượng tọa và ngôi nhà bê tông lớn dùng làm trường học, xây cất chưa xong.
Đoàn người mang gậy gộc cứ tự do tiến vào, sục sạo các nơi và trấn đóng. Những biểu ngữ được căng ra: "Yêu cầu chánh quyền dừng can thiệp vào việc nội bộ Phật giáo". Đoàn người lùng tìm thượng tọa Thích Minh Thành, Viện trưởng Viện Hóa đạo của VNQT và bắt buộc phải ký vào tấm giấy xin "hồi chánh" và "giao chùa" đã được làm sẵn. Chính một dân biểu trong đám biểu tình chiếm chùa đã buộc thượng tọa Thích Minh Thành phải ký giấy, "và không ký thì sẽ bị các hình phạt".
Không ai lạ gì khí thế của những đám đông, chỉ một tiếng hô là có thể đưa con người đến sự tàn sát. Thượng tọa Minh Thành đã phải ký, — nhưng đó là sự ký kết trong cảnh hăm dọa và ép buộc.
Đến đây, chúng ta chưa nói đến những thầy nào ở Ấn Quang tổ chức cuộc cướp chùa. Nhưng ai cũng có thể đoán được rằng đây là hành động của toàn ban lãnh đạo Ấn Quang, khó có bàn tay thứ ba xía vào mà xách động được. Bởi lẽ có bàn tay thứ ba xía vào, thì thành thử khối Ấn Quang tổ chức quá lỏng lẻo và uy tín các vị sư không có hay sao? Người ta cũng biết rằng thầy Trí Quang tuy kín tiếng và dấu mặt, nhưng bao giờ thầy cũng là người chỉ huy tối cao có thẩm quyền quyết định cuối cùng (nhưng sau đấy nếu thấy bảo rằng thầy không nhúng tay vào vụ chiếm đánh Việt Nam Quốc Tự, thì người Phật tử cũng cứ việc vui mừng, — ít ra, đó là cái cửa mở ra cho ý định hòa giải).
Phật tử Vĩnh Nghiêm sôi động
Tin lan truyền rất mau chóng trong ngày mùng 4 và các Phật tử miền Vĩnh Nghiêm, nhất là trong vùng Bàn Cờ và phường Phan Thanh Giản, kéo đến trước chùa rất đông để xem. Người viết cũng có mặt trong những đám đông đó và ghi nhận sự lo lắng của nhiều người:
— Không biết các thầy trong đó ra sao? Có bị đánh không? Bị cầm tù hết rồi chăng? Người ta có tiêu hủy các sổ sách giấy tờ không?
— Không biết các máy may và vật dụng học nghề thế nào?
— Các em cô nhi có việc gì không?
Một bà cụ nắm lấy tay tôi:
— Sợ lắm ông ơi, kìa ông trông những người đằng đằng sát khí kìa. Phật tử người Trung trong xóm tôi đấy. Tôi không dám phê bình gì, sợ chúng đánh.
— Phần lớn những người xầm xì với nhau cho rằng lực lượng Nhu Đạo của thầy Tâm Giác thế nào cũng xuất hiện để lấy lại chùa. Thầy Tâm Giác có cả chục ngàn võ sinh và cán bộ thừa sức làm được việc đó. Người khác bảo:
— Nhưng có thể thầy Tâm Giác sẽ khiếu nại với chính quyền, và chính quyền sẽ đưa lực lượng đến!
— Nhưng người ta đã yêu cầu "chánh quyền đừng can thiệp vào việc nội bộ Phật giáo" mà!
— Có một việc nội bộ Phật giáo, nhưng cũng có một việc vô cớ mà chiếm nhà bất hợp pháp. Chủ nhà khiếu nại thì chánh quyền phải lo bổn phận mình, cũng như lần trước chánh quyền cho lực lượng bảo vệ chùa đó thôi? Vả chăng, đã có hai Giáo hội khác nhau, làm chi có chuyện nội bộ Phật giáo nữa.
— Nhưng chính quyền sẽ bị công kích chứ!
— Nói cho đúng ra, vụ chiếm Quốc Tự này là một cái đấm đánh vào giữa mặt chính phủ. Chính phủ đã không biết bảo vệ cho một giáo hội được nhà nước công nhận.
Người ta bàn nhau xem những gì sẽ xảy ra. Nhưng những người dân chờ đến 11, 12 giờ đêm cũng chẳng thấy gì, họ lục tục về nhà ngủ...
Trận đánh chiếm lại Việt Nam Quốc Tự.
Bây giờ nữa, bảo rằng thầy Tâm Giác, thầy Tâm Châu và thầy Đức Nghiệp chẳng biết gì về cuộc tấn công chiếm lại VNQT, thì cũng lại là một chuyện phi lý. Trong ngày mùng 4, biết bao nhiêu nhân vật có cảm tình với thầy Tâm Giác đã đến tận nơi dâng kế. Đích thân thầy Tâm Giác phải huy động những lực lượng của mình để chiếm lại VNQT, đó là một chuyện tự nhiên.
Dĩ nhiên, sau đó, nếu mấy thầy bên Việt Nam Quốc Tự cải chánh rằng mình không hay biết gì về cuộc tấn công chiếm lại Quốc Tự, thì người ta cũng hiểu rằng các thầy nói vậy thôi, chứ sự thật là khác, nhưng đó lại cũng là một điểm đẹp để khỏi chặt cây cầu, khỏi cạn tàu ráo máng với nhau.
Vậy ta hiểu như sau:
— Các thầy Trí Quang, Thiện Minh, Huyền Quang, Thiện Hoa đã tổ chức cuộc cướp ngôi chùa Quốc Tự, — rồi thầy Trí Quang bảo là không biết.
— Và các thầy Tâm Giác, Tâm Châu, tổ chức cuộc tấn công cướp lại chùa, các thầy lại cũng bảo là mình không biết.
— Thì cả hai bên cùng tương đương nhau, — và nếu phải coi đó là một cái để vớt vát lại sau khi hành động, thì âu cũng là một điểm đẹp, tuy các chuyện đã lỡ hết.
Vậy thì, một số lực lượng VN Quốc Tự với nòng cốt là lực lượng Vĩnh Nghiêm, được tập hợp lại. Đủ các hạng người. Có những nhà báo, những phật tử, thông thường vẫn làm việc bên cạnh các thầy. Có một số võ sinh nhu đạo (không huy động được nhiều trong vòng 12g). Có cả một số nhân viên trong Nha Tuyên Úy nữa. Không có bao nhiêu, chừng một vài trăm người. Trong buổi đêm, họ tập họp trong những ngôi nhà ở khu vực các xóm hẻm phường Phan Thanh Giản, ở phía trước VNQT, hoặc tại các ngôi chùa trong phường. Rồi đến giờ tiến công. Họ chỉ phải chạy ngang qua lề đường Trần Quốc Toản. Một vài sĩ quan tòng sự ở Nha Tuyên Úy lái xe Jeep chạy đến (những người này về sau bị cơ quan công lực bắt).
Những nhân dân tự vệ khoái con mắt và xúc động đứng trong các hẻm mà bắn súng cho vui. Trận đánh lâu đến 3 giờ đồng hồ thì cũng phải kể là kỳ phùng địch thủ. Hai bên cùng dùng gậy mà đập nhau, cùng hăng hái như nhau, nhưng bên thầy Tâm Giác lại có những võ sinh nhu đạo thì đó cũng là một cái lợi. Lực lượng Quốc Tự dần dần trội hơn, và những chiến sĩ sót lại của Ấn Quang cuối cùng tháo chạy, trong ánh lửa của dẫy nhà bị đốt. Trong lúc đánh nhau, người ta đã không quên tổ chức một cuộc phá hoại.
Lực lượng Quốc Tự đã chiếm lại ngôi Chùa, trụ sở của Giáo hội. Ta chỉ còn nói thêm rằng, chuyện chỉ có vậy, và phái Quốc Tự đã có những cán bộ lo việc chiếm lại chùa, trận tái chiếm không cần có mặt thầy Tâm Giác hoặc bất cứ thầy nào khác, bởi vì không ai dại mà chường mặt ra đó.
Vậy để nói cho đúng thì thầy Tâm Giác tổ chức trận sau mà không dại có mặt, cũng như thầy Trí Quang tổ chức trận trước mà cũng không dại có mặt tại nơi trận địa.
Ấn Quang lập mê hồn trận tài tình...
Qua bao nhiêu kinh nghiệm đấu tranh, khối Ấn Quang đã tỏ ra tài giỏi vượt bậc trong các công trình xách động và chiến đấu.
Buổi sáng ngày mùng 5 tháng 5, trong khi những người quen bàn chuyện chánh trị còn đương luận về cái sự "Cao Biền dậy non" của phái Ấn Quang thì phái Ấn Quang mất VNQT nhưng đã đương thắng keo xách động đầu tiên.
Mấy anh quốc gia từ trong các hẻm ở phường Phan Thanh Giản, đến ngay trước VNQT để quan sát. Dãy nhà còn đương cháy phừng phừng. Cảnh Sát Dã Chiến đương lo chở những "chiến sĩ" đi nhà thương, không phân biệt bên nào. Một anh đứng xem, nói:
— Tình trạng Đô Thành đã đến nỗi nát bấy, mà Ấn Quang đã vội hành động vậy? Chỉ một toán Cảnh Sát Dã Chiến là đủ xong chuyện hết.
(Xin mở dấu ngoặc tại đây. Người vừa nói như vậy đã chỉ quan sát ở bề ngoài, thấy Cảnh Sát ra vô và gác Quốc Tự thì đề quyết là Cảnh Sát đã can thiệp. Trong thực tế, thì Cảnh Sát thường chỉ làm công việc như bất cứ cuộc đánh nhau nào khác: trước khi người ta đánh nhau, thì không có ai can; sau khi người ta đánh nhau lổ đầu sứt trán rồi Cảnh Sát mới ló mặt tới, để làm biên bản và đưa kẻ bị thương vào bệnh viện. Và như vậy là Cảnh Sát lạc vào mê hồn trận của sự xách động, bởi lẽ đây không phải là trận đánh nhau thường).
Một anh khác nói:
— Trêu vào tay ông Tâm Giác là khó lắm. Hồi Phật giáo chống nhà Ngô, một tay ông Tâm Giác quật ngã 8 tên Mật Vụ lực lưỡng. Bị bắt và bị tra tấn, ông vẫn tiếp tục đánh các Mật Vụ. Sau họ phải đập ông ta chết giấc, đem treo ngược lên xà nhà, mới tra tấn ông ta được!
(Xem tiếp trang 11)
LÀM SAO GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHẬT GIÁO V. N. ?
(Tiếp theo trang 2)
Phái Ấn Quang đã lợi dụng ngay vụ tái chiếm VN Quốc Tự, bằng những cuộc xách động loan tin lanh lẹ một cách kỳ ảo. Chỉ cần 1 thầy loan báo có 10 người chết, có ông Đô Trưởng lái xe đến chở xác chết đi, có lính đến bắn hàng loạt đạn, và có những xác liệng vào đám cháy cho mất tích … là đủ cho tin tức loan đi như gió, qua miệng những anh tắc xi, xích lô, không cần chờ đến báo chí hôm sau thuật lại. Trong ngày mùng 5, trái lại, các thầy Quốc Tự cứ im lìm. Các thầy «tỉnh người» sau vụ Quốc Tự bị chiếm, đã tỉnh người hơn nữa, khi đọc báo và thấy có cả một lớp người từ những dân biểu đến những thượng tọa gọi mình là giáo gian và đòi đem ra chặt đầu! Ngày mùng 6, các thầy mới họp báo và chỉ có một số báo đăng lèo tèo những lời chống đỡ yếu ớt của các thầy vào ngày mùng 7. Vậy là đã chậm rồi.
Và cái anh bạn không hiểu tại sao Ấn Quang tấn công chiếm VNQT một cách quá sớm để rồi bị đánh bật ra, lúc đó mới hiểu rằng «Ấn Quang chẳng mất chi hết! Vì đánh chiếm Quốc Tự mà chiếm được luôn, thì kể như thắng! Còn không chiếm được mà bị đánh bật ra, thì tức là đã có lý do xách động. Đàng nào cũng lợi, — vì Ấn Quang biết chắc rằng phái Quốc Tự dở về chính trị, không biết xách động, thế nào phái Quốc Tự cũng cho đầu vào bẫy. Phái Quốc Tự phải «tỉnh người» là vì chỗ đó!
#Chinh Luan May 13, 1970 trang hai
LÀM SAO GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHẬT GIÁO VN?
Bài của TRIỀU-VIỆT (Tiếp theo)
Bài 03
Lỗi của bên này...
Mở trận tấn công chiếm VN Quốc Tự, các thượng tọa và đại đức bên Ấn Quang đã làm một việc "không tốt đẹp". Đứng về phương diện thuần đạo pháp mà nói, Phật tử nào cũng biết rằng "sư đâu thì chùa đấy", sư mà thanh tịnh và được kính trọng, thì sư chỉ cần ngồi dưới một gốc cây, là gốc cây thành chùa. Cho nên cái chuyện tranh chùa chẳng tốt đẹp chút nào.
Trong những năm qua, những chuyện tranh chùa hoặc xoay tiền làm chùa vẫn có, nhưng may đó là những vụ nhỏ và không phát giác ra ngoài. Đến nay chuyện cướp Việt Nam Quốc Tự trở thành chuyện lớn, vì đó là ngôi chùa thuộc một Giáo Hội có Hiến Chương và có Nhà Nước công nhận; vì ai cũng hiểu rằng đó là chuyện một Giáo Hội này đi cướp của Giáo Hội kia; và vì, sau cuộc cướp chùa lại có một cuộc đánh chiếm lại...
Sau khi các biến cố xảy ra, phái Ấn Quang đã tung ra một cuộc xách động dữ dằn, nhưng trước sau vẫn không thể dập tắt được hai sự kiện:
1— Chính phái Ấn Quang đã đánh trước (cướp Chùa trước).
2— Chính là Giáo Hội Ấn Quang đã chủ trương việc đó, chứ không phải là một thành phần vô kỷ luật đã làm ẩu. Trong những cuộc họp báo, các thượng tọa trong Viện Hóa Đạo Ấn Quang đã ngồi trên để yểm trợ cho các đại đức Pháp Siêu, Huyền Diệu và Nhật Thường, là những đại đức đã đích thân cầm "quân" đi đánh chiếm Quốc Tự.
Muốn gỡ lại cái lỗi "đánh trước", các vị ở Ấn Quang đáng lẽ phải trước tiên phủ nhận việc đánh Quốc Tự và trừng trị các đại đức Pháp Siêu, Huyền Diệu, Nhật Thường, rồi tha hồ đả kích hành động của đối phương. Nhưng các vị đã không làm như vậy.
Một vấn đề khác được nêu ra để giải thích cho hành động cướp chùa. Cướp chùa không phải là hành động để tạo thống nhất, chỉ là hành động để phá thống nhất. (tiện đây, xin thưa với quý vị rằng, muốn tìm bàn tay thứ ba đã phá thống nhất Phật Giáo, xin quý vị tìm xem kẻ nào đã thúc đẩy quý vị tổ chức cuộc cướp Quốc Tự?).
Lý do nào đã gây ra hành động cướp Chùa? Phải chăng là nhu cầu phải cướp lấy chánh nghĩa? Chúng tôi thiết nghĩ: chánh nghĩa là ở các việc làm ích quốc lợi dân và tốt đẹp cho đạo pháp, chứ không phải ở một địa điểm, cũng không phải ở một Hiến Chương. (quý vị vẫn có Hiến Chương đó thôi?! Nhà Nước không công nhận, nhưng quý vị có thể tranh đấu để Nhà Nước công nhận, đó là một câu chuyện khác, là chuyện của quý vị với Nhà Nước và lúc ấy nhiều người có thể sẽ hỗ trợ quý vị việc đó để quý vị hoằng dương đạo pháp, làm việc lành cho xã hội)
... Và lỗi của bên kia
Người Phật tử không chấp nhận được việc cướp Quốc Tự thì cũng không thể chấp nhận được hành động tấn công cướp lại ngôi Chùa đó.
Một "cán bộ" của miền Vĩnh Nghiêm có cho hay:
— Hành động đánh chiếm lại Chùa là hành động của người tự vệ. Cướp vào nhà thì mình phải đánh. Cộng quân Bắc Việt vào Nam thì mình kháng chiến đánh bật ra. Lỗi không thể đổ lên đầu kẻ bị đánh trước.
Trong việc đánh chiếm phải có sát phạt; mà ở đây chỉ có gậy gộc. Mọi chuyện người chết hoặc súng đạn chỉ là bịa đặt. Giả sử vào đêm 3-5, chúng tôi có nhiều người giữ Quốc Tự lúc Ấn Quang đến đánh, thì có phải đã có nhiều người bị thương rồi không?
Một cán bộ khác của Giáo hội Quốc Tự nói:
— Chúng tôi đã hành động đến mức tối thiểu và chỉ trong phạm vi tự vệ, nghĩa là chỉ lấy lại cái gì đã mất.
Trong ngày 4 tháng Năm, đã có nhiều nghị sĩ, dân biểu và những nhân vật Phật giáo đến đưa đề nghị chiếm luôn ngôi chùa Ấn Quang, và hành động những gì như Ấn Quang đã hành động với Quốc Tự, nhưng chúng tôi đã không làm như vậy, vì không muốn gây thù oán và chặt đứt cây cầu. Chúng tôi đáng được cảm thông như bất cứ những dân tộc và phe nhóm nào bị xâm lăng. Chúng tôi cũng không thể bị trách cứ cũng như các nhà sư kháng chiến Tây Tạng cởi bỏ cả áo cà sa để khoác chinh y không thể bị trách cứ.
Tuy được nghe những lời giải thích thật tế ấy, chúng tôi vẫn cho rằng việc đánh chiếm Quốc Tự là một việc không hay, vì các lý do sau đây:
1) Lấy sức đấu sức không phải là hành động của con nhà Phật. Lấy ân báo oán, oán oán tiêu tan; Lấy oán báo oán, oán oán chập chùng: lời Phật đã dạy như vậy kia mà. Vả chăng, người khác đã lỡ, mình lại theo vết xe của người khác sao đang?
2) Chẳng xá gì một mảnh đất Quốc Tự, người ta chiếm của mình, thì mình cho luôn; uy tín tạo nên là do những sự kiện khác (các hành động giúp ích nhân dân, hoằng dương Phật pháp) chứ không phải là do việc cướp lại được mảnh đất.
3) Đứng về phương diện tâm lý, cứ để cho mất Quốc Tự đi, rồi lấy cái đó làm động cơ huy động Phật tử tiến mạnh mẽ vào các hoạt động tổ chức, phát triển và làm việc xã hội thì hay biết mấy?
Nếu là kẻ hèn này được tham dự vào việc bàn mưu đối phó vụ Quốc Tự bị chiếm, kẻ hèn này sẽ đề nghị:
— Quý thượng tọa, đại đức và quý ni, quý bà Phật tử, sẽ bình tĩnh đến cắm trại tại lề cỏ trước VNQT đủ 3 ngày, tụng kinh gõ mõ... Nếu bị đánh cứ nằm trơ ra chịu chết!?
— Một phái đoàn sẽ đến yết kiến các vị Ấn Quang, để yêu cầu trả lại ngôi Quốc Tự.
— Một lần yêu cầu không được, thì 10 lần yêu cầu, 100 lần yêu cầu...
Làm như vậy, sẽ đến lúc Ấn Quang phải trả lại ngôi Quốc Tự, và một chút hòa khí sẽ không mất; dù chút hòa khí ấy chỉ còn 1/100, cũng cứ ráng giữ lấy. Kế hoạch ấy chỉ phiền có một điều là Ấn Quang sẽ rầm rộ lợi dụng trụ sở VN Quốc Tự để làm những cuộc xách động, tranh đấu khác,— nhưng đó cũng không phải lý do để e ngại. Nếu Ấn Quang làm được gì, cứ để Ấn Quang làm. Ấn Quang mà vươn lên được, thì giáo hội bên này há chẳng theo bước mà vươn lên được hay sao?
Khốn thay, lòng con người làm sao bằng được lòng Phật để thực hành «hạnh bố thí» như Phật đã làm, cho hết của cải, cả đến con, đến vợ! Cuộc đời thì bao giờ cũng đầy tranh đấu, đầy sát phạt. Nam mô Phật!
Những sự kiện sau khi cuộc đánh nhau đã xảy ra
Chúng tôi gọi là cuộc đánh nhau cho đúng nghĩa, chứ không gọi là cuộc tàn sát, vì không có người nào chết ở VNQT. Và chúng tôi ghi như vậy, sau khi tự mình có những điều tra riêng...
Những người chủ chốt ở phái Quốc Tự quả quyết là không có ai chết. Các phúc trình của cơ quan công lực bảo là không có ai chết. Có vị bên Ấn Quang bảo là có 10 người chết, có mấy người chết bị liệng xác vào lửa và ông Đô Trưởng lái xe Jeep chở đi hai cái xác để phi tang. Những điều đó về sau không được xác nhận là đúng, đó chỉ là những tin tức tung ra vì nhu cầu xách động. Chúng tôi có hỏi những người dự kiến từ trên các tầng lầu của các ngôi nhà ở đằng trước Quốc Tự, họ nói: «Không thể có xác liệng vào lửa, vì không thấy mùi khét».
Về sau, chính phái Ấn Quang xác nhận có 2 người chết, và họ chỉ đòi 2 cái xác mà thôi. Nhưng có một cái xác đã «sống lại» rồi: đó là anh Nguyễn Hòa Bình, con trai của giáo sư Hoàng Châu, anh này đã ra trước Tòa và khoẻ mạnh. Anh là một trong số những người của cả 2 phe Quốc Tự và Ấn Quang bị Cảnh Sát bắt về tội đánh nhau.
Sau khi các việc đáng tiếc xảy ra rồi, chúng tôi ghi nhận một số những sự việc tiếp theo sau.
Trong số những sự kiện ấy, có những chuyện tốt đẹp: việc thành lập một Ủy Ban hàn gắn (chỉ tốt đẹp có nửa chừng!) và có một số các vị sư thuộc cả hai phái đã lên tiếng rằng «mình không dính líu đến các việc đã xảy ra».
Nhưng lại có những việc không tốt đẹp, và đó là những lời chửi rủa lẫn nhau, những cuộc xách động thiếu sự nhã nhặn.
Thầy Trí Quang bảo rằng mình không hay biết gì về vụ chiếm Quốc Tự do phái Ấn Quang thực hiện đêm 3-5. Đúng vậy là hay biết bao. Thầy Trí Quang lại bảo rằng «thầy sẽ cố gắng để thực hiện cuộc hàn gắn và hòa giải!» Như vậy cũng là hay biết bao! Phật tử chỉ mong có vậy.
Bây giờ, việc đầu tiên mà thầy Trí Quang cần làm là dập tắt những lời chửi rủa những người cầm đầu Giáo Hội bên Quốc Tự như các thầy Tâm Châu, Tâm Giác, Đức Nghiệp.
— Gọi những thầy đó là «giáo gian» để đòi «chặt đầu» thì làm sao mà quan niệm thống nhất Phật giáo được? Chẳng lẽ sau này lại thống nhất với «những tên giáo gian đáng chặt đầu»? Một vài kẻ nhờ thời nhẩy được lên bàn địa vị, một cô điếm đàng; vài chàng trai lãng tử mà cũng chửi được các nhà tu cầm đầu Giáo Hội, thì còn ra thể thống gì? Rồi lại thượng tọa bên này chửi thượng tọa bên nọ, cũng bằng những danh từ như vậy, thì thật là đáng buồn. Bảo rằng «cần thống nhất» mà chủ trương như vậy là «chặn đường thống nhất». Chửi như vậy là sỉ nhục chung Phật giáo và tự sỉ nhục mình.
Ngoài ra những lời chửi nặng nề, còn cần chấm dứt những lời xách động. Sự kiện xách động «có nhiều người chết» có dụng ý để làm khơi động sự căm hờn của Phật tử, để Phật tử sẵn sàng lao đầu vào chỗ chết. Nhưng nếu đã có chuyện xách động thì cũng phải tới lúc các lời xách động hết còn đúng sự thật nữa!. Cho đến hôm bài này được viết, số người chết từ 10 đã tụt xuống là 2, và trong số 2 người chết này, thì 1 người đã xuất hiện bằng xương bằng thịt trước Tòa, như đã nói trên.
Một hướng xách động khác là lôi đầu các thầy Tâm Giác và Tâm Châu ra, để bảo rằng các Thầy đích thân chỉ huy trận chiếm lại ngôi Quốc Tự. Bảo rằng các thầy có ra lệnh, còn có thể nghe được (cũng như các thầy điều khiển phái Ấn Quang đã ra lệnh chiếm Quốc Tự hôm trước),— chứ bảo rằng các thầy đích thân đi đánh thì là bịa đặt để xách động quá đà, tức là phải có lúc bị người ta nhận thấy.
Tờ Độc Lập đã nhận xét rằng ni cô Như Nghiêm, do Ấn Quang đưa lên để xách động, đã tố cáo thầy Tâm Châu nguy trang mặc áo ngắn, tay cầm súng Colt, đầu đội nón rách. Cũng ni cô đó lại báo cáo gặp thầy Đức Nghiệp và nghe thấy hết những lời thầy nói. (Tờ Độc Lập đã kể rằng «các tiểu thuyết gia nghe ni cô kể, đều khóc mà xin giải nghệ, vì họ tuy có nhiều khả năng tưởng tượng mà vẫn còn thua ni cô, vì không tưởng tượng nổi cảnh thầy Tâm Châu đội nón rách, mang súng Colt»).
Nhưng trước đó, một nhà sư Ấn Quang đã bảo rằng «đích mắt trông thấy Thầy Tâm Giác, Tâm Châu, mặc cà sa, chùm khăn, đứng chỉ huy trận đánh». Và một nhà sư khác họp báo lại hét lên «Chính mắt tôi trông thấy Tâm Giác mặc quân phục đeo lon đại tá, bắn 3 phát tiến quân». Báo Độc Lập phê bình «Thế là lời mô tả sau chửi bố cái lời mô tả trước!»
Những lời xách động về cuộc «tàn sát» có mục tiêu gây phẫn khích và xua Phật tử vào cuộc chém giết, tuy nhiên có thể có hậu quả khác hẳn là làm cho Phật tử sợ sệt và chán nản. Chính Luận, số báo ngày 10 và 11-5, đã kể rằng, đại lễ cầu siêu cho các nạn nhân vụ «thảm sát ở Quốc Tự» chỉ có 50 người dự, và luật sư Nguyễn Hữu Doãn, trưởng đoàn Phật tử Thiện chí, đã lắc đầu than rằng «cha mẹ các em ngăn cấm, không cho con đi, sợ gặp chuyện không may». Phản ứng của Phật tử như vậy là một tiếng chuông cảnh cáo.
Còn 1 kỳ. — Làm sao đi đến một giải pháp? Ủy Ban Hòa Hợp Phật giáo sẽ làm được gì không?
#Chinh Luan May 14, 1970 trang hai
LÀM SAO GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHẬT GIÁO VN? (Bài 04 — tiếp theo và hết)
Bài của TRIỆU-VIỆT
Cần đi đến thống nhất thì phải làm gì?
Nam mô Phật! Nếu cần để Phật giáo VN thống nhất lại thì người ta phải:
1— Cởi bỏ hết hận thù.
2— Tôn trọng lẫn nhau và biết công nhận những ưu điểm của nhau.
3— Quan niệm một nền thống nhất rộng rãi chứ không phải chỉ gom có hai phái mà thôi.
4— Phải biết đi tìm một thế đoàn kết mới mẻ và thích hợp.
Và nếu không thể tạo được những điều kiện như vậy, thì người ta hãy dứt khoát với nhau cho xong, để cho Phật tử được yên lành.
Đó là đề tài của bài cuối cùng về các vấn đề Phật giáo mà chúng tôi xin trình bày.
Về Ủy ban Hòa hợp Phật giáo
Tin tức ngày 11-5 cho biết có 3 đại đức và 1 thượng tọa đã ăn tiệc chay do Luật sư Liễng thết. Nếu tiệc chay đó thành hình được thì tức là người đứng ra để mời các vị lãnh đạo hai giáo hội gồm các vị chân giáo và các «đại giáo gian đáng chặt đầu» đến dự tiệc đã ngồi với nhau. Người ta mỉm cười về những hậu quả của những cuộc xách động quá đà. Tiệc chay mà đã có, ta phải mừng rằng các vị Ấn Quang đã phải hạ mình mà công nhận «giáo gian» và các vị Quốc Tự đã không thèm chấp nhất (nhất là 3 đại đức đứng mời và người thiết tiệc đều thuộc phe Ấn Quang).
Được biết: Ủy Ban Hòa Hợp Phật giáo gồm có 4 người là Nghị sĩ cựu tướng Trần Văn Đôn, luật sư Trần Ngọc Liễng, Giáo sư nguyên Tổng trưởng Vũ Văn Mẫu...
Ủy Ban đó sẽ làm được gì, trước hết phải do thành phần của Ủy Ban có xứng đáng để làm việc đó hay không — không nói đến sự xứng đáng về đức độ và về đường lối chính trị, mà chỉ nói về sự xứng đáng được cả hai phái Phật giáo tín nhiệm.
Nghị sĩ Trần Văn Đôn vừa đây đã theo phái Ấn Quang, kết quả ra sao thì không ai biết về phương diện chính trị. Sự kiện đó có thể do việc Nghị sĩ Đôn muốn nhờ Ấn Quang hỗ trợ về phiếu trong cuộc bầu sắp tới; cũng có thể do việc Nghị sĩ Đôn và Ấn Quang muốn liên kết với nhau về chính trị, vì cùng một con đường chủ hòa, của khối thứ ba, và cùng chống chính quyền. Một vài nguồn tin cho rằng Ấn Quang vẫn muốn đứng thế riêng, không chấp nhận sự dính líu của Nghị sĩ Đôn. Nhưng dầu sao thì Nghị sĩ Đôn cũng có thể được coi là người của Ấn Quang hay là thân Ấn Quang. Ai cũng biết vậy.
Luật sư Liễng cũng có tánh chất tương tự. Trước kia, ông Liễng là đệ tử của thầy Tâm Châu, và chính thầy Tâm Châu giới thiệu cho ông vào làm Tổng trưởng Xã Hội trong chính phủ của thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ. Về sau, ông Liễng đổi chiều, chủ trương trung lập và chạy sang ủng hộ Ấn Quang nhưng không được Ấn Quang chấp nhận (và ông Phó Tổng thống Kỳ cũng đã kể nhiều chuyện ngộ ngộ về ông Liễng).
Giáo sư Vũ Văn Mẫu là cựu Tổng trưởng trong chính phủ Ngô Đình Diệm — nhưng đến những ngày cuối cùng của cuộc đấu tranh Phật giáo, ông đã gọt tóc và rời chính phủ Diệm. Đó là một điểm son. Làm luật sư, ông đã mạnh miệng đứng vào lập trường những người tranh đấu. Có lẽ ông là một Phật tử không thiên bên nào, và ông đã tự mình tạo uy thế riêng, không vì chính trị hay vì đường sanh kế mà đi nhờ vả một phái Phật giáo này hay phái Phật giáo nọ.
Xét thành phần như trên, ông Vũ Văn Mẫu có thể được đóng vai trò của mình trong cuộc hòa giải 2 phái Phật giáo, và người ta không chắc rằng ông Đôn và ông Liễng sẽ đóng được vai trò trung gian hòa giải một cách hiệu nghiệm.
Những ai có thể ngồi thêm vào Ủy ban Hòa hợp để cho Ủy ban có đầy đủ tín nhiệm và hiệu lực?
Đưa vụ Phật giáo trao cho Quốc hội
Tin tức ngày 10-5 cho biết rằng các thầy có thẩm quyền thuộc cả hai khối Phật giáo nói rằng «chờ mong chính phủ thực tâm điều tra nội vụ để truy tố thủ phạm» — nhưng nghị sĩ Đôn nói rằng «chính phủ không muốn can dự vào nội vụ, nên các thượng tọa chờ mong ở Quốc hội giải quyết».
Trong khi đó thì Tổng Nha Cảnh sát, trong thật tế, đã điều tra, lập phúc trình và tiếp tục điều tra nữa... Nhưng các thủ tục vẫn được tiến hành để đưa lên cho Quốc hội lập Ủy ban điều tra. Tuy nhiên, hình ảnh chia rẽ bê bối và không khí xách động thiếu đứng đắn trong Hạ viện, và thành phần đa số Công giáo ở Thượng Viện khiến cho cuộc điều tra của Quốc hội đối với vụ Phật giáo sẽ mất hẳn ý nghĩa tốt đẹp.
Quốc hội xía vào chuyện Phật giáo, tức là chuyển cuộc đấu tranh trong khối Phật giáo vào trong nội bộ của cơ quan Lập Pháp và càng đưa đến những cuộc tranh chấp kém tốt đẹp. Việc hòa hợp Phật giáo do đấy sẽ khó thành và chỉ càng rắc rối thêm, bởi chính các cơ quan Lập Pháp vốn gặp rắc rối trong nội bộ, với những phần tử thiếu đứng đắn và không quan niệm đúng mức sinh hoạt dân chủ.
Vả chăng, người ta thấy rõ từ trước những gì sẽ xảy ra. Những nghị sĩ và dân biểu thân Ấn Quang sẽ vận động mạnh để vào Ủy ban đó hầu lái cuộc điều tra bất lợi cho phái Quốc Tự, tuy nhiên, đa số trong Quốc hội sẽ có những cuộc bỏ thăm mà người ta đoán được trước, cuối cùng là người ta sẽ được nghe những tuyên ngôn vung vít của những phần tử thiếu số vốn đã vung vít rồi.
Cuối cùng, Hiến Pháp không trù liệu những cuộc điều tra đối với các phần tử tư nhân như vậy. Điều 41 [ Hiến Pháp VNCH 1967 ] chỉ ghi rằng: «Thượng Nghị Viện có quyền mở cuộc điều tra về sự thi hành chính sách Quốc Gia và yêu cầu các cơ quan công quyền xuất trình các tài liệu cần thiết cho cuộc điều tra này». Đạo luật không cho Hạ Viện quyền điều tra, và chỉ cho Thượng Viện điều tra về việc làm của Hành Pháp mà thôi. Nếu Quốc Hội xía vào chuyện của những đoàn thể tư nhân, thì mai mốt có thể sẽ phải điều tra cả những vụ vợ chồng đánh lộn hoặc bạn hàng chửi nhau tại chợ.
Điều cần đặt ra: việc thống nhất Phật giáo
Lại cần phải nói thêm một điều: là Quốc hội có làm được cuộc điều tra đi nữa, thì cũng không phải cuộc điều tra ấy làm cho sự thống nhất Phật giáo trở nên dễ dàng. Mà, trong hiện tại, đối với Phật tử, sự thống nhất Phật giáo là cần thiết hơn hết — mà nếu không thống nhất được, thì ít nữa cũng có cuộc hòa hợp hoặc cuộc «sống chung hòa bình», để cho Phật tử hết còn đau buồn và mắc cỡ.
Đã đặt vấn đề cần thống nhất Phật giáo, thì điều trước tiên là phải hỏi xem: những phái trong cuộc có thành tâm chịu đoàn kết với nhau không đã? Nhưng thành tâm là một chuyện, mà lại còn chuyện khác là sự phá phách của bàn tay thứ ba nữa. Bàn tay thứ ba này là ai? Có những người bảo là bàn tay lông lá, ám chỉ ngoại bang; hành động qua những người trung gian đem gài vào phe này và phe kia, để xúi dục cướp chùa và xúi dục hai phái chửi nhau cho đã đời.
Tuy nhiên, bảo như vậy thì lại hóa ra là các thượng tọa, đại đức của chúng ta còn ấu trĩ quá, đến nỗi cứ phải đi nghe kẻ thứ ba để cướp chùa và chửi nhau như những kẻ thấp kém; hoặc là nghe những nhân vật ngoài, nghị sĩ, dân biểu, đã tuyên bố vung vít và bịa đặt, xúi dục? Hoặc là khoái tỉ mà đọc những tờ báo ủng hộ mình, những báo này phóng đại các lời tuyên bố, để rồi chính mình phải hoảng sợ rằng mình là người tu hành mà lại «cứ đòi máu trả nợ máu», cứ thành lập «những đoàn quyết tử», cứ «đòi lấy đầu người ta», và cứ vạch trần áo ra cho người đời được dự vào một màn chửi nhau không tiền khoáng hậu giữa các thượng tọa vốn là khả kính.
(người viết xin mở một dấu ngoặc: tờ báo Chính Luận đã luôn luôn trình bày đúng sự thật không thêm bớt, và do đấy tự hào là đã phục vụ đứng đắn cho Phật giáo nói chung, và cả hai phái Phật giáo nói riêng. Hẳn là đã được thấy những lời chửi rủa lẫn nhau không được tốt đẹp, — cho nên Ấn Quang đã có lệnh chỉ có một phát ngôn viên chính thức là thượng tọa Huyền Quang mà thôi. Nói cách khác là phủ nhận những lời tục tằn hạ cấp của những thượng tọa và dân biểu khác).
4 điều kiện để hòa hợp.
Việc thống nhất Phật giáo cần có những yếu tố sau đây để hy vọng thực hiện được:
1) Phải cởi bỏ hết hận thù và ngay lập tức. Chấm dứt mọi sự đả kích lẫn nhau, kể cả lời đả kích hạ cấp và những lời mai mỉa.
2) Phải biết tôn trọng lẫn nhau và công nhận những ưu điểm của nhau. Không thể nói rằng bên nào đúng bên nào sai, nhưng cứ cùng nhau hòa hợp và tôn trọng quan điểm của mỗi bên. Bên Thiên Chúa Giáo có phái Công Giáo và phái Tin Lành, vẫn chấp nhận nhau. Bên Phật giáo có phái Tiểu thừa và phái Đại Thừa. Bây giờ có chính trị xâm nhập tôn giáo, mà phái Ấn Quang có một con đường chính trị khác, thì sao không tôn trọng quan điểm chính trị của nhau như thể một đảng Cộng Hòa hay một đảng Dân Chủ ở bên Mỹ đã biết dung hợp cả chục khuynh hướng chính trị khác nhau trong nội bộ của họ? Quốc Tự đừng tưởng rằng Ấn Quang ngụy hòa, và Ấn Quang cũng đừng tưởng rằng chánh sách thuần túy «dân chủ xã hội» của Quốc Tự là đồ bỏ. Cũng vậy, Quốc Tự đừng giận rằng chính sách tranh đấu dữ dằn của Ấn Quang từng làm chết nhiều Phật tử và làm cho Phật giáo xuống dốc; Ấn Quang cũng đừng giận rằng Quốc Tự non kém, luôn luôn thỏa hiệp với chính quyền cho nên không tranh đấu cho Phật giáo được!
Có điều khó là hai chính sách sẽ khó hòa hợp? Nhưng không hòa hợp thì «sống chung hòa bình» cũng được chứ sao?
3) Phải quan niệm một nền thống nhất rộng rãi. Thật ra, thì hai phái Ấn Quang và Quốc Tự chỉ mới đại diện cho một phần Phật tử VN. Các giáo hội Phật giáo khác thuần túy Nam Việt đâu có đứng vào nữa? Ấn Quang và Quốc Tự có thể thống nhất lại với nhau thì cũng chưa phải là Giáo hội Thống nhất, hãy mời cho được Hội Phật học Nam Việt, hội Tịnh độ Tông, Tịnh độ Cư Sĩ và bao nhiêu hội Phật Giáo khác nữa ở miền Nam.
4) Phải biết nhượng nhau để tìm một nền đoàn kết mới mẻ. Đoàn kết thống nhất không thể có nghĩa là tranh chấp tiêu diệt lẫn nhau để một phái của mình làm bá chủ trong giáo hội. Đoàn kết, thống nhất phải được làm với sự chịu đựng lẫn nhau, nhường nhịn nhau để hai phái cùng sống song song với nhau.
Đó là cái lẽ thật tế, trong tình trạng hiện tại, Hiến Chương đầu tiên của Phật giáo Thống nhất đã làm cho nền thống nhất tan rã vì Viện Hóa Đạo lúc đó đòi hội Phật học Nam Việt và các hội miền Nam khác phải hủy thể, và bây giờ các phái Quốc Tự, Ấn Quang lại thù nhau thì đâu còn có thể «thống nhất triệt để được nữa?» (đó cũng là tình trạng của các đảng phái bị phân hóa vì ý kiến bất đồng hoặc vì những mưu đồ độc đoán; những hệ phái từ đó không còn có thể ngồi với nhau được nữa; họa hoằn có ngồi lại được, cũng phải tôn trọng sự tự trị của từng bộ phận).
Trong cảnh đau khổ và xấu hổ, người Phật tử chỉ mong các thầy hòa hợp, sống chung, tôn trọng lẫn nhau, trong một tổ chức lỏng lẻo cũng được; mà nếu không được vậy, thì thà rằng người Phật tử tự lập những hội Phật học riêng và giúp nhau tu tiến; Phật vốn tại tâm và thứ nhất vẫn là tu tại gia mà! Bên Nhật Bản cũng vậy, có biết bao nhiêu hội Phật giáo khác nhau, họ vẫn sống hòa hợp với nhau chứ đâu có cướp chùa và đánh nhau?
$pageOut $pageIn Phân đoạn 14
#Chinh Luan May 12, 1970 trang hai
CÂU CHUYỆN HÔM NAY - bài 01
by Nguyễn Văn
Một Tình-Trạng Bi-Đát
— Không hề có sự rạn nứt giữa các cấp lãnh đạo Phật giáo, nhất là giữa hai anh em chúng tôi.
Đó là lời trích trong thông bạch ngày 15-5-1964 của hai vị thượng tọa từng được bao người tôn kính, Thích Tâm Châu và Thích Trí Quang.
Chiều ngày 3-5-1970, hàng trăm người đã từ chùa Ấn Quang bất thần kéo đến đường Trần quốc Toản Saigon chiếm đóng VNQT, và bắt đem đi cả Hòa thượng Thích Minh Thành, Viện trưởng Viện Hóa Đạo.
Rồi đêm 4 rạng 5/5, cũng hàng trăm người khác tới giành lại Quốc Tự, và cuộc xung đột đổ máu đã xảy ra như thế nào, các báo đã tường thuật với những chi tiết rất khó tưởng tượng.
Mọi sự đã biến chuyển ra sao từ 1964 để đưa tới cảnh bi đát như vậy?
X X
X
Khi đọc thông bạch kể trên, một số người vô tư đã bảo nhau: đây hẳn lại mấy chú Cần Lao phao đồn tin nhảm gây chia rẽ, các thầy thanh minh làm gì cho tốn công?
Theo sự hiểu biết của giới thân cận tướng Nguyễn Khánh hồi đó, thì Hiến Chương Phật giáo ngày 4/1/64 vừa được thừa nhận bằng sắc luật ngày 14/3, song hình như có một số điều khoản không được sự tán thành của vài chức sắc cao cấp thuộc các tông phái. Ngoài ra, đối với những nhân vật thuộc chế độ cũ, nhiều vị muốn tỏ ra khoan hồng, trong khi một số thấy cần cứng rắn... Dù sao không ai quan tâm, vì yên trí rằng bất đồng ý kiến là sự rất thường tình trong các đoàn thể lớn.
Hơn nữa, Hiến chương lại được tu chính trong đại hội PG khóa 2, ngày 14-12-65, và lại được thừa nhận dễ dàng do sắc luật ngày 26-2-66 của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Như thế, thì những điểm nào gây thắc mắc hẳn đã được sửa đổi để đem lại hòa khí và củng cố thống nhất.
Nhưng ngày 13/3, sau khi tướng Nguyễn chánh Thi được Hội đồng Tướng lãnh cho nghỉ việc, thì Viện Hóa Đạo lên tiếng tỏ rõ ngay lập trường: các tướng có công với Cách mạng phải được trở lại quân đội; các tướng lãnh phải trở về cương vị quân sự; phải lập chính phủ đoàn kết, phải bầu một Quốc hội.
Và từ đó cho tới cuối tháng 7/1966, các vụ biểu tình đòi thỏa mãn 4 nguyện vọng trên tiếp diễn tại Saigon, tại nhiều tỉnh miền Trung và Cao nguyên, nhất là Huế và Đà nẵng.
Chính cuộc tranh đấu này mới gây ra, hoặc cho thấy rõ dần hai khuynh hướng khác nhau của các cấp lãnh đạo: ôn hòa và quyết liệt.
Thượng tọa Thích Tâm Châu, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, đã nhiều lần kêu gọi Phật tử bình tĩnh và kiên tâm, chờ chính quyền đáp ứng các nguyện vọng của PG (ngày 19-3, ngày 20-3 và ngày 26-3 v.v...)
Song phong trào tranh đấu vẫn sôi nổi, các vụ đình công, bãi thị, bãi Mỹ, v.v... cứ bồng bột lan tràn. Ngày 31-3, hàng ngàn người tụ họp trước chợ Bến Thành Saigon, và treo tại Pháp trường cát hình nộm các tướng trong chính phủ...
Khuynh hướng quyết liệt vượt và át hẳn khuynh hướng ôn hòa. Đêm 2-4, sau buổi thuyết pháp của Đại đức Thích Hộ Giác, hàng trăm người rầm rộ kéo tới phủ Chủ tịch và đài Phát thanh, và lần đầu tiên có nhiều tiếng hò hét: đả đảo Thích Tâm Châu.
Thượng tọa Thích Tâm Châu vẫn giữ nguyên lập trường, mặc dầu chính phủ gửi mấy tiểu đoàn ra tái lập an ninh tại Huế và Đà Nẵng (5-4). Tối hôm đó, Thượng Tọa tuyên bố trước hàng ngàn Phật Tử: Đòi trong 3 tháng phải có chính quyền dân cử và quốc hội; nhưng xác nhận là tranh đấu bất bạo động; đồng thời, cho biết sẽ vui lòng nhận những viên đạn do phần tử quá khích đã dọa đem tặng. Rồi muốn tránh mọi sự xách động, Thượng tọa cho tạm đóng cửa VN Quốc Tự trong một thời gian.
Nhưng không vì thế mà tình hình lắng dịu. Thượng Tọa Thích Thiện Minh thông cáo: các tướng lãnh không giữ lời cam kết, Phật giáo phải chống đến cùng (8-4). Hôm sau, các báo được mời tới Viện Hóa Đạo để nhận tin thành lập Ủy ban Lãnh đạo Lực lượng Phật tử thống nhất hoạt động tranh đấu. Hơn nữa, ngày 27/5, lại có thông cáo: từ nay, theo lối tập đoàn chỉ huy, Viện trưởng Viện Hóa Đạo chỉ là người thừa hành.
Cuộc tranh đấu tiếp tục rất mạnh dưới nhiều hình thức: tuyệt thực, tự thiêu, xung đột với quân đội tại Huế và Đà Nẵng, biểu tình luân chuyển ngày đêm, bắt giam cả sĩ quan Quân vụ Thị trấn Đà Lạt, đốt phá Phòng Thông tin Tòa Lãnh sự Mỹ tại Huế, đem bàn thờ Phật bày trên các mặt đường... Thượng Tọa Thích Trí Quang nhiều lần kêu gọi Hoa Kỳ rút sự ủng hộ đối với chính quyền quân nhân và đòi các tướng trong chính phủ từ chức (ngày 20-5, ngày 25-5...)
Trong khi đó, Thượng Tọa Thích Tâm Châu vẫn không thay đổi đường lối. Ngày 31-5, Thượng tọa cùng 6 vị cao tăng khác tới dinh Gia Long hội đàm với Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia để tìm giải pháp chung ổn định tình thế. Hôm sau, Thượng Tọa Thích Pháp Siêu phẫn nộ đến nỗi toan tự thiêu ngay tại Viện Hóa Đạo, nếu không được Phật tử can ngăn. Thượng Tọa Thích Tâm Châu còn bị một số tăng ni phản đối lần nữa hôm 3-6, chính ngày lễ Phật Đản. Mấy lần Thượng tọa ngỏ ý muốn từ chức, và đi lánh khỏi Viện Hóa Đạo, nhưng lại được các tăng ni ôn hòa cung thỉnh trở về; Đã có lúc Thượng tọa muốn tỏ ra cương quyết để nắm vững lại nội bộ: như ngày 5/6, ra thông cáo: tăng ni vô kỷ luật không tôn trọng đường lối chung sẽ bị cảnh cáo, trục xuất hoặc giao chính quyền. Song lệnh của Thượng tọa vẫn không được theo; ngày 13/6, Thượng tọa đọc thông bạch trên đài phát thanh, kêu gọi rước bàn thờ Phật về chùa, nhưng ngay hôm sau, Viện Hóa Đạo ra thông cáo: thông bạch đó chưa được Hội đồng Viện chấp thuận.
Đến tháng 7, xem chừng cuộc tranh đấu chỉ đem lại những kết quả bi quan: các chùa Từ Đàm và Diệu Đế bị quân đội kiểm soát, số đông lãnh tụ phong trào tranh đấu bị bắt, các vụ biểu tình đều bị giải tán, các bàn thờ Phật được quân đội đem về chùa, Thượng Tọa Thích Thiện Minh bị mưu sát và trọng thương. Viện Hóa Đạo cùng chùa Ấn Quang bị bao vây và lục soát, thủ phạm giết cảnh sát Kiều Công Hải trốn trong Quốc Tự bị bắt, Thượng Tọa Thích Trí Quang được đưa từ Huế vô Saigon dưỡng bệnh, hàng ngàn ban đại diện PG trong quân đội bị tan rã, và nhiều niệm phật đường bị bỏ vắng.
Trước tình trạng đó, tất nhiên chính sách hòa hoãn lại được tạm nhận là cần thiết. Ngày 23-6, hội đồng Viện ủy quyền cho Thượng Tọa Thích Tâm Châu thương thuyết với chính phủ; đồng thời Đức Tăng Thống ra lệnh cho Thượng Tọa Thích Trí Quang hãy ngưng tuyệt thực.
Thượng Tọa Thích Tâm Châu hội kiến với thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung ương, và được thỏa hiệp về 5 điểm do Thượng Tọa đưa ra: tôn trọng chùa chiền, bảo vệ an ninh cho tăng ni, trả tự do cho những người bị bắt, khoan hồng đối với các phần tử tranh đấu ngoại trừ kẻ chủ mưu và Cộng sản (30/6). Ba hôm sau, 200 thanh niên và tăng ni bị tạm giữ được phóng thích trước mặt Thượng tọa, và Viện Hóa Đạo ra thông cáo: cần phải có 1 thời gian hòa hoãn để tạo không khí thuận lợi cho một giải pháp thích ứng và ôn hòa. Phải chăng phe ôn hòa đã thắng?
Ngày 4-7, nhiều Thượng tọa nhóm họp tại chùa Ấn Quang vẫn quyết định tổ chức liền "3 tháng cầu nguyện" kể từ 8-7-66.
(Còn tiếp)
#Chinh Luan May 13, 1970 trang hai
CÂU CHUYỆN HÔM NAY (bài 02)
Càng Ngày Càng Bi Đát
Đầu tháng 7-1966, các vụ xáo trộn đã ngớt; và sau nhiều ngày bị xúc động, nhiều giới dân chúng hy vọng rằng tình hình lắng dịu sẽ thuận lợi cho mọi sự hòa giải.
Nhưng tại bệnh viện đường Duy Tân Saigon, Thượng tọa Thích Trí Quang vẫn tiếp tục cuộc tuyệt thực kéo dài sang tháng thứ hai. Và bởi sự chống đối chưa chấm dứt, Thượng tọa Thích Tâm Châu không chịu tới dự hội đồng Viện Hóa Đạo nhóm họp tại chùa Ấn Quang, hội đồng bèn biểu quyết ra hạn 24 giờ cho Thượng tọa đến họp, nếu không sẽ phải chịu mọi trách nhiệm cùng hậu quả của sự vắng mặt (12-7). Hôm sau, Thượng tọa trả lời: không ai có quyền cất chức Viện trưởng của Thượng tọa; cần dưỡng bệnh 2 tháng, không chịu trách nhiệm về Viện trong thời gian tạm nghỉ, phải lánh đi, vì bị mưu sát.
Không khí rất nặng nề. Dư luận Phật tử rất xôn xao và hoang mang. Tiếp tục tranh đấu hay tạm ngừng? Nếu tiếp tục, thì theo hình thức nào vì bạo động không đem lại kết quả. Đối với phe ôn hòa, ít nhất cũng phải đòi được chính phủ giữ lời hứa và áp dụng một chính sách hữu nghị, phóng thích các tăng ni và những người còn bị giam giữ vì đã tham gia tranh đấu. Nếu Thượng tọa Thích Tâm Châu không chịu đảm lãnh nhiệm vụ, thì có nên hay có thể cử người nào thay thế không? Thượng tọa Hộ Giác đích thân tới Quang Trung can thiệp với nhà chức trách về sự phóng thích, nhưng vô hiệu (11/8). Làm thế nào thoát khỏi bế tắc?
Ngày 15/9, Thượng tọa Trí Quang ngừng tuyệt thực sau 100 ngày nhịn ăn, và về chùa Ấn Quang. Thượng tọa Tâm Châu, sau 2 tháng tạm lánh, cũng trở lại Viện Hóa Đạo. Phải chăng đây là những triệu chứng cho phép chờ đợi một đường lối mới khả dĩ dung hòa được hai khuynh hướng?
Nhưng chỉ một tuần sau, ngày 20/9, thì truyền đơn bay tới tấp trong Viện Hóa Đạo, chống sự trở lại chức Viện trưởng của Thượng tọa Tâm Châu. Trước sự đối nghịch này, thay vì nản lòng, Thượng Tọa lại rút đơn từ chức đã đệ 8-9 mà Đức Tăng Thống chưa chấp nhận: Thượng Tọa quyết ở lại chấn chỉnh giáo hội.
Cuộc tranh chấp lại bước vào giai đoạn gay go hơn. Vấn đề tái cử Viện trưởng được đặt ra. Đại hội Phật Giáo được triệu tập. Thượng Tọa Tâm Châu yêu cầu xét công và tội, nếu không, sẽ quyết không từ chức nữa. Cuộc bàn cãi rất sôi nổi. Miền Vĩnh Nghiêm, Phật Giáo Theravada, và Tỉnh hội Gia Định bác bỏ sự bầu lại (21-10).
Nhưng đêm 21 rạng 22-10, các tăng ni ủng hộ Thượng tọa Trí Quang và Thượng tọa Quảng Liên nhóm họp tại chùa Ấn Quang, và bầu Thượng tọa Thích Thiện Hoa làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo. Để tránh mọi dị nghị, Thượng tọa Trí Quang từ chức Chánh Thư ký Viện Tăng thống, và nhường chỗ cho Thượng tọa Trí Tịnh.
Đối với Phật giáo Việt Nam, biến cố này có tầm quan trọng của sự phân ly giáo hội Công giáo Đông phương năm 867, và sự phân ly giáo hội Công giáo Tây phương năm 1378 (Schisme d'Orient, Schisme d'Occident).
Phản ứng tất nhiên rất mạnh: ngày 23/10, hàng ngàn Phật tử kéo tới trước chùa Ấn Quang chống đối sự chia rẽ cùng những vị nào gây chia rẽ. Thượng tọa Tâm Châu ra thông báo xác nhận: vẫn giữ chức Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, Phật giáo miền Vĩnh Nghiêm, Phật Giáo Theravada, Việt Nam Phật Giáo miền Nam cũng ra tuyên cáo: không công nhận vụ bầu cử Thượng tọa Thiện Hoa cùng vụ bầu cử Thượng tọa Trí Tịnh (25-10).
Rồi hai tháng sau, ngày 24/12, Thượng tọa Tâm Châu tuyên bố trong một buổi thuyết pháp: trở về Việt Nam Quốc Tự, không xuống đường tranh đấu nữa, đề nghị sửa lại Hiến Chương Phật Giáo.
X X
X
Hiến Chương mới được biểu quyết và chấp thuận ngày 14/3/67 tức ngày 4 tháng 3 Đinh Mùi. Phật lịch 2511, do các đại diện các giáo đoàn và hội đoàn Phật Giáo Nam Bắc Tông tại Việt Nam sáng lập Giáo hội Phật Giáo Việt Nam.
Ký tên vào bản văn Hiến Chương, là Hòa Thượng Tối Thắng, Phó Tăng Thống Giáo Hội Nguyên Thủy Việt Nam; Thượng tọa Thích Tâm Giác, chủ tịch Giáo Hội tăng già Bắc Việt; Thượng tọa Kim Sang, Trưởng Giáo Giáo Phái Phật Giáo Theravada; cư sĩ Sơn thái Nguyên, chủ tịch Cư sĩ Giáo Phái Phật Giáo Theravada; cư sĩ Dư cao Thăng, hội trưởng hội Việt Nam Phật Giáo, tập đoàn Bắc Việt di cư.
Hiến Chương được thừa nhận do sắc luật UBLĐQG ngày 18-7-67.
Và đây lại là một nguyên nhân tranh chấp nữa, vì Hiến Chương rất dễ bị phe đối lập công kích, cả về hình thức lẫn nội dung.
Trước hết, khối Ấn Quang đã không công nhận Viện Hóa Đạo Việt NamQT, tất không muốn biết đến Hiến Chương do Viện này soạn thảo và đề nghị, cũng như không muốn biết Đại hội do Viện này triệu tập để biểu quyết về Hiến Chương đó. Hiến Chương không hề được phê chuẩn do Đức Tăng Thống, mà Đức Tăng Thống chỉ có thể là Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết.
Nhưng quan trọng hơn nữa, là những mục tiêu của sự thay đổi:
Hiến Chương mới đã bổ túc Hiến Chương cũ bằng những điều khoản mới buộc giáo hội chuyển hướng hoạt động:
Như «hoằng dương chánh pháp» ở điều 5 có thể hiểu là «thực hiện những việc văn hóa, giáo dục, từ thiện xã hội» (chứ không phải là tranh đấu chánh trị bạo động).
Điều 8 nhấn mạnh rằng: Giáo Hội là thành phần của Giáo Hội tăng già Thế giới và là trung tâm địa phương của Phật Giáo liên hữu Thế giới.
Nếu vậy, thì phải theo đường lối ôn hòa của Phật Giáo Thế giới. Công chúa Pismai, chủ tịch hội đồng Phật Giáo Thế giới đã có dịp lưu ý Viện Hóa Đạo về điểm này (17/6/66). Hơn nữa ngày 17/11/66, Hiến Chương Phật Giáo Thế giới được bổ túc tại Vọng Các bằng một điều cấm hoạt động chánh trị với tư cách Phật tử tăng ni. Như vậy há chẳng ràng buộc Tăng ni Phật tử Việt Nam hay sao?
Ngoài ra, theo Hiến Chương mới, quyền hành của Đức Tăng Thống giảm bớt trong khi quyền hành của Viện trưởng Viện Hóa Đạo tăng nhiều.
Hiến Chương cũ đã dự trù: Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống do đức Tăng Thống cử trong hàng Thượng Tọa; quyền hạn Văn phòng do Đức Tăng Thống ấn định. (điều 13)
Hiến Chương mới, điều 13.C và điều 20, chỉ dành cho Đức Tăng Thống quyền «đề cử» chức vụ kia cho hội đồng Viện «chấp thuận». Như thế không khác nào hội đồng là cấp trên Đức Tăng Thống.
Hiến Chương cũ chỉ nói: điều hành Giáo Hội là Viện Hóa Đạo, thành phần gồm có... Nhiệm vụ và quyền hạn của các vị trong ban chỉ đạo Viện, được ấn định bằng một bản quy chế có tính cách nội qui (điều 15).
Hiến Chương mới định rõ: Viện Hóa Đạo thay mặt Giáo hội, lãnh đạo và điều hành tất cả mọi Phật sự đối nội và đối ngoại (điều 23). Ngoài ra, điều 28 còn xác định: Viện trưởng Viện Hóa Đạo trông coi mọi việc của Giáo hội và thay mặt Giáo hội trước pháp lý.
Trên đây, chỉ là vài điểm chính mà người đọc lần đầu tiên cũng đoán ngay được là có thể gây phản đối kịch liệt.
Quả nhiên Hiến Chương vừa được thừa nhận ngày 18-7-67 thì ngày 14/8 và ngày 24-9, các thượng tọa tại chùa Ấn Quang họp báo và công kích dữ dội.
Đến 28-9, thì hàng trăm tăng ni biểu tình trước Dinh Độc Lập đòi thu hồi sắc luật 23/67 đã thừa nhận Hiến Chương, và mãi tới 10-10, mới chịu tạm trở về chùa Ấn Quang...
(Còn tiếp)
#Chinh Luan May 14, 1970 trang hai
CÂU CHUYỆN HÔM NAY (bài 3 – bài chót)
Xung Đột Và Hòa Giải
Nguyễn Văn
Có những vụ kiện tụng giữa hai cá nhân kéo dài nhiều năm, vì mỗi bên đều có những lý lẽ đáng kể hoặc nội vụ có nhiều tình tiết rắc rối khiến cho quan tòa phân vân và việc xét xử khó khăn.
Huống chi là những vụ tranh chấp cộng đồng giữa những đoàn thể lớn, liên quan đến nhiều người thuộc nhiều nhóm với những ý kiến, tính tình và quyền lợi trái ngược, nhất là nhiều bằng chứng bị thất lạc, khi việc lại mắc vướng vào các biến chuyển của một thời cuộc rối ren, hoặc còn trở nên phức tạp vì nhiều người ngoài xen vô với những ẩn tình ẩn ý. Như thế, thì chỉ có trời họa may thấu rõ thực trạng cùng các uẩn khúc mà xét cho công bằng.
Trong lịch sử VN 25 năm qua, biết bao trường hợp như trên? Hễ đi sâu vào việc lớn nào, cũng chỉ thấy mờ mịt, không biết đàng nào đen trắng, trừ khi từ bỏ tham vọng nhận định khách quan mà phê phán bừa theo tình cảm hay xu hướng cá nhân.
Đối với việc vừa xảy ra ngay cạnh mình, nhiều khi cũng chẳng thể biết hư thật ra sao. Như vụ tranh giành VN Quốc Tự chẳng hạn: bên nào cũng cho là mình có độc quyền chiếm đóng, vậy sở hữu phải về ai? Theo bên này, thì có 4 rồi 10 người chết, hoặc 16 bàn tay nổi lên mặt ao, và có cả âm hồn trẻ thơ hiện về báo mộng đòi giải oan... Theo bên kia thì chẳng có ai thiệt mạng, chỉ có vài chục bị thương trong cuộc xô xát. Các thông báo của Tòa Đô Chánh cũng bị cải chính, đài truyền hình thì bị trách là loan tin thất thiệt.
Trách nhiệm, thì càng khó phân định. Một bên lên án vụ bạo động tái chiếm. Một bên cãi rằng chỉ có việc xua đuổi nhóm người xâm đoạt mà thâu hồi tài sản. Bên này quả quyết là 3 lãnh tụ bên kia đã đích thân chỉ huy cuộc tấn công; bên kia cực lực bác bỏ lời tố cáo. Có hay không có sự tham gia hỗn chiến của một số nhân viên an ninh và quân nhân với cả súng đạn? v.v...
Những người trong cuộc, khi lên tiếng buộc tội, thường bảo rằng đối phương phải chịu trách nhiệm trước quốc dân và lịch sử. Thật là khổ cho quốc dân, vì ai biết hết và biết đích xác để xét đoán? Và đáng ngại thay cho sử sách sau này, vì những tin tức sốt dẻo còn không thể tin, thì sự thâu lượm và ghi chép trong vài năm hay vài chục năm nữa, liệu có giá trị gì không? Căn cứ vào những tài liệu như vậy mà bàn luận thì sẽ chỉ củng cố và duy trì những sự sai lạc, và mang tội với lương tâm cùng lịch sử mà thôi.
X X
X
Các vụ xung đột giữa các đoàn thể cũng như các cá nhân dưới một chế độ pháp trị, phải do các cơ quan công quyền hòa giải hoặc phân xử theo luật lệ.
Song khi công quyền bị trách là thiếu vô tư, bị ngờ là nghiêng về một phía, thì uy tín bị phủ nhận không cho phép thi hành nhiệm vụ trọng tài hoặc chế tài. Những biện pháp an ninh, dù có đem áp dụng để ngăn chặn bạo động và giữ gìn trật tự công cộng, cũng dễ bị chỉ trích như những hành vi đàn áp.
Trong tình trạng đó, hết nhóm này đến nhóm khác có khuynh hướng tự tìm lấy giải pháp cho mọi sự bất đồng, kể cả sự thanh toán quyết liệt. Sự bất lực của một chính quyền bị coi thường, cùng thói quen tự xử của những đoàn thể bất chấp luật lệ giữa thế kỷ 20 có thể đưa trở lại cảnh hỗn loạn của thời phong kiến xa xưa mà không ai mong muốn. Đó là nguy cơ đã thấy trong bao vụ xung sát chủng tộc hay kỳ thị địa phương tại Ấn Độ và Hồi Quốc, những vụ xung đột mới đây giữa Công Giáo và Tin Lành tại Ái Nhĩ Lan.
Khi công quyền không phân xử được hay không chế ngự được, thì sự tranh chấp chỉ có thể hòa giải do những nhân vật hay đoàn thể nào còn được sự tin cậy hoặc ít ra là sự kiêng dè của cả hai bên đối nghịch. Những người và nhóm đó không phải là không có, và chắc chắn là sẵn lòng đứng ra can gián và thuyết phục.
Nhiệm vụ này thường bạc bẽo, và chỉ đem lại những kết quả nhất thời và hạn chế, khi hai bên đối thủ đang ở tình trạng tâm lý căng thẳng, khi tình thương đã bị tràn ngập bởi hận thù, với những ngôn ngữ và hành động trái ngược hẳn với giáo lý thiêng liêng hoặc ngay cả với luật pháp trần tục. Song ít ra, lời kêu gọi thiết tha của nhiều thiện chí, sự đòi hỏi bình tĩnh của nhiều giới đã chán ngán mọi sự xáo trộn, tóm lại, là áp lực của dư luận, cũng có thể khiến hai bên dừng tay và nói chuyện.
Nỗi khó khăn, là bên cạnh những mong ước hòa giải, vẫn không thiếu những yếu tố kích thích xung đột: sự ngoan cố của những phần tử quá khích hay hiếu thắng, sự xui nguyên giục bị của người ngoài cuộc, vì những mục đích âm thầm chia rẽ muốn làm giảm thiểu thế lực của cả hai bên, thói quen đổ dầu vào lửa của những người ưa gây xúc động bằng những tin tức thổi phồng...
Song trở ngại lớn nhất trong các vụ hòa giải, là sự thiếu thành thực của các đối phương. Những lý do công bố để bênh vực thái độ và hành động, thường lại không phải là động lực chính yếu, mà các đương sự khó lòng nói ra, mà đa số người thuộc đoàn thể chưa chắc đã biết, ngoại trừ một số lãnh tụ.
X X
X
Một cuộc hòa giải chỉ có thể bắt đầu trong một bầu không khí lắng dịu.
Vậy hai bên cần cố gắng tự chủ, tạm ngưng những vụ công kích, tố cáo xách động. Các giới hạn tạm cũng nên tránh hết những cử chỉ hay phê bình nào có tính cách kích thích.
Muốn vậy, những phương tiện thông tin chỉ nên được sử dụng một cách thận trọng. Những buổi họp báo hay phát thanh và mọi tuyên bố thông cáo nên nhường bước cho những cuộc tiếp xúc và vận động kín đáo.
Vì chỉ ở trong những giờ phút hội đàm riêng, với sự tham dự của một số trung gian tối thiểu, mới mong hai bên cởi mở, và bày tỏ những lý do đích thực của vụ tranh chấp, cùng những yêu sách đích thực không tiện nói ra trước nhiều người. Và sự nhượng bộ nhau sẽ dễ dàng hơn vì thể diện và tự ái không cần phải bảo vệ cương quyết như khi đứng trước công chúng.
Trước công chúng, thái độ và ngôn ngữ của hai bên thường được tính toán, để tự đề cao và hạ thấp đối phương, hoặc đóng vai nạn nhân mà đổ lỗi cho bên kia, hoặc nêu ra những lý do hành động với những danh từ mỹ lệ vang dội chẳng ăn thua gì đến những nguyên nhân đã gây ly gián và oán thù.
$pageOut $pageIn Phân đoạn 15
#Tien Tuyen Jul. 6, 1972 trang năm
Một Nghề Mới Mẻ: Thảo Chương Viên Điện Toán #Tien Tuyen Jul. 6, 1972 trang năm
trang 5 #Tien Tuyen mỗi Thứ Năm hàng tuần | Chuyên trang Kinh tế - Chính trị | Tri Vũ phụ trách
(Bài 009) Một Nghề Mới Mẻ: Thảo Chương Viên Điện Toán
Một tháng có thể kiếm được từ 30.000đ tới 60.000đ nếu làm việc tại Việt Nam, từ 700 tới 1000 Mỹ kim (tương đương với 297.000đ VN tới 425.000đ VN) nếu làm việc tại ngoại quốc. Đó là tương lai của các chuyên viên điện toán được huấn luyện tại Việt Nam.
Kỹ sư Nguyễn Từ Huân, Chủ tịch Hội Chuyên viên Điện toán Việt Nam cho biết như trên, trong dịp lễ mãn khóa lớp Thảo Chương Viên Điện Toán khóa 3 được tổ chức tại Bộ Lao Động.
Các lớp điện toán mới xuất hiện trong khoảng hai năm nay nhưng đã cung ứng một số chuyên viên điện toán đáng kể cho Việt Nam và cho cả ngoại quốc. Theo ông Huân và một số giáo sư huấn luyện lớp điện toán, với đà phát triển trong tương lai của xã hội Việt Nam về mọi mặt nhất là trong thời kỳ kinh tế hậu chiến, thì tương lai của các chuyên viên này rất rực rỡ.
Vài sự kiện không ngờ
Kỹ sư Nguyễn Từ Huân, cũng trong buổi lễ còn nói nhiều sự kiện đáng kể về tương lai của các chuyên viên điện toán được huấn luyện tại Việt Nam.
Ông Huân cho biết hiện nay, Đại Tá Nguyễn Thành Huê, tốt nghiệp khóa phân tích về tổ chức trong năm qua tại Bộ Lao Động đang là chỉ huy trưởng của Trung tâm Điện toán Quân Tiếp Vụ. Trung tâm này hiện nay là một trung tâm với những máy móc và sự tổ chức có thể nói là lớn nhất Việt Nam. Điều đáng kể nữa là trung tâm này, nếu đem nó sánh với các trung tâm khác ở Đông Nam Á, không thua kém bất cứ một trung tâm nào.
Mặt khác, bốn nữ thảo chuơng viên điện toán khóa II do Bộ lao Động tổ chức hiện đã ký hợp đồng làm việc tại ngoại quốc, một người làm tại một nhà xuất bản rất lớn tại Pháp còn ba người kia làm tại các Trung tâm Điện toán Hoa Kỳ. Ông nói lương của những người này hiện vào khoảng 700 tới 1000 Mỹ kim, một tháng.
Ông cũng cho biết hiện nay, các lớp huấn luyện điện toán tổ chức trong vòng hai năm qua, đã có 107 chuyên viên điện toán trong vòng hai năm nay, gồm có 87 người tốt nghiệp ngành thảo chương viên và 20 người phân tích viên.
Ngoài ra, hiện nay, trong số những người tốt nghiệp đã có một người làm quản đốc một Trung tâm Huấn luyện Điện Toán của chính phủ, 3 người được giao phó tổ chức việc tại các cơ quan dân chính và quân sự tại Hoa Kỳ hoặc các xí nghiệp ngoại quốc tại Việt Nam; sáu người giúp việc cho các công ty quốc doanh, 4 người sang tu nghiệp tại tại Hoa Kỳ và Nhật Bản.
Lương của những người làm việc tại Việt Nam, theo ông Huân, không kể các công chức quân nhân, thì vào khoảng từ 30.000 cho tới 100.000 đồng.
Những người này theo ông Huân, các xí nghiệp đều ghi nhận là họ có đầy đủ khả năng để làm việc, nếu không muốn nói là nhiều khi rất xuất sắc.
Tú Tài II, có thể theo học
Đặc biệt là các lớp điện toán nêu trên đều được tổ chức tại Việt Nam. Đã có tất cả một lớp phân tích nghề nghiệp, ba lớp thảo chương viên. Các lớp nói trên do Hội Chuyên viên Điện toán Việt Nam đảm trách, với sự cộng tác của Bộ lao động và Cơ quan USRID. Tất cả các lớp kia đều học tại Bộ Lao Động, đường Trần Hưng Đạo Sài Gòn.
Muốn theo học lớp này, các học viên phải có bằng Tú Tài II trở lên và qua một thời kỳ thi tuyển do Bộ Lao Động tổ chức. Một số học viên có khả năng sẽ được theo học. Việc dự thi tuyển cũng khá gay go. Trong lớp Thảo Chương Viên Điện Toán khóa III, có tất cả 422 người ghi danh ứng thí nhưng chỉ có 42 người được theo học và chỉ có 33 người tốt nghiệp.
Kể từ hai năm nay, có tất cả tới 1.700 người ghi tên theo học, nhưng chỉ có 107 chuyên viên tốt nghiệp mà thôi.
Có lẽ lý do khiến nhiều người ghi tên là vì tương lai của các học viên là «khá» như vừa kể trên. Nhiều vị phụ huynh đã khuyến khích con cháu theo học lớp này. Cô Lê thị Phương Lan, một học viên tốt nghiệp ưu hạng lớp Thảo Chương Viên Khóa III, đã xác nhận: cô theo học vì Ba cô nói rằng, nghề này sẽ có tương lai khá. Cô cũng nói với bạn bè là cô cũng ở vào trường hợp tương tự.
Một số các học viên khác theo học vì ý thích, như anh Nguyễn Hữu Sự, một học viên ưu hạng khác cùng lớp với cô Lan, cho rằng anh học lớp này vì tò mò muốn hiểu biết về ngành khoa học điện toán. Nhưng dù là lý do nào, các học viên khác cũng có đủ khả năng vì đã qua kỳ thi tuyển.
Tuy là một ngành học mới nhưng các học viên đã học một cách dễ dàng. Mặc dầu đậu Tú Tài I và II ban văn chương [ ban C ], cô Phương Lan cho biết học về ngành này không mấy khó khăn. Cô nói: Môn học không hẳn thiên về Toán mà người ta vẫn lầm tưởng. Anh Nguyễn Hữu Sự cho biết chương trình học gồm có 4 phần và kéo dài trong sáu tháng.
Phần thứ nhất, học về những hiểu biết của ngành điện toán; phần thứ hai học về máy điện toán IBM 360, một loại máy điện toán thông dụng hiện tại. Trong phần này, các học viên được chỉ bảo rành rọt về sự nhận dữ kiện, biến đổi dữ kiện và phát dữ kiện của máy. Phần thứ ba và tư, giảng về hai hệ thống ngôn ngữ điện toán RPG, và Cobol.
Ngôn ngữ điện toán là một loại ngôn ngữ đặc biệt, người ta phải đổi các dữ kiện này theo những con số hoặc dấu hiệu, ký hiệu đặc biệt để chuyển vào máy IBM, và khi máy này phát trở ra thì phải đọc các ngôn ngữ này để hiểu được các dữ kiện.
Cô Phương Lan cho biết, tuy vậy, cô đã phải cất công để học, mất gấp 4, 5 lần học thi Tú Tài vì phải học nhiều. Cô cho rằng, không cần kéo dài lớp này ra quá vì 6 tháng cũng đã đủ để hiểu, và cũng không nên rút ngắn thời gian học lại vì sẽ thiếu.
Một số học viên khác đều đồng ý như trên. Các lớp học trên gồm cả nam và nữ học viên. Trong Khóa 3 Thảo Chương Viên có tất cả 13 nữ học viên vì 20 nam học viên.
Huấn luyện tại Việt Nam thì tiết kiệm được 255 triệu bạc VN.
Nhờ chương trình huấn luyện viên, theo kỹ sư Nguyễn Từ Huân, một số người đủ mọi thành phần xã hội, một trình độ … đã có được một nghề nghiệp tiến bộ «Tân kỳ và đắc dụng nhất trên thế giới». Thành phần như trên gồm đủ các tầng lớp công chức, tư chức, quân nhân tại ngũ, cựu quân nhân, và sinh viên v.v. theo học. Trình độ học vấn thì cũng đủ mọi ngành khác nhau.
Người đậu Tú Tài II ban C như cô Lan, Cao học Hóa học như anh Nguyễn Hữu Sự, một số thành phần khác như các sinh viên tốt nghiệp Chính trị Kinh doanh, Luật … cũng có thể theo học.
Chương trình nói trên khi huấn luyện tại VN, theo kỹ sư Huân, có thể tiết kiệm được 600 ngàn Mỹ kim, tức tương đương với 255 triệu bạc VN theo hối suất hiện tại.
Theo ông Huân, từ trước tới giờ, mọi công tác huấn luyện và tu nghiệp chuyên viên ngành điện toán đều chi thực hiện tại quốc ngoại rất tốn kém và đòi hỏi nhiều điều kiện, thể thức phức tạp. Phí tổn cho mỗi học viên được gởi theo học ngành này vào khoảng 5.000 Mỹ kim tức là tương đương với 2.125.000 theo hối xuất hiện tại.
Ông Huân cũng nói rằng, mặc dù huấn luyện tại VN nhưng các học viên không thua gì các học viên được huấn luyện ở ngoại quốc, bằng cớ là các kết quả đã kể trên.
Ông Marvin Tank, Phó Giám đốc Cơ quan USAID, nói rằng, chương trình của cơ quan này cho biết, các học viên rất nhanh và giỏi.
Cần thiết cho hậu chiến.
Ngoài sự giúp ích cho các học viên có một nghề nghiệp bảo đảm lợi tức cao là một lẽ, còn lẽ khác là với các lớp điện toán này mở ra, ta phải nhìn tới một khía cạnh khác, đó là sự quan tâm tới việc đầu tư nhân lực cho tương lai. Ông Tổng trưởng Lao Động Đàm Sỹ Hiến đã nói với các học viên như vậy.
Kỹ sư Huân cũng nói rằng: Vấn đề huấn nghệ các chuyên viên Điện toán rất cần thiết cho thời hậu chiến.
Theo ông Huân, máy điện toán được áp dụng trong mọi ngành kế toán, quản trị vật liệu, quản trị xí nghiệp, tài chánh nhân viên và nhiều lãnh vực khác.
Ông cũng cho biết điện toán còn áp dụng vào Y Khoa để khám bệnh, vào Luật Khoa, Giáo Dục, Thuế Khóa, Bầu Cử v.v.
Điện toán, theo ông, chắc chắn sẽ giữ vai trò của một chìa khóa trong các lãnh vực kinh tế, đời sống xã hội cho quốc gia VN, nhất là trong thời kỳ hậu chiến sắp tới.
Mở những lớp điện toán hiện tại là khởi đầu những bước nhỏ mà Bộ Lao Động đã tiên phong đi tới và chắc chắn còn những bước nữa tiếp tục. Ông nói, «với các học viên trong tương lai, chúng tôi hy vọng điện toán sẽ xuất hiện ở mọi ngành và các học viên hiện tại sẽ len lỏi vào mọi lãnh vực, mọi khung cảnh của chính phủ và xí nghiệp, để đem nhiệt huyết và kinh nghiệm ngõ hầu đương đầu với tình trạng của một quốc gia đang cần gây dựng lại.»
LTC: Khi làm lại bài này, tôi vừa typing mà trong lòng vừa rưng rưng thầm khóc. Đây là một (trong những) bằng chứng rõ ràng, giản dị ai cũng thấy được, hiểu được để nói rằng, nếu VNCH không bị đồng minh Mỹ phản trắc thì muôn đời CSBV không thể nào mó tới nổi phố phường miền Nam chớ đừng nói là ăn cướp được Saigon, và nhứt là, VNCH sẽ là nước đi đầu trong tiến trình hóa Rồng hóa Hổ ở khu vực Đông Nam Á ngay trong thập niên 1980s.
Và ngày nay, 50 năm sau ngày black April, nhìn lại nước mình bị bầy chó cộng xã nghĩa phá tan tành, mọi giá trị bị đảo lộn hoàn toàn, và tương lai của cả xứ sở chìm trong u tối, vô vọng ... thì tôi nghĩ chỉ có tượng đá mới không biết khóc là gì.
#Tien Tuyen May. 21, 1970 trang năm
LÀM SAO NHẬT BẢN GIÀU CÓ NHƯ VẬY #Tien Tuyen May. 21, 1970 trang năm, Văn Hóa - Chính Trị
(Bài 010) LÀM SAO NHẬT BẢN GIÀU CÓ NHƯ VẬY
#Tiền Tuyến dịch | bài của John K. Jessup, Tạp chí LIFE March 27, 1970, p. 44
Với sự khai mạc của Hội chợ OSAKA năm 1970 được coi là Năm của nước NHẬT. Sự đòi hỏi này đã được chứng minh bằng sự khéo léo lèo lái của Nhật trên thị trường quốc tế, từ kỹ nghệ sắt thép tới kỹ nghệ đóng tàu tới kỹ nghệ làm nhạc cụ, đàn dương cầm, đàn guitar, trống v.v… cho tới làm bao tay đánh banh.
Nhật Bản đã đạt được những tỷ lệ phát triển kinh tế tốt đẹp, tăng tới 14% năm rồi (so với Mỹ tăng có 4%) và đã khiến cho tổng sản lượng quốc gia của Nhật dẫn đầu trên thế giới chỉ sau có Mỹ và Nga. Nếu tỷ lệ gia tăng này vẫn được tiếp tục giữ nguyên, những năm của thập niên 1970 sẽ là thập niên của Nhật Bản. Sự ổn cố chính trị Nhật Bản được bảo đảm bằng sự thắng lợi tuyển cử mới rồi của Đảng của Thủ tướng SATO đã như một người đứng canh gác cho sự thịnh vượng của Nhật Bản. Theo như Herman Kahn tiên tri, Nhật Bản có thể sẽ là một quốc gia giàu nhất thế giới vào năm 2000, và tin rằng thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của người Nhật.
Người ta thường khó mà vô tư khi trở nên giàu có, điều này rất đúng với Nhật Bản. Trong khi trở nên giàu có mau lẹ hơn ai hết, cho tới bây giờ Nhật Bản đã phải tránh những vai trò thiếu trong sạch trong ván bài của các thế lực chính trị thế giới.
Nước Nhật là một siêu cường nhưng lại hành động như một nước nhỏ, trung lập một cách khéo léo. Họ cũng khéo tránh sao cho mặt ưu mạnh về kinh tế của nước họ khỏi bị dính líu tới chuyện chính trị, và họ cũng gác qua một bên những quyết định gì mà đòi phải dùng tới mặt ưu thế đó. Nhưng điều này không thể kéo dài được, sự vô tư của Nhật cũng chỉ là tạm thời mà thôi.
Năm của Nhật Bản, bắt đầu bằng hội chợ Osaka, là năm mà người Mỹ cần phải lưu tâm tới những gì đang xảy ra cho một Nhật Bản kẻ thù của Mỹ. Người Mỹ phải biết tới câu nói của Đại sứ Mỹ Reischauer nói với người Mỹ qua các sự việc ồn ào xảy ra tại Việt Nam rằng: "Nhật Bản còn quan trọng cho chúng ta (Mỹ) hơn bất cứ phần còn lại nào của Á Châu". Mậu dịch của Mỹ đối với Nhật Bản có trên 8 tỷ Mỹ kim mỗi năm, là con số ngoại thương lớn nhất giữa 2 quốc gia từ trước tới giờ. Điều này đã rất thuận lợi cho Nhật Bản và sinh ra những lời trách cứ sự cư xử không đẹp của Nhật với Mỹ, nếu số ngoại thương này cứ tiếp tục gia tăng.
Người Mỹ cũng đã học hỏi được, từ những cuộc thảo luận hòa giải giữa Nixon và (Thủ tướng) Sato về vấn đề hòn đảo Okinawa rằng hiệp ước an ninh Mỹ Nhật mới được tái tục năm rồi chắc sẽ không còn được coi như thực tế nữa, và cả mọi vấn đề khác về Nhật Bản nữa cũng thế, gồm cả vấn đề nguyên tử, và đầu óc ham hòa bình một cách bướng bỉnh của dân Nhật.
Nhật Bản tóm lại đang ở trong một điều kiện lý thú mà thời đại nữ hoàng Victoria gọi là “thai nghén”. Tuy nhiên, sự chú ý của người Mỹ vào quốc gia mạnh mẽ đang phát triển này chỉ gồm trong vài địa hạt là chuyên viên và doanh nhân. Một vài người Mỹ khác đã bắt đầu hiểu về Nhật Bản nhiều hơn bằng cách tự hỏi rằng các doanh gia Nhật đã học hỏi được những gì, nghĩa là tại sao Nhật Bản, một nước mới đây từng là nạn nhân bị tàn phá của một cuộc chiến tranh tàn khốc, lại có thể trở thành giàu có mau như vậy?
Nếu tài nguyên thiên nhiên đã quyết định cấp bực của các đại cường thì Nhật Bản có thể bị xếp hạng dưới. Nhật có ít than, có thời tiết tốt và bờ biển thuận tiện cho việc xây cất các xưởng máy để nhập cảng với giá rẻ, giống như thiên nhiên của nước Anh hồi thế kỷ 19. Nhưng cũng giống như Anh ở thế kỷ này, Nhật Bản có cả một cơ nghiệp vô tận ở trong đầu óc, và đức tính của cả 102 triệu dân Nhật, mà phần đông được giáo dục kỹ hơn là dân Anh hồi thế kỷ 19, là biết đoàn kết chặt chẽ với nhau hơn cả dân Mỹ.
Thêm vào đó họ rất ham làm việc, và đây chính là lý do thứ nhất của 3 lý do đã làm nên sự thịnh vượng của Nhật.
Sự kiện dễ nhận thấy nhất ở Nhật là một đám đông đảo người Nhật làm lụng rất siêng năng ban ngày cũng như ban đêm. Điều này cũng gây chú ý cho ngay cả người Nhật đi ra ngoài nước trở về. Một người Nhật sống ở Nam Dương trở về nói: "Tôi trở lại Nhật mỗi năm một lần, và tôi cảm thấy không chịu được, mọi việc đều ồn ào, gấp rút, gấp rút, gấp rút". Ở ngoài phố, ở xưởng máy, hay bàn giấy, người Nhật luôn luôn biểu lộ rằng ý lực và nỗ lực là trên hết mọi sự.
Người Nhật có giác quan bén nhạy về nghĩa vụ, điều này đã thúc đẩy họ cố gắng hơn nữa, để giữ lời hứa về thương mại. Người ta có thể thấy cấp chỉ huy, người giữ sổ sách, hay nhân công Nhật đều tình nguyện làm việc cả ban đêm để cho đúng thời hạn giao hàng.
Họ chú ý tới công việc thực sự hơn là chú ý tới giờ giấc. Điều này đã làm ngạc nhiên những người Tây phương. Người Nhật Bản không sợ thất nghiệp vì ở đâu họ cũng kiếm được công việc, thường thường là đủ sống, và chính phủ Nhật cũng chẳng thấy cần phải làm thống kê về thất nghiệp theo kiểu Tây phương. Họ cũng không phải làm việc để tăng công trạng, bởi vì họ được tăng lương và tiền công thể theo thời gian làm việc thâm niên. Làm việc chịu khó là thói quen của Nhật, người Nhật rút những nguyên do và lý luận đó ra từ người khác hơn là từ chính họ.
Và theo tập tục của họ thì họ sợ nhất là: động đất, lửa cháy và nước lụt. Họ sợ những điều này kinh khủng, còn ngoài ra, đối với họ, mọi sự ở đời đều đơn giản có thể giải quyết được nếu có cố gắng.
Phong trào nghiệp đoàn Nhật được khuyến khích trong 7 năm bị Mỹ chiếm đóng, đã có tới 10 triệu 8 trăm ngàn đoàn viên, nhưng ít có hội đoàn kỹ nghệ mà hầu hết là giống như một công ty đóng góp trực tiếp sự quản trị với xí nghiệp. Liên hiệp nghiệp đoàn lớn nhất là Sohyo, được coi như là trụ cột của Đảng Xã hội Nhật, đã gây một áp lực khá mạnh cho mức lương bổng chung; Đình công chỉ có từng giờ chứ không đình công cả ngày «họ chỉ đình công sau giờ làm việc», một chuyên viên lao động Nhật nói như vậy.
Nếu có đình công, họ cũng cho biết trước chứ không muốn người tiêu thụ bị ảnh hưởng.
Bên cạnh tính cầu tiến của dân Nhật, có một lý do nữa khiến cho nền kinh tế của họ thịnh vượng là do sự thích nghi và dễ phù hợp với biến đổi của dân Nhật. Họ đã chứng tỏ khả năng này cho Tây phương biết qua cái phép lạ của thời Minh trị từ 1868 tới 1912 khi vị lãnh tụ của Nhật đã kỹ nghệ hóa xứ sở ra khỏi một xã hội phong kiến mà chỉ qua có một thế hệ. Đây là bằng chứng hùng hồn nhất cho khả năng thích nghi của Nhật trong lịch sử tiến hóa của nhân loại.
Trước kia, gấm lụa được Nhật Bản xuất cảng khá nhiều, nhưng về sau trở nên lạc hậu so với tơ nhân tạo của Mỹ, vậy mà chỉ ít lâu, Nhật Bản trở nên dẫn đầu trong ngành xuất cảng tơ nhân tạo trên thế giới.
Một bằng chứng nữa cho khả năng thích nghi mau chóng của Nhật là bài 20 năm trước, ở thôn quê có 50% dân Nhật ngụ cư, còn ngày nay chỉ còn có 18%. Đạo luật cải cách ruộng đất do Đại tướng MacArthur khởi xướng, được coi là một cải cách kỹ thuật hơn là cải cách sản xuất, đã đưa 10 triệu dân Nhật từ thôn quê lên thành thị làm việc.
Vì nông dân Nhật cũng được giáo dục như các tầng lớp khác nên họ dễ dàng thích ứng với đời sống xưởng máy và đời sống thành thị. Trường học của họ chú trọng đặc biệt tới toán học và khoa học để có thể áp dụng vào bất cứ công việc nào. Sự khéo léo thiên phú cho họ được thấy rõ khi họ xử dụng máy điện toán cũng như tại sân phơi lúa. Cựu nông dân đã là nguồn nhân lực chính cho sự phát triển kỹ nghệ, nhưng bây giờ nguồn ấy đã cạn và Nhật có thể đi đến chỗ khan hiếm nhân công với một sinh xuất không đổi và không có di dân như hiện tại.
Nhưng hiện giờ nhân công vẫn còn dư, ví dụ như tại 1 thang máy ở Đông Kinh có tới 3 cô gái Nhật mặc Kimono làm việc, nhưng thực ra chỉ có một cô làm và 2 cô khác đứng đợi tới phiên mà thôi; tại tiệm hớt tóc có một người cắt tóc thực sự và có tới 6 người phụ việc.
Thêm vào đó Nhật Bản có một nền kinh tế hai từng, một phần chậm tiến về kỹ thuật, một phần rất tân tiến. Hơn phân nửa công nhân Nhật làm việc tại các xưởng máy nhỏ và ít vốn, với số nhân công dưới 300 người. Ở dưới hầm của một khách sạn hạng thường, người ta có thể dễ dàng thấy một số các bà mẹ tụ tập lại với nhau vừa trông con vừa làm những sản phẩm hoa nhân tạo hoặc cây hoa Noel để bán ra ngoại quốc. Dù tiền công và năng xuất của những xưởng này rất thấp kém so với các công việc nơi xí nghiệp lớn, nhưng nó cũng tồn tại được nhờ là cái kết ước ngầm với các xí nghiệp lớn. Có điều họ cũng dễ bị tan vỡ, và thường thường họ là nạn nhân đầu tiên của sự bóp chặt các tín dụng của ngân hàng Nhật.
Một điều nữa chứng tỏ khả năng thích nghi của dân Nhật là sự tối tân của kỹ thuật Nhật trong các xưởng lớn. Như trong thời Minh Trị, tất cả tiến bộ của Nhật đều dựa trên các kỹ thuật vay mượn của ngoại quốc. Nhật Bản là dân chịu khó học hỏi các kỹ thuật của các nước nhất thế giới và xin sản xuất dưới môn bài của nước khác nhiều nhất. Nhưng nếu gọi họ là những người bắt chước thuần túy thì có lẽ đúng dưới thời Minh Trị, còn về sau mà nói thế thì thật là lời phỉ báng đối với họ. Họ là những người bắt chước giỏi nhất và cải tiến giỏi nhất, điều này được chứng tỏ bằng chiếc transistor, một phát minh của Mỹ, đã đạt được thành công rất lớn về thương mại của Nhật trên thị trường thế giới. Kỹ thuật của Nhật ngày nay không thua kém các nước Tây Phương trên mọi lãnh vực chỉ ngoại trừ điện toán mà thôi. Qua hoạt động của Hội đồng Phát triển Khảo cứu, Nhật Bản đã chịu bỏ ra rất nhiều tiền trong việc khảo cứu kỹ thuật, về hỏa tiễn, về không gian lẫn về nguyên tử.
Để đánh giá khả năng kỹ thuật của Nhật, người ta cần lưu ý rằng 80 phân tâm nhân viên thừa hành thương mại Nhật đều tốt nghiệp Đại học, và hầu hết đều thuộc về lãnh vực khoa học hay kỹ sư.
Dù nền kinh tế của Nhật là nền kinh tế tư bản nhưng các doanh gia Tây Phương đều phải sửng sốt bởi 1 điểm đặc biệt, đó là sự phụ thuộc hoàn toàn của các xí nghiệp lớn hay nhỏ vào các trái khoản của ngân hàng thay vì số tư bản của tư nhân. Tỷ lệ thông thường là 70-30 hoặc 80-20, trong khi ở Mỹ thì ngược lại, thị trường tư bản tư nhân phát triển rất mạnh. Dưới con mắt của Tây Phương, cả cơ cấu doanh nghiệp của Nhật hình như nổi trên mặt bể tín dụng ngân hàng.
Tuy nhiên, sự phụ thuộc hoàn toàn vào trái khoản ngân hàng tín dụng thương mại này đã làm thành một điểm mạnh của hệ thống doanh thương của Nhật và cũng là lý do thứ ba cho sự thịnh vượng của kinh tế Nhật.
Đây là sự hợp tác thường là giữa doanh nghiệp công và tư của Nhật. Hàng chục ngàn hãng lớn nhỏ với tổng số tín dụng rất lớn cần cho các xí nghiệp như vậy đã có thể làm ra những quyết định chính yếu cho mọi vấn đề đầu tư, giá cả và chính sách sản xuất chung. Ngược lại những ngân hàng này lại phụ thuộc vào chính sách tài chánh của Ngân hàng Quốc gia Nhật Bản nghĩa là của Chính phủ Nhật.
Do cái kim tự tháp về tín dụng như thế này mà cơ cấu doanh nghiệp của Nhật như người Mỹ đã gọi, trở nên một «sự bành trướng chính sách công bằng phương tiện tư.»
Hệ thống kinh tế này đã được mô tả là «chế độ cộng đồng cạnh tranh có kiểm soát» hay nói vắn tắt hơn là một “Công ty Nhật Bản”. Động cơ của việc đầu tư và cải biến là các xí nghiệp tự lớn hay nhỏ, những xí nghiệp này cạnh tranh với nhau trong thị trường mới trong một chừng mực nhất định.
Một ký giả của tờ The Economist Anh quốc (xứ có một nền kinh tế hoạch định) tuyên bố rằng Nhật Bản là cả một hệ thống kinh tế chỉ huy sáng suốt nhất thế giới. Những ông quan chỉ huy thường làm tại các Bộ Kinh tế Kế hoạch, Bộ Tài Chánh và Bộ Kỹ nghệ và Mậu dịch Quốc tế. Nhưng thay vì làm trọng tài cho mọi cuộc tranh chấp doanh nghiệp, họ thường đứng ra bảo vệ quyền lợi chung đối với những hành vi quá lố của hệ thống tự do thương mại, họ tham gia tích cực vào mọi quyết định của doanh nghiệp. Họ không cần ra nhiều lệnh hay dùng cổ phần để sử dụng quyền bỏ phiếu, mà chỉ cần đạt được những tương thuận trong các buổi thảo luận giữa các đại diện của các hội đoàn thương mại và các lãnh tụ doanh gia.
Như vậy, các kinh tế gia của Tổ chức phát triển kinh tế sau khi trao đổi quan điểm với các kinh tế gia và kế hoạch gia đầu tư của các kỹ nghệ chính sẽ công bố kế hoạch 5 năm để phát triển. Cái kế hoạch theo chỉ thị hay nói đúng hơn là loại kế hoạch làm cảnh. này sẽ không trở lại xử dụng phương pháp bó buộc như tại các nước xã hội chủ nghĩa Sự phát triển hoạch định thường đến sau các hoàn cảnh thực tế, thành ra mỗi kế hoạch của Nhật từ năm 1956 tới nay cứ phải duyệt đi duyệt lại 2, 3 năm 1 lần.
Nhưng ít nhất nó cũng chứng tỏ được rằng chính phủ Nhật muốn hậu thuẫn cho sự phát triển theo chiều hướng tự nhiên. Hơn nữa Bộ Tài chánh và Bộ Kỹ nghệ là 2 Bộ có quyền hạn thực sự về tài chánh và chánh sách thường dùng quyền hạn của họ để hướng dẫn sự trợ cấp tài nguyên cho đúng với kế hoạch đã định. Như vậy công ty Nhật Bản giống như một khối kết hợp khổng lồ của cả ngàn chi nhánh quản trị riêng và các ngành sản xuất khác nhau vào thành một trụ cột tài chánh và tham mưu trung ương. Sự kết hợp có được là nhờ một yếu tố là, các xí nghiệp tư của Nhật ít muốn trục lợi tư bản riêng như các xí nghiệp tại Âu Mỹ. Doanh gia Nhật muốn xí nghiệp phát triển mạnh hơn là thu lời bằng tiền, và đầu óc dân tộc của họ hướng đã quyết định của họ theo như những gì đã được hoạch định chung rồi, nghĩa là chính sách đã vạch ra của Đại Công ty Nhật Bản.
Dù sao, cả hệ thống đã hoạt động, mà một thành công rực rỡ nhất của Nhật là tổng số xuất cảng của Nhật đã tăng lên 600% trong vòng 15 năm và tăng nhanh gấp 2 lần số mậu dịch của thế giới nói chung.
Người Nhật bảo rằng, họ đã hoạch định như vậy vì họ tập trung tiềm lực vào việc đầu tư xuất cảng về các ngành điện tử, máy móc thương mại, và kỹ nghệ hóa học, và bây giờ là xe hơi.
Vì vậy mà hiệu năng kỹ nghệ của họ gia tăng rất mau lẹ đến nỗi các xí nghiệp nhỏ và các nhà sản xuất nhỏ phải hứng chịu định luật đào thải.
Xuất cảng là một chứng nghiệm cho khả năng sản xuất gia tăng của Nhật nhưng không phải lối thoát chánh. Trái với các nước như Anh (20%), Tân Tây Lan (25%), Hoà Lan (42%), Tổng sản lượng quốc gia Nhật chỉ phụ có 10% vào ngoại thương. Kẻ thụ hưởng đầu tiên của sản xuất của Nhật là thị trường quốc nội. Vì thế các nhà xuất cảng Nhật cũng không cần phải “dumping” (bán thật rẻ để bán được nhiều), vì khối tiêu thụ của thị trường trong nước cũng đủ để cho các nhà chế tạo thiết lập nổi các xưởng máy và phát triển đều mà vẫn giữ được giá cả theo mức thị trường.
Thực ra đây không phải là “dumping” mà là hoạch định như vậy. Vì chỉ sau một vài năm tìm kiếm thị trường, và sau khi đã có một thị trường quốc nội vững mạnh, Nhật Bản đã dám thách đố với Đức về giá xe hơi bán rẻ trên thị trường quốc tế.
Hiện nay Đông Kinh là thành phố nhiều xe hơi Nhất thế giới, và trên toàn quốc Nhật có trên 8 triệu xe du lịch, xe buýt, xe vận tải do Nhật chế tạo đang lưu hành. Do đó kỹ nghệ xe hơi Nhật đã có một căn bản để bán xe ra ngoài rẻ hơn là được bảo vệ tại quốc nội đối với các loại xe Volkswagen và các loại xe Mỹ.
Nhưng khối tiêu thụ của Nhật dù có bị Tây Phương hóa rất nhiều đi chăng nữa, vẫn giữ vững trong phạm vi chính sách của chính phủ. Lương bổng và lợi tức vẫn không cao hơn tại Ý (lúc tức tư bản ở Ý khoảng 1.100 so với ở Mỹ 4.100) lương bổng tại Nhật chỉ đứng vào thứ 20 về lợi tức trên thế giới dù rằng tổng xuất lượng của Nhật đứng hạng 3. Lương bổng, lợi tức và mức tiêu thụ tăng lên đều đều mỗi năm, nhưng tổng số sản xuất còn tăng nhanh hơn và làm cho dân chúng có cảm giác thịnh vượng.
Tỷ lệ tiết kiệm thực sự của Nhật cao nhất thế giới đã giúp ích rất nhiều cho công cuộc phát triển. Dân Nhật tiết kiệm được rất nhiều, phần vì lợi tức cao, phần vì theo tục lệ. Một phần ba lợi tức nằm dưới hình thức tiền thưởng nên rất dễ dàng được gửi vào ngân hàng.
Nhưng còn một lý do nữa khiến Nhật tiết kiệm được nhiều và liên tục là, trái với Mỹ phải chi những 9,2% của tổng sản lượng quốc gia cho việc võ trang và Quốc phòng, Anh quốc chi 5,5%, Nhật chỉ chi có dưới 1% tổng sản lượng vào việc quốc phòng, và cũng không muốn chi nhiều hơn nữa vào việc này.
Nói tóm lại chuyện thành công về kinh tế của Nhật là do sự trợ cấp tài nguyên theo lệnh của chính phủ cho những việc xử dụng hữu hiệu nhất, và động cơ thúc đẩy là khả năng ham thích kỹ nghệ và khả năng thích nghi mau chóng của dân Nhật. Nhưng bây giờ, Nhật lại phải đương đầu với một sự thay đổi mãnh liệt, một sự thích nghi mới là hậu quả của thành công của họ.
Vì dù rằng Nhật Bản xuất cảng rất nhiều nhưng lại phụ thuộc vào việc nhập cảng nguyên liệu và nền kinh tế Nhật đã được che chở bởi thế giới không Cộng sản. Nhật Bản không thể đứng vững trong 20 ngày nếu không có nguyên liệu, nhưng mọi thứ nhập cảng vào trong nước đều bị kiểm soát gắt gao.
Chính phủ Nhật kiểm duyệt kỹ càng không những tất cả những gì dùng cho kỹ nghệ, mà còn cả những gì người tiêu thụ Nhật mua ở ngoài, để cho những gì có thể làm được ở Nhật thì không nhập cảng vào Nhật được, và nếu cái gì có thể làm được bởi các xí nghiệp Nhật thì tư bản ngoại quốc cũng không còn cần thiết.
Cái chính sách «con nhím» này đã đưa Nhật Bản đến chỗ xích mích với Mỹ và các hội viên khác tại Tổ chức Hợp tác Phát triển kinh tế được gọi là “Hội quán của nhà giàu” (gồm cả Mỹ, Gia Nã Đại, Nhật và các nước Tây Phương) mà chính sách của tổ chức là tự do mậu dịch và đầu tư lẫn vào nhau.
Sự xích mích với Mỹ đã trở nên càng cay đắng hơn, và gây nhiều bất lợi cho việc giải quyết vấn đề hòn đảo OKINAWA và hiệp hội an ninh Mỹ Nhật. Trong 2 năm rồi, cán cân chi phó ngoại thương Mỹ Nhật đã nghiêng phần lợi lộc cho Nhật tới trên 1 tỷ rưỡi Mỹ kim.
Người Nhật đã cư xử với người Mỹ, như người Bỉ và Hòa Lan cư xử với thuộc địa của họ hồi trước chiến tranh. Nhật mua các nguyên liệu của Mỹ và bán cho Mỹ các hàng hóa đã được chế biến bằng một kỹ thuật rất cao. Nếu khuynh hướng này tiếp tục gia tăng vào năm 1973, thì ngoại thương của Mỹ sẽ khiếm hụt với Nhật trên 4 tỷ Mỹ kim.
Thí dụ rõ ràng nhất là xe hơi. Trong khi Mỹ nhập cảng tới 182.500 xe du lịch, xe buýt và vận tải của Nhật trong năm 1968, thì chỉ có 4000 xe của Mỹ được nhập cảng vào Nhật. Giá 1 chiếc xe Ford Maverick ở Nhật đắt gấp 3 lần ở Mỹ do giá cả và thuế khóa của Nhật. Giá bán tại Nhật chỉ là 1 hình thức hạn chế nhập cảng. Các môn bài nhập cảng đều phải qua Bộ Kỹ nghệ.
Từ năm 1965, khi có thặng dư ngoại thương, Nhật liền vi phạm vào những hiệp ước thương mại song phương, nhưng dưới áp lực của Tây phương, Thủ tướng Sato đòi phải hứa xét lại vấn đề tự do mậu dịch vào năm 1972 và hạ giá nhập cảng xuống một chút đối với các loại trái cây như quả nho nhập cảng.
Nhiều doanh gia Nhật vẫn ở ngoại sự tự do mậu dịch có thể để bị Hoa Kỳ lấn át nên đã đòi hỏi thêm một thời gian nữa để lấp hết cái hố cách biệt kỹ thuật còn lại giữa Nhật với Tây phương. Mặt khác chánh quyền Nhật cũng sợ các xí nghiệp ngoại quốc ở Nhật khó bảo hơn các xí nghiệp Nhật và nếu có quá nhiều xí nghiệp ngoại quốc thì sẽ đe dọa hệ thống tương thuận của kinh tế Nhật. Ngay bây giờ, xí nghiệp hỗn hợp Nhật-ngoại quốc thường thường nắm giữ phần việc quản trị, nhưng người ngoại quốc ít khi được mời họp trong những buổi thảo luận về chính sách.
Tuy nhiên để tiếp tục phát triển, Nhật cũng thấy phải duy trì mậu dịch song phương giữa 2 quốc gia, nhất là đối với những nước tiến bộ về kỹ nghệ. Vì một điều là giá tiêu thụ 5% mỗi năm và một vài chính trị gia đã đổ lỗi cho đó là tại vì chế độ bảo vệ mậu dịch.
Quan trọng hơn nữa là nhiều nhà chế tạo Nhật đã hoạt động với kỹ thuật nhập cảng, và Nhật đã phải trả cho việc này tới 1 tỷ rưỡi Mỹ kim từ thời chiến tranh tới bây giờ. Ngoài vấn đề kỹ thuật, các doanh gia Nhật lại muốn có tư bản ngoại quốc, và nghiệm trọng hơn là họ sợ sự phục thù của người Mỹ. Người Nhật biết thừa rằng có cả hàng trăm dự luật được đưa tới quốc hội Mỹ nhằm ngăn cản bớt sự nhập cảng vào Mỹ mà như thượng nghị sĩ My Javits nói «động viên một cuộc chiến tranh mậu dịch.»
Dù công việc doanh nghiệp đã lôi kéo những tài năng và bộ óc tài giỏi nhất của Nhật, nhưng nó cũng không tạo ra đường lối hoạt động riêng, hoặc những đường lối chính trị. Hệ thống làm việc tương thuận đã chống lại điều này, và các hội viên chỉ làm việc như đàn ong hơn là lãnh đạo hay tranh luận với nhau. Đảng Dân chủ Tự do, đảng của giới doanh nghiệp, đã có hậu thuẫn vững vàng nhưng đã tỏ ra không có thẩm quyền về chính trị. Sự thành công của Đảng này trong tháng 10 năm rồi là do sự thiếu hụt hậu thuẫn và phá sản của đảng Xã Hội đối lập mà thôi. Về chính trị cũng như về doanh thương, Nhật Bản không thích gì hơn là làm tách biệt ra được cái huyền thoại về dân tộc tính của họ.
(Xem tiếp trang 6)
Làm sao Nhật Bản trở nên giàu có...
(Tiếp theo trang 5)
Thủ Tướng Nhật Sato nói tại Quốc hội Nhật rằng: “Thời kỳ bắt chước đã chấm dứt, bây giờ là lúc chúng ta phải tạo ra những mục tiêu riêng bằng chính bàn tay của chúng ta.”
Sự tìm kiếm mục tiêu quốc gia này có thể đưa Nhật vào nhiều năm gấp rút gia tăng sản xuất. Một vài người Nhật đã e ngại sự phục sinh cái niềm hãnh diện quốc gia sẽ làm cho Nhật sống lại chủ nghĩa quân phiệt quốc gia quá dỗi kinh hồn vào những năm 1930. Người ta nói rằng Hoa Thịnh Đốn cần để cho Nhật chia sẻ gánh nặng phòng thủ Thái Bình Dương thì một giáo sư Đại học đường Kyoto trả lời: “Có nhớ vụ Trân Châu Cảng không?”
Nhiệm vụ hợp lý trong tương lai của Nhật là ngoại viện. Nhật đã chi ít tiền cùng một tỷ lệ bách phân vào tổng sản lượng quốc gia trong khối cộng đồng phát triển kinh tế, con số này đã lên tới 1 tỷ mỹ kim trong năm 1968 và sẽ gia tăng mau hơn.
Ngân hàng Nhật đã gấp một phần ba số vốn trong cuộc đầu tư của Tây phương để tái kiến thiết Nam Dương. Nhật Bản được bao bọc bởi nhiều quốc gia chậm tiến gồm cả Siberia và Alaska, và dĩ nhiên có Hoa Lục. Có cả 2 lý do đóng góp vào công cuộc phát triển các xứ này. Thứ nhất là, số thặng dư trong cán cân chi phó không biết làm gì, và có thể Nhật tới chỗ ấn định lại hối suất đồng Yên đã xảy ra với đồng Mark, trừ phi Nhật đầu tư thêm nữa và nhập cảng thêm nữa. Lý do thứ hai là diện tích đất đai của Nhật đã làm hạn chế việc phát triển, nhiều xưởng máy Nhật giờ đây thấy khó mà kiếm ra những vùng đất để lập xưởng máy ở trên hòn đảo này.
Xuất lượng của mỗi mẫu đất tại Nhật đã ở mức độ cao nhất và nhiều xưởng máy đã rất thèm muốn có đất đai rộng rãi hơn và ít đông đúc dân cư hơn để mở mang mà không có. Thứ ba nữa, mức lương bổng nhân công tại Nhật tăng đều 15% mỗi năm và nếu vấn đề khan hiếm nhân công không lớn lên thêm thì Nhật Bản sẽ lôi cuốn các nhân công giá rẻ ở các nơi khác thuộc Á châu. Nhật Bản hiện nay không phải chỉ nhập cảng vải lụa của Bulgaria mà còn để cho Đại Hàn đánh cá và vớt rong biển lên để bán cho Nhật làm thức ăn. Những nhà hoạch định kinh tế Nhật tin rằng sản phẩm bông vải và tơ sợi, gang thép, và có phần xe hơi nữa … đang có nhiều tương lai để Nhật nhập cảng từ các nước Á châu hơn là làm tại Nhật.
Mậu dịch và đầu tư của Nhật như vậy đang chế ngự khắp Á châu, và cả một phần ở Phi Châu và Mỹ Châu La Tinh nữa. Không kể Trung Cộng có thể là làn sóng kinh tế Nhật lan đến trong tương lai, tất cả các phần còn lại thuộc Á Châu đều phụ thuộc vào hơn một phần tư số nhập cảng của họ vào Nhật Bản. Ngay cả Đài Loan, miền đất khá thịnh vượng và cả là một xứ cạnh tranh với Nhật cũng như là cựu thuộc địa của Nhật, thì những hãng lớn như Mitsui, Mitsubishi và Hitachi đã dành hết cả ngoại thương của xứ này, gồm cả những việc ngoại thương không phải với Nhật Bản. Nhật Bản đang gặp phải vấn đề thị trường tràn ngập, nêu lên một mối e ngại chính trị là sợ bị quá phụ thuộc tại những quốc gia như Thái Lan và Phi Luật Tân.
Nhật Bản không vị tha gì, nhưng cũng không phải đế quốc. Trong thị trường của thế giới tự do, Nhật Bản đã cho ít hơn là nhận, lợi nhiều hơn thiệt. Một vài vị lãnh tụ Nhật đã nhận định rằng sự thịnh vượng liên tục của họ phụ thuộc vào thị trường tự do mậu dịch của thế giới tự do. Không phải là lần đầu tiên người Nhật ham kỹ nghệ và dễ phù hợp đã thay đổi đường lối, mà đây là một nhiệm vụ lương hảo và là vai trò lương thiện của một tân siêu cường.
Thuật theo LIFE
Nguyên văn bài của Jessup trên LIFE Mar. 27, 1970:
$pageOut $pageIn $pageOut $pageIn $pageOut
các Phần tiếp theo ==>
#Chính Luận Sept. 28, 1972 trang hai
(Bài 001) Tầm Mức Quan Trọng Trong Việc Gọi Đích Danh Các Tổ Chức Cộng sản tại Việt Nam – THEO LỜI KHUYÊN CỦA CHÁNH PHỦ by Á Trình
Mặt trận Chính Trị
❁ LTC: Xin lưu ý bạn đọc:
✑ những nhãn - đề mục như vầy là cốt để phân loại – một cách tương đối – các bài báo, bản tin v.v... và nhờ đó bạn đọc sẽ dễ xác định nội dung cần đọc, tra cứu.
✑ tuy nhiên, có một lưu ý cần thiết với bạn đọc là, những gì tôi chọn lọc phục hồi lại ở đây từ các trang báo cũ miền Nam Quốc Gia, là không hoàn toàn đủ, mà đấy chỉ có thể gọi là một phần nào, một tập hợp nhỏ chứng cứ tiêu biểu cho từng đề mục mà thôi, bởi vì trong mười năm với riêng 2 tờ nhựt báo Chính Luận, Tiền Tuyến thì số báo đã lên đến hơn 6.000 tờ rồi, mỗi tờ 8 trang. Chưa kể các báo khác như Hòa Bình, Cấp Tiến v.v...
✑ Vì thế, công việc phục hồi nội dung giá trị - giá trị về mặt Sử liệu cũng như về các bình diện khác: xã hội, văn hóa, giáo dục, nghệ thuật, kỹ thuật, công kỹ nghệ v.v... - hiện hữu trong số lượng đồ sộ hơn 10.000 số báo cũ miền Nam, thì phải cần đến một Toán chuyên viên lành nghề, cùng với phương tiện máy móc dồi dào, đắc dụng, cùng nhau làm việc miệt mài trong dài ngày.
Còn LTC với sức lực có hạn của người làm việc một mình cùng phương tiện nghèo nàn, ít ỏi của một người, thì không thể nào làm tròn hết dù rất mong muốn, và vì thế xin bạn đọc xem đây chỉ là một cố gắng hết mình có thể được của một cá nhân thôi.
Tầm Mức Quan Trọng Trong Việc Gọi Đích Danh Các Tổ Chức Cộng sản tại Việt Nam – THEO LỜI KHUYÊN CỦA CHÁNH PHỦ
by Á Trình
#Chính Luận Sept. 28, 1972 trang hai
#Chính Luận Sept. 28, 1972 trang hai
Danh chính, Ngôn thuận
Danh bất chính, Ngôn bất thuận tất sự bất thành
(Khổng Tử)
Chính danh là một chủ trương lớn trong học thuyết chính trị của Khổng gia. Theo Khổng Tử, sở dĩ thiên hạ nhà Chu lâm vào cảnh đại loạn suốt hơn 500 năm là vì giữa danh xưng sự vật và sự việc trong thực tế đã không phù hợp nhau nên mới có cảnh vua không ra vua, cha không ra cha, con không ra con và trong cái mớ xã hội xà bần thủa đó không còn cách nào để phân biệt chính và tà, gian và ngay, đúng và không đúng, nói theo triết lý Tây phương thì đã xây hiện tượng không phù hợp giữa tư tưởng và sự vật.
Ngày nay việc dùng danh từ trong lãnh vực chính trị cũng là một vấn đề quan trọng, nhiều nhà chính trị nổi tiếng như Churchill, De Gaulle chẳng hạn, trước hết là những nhà ma thuật về ngôn ngữ, quần chúng thường bị lôi cuốn vào lý luận của các chính trị gia vì ngôn ngữ hùng hồn của họ.
CS vốn sở trường về tuyên truyền, ngôn ngữ đã chiếm hơn một nửa trong nghệ thuật tuyên truyền nên CS đã dành cho ngôn ngữ và danh từ do chúng đặt ra một địa vị quan trọng. ví dụ những danh từ như " Việt gian, phản động " là cả một công cụ đàn áp tinh thần đối với quần chúng, ghê gớm không kém gì súng đạn và những thủ đoạn khủng bố mà chúng vẫn thường dùng, hơn nữa chính những danh từ nói trên đã giúp chúng hợp lý hóa và hợp thức hóa những thủ đoạn tàn nhẫn của chúng trước con mắt mọi người.
Cuộc chiến đấu giữa Dân chủ và Cộng sản tại Việt Nam trên bình diện quân sự có từ lâu, cuộc chiến đấu chính trị từ trước đến nay vẫn được dùng, nhưng những danh từ như đấu tranh chính trị với Cộng sản thực ra mới được đề cập mới đây và nó được đánh dấu như một chuyển hướng đấu tranh trong tương lai một khi im bặt tiếng súng.
Trong chiều hướng đó, gần dây các báo hàng ngày vừa đề cập đến một lời khuyên của Phủ Tổng Thống minh định rõ những danh từ thường được dùng để gọi và chỉ các tổ chức Cộng Sản đề tránh mọi sự nhầm lẫn nguy hại.
Kiểm điểm lại những danh từ để chỉ Cộng sản
CSVN là một tổ chức của Cộng Sản quốc tế, ai cũng biết, vậy nhưng nếu những người CSViệt Nam công khai tự tuyên bố trước dư luận rằng họ là Cộng Sản thì sự việc đã không có gì rắc rối, đen trắng rõ ràng, thiện ác dễ phân biệt. Ngặt vì bọn Cộng sản Việt Nam lại xảo quyệt thường ẩn núp dưới những danh từ khác để đánh lừa dân chúng chỉ vì họ biết dân chúng Việt Nam ghê sợ họ. Vì vậy, việc đầu tiên của họ Hồ khi nắm chính quyền tại miền Bắc là giải tán đảng Cộng Sản Đông Dương để rồi núp sau danh xưng “V.N. Cách mạng đồng minh" hay là Việt Minh, danh từ đó có nghĩa là những người cách mạng Việt Nam cùng thề với nhau giải phóng đất nước. Từ trước đến nay hai danh từ cách mạng vẫn được nhân dân VN kính trọng và có kẻ lại coi nó như một thứ phép lạ để giải quyết mọi vấn đề. Nhưng hai danh từ Việt Minh vẫn không ổn vì cộng sản đã sớm loại hết mọi đồng minh bằng sắt máu.
Đúng lý ra tại VN chỉ có 2 hạng người làm chính trị là Việt Cộng và Việt Quốc đề phân định ranh giới giữa quốc gia và CS quốc tế. Nhưng bọn CSVN lại luôn luôn che đậy nhãn hiệu CS của họ để đánh lừa nhân dân rằng họ cũng là phân tử quốc gia VN, vì vậy mà họ thay thế đảng Lao động vào đảng CS trong thời kháng Pháp; chỉ sau này khi đất nước chia đôi họ mới ra mặt nhận họ là những người chủ trương thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc. Tại miền Nam sau 54 một chánh phủ quốc gia thuần túy ra đời đặt CS ra ngoài vòng pháp luật vì vậy nên vào năm 60 bọn cộng sản hoạt động tại miền Nam dựng lên MTDTGPMN để che đậy nhãn hiệu CS và che dậy sự chỉ huy của CSBV đặng lừa dối dân chúng miền Nam trong kế hoạch tuyên truyền xích hóa của họ.
Để chi rõ tên rõ mặt bọn hoạt động cho CS tại miền Nam, danh từ VC thường được dùng đến và thói quen của các nhà báo nước ngoài, danh từ VC được dùng để chỉ những phần tử CS miền Nam, người Mỹ thường dùng bằng danh từ “vi xi”, phiên âm của hai chữ VC theo tiếng Mỹ để gọi CS miền Nam vì vậy mà vô hình trung người ta có thể lầm CS miền Nam hoạt động dưới danh từ MTGPMN là một tổ chức riêng của bọn người này khác với tổ chức CS tại Hà Nội.
Sau cuộc “tổng khởi nghĩa" Tết Mậu Thân, bọn Cộng sản miền Bắc và miền Nam thấy rằng dân chúng miền Nam tự do không chấp nhận chế độ và chủ nghĩa Cộng sản nên vội thay hình đổi dạng một lần nữa với danh từ “chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam" trong đó MTGPMN chỉ là một thành phần mà thôi, chúng lập ra chính phủ ma này với mục đích để có phần trong cuộc hội đàm Ba lê và để đòi cho được sự tham gia chúng vào một chánh phủ “3 thành phần” sau này.
Ý nghĩa chính danh của chính phủ VNCH
Theo lời khuyên của chính phủ thì từ nay các báo chí không nên dùng danh từ "Việt cộng" nữa vì danh từ này đã bị thói quen dùng sai để chỉ bọn cộng sản miền Nam và cũng không nên dùng danh từ "MTGPMN" nữa, vì tổ chức này không bao giờ thực sự có tại miền Nam. Mục đích của sự chính danh này là để xóa bỏ một thói quen tai hại đưa đến những sự diễn giải nội dung chính trị sai lầm.
Theo chính phủ thì hiện nay MTDTGPMN chỉ là một bộ phận trá hình của CS miền Bắc, chúng chịu sự chỉ huy trực tiếp về mọi mặt quân sự, chính trị của CSBV, miền Nam không có CS mà chỉ có CS miền Bắc, bọn này hiện đang xâm lăng miền Nam, vi phạm thỏa ước Giơ ne năm 54, hơn nữa sau vụ Tết Mậu Thân, hạ tầng cơ sở và mọi hình thức hoạt động của MTDTGPMN đã bị loại từ vật chất đến pháp lý. Hiến Pháp Đệ nhị Cộng Hòa đặt CS và mọi hình thức ngụy trang của CS ra ngoài vòng pháp luật. Hiện nay cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam là do CSBV chủ trương cho nên “cái gọi là MTDTGPMN, CPCMLT” cũng chỉ là những hình thức che đậy của CS, chúng không thể nhân danh ai ở miền Nam vì chúng chỉ là công cụ của CS miền Bắc.
Hệ quả chính trị và pháp lý theo sự chính danh này thật quan trọng.
Trước hết theo thuyết chính danh này thì sự có mặt của bọn Nguyễn Thị Bình tại hội đàm Ba Lê là phi pháp vì tổ chức này chỉ là một công cụ của Hà Nội, sau nữa cái “gọi là chính phủ cách mạng lâm thời" không dân, không đất, không trụ sở, đừng nói đến thủ đô, chắc chắn không có danh nghĩa và pháp lý của một chính phủ, chúng cũng không phải là một chính phủ "lưu vong” nữa vì chưa bao giờ chúng muốn mang hai chữ lưu vong mặc dù trên thực tế chúng đang ăn gởi nằm nhờ Hà Nội. Như vậy chúng không có quyền đòi hỏi gì và cũng không có quyền ăn nói. Hiểu như vậy thì hiện nay chánh phủ VNCH đang đánh nhau với chánh phủ VNDCCH CS Bắc Việt, nếu như có một giải pháp chính trị đề chấm dứt chiến tranh thì hai chánh phủ này phải nói chuyện với nhau.
Thứ nữa, ý kiến cho rằng muốn chấm dứt chiến tranh, người Việt phải nói chuyện với người Việt để tìm một giải pháp chính trị, cũng phải được hiểu cho cặn kẽ hơn. Danh từ người Việt ở đây quá mơ hồ theo thuyết chính danh vì người Việt Cộng Sản tức Việt Cộng không có căn bản pháp lý tại miền Nam, không có sự hiện diện vật chất trong chế độ VNCH hợp pháp. những tổ chức như MTDTGPMN hay CPCMLTMN chỉ là những tổ chức 'ma' do cộng sản Bắc Việt đặt ra để làm tay sai. Như vậy chúng không thể nhân danh ai dứng ra đòi hỏi thành lập một “chánh phủ hòa hợp dân tộc 3 thành phần" như hiện nay chúng chủ trương ở Ba Lê. Nhưng theo bản tuyên bố ngày 27 tháng Giêng 1972 của TT Thiệu thì người Việt cũng có thể nói chuyện với người Việt được để chấm dứt chiến tranh miễn là người “Việt" bên kia từ bỏ hàng ngũ, từ bỏ vũ khí trở về với tư cách thường dân nói chuyện trong khuôn khổ Hiến Pháp VNCH. Đó giải pháp lý tưởng, nhưng nếu có những người Việt bên kia trở về với điều kiện nói trên chắc chắn họ chẳng có tư cách gì để nói chuyện mà cũng chẳng có chuyện mà nói, có được nói cũng chẳng ai nghe. Đó là vấn đề.
Có lẽ chính danh trước rồi sự thành sau
Lời khuyên bỏ hẳn những danh từ “VC”, 'MTDTGPMNV’ hiện đã được hai đài phát thanh và phát hình áp dụng triệt để, báo chí cũng đã mau lẹ áp dụng theo lời khuyến cáo chánh thức. Từ đây trong ngôn ngữ mất hẳn hai danh từ này, đó là một “bước tiến chánh trị” song song với những thắng lợi quân sự. Một vật gì không được ai nhắc đến lần lần hết công dụng hay muốn có công dụng phải thay đổi danh xưng. Cuộc chiến tranh hiện nay đang đi vào chiều hướng chấm dứt nên mọi cố gắng giản lược càng nhiều càng hay những vấn đề phức tạp để những người có trách nhiệm tìm giải pháp được dễ dàng, như vậy người ta có thể nghĩ rằng việc loại bỏ hai danh từ trên nằm trong kế hoạch tìm một giải pháp trong tương lai.
Báo chí Việt Nam đã thực hiện lời khuyến cáo còn báo chí nước ngoài thì sao, liệu họ có vì lười biếng mà dùng theo thói quen không ? Điều tốt hơn hết là một vật gì khi đã không còn được nói đến thì tìm cách thủ tiêu nó đi cho rảnh mắt vì dần dần người ta sẽ quên hẳn nó, như vậy sau khi chính danh còn phải đập tan các tổ chức Cộng Sản nữa thì sự mới thành.
Chinh danh xong sự mới thành, hay sự thành rồi mới chính danh, mọi rắc rối nằm trong quá trình thuận và nghịch nêu trên!
#Chính Luận Sept. 28, 1972 trang hai
Tự Do Chính Trị tại VNCH
(Bài 002) Thị Trường «Chính Khứa» by HỒNG DƯƠNG
LTC:
– Đây là Tiểu khảo về Chính khách và Đảng phái tại miền Nam Quốc Gia của Ký giả Hồng Dương [ ** ] , một cây bút chủ lực và xuất sắc của nhựt báo Tiền Tuyến nói riêng và của làng báo chí Quốc Gia nói chung.
– Tiểu khảo Thị Trường «Chính Khứa» của Ký giả Hồng Dương đăng làm 20 kỳ trên #Tiền Tuyến, bài khởi đầu đăng trên trang nhất #Tiền Tuyến Feb. 21_22, 1971 và đăng rải rác những ngày tiếp theo, không hoàn toàn liên tục bởi vì có những ngày có tin tức cần loan hơn đã chiếm hết đất của các cột báo. Kỳ cuối (thứ 20) đăng trên trang nhất #Tiền Tuyến Mar. 27, 1971.
Đây không chỉ là một khảo sát tình hình chung về các hoạt động chính trị phong phú tại miền Nam Tự Do mà còn là một bức tranh khắc họa không khí tự do chính trị tại VNCH với tất cả điểm hay và dở của sự tự do ấy. Do đó, công trình tiểu khảo ý vị, sâu xa và độc đáo của ký giả kỳ cựu Hồng Dương còn có giá trị ở chỗ thực hiện một biên niên sử thu nhỏ về thế nào là tự do mà những bạn đọc nào ít thời giờ chỉ cần đọc xong là cũng có thể thấu rõ tính tự do nội tại của VNCH như thế nào. Đồng thời nếu bạn đọc lấy nền tự do ấy để làm một so sánh, đối chiếu với chế độ Cộng sản miền Bắc thì SỰ THẬT sẽ được phơi trần: thế nào là Chánh Nghĩa Quốc Gia ở miền Nam, thế nào là bản chất gian tà ngụy tặc của Cộng sản miền Bắc ... sẽ càng lồ lộ ra rõ hơn bao giờ hết.
[ **: Hồng Dương vào làm trong tòa soạn Nhật báo Ngôn Luận khoảng năm 1957, 1958. Năm ấy Nhật báo Ngôn Luận đã sống vững, Chủ nhiệm Hồ Anh ăn nên, làm ra, có nhà in riêng, mở lớn tòa soạn, lấy thêm nhân viên là Hồng Dương, Phan Nghị, hai họa sĩ Văn Hiếu, Huy Tường.
Hồng Dương trẻ hơn tôi khoảng bẩy, tám tuổi, anh có tên Hồng Dương vì trước đó anh là võ sĩ Quyền Anh – boxeur – Lò Võ Hồng Việt. Tất cả những võ sinh Lò Hồng Việt đều có tên Hồng. Tôi quen ba võ sĩ Hồng Việt là Hồng Dương, Hồng Cương, Hồng Trực. Võ sĩ Hồng Dương từng lên đài trong những năm 1955, 1956.
Ký giả Hồng Dương Nguyễn Hữu Hùng đẹp trai, sống sạch, đàng hoàng, anh không ngồi cả buổi đấu láo, uống la ve ở tiệm như nhiều ký giả cùng thời, anh không nghiện ngập, anh có số đào hoa nhưng không bị tai tiếng, không bị nàng nào thù hận. Tôi thường nói về Hồng Dương với người ngoài làng báo: “Alain Delon của chúng tôi đấy.” (trích bài "Hồng Dương. Trịnh Viết Thành" của nhà văn Hoàng Hải Thủy posted on Dec. 3, 2012 trên Wordpress Blog Hoàng Hải Thủy)
#Tien Tuyen Feb. 21_22, 1971 trang nhất
Thị Trường «Chính Khứa»
Bài 01:
I
Lời Mở Đầu
Ngày nay, 2 tiếng chính trị không còn xa lạ đối với quảng đại quần chúng VN. Chúng ta lại cũng biết một cách thừa thãi rằng người làm chính trị được gọi là chính khách.
Nhưng chính trị không phải là một vấn đề mới mẻ, và chính khách cũng có thể là một chuyện có tính cách cổ tích. Kể từ loài người bắt đầu có cuộc sống xã hội sơ khai là đã có chính trị, do đó, đã có chính khách.
Tuy nhiên, hình như chưa một quốc gia nào, một xã hội nào lại hẳn một hiện tượng rõ rệt và phổ quát về tính chất «thị trường hóa» chính khách như ở xã hội VN ta ngày nay.
Nói cách khác thì hiện nay mỗi chính khách của chúng ta đều mang giá trị của một con vật hoặc đồ vật thương mại được (animal ou objet commerçable).
Do đó, cũng như tất cả những con vật và đồ vật thương mại được, nên chính khách của chúng ta có hẳn một thị trường, giống như thị trường...xe hơi, rau cỏ, gà vịt, trâu bò heo v.v....
Có thị trường tất có vấn đề giá cả, và cái giá cả đó lên xuống trồi sụt theo những quy luật riêng của nó. Tuy nhiên đôi khi giá cả trên thị trường chính khách cũng bị chi phối bởi một vài quy luật giống các quy luật kinh tế.
Chẳng hạn mức cung và cầu chênh lệch thì tất cả sẽ xảy ra một sự xáo trộn về giá cả. Ngoài ra, lại còn có vấn đề «mùa màng» cũng ảnh hưởng khá nhiều tới vật giá.
Mặt khác, lại cũng tùy... nhãn hiệu mà vấn đề giá cả khác nhau. Trên thị trường chính khứa hiện nay, các chính khách mang nhiều «mác» khác nhau giống như dầu cù là: Nào là cù là con Hổ, cù là con Mèo, cù là Mạc phu....
Bởi tất cả những điều đã trình bày ở trên, viết về thị trường chính khứa là cả một vấn đề phức tạp, chưa kể còn có thể gặp nhiều sự đụng chạm. Vì thế, người viết xin kính cẩn nhấn mạnh là phóng sự này được viết trong một tinh thần nhận xét phân tích vô tư. Nếu không vô tư với mọi người, thì ít nhất cũng là một sự vô tư đối với người viết.
Chẳng hạn khi người viết đề cập tới chính khách A, thì xin hiểu rằng không phải người viết muốn nói về cá nhân ông A mà là về cái bánh xe trong guồng máy xã hội.
Khi anh thợ máy bảo rằng cái bugi số 2 bị hư có nghĩa là chiếc bugi đó xài nhiều quá đã đến lúc cần thay thế, vì sợi chấu (trấu) hết còn bắt lửa được. Nếu để nó dơ, bộ máy sẽ trục trặc chứ không phải anh thợ máy hiềm thù cá nhân cái bugi số 2.
(Còn tiếp)
#Tien Tuyen Feb. 23, 1971
Bài 02:
II
Thường thường, nói tới chính khách, người ta hay nghĩ tới đảng phái. Ông chính khách A này là người của ĐV đấy, còn ông B kia là người của QDĐ, ông C là của TĐV v.v…
Kể ra, đề cập tới vần đề chính trị hay chính khách mà không nhắc tới chính đảng, là một một thiếu sót. Nhưng ở Việt Nam, nói tới chính đảng là cả một vần đề phức tạp về mọi khía cạnh. Chính đảng nhiều như lá vàng mùa thu, mỗi chính đảng lại phân hóa thành năm bảy hệ phái, mỗi hệ phái chia ra làm ba bốn khuynh hướng. Và điều bi đát nhứt là chả có khuynh hướng nào rõ rệt.
Thê thảm hơn cả, có lẽ hiện tượng có lẽ là hiện tượng có những chính đảng mà chồng là đảng trưởng và vợ, con, đầy tớ là đảng viên.
Bởi cái lẽ nêu trên, hai tiếng ‘chính đảng’ dần dần bị lố bịch hóa. Người tự trọng đôi khi nghe nói tới ‘chính đảng’ là phải đỏ mặt, do đó gần đây người ta ít dùng chữ ‘chính đảng’ mà thay vào đó người ta gọi bằng «lực lượng» tỉ như lực lượng DCXH. hoặc gọi bằng «phong trào» tỉ như phong trào QGCT.
Tuy nhiên, tự trong bản chất thì ‘lực lượng’ hay ‘phong trào’ hay ‘mặt trận’ hay ‘đảng’ thì cũng chẳng khác gì nhau: phân hóa, băng hoại, hoặc xôi thịt.
Vì vậy, người dân nói chung không còn tin tưởng được vào những đảng phái nữa.
Kém về tổ chức, phân hóa, băng hoại, lại không thâu phục được lòng tin của quần chúng, tức là yếu tố hậu thuẫn của nhân dân nên hầu hết đảng phái, phong trào, lực lượng … ở Việt Nam chỉ còn cái thùng rỗng.
Về điểm này, quần chúng ý thức được một cách rất rõ rệt. Cứ thử nhìn trở lại những cuộc bầu cử truớc đây ắt rõ. Không có một đảng phái nào đủ khả năng đưa người của mình vào các cơ quan dân cử. Bằng cớ rõ ràng hơn cả là trong kỳ bầu cử bán phần Thượng Viện hồi tháng 9-1970, nhiều chính khách của những đảng phái tên tuổi đã phải chạy chọt «nằm vùng» ở những liên danh không thuộc đảng mình. Nói là «nằm vùng» chứ thật ra là dựa vào những liên danh mà trong đó đa số ra ứng cử với tư cách độc lập với ứng cử viên đảng phái, là yếu tố quyết định.
Và rõ hơn nữa là kết quả cuộc bầu cử cho thấy, các liên danh đắc cử vào Thượng Viện vừa qua đều không mang danh nghĩa đảng phái nào. Một vài liên danh mang danh nghĩa đảng phái đã bị thất cử.
Ngay trong kỳ bầu cử Hạ Nghị Viện 1967 cũng vậy, đại đa số người đắc cử Dân Biểu đều không có đảng phái hoặc ít ra là cũng không đắc cử nhờ vào danh nghĩa đảng phái. Họ đắc cử hoặc vì uy tín cá nhân (rất hiếm) hoặc nhờ là gà của chính quyền hoặc nhờ là đệ tử ruột của …Đức Thánh Trần.
( còn nữa )
LTC chú thích: các chữ viết tắt trong bài này:
Có lẽ vì ngại đụng chạm nên tác giả Hồng Dương chỉ viết tắt tên các chính đảng mà thực ra tại miền Nam lúc bấy giờ, dù viết tắt cái tên đảng nhưng đọc qua ai cũng biết.
➯ ĐV: Đại Việt Quốc Dân Đảng, do lãnh tụ Trương Tử Anh sáng lập vào ngày 10-12-1939 tại Hà Nội, thường gọi là đảng Đại Việt. Năm 1964, ĐV bị tách ra thành 2 đảng mới: một là với đảng viên vào hàng cao cấp Hà Thúc Ký tách ra khỏi Đại Việt Quốc Dân Đảng để thành lập Đại Việt Cách Mạng Đảng do Hà Thúc Ký làm lãnh tụ (ĐVCM); và hai là, với hai đảng viên vào hàng cao cấp Nguyễn Ngọc Huy và Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, tách ra khỏi Đại Việt Quốc Dân Đảng để thành lập Đảng Tân Đại Việt (TĐV).
➯ QDĐ: thường viết tắt là VNQDĐ: Việt Nam Quốc Dân Đảng do lãnh tụ Nguyễn Thái Học thành lập vào ngày 25-12-1927 tại Bắc Việt.
Từ thời Thủ tướng Nguyễn Khánh (1964), VNQDĐ phân hoá thành 3 hệ phái:
— VNQDĐ Xứ Bộ Miền Nam: ông Nguyễn Hoà Hiệp và ông Trần Văn Tuyên (từ 1967). Hoạt động ở miền Tây Nam Phần.
— VNQDĐ Thống Nhất hay còn gọi là Kỳ Bộ VNQDĐ: ông Nguyễn Đình Lương (từ 1968), liên thủ với các nhóm VNQDĐ miền Trung, Tân Chính, Chủ Lực. Hoạt động ở Miền Trung.
và
— Trung ương Đảng bộ VNQDĐ: ông Vũ Hồng Khanh và ông Phạm Thái, từ 1969. Hoạt động ở Saigon. Vào ngày 1-5-1969, VNQDĐ hợp nhất 2 nhóm Trung ương thuộc Vũ Hồng Khanh và Xứ Bộ Miền Nam thuộc Nguyễn Hoà Hiệp vào làm một.
➯ DCXH: Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng, thường gọi tắt là Dân Xã Đảng, thành lập vào khoảng năm 1967-1968, một trong mấy hệ phái Hoà Hảo bắt nguồn từ Tổ chức (chưa thành Chánh đảng) Dân Xã Hoà Hảo nguyên thuỷ thời Đức Thầy (Giáo chủ) Huỳnh Phú Sổ tháng 8-1945. Do ông Trình Quốc Khánh làm lãnh tụ (Bí Thư Đảng).
➯ QGCT: thường viết tắt là PTQGCT. Phong trào Quốc Gia Cấp Tiến do Nguyễn Ngọc Huy, cựu đảng viên Đại Việt thành lập ngày 20-4-1969. Do đã mang danh phận Tổng Thư ký [ đứng đầu, tương đương Chủ tịch ] đảng Tân Đại Việt của mình rồi, nên Nguyễn Ngọc Huy e là mình sẽ hết quyền tư cách đứng đầu tổ chức chính trị mới này. Để thay cho mình việc đó, ông mời Thạc sĩ Nguyễn Văn Bông [ Thạc sĩ Công Pháp Quốc Tế ], là vị Giáo sư khả kính và là Viện trưởng Học Viện Quốc gia Hành Chánh lừng danh của VNCH, nơi đào tạo công chức cao cấp cho Chính quyền Quốc Gia, làm Tổng Thư ký Phong trào Quốc Gia Cấp Tiến. Giáo sư Bông nhận lời và Giáo sư Huy làm Phó Tổng Thư ký PTQGCT. Cơ quan ngôn luận của PTQGCT là tờ nhựt báo Cấp Tiến (thành lập năm 1969).
#Tien Tuyen Feb. 24, 1971 trang nhất
Bài 03:
III
Nói cho rõ hơn, thực chất của hầu hết đảng phái chính trị ở VN không có gì cả.
Ở những thời xa xưa, dưới sự thống trị của Tây thực dân, một vài đảng phái đã gây được tiếng vang lớn, một phần vì họ có được những lãnh tụ tài giỏi. Còn đầy ắp lý tưởng trong đầu, và tình yêu nước trong hồn. Những người này chỉ biết sống chết với cứu cánh giải phóng Dân tộc khỏi bàn tay thống trị của thực dân Tây.
Một yếu tố khác khiến cho đa số chính đảng thời xưa nổi tiếng là tính chất bí mật. Họ hoạt động trong bóng tối, và phương thức đấu tranh của họ gồm cả những hoạt động quân sự và bạo động. Một vài cuộc khủng bố, ám sát đủ gây tiếng vang.
Ngày nay, tình thế đã đổi khác, do đó, đòi hỏi những phương thức đấu tranh khác. Nhiều chính đảng đã gặp sự lúng túng trong việc tạo lập một quan niệm đấu tranh mới, lúng túng cả trong việc xây dựng một ý thức hệ và một chính sách chung.
Bởi vậy sự chia rẽ, phân hóa đã xảy ra trong nhiều nội bộ chính đảng. Thêm vào đó nhiều chính khách thời nay đã mắc phải căn bệnh «lãnh tụ lố bịch». Hơi bất đồng kiến là kiếm cách nhảy ra 1 đảng mới để được làm lãnh tụ, ngõ hầu dễ bề tranh phần xôi thịt lớn.
Ý thức chính trị của đa số chính khách xuất thân từ những chính đảng đã trở nên sa đọa.
Ở những quốc gia mới giải phóng khỏi ách thực dân, tinh thần dân chủ thường là con dao hai lưỡi và chúng ta quả là đã bị đứt tay vì nó. Nhiều người, hoặc bè nhóm đã lợi dụng tinh thần dân chủ để mưu tạo lập thế đứng riêng rẽ mà họ đinh ninh là sẽ gây được lợi ích cá nhân.
Do đó, đảng phái ở đây bị long mất hết rễ trong quần chúng, như con rết bị rụng hết chân.
Vì tinh thần vị kỷ, vì bệnh lãnh tụ lố bịch, chính đảng mọc ra như nấm. Chính đảng càng nhiều, thế lực của mỗi đảng càng suy yếu. Như bó đũa được cởi giây buộc và bung ra.
Ngày nay những ai còn đặt tin tưởng vào chính đảng quả là những người ngây thơ. Nhiều chính quyền gần đây đã mắc vào lầm lẫn đó. Họ tưởng qui tụ được một vài cái «lọ độc bình» là có thể tạo lập được một thế chính trị vững vàng. Sự thật lại trái lại! Thực tế đã chứng minh những chiếc «lọ cổ» chính trị đã hoàn toàn vô giá trị, và chỉ gây thêm sự lung lay cho chân ghế thế lực chính trị.
Trong giai đoạn này của đất nước, những người khôn ngoan không dựa vào chính đảng. Họ đi tìm sự hỗ trợ ở những thành phần nhiệt tâm, những thành phần ít ra còn giữ được lý tưởng trong vòng 10 năm nữa. Đây là một thử thách lớn đối với những người muốn làm công việc lãnh đạo.
#Tien Tuyen Feb. 26, 1971 trang nhất [ số ra ngày Feb. 25 tạm hoãn nhiều bài vở để đưa tin Đại tướng Đỗ Cao Trí tử nạn phi cơ trực thăng vào trưa ngày 23-2-1971 khi ông đang bay thị sát hành quân trên không phận tỉnh Tây Ninh giáp giới với Miên, trong chiến dịch Hành Quân Ngoại Biên của QLVNCH nhằm quét sạch hang ổ sào huyệt của bọn CSBV ẩn núp trên đất Cao Miên để rình rình đánh trộm vào Quân Khu III VNCH. Đại tướng Đỗ Cao Trí tử nạn cùng với 1 sĩ quan tùy viên của ông và 2 viên hoa tiêu khi phi cơ phát nổ. Người duy nhất sống sót (bị thương nặng) là ký giả Francois Sully của tờ tuần báo Mỹ Newsweek ]
Bài 04:
IV
Sự kiện người ta mất tin tưởng vào các chính đảng là một điều tai hại cho sinh hoạt chính trị, và do đó rất bất lợi cho công cuộc chiến đấu chống cộng sản. Nhất là trong giai đoạn sắp tới, mặt trận chính trị sẽ vô cùng sôi động và khốc liệt.
Trong khi đó, những người mang danh chính khách trong xã hội này ngày càng thấy xuất hiện đông đảo. Những người này hình như cũng ý thức được sự bất lực và bất xứng của chính đảng, nên họ đã không dám đứng hẳn vào một lực lượng nào. Cái từ ngữ "không đảng phái" trở nên hấp dẫn, như một bảngo hiệu "ăn khách."
Từ đó đưa tới tình trạng thị trường chính khách bị tràn ngập, mức cung vượt quá mức cầu. Tệ hại hơn là hầu như mỗi chính khách có một quan niệm chính trị riêng, một phương thức hoạt động riêng, một đường lối riêng, một chính sách riêng, v.v…
Hay nói đúng hơn, đại đa số chính khách ngày nay không ai có được một quan niệm chính trị đúng đắn và rõ rệt. Thậm chí, người mang danh chính khách, tham gia sinh hoạt chính trị, mà trong khi chưa hiểu chính trị là gì.
Nhận xét này thoạt nghe có vẻ quá đáng. Nhưng sự thật là như vậy. Nếu ai chịu khó theo dõi sinh hoạt ở Hạ Viện trong ba năm nay ắt thấy rõ. Đến nỗi có nhiều nhà báo phát ngớ ngẩn tự hỏi hoặc hỏi nhau «tại sao ông đó lại đắc cử.»
Nếu nhìn nhận các ông nghị viên cũng là chính khách, thì tình trạng còn đáng buồn hơn. Có những ông nghị chưa hiểu cái khác biệt giữa sắc luật với nghị định: chưa hiểu ngay cả quyền hạn của chính vai trò của mình.
Hiện tượng tràn ngập chính khách và là những chính khách chỉ có vỏ không có ruột đã đưa tới tình trạng quần chúng coi thường chính khách. Khi một món hàng bị quần chúng chê là hàng tồi, thì mãi lực của giới tiêu thụ về món hàng này sẽ giảm đi, do đó mất giá. Vì thế mới xảy ra tình trạng chính khứa... bán son.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Feb. 27, 1971 trang nhất
Bài 05:
V
"Cái thảm kịch ngày hôm nay là do chính trị." Cả trăm năm trước Napoléon đã có một nhận xét như vậy. Tất nhiên đó là thảm kịch đã xảy ra cho nước Pháp. Nhưng thảm kịch do chính trị cũng đã xảy ra cho xã hội VN ngày nay.
Hiệu tượng chính trị bị biến chất thành một thứ nghề (métier) để kiếm chác bả vinh hoa phú quý chính là một thảm kịch trước mắt thế hệ trẻ đang chuẩn bị hoặc vừa khởi sự dấn thân nhập cuộc.
Những người trẻ, đặc biệt là những phần tử trí thức trẻ, bị dồn tới chỗ phải cảm thấy như là mình bất lực trước những vận động lịch sử của dân tộc. (Hãy nên hiểu «phần tử trí thức là người đem lại giá trị cho những thứ mà tự chúng không có» — nói theo kiểu Paul Vardly — hoặc là «những người suy tư, không phải bọn lộng chữ, lợi dụng, bịp bợm và ăn bám», nói theo kiểu Henri Barbusse.)
Phần lớn những người đang làm chính trị cho tới hôm nay đã có một quan niệm chủ bại về chính trị. Cứu cánh của họ không phải là một cuộc cách mạng xã hội toàn diện, giải phóng dân tộc, và giải phóng thân phận con người. Cứu cánh của họ là nhà lầu xe hơi và quyền thế.
Tất nhiên làm chính trị là phải nghĩ tới quyền lực. Có quyền lực hay nói cách khác là có chính quyền trong tay mới khả dĩ chuyển được quan niệm, tư tưởng chính trị của mình thành hành động để giải quyết những vấn đề chính trị trong chiều hướng cách mạng cải thiện xã hội, tức là khunh hướng hướng thượng.
Nhưng ở đây, chúng ta thấy quyền lực vẫn chỉ là phương tiện — phương tiện hữu hiệu để đạt tới cuộc cách cách mạng xã hội.
Nhiều người làm chính trị cho tới nay đã sẵn sàng bán linh hồn cho quỉ với một giá … phải chăng?!. Loại người này đầy dẫy trên chính trường nhất là tại nghị trường. Họ không quan niệm quyền lực là phương tiện khai triển và hành động hóa tư tưởng cải tạo xã hội. Họ nhìn nó như một thứ cần câu … cơm, và vinh hoa.
Cho nên người dân hôm nay hoàn toàn mất tin tưởng vào họ, xa lánh họ, ghê tởm họ. Do đó họ bị dồn vào thế cô lập, trở thành những «chính khách cô đơn», loay hoay chạy đôn chạy đáo tìm khách hàng nào chịu trả giá.
Nhưng vì thiếu một thứ then chốt (nhãn hiệu chính đảng không còn ăn khách nữa), nên họ bị mất giá. Đôi khi bán son mà vẫn không ai mua.
Để cố tạo cho mình một giá trị giả tưởng, nhiều chính khách đã đổ xô tới các khối tôn giáo. Hiện tượng này vô tình đã biến các tôn giáo, vốn là thế lực thần quyền, biến thành thế tục hoặc lực lượng áp lực. Dần dần, một vài tôn giáo biến thành … hãng sản xuất hoặc tiệm buôn chính khách. Và những khối tôn giáo trở thành những thế lực chính trị có thực lực nhứt mặc dù phải ôm khư khư cái tính chất thần hóa. Tình trạng này của xã hội Việt Nam trở nên gần giống như tình trạng cán cân thế lực trong các xã hội Âu Châu thời phong kiến. Giai cấp tăng lữ trở thành những ông vua không ngai.
( còn tiếp )
[ * ]:
Related Articles:
➯ Chứng Tích bên phía CSBV part 3 - ngày khởi đăng Apr. 12, 2025
➯ Chứng Tích bên phía CSBV part 2 - written & collected by Le Tung Chau - ngày khởi đăng Mar. 15, 2025
➯ Hào Khí Quân và Dân miền Nam - written & collected by Le Tung Chau - ngày khởi đăng Jan. 4, 2025
➯ Vụ Tướng Lavelle năm 1972: Vết Nhơ Mở Màn Tấn Tuồng 'Đồng Minh Tháo Chạy' của Mỹ - by Le Tung Chau, Oct. 10, 2024
➯ Chứng Tích bên phía CSBV - written & collected by Le Tung Chau - ngày khởi đăng Jun. 9, 2024
➯ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu - LTC tổng hợp - ngày khởi đăng Jun. 10, 2022
➯ Sách, Tài liệu VNCH by Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng - LTC tổng hợp - ngày khởi đăng May. 11, 2019
$pageOut
$pageIn
Phân đoạn 2➯ Chứng Tích bên phía CSBV part 3 - ngày khởi đăng Apr. 12, 2025
➯ Chứng Tích bên phía CSBV part 2 - written & collected by Le Tung Chau - ngày khởi đăng Mar. 15, 2025
➯ Hào Khí Quân và Dân miền Nam - written & collected by Le Tung Chau - ngày khởi đăng Jan. 4, 2025
➯ Vụ Tướng Lavelle năm 1972: Vết Nhơ Mở Màn Tấn Tuồng 'Đồng Minh Tháo Chạy' của Mỹ - by Le Tung Chau, Oct. 10, 2024
➯ Chứng Tích bên phía CSBV - written & collected by Le Tung Chau - ngày khởi đăng Jun. 9, 2024
➯ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu - LTC tổng hợp - ngày khởi đăng Jun. 10, 2022
➯ Sách, Tài liệu VNCH by Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng - LTC tổng hợp - ngày khởi đăng May. 11, 2019
Thị Trường «Chính Khứa» by HỒNG DƯƠNG (tiếp theo)
#Tien Tuyen Feb. 28, 1971 trang nhất
Bài 06:
VI
Ở xã hội VN có rất nhiều tôn giáo; Đông nhất là Phật giáo, nhưng mạnh nhất có lẽ là Công giáo. Có một đạo, lực lượng Phật giáo đã trở nên rất mạnh.
Nhưng rồi do lỗi của một số vị lãnh đạo, lực lượng bị nứt rạn chia đôi, kình chống nhau, khiến cho cái thế bị suy yếu. Bao giờ cũng vậy, sự chia rẽ nứt rạn tranh chấp trong nội bộ luôn luôn đưa đến kết quả tự làm suy yếu.
Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là ngày nay Phật Giáo mất ảnh hưởng trên thị trường chính khách VN.
Nhãn hiệu AQ vẫn còn rất ăn khách nhất là nó lại được gắn liền với nhãn hiệu hòa bình tức khắc trong mọi chiến dịch quảng cáo.
Người ta thấy nhiều chính khách đã chạy tới chùa để xin được mang nhãn hiệu AQ. Những cỡ chính khách tập sự như TCQ, NVĐ, PHN, KMT v.v... là những kẻ cả đời không biết tới chùa chiền, không thuộc một câu kinh kệ. Họ không đích thực là Phật tử. Họ chỉ tới chùa khi thấy thuận tiện cho việc quảng cáo tên tuổi họ.
Thật ra nếu Phật mà không từ bi, nếu ngài mà hiển linh, thì chắc chắn những chính khách loại đó sẽ bị Ngài vặn cổ chết tức khắc.
Những người Phật tử chân chính đều tỏ ra không hài lòng bọn chính khách xôi thịt dựa hơi này. Qua gần 4 năm của Quốc Hội Đệ nhị Cộng Hòa, người Phật tử thật sự đã chán nản những kẻ vỗ ngực đại diện cho họ.
Người ta không hề thấy các Nghị sĩ, Dân biểu mang nhãn hiệu AQ làm việc cho cử tri bao giờ, những công việc thiết thực liên hệ mật thiết tới đời sống hằng ngày của họ. Mà chỉ thấy mấy ông NS, DB này làm công việc vuốt đuôi những lời tuyên bố của các thầy.
Trong kỳ bầu cử sắp tới, những DB, NS loại trên rất ít có hy vọng xin được phiếu của cử tri.
(còn nữa)
các chữ viết tắt:
ÂQ: Ấn Quang
tên Dân biểu viết tắt trong bài này:
KMT: Kiều Mộng Thu (tên thật là Trương Ngọc Thu)
(các chữ khác chưa định được ... Xin vui lòng chờ ...)
#Tien Tuyen Mar. 2, 1971 trang nhất
Bài 07:
VII
Xin trở lại với hiện tượng các tôn giáo biến thành tiệm buôn hoặc hãng sản xuất chính khách. Trước khi đó, một số vị lãnh đạo tôn giáo đã trở thành những tay "thợ chính trị."
Không ai có thể chối được chứng vị Thượng Tọa, Đại Đức như Tr. Q., HQ., NT., PS., ĐN., TC. v.v... không làm chính trị. Và, chiếc áo đen của LM HQ cũng đã nhuốm đầy mùi chính trị. [ Tr. Q = Thích Trí Quang ; HQ = Thích Huyền Quang; ĐN = Thích Đức Nghiệp; TC = Thích Tâm Châu; LM HQ = Linh mục Hoàng Quỳnh ]
Phải nhìn nhận, từ 1963 tới nay AQ là tiệm đã sản xuất và tung ra thị trường nhiều chính khách hơn cả. Phần lớn sản phẩm của AQ là những khuôn mặt mới, nhưng cũng có một vài sản phẩm mạo hóa.
Nghĩa là, có những chính khách mang nhãn hiệu AQ được bày bán ở thị trường nhưng phẩm chất đích thực lại không phải do AQ sản xuất. Chẳng hạn như bà LSNPĐ, TS V.V.M. [ (bà) Luật sư Nguyễn Phước Đại; TS VVM = tiến sĩ Vũ Văn Mẫu ].
Gần đây người ta nhắc nhiều tới một sản phẩm được coi như của AQ đó là ông DVM [ Dương Văn Minh ], nhưng thực sự ai cũng biết ông DVM vốn không phải do hãng sản xuất chính khách AQ chế tạo.
Các sự kiện nêu trên cho thấy 2 khía cạnh của 1 vấn đề mà chúng ta đã có dịp trình bày từ các bài trước: giá trị của nhãn hiệu chính đảng đã mất; Tôn giáo trở thành thế lực chính trị hiển nhiên.
Trong các cuộc bầu cử, nếu ứng cử viên do một chính đảng công nhận và chính thức đưa ra, sẽ nắm nhiều phần thua, nhưng nếu do một tôn giáo lớn đưa ra, sẽ nắm nhiều phần thắng.
Cứ xem cuộc bầu cử bán phần Thượng Viện vừa qua ắt rõ: Trong 3 liên danh đắc cử, thì 1 mang nhãn hiệu Phật giáo AQ, 1 mang nhãn hiệu Công giáo, liên danh thứ ba cũng đã phải trông chờ vào nhiều phần tử tôn giáo nằm trong liên danh. Kỳ dư, các liên danh của những đảng thân chính quyền hay đối lập với chính quyền đều rớt một cách thảm hại.
( còn nữa )
LTC phụ chú:
➯ Thích Trí Quang sinh ngày 21-12-1923 tại Quảng Bình. Là đệ tử của Hòa Thượng Thích Trí Độ, Chủ tịch Hội Phật Giáo Cứu Quốc, vốn là Hội Phật giáo do Việt Minh đẻ ra. Do đó, Trí Quang bị thực dân Pháp bắt giam năm 1946. Năm 1947, khi được thả, ông theo Việt Minh vào chiến khu chống Pháp. Nhưng không bao lâu sau đó ông từ bỏ Việt Minh và trở lại miền Nam tu hành cho tới năm 1963. Tháng 5-1963, dưới chiêu bài ‘cảm thấy có trách nhiệm phải đứng lên bảo vệ Phật tử và Đạo pháp’ sau sự kiện kên bằng “Pháp Nạn Phật giáo’ với 8 thanh niên Phật tử bị bắn chết trong đám đông biểu tình bạo động chống chính phủ vào đêm 8-5-1963 ở bên kia cầu Trường Tiền. Trí Quang nổi như cồn qua sự kiện này mà người ta nói rằng, đó là sự kiện đánh dấu khởi đầu của cuộc đảo chánh lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963.
➯ Thích Tâm Châu sinh ngày 2-11-1921 tại tỉnh Ninh Bình, Bắc Việt. Vào Nam đầu thập niên 1950, nơi đây ông là sáng lập viên của Tổng hội Phật giáo Việt Nam tại Huế. Khi Giáo hội Phật giáo Thống nhất (GHPGVNTN) thành lập vào tháng Giêng 1964, ông được bầu làm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo của Giáo hội, ông giữ chức vụ này cho đến năm 1967.
➯ Thích Huyền Quang, Thích Đức Nghiệp là các thượng tọa cùng phe Ấn Quang với Trí Quang.
Để hiểu rõ tình hình Phật Giáo tại VNCH và vì sao Phật Giáo bị chia làm 2 Khối, xin bạn đọc theo dõi phần tôi tóm lược sau đây:
Phật giáo đồ ở VNCH chia ra nhiều phe phái nhưng đại để về khuynh hướng chính trị có thể chia thành ba phe.
✦ Một phe ở các tỉnh địa đầu, một phe là người Bắc di cư vào lập nghiệp quanh vùng đô thành Sài Gòn, và phe còn lại trấn tại vùng Châu thổ Cửu Long.
✦ Các nhóm Phật giáo Tranh đấu chủ yếu dồn về ở các tỉnh địa đầu giới tuyến, nguyên cả một vùng có Quân đoàn I trong đó. Thích Trí Quang, là thầy tu hoạt động dưới danh nghĩa Phật giáo đình đám nhất, là thủ lãnh của nhóm này. Nếu nói về mặt chính danh thì ông ta chỉ mang một chức sắc tôn giáo, thế nhưng đó lại là người xách động khá hữu hiệu. Ông ta ưa làm dư luận sôi sục và quy tụ các tu sĩ vốn bàng quan về chính trị của miền Nam lại rồi đem các giáo ngữ đặc trưng như “bảo vệ đạo pháp” hoặc “tự do tín ngưỡng” cấy vào các chủ đề chính trị. Trí Quang bị tố cáo là thân Cộng, chứa chấp những phần tử tay chân của Cộng sản miền Bắc gài vào dựa hơi để làm loạn phá rối chính quyền Quốc Gia. Mặt khác, những luận điệu của Trí Quang đã bộc lộ một đường lối cực đoan bài ngoại kết hợp với tuyên ngôn “hòa bình bằng mọi giá”. Có thể Trí Quang không về phe với cộng sản, nhưng ông ta rất ngây thơ về chính trị, thốt ra nhiều luận điệu sặc mùi ý thức hệ một chiều quá tương cận với CSBV nếu ta đem so với sự đa chiều thoải mái của miền Nam Quốc Gia.
✦ Phe quanh vùng thủ đô Saigon thì do Thích Tâm Châu dẫn dầu, có nhiều người Bắc di cư nên họ có cảm tình với chính quyền Quốc Gia hơn. Thích Tâm Châu là Hội Chủ Tổng hội Phật giáo, một cơ cấu điều hành không mấy chặt chẽ đối với nhiều tông phái Phật giáo phân nhánh của Việt Nam. Giống như Trí Quang, mục tiêu chính của Tâm Châu là quy tụ các hội đoàn, tông phái Phật giáo về một mối, và góp sức với Hiến chương Phật giáo được chính phủ phê chuẩn để thành lập Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) ở miền Nam Quốc Gia [ 1 Vụ Hiến Chương Phật Giáo ] như một Giáo Hội chính thức danh chánh ngôn thuận. Tâm Châu đã thuyết phục thành công mười bốn trong số mười sáu hệ phái Phật giáo gia nhập GHPGVNTN. Sau vụ đảo chính ông Diệm, ban đầu Tâm Châu đứng chung với Trí Quang, nhưng rốt cuộc ông đã đoạn giao với Trí Quang và quay về thế hậu thuẫn sau lưng chính quyền Quốc Gia.
(✦ Phe thứ ba, chủ yếu là Sư sãi Việt gốc Miên ở vùng hạ lưu Châu thổ Nam Phần hay Nam kỳ Lục tỉnh, thường ít đả động tới chính trị. Đây là phe cánh Phật Giáo coi như không đáng kể ở miền Nam Quốc Gia).
Sau khi lập trường hoạt động của Thích Tâm Châu đổi chiều, thì mối bất bằng giữa Thích Tâm Châu với Thích Trí Quang ngày một loang dần.
Từ nhiều ngày trước tháng 9-1966, vụ khủng hoảng nội bộ Giáo hội Phật giáo do tranh chấp giữa đôi bên đã bùng ra. Từ trước, Tâm Châu đã tạm lánh mặt 2 tháng trong khi chờ cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến (vào ngày 11-9-1966) hoàn tất, và vào ngày 15-9-1966, Thích Tâm Châu quay về Sài Gòn giành lại Viện Hoá Đạo từ tay các đối thủ trong giới Phật giáo Tranh đấu. Vị Tăng Thống Giáo hội Phật giáo [ Hoà thượng Thích Tịnh Khiết ] kêu gọi mở một Đại Hội để dàn xếp tranh chấp giữa Trí Quang và Tâm Châu. Ngày 2-10-1966, nhằm có thẩm quyền trước khi Đại Hội Phật giáo [ 2 ] diễn ra, Tâm Châu về lấy lại Viện Hoá Đạo ở Việt Nam Quốc Tự và buộc Hội đồng Viện Hoá Đạo [ do Thượng toạ Thích Thiện Hoa được phe Ấn Quang bầu làm Quyền Viện Trưởng từ ngày 23-7-1966 nhân lúc Thượng toạ Thích Tâm Châu tạm lánh mặt 2 tháng ] phải thoái vị. Tâm Châu rắp tâm bầu ra một Hội đồng Viện mới và giũ bỏ hết vây cánh của Trí Quang. Với những toan tính của Tâm Châu, Đại Hội Phật giáo được triệu tập từ ngày 21 đến 22 tháng 10 [ tại Việt Nam Quốc Tự, số 16 đường Trần Quốc Toản, Cholon ], lập tức trở nên lộn xộn với nhiều lời qua tiếng lại bất đồng, đã vậy giới Phật giáo Tranh đấu còn vu cho Tâm Châu đủ thứ, từ “thân Chính quyền” cho tới bị Hoa Kỳ mua chuộc với “một triệu Mỹ kim” [ 3 ]. Đó là luận điệu vu cáo vừa xảo trá vừa nực cười nếu ta biết rằng CIA đã chi tiền cho Trí Quang trong mấy năm liền [ 4 ]. Trong khi Đại Hội đang lắm rối ren thì các Thượng toạ vây cánh với Trí Quang quay về chùa Ấn Quang [ số 243 đường Sư Vạn Hạnh, Cholon ] và tự bầu ra một Hội đồng Viện của riêng họ vào 3 giờ sáng ngày 23-10-1966 [ 5: xem chi tiết ở trang 29 & 30 “Bạch Thư về Vấn đề Chia rẽ của Ấn Quang với Việt Nam Quốc Tự” ] và đề cử Thượng toạ Thích thiện Hoa làm Viện trưởng Viện Hóa đạo Ấn Quang. Tâm Châu tố giác Hội đồng mạo nhận này và tuyên bố dự định thành lập một Giáo hội Phật giáo Thống nhất Cải cách. Được Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ (lúc này đương chức Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, tương đương Thủ Tướng VNCH, điều hành chánh phủ) kín đáo yểm trợ, đến cuối năm 1966, Tâm Châu đã gầy được một liên minh từ các hệ phái khác nhau gồm thâu vào Giáo hội Phật giáo, đẩy Trí Quang vào thế cô lập ở chùa Ấn Quang. Một ký giả viết rằng “Bị cảnh sát truy lùng, bị rách bươm vì óc bè phái phe cánh và bị nhục mặt tai tiếng chính trị khi hô hào tẩy chay bầu cử bất thành, Trí Quang và bầy bộ hạ của ông ta dường như trắng tay chẳng còn sức bật đòn bẩy nào”. Trên vũ đài chính trị, thế lực của Trí Quang coi như đã tàn, nhưng các bài báo bảo rằng ông ta đã hết thời thì hãy còn hấp tấp quá.
Chú thích:
[ 2: kể từ đây, bỗng nhiên có 2 Viện Hoá Đạo: một thuộc Khối Việt Nam Quốc Tự - Thích Tâm Châu và một (tiếm danh) thuộc Khối Trí Quang (Ấn Quang). Nhưng cũng kể từ lúc này (tháng 10-1966) trở đi, trên các sách khảo cứu và Nhật Báo Saigon dùng danh từ “Viện Hoá Đạo đường Trần Quốc Toản” hoặc “Viện Hoá Đạo Việt Nam Quốc Tự” để trỏ Khối Viện Hoá Đạo để phân biệt với Khối Ấn Quang (bên phe Ấn Quang không hoặc ít dùng danh từ “Viện Hoá Đạo”, thay vào đó, thường là họ dùng danh từ “Viện Tăng Thống” ]
[ 3: xin đọc Ahern, CIA and the Generals, trang 38. Ahern chú rõ rằng cho đến giữa mùa hè năm 1966, CIA mới thôi không trả tiền cho Trí Quang nữa.
[ 4: bài báo “Political Power of Buddhists Only a Memory in Vietnam,” đăng trên báo Mỹ New York Times, Dec. 19, 1966, trang 4.
[ 1 Vụ Hiến Chương Phật Giáo: Để diễn bày rõ sự kiện cuộc đấu “tranh chấp về Hiến Chương Phật giáo” tạm tính từ ngày 18-7-1967 giữa hai phe/khối Phật giáo (Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang), trước hết, tôi xin tóm lược các diễn tiến hầu bạn đọc như sau:
- Bản Hiến Chương đầu tiên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) hình thành sau một Đại hội Thống nhất Phật giáo gồm 11 Giáo Phái và Hội Đoàn Phật Giáo nhóm họp tại Chùa Xá Lợi Saigon từ ngày 30-12-1963, đạt kết quả biểu quyết vào ngày 04-01-1964 (thường gọi là Hiến Chương 04-01-1964). Hiến Chương 04-01-1964 được công nhận bởi Sắc luật 158-SL/CT ngày 14-05-1964 do chính phủ Nguyễn Khánh chuẩn y.
- Hiến Chương 04-01-1964 được tu chính lần thứ nhất tại Đại hội Khoáng đại kỳ II của GHPGVNTN ngày 14-12-1965, và được Sắc luật 005/66 do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia ký chuẩn y ngày 26-02-1966.
- Bản “Hiến Chương tu chính” (lần thứ hai) do Khối Việt Nam Quốc Tự (Thích Tâm Châu) tu chính vào ngày 14-3-1967, và đã được Sắc luật 023/67 do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu ký chuẩn y ngày 18-7-1967. Điều 2 của Sắc Luật 023/67 huỷ bỏ Sắc Luật số 005/66.
Kể từ đây mới sinh ra cuộc tranh chấp gay gắt không dứt giữa 2 Khối Phật giáo nói trên, hay nói đúng hơn là tranh chấp xuất phát từ phe Ấn Quang, vì Ấn Quang cho rằng, Sắc Luật 023/67 thừa nhận Bản “Hiến Chương tu chính” (lần thứ hai) tức là duy chỉ có Khối Việt Nam Quốc Tự là có tư cách hợp pháp chính thức. Việc tranh chấp này biến thành cuộc tranh đấu quy mô đối kháng lại chính quyền qua sự kiện Ngày 28-9-1967 có 500 tăng ni thuộc phe Ấn Quang, hồi hơn 8 giờ sáng, đã đi tuần hành từ Cholon qua tới trước Dinh Độc Lập trao thư yêu cầu thu hồi Sắc Luật 023/67 thừa nhận Hiến Chương mới của Phật giáo do Viện Hoá Đạo đường Trần Quốc Toản soạn thảo. Tại đây đã diễn ra buổi Đối thoại 20 phút giữa Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thượng toạ Thích Trí Quang. Các tăng ni ra về lúc quá trưa.
Xin xem ở dưới đây bài tường thuật của nhựt báo Chính Luận Sept. 30, 1967 về cuộc đối thoại này, kèm một vài hình ảnh của vụ Phật giáo Tranh đấu này. Chú ý, các hình ảnh là thuộc © Bettmann/CORBIS và Photographer Co Rentmeester của tạp chí LIFE của Mỹ đăng tải lúc đương thời (thường là không có chú thích), nay LTC tôi tra cứu tin tức từ các số nhật báo Chính Luận, Tiền Tuyến và chú thích lại hình ảnh cho rõ ràng.
➯ Linh mục Hoàng Quỳnh là khuôn mặt tiêu biểu vang tiếng nhất trong khoảng tám trăm ngàn người Công giáo miền Bắc di cư vào Nam. Tại Bắc Việt, Hoàng Quỳnh từng chỉ huy Tổng bộ Tự vệ Công giáo nổi tiếng thuộc hạt Phát Diệm đã đẩy lui quân Cộng sản nhiều năm liền. Sau Hiệp định Genève 1954, Hoàng Quỳnh chăn dắt giáo dân trong Nam, cuối cùng ông về ngụ tại giáo xứ của ông ở Sài Gòn, tại đây ông nẩy nở mối thân thiết với ông Diệm. Trước mối nguy sinh ra từ các vụ Phật giáo Tranh đấu vào năm 1965 đã thôi thúc Hoàng Quỳnh lập ra “Lực lượng Đại Đoàn Kết”, mà cuối cùng chuyển thành một chính đảng thân Công giáo là Nhân Xã Đảng (Việt Nam Nhân xã Cách mạng Đảng). Hoàng Quỳnh trở thành một lãnh tụ chính trị xông xáo trực diện, và Lực lượng Đại Đoàn Kết cũng đồng lòng với ông một tuyên ngôn lập trường theo đó đòi hỏi phải đạt được chiến thắng quân sự trước Cộng sản.
Một vài hình ảnh quý ghi lại cuộc tranh đấu của phe Phật giáo Ấn Quang khởi từ ngày 28-9-1967 tại Saigon. Photos by © Bettmann/CORBIS và Photographer: Co Rentmeester của tạp chí LIFE của Mỹ vốn không ghi chú thích. Sưu tập và chú thích by Le Tung Chau Sept. 2023.
#Chính Luận Sept. 30, 1967 trang nhất #Chính Luận Sept. 30, 1967 trang nhất
CUỘC ĐỐI THOẠI . . . ĐẦU ĐƯỜNG
CUỘC ĐỐI THOẠI SÔI NỔI ĐẦU ĐƯỜNG GIỮA Trung Tướng THIỆU và Thượng Tọa TRÍ QUANG
SAIGON, 29.9 Hai ngày trước khi Quốc Hội lưu nhiệm họp để xét kết quả cuộc bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống của nền Đệ nhị Cộng Hòa Việt Nam, 500 tăng ni dưới quyền chỉ đạo của Thượng Tọa Trí Quang đã xuống đường kéo đến Dinh Độc Lập đòi hủy bỏ bản Hiến Chương mới và phục hồi Hiến Chương cũ cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Như Chính Luận đã loan báo trong số báo hôm qua, cuộc xuống đường của tăng ni đã diễn ra trong bầu không khí ôn hòa và trật tự và được xe Cảnh Sát không có võ trang dẫn đường. về cảnh sát không có trang dẫn đường. Vì không nỡ để cho tăng ni ngồi phơi nắng trong khi một phái đoàn chỉ đạo đi vào trong Dinh hội kiến với các nhà lãnh đạo quốc gia, T.Tọa Trí Quang đã đối thoại với Trung Tướng Thiệu trước cửa Dinh Độc Lập. Cuộc đối thoại «giữa đầu đường» này rất hào hứng và sôi nổi trong khi người ta thấy thoáng trong hàng biểu ngữ có nhiều biểu ngữ viết "Tưởng Thiệu không xứng đáng lãnh đạo QG".
10g15, Đoàn Tăng Ni kéo tới trước Dinh Độc Lập. 10g25, một đoàn cảnh sát dã chiển tới tăng cường với dùi cui cầm tay, lựu đạn cay gài sau lưng. Đứng gần đó, phía bên phải lề đường Dinh Độc Lập, là Chuẩn Tướng Loan vận thường phục tay cầm chai la de 33 đi đi lại lại.
Dưới trời nắng gắt, các tăng ni đã sắp hàng ba đứng dàn dài từ trước cổng Dinh Độc Lập tới đường Pasteur. Còn dân chúng thì đứng ở 2 bên lề đường. Các ký giả trong và ngoài nước quen như mọi lần đứng bao quanh lấy các thượng tọa lãnh đạo cuộc biểu tình mà chụp hình, mà phỏng vấn. Nhưng, chỉ trong giây lát ngắn ngủi, nhân viên cảnh sát đã tới nhã nhặn yêu cầu «các anh chị chép gì thì chép, bây giờ hãy lui ra bên kia đã» (bên kia tức là lề đường đối diện với Dinh Độc Lập). 10g30 ông Đổng Lý Văn phòng UBLĐQG (Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia), Đại Tá Vũ Đức Nhuận vận âu phục bước ra tiếp xúc với phái đoàn Tăng Ni.
Đại Đức Thích Hộ Giác dùng máy phóng thanh cung thỉnh 4 vị Thượng Tọa trong UBBVHC [ ủy ban bảo vệ hiến chương ] trình thỉnh nguyện thư lên Trung Tướng Chủ tịch UBLĐQG [ Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, tương đương Quốc Trưởng ].
Khi Đại tá Nhuận cầm thỉnh nguyện thư quay vào lập Dinh Độc Lập, Đại Đức Hộ Giác cho biết là các tăng ni tiếp tục ngồi lại đây để chờ đợi sự trả lời của Trung Tướng Thiệu rồi sau đó mới «ra về trong trật tự». 10g40, Các tăng ni ngồi xuống đường tụng kinh. Trong số những biểu ngữ viết bằng Anh và Việt ngữ mà các tăng ni đem theo, có vài cái đáng chú ý như "Tưởng Thiệu không xứng đáng lãnh đạo Quốc gia", "Phản đối Tướng Thiệu đù đày Phật tử", "Phản đối Sắc luật 23/67", "Phản đối âm mưu phân hóa Phật giáo".... 10g45, Đại tá Nhuận trở ra cho biết Tướng Thiệu mời 2 vị đại diện của phái đoàn vào trong Dinh nói chuyện. Đại Đức Hộ Giác tỏ ý bằng lòng, nhưng Thượng Tọa Trí Quang không chịu. Ông đề nghị hoặc Tướng Thiệu ra đây hoặc để cho tất cả Tăng Ni vào gặp «vì nếu để đại diện vào, còn Tăng Ni ở lại ngồi dưới nắng, không đành.»
TƯỚNG THIỆU, TƯỚNG KỲ ra
11 giờ 15, có tin Tướng Thiệu sắp ra, cảnh sát liền được lệnh đẩy lui ký giả ra xa 20 thước. Một số ký giả cứ đứng ì ra khiến một vị chỉ huy Cảnh Sát (vận thường phục) nổi nóng hét to: « Nếu không lui sẽ dùng sức ». Nhiều ký giả ngoại quốc đã nổi sùng chống cự lại khi thấy mình bị đẩy quá mạnh.
Nhưng sau đó, có lẽ cảm thông với báo chí, nên cảnh sát đã cho những ai có giấy tờ chứng nhận là ký giả được lọt qua khỏi hàng rào tay của cảnh sát để bước vào lề đường phía Dinh Độc Lập.
11 giờ 35, phía trong hàng rào sắt của Dinh Độc Lập được tăng cường 1 tiểu đội binh sĩ tay cầm khí giới.
11 giờ 46, chính quyền thông báo Trung Tướng Thiệu sẽ ra nói chuyện với Tăng Ni.
Đi cùng Trung Tướng Thiệu có Thiếu Tướng Kỳ, Đại Tướng Cao Văn Viên, Thiếu Tướng Linh Quang Viên.
Tướng Thiệu lên tiếng
Ngỏ lời với Tăng Ni, Trung Tướng Thiệu cho biết thể theo lời yêu cầu của các Tăng Ni, nhà cầm quyền đã để cho các Tăng Ni đến đây một cách tốt đẹp.
Và khi phái đoàn tới đây, ông đã cho ông Đổng lý Văn phòng ra nhận thư thỉnh nguyện. Sau khi đọc xong thư thỉnh nguyện, ông đã cho ông Đổng lý ra nói với phái đoàn là ông sẵn sàng mời một phái đoàn chức sắc vào dinh « thảo luận một cách cởi mở », Trung Tướng Thiệu nói tiếp: « nhưng rất tiếc quý vị từ chối lời mời ».
« Để giải quyết tình trạng đất nước, và chứng minh một lần nữa chúng tôi không có ý gì miệt thị quý vị, và cũng không đặt nặng vấn đề tự ái trong chức vụ Chủ tịch UBLĐQG nên tôi cũng ra đây để đầu trần đứng dưới nắng như quý vị ».
Đề cập tới vấn đề Hiến chương mới của Phật giáo, Trung Tướng Thiệu cho biết là ông có nhận được mấy lá thư của các thượng tọa bên chùa Ấn Quang gửi lên, nhưng sở dĩ ông không trả lời, vì trên phương diện pháp lý, chính quyền chỉ liên lạc với một Viện Hóa đạo và 1 vị Viện trưởng mà thôi. Ông mong «quý vị thông cảm cho điều đó.» Tuy nhiên để giải quyết vấn đề một cách êm thắm tốt đẹp Trung Tướng Thiệu cho hay là ông gửi người trung gian tiếp xúc các Thượng Tọa với tư cách cá nhân để tìm hiểu sự mong muốn của các Thượng Tọa cũng như giải thích lập trường của chính quyền.
Còn về vấn đề các Thượng Tọa bảo Tướng Thiệu miệt thị Phật giáo, tướng Thiệu nhấn mạnh: « quý vị nói tôi miệt thị, điều đó hoàn toàn không đúng ». Ông nói tiếp: « chúng tôi nghĩ rằng với cương vị 1 người lãnh đạo quốc gia, vì có trách nhiệm đối với quốc dân, để giải quyết tình trạng đất nước, nên chúng tôi đã gạt bỏ vấn đề tự ái cá nhân, ra đây tiếp xúc với các tăng ni, như vậy không thể nói là tôi miệt thị quý vị được ».
Đề cập tới bản tuyên cáo số 1 do các Thượng Tọa bên chùa Ấn Quang phổ biến trong cuộc họp báo ngày 24-9-67, Trung Tướng Thiệu nói là tuyên cáo này có sự xen lấn giữa vấn đề chính trị với bản Hiến Chương Phật giáo. Ông nói từ ngày bầu cử tới nay, ông không mở miệng nói một tiếng gì, vì ông quan niệm đó là quyền của Quốc Hội, quyền của nhân dân, cho nên «khi quý vị nói bầu cử gian lận, Thượng Nghị viện nằm trong tay Cần Lao điều đó chúng tôi không dám nói.
Nếu bảo bầu cử gian lận, thì đã có Quốc Hội và Hội đồng Tuyển cử Trung ương cứu xét. Còn việc Thượng viện là của Cần Lao hay không là do dân chúng sử dụng quyền tối thượng bằng lá phiếu của mình.»
Về việc ký bản Hiến chương Phật giáo mới, tướng Thiệu cho rằng, đứng trên cương vị chính quyền và chỉ có thể công nhận một Viện Hóa Đạo, nên về khía cạnh pháp lý, chính quyền chỉ biết VHĐ và Thượng Tọa Tâm Châu mà thôi (có nhiều tiếng la ó phản đối). Trung Tướng Thiệu nói tiếp: « Thượng Tọa Tâm Châu đưa bản Hiến chương lên, chúng tôi quan niệm đó là của 1 đoàn thể, nên không xen vào nội bộ. Chúng tôi chỉ làm công việc chuẩn y, chứ không xé Hiến chương nào cả. Hiến chương mới này do chính Thượng Tọa Tâm Châu lúc đó là viện trưởng đệ lên, cho nên vấn đề Hiến chương này hay Hiến chương nọ, đối với chính quyền, nó chỉ có giá trị đối với các ông Viện trưởng và những người ký trong bản Hiến chương đó. Thật sự, chúng tôi không có xé Hiến chương. Chúng tôi cũng không có truất phế đức Tăng thống, vì chính quyền không được lạm quyền đó ».
Còn việc yêu cầu thu hồi sắc luật 23/67, tướng Thiệu cho biết cần phải có một thời gian để UBLĐQG và UBHPTƯ thảo luận lại. Tướng Thiệu nhấn mạnh: « quý vị bảo hiến chương này không giá trị, phi pháp, chúng tôi đứng trên lập trường lúc nào cũng muốn Phật giáo thống nhất ».
« Nếu quý vị thấy chính quyền có thể làm được gì để chấm dứt tình trạng phân hóa, chúng tôi sẵn sàng làm việc đó. Quý vị đòi chúng tôi thu hồi sắc luật đó ngay tức khắc, trong khi chúng tôi còn cần thảo luận với UBLĐQG, chúng tôi phải mời vị viện trưởng VHĐ mới và Thượng Tọa Tâm Châu tới thảo luận. Sáng nay Thượng Tọa Tâm Châu có nói với chúng tôi là sẵn sàng gặp Thượng Tọa Trí Quang bất cứ ở chỗ nào, bất cứ lúc nào để đặt lại vấn đề Hiến Chương và Thống nhất Giáo hội. Nếu quý vị chấp nhận, chúng tôi sẽ mời Thượng Tọa Tâm Châu, Thượng Tọa Trí Quang cùng chúng tôi thảo luận, đi đến một giải pháp tốt đẹp cho quốc gia. Nếu quý vị muốn tiếp xúc riêng với Thượng Tọa Tâm Châu để giải quyết, chúng tôi sẵn sàng. Nếu quý vị cần tới chúng tôi, chúng tôi sẽ đến để tìm giải pháp với một tinh thần rất là vô tư ».
Sau hết, Trung Tướng Thiệu mong « quý vị thông cảm cho ».
T.Tọa Trí Quang trả lời
Tới đây, Thượng Tọa Trí Quang, đại diện cho 500 Tăng ni đã ngỏ lời với tướng Thiệu là Thượng tọa không thể để cho 500 Tăng ni ngồi ngoài nắng đợi một phái đoàn vào tiếp kiến tướng Thiệu được. (Có nhiều tiếng vỗ tay khiến Thượng Tọa Trí Quang phải yêu cầu «miễn cho việc vỗ tay để chúng tôi được thưa chuyện cùng quý vị lãnh đạo quốc gia»). Sau khi cám ơn các tướng lãnh đã ra tiếp xúc, Thượng Tọa Trí Quang nói là Thượng Tọa đã lãnh hội tất cả những lời trình bày của Trung Tướng Thiệu và nhận thấy rằng «lập trường của chính phủ từ cuộc họp báo của Phật giáo tới nay vẫn là duy nhất.» Theo Thuợng Tọa, sắc luật 23 là một sắc luật vượt quá luật lệ hành chánh, «rõ ràng là hiến chương đã bị xé, tôn giáo bị thủ tiêu về pháp lý, do đó tính mạng chúng tôi kể như không còn nữa.» T. Tọa nhấn mạnh: «chính quyền đã xen vào nội bộ PG, chứ không phải nội bộ PG phân hóa. Chúng tôi không thể nào chấp nhận những tên giáo gian với sự hỗ trợ của chính quyền để phản giáo. (Tới đây lại có tiếng νỗ tay khiến Thượng Tọa Trí Quang phải yêu cầu ngưng vỗ tay một lần nữa đề giữ lễ độ trong cuộc nói chuyện với các vị lãnh đạo quốc gia.) T. Tọa Trí Quang nói tiếp «nếu quý vị thấy nguyện vọng chúng tôi là đúng, thì quý vị hãy lắng nghe và giải quyết ngay. Còn nếu quý vị cho là không đúng thì chúng tôi là kẻ có tội đáng chém, quý vị hãy cho lập pháp trường cát tại đây, chúng tôi sẵn sàng thọ tội.».
Trình bày về việc thành lập VHĐ mới, T.Tọa Trí Quang cho rằng Đại hội Phật giáo trước đây đã chính thức tiếp nhận sự từ chức của Thượng Tọa Tâm Châu và chính đại hội này cũng đã bị phá hoại bởi nhiều phần tử được sự hỗ trợ của chính quyền. Do đó, các Thượng Tọa phải bầu ra 1 hội đồng VHĐ mới, và Hội đồng này đã làm việc trong sự chèn ép cũng như không được chính quyền công nhận. Thượng Tọa Trí Quang nhấn mạnh là «Giáo hội không phải là ở nơi một người nhờ thế lực của chính quyền tạo ra, mà quan niệm rằng Giáo hội phải bảo vệ sự thuần nhất.»
Để kết luận Thượng Tọa Trí Quang đã ngỏ lời cảm ơn Trung Tướng Thiệu đã «dành cho chúng tôi một sự lễ độ, tỏ ra xứng đáng một người lãnh đạo quốc gia»
Đáp từ của tướng Thiệu
Lên tiếng lần thứ nhì, Trung Tướng Thiệu xin các tăng ni đừng nghĩ đến là «chúng tôi không cứu xét tới nguyện vọng của quý vị. Chúng tôi sẽ cứu xét với tất cả thiện chí. Còn như quý vi bảo tới đây như kẻ có tội có thể đem xử bắn, trong thâm tâm chúng tôi không bao giờ nghĩ tới. Chúng tôi sẽ triệu tập UBLĐQG, chính phủ, và nếu quý vị chấp nhận, chúng tôi sẽ mời quý vị tới thảo luận. Nếu quý vị không chấp nhận ngồi chung với Thượng Tọa Tâm Châu hay Viện Hóa Đạo, đó là quyền của quý vị, chúng tôi sẽ cứu xét nguyện vọng của quý vị với tất cả thiện chí, cần phải có một thời gian tối thiểu. Nếu quý vị bằng lòng, chúng tôi sẽ mời quý vị vào thảo luận ngay bây gιờ.
T.Tọa Trí Quang lại có ý kiến
Để trả lời Trung Tứng Thiệu, Thượng Tọa Trí Quang nói là khi đi, các vị hòa thượng đã nhắn nhủ các tăng ni phải mang về sắc luật 005/66, do đó nếu không nhận được điều gì gọi là một chút cho đỡ khổ tâm, thì phái đoàn không thể về được, vì không dám phụ lòng ủy thác của các Hòa Thượng. Nếu 24 giờ đồng hồ sau, Tăng ni không nhận được gì mới mẻ, thì chúng tôi sẽ quay lại gặp quý vị. Nếu Trung Tướng chấp thuận cho ngồi đâu, anh em chúng tôi sẽ nghe theo hầu chuyện quý vị 1 ngày hay 100 ngày cũng được. Nhân dịp này, T. Tọa Trí Quang cho biết, cách đây 48 tiếng đồng hồ, ông mới được gặp «một đại diện bán công khai của Trung Tướng»
Tướng Thiệu lên tiếng lần thứ 3
Lên tiếng lần thứ 3, Trung Tướng Thiệu cho biết là 12 hay 24 tiếng đồng hồ, ông không thể nào trả lời dứt khoát ngay được. Chúng tôi sẽ thảo luận với quý vị trong thiện chí, cởi mở, xin quý vị yên tâm. Có lẽ trong chiều nay, tôi sẽ mời quý vị tới thảo luận.
5 vị Thượng Tọa Đại Đức ở lại
Tới dây T.Tọa Trí Quang hạ lệnh cho tăng ni, Phật tử ra về, còn ông và cái vị trong UBBVHC ở lại « hầu chuyện với Trung Tướng ngay từ bây giờ ».
Lên tiếng lần thứ tư, Trung Tướng Thiệu nói: «chúng tôi sẽ mời quý vị nào ở lại tới một chỗ nào đàng hoàng đầy đủ tiện nghi để thảo luận của một cách cởi mở. Đó là lời thành thật một người lãnh đạo quốc gia cũng như của một công dân đối với một Tôn giáo.»
Trong khi đó, T. Tọa Trí Quang mặc đầu đã hạ lệnh cho Tăng ni ra về nhưng ông vẫn còn nghi ngờ lời hứa của Trung Tướng Thiệu nên «xin phép được ngồi lại đây.»
Khi Trung Tướng Thiệu và các tướng lãnh trở vào Dinh Độc Lập, lúc đó là 12 giờ 25, các Tăng Ni Phật tử lần lượt ra về trong trật tự, còn lại 5 thượng tọa là Trí Quang, Pháp Tri, Quảng Long, Pháp Lan và Hộ Giác.
Và để khỏi kẹt đường xe cộ lưu thông, các thượng tọa đã lại ngồi bên gốc cây đối diện Dinh Độc Lập để chờ sự trả lời của Trung Tướng Thiệu.
LTC phụ chú:
Khi đoàn tăng ni cứ ngồi lì ở công viên bên kia đường [ trước Dinh Độc Lập ], tướng Thiệu cho lập một vòng đai cảnh sát bao vây đoàn Phật giáo Tranh đấu này nhưng cứ để mặc họ và không quấy rầy gì họ hết. Sau đó tướng Thiệu cử đặc phái viên đến du thuyết với cả Trí Quang lẫn Tâm Châu và khuyên họ ngồi lại với nhau mà giải quyết vấn đề. Trí Quang bất hợp tác và gọi Tâm Châu là “kẻ phản giáo”.
Ông Thiệu rất khéo nói với báo chí rằng đây là một sự vụ thuần tôn giáo chứ chẳng phải chính trị, tuy vậy ông sẵn sàng bàn thảo với cả hai phe Phật giáo. Ông cũng khéo điều động đằng sau hậu trường, đánh trúng tim đen của phe Ấn Quang bằng cách gây áp lực với Quốc Hội phải chấp đơn ứng cử vào Hạ Nghị Viện của các ứng cử viên thân Ấn Quang mà trong kỳ bầu cử Thượng Viện đã bị bác.
Đoàn biểu tình ngồi chẳng được công chúng hưởng ứng hay ngó ngàng gì tới, thế là trong vòng 2 tuần, đoàn teo dần chỉ còn chưa đầy 100 người.
Nhờ tướng Thiệu biết kềm chế cho nên đã dập tắt mưu mô của Trí Quang tính biến cuộc biểu tình nhỏ thành cuộc biểu tình quy mô chống chính phủ. Đã vậy, ông Thiệu còn hứa rằng nếu Trí Quang từ bỏ chuyện biểu tình đi, thì ông sẽ tái cứu xét vụ Hiến Chương.
Đến ngày 10 tháng 10, ông sân tăng này đành rút bỏ phiên tranh đấu cô độc và quay về chùa Ấn Quang. Ngay tiếp đó, Tâm Châu ra thông cáo tạm ngưng áp dụng bản Hiến Chương Tu Chính trong khi chờ có một bản Hiến Chương mới khác.
Với tài khôn khéo, thận trọng, Tướng Thiệu đã rất khéo khi giữ cho tình hình bất ổn không leo thang và qua đó cũng đã chứng tỏ rằng một Trí Quang hùng hổ ngày nào nay chỉ còn là một tay kiếm khách bị phế bỏ võ công. Ông ta sẽ chẳng bao giờ còn vác mặt xuống đường được nữa.
$pageOut $pageIn Phân đoạn 3
#Tien Tuyen Mar. 3, 1971 trang nhất
Bài 08:
VIII
Có một điều người ta có thể trông thấy rất rõ là khối AQ [Ấn Quang] có một tham vọng chính trị rộng lớn. Cuộc vận động của PG [Phật Giáo] lật đổ chế độ Đệ I Cộng Hòa đã đưa 1 số lãnh tụ Phật giáo lên đỉnh vinh quang và quyền lực. Một dạo, các vị này đã trở thành một thứ siêu chính quyền.
Thói đời, những người phút chốc được bốc lên ngồi cao quyền thế thường hay bị "say quyền lực" (ivre de pouvoir). Quyền lực trở thành một ám ảnh thường xuyên.
Vài vị lãnh đạo Phật giáo muốn thừa thắng xông lên theo chiến thuật đánh mau đánh mạnh nắm vội thời cơ.
Lẽ ra, ý đồ này có nhiều hy vọng thành đạt, nếu không có sự nứt rạn bất ngờ đưa tới chia rẽ trong nội bộ PGTN [Phật Giáo Thống Nhất].
Sự chia rẽ đó đưa tới tình trạng suy yếu trầm trọng. Khối VNQT [Việt Nam Quốc Tự] thu mình lại trong vỏ hoạt động xã hội, trong khi khối AQ tiếp tục vận động duy trì và bành trướng thế lực dưới chiêu bài đối lập, và nay thì chiêu bài khác.
Do đó, AQ trở thành trung tâm thu hút những chính khách lỡ thời, thất bại, bất mãn. Và, sau này, thêm những chính khách tập sự ùn ùn kéo tới.
Về phía AQ, vì phát triển lực lượng, bành trướng thế lực, củng cố hạ tầng nên cũng mở rộng cửa từ bi đón nhận mọi người tìm tới. Tất nhiên mọi tổ chức lúc đầu đều có sự ô hợp nên không đáng trách.
Duy có 1 điều đáng nêu ra là lập trường của khối AQ cho tới nay vẫn còn mập mờ. Khuynh hướng cũng chưa rõ rệt. Từ đó, những chính khách mang nhãn hiệu AQ cũng không tránh khỏi có những thái độ làm cho người Quốc Gia e ngại.
Không phải có ý chụp mũ, chỉ nhìn thẳng vào thực trạng người ta sẽ thấy ngay với đường lối hiện nay của AQ, kẻ thù chung sẽ rất dễ trà trộn để mập mờ đánh lận con đen.
Hẳn là các vị lãnh đạo hãng sản xuất và phát hành chính khách AQ không có dụng tâm như vậy. Song thực trạng của khối đã tạo nên kẽ hở đó. Các cuộc vận động của khối AQ gần giống với những trò thực tập đi giây.
Ngày nay, sản phẩm của AQ tràn ngập thị trường. Người ta thấy rõ đang có tình trạng lạm phát chính khách. Có những người trở thành chính khách sau một cơn ngủ mê.
Đấy lại là tình trạng chung của rất nhiều đảng phái, lực lượng, do từ sự vơ bèo gạt tép mà ra.
Đó cũng là một trong những lý do đưa tới tình trạng sinh hoạt chính trị bi thảm ngày nay.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 5, 1971 trang nhất
Bài 09:
IX
Sự bi thảm của sinh hoạt chính trị miền nam trở nên trầm trọng kể từ khi các lực lượng đảng phái hoàn toàn mất hẳn thể đứng trong quần chúng.
Họ như những tảng bèo rời rạc lềnh bềnh trên mặt nước "chạm không tới đất, cất không tới trời". Do đó các chính khách xuất thân từ đảng phái trở nên bơ vơ.
Cho tới khi chính quyền có ý định tập hợp một số chính đảng để tạo một hậu thuẫn chính trị, thì nhiều chính khách đang vất vưởng vội chạy đi tìm đồng chí để lập đảng. Với hy vọng được lọt vào mắt xanh của chính quyền.
Ở đây, chúng tôi xin phép nhấn mạnh cả chính quyền lẫn các chính khách và chính đảng đều phạm lầm lỗi lớn.
Chính quyền lầm tưởng các chính đảng có thực lực, hay ít ra tập hợp họ lại thì sẽ có một thực lực chính trị. Tại sao lại bảo chính quyền quan niệm như vậy là lầm lẫn, chúng tôi đã trình bày ở những bài trước.
Các chính khách lầm lẫn vì tưởng rằng với nhãn hiệu chính đảng này chính đảng nọ, họ sẽ được quần chúng tin tưởng, do đó họ sẽ thành công trong sự nghiệp chính trị.
Các chính đảng lầm tưởng với thế lực giả tạo họ có thể lòe thiên hạ và "mặc cả" được với chính quyền để đổi lấy một hai ghế trong chính phủ và trong các cơ cấu dân cử.
Nói một cách văn hoa đôi chút thì tất cả đã là một ngộ nhận lớn lao.
Tuy nhiên, chúng tôi muốn thẳng thắn nhìn nhận ý hướng tốt của chính quyền khi cố gắng lập ra một đảng chính quyền. Hành động này ít ra cũng đáp ứng phần nào sự khuyến khích của Hiến Pháp tiến tới một chế độ chính trị lưỡng đảng.
Nếu chính quyền thành công trong việc tạo lập một đảng cầm quyền có thực lực thì có lẽ những đảng phái ở ngoài chính quyền nhất là những đảng phái sẵn có đường lối đối lập đã phải thấy ngay một nhu cầu cấp bách là đứng vào với nhau để tạo thế đối lập lớn tương xứng.
Từ đó, ý hướng tiến tới một sinh hoạt chính trị lưỡng đảng sẽ dễ dàng.[ * ]
Nhưng rất tiếc, tinh thần quyền lợi phe nhóm còn quá nặng. Thực lực không có, và các lãnh tụ mải mê với quyền lợi cá nhân, đã không chịu củng cố. Cho nên sự kết hợp của 6 đảng phái đã chỉ làm cho thể chính trị của Quốc gia thêm nát.
Khi đảng chính quyền không có thực lực thì phe nhóm đảng phái bên ngoài không thấy nhu cầu cần phải kết hợp. Trái lại việc 6 đảng đứng vào với chính quyền đã khiến đẻ ra thêm một số chính đảng. Tình trạng đa đảng, do đó, cũng thêm hỗn tạp và ô hợp. Nhiều chính đảng mọc ra chỉ với mục đích duy nhất là để gạ đổi chác với chính quyền.
( còn nữa )
[ *: LTC phụ chú:
#Tiền Tuyến Apr. 8, 1969 trang nhất
Thông điệp Tổng Thống ngày 7-4-1969 kêu gọi kết hợp đảng phái
#Tiền Tuyến Apr. 8, 1969 trang nhất
Thông điệp Tổng Thống ngày 7-4-1969 kêu gọi kết hợp đảng phái
Sáng ngày 7-4-1969, đọc Thông Điệp trong phiên họp khoáng đại của Lưỡng Viện Quốc Hội
Tổng Thống Thiệu Kêu Gọi Kết Hợp Đảng Phái Quốc Gia
DÙ KẾT HỢP ĐỂ ĐỐI LẬP
★ Đích thân đứng ra tập hợp các lực lượng chính trị không phải muốn tìm hậu thuẫn để củng cố địa vị mà vì muốn thống nhất ý chí và hành động của toàn dân để đối phó với kẻ thù. ★ Hy vọng Quốc Hội sẽ chóng thông qua 2 Quy chế Báo chí và Chánh đảng. ★ Dân còn đói khát, còn bị áp bức bóc lột thì quốc gia chưa thể vững mạnh. ★ Nông dân phải trở thành tiểu điền chủ. Công nhân sẽ không còn bị bóc lột.
#Tien Tuyen Mar. 6, 1971 trang nhất
Bài 10 01
Và
#Tien Tuyen Mar. 10, 1971
Bài 10 02
(gộp hai bài vào làm một)
Bài 10:
X
Trong bài hôm qua, chúng tôi đã khẳng định «có nhiều chính đảng đã vội vã mọc lên chỉ với mục đích duy nhất là để gạ đổi chác với chính quyền.»
Đấy cũng lại là một thật sự bi thảm!
Tình trạng đa đảng ở xứ này mang hai ý nghĩa: Thứ nhất là nó chứng tỏ có sữ dân chủ tự do trong sinh hoạt chính trị. Thứ hai là nó cho thấy sự phân hóa trầm trọng trong hàng ngũ chính khách quốc gia.
Ý nghĩa thứ nhất chắc chắn chỉ là một sự rỗng tuếch. Bởi nó hoàn toàn vô ích đối với sự lớn mạnh của sinh hoạt chính trị của chúng. Trong khi đó, ý nghĩa thứ hai lại là một sự nguy hại cho đất nước vì tiềm lực chính trị của một quốc gia mà bị phân hóa thì sớm muộn cũng đưa dân tộc tới chỗ lụn bại.
Chúng ta có thể suy nghĩ trên câu nói này của Marc Aurèle «những gì không mang lợi cho tổ ong thì cũng vô ích cho con ong.»
Các vị lãnh tụ cũng cần suy nghĩ kỹ hơn. Chẳng hạn khi một đồng chí của ông HTK [ Hà Thúc Ký ] tách ra khỏi đảng (rồi lập đảng khác) với hy vọng ông sẽ được chia một ghế trong nội các, tức là ông đã làm cho đảng của ông HTK yếu đi, và chính đảng mới của ông cũng không khỏe gì. Do đó, bản thân ông cũng không có lợi lộc. Bằng cớ là rốt cuộc ông chẳng được chia tí phần xôi thịt nào.
Chúng ta còn có thể dùng một hình ảnh khác để thấy rõ cái bất lợi của tình trạng đa đảng do cái kết quả của sự phân hóa: Đó là hình ảnh những con châu chấu lẻ loi bị lũ trẻ mục đồng đem chắp sợi chỉ vào chân mà đùa chơi, và từng đàn châu chấu như thế có khả năng tiêu diệt cả một cánh đồng lúa chín trong chớp mắt.
Để đóng góp cho sự bi thảm thêm trầm trọng với tình trạng đa đảng, là sự kiện những đảng phái lại đều có khuynh hướng ly tâm — cái Tâm ở đây là quyền lợi chung của dân tộc. Mỗi đảng đều chỉ hướng về một quyền lợi của đảng mình hay đúng hơn, là quyền lợi của vị lãnh tụ đảng.
Sự phân hóa ở lãnh vực đảng đưa tới sự sa đọa ở lãnh vực cá nhân chính khách. Loại chính khách sa đọa đầy dẫy trên thị trường và mặc sức tác oai tác quái vì những người còn liêm sỉ đã rút vào bóng tối để gậm nhấm nỗi buồn cô đơn, tuyệt vọng.
Hạ Viện là một phần của "thị trưởng chính khứa". Chúng ta thấy gì ở cái phần thị trường này? Thực tế bao năm qua đã trả lời quá rõ.
( còn nữa )
Một cách thành thực chúng tôi không dám tin rằng quý vị chính khách trong tòa nhà Lập Pháp [ Hạ Viện ] sẽ có thể tái đắc cử vào tháng 8 tới đây. Cử tri ngày nay đã rất sáng suốt. Riêng đối với quí vị chính khách đang ngồi ở Hạ Viện thì cứ tri đã có kinh nghiệm.
Họ đã bị lừa bịp một lần, họ không thể bị lừa bịp lần nữa.
Dường như phần lớn quí vị đương kim Dân biểu cũng đã ý thức được điều đó. Chúng tôi được nghe một người bạn Dân Biểu tâm sự rằng từ nay đến tháng Năm, nếu không có thuốc — nghĩa là không có sự đỡ đầu của một thế lực tuyệt đối nào đó — thì ông ta sẽ trở về mở quán nước giải khát cho vợ bán.
Một ông Dân Biểu khác — mà chúng tôi cũng hơi quen biết — than rằng, kỳ bầu cử tới rất có thể ông ta sẽ phải tốn khoảng 20 triệu bạc để mua phiếu! Tất nhiên phải hiểu hai chữ «mua phiếu» nghĩa là mua của những vị có quyền thế hoặc có khả năng bán phiếu, chứ rất ít khi mua trực tiếp của cử tri.
Như chúng tôi đã trình bày, cử tri ngày nay rất sáng suốt và ý thức. Họ không đời nào bán rẻ lương tâm để lấy 500 đồng bạc. Cầm mấy trăm đó để phải bỏ phiếu cho một kẻ bất xứng là một điều sỉ nhục mà họ không thể nào chấp nhận.
Hơn thế, người dân thường có một lối lý luận giản dị: Nếu ứng cử viên là người "xứng đáng", có thành tâm thiện chí và liêm sỉ, thì ông ta sẽ không bao giờ «mua phiếu» như vậy. Một kẻ đã có thể bỏ tiền ra mua phiếu tất không tin ở tư cách của mình và, hơn thế, tất là kẻ có đầu óc mua quan bán tước. Do đó, nếu đắc cử, ông ta không ngại gì mà "bán linh hồn" để kiếm lời!
Trong ba năm vừa qua, các vị Dân Biểu, Nghị Sĩ đã kiếm chác được một số tiền khá lớn qua những vụ bán chữ ký, và xuất ngoại buôn lậu. Kỳ này, họ sẵn sàng bỏ vốn lớn để kiểm lời to trong nhiệm kỳ 71-75.
Kỳ bầu cử 67, người ta đã thấy những ông tổ tham nhũng tung ra cả 2, 3 chục triệu để đắc cử. Hầu chạy tội và tiếp tục kiếm chác. Cặp "bài trùng" ở Hạ Viện là một điển hình.
Những tay tài phiệt, tư bản, tham nhũng tung tiền ra ứng cử, tất nhiên không hề nhằm mục đích phục vụ dân chúng.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 11, 1971 trang nhất
Bài 11
XI
Khi khẳng định «những tay tư bản tài phiệt tung hàng chục triệu ra ứng cử, họ không nhằm mục đích phục vụ quần chúng,» chúng tôi đã căn cứ trên thực tế xã hội và hiện trạng sinh hoạt chính trị để rút ra luật luật đó.
Bọn tư bản tài phiệt đã ngụp lặn trong vũng bùn hôi tanh của tiền bạc. Đối với họ, tiền bạc đã trở thành cứu cánh của cuộc đời, cho nên lý tưởng phục vụ bất vụ lợi không còn trong họ nữa.
Họ ra ứng cử hay ra tham chính không ngoài một trong hai mục đích hoặc cả hai mục đích sau đây: Mua danh và tạo uy thế để củng cố cái gia sản kếch xù của họ, bảo vệ quyền lợi kinh tế của họ, từng được gầy dựng trên lưng người dân nghèo.
Ở Thượng cũng như Hạ Viện, chúng ta thấy có nhiều tay trọc phú. Và, suốt 3 năm, thử hỏi những tay trọc phú đó đã làm gì, nếu không là những vận động ngầm để độc quyền buôn bán xi măng, giây thép gai, thuốc tây v.v...
Một xã cách mạng lão thành của chúng ta đã nhận định rất đúng khi ông nói: «Bọn trọc phú không bao giờ làm chính trị vì dân chúng. Họ làm chính trị vì họ và cho họ.»
Bởi vì bọn trọc phú không bao giờ muốn có những cuộc cách mạng xã hội, là điều kiện tiên quyết cải thiện đời sống quần chúng, nâng cao mức sống đồng bào và kiện toàn sức mạnh dân tộc.
Cách mạng xã hội sẽ tước bỏ mọi đặc ân của bọn trọc phú. Một sự công bằng xã hội sẽ là kẻ thù của bọn trọc phú. Chúng ta chợ đợi những tay trọc phú nhường cơm xẻ áo cho chúng ta ư?
Đó là những lý do cắt nghĩa tại sao người dân không thể tin tưởng vào tinh thần phục vụ của những kẻ tung ra hàng chục triệu để mua một tước vị Đại diện. Người dân họ không cần 500 bạc vì nó không giúp cho đời sống họ dễ thở hơn, không giúp họ có công ăn việc làm, không giúp con cái họ có trường học. Người dân cần những sự phục vụ, cần những bộ óc sáng tạo cách mạng.
Do đó, họ cần những người thành tâm thiện chí và có lý tưởng phục vụ.
Chúng tôi muốn nói tới người dân ngày hôm nay đã sáng suốt hơn sau nhiều keo bị lừa đảo bịp bợm bởi một bọn chính khách ma đầu.
Chúng tôi có thể quả quyết rằng, nếu đã từng có những vụ mua bán phiếu thì chắc chắn không phải cử tri đã bán phiếu vì bán như thế là bán chính lương tâm mình. những phần bất cứ phải bối như vậy bản chất lâu lượng tâm hồn. Bọn chính khách trọc phú đã mua phiếu của một số kẻ có quyền uy theo từng cử tri. Chính vì thế mà có hiện tượng lạm phát chính khứa và phần lớn là những chính khứa ma đầu.
Điều chua xót là từ khi có Quốc Hội, dân chúng ngày càng khổ cực hơn cả về tinh thần lẫn vật chất. Nói như thế không phải chúng tôi phủ nhận sự hữu ích của cơ cấu lập pháp trong một chế độ dân chủ phân quyền.
Nhưng cơ cấu này chỉ hữu ích khi nó bao gồm những thành phần có tâm huyết và có tinh thần phục vụ quần chúng.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 12, 1971 trang nhất
Bài 12
XII
Trong Hạ viện của chúng ta hiện nay, người có khả năng và thiện chí đếm được trên đầu ngón tay. Ngay cả những kẻ mang danh đối lập và thường gây huyên náo cũng chỉ là những cái thùng rỗng.
Các ông DB này chưa từng làm một việc gì hữu ích thiết thực cho dân. Họ chỉ lăm le chửi chính phủ và tìm cách hạ chính phủ nếu trong đó không gồm đa số là những người đồng bọn với họ.
Hơn thế, trong khi vỗ ngực là đối lập, họ sẵn sàng bán chữ ký với giá cao. Vụ kiến nghị và vụ Luật Ngân sách 71 là một bằng cớ hùng hồn! Tất cả những ông lớn tiếng chống đối nhất đều đã thò bút ký và giơ tay biểu quyết.
Những hành vi của đa số DB trong 3 năm qua đã làm nản lòng người dân. Họ làm cho cử tri thất vọng. Trong kỳ bầu cử tới đây, hoặc là cử tri sẽ chán ngấy đến không muốn đi bầu nữa, hoặc họ bỏ phiếu bừa với ý nghĩ «chọn lựa nào thì cũng vậy thôi. Thằng nào cũng như thằng nấy.»
Phản ứng tâm lý trên sẽ rất nguy hiểm. Cuộc bầu cử sẽ trở thành một cuộc xổ số. Và nếu tình trạng đó xảy ra thì một lần nữa toà nhà lập pháp của chúng ta lại chứa đựng 90% phần tử bất xứng.
Còn một mối nguy quan trọng hơn cũng có thể xảy ra nếu cử tri đi bầu với tâm trạng "cho xong việc".
Chúng ta đều biết hiện nay, trên phương diện quân sự, Cộng sản đã thua nặng và rõ rệt; chúng đã hoàn toàn tuyệt vọng ở lãnh vực này. Do đó, chiến tranh quân sự sớm muộn cũng tàn lụi. Nhưng cuộc xung đột giữa hai ý thức hệ Quốc Gia và Cộng sản chưa thể chấm dứt vì CS không dễ gì từ bỏ ý đồ xích hóa miền Nam.
Do đó, chúng sẽ quay sang mưu tìm chiến thắng bằng phương tiện chính trị thuần túy. Nhiều nhà quan sát đã tiên đoán kỳ bầu cử 71, CS sẽ đưa người của chúng ra ứng cử, với hy vọng cài càng nhiều càng tốt tay sai của chúng vào các cơ cấu dân cử.
□ HỒNG DƯƠNG
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 14_15, 1971 trang nhất
Bài 13
XIII
Nhận xét đó không xa thực tế, vấn đề các bộ CS nằm vùng ngoài hay trong chính quyền thông phái là một điều mới lạ. Trong quá khứ, đã có những cán bộ CS nằm vùng trong cơ quan Hành Pháp cũng như Lập Pháp bị lật mặt ra. Vụ HVT [ Huỳnh văn Trọng ] và vụ TNC [ Trần Ngọc Châu, Dân Biểu ] là hai trường hợp điển hình.
Do đó, người dân không thể không cảnh giác. Chúng tôi nhắn danh một người quốc gia không chấp nhận CS có bổn phận lưu ý cử tri.
Chúng tôi cũng muốn lưu ý cả những ông chính khách đang tự nhận là đối lập – với chính quyền – nhưng hành động của các ông lại là chống người Quốc gia, chống chủ nghĩa Quốc gia.
Nói tóm lại, có nhiều ông chính khách đối lập vô ý thức, thay vì chống đường lối thi hành chính sách hay có thể chống chính sách, thì lại chống chế độ.
Quốc gia này là quốc gia chống cộng hay nói đúng hơn là quốc gia này không chấp nhận được Cộng sản, lập trường đó được ghi rất kỹ trong Hiến Pháp. Vậy thì không thể có vấn đề đối lập nhân danh CS hoặc gián tiếp binh vực CS.
Nhân nói tới đối lập, chúng tôi tự thấy có bổn phận phải trình bày sơ qua tình trạng đối lập hiện nay trong thị trường chính trị VN.
Hiện nay, cái mác đối lập được coi là ăn khách trên thị trường chính trị VN. Bởi vì tổ chức chính trị của chúng ta chịu ảnh hưởng nặng của tổ chức chính trị Tây phương ngày nay, được gọi là chế độ dân chủ. Và theo đó, đối lập được coi như một sự cần yếu, một phương pháp hợp pháp và thích hợp nhất để làm cho đường lối chính trị được sáng sủa.
Chẳng hạn ở Anh, lãnh tụ đối lập được hưởng mọi ưu đãi của nhà nước, bởi họ quan niệm đối lập như một bổn phận công dân; Người làm công việc đối lập là thi hành bổn phận công dân.
Ở Mỹ cũng vậy, không nhất thiết người ở đảng đối lập không được quyền ngồi ngay trong chính phủ. Không ai cấm cản một ông Tổng thống đảng Cộng Hòa xử dụng những Bộ trưởng là người của đảng Dân chủ.
Nói như vậy để cho thấy đối lập đúng nghĩa không phải là kẻ thù của nhau đến mức phải tìm mọi cách để tiêu diệt nhau.
Nhưng ở thị trường chính trị VN, người ta đã quan niệm sai lầm vô ý hoặc cố tình vấn đề đối lập.
□ HỒNG DƯƠNG
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 17, 1971 trang nhất
Bài 13
XIII (tiếp theo)
Trên nguyên tắc, chúng tôi không muốn đề cập tới trường hợp từng cá nhân chính khách. Tuy nhiên, một đôi thì phải nhắc tới ông A ông B, chẳng qua chỉ là để dẫn chứng.
Bây giờ chúng tôi xin trở lại với vấn đề bầu cử, một vấn đề liên hệ trực tiếp tới «thị trường chính khứa.»
Ngay từ bây giờ, người ta đã thấy các chính khứa rầm rộ chạy ngược chạy xuôi, chui cửa trước lòn cửa sau để tìm những thế lực hậu thuẫn. Điều mỉa mai là những người thành tâm thiện chí, có khả năng và tha thiết với quyền lợi tổ quốc dân tộc thì phần lớn lại đói rách, cô đơn và yếu thế.
Những người này lại không thể chạy cửa hậu, và do đó họ sẽ vô cùng vất vả nếu muốn tham dự việc nước một cách tích cực.
Nói về thế lực hậu thuẫn cho cuộc bầu cử, hiện nay người ta thấy có 3 thế lực chính:
1) Lực lượng Thiên Chúa Giáo.
2) Lực lượng Phật giáo Ấn Quang.
3) Chính quyền.
Ba thế lực này nếu đem so sánh thì hơi khó để mà kết luận thế lực nào mạnh. Tuy nhiên, một cách khách quan, người ta vẫn có thể tìm ra một tương quan tương đối.
Về lực lượng Phật Giáo, số lượng có thể đông đảo hơn Thiên Chúa Giáo. Nhưng đó là lý thuyết. Bởi vì dân VN có một thói quen hiểu những người không Công giáo là những người theo đạo thờ phụng tổ tiên nghĩa là cũng có cúng vái nhưng không đi chùa, không biết tới các Thượng tọa, Đại đức.
Lại nữa, vì Phật giáo mới được tổ chức lại, cho nên vấn đề kỷ luật bỏ phiếu chưa được chặt chẽ.
Trong khi đó, khối Công Giáo tuy lượng ít hơn nhưng lại mạnh về phẩm Họ có một truyền thống kỷ luật lâu đời và chặt chẽ. Mỗi mệnh lệnh của cấp lãnh đạo Công giáo ban ra thường là được hàng giáo dân thi hành nghiêm chỉnh.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 18, 1971 trang nhất
Bài 14
XIV
Trong kỳ bầu cử bán phần Thượng Viện vừa qua, kỷ luật bỏ phiếu của khối cử tri Công giáo tỏ ra có phần sứt mẻ. Tuy nhiên, đó chỉ là một trục trặc nhỏ.
Dù sao khối giáo dân Công giáo vẫn là một lực lượng được coi như thuần nhất hơn cả. Vấn đề còn lại đối với khối Công giáo hiện nay là sự đồng nhất lập trường của các vị lãnh đạo tinh thần.
Nếu các vị Linh mục thường lẫn lộn việc đạo và việc đời, thì chắc chắn những lá phiếu của Công giáo không bao giờ có thể tản mát được. Và do đó, khối Công giáo này sẽ là một lực lượng quần chúng hùng mạnh.
Như chúng tôi đã có dịp trình bày ở những bài trước đây, ngày nay ở xã hội VN các chính đảng không có giá trị, vì không một chính đảng nào có thực lực, không một chính đảng nào có hậu thuẫn quần chúng đông đảo.
Chỉ còn lại Tôn giáo. Cả những chính đảng cũng dựa vào tôn giáo. Và vì các chính đảng phải dựa vào tôn giáo cho nên mặc nhiên các tôn giáo lớn trở thành một thứ siêu chính đảng. Do đó, yếu tố tôn giáo trong các cuộc bầu cử những cơ cấu dân cử là 2 tố quyết định.
Thế lực thứ ba là thế lực chính quyền. Thế lực này trước kia là thể lực mạnh nhất nhưng ngày nay nó chỉ mạnh ở một số địa phương. Các cuộc bầu Tổng thống, Thượng Viện, Hạ Viện 1967 và bán phần Thượng Viện 1970 cho thấy tại những nơi chỉ mục quan chiêm như Saigon Gia định, yếu tố chính quyền không có ưu thế. Trái lại thế lực này được gọi là tuyệt đối mạnh ở những địa phương xa xôi, nhất là tại những nơi thiếu an ninh.
Ngoài ba thế lực trên, hai tôn giáo Cao Đài Hòa Hảo cũng là một lực lượng đáng kể, nhưng chỉ ở một số địa phương bao quanh Thánh Địa của các tôn giáo này.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 19, 1971 trang nhất
Bài 15
XV
Theo sự dò hỏi của chúng tôi thì ngay từ bây giờ, các chánh khách đã bắt đầu lui tới cửa chùa và nhà thờ luôn luôn. Có những ông sáng chạy tới nhà thờ “lạy cha, Amen”, chiều tới chùa “Nam mô a di đà Phật”.
Những ông này tưởng như thế là khôn, bắt cá 2 tay. Nhưng thực ra thái độ đó chỉ tố giác tính chất «ma giáo», điều mà các vị lãnh đạo tinh thần kỵ nhất. Có thể, trên nguyên tắc vì lịch sự, các Thượng tọa và Linh Mục sẽ không nói ra. Nhưng sẽ không bao giờ các vị này lại ủng hộ bọn chánh khách ma đầu như vậy.
Không phải vấn đề kỳ thị tôn giáo mà vấn đề là những kẻ bắt cá hai tay thường cố tình tham lam tráo trở.
Trong quá khứ, khối cử tri Công giáo từng gặp phải những tay tráo trở một cách trắng trợn. Trong số báo Diều Hâu mới nhất, có một bài đề cập tới 1 ông Dân biểu bị coi là «giáo gian». Ông này là người Công giáo đắc cử nhờ phiếu bầu của cử tri Công giáo nhưng sau đó lại chạy theo Ấn Quang để hy vọng «ở xứ mù thì thằng chột làm vua.»
Thật ra Công giáo hay Phật giáo hay Cao Đài Hoà Hảo thì cũng là người V.N. có bổn phận phục vụ quyền lợi chung của đất nước dân tộc.
Nhưng bên cạnh quyền lợi tối thượng đó, đối với vai trò Dân biểu còn có khía cạnh quyền lợi địa phương hay thành phần xã hội mà mình đại diện. Một chính khách bước vào Hạ Viện bằng phiếu của công nhân - lao động - mang danh nghĩa đại diện Lao Động - mà khi sinh hoạt trong nghị trường lại chỉ bênh vực cho quyền lợi của một giai cấp tài phiệt chủ nhân là một điều không thể chấp nhận được.
Cũng vậy, một Dân biểu đắc cử bởi phiếu của cử tri Công giáo thì ít nhất phải có thành tín trước sau như một đối với quyền lợi tinh thần của Hội Thánh Công Giáo và phải biết phục vụ quyền lợi giáo dân, như thể một công việc Tông đồ, Chúa không bao giờ dạy các Tông đồ yêu kẻ này ghét kẻ kia. Tuy nhiên những tên «Judas» cũng không thể được vào nước Chúa. Nói cách khác, sự phản trắc là điều không thể chấp nhận được.
HỒNG DƯƠNG
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 20, 1971 trang nhất
Bài 16
XVI
Thật ra thì không ai có thể chấp nhận sự phản trắc. Trong kỳ bầu cử 1967, các ứng cử viên đã hứa rất nhiều nhưng suốt gần 4 năm nay, chưa có một ông Dân biểu nào thực hiện được 1/100 sự hứa hẹn của họ. Trái lại, hành động và tư cách của nhiều ông bà Dân biểu đã làm cho cử tri phải đỏ mặt vì thẹn. Người dân không thể không xấu hổ khi thấy vị đại diện của mình bán chữ ký, buôn lậu một cách trắng trợn. Trong trường hợp ông DB Nguyễn Ngọc Nghĩa đã trở thành một giai thoại điếm nhục. Trường hợp ông DB Phạm chí Thiện và Võ Văn Mẫu cũng là một nhục nhã cho ngành Lập Pháp.
Thị trường chính khách ô hợp và bẩn thỉu như vậy đó.
Với một tình trạng người làm chính trị kiểu ông Nghĩa ông Thiện, ông Mẫu, đất nước này làm sao khá được. Cuộc đấu tranh chính trị với CS mà chúng ta sắp phải đương đầu chắc chắn sẽ là một thảm bại, nếu chúng ta không kịp thời thanh lọc hết những chính khách bẩn thỉu, chấn chỉnh lại hàng ngũ những người đại diện dân.
Những khuôn mặt cũ rích trên sân khấu chính trị hiện nay hầu hết đã bị nám đen. Một cuộc Cách mạng toàn diện trong thị trường chính khứa cần phải được phát động ngay từ bây giờ.
Chẳng phải biết bắt chước con bồ nông của thi sĩ người Pháp mổ bụng thay hết ruột gan. Chỉ có một cuộc tẩy uế tận gốc rễ như vậy mới hy vọng cứu vãn được tình hình chính trị của miền Nam.
Và trong việc này, chính quyền không đủ khả năng làm. Bởi ngay trong chính quyền cũng còn đầy rẫy những thành phần chính khách xôi thịt.
Chỉ có người dân làm nổi. Người dân cùng một lúc phản tỉnh, cảnh giác, hợp quần, nhất chí dùng lá phiếu để gạt bỏ hết những khuôn mặt cũ rích mốc meo đang múa may quay cuồng trên sân khấu chính trị. Mang vào thị trường chính khứa một sinh khí mới.
Chúng tôi không dám quan niệm như Phó Tổng thống Kỳ phải gạt bỏ hết những người già. Nhưng chúng tôi quan niệm một thành phần trẻ chọn lọc dù sao cùng còn nhiệt huyết và hăng say lý tưởng phục vụ.
Nói như thế không có nghĩa người trẻ nào cũng làm việc được. Thật ra thực tế đã từng cho thấy nhiều người trẻ tuổi trong Hạ Viện hiện nay đã chỉ là một thứ giá áo túi cơm.
Khi nói tới những người trẻ, chúng tôi mong muốn nói tới một thành phần trẻ chọn lọc, hội đủ yếu tố «trẻ tuổi, trẻ tâm hồn, trẻ sáng kiến, nhưng già về suy tư và khả năng.»
Nói cách khác, đó là những người trẻ có kiến thức và khả năng, mà quá trình hoạt động chứng minh được tinh thần phục vụ còn hăng say.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 23, 1971 trang nhất
Bài 17
XVII
Chúng tôi mạn phép mở một dấu ngoặc lớn ở đây, để bắt vào một chuyện hết sức thời sự. Đó là vụ các Dân biểu buôn lậu bị thộp cổ tại trận. Các ông Phạm chí Thiện, Võ văn Mẫu và Nguyễn Quang Luyện.
Ông Võ văn Mẫu thì dính líu trong vụ 9 ký bạch phiến bị phát giác cách đây ít lâu. Ông Phạm chí Thiện mang lậu 4 ký bạch phiến và bị bắt quả tang tại phi trường Tân Sơn Nhứt. Cuối cùng là DB Nguyễn quang Luyện, đệ nhị phó chủ tịch Hạ Viện bị bắt quả tang tại Thái Lan mang lậu trong va li 15 kí lô vàng.
Thật ra đây không phải là lần đầu tiên xảy ra vụ DB buôn lậu. Trong quá khứ đã từng có nhiều ông DB xuất ngoại buôn lậu và bị phát giác. Số DB buôn lậu may mắn chưa bị phát giác còn nhiều hơn nữa. Những ông nay tuy chưa bị nhân viên hữu trách bắt quả tang, nhưng dư luận quần chúng thì lại biết rất rõ.
Các sự kiện này ít ra chứng minh cho những gì mà chúng tôi đã trình bày trong những bài trước đây về "thân phận Dân Biểu" nói riêng và về chính khứa nói chung.
Tình trạng chính trị ô hợp đã làm nảy sinh ra những chính khứa dơ bẩn và vô khả năng, bất xứng và số này tập trung khá đông ở trong Hạ Viện. Chúng tôi đã từng có dịp theo dõi sinh hoạt Hạ Viện suốt hơn 2 năm liền. Và điều mà chúng tôi có thể khẳng định là muốn tìm một ông DB có khả năng, sạch sẽ tư cách, có tỷ tưởng phục vụ … sẽ là một việc mò kim đáy biển.
Một nhận định khác của chúng tôi cũng đã được chứng minh là «những ông DB giàu có phần lớn là những người tham lam, thích vào Hạ Viện để làm áp phe hơn là làm việc nước.»
Chẳng hạn như trường hợp DB Luyện, ông ta là một người giàu. Bằng cớ là ông ta dám bỏ ra 19 triệu bạc chỉ để xây một cái pit xin [ piscine = swimming pool = hồ bơi ] trong nhà. Để có thể chi tiêu phung phí như thế tất nhiên ông ta phải có cách xoay tiền.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar. 24, 1971 trang nhất
Bài 18
XVIII
Hai ông DB Phạm chí Thiện và Nguyễn quang Luyện đều thuộc đơn vị Gia Định 1 tức là một nơi có số phiếu cử tri Công giáo được coi là quyết định.
Nói cách khác, 2 ông DB này đã nhờ xin được phiếu cử tri Công giáo mà đắc cử, do đó, trên phương diện tinh thần, ông Thiện và ông Luyện phải chịu trách nhiệm trước cử tri Công giáo Gia Định 1.
Trước hành vi bê bối của 2 ông Thiện, Luyện, có người cho rằng cử tri Công giáo Gia Định 1 có một phần trách nhiệm vì chính các cử tri này đã chọn bỏ phiếu cho 2 ông DB bê bối nói trên.
Cũng như khi một người con trai trưởng thành tự ý chọn vợ, chẳng may vớ phải cô vợ chẳng ra gì thì mình ráng chịu, không thể đổ trách nhiệm ấy cho ai được.
Lý luận như thế cũng đúng nếu quả thật các cử tri hoàn toàn đích thân chọn lựa ứng cử viên. Nhưng ở đây chúng ta hãy xem một vấn đề cần nêu ra là việc căn cứ trách nhiệm ấy lại hoàn toàn thể theo chọn lựa của các cử tri trong nề nếp tôn giáo và đoàn thể có kỷ luật rất chặt chẽ. Đối với thành phần phụ thuộc vào việc chọn lựa ứng cử viên thì họ sẽ chịu tùy thuộc một phần lớn vào sự chọn lựa của cấp lãnh đạo của họ. Họ sẽ bỏ phiếu cho ứng cử viên nào đã được cấp lãnh đạo tinh thần của họ chỉ định hay chính thức ủng hộ.
Chính đó là lý do tại sao các ứng cử viên luôn luôn phải chạy chọt các Thầy các Cha.
Sinh hoạt dân chủ ở xã hội Việt Nam chưa thành một truyền thống. Người dân nói chung còn chưa quen lắm với lề lối dân chủ nhất là chưa có kinh nghiệm đối với các sinh hoạt chính trị, do đó họ cũng chưa đào luyện được một ý thức chín chắn và quyền lực chính trị của mình qua lá phiếu và qua người đại diện của họ trong cử chính quyền. Bởi thế, nhiều khi họ chỉ coi công việc đi bầu như một bổn phận bất đắc dĩ phải thi hành chứ chưa ý thức rõ rệt đó còn là một quyền hạn để bảo đảm quyền lợi tinh thần và vật chất của họ.
Đó là tâm lý chung của phần lớn cử tri trong cuộc bầu cử 1967. Và hậu quả của tâm lý này là một Hạ Viện bất xứng, thiếu khả năng, bê bối, bẩn thỉu... như ngày nay.
Dù rất xót xa, nhưng cũng phải thành thật nhìn nhận 99% DB của chúng ta hiện nay chỉ là những thành phần múa rối, là những đào kép bất đắc dĩ, đóng tuồng một cách vụng về ngây ngô.
Nếu trong đó có được vài phần tử khôn ngoan, thủ đoạn thì lại chỉ là cái khôn ngoan thủ đoạn của giới làm áp phe.
Chúng ta không thể chấp nhận cái lý luận ngớ ngẩn của ông Luyện khi ông cho rằng DB Thiện vì nghèo nên mới phải mang thuốc phiện lậu đem về để lãnh công. Nói như vậy là gián tiếp nhục mạ giới nghèo.
Thật sự, nhiều người nghèo có lương tâm không làm công việc bẩn thỉu đó. Vả chăng, ông Luyện là một người rất giàu (có thể bỏ tới 19 triệu để xây một hồ tắm trong nhà) mà vẫn làm công việc buôn lậu như thường. Điều đó chứng minh hùng hồn rằng chính kẻ giàu hay làm bậy hơn kẻ nghèo.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar 26, 1971 trang nhất
Bài 19
XIX
Vả chăng, các DB không được cái vinh dự để tự coi là thành phần nghèo. Chưa kể những áp phe vặt như công tác đặc biệt, phụ cấp như vụ bán chữ ký và những áp phe lớn hơn như xuất ngoại đổi đô la và buôn lậu.
Nếu DB như vậy mà được coi là nghèo thì người công chức và người lính còn nghèo biết bao. Sẽ phải tìm một chữ nào khác thay thế chữ nghèo mà quân nhân, công chức đã giữ độc quyền trong hàng chục năm nay?!
Nói tóm lại, dối với các ông DB buôn lậu, không còn một lập luận nào có thể biện minh được cho tội trạng của các ông trước tòa án dư luận và tòa án lương tâm. Sự nghiệp chính trị của các ông bắt buộc phải chấm dút từ đây, và vết nhơ đó sẽ như một vết chàm không bao giờ tẩy sạch.
Trong một quốc gia đang bước sang giai đoạn đấu tranh chính trị cới quân cộng sản xâm lăng, một chính khách quốc gia bị đốt cháy là một thiệt thòi cho đất nước. Tuy nhiên, nếu chính khách bị đốt cháy hay đó là một kẻ bẩn thỉu như các ông Thiện, Luyện, thì đó là một cái lợi.
Cử tri Công giáo ở Gia Định sau vụ Thiện, Luyện đang dấy lên nỗi bất bình. Ngay như các vị lãnh tụ tinh thần cũng phải chia xẻ hành động mà hai ông Thiện, Luyện đã phản bội trắng trợn, làm nhục lây cho người đỡ đầu các ông và cho những cử tri đã bỏ phiếu cho các ông.
Do đó, người ta e ngại rằng các DB cũ nói chung sẽ khó mà tái đắc cử. Riêng các DB của đơn vị Gia định l càng không có hy vọng nào tái đắc cử.
Thật ra, nếu còn một chút liêm sỉ, các ông này không nên ra ứng cử nữa mới phải.
Tình trạng chính trị của chúng ta nhem nhuốc như vậy, nếu không có ngay một cuộc thanh lọc lớn, nếu không có một cuộc cải thiện sâu rộng, và nhất là nếu không tạo dựng ngay được một lớp người hoàn toàn mới thì sẽ không có hy vọng gì chiến thắng Cộng sản trong những giai đoạn sắp tới.
( còn nữa )
#Tien Tuyen Mar 27, 1971 trang nhất
Bài 20 [ kỳ cuối ]
XX
Hiện nay, mọi người đều ý thức rằng cuộc chiến đấu của chúng ta đang chuyển hướng. Giai đoạn đấu tranh sắp tới sẽ là một cuộc đấu tranh chính trị.
Những chính khách sẽ là những chiến sĩ. Nhưng, với tình trạng này làm sao chúng ta có được thứ chiến sĩ gan dạ, có khả năng và tinh thần chiến đấu anh dũng, bất chấp những khó khăn gian khổ như các chiến sĩ quân sự của chúng ta tại các mặt trận Kampuchea, Hạ Lào.
Hãy tưởng tượng mặt trận chính trị toàn diện sau này, đoàn quân của chúng ta sẽ là những ông Nguyễn quang Luyện, Phạm chí Thiện, Lê Tài Hòa, Võ văn Mẫu, Kiều mộng Thu, Dương văn Ba v.v...
Một toán quân vô khả năng, bất xứng, tham những, hèn nhátt và ô hợp như vậy, làm sao có thể chiến thắng được?
Cho nên, chúng tôi quan niệm phải có một cuộc cách mạng toàn diện ngay trong ý thức bầu cử của cử tri, phải nhìn cho rõ người, phải xét đoán cho kỹ càng trước khi quyết định chọn lựa một ứng cử viên, phải gạt vấn đề tình cảm tầm thường và phải tự đặt cho mình một trách nhiệm nặng nề đối với lá phiếu mà mình xử dụng.
Các cử tri cũng phải nhận thức rõ rệt một nhu cầu cấp bách là thay đổi toàn diện và tận cùng bộ mặt «thị trường chính khứa» hôm nay. Đưa vào thị trường những người mới có khả năng thiện chí, trong sạch từ căn bản để gây một sinh khí mới cho sân khấu chính trị.
Chỉ có cách đó chúng ta mới hy vọng chiến thắng Cộng sản thêm một trận nữa trên bình diện chính trị và chiến thắng này mới là chiến thắng quyết định cho sự sống còn của dân tộc, sự trường tồn của đất nước.
HẾT
□ HỒNG DƯƠNG $pageOut $pageIn Phân đoạn 4
ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản
#Tien Tuyen Mar. 01, 1969 trang ba #Tien Tuyen Mar. 01, 1969 trang ba
(Bài 003) Sinh Viên Quốc Gia Thờ Ma Cộng Sản
SINH VIÊN QUỐC GIA THỜ MA CỘNG SẢN
NẰM VÙNG TUYÊN TRUYỀN, PHÁ HOẠI BỊ 5, 6 NĂM Khổ Sai.
SAIGON – Hoạt động cho CS, hai sinh viên Nguyễn Văn Chín và Hồ Hùng Văn đã can tội phản nghịch và lần lượt bị kết án sáu năm và năm năm khổ sai.
Theo cáo trạng của Tòa án Quân sự Mặt Trận Lưu Động Vùng III, Nguyễn văn Chín, bí danh Chi, sinh viên Khoa học Xã hội, thuộc Viện Đại học Vạn Hạnh, đầu tháng 2-68 sau đợt tổng công kích Tết Mậu Thân của CS, đã tham gia hoạt động trong Ủy ban Cứu trợ đồng bào chiến nạn của Tổng hội Sinh viên Saigon.
Tháng 3-68, do sự tuyên truyền của Bùi Nghị, Phó Chủ tịch ủy ban Cứu trợ nói trên, Chín tham gia hoạt động trong cánh sinh viên học sinh giải phóng Thủ đô của Việt Cộng lập ra. Trong thời gian này Chín đã xây dựng được nhiều cơ sở trong giới sinh viên học sinh Saigon.
Tháng 6-68 Chín thuê căn gác tại nhà số 129/23, đường Nguyễn Trãi, để tiện hoạt động trong khu vực phường Chợ Quán.
Cuối tháng 7-8, Chín được đề bạt làm Tổ Trưởng và đã bảy lần nhận của giao liên VC 1 số quan trọng truyền đơn, cờ của cái gọi là “MTGP”, tài liệu VC và hai súng lục K-54 Trung Cộng.
Chín đã phân phối số tài liệu và truyền đơn trên cho các tổ viên để rải và treo cờ tại các đường phố, rạp hát và các cư xá tản mác tại Saigon.
Chín đã tìm hiểu các thành phần quân nhân, cảnh sát và cán bộ chính phủ cư ngụ trong khu vực Chợ Quán để chờ dịp Việt cộng tổng công kích thì sẽ hướng dẫn bộ đội Cộng sản lùng bắt các thành phần quốc gia đem ra Tòa án Nhân dân của Việt Cộng xét xử.
Ngày 10-9-68, Chín bị bắt tại sào huyệt là căn nhà 129/23 Nguyễn Trãi.
Bị can thứ hai, Hồ Hùng Văn, là sinh viên năm thứ ba Luật Khoa Sài gòn. Năm 1967 Văn được bầu làm Tổng Thư ký Ban Chấp hành Sinh viên Luật khoa, do Nguyễn Đăng Trừng làm Chủ tịch và Trịnh Đình Ban làm Phó Chủ tịch.
Tháng 6-68, Văn được kết nạp vào tổ võ trang tuyên truyền của Chín.
Văn đã nhiều lần móc nối các sinh viên học sinh để xây dựng công tác, cùng thực hiện công tác rải truyền đơn, treo cờ v.v…
Vân bị bắt ngày 13-9-68 tại nhà.
Trước Tòa, 2 bị can nhận các hoạt động trên và khước từ lời biện hộ của Luật sư.
Tòa đã xác nhận tội trạng của 2 bị can và tuyên phạt với bản án như trên.
Phiên tòa chiều nay họp tại Pháp đình Saigon, đường Công Lý, do Đại Tá Trần văn Quyền ngồi ghế Chánh thẩm và Đại úy Trương thanh Kiều ngồi ghế Ủy viên Chánh phủ.
#Chính Luận Feb. 26, 1969 trang nhất
(Bài 004) Vụ Thích Thiện Minh bị bắt #Chính Luận Feb. 26, 1969 trang nhất
Tổng Nha Cảnh Sát Họp Báo Cho Biết: Nhờ Biết Trước Kế Hoạch Của Dịch 12 Tiếng Đồng Hồ Trước Khi Tiếng Súng Đầu Nổ
Phá Vỡ Mưu Toan Tổng Công Kích Đô Thành Đợt 4
BẮT SỐNG 32 ĐẶC CÔNG QUYẾT TỬ CỘNG SẢN.
«CỌP CÁI» QUẬN 6 ĐÃ BỊ SA BẪY, ĐANG TRUY LÙNG CÁC «CỌP CÁI» KHÁC Ở CHOLON
►Bắt Giữ Thượng Toạ Thiện Minh Vì «Khám Phá Thấy Nhiều Tài Liệu Cộng Sản Và 1 Căn Phòng Bí Mật Tại Cư Xá 294 Công Lý Do Thượng Toạ Làm Quản Đốc.»
►Phá Tan Một Tổ Chức Võ Trang Tuyên Truyền Cộng Sản Ở Đường Trương Minh Giảng, Bắt 11 Sinh Viên Với Nhiều Súng Đạn, Chất Nổ
by Duy Sinh
Saigon 25-2 – Đại tá Trần Văn Hai, Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, nhân dịp chủ toạ cuộc họp báo quan trọng sáng nay, cho biết mục đích họp báo là nhằm trình bày trước dư luận trong và ngoài nước những nỗ lực không ngừng và thành quả của ngành Cảnh Sát trong việc phá vỡ các tổ chức khủng bố, tấn công, xách động của Cộng sản trong thời gian gần đây. Chi tiết các thành quả đã được Thiếu Tá Nguyễn Mâu, Phụ Tá Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia Đặc Trách Cảnh Sát Đặc Biệt, Và Thẩm Phán Trang Sĩ Tấn, Giám Đốc Nha Cảnh Sát Đô Thành lần lượt trình bày.
Mưu Toan Tổng Công Kích Đợt 4
Trước hết, Thiếu Tá Nguyễn Mâu trình bày vụ tiêu diệt toàn bộ chỉ huy quận 6 của Việt cộng, thành phần nòng cốt của mưu toan tổng công kích đợt 4.
Do việc khai thác cung từ, tài liệu, Cảnh Sát Đặc Biệt khám phá ra công thức X 4 ngày J + 7 giải thích công thức cho thấy địch mưu toan tấn công Đô thành vào ngày 22 với chiến thuật tiền pháo hậu xung (pháo kích trước, xung phong phá hoại sau) sau đó sẽ xách động đấu tranh chính trị, phá nhà đèn, khủng bố ám sát, đặt chất nổ tối đa mà nỗ lực quan trọng nhất là nhằm vào quận 6. Nhờ có mật báo, Cảnh Sát Quốc Gia biết trước kế hoạch của địch 12 tiếng đồng hồ trước tiếng súng đầu tiên, nên đã kịp thời theo dõi khám phá, bao vây tiêu diệt toàn bộ chỉ huy của địch ở quận 6 (đặt tại số 314/6 đường Lò Siêu) bắt sống tại chỗ 43 tên đặc công quyết tử trong số đó có tên Nguyễn v. Thành tự Năm Tiến, bí thư thường uỷ được coi như quận trưởng quận 6 của Việt cộng. Chính Năm Tiến đã hợp tác trong các kế hoạch phản tình báo và hiện được coi như sĩ quan cao cấp hồi chánh.
Cọp Cái Bay Bướm
Thiếu Tá Nguyễn Mâu đem trình diện trước báo chí một nữ đặc công VC có biệt tài xử dụng súng K-54 và lái xe Honda rất tài tình bay bướm. Nữ đặc công này, tên Tăng thị Hoa, là một trong những con cọp cái hung thần của tổ chức đặc công VC quyết tử quận 6, hiện Tăng thị Hoa đang hợp tác với Cảnh sát để truy nã các con cọp cái khác tại Cholon. Cảnh Sát Đặc Biệt đã tịch thâu tại bộ chỉ huy này toàn bộ võ khí gồm 21 súng K-54, 8 AK-47, 2 Carbine, một số chất nổ khổng lồ C4 gồm 150 hộp chất nổ đủ loại. Vụ phá vỡ này khiến an ninh tại Cholon yên tịnh ít nhứt 1 tháng trước khi địch có thời giờ củng cố cơ sở.
Vụ Bắt Giữ Thượng toạ Thích Thiện Minh
Thẩm Phán Trang Sĩ Tấn, Giám Đốc Nha Cảnh Sát Đô Thành trình bày cặn kẽ vụ lục soát Cư Xá 294 Công Lý do tu sĩ Đỗ Xuân Hàng tức Thượng toạ Thích Thiện Minh làm Quản đốc.
Do việc bắt giữ tên Cao Duy Tuấn, bí thư chi bộ Cộng sản, theo cung từ, y đặt trụ sở tại Cư Xá 294 Công Lý nên vào hồi 2 giờ 30 đêm 23-2-1969, Cảnh Sát Đô Thành đã khám xét Cư Xá này theo đúng luật lệ hiện hành. Tại đây, Cảnh Sát tịch thâu 1 súng lục Trung cộng K-54 cùng nhiều tài liệu Cộng sản trong phòng A7 (phòng của Cao Duy Tuấn). Ngoài ra, Cảnh Sát còn bắt được nhiều thư chúc Tết của Hồ chí Minh, 3 mẫu thư được mang ra trình diện trong đó thư chúc Tết ký tên Hồ chí Minh với các câu như: - Năm qua thắng lợi vẻ vang, Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to. Vì độc lập vì tự do. Đánh cho Mỹ cút đánh cho nguỵ nhào. . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Tại phòng Thượng toạ Thiện Minh, Cảnh Sát đã bắt giữ 8 thanh niên bất phục tùng, đào ngũ, hoạt động cho Cộng sản.
Ông Tấn cho biết, Cảnh Sát còn tìm thấy một chiếc tủ có 2 đáy với cánh cửa ăn thông vào một căn phòng bí mật, mà nhu cầu điều tra chưa cho phép công bố những gì đã tìm thấy trong căn phòng này.
Tại Cư Xá 294, Cảnh Sát còn bắt giữ một số thanh niên bất phục tùng, không giấy tờ chứng minh, trốn trong các phòng tắm, mái nhà Cư Xá.
Quan trọng hơn cả, Cảnh Sát đã tìm thấy một lá thư do Thượng toạ Thiện Minh gửi cho một tu sĩ khác xác nhận tại Cư Xá này có cất giấu chất nổ, võ khí, tài liệu Cộng sản, và cất giấu thanh niên bất phục tùng, đào binh.
Đáp câu hỏi về số phận Thượng toạ Thiện Minh, ông Nguyễn Thạch Vân, Phụ tá Đặc biệt Phủ Thủ tướng cho biết, hiện Thượng toạ Thiện Minh được tạm lưu giữ tại mợt cơ quan an ninh và được cư xử rất tương xứng. Thượng toạ bị lưu giữ để trả lời về trách nhiệm hiểu biết – liên hệ giữa ông và tổ chức Cộng sản tại Cư Xá 294 Công Lý mà cơ quan an ninh vừa bắt giữ. Cuộc điều tra đang tiến hành. Nếu xét có tội thì việc đó thuộc thẩm quyền của cơ cấu Tư pháp còn Cảnh Sát chỉ có nhiệm vụ điều tra.
Nhân dịp này, ông Tấn xác nhận rằng, chỉ có một mình Thượng toạ Thiện Minh bị bắt giữ, ngoài ra không có một tu sĩ nào khác bị câu lưu.
Thẩm Phán Trang Sĩ Tấn cũng trình bày thành quả phá vỡ Tổ chức Võ trang Tuyên truyền Cộng sản tại đường Trương Minh Giảng, bắt giữ 11 sinh viên, 2 súng K-54, 200 viên đạn, 10 bánh thuốc nổ và một số ống loa.
Cảnh Sát Đô Thành đã đem trình diện sinh viên Phạm mạnh Hùng bị bắt quả tang trong khi dùng 20 lit xăng toan đốt chợ Bến Thành đêm 29 Tết, cùng tổ chức thả bong bóng truyền đơn tại Cửa Tây chợ Bến Thành. Ngoài ra còn phá vỡ tổ đặc công tại quận 4, bắt 4 đặc công, 3 kg TNT, 1 máy đánh chữ, 3 đồng hồ gài mìn.
Cuối cùng, Thẩm Phán Trang Sĩ Tấn kết luận rằng, những thành quả vừa trình bày chứng tỏ sự cố gắng tối đa, liên tục của Cảnh Sát Quốc Gia trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho các sinh hoạt chính trị quốc gia đồng thời đập tan mọi mưu toan phá hoại, tấn công, xách động quần chúng … của Cộng sản.
Trả lời Báo chí
Đáp câu hỏi của Chính Luận rằng những thành quả vừa trình bày có đủ khả năng đập tan mưu toan tấn công đợt 4 của Cộng sản không, và trong những ngày tới Cộng sản còn có thể tái diễn những vụ tấn công pháo kích không, Đại tá Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia cho biết, việc địch có khả năng tấn công Đô thành thuộc phạm vi của Thiếu tướng Tổng Trấn, riêng về phạm vi của Cảnh Sát, ông đoan chắc sẽ tiếp tục duy trì những thành quả đã thâu lượm được và quyết tâm phá tan mọi mưu toan phá hoại, khủng bố ám sát của Cộng sản để giữ an ninh cho đòng bào.
Thành phần chủ toạ cuộc họp báo cũng đã không tiết lộ con số sinh viên, thanh niên bị bắt tại Cư Xá 294 Công Lý mà chỉ cho biết có một số bị giữ và một số đã được trả tự do.
Trả lời những câu hỏi rằng, việc bắt giữ Thượng toạ Thiện Minh có ảnh hưởng gì tới Phật giáo hay không, ông Nguyễn Thạch Vân nói rằng cuộc điều tra chỉ hướng vào các tổ chức Cộng sản và những người liên hệ. Luật pháp được áp dụng đồng đều cho mọi công dân trong nước và quan niệm Pháp trị là nền tảng của Chế độ Pháp trị.
Tin tức trên sách Niên Ký “Việc Từng Ngày 1969” của Đoàn Thêm, cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, Saigon 1971
✑ trang 93
── Ngày 15-3-1969, Toà án Quân sự Lưu động Vùng III tuyên phạt: 10 năm khổ sai thượng toạ Thích Thiện Minh tức Đỗ Xuân Hàng; từ 3 năm tù ở đến 20 năm khổ sai 8 sinh viên bị bắt tại Cư xá Quảng Đức, Cư xá này bị tịch thu.
✑ trang 94
── Ngày 16-3-1969 lễ cầu nguyện tại chùa Ấn Quang Saigon, cho thượng toạ Thích Thiện Minh. Trong cuộc họp báo sau buổi lễ, thượng toạ Thích Trí Quang tuyên bố: người Mỹ phải chịu trách nhiệm về vụ án Thích Thiện Minh.
✑ trang 95
── Ngày 17-3-1969 Toà án Quân sự Mặt trận Vùng III tuyên phạt: 5 năm cấm cố thượng toạ Thích Thiện Minh tức Đỗ Xuân Hàng vì tội tán trợ đào binh; từ 2 năm tù ở đến 5 năm cấm cố 3 đào binh ngụ tại Cư xá Quảng Đức; Thượng toạ Thiện Minh chỉ phải chịu hình phạt nặng nhứt là 10 năm khổ sai do Toà án Quân sự tuyên phạt hôm 15-3 vừa qua.
── Theo một Văn thư gởi Thủ tướng [ Trần Văn Hương ], Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho phép giam giữ thượng toạ Thiện Minh tại một cơ sở riêng có đủ tiện nghi để điều trị và hành lễ.
✑ trang 173
── Ngày 24-5-1969: [ Thủ tướng Trần Văn Hương ] ký sắc lệnh hoán giảm còn 3 năm tù cho hình phạt 10 năm khổ sai và 5 năm cấm cố của Đỗ Xuân Hàng, pháp danh Thích Thiện Minh, sinh năm 1921 tại Quảng Trị (SL. 189/TT/SL)
#Tien Tuyen Oct. 31, 1969 trang nhất
#Tien Tuyen Oct. 31, 1969 trang nhất
Cùng với 310 can nhân được ân xá nhân dịp Quốc Khánh
T. Tọa THIỆN - MINH ĐÃ ĐƯỢC TRẢ TỰ DO SÁNG 30-10
★ Ông cho biết được đối xử tử tế và không hề bị đầu độc ★ Trước khi về chùa, Thượng Tọa được mời đến gặp Trung tướng Nguyễn Văn Minh
SAIGON 30-10 (VTX).— Thượng Tọa Thích Thiện Minh tức tu sĩ Đỗ xuân Hàng đã được phóng thích sáng 30-10.
Trong cuộc tiếp xúc với các đại diện báo chí tại doanh trại Tiểu đoàn 6 Quân Cảnh thuộc Trại Lê Văn Duyệt, Thượng Tọa Thiện Minh cho biết ông được tin chánh phủ phóng thích ông từ 21 giờ tối 29-10, và trong suốt thời gian bị giam giữ ở đây thượng tọa được đối xử một cách tử tế. Thượng Tọa Thiện Minh nói rõ «tôi được phép dạo quanh cửa nhà giam giữ này và được thân nhân thăm hỏi một tuần hai lần như chính phủ đã cho phép trước đây.»
Trước khi rời căn nhà giam gồm có đủ bàn thờ phật, phòng tiếp khách và một phòng ngủ hẹp, Thượng tọa Thiện Minh đã cải chính dư luận cho rằng ông bị đầu độc nên phải đi điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Ông nói rõ rằng “Tôi không tin có sự đầu độc tôi”.
Thượng tọa Thiện Minh cho biết hiện tại sức khỏe của ông rất yếu kém và phải tĩnh dưỡng một thời gian. Về các hoạt động trong những ngày tới Thượng Tọa Thiện Minh nói: “Tôi chưa có ý định gì”. Thượng tọa nói tiếp: “Tôi chưa biết Viện Hóa Đạo (Ấn Quang) có giao cho tôi trách nhiệm gì trong những ngày tới không ?”
Được hỏi về việc sẽ trở về chùa nào, Thượng Tọa Thiện Minh nói rằng «tùy ở đây muốn đưa tôi về đâu cũng được.»
Thiếu tá Nguyễn Khắc Chiểu Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu đoàn 6 Quân Cảnh đã nói với báo chí rằng “Chúng tôi nhận lệnh phóng thích Thượng Tọa từ sáng sớm, nhưng giấy tờ do Nha Quân Pháp chuyển tới lúc 10 giờ. Về giờ ra khỏi trại giam thì do Thượng Tọa Thiện Minh tự ấn định.
Cuối cùng, Thượng Tọa Thiện Minh đã yêu cầu đại diện báo chí chuyển lời cảm ơn đồng bào phật tử quốc nội và quốc ngoại đã lưu tâm đến tình trạng của ông. Thượng Tọa Thiện Minh cũng cho hay rằng sáng 30-10 Đại Đức Nhật Thiện đã tới thăm viếng ông.
Tới 11 giờ 30 sau khi tiếp xúc với báo chí Thượng Tọa Thiện Minh đã được mời lên một xe Jeep của Quân Cảnh. Theo lời sĩ quan báo chí Bộ Quốc Phòng cho biết Thượng Tọa Thiện Minh được mời đi gặp Trung Tướng Nguyễn văn Minh, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô trước khi rời khỏi trại Lê Văn Duyệt.
Tưởng cũng nên nhắc lại là Thượng Tọa Thiện Minh được phóng thích trong khuôn khổ cuộc ân xá 310 can nhân nhân dịp Lễ Quốc Khánh năm nay theo Sắc lệnh số 612 và 613 của Tổng thống ký ngày 29-10-1969.
LTC: Thích Thiện Minh không một lời cảm ơn chánh phủ đã đại xá cho mình: bản án 10 năm tù, rốt cuộc chỉ ở tù chưa tới 1 năm! Nhiều anh em bạn hữu của tôi khi đọc tới bản tin này, phần lớn đều ngạc nhiên tột độ khi thấy Chánh quyền Quốc gia đã quá sức nhân từ nhân ái, đã dành cho các tôn giáo một sự biệt đãi quá lớn. Các anh em nhận xét: nuông chìu quá hóa hư! Ngẫm lại, tôi thấy lời nhận xét hết sức chí lý!
Đại lễ cầu nguyện quốc thái dân an nhân ngày Quốc Khánh tại Việt Nam Quốc Tự
SAIGON 30-10. — Theo một thông cáo của văn phòng Viện Hóa Đạo, để kỷ niệm ngày Quốc Khánh 01-11-1963 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất sẽ tổ chức đại lễ cầu nguyện cho quốc thái dân an vào hồi 16 giờ, ngày 01-11-1963 tại Việt Nam Quốc Tự, 16 Trần Quốc Toản, Saigon.
Đại lễ được đặt dưới quyền chủ tọa của Thủ tướng Chánh phủ VNCH { Trần Thiện Khiêm }. [ Thủ tướng, cụ Trần Văn Hương, thoái vị ngày 23-8-1969. Ngày 23-8-1969: Đại tướng Trần Thiện Khiêm được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ định thành lập nội các mới. Ngày 1-9-1969: Nội Các Trần Thiện Khiêm trình diện. ]
Thông cáo cũng kêu gọi chư tôn Hòa Thượng, Thượng tọa Đại Đức Tăng, Ni cùng đồng bào Phật tử các Giáo phái, Hội đoàn trong 11 Quận Đô Thành và Gia Định, hoan hỷ quang lâm Việt Nam Quốc Tự đúng 16 giờ, ngày 1-11-69 kể trên để cùng chung cầu nguyện cho đất nước Việt Nam sớm được hòa bình an lạc.
Đồng thời Viện cũng yêu cầu quý Thượng Tọa các cấp Giáo Hội trên toàn quốc và Nha Tuyên úy Phật giáo nên tổ chức lễ kỷ niệm này một cách trọng thể để tưởng nhớ công đức hy sinh cao cả của cố Hòa thượng Thích Quảng Đức và Chư Thánh Tử Đạo, các chiến sĩ cùng đồng bào đã hy sinh cho đại nghĩa Quốc gia và Đạo Pháp.
LTC phụ chú:
A - Thích Thiện Minh (1921 – 1978) | Thích Trí Quang (1922 – 2019)
Đây là 2 thượng tọa Phật giáo được kể như 2 thủ lãnh xông xáo nhất của khối Phật giáo Ấn Quang trong mười năm từ 1965 đến 1975 tại VNCH, góp phần gây rối chánh quyền Quốc Gia và làm lợi cho CSBV.
Cả 2 nổi lên vào mùa Hè – tháng 5 – năm 1963 khi xách động phong trào Tranh đấu Phật giáo ồn náo ở Đài Phát thanh Huế, chống chính quyền Đệ I Cộng Hòa, Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Lúc này, Thiện Minh đang cầm đầu Ngành Thiếu Gia Đình Phật Tử [ * ] và vai vế còn nằm dưới Trí Quang. Nếu Trí Quang là một tay thuật sĩ về đầu óc của phe Phật giáo Tranh đấu thì Thiện Minh là một thủ túc của Trí Quang với chiến thuật dày kinh nghiệm. Khi cuộc biểu tình của Phật giáo khởi sự vào tháng 5-1963, Thiện Minh lập tức dùng Ngành Thiếu của mình để làm sôi thêm lửa nóng cho sinh viên học sinh. Giới Sinh viên đại học và học sinh trung học vốn xưa nay vẫn không để ý chính trị thì bây giờ được xúi giục xuống đường. Các nhóm biểu tình lập ra tại từng trường trong các trường đại học lớn ở Huế và Saigon.
Sau vụ đảo chánh lật đổ chế độ Đệ I Cộng Hòa ngày 1-11-1963, 2 thủ lãnh Thiện Minh và Trí Quang của phe Phật giáo Tranh đấu như ngôi sao xẹt bốc lên chín tầng mây và nghiễm nhiên biến thành một thế lực chính trị, thậm chí trở thành một thứ siêu chính quyền. Và ở đây, ta thấy lẽ Vô Thường của nhà Phật hiện lên rõ ràng. Giống như bất kỳ một tổ chức chính trị nào trên cõi đời ô trược này, trong hàng ngũ các đầu lãnh Phật giáo Tranh đấu bây giờ bắt đầu ngấm ngầm ló ra tình trạng chen vai thích cánh tranh dành ngôi thủ lãnh, làm xếp thiên hạ, cho dù bề ngoài thì vẫn mặc áo tràng vàng, đầu cạo trọc và luôn mồm nhân danh Đạo pháp.
Thời đoạn từ tháng 9-1966 trở về trước, giữa Thích Tâm Châu với Thích Trí Quang đã xảy diễn một mối bất bằng âm ỉ. Mối bất hòa đó ngày một phình to ra và tình trạng âm thầm tranh chấp giữa đôi bên trong lòng nội bộ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (PGVNTN) cũng ngày một tràn ra tung tóe hết còn giữ kín được nữa. Thời điểm Giáo hội PGVNTN bể làm hai có thể kể từ lúc Thích Tâm Châu quay về Sài Gòn vào đầu tháng 9-1966 (sau 2 tháng lánh mặt) giành lại Viện Hoá Đạo lúc này do Thích Thiện Hoa làm Quyền Viện Trưởng từ ngày 23-7-1966. Tâm Châu triệu tập một Đại Hội Phật giáo tổ chức từ ngày 21 đến 22 tháng 10-1966 tại Việt Nam Quốc Tự (viết tắt là VNQT hay có khi chỉ gọi là Quốc Tự), số 16 đường Trần Quốc Toản, Cholon. Lúc này, phe Thượng toạ vây cánh với Trí Quang bèn quay về chùa Ấn Quang (số 243 đường Sư Vạn Hạnh, Cholon) và tự bầu ra một Hội đồng Viện của riêng họ vào 3 giờ sáng ngày 23-10-1966. Kể từ đây, bỗng nhiên có 2 Viện Hoá Đạo: một thuộc Khối Việt Nam Quốc Tự - Thích Tâm Châu và một (tiếm danh) thuộc Khối Trí Quang (Ấn Quang). Phe Ấn Quang không hoặc ít dùng danh từ “Viện Hoá Đạo”, thay vào đó, thường là họ dùng danh từ “Viện Tăng Thống”. Khối Việt Nam Quốc Tự lặng lẽ hợp tác với chính quyền quốc gia, còn Khối Trí Quang thì chống. Sự chống đối của phe Ấn Quang nhắm vào Khối Việt Nam Quốc Tự - Thích Tâm Châu lên tới đỉnh điểm vào đầu tháng 5-1970 khi phe Ấn Quang kéo qua tấn công chiếm cứ VNQT gây cảnh hãi hùng mà báo giới đương thời gọi là Máu Đổ Cửa Thiền. Mời bạn đọc xem chi tiết nơi phân đoạn 9 của Post này.
Tết Nguyên Đán Mậu Thân nhằm ngày 29-1-1968, VC giả vờ giao ước hưu chiến 3 ngày để hai bên ăn Tết, nhưng đã thủ sẵn mưu hèn đánh trộm miền Nam ngay vào giờ Giao Thừa, gây nên thảm cảnh Máu Nhuộm Ngày Xuân, một tội ác của tập đoàn máu Cộng sản Hanoi vô tiền khoáng hậu trong lịch sử của nhân loại. Khi toàn dân miền Nam đang y phục chỉnh tề, nhang trầm nghi ngút, nghiêm trang hành lễ trước bàn thờ gia tiên đón giờ khắc thiêng liêng đầu năm mới thì VC đồng loạt khai hỏa tấn công 36 trong số 44 tỉnh miền Nam và 6 thị xã, cùng với 64 trong số 242 quận lỵ trên lãnh thổ VNCH. Riêng thủ đô Saigon, Việt cộng khởi sự tấn công vào đêm mồng 1 Tết.
Sau đây là các mục tin tức (có liên hệ tới phần Phụ Chú này) ghi lại trên sách Niên Ký “Việc Từng Ngày 1968” của Đoàn Thêm, do cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, Saigon 1969:
✑ ngày 2-2-1968 tức Mồng Bốn Tết: Khu chùa Ấn Quang bị cháy. Có 2 trái hoả tiễn B-40 rơi trúng phòng Thượng toạ Thích Trí Quang làm 1 tướng và 1 tá VC bị tử thương: có tin hành doanh của VC đặt tại chùa này. – trang 43
✑ ngày 2-3-1968: Cảnh sát Quốc gia khám phá 6 hầm bí mật trong phòng ngủ của các Sư ở Tịnh xá Giáo hội Tăng già Khất sĩ, đường Nguyễn Trung Trực, Gia Định – trang 81
✑ ngày 4-3-1968: Theo Tổng Nha Cảnh sát, Thượng toạ Thích Đôn Hậu (Khối Ấn Quang) đã đi theo VC từ ngày Huế bị đột nhập, và đã lên lời kêu gọi dân chúng hãy đi theo MTGP-mặt trận giặc phỉ- từ ngày 28-2 trên đài phát thanh VC – trang 82
(bạn đọc chú ý: sau cú tổng công kích đánh trộm vào giờ Giao Thừa Tết Mậu Thân bị thất bại ê chề, VC say máu mở tiếp một trận đánh thiêu thân đợt 2 từ ngày 5-5-1968 và lần này chúng bị Quân đội Quốc gia đánh trả đến tan tác. Miền Nam Quốc Gia chìm trong khói lửa chiến tranh ngay từ ngày đầu Xuân, cho nên các tờ báo lớn mà tôi đang có như Chính Luận, Tiền Tuyến, Hòa Bình … bị lâm vào tình trạng đình bản một cách tự nhiên. Chính Luận thì mãi tới ngày Aug. 19, 1968 mới tục bản, còn Tiền Tuyến thì tục bản vào đầu tháng 9-1968, Hòa Bình hoàn toàn không có số báo nào trong năm 1968. Vì thế, những tập sách Niên Ký của Đoàn Thêm là nguồn sử liệu vô cùng quý báu)
Ngày 22-2-1968 (nhằm ngày 25 Giêng Mậu Thân), Cảnh sát Đô thành bắt giữ Thích Trí Quang [ cùng với một vài chính khách khác có thiên hướng trung lập hoặc thân cộng như luật sư Trương Đình Dzu, và cựu Tổng Ủy Kinh tế Tài chánh (thời Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ 1965) Âu Trường Thanh ] đem đi giam lỏng một nơi cách biệt. Việc Trí Quang bị cô lập đã là cơ hội bằng vàng cho viên phó tướng hàng đầu của ông ta, Thích Thiện Minh, nghiễm nhiên trở thành thủ lãnh của đoàn Phật giáo Tranh đấu. Khi Trí Quang được thả ra vào ngày 30-6-1968, hai chiến hữu vốn thân thiết khi xưa, nay rục rịch kèn cựa nhau để giành quyền làm chủ đoàn Phật giáo Tranh đấu. Lúc này, Thích Thiện Minh là Phó Viện Tăng Thống/Hóa Đạo Ấn Quang kiêm Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ Thanh Niên Ấn Quang. Viện trưởng Viện Tăng Thống Ấn Quang là Thích Thiện Hoa. Tình trạng lục đục giữa Trí Quang với Thiện Minh bắt đầu từ đây.
Đến năm 1970, nội bộ Phật giáo rạn nứt trầm trọng có thể dẫn tới lại bể đôi. Lần này là ngay trong Khối Ấn Quang.
Ngày 7-9-1970, Thích Thiện Hoa, Viện trưởng Viện Tăng Thống/Hóa Đạo Ấn Quang đã bất đồng với Thích Huyền Quang Tổng Thư ký Viện Tăng Thống/Hóa Đạo Ấn Quang trong việc ủng hộ Liên danh nào trong cuộc bầu cử Bán phần Thượng Viện (diễn ra vào ngày ngày 30-8-1970) nên tự ý bỏ về quê (chùa Phước Hậu ở Trà Ôn, Vĩnh Long) nhiều ngày liền và đến ngày 14-9-1970 thì Thích Huyền Quang nắm quyền Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống/Hóa Đạo Ấn Quang. Cớ sự là, Thích Thiện Hoa ủng hộ một Liên danh có nhiều người miền Nam, còn Thích Huyền Quang thì ủng hộ Liên danh (số 11) dấu hiệu Hoa Sen do ông Vũ Văn Mẫu thụ ủy gồm nhiều người miền Trung. Kết quả bầu cử chính thức công bố vào ngày 14-9-1970: Liên danh Hoa Sen đắc cử (về nhất) với 1.149.597 phiếu. Vụ rạn nứt này không gàn gắn được. Sau đó, Thích Thiện Hoa ngỏ ý muốn từ chức Viện trưởng và Thích Huyền Quang vẫn giữ chức vụ Xử lý Thường vụ Viện trưởng. Ngày 23-1-1973, Thích Thiện Hoa từ trần tại nhà thương Grall Saigon vì bệnh cũ tái phát, thọ 55 tuổi, người chính thức lên chức Viện trưởng Viện Hóa đạo Ấn Quang là Thích Trí Thủ (đang giữ chức Tổng Vụ trưởng Tổng vụ Hoằng pháp Ấn Quang). Cũng ngày này, theo giờ Mỹ là ngày 22-1-1973, cựu Tổng thống Mỹ Johnson cũng từ trần tại Quân Y Viện Brooke vì bệnh tim, thọ 64 tuổi.
Ngày 15-6-1971, Thích Thiện Minh rút lui khỏi cả hai chức vụ Phó Viện Tăng Thống lẫn chức Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ Thanh Niên Ấn Quang. Theo các nguồn tin thân cận các đầu lãnh thượng tầng Khối Ấn Quang thì nguyên do khiến Thiện Minh làm đơn từ chức là vì sự bất đồng về việc ủng hộ liên danh tranh cử Hạ Nghị viện và Tổng thống [ cuộc bầu cử Hạ Viện sẽ diễn ra vào ngày 29-8-1971 và bầu cử Tổng thống diễn ra vào ngày 3-10-1971 ] giữa Thiện Minh với các chức sắc thượng tầng khác. Cũng theo nguồn tin nói trên, Thích Thiện Minh sẽ lập một phe nhóm khác, ban đầu là để tập trung vận động đưa người ra tranh cử vào Hạ Viện năm nay, cũng như có lập trường ủng hộ hay không cuộc bầu cử Tổng thống sắp tới, còn về sau thì chưa biết. Tuy nhiên, theo giới quan sát am hiểu tình hình thì Thích Thiện Minh và Thích Trí Quang kể như rã đám từ đây. Thiện Minh có ý muốn rút ra khỏi Khối Ấn Quang để hình thành một thế lực riêng của mình.
B – Thích Thiện Minh và PGVNTN chịu ơn Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng như thế nào?
Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng (1920 – 1970) [ xem Bài Đọc Thêm dưới đây ] là một trong những nhà đại phú bậc nhất Nam Việt Nam, mới về nước hồi tháng 11-1965 sau một năm xuất ngoại. Ông Nguyễn Cao Thăng là Tổng Giám Đốc Dược Viện “Office Pharmaceutique du Vietnam” (OPV), một viện Bào chế Dược phẩm bề thế của Việt Nam Cộng Hòa ( Nguyên OPV là một hãng dược phẩm của Pháp thành lập ở Huế hồi năm 1950 và Dược sĩ Thăng mua lại vào năm 1956. )
Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng đã hào phóng hiến đất xây cất Viện Đại học Vạn Hạnh (ở số 222 Trương Minh Giảng Saigon). Lễ đặt viên đá đầu tiên xây cất Viện Đại học Vạn Hạnh vào ngày 9-6-1965.
Ông cũng tài trợ kinh phí để dựng nên đạo tràng thuộc quyền Thích Thiện Minh [ xem phần C dưới đây ], thủ lãnh Ngành Thiếu Gia đình Phật tử Giáo hội PGVNTN.
C – Đạo tràng này là Cư Xá Quảng Đức, số 294 đường Công Lý Saigon, rất gần với chùa Vĩnh Nghiêm (339 Công Lý) thường gọi là Miền Vĩnh Nghiêm. Đây cũng là nơi đặt làm trụ sở Tổng Vụ Thanh Niên của Thượng toạ Thích Thiện Minh.
Sau khi miền Nam thất thủ, hàng Giáo phẩm cao cấp của Giáo Hội PGVNTN đều bị cộng sản bắt giam hoặc khống chế bằng lệnh miệng “cấm cố” trong đó có Thích Trí Quang.
Ngày 13-4-1978 Thích Thiện Minh bị cộng sản bắt giam nhiều tháng và rốt cuộc bị tra tấn đến chết tại Tổng Nha Cảnh Sát (cải danh thành Bộ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia kể từ 1971), số 266 đường Võ Tánh-quận Nhì Saigon, rồi đem xác ra Hàm Tân.
Ngày 18-10-1978, Thượng toạ Thích Trí Thủ (1909-1984), Viện Trưởng Viện Hoá Đạo (Viện Tăng Thống) PGVNTN Khối Ấn Quang từ năm 1970, đang trú ở chùa Quảng Hương Già Lam (số 498/11 Lê Quang Định, Gia Định) thì nhận được giấy báo tử của công an cộng sản báo tin Thích Thiện Minh đã chết tại Hàm Tân (tỉnh lỵ tỉnh Bình Tuy VNCH). Thượng toạ Trí Thủ cùng với vài môn đồ khăn gói đi ra Hàm Tân chỉ để đứng từ xa thi thể (đã được che đắp kỹ chỉ chừa ra khuôn mặt bị bầm tím và môi miệng bị dập đứt) mà nhận diện và xác nhận cái chết của Thích Thiện Minh trong giây lát, ngoài ra không được lại gần vuốt mắt hoặc cử hành bất cứ nghi thức an táng nào vì chính miệng cán bộ cộng sản nói Thích Thiện Minh là tù nhân do đó phải được trại giam đem chôn tại chỗ. Phái đoàn Thượng toạ Trí Thủ phải quay về và cho đến nay người ta vẫn không biết cộng sản đã chôn Thiện Minh ở đâu.
Cho đến ngày mãn phần 8-11-2019, Thích Trí Quang câm nín trước cái chết này, cũng như hoàn toàn im miệng từ 30-4-1975 trước hàng loạt vụ nhà nước cộng sản bách hại man rợ tàn khốc hàng giáo phẩm Giáo hội PGVNTN suốt mấy chục năm liền chưa thôi (gần nhất là vụ nhà nước Việt cộng vào ngày 8-9-2016, vì mưu đồ cướp đất đã công khai đập phá, san bằng Chùa Liên Trì (Trụ trì: Thượng tọa Thích Không Tánh, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Từ Thiện Giáo hội PGVNTN) toạ lạc tại khu Thủ Thiêm Xã An Khánh, Quận 9 Đô thành Saigon VNCH từ cuối thập niên 1950s.
Riêng Thích Trí Thủ, theo nguồn tin riêng hiếm hoi xì ra từ nội bộ Giáo hội PGVNTN, thì đã phải tự vẫn bằng chén thuốc độc tại Quảng Hương Già Lam ngày 02-4-1984, chưa đầy một tuần sau khi các vị sư cô Thích nữ Trí Hải, thượng tọa Thích Tuệ Sỹ và ông Lê mạnh Thát bị Cộng sản bắt giam.
Nguyên do Thích Trí Thủ phải tự vẫn là gì? Cho đến nay, không một chức sắc nào trong Giáo hội PGVNTN lên tiếng giải thích về việc này. Tương tự, Giáo hội PGVNTN hoàn toàn không phát ngôn gì về chặng hành trình lịch sử của Giáo hội trong giai đoạn 1964 - 1975 và sau 1975, từ những chức sắc đang còn ở trong nước cho chí người đang ở hải ngoại (ví dụ, Thích Nhất Hạnh, ở Pháp). Sự im lặng kỳ lạ này làm cho trang sử của Giáo hội PGVNTN bị chết ngang ở cột mốc năm 1964. Điều đó khiến ta không khỏi nhận thấy rằng, Giáo hội PGVNTN bị kẹt nặng không ăn nói gì được về quá trình hoạt động của họ từ 1965 - 1975 và từ 1975 đến nay (2025). Giả thử có chức sắc nào thuộc Giáo hội PGVNTN chịu nói ra hết sự thật giai đoạn từ 1965 - 1975 dưới chánh quyền quốc gia thì chỉ cho thấy hành trình của Giáo hội nầy toàn là một hành trình chính trị, xen lấn vào chính trị với những tham vọng quyền bính giả ảo chỉ tổ phá rối chánh quyền quốc gia, lén lút móc nối hoạt động ngầm cho Cộng sản, chớ hoàn toàn không có hoạt động hoằng dương Phật pháp lẽ ra phải là trọng trách chánh yếu của giới tăng lữ tu hành. Cũng vậy, nếu có chức sắc nào chịu kể ra hoạt động cuả Giáo hội PGVNTN giai đoạn sau tháng Tư Đen 1975 thì lại càng phơi bày rõ hơn cái vô minh, tà kiến, sai lầm của họ ở giai đoạn trước 1975, và tệ hơn, sẽ phơi ra trần trụi cái cốt thật của họ sau black April, họ hết còn vênh vang bề thế như dưới thời quốc gia, giờ đây những ông tăng quyền uy hợm mình ngày nào không những chịu bán mình cho quỷ, ngoan ngoãn khuất phục trước Cộng sản Hanoi mà còn tiếp tay cho chúng khai tử luôn Giáo hội PGVNTN vốn được chánh quyền quốc gia tôn trọng, cưng dưỡng, nhượng bộ, nuông chìu trong suốt mười năm thời Đệ II Cộng Hòa, như bạn đọc sẽ xem tiếp dưới đây việc khai tử Giáo hội PGVNTN:
Đầu năm 1973, Thích Trí Thủ lên thay Thích Thiện Hoa làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo Ấn Quang.
Khi Cộng sản âm mưu xóa tan GHPGVNTN vào năm 1980 bằng cái gọi là Thống Nhất Phật Giáo [ để thay vào đó là một hình rơm mới với tên gọi là "Giáo hội Phật giáo Việt Nam" (không có 2 chữ Thống Nhất) mà dân gian mỉa mai là Giáo hội Phật giáo QUỐC DOANH bởi vì Giáo hội này là một tổ chức hữu danh vô thực, hoàn toàn chịu sự điều khiển của Cộng sản dấu mặt đừng đằng sau ], thì Trí Thủ được làm Trưởng Ban Vận động thống nhất Phật giáo đó. Ban Vận động thống nhất Phật giáo này 'ra mắt' ngày 24-5-1980 tại Huế. Giáo hội Phật giáo QUỐC DOANH hình thành ngày 4-11-1981 tại Hanoi
Thích Trí Thủ là người đã có công lớn với Cộng sản Hanoi trong vụ Thống Nhất Phật Giáo hay nói đúng hơn là khai tử PGVNTN, xin xem Hồ sơ Thống Nhất Phật Giáo by Đỗ Trung Hiếu (1994) hay còn gọi là Bản tường trình Thống Nhất Phật Giáo. Đỗ Trung Hiếu là 1 cán bộ Cộng sản, được chỉ định thi hành việc liên lạc vận động thống nhất Phật giáo như thế này. Đến năm 1994, Hiếu phản tỉnh, liều mình tung ra 1 tài liệu 76 trang với tên gọi như vừa kể trên, gởi ra cho các tổ chức người Việt Quốc Gia hải ngoại. Đỗ Trung Hiếu lập tức bị bỏ tù 4, 5 năm. Sau khi ra tù Đỗ Trung Hiếu tiếp tục bị Cộng sản Hanoi trả thù với những cách thức mà chúng thường xài cho nạn nhân của chúng như, cô lập, quấy phá và gây cản trở, khó khăn trong mọi sinh hoạt của nạn nhân Đỗ Trung Hiếu. Đỗ Trung Hiếu lâm vào cảnh khốn cùng, bệnh hoạn và chết âm thầm trong một căn nhà xa xôi hẻo lánh ở vùng Cần Giờ, Saigon khoảng năm 2009, 2010.
[ * Ngành Thiếu Gia đình Phật tử: Là 1 trong 3 cấp Nam, Nữ Đoàn Sinh Gia đình Phật tử chia theo độ tuổi như sau:
- Ngành Đồng (còn gọi là Oanh Vũ): từ 6 đến 12 tuổi.
- Ngành Thiếu: từ 13 đến 18 tuổi.
- Ngành Thanh: từ 19 tuổi trở lên.
Một bậc Kỳ Nhân của VNCH
#Chinh Luan Dec. 9, 1970 trang ba
(Bài 005 a) Phụ Tá Nguyễn Cao Thăng đã từ trần
Ngày 8-12-1970, Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng từ trần trên bầu trời Ấn Độ khi ông đang ngồi trên phi cơ, chuyến bay từ Mỹ về Việt Nam, sau một thời gian điều trị bệnh ung thư ở Mỹ không có kết quả. Cùng đi trong chuyến bay này còn có Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, trở về Saigon sau chuyến công du Hoa Kỳ 3 tuần.
Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng là nhà Mạnh Thường Quân chủ lực của Trung tướng Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia Nguyễn Văn Thiệu từ thời 1965, và sau khi Tướng Thiệu đắc cử Tổng thống VNCH vào tháng 10-1967, ông là Phụ Tá đặc biệt của Tổng thống, đặc trách các cơ quan hiến định của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, và giữ một vai trò mắt xích trọng yếu cho Tổng Thống trong công vụ liên lạc với Quốc Hội lẫn phe Phật giáo.
Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng, quê quán Dương Lộc, tỉnh Quảng Trị, hưởng dương 50 tuổi, là một khuôn mặt lớn của chế độ Đệ II Cộng Hòa, là người trợ giúp rất đắc lực cho Tổng thống Thiệu. Có thể nói, mất đi ông Phụ Tá Nguyễn Cao Thăng, Tổng thống Thiệu như mất đi một cánh tay phải.
Bài Đọc Thêm
#Tien Tuyen Dec. 11, 1970 trang hai
(Bài 005 b) Ông Nguyễn Cao Thăng
by Ký Giả Lô Răng
Ông Nguyễn Cao Thăng đã chết. Trong chuyến trở về để nhìn thấy quê hương lần cuối, ông đã tắt thở ngay trên phi cơ. Ai cũng biết là bệnh ung thư là bất trị, nhưng đối với một người như ông Nguyễn Cao Thăng, giàu tỉ phú, ông nằm ngồi trên đống thuốc, không ai tin là ông từ giã cuộc đời mau như vậy.
⚫ Còn nhớ trước khi ông đi (vào khoảng đầu năm nay) ông còn đưa ra một lời tuyên bố rùng rợn “Người Mỹ phải chịu trách nhiệm về cuộc tấn công Tết Mậu Thân”. Xưa nay ông Nguyễn Cao Thăng vẫn là một người kín tiếng. Ông làm chính trị hậu trường, ít khi ông ra tiền diện nên lời tuyên bố của ông có một tiếng vang trong nước cũng như ngoài nước. Nhất là lúc đó ông vẫn còn là Phụ tá Đặc biệt cho Tổng Thống Thiệu. Một giả thuyết đã được nêu ra là ông Thăng đi kỳ này là để làm một công tác “tiền bầu cử”, cho cả Tòa Bạch Ốc lẫn Dinh Độc Lập. Nêu lại vấn đề CS tấn công khơi khơi đầu năm con Khỉ, khi quân Mỹ đang ở VN trên nửa triệu người, khi đình chiến 3 ngày Tết đã được chấp thuận, tức là cố ý gán trách nhiệm cho chính phủ Johnson... Đảng Dân Chủ, theo lịch sử Hoa Kỳ thì chỉ có ngừng chiến chứ không tuyên chiến. Ông Johnson đã đi ngược lại truyền thống ấy và tham gia cuộc chiến VN càng ngày càng nặng. Đến một lúc nào đó ông muốn rút chân ra, cuộc tấn công Mậu Thân của CS có thể là một nước “chạy làng” của chính quyền Dân chủ, nhưng nhờ nước An Nam chưa đến hồi mạt, nhờ dân giác ngộ, nhờ lính đánh tốt nên cái dự mưu kia không thành. Trong lúc thế giới tưởng rằng Nam VN mất đến nơi, thì đất nước này vẫn gượng dậy, đứng lên và trái với mọi điều dự đoán, cái thế của VNCH lại càng ngày càng được củng cố. Dù muốn dù không, thế giới phải ghi một điểm son cho QLVNCH, cho chính quyền hiện hữu. Thành ra chỉ một lời tuyên bố của ông Nguyễn Cao Thăng, mà đảng Cộng Hòa của ông Nixon có điểm, mà dinh Độc Lập của ta cũng có phần sáng giá.
⚫ Sự khôn ngoan thường lệ của ông Dược Sư họ Nguyễn đã khiến cho giả thuyết kia được phóng đi. Đến nay ông đã nhắm mắt lìa đời. Dù giả thuyết ấy không hoàn toàn được minh chứng nhưng ít ra nó cũng là một công tác cuối cùng của ông phục vụ cho Dinh Độc Lập.
⚫ Ở trong nước, ông được nói đến nhiều nhất dưới danh hiệu Ô. Pê Vê (tên tắt Công ty Dược phẩm của ông). Ông là một “ông anh chi tiền” cho một số khá lớn những nhà dân biểu, cho nên không lấy làm lạ khi tin ông mất đến Hạ Viện đã có một sự xúc động bàng hoàng. Sự xúc động này chắc chắn là thật sự, phát ra tự tâm can, không phải là “diễn xuất”, cả những nhà dân biểu thân cũng như chống chính quyền. Bởi vì dù thân hay chống thì các nhà dân biểu này cũng đều hơn một lần tiếp xúc với ông Phụ tá Nguyễn Cao Thăng... Từ khi ông Dược Sư ra đi đến nay, khá đông các nhà DB đã rách bươm ra trông thấy. Họ mong ông sớm trở về. Nhưng ông không tới hậu trường Hạ Viện mà đi luôn sang thế giới bên kia. Oh! le bon vieux temps s’est passé... [ Ôi, những ngày xưa thân ái nay còn đâu … ]
⚫ Nhìn vào tiểu sử của ông Nguyễn Cao Thăng, ai cũng phải nhận ông là người khôn khéo và thành công mỹ mãn ở đời. Ở hậu phương về, đang học dở dang, ông được giáo sư Huard nâng đỡ nên tốt nghiệp dược sĩ rất mau. Khi có văn bằng rồi (một thứ văn bằng hái ra tiền ở đất nước An Nam) ông làm hơn người khác và ngay trước năm 1960, ông đã trở thành tỉ phú rồi. Thời Đệ I Cộng Hòa ông đã là dân biểu, thời cách mạng và hậu cách mạng ông chỉ bị lôi thôi qua quít, vẫn yên tâm làm giàu, thời Đệ II Cộng Hòa thì ông lại càng sang trọng, càng nhiều tiền hơn nữa. Ông trở thành Thạch Sùng, Vương Khải của thời đại ngày nay. Ông lại còn thành công cả về đường tình ái. Phu nhân của ông vốn là hoa khôi trường Đồng Khánh, và ông lại còn có diễm phúc “hoa thơm đánh cả cụm” đem về trồng trong nhà...
⚫ Buồn thay, sự khôn ngoan tính toán của ông cũng không tránh nổi cái số. Đang ở tuyệt đỉnh giàu sang, quyền quý thì ông lìa trần. Theo Tây phương, tuổi 50 đang là tuổi phương cương của trí óc và thân thể. Theo Đông phương thì ngũ thập tri thiên mệnh, đó là cái lúc biết mệnh trời... Biết mệnh trời thì hoặc là tiến thêm trên con đường danh lợi, hoặc là lui về ở ẩn theo kiểu Nguyễn Công Trứ “theo sau... một đôi dì, bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” 1 . Ông chưa kịp hưởng nhàn chưa kịp tri thiên mệnh thì ông đã buông tay nhắm mắt. Than ôi! buồn cho ông mà lại tiếc cho ông!!...
Ký giả LÔ RĂNG
1: Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng
(trích Bài Ca Ngất Ngưởng - Hát Nói của Nguyễn Công Trứ)
$pageOut $pageIn Phân đoạn 5
đâm sau lưng chiến sĩ
#Tien Tuyen Feb. 24, 1971 trang ba
(Bài 006) Đạo Binh Thứ 5 #Tien Tuyen Feb. 24, 1971 trang ba
(Bài 006) Đạo Binh Thứ 5
by Kẹo Đồng (chuyên mục PHƠ, trang ba)
TRONG cái rét căm căm của thời tiết Hạ Lào, giữa một chiến trường chỉ gồm có rừng núi hoang vu mà lương thực chỉ còn cách trông cậy vào sự tiếp tế, các chiến sĩ anh dũng của ta vẫn đương đầu một cách oai hùng trước hỏa lực tấn công ác liệt của địch.
3 ngày ròng rã chiến đấu trong vòng vây và các đợt xung phong điên cuồng của Cộng quân, các chiến sĩ anh hùng của ta đã đổi mạng mình lấy 10 mạng địch. Sự chênh lệch của cuộc so tài đã thấy rõ: căn cứ của đơn vị ta chưa đầy đủ hệ thống phòng thủ kiên cố thì địch đã lợi dụng địa thế mang quân số đông gấp bội đến tấn công với đủ các loại súng, kể cả chiến xa, và còn được hỏa lực phòng không mạnh mẽ yểm trợ để ngăn chặn viện binh và Không lực can thiệp.
Một trận đánh kết thúc, nhưng chiến tranh chưa chấm dứt.
Địch muốn thăm dò phản ứng của ta hay muốn ra tay thị oai trước? Dù sao lối đánh của địch cũng đã được phơi bày phần nào. Với 2 võ sĩ thượng đài "quyết ăn thua đủ", việc một bên ra tay trước chỉ có lợi nhỏ nhưng sẽ tai hại lớn về sau.
"Trận đấu vẫn khởi đi trong sự dò dẫm của đôi bên”, đúng như các nhà phê thuật bóng tròn thường viết. Mặt trận Hạ Lào càng sôi động và ác liệt, các chiến sĩ của ta ở đó lại càng có dịp vẽ lên những hình ảnh oai dũng trong lòng mọi người.
Nhưng... khói lửa vùng Hạ Lào chỉ phủ kín các trang báo, còn mùi thuốc súng và máu không bay về được thủ đô. Cho nên có còn những kẻ phè phởn ở đây, đã được ăn ngon, được nốc rượu mạnh, lại còn dùng lời riễu cợt phỉ báng tập thể đông đảo chiến sĩ đang vùng lên ở khắp mọi chiến trường để đánh Cộng sản xâm lăng những đòn ác liệt hầu kết thúc cuộc chiến.
Khi Quân lực ta vừa vượt biên giới Lào - Việt, chính họ đã lo ngại cho sự sống còn của Cộng quân mà lớn tiếng phản đối. Giờ đây, khi địch tấn công ác liệt quân ta thì họ lên tiếng mỉa mai, riễu cợt. Đó chính là "đạo binh thứ 5" của giặc, bọn người đâm sau lưng chiến sĩ.
Đó là những quả mìn nổ đúng theo giờ đồng hồ. Vì họ đã hành động rất ăn khớp với tất cả mọi hành động của giặc.
LTC chú thích: Các bài trên (trang ba báo Tiền Tuyến) chuyên mục Phơ by Kẹo Đồng là những giòng xã thuyết nhận định, phân tích ... rất là sáng suốt và có giá trị làm sáng tỏ cục diện/hiện tình đất nước như một thiên chính luận chính thức của báo Tiền Tuyến, có thể do chính vị Chủ nhiệm, Trung tá Phạm Xuân Ninh (tức thi sĩ Hà Thượng Nhân) chấp bút (?), mà cho tới nay, sau hơn nửa thế kỷ, các nhận định, phân tích đó vẫn còn nguyên giá trị. [ mục PHƠ của Tiền Tuyến có dáng dấp tương tự như mục Ý KIẾN của nhựt báo Chính Luận — đăng trên trang nhất — (có lẽ) do Bác sĩ Chủ bút Đặng Văn Sung viết?! ]
#Chinh Luan Dec. 12, 1970 trang hai
(Bài 007) DIỄN ĐÀN: VÌ DÂN TỘC HAY KHÔNG by Vĩnh Nam (viết về group Nguyễn Ngọc Lan) (kỳ 01)
#Chinh Luan Dec. 12, 1970 trang hai
(Bài 007) DIỄN ĐÀN: VÌ DÂN TỘC HAY KHÔNG by Vĩnh Nam (viết về Nguyễn Ngọc Lan Group) (kỳ 01)
Linh-mục Nguyễn-Ngọc-Lan và các đồng-chí của ông mấy năm nay nổi bật hẳn lên trên mặt trận tư tưởng. Dù muốn dù không, dù đồng ý hay phản đối, người đọc cũng phải một lần tìm xem quan điểm của nhóm Nguyễn-Ngọc-Lan là thế nào.
Về quan điểm ấy, mỗi người phê phán một cách. Nhiều người cho nhóm Nguyễn-Ngọc-Lan nếu không phải là Cộng sản thì ít nhất cũng là những kẻ nối giáo cho giặc. Họ không dám nói nhóm ấy chủ trương nối giáo cho giặc, nhưng rõ ràng những sản phẩm của nhóm ấy đã mang lại hậu quả làm lợi cho địch rất nhiều. Vậy thì việc nối giáo cho giặc ở đây phải hiểu là một hành động ngay tình, vô ý.
Bởi vì họ rất tin tưởng ở lập trường của linh-mục Nguyễn-Ngọc-Lan, một linh mục trẻ, nhiệt tâm, có kiến thức và có thể nói là gương mẫu cho một cuộc sống tu trì đúng nghĩa... Một con người đạo đức và kiến thức song toàn như thế, không thể nào theo Cộng sản được, càng không bao giờ có thể nối giáo cho giặc. Tuy nhiên người ta vẫn có thể nối giáo cho giặc một cách vô tình và nhóm Nguyễn-Ngọc-Lan là một trong những người ấy!
Có người lại phê phán nhóm Ng.Ngọc-Lan mắc cái tật muốn được mọi người lưu ý, muốn làm những nhân vật anh hùng. Họ cũng bảo nhóm này hợm mình, muốn vượt lên trên để đóng vai trò lãnh đạo quần chúng, đứng ngoài bút giáo hóa nhân dân, thức tỉnh lương tâm con người.
Lắm người khác lại bảo nhóm Nguyễn Ngọc Lan mắc bệnh ảo tưởng, ảo tưởng về thực tế ở VN, nơi mà họ đã có thời gian tạm biệt để qua sống bên trời Âu châu đến độ phần nào quên khuấy mất cái thế đứng thực sự của quốc gia này...
Nhưng theo thiển ý của chúng tôi, thì nhóm của linh mục Nguyễn Ngọc Lan đã có lập trường và thái độ như là đã trình bày qua các tạp chí và sách xuất bản của họ là vì những nguyên do sau đây:
1) Mặc cảm Công giáo phạm tội
Phần lớn những người cộng tác với các tạp chí như Hành Trình, Đất Nước, Trình Bày, Đối Diện là người theo đạo công giáo; một số lớn lại còn là những vị chức sắc trong đạo hoặc những người trước vốn theo nghiệp tu nhưng nửa đường đứt gánh đành chèo thuyền tìm về cõi trần. Vì vậy họ ý thức sâu xa sự kiện công giáo ở Việt Nam. Sự kiện đó, cho đến nay, vẫn còn mang dáng dấp hàm hồ.
Ai cũng biết Đạo Công giáo xuất hiện trên mảnh đất này cùng một lúc với phong trào thực dân do Tây phương phát động. Có nhiều lúc hai phong trào đó hòa lẫn vào nhau một cách quá mật thiết đến không còn có thể tìm ra đường phân ranh. Thật khó mà xác định được rằng giáo hội, một cách minh nhiên, chủ trương đi chinh phục đất đai hoặc hỗ trợ các cuộc chinh phục ấy. Nhưng hiển nhiên một điều là chính Giáo hội hồi đó đã một phần nào rửa tội (baptiser) cho học thuyết Cộng sản sau này qua câu nói thời danh của họ: mục đích biện minh phương tiện.
Mục đích ở đây chính là công cuộc “mở mang Đạo Thánh Đức Chúa Trời ra khắp tứ phương thiên hạ” là “đi khắp thế gian, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Sứ mệnh truyền rao Phúc Âm cho muôn dân, giúp họ thoát ly tai ách “bụt thần” thực sự là mối ưu tư ngàn đời của Giáo Hội. Giáo hội cảm thấy như mình sẽ tự phản bội mình nếu không đi rao giảng. Từ mối ưu tư chân chính ấy bước qua hình thức cực đoan thực sự không xa, chỉ cần một bước: dùng ngay phương tiện của loài người bằng bất cứ giá nào để lời Chúa được nói lên, được rao giảng, dù có vì vậy mà phải xử dụng đến một phương tiện không mấy tốt đẹp.
Miễn là lời Chúa được rao giảng. Một cách ngay tình, các nhà truyền giáo ban đầu ở VN đã nghĩ vậy. Và do đó, họ đã tích cực giúp chúa Nguyễn khôi phục giang sơn bằng cách di chiêu dụng binh lính, thuyền bè, súng ống.
Vai trò của giám mục Bá Đa Lộc chỉ có nghĩa như vậy. Giúp Chúa Nguyễn để Chúa Nguyễn giúp mình có hoàn cảnh thuận lợi giảng đạo, Bá Đa Lộc không hề muốn lợi dụng Nguyễn Phúc Ánh cho một mục tiêu nào khác. Khi mà chính con cháu Nguyễn Phúc Ánh, vì một dun dủi lạch sử nào đó, đã xua đuổi, đã lên án bọn người tôn giáo, kết tội họ là tà đạo, chém giết họ không thương tiếc, chối từ cái quyền làm người Việt của họ, thì chính là lúc xuất hiện hàm hồ tính của đạo Công Giáo ở VN. Những người Việt khốn khổ bị săn đuổi kia đã chẳng còn biết trông cậy vào ai, đành phải trông nhờ vào ngoại nhân giải thoát. Những chức sắc trong đạo Công giáo như thấy mình bị dồn vào một chân tường, đành phải cực đoan hành động bằng cách ra mặt ủng hộ những cuộc viễn chinh giải thoát... Và từ đó, người Công giáo trở thành một đoàn người cô lập (des ghettos), bị đồng bào đồng hóa với ngoại nhân hoặc những kẻ bán nước.
Ngược lại, phía người Công giáo, vì bị săn đuổi như những con thú cùng đường, đành cũng phải khép kín như các môn đồ xưa lúc Chúa vừa bị đóng đinh thảm hại, để tìm an ninh cho riêng mình. Nghĩ cho cùng, thì đó là những hiểu lầm đáng tiếc nhất đã xảy ra cho con cái của mẹ VN khốn khổ. Có điều là hai thái độ cực đoan kia cứ có đất để mà tiếp tục sống mái. Các phần tử trí thức sáng suốt vấn đề, ở cả hai phía, thật sự là ít ỏi không đáng kể và do đó chẳng thay đổi được gì.
Hậu quả là một mặc cảm tội lỗi càng ngày càng đè nặng lên tâm hồn người công giáo ở VN... Cái mặc cảm ấy ngày nay vẫn còn y nguyên và có khi còn được bồi bổ thêm do những sự kiện mới đem đến suốt từ thời thực dân dài dằng dặc và những chế độ ưu đãi Công giáo... Đó chỉ là cái mặc cảm chạy theo ngoại bang, theo đuôi những thế lực mạnh dù đó là những thế lực phản động...
Nhiều người cảm thấy cần phải phá đổ cái mặc cảm “mắc dịch” ấy. Vì chẳng còn gì khổ cho bằng phải sống bằng mặc cảm. Chính vì vậy họ đã kết hợp lại, mục đích mời gọi mọi người trở về với dân tộc, đến cái độ cực đoan coi dân tộc như một thực thể có trước cả cá nhân, ngược cả giáo lý căn bản của giáo hội vốn coi con người cá nhân như thực thể tiên khởi...
Họ cố gắng ngoi lên khỏi cái mặc cảm nặng chĩu để đánh phá những chiêu bài bám nhờ ngoại bang. Họ lớn tiếng đả kích Mỹ với mục đích kéo người đồng đạo ra khỏi mê đạo cũ, lên đường “tìm về dân tộc” [ * ] dù có phải vì vậy mà bị thiệt thòi. Họ chạy theo những phe nhóm nào tranh đấu cho quyền lợi dân tộc, cho dù đó chỉ là những tên hề chánh trị, đầy mình những chiêu bài bịp bợm. Người thức thời dường như đang tỏ vẻ thương hại họ, thương quá, y như họ đã thương hại cái anh chàng trường giả học làm sang của kịch tác gia Molière. Vì có bao giờ các anh chàng trường giả học làm sang kia lại có thể một ngày một giờ trở thành sang bao giờ. Nhất nữa, anh ta vì nôn nóng muốn làm sang nên đã “bắt quàng” làm thầy toàn những anh chẳng mắc dịch...
Chúng tôi rất tin tưởng ở thiện chí của nhóm Cha Lan. Chúng tôi tin rằng họ đã hành động một cách bất vụ lợi. Nhưng họ đang là những anh trường giả học làm sang từ cực đoan nọ đang bước qua cực đoan kia. Từ mặc cảm này chạy qua mặc cảm khác. Cái vòng luẩn quẩn thực sự đang trùm phủ lấy họ. Người ta tin rằng mẹ Việt Nam đã thấu hiểu thiện chí của họ và mẹ đã sẵn sàng xóa mờ dĩ vãng của họ rồi. Và mẹ tha thiết xin họ ngừng ở đấy. Đủ rồi! Đừng tiến xa hơn nữa. Vì thật sự thế nào là quyền lợi dân tộc? Có hẳn đó là quyền lợi do người VN tạo nên và muốn bảo vệ không? Cũng như thế nào mới là cái “acte humain” [ hành động nhân bản ] có phải là bất cứ cái acte nào do con người tạo ra không, hay chỉ là những hành động do tự do của con người chấp nhận bằng ý thức và thực hiện? Cũng như vậy, trong bối cảnh lịch sử bây giờ, một anh chàng có thân xác Việt Nam trăm phần trăm, sinh và sống trên mảnh đất này ngay từ lúc đầu có hẳn đã là người Việt chưa? Cái gì làm cho anh ta là người Việt? Có Trời họa may mới trả lời được. Do đó mà dân tộc là một thực tại mơ hồ, không rõ rệt. Cần phải xác định nó trong không gian và thời gian. Ở bối cảnh này, quyền lợi dân tộc thiết thân là gì? Đó là một câu hỏi sẽ đưa lại một trăm câu trả lời. Không nhất thiết câu của anh phải đúng và câu của tôi phải sai hay ngược lại.
Vì không một ai có quyền tự đồng hóa mình với dân tộc, độc chiếm dân tộc làm vật sở hữu để muốn khoác cái áo nào cho dân tộc cũng được. Do đó đừng có lớn lối, lên án một cách tiên thiên. Tuy nhiên vẫn có một vài dấu hiệu khách quan đưa đến một quan điểm đa số về quyền lợi dân tộc trong không gian này và trong thời gian này.
Dấu chỉ rõ rệt nhất là gia tài dân tộc đang bị đe dọa phá tan. Kẻ đe dọa tất nhiên là các thế lực ngoại lai và những kẻ tiếp tay cho các thế lực đó. Một điều nghiệt ngã là sự tranh chấp giữa các thế lực kia ngay trên gia tài dân tộc đang là một thực tại thật khó tháo gỡ. Thật khó thoát ly khỏi cùng một lúc cả hai cái thế lực vĩ đại đang ảnh hưởng trên gia tài dân tộc.
Nếu không ngả theo thế lực này thì cũng phải ngả theo thế lực kia. Vấn đề vì vậy mà phải chọn lựa lấy một trong hai thế lực đó để rồi sau đó tìm cách thoát ly nốt. Hiển nhiên cần phải thoát ly cái thế lực có hại nhất cho gia tài dân tộc trước nhất đã.
Trong bối cảnh lịch sử bây giờ, thế lực có hại nhất cho gia tài dân tộc rõ rệt là thế lực nhằm hủy diệt dân tộc.
Ông Hồ, cho đến lúc gần nhắm mắt, vẫn còn mang hoài bão thực hiện nhiệm vụ quốc tế Cộng sản hóa toàn vùng Đông Nam Á, trong một diễn trình tiến tới thế giới đại đồng, đặt cơ sở trên quyền vô sản. Cái thế giới đại đồng ấy không hề còn chỗ cho dân tộc. Thế mà theo ông Lý chánh Trung thì gần như là ta chỉ thành người trong lòng dân tộc mà thôi. Nói khác đi, trong thế giới đại đồng phi dân tộc, người không còn là người. Chứ đừng nói đến người VN nữa. Vậy thì phải diệt cái thế lực khủng khiếp đó trước đi. Cái thế lực ấy không hề giấu diếm ý đồ xâm chiếm gia tài dân tộc này, việc xâm chiếm này đang trở thành một tín điều, một giới răn bất khả phản hồi, vô ngộ... Họ có thực hiện được ý đồ hay không thì lại là chuyện khác. Nhưng ý đồ thì đã rõ rệt.
Trong đoàn kỳ, họ bắt buộc phải dùng những chiến lược khôn khéo để đấu tranh giai đoạn và từng bước một, họ sẽ tiến tới đích nhắm. Cần phải ngăn chặn, cần phải dựa vào một thế lực khác. Thế lực này chẳng tốt lành gì, nhưng phải xài đỡ để chống giữ được trước làn sóng xâm lăng tàn bạo của những con người chỉ muốn hủy diệt chính dân tộc chứ không phải hủy diệt những cá nhân.
Bao giờ ngăn được làn sóng tàn bạo ấy, ta sẽ tìm cách hủy diệt nốt cái thế lực còn lại, giúp khôi phục khuôn mặt diễm lệ muôn đời của Mẹ dân tộc. Diễn trình lịch sử khách quan bắt ta phải theo con đường ấy. Làm khác là làm hại Dân tộc và làm hại một cách vô tình thì cũng vẫn là làm hại, làm hại một cách ngay tình thì vẫn là làm hại.
(Còn nữa)
#Chinh Luan Dec. 13_14, 1970 trang hai
VÌ DÂN-TỘC HAY KHÔNG?
của VĨNH-NAM
(TIẾP THEO VÀ HẾT)
II) Vuốt ve Cộng sản để được an thân
Cũng là những người Công Giáo như nhau, cũng là những nhà tu hành như nhau, nhưng rõ rệt nhóm của Cha Lan khác xa nhóm của Cha Lãm hoặc nhóm của Cha Thăm, trong phương cách đối thoại với người Cộng sản. Nhóm của Cha Thăm (Thẳng Tiến) thì gay gắt, nhóm của Cha Lãm (Xây Dựng) [ * ] cũng gay gắt chẳng kém, còn nhóm của Cha Lan thì hòa hoãn rõ rệt. Các nhóm kia bảo nhóm Cha Lan là Cộng sản trá hình. Nhóm Cha Lan thì bảo các nhóm kia là chống Cộng kiểu đà điểu. Ông nói ông phải, vãi nói vãi hay.
Nhưng tất cả đều có lý của mình. Chúng tôi không đời nào tin được rằng nhóm Cha Lan lại có thể hoạt động cho Cộng sản được, cũng như hai với hai không thể nào là năm được. Chúng tôi cũng cho rằng: trên phương diện chánh trị, mỗi một người có quyền phát biểu ý kiến của mình. Thẩm quyền giáo hội không có lý do gì ngăn cấm. Và khi đã là ý kiến cá nhân thì không thể nào nhân danh bất cứ một thế giá nào của giáo hội để lên án họ.
Thế giá giáo hội chỉ nên được viện dẫn trong phạm vi luân lý và tín lý mà thôi. Giáo hoàng Paul đệ lục hay bất cứ một chức sắc nào trong đạo khi phát biểu về chính trị thì ý kiến chỉ có giá trị như ý kiến của một giáo dân thường. Người ta lấy làm lạ: trong mấy năm gần đây, các phe nhóm luôn luôn sử dụng đến thế giá để bênh vực quan điểm chính trị của mình. Người lương thiện, thiết tưởng, không nên làm như vậy.
Trở lại nhóm của Cha Lan, chúng tôi thấy giọng điệu của họ đối với Cộng sản là giọng điệu đầy thân tình (Cộng sản, người anh em tôi!) [ xin xem chú thích ở Phân đoạn 6 ] đầy thán phục (20 năm Xây dựng Chủ nghĩa Xã hội) [ xin xem chú thích ở Phân đoạn 6 ] ... Có người coi những giọng điệu ấy như một liều thuốc đắng có tác dụng kích thích, mục đích chọc giận nhà cầm quyền miền Nam, giúp họ “sáng mắt” trước những thành quả xây dựng đầy sự tốt đẹp của phe địch và, nhờ thế, vì tự ái, nhà cầm quyền miền Nam sẽ cũng cố gắng thực hiện được ít là như vậy... Phải chăng, vì vậy, mà có lúc nhóm cha Lan đã tự coi mình là những kẻ chống Cộng sáng suốt chứ không phải như ai kia chống Cộng kiểu đà điểu?
Riêng phần chúng tôi, chúng tôi không tin rằng đó là chủ trương của nhóm cha Lan. Vì một điều dễ hiểu là họ những người biết nhiều hiểu rộng, đọc nhiều thấy nhiều, không thể nào không biết rằng sở dĩ miền Bắc đạt được thành quả như trên (nếu thực sự có thật như thế) là nhờ một chính sách tàn bạo nhằm bóc lột sức lao động của nhân dân dưới quyền. Những câu nói thường được nghe họ nhắc đến như «thi đua sản xuất cả trong ngày lễ», «một người làm việc bằng ba» ... chính là đã tố cáo cái chính sách tàn bạo ấy. Ở miền Nam, một chính sách như thế không thể nào thực hiện được. Mới bắt sinh viên học quân sự một tháng tại quân trường, mà chính các ngài còn chả chịu, thì còn nói đến cái gì khác nữa kia? Thế cho nên trong bối cảnh tự do này, nơi mà dù sao vẫn còn rất nhiều tự do gấp vạn lần miền Bắc, lại gặp thời chiến tranh, ta không thể nào đạt được một mức sản xuất giống như ở một chế độ độc tài. Cái giá của tự do là như thế. Hẳn những đồng chí của cha Lan cũng đồng ý như vậy, nên họ đã cố tình không nhắc đến sự đóng góp của nhân dân miền Bắc cho cái thành công của chế độ miền Bắc trong lãnh vực sản xuất (nếu có thể nói được là thành công). Nếu chỉ nhắc đến thành quả mà không thôi, thì thiết tưởng mấy nhà cầm quyền miền Bắc có thể được đặt ngang hàng với những bạo chúa Pharaon xưa trong những công trình xây cất vĩ đại như kim tự tháp, hay những tiêm bi (obélisque) khổng lồ chẳng hạn...
Hãnh diện hay không, mọi người đã thấy rõ. Người của Cha Lan là những người đầu tiên nhìn thấy điểm đó. Vả lại, họ làm sao quên được câu nói của Đức Kitô trả lời cho Thần Xấu: “Con người không chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn sống vì lời Chúa nữa”. Mà lời Chúa là lời giải phóng, nên con người còn sống vì Tự Do nữa kia, không Tự Do con người sẽ chết mòn mỏi, chết thảm thê ngay trong cái thân xác phì nộn. Nói tóm lại, làm sao nhóm cha Lan có thể biện minh được điểm: ca tụng miền Bắc là cách thúc đẩy miền Nam tiến lên để đè bẹp miền Bắc ngay trong công trình xây dựng. Vì một lẽ giản dị là họ không chủ tâm đưa ra quan điểm ấy, vậy thì họ nhằm cái gì trong các giọng điệu mà có người đã gọi là “nức nở ca ngợi miền Bắc” hoặc đầy thân tình, thân tình hơn là các giọng điệu họ dùng để nói với những người đang ở một bên với họ? Chúng tôi nghĩ họ làm thế là nhằm phục vụ một mưu đồ chính trị, nhằm đem lại an thân cho họ. Ai cũng thấy: từ ngày Giáo hoàng Jean XXIII lên trị vì giáo hội La Mã, nhiều sắc thái mới đã xuất hiện trong lòng giáo hội ấy.
Nhiều trao đổi hơn, nhiều cởi mở hơn, nhiều chào đón hơn, nhiều nụ cười hơn, đối ngay với những kẻ chủ trương bách hại mình, đã xuất hiện, làm cho bộ mặt cần cỗi của Hội Thánh Công Giáo đã gần như biến mất, và kể cả những địch thủ hằn học nhất cũng đã bắt đầu nhìn lại, bắt tay, chào hỏi... Cũng từ ngày đó, ta thấy nhiều nhân vật Cộng sản đặt chân tới sân Damase để vào bệ kiến Giáo Hoàng.
Con rể Kút Sếp đã không ngần ngại ca tụng bàn tay nồng dân của giáo hoàng Jean XXIII. Đầu sỏ của Cộng sản quốc tế là Podgorny cũng đã tới thăm Vatican. Nam Tư chính thức tiếp nối bang giao với Tòa Thánh. Tàu Cộng trả tự do cho giám mục Walsh, bắt chước hành động của Nga Xô trước đó ít năm qua vụ phóng thích giáo chủ Slippyi gì đó... Giọng điệu chung của Giáo Hội La Mã là một giọng điệu hòa hoãn, thân tình mỗi khi nhắc đến những quốc gia Cộng Sản, tuy về mặt thuyết vẫn tỏ ra vô cùng cứng rắn đối với chủ nghĩa Cộng sản. Điều đó cũng phải, vì trong bối cảnh chính trị ngày nay, thật có điên mới thực hiện chủ nghĩa Cộng sản y như Karl Marx, Lénine đã chủ trương. Có thể nói được chủ nghĩa Cộng sản đã chết ngay trong những quốc gia Cộng sản... Cho nên Giáo Hội Công giáo rất an tâm bắt tay các quốc gia Cộng sản mà vẫn không sợ lý thuyết của mình bị đầu độc.
Bắt tay như vậy rất có lợi. Vì ít ra, nhà cầm quyền tại các quốc gia đó cũng sẽ bớt đi tính cách cực đoan và do đó sẽ đối xử tốt hơn với những con cái của giáo hội hiện đang sống dưới quyền của họ... Người ta còn nhớ dưới triều đại của Giáo hoàng Pie XII, người công giáo gồm cả giáo dân lẫn linh mục và giám mục đã bị bách hại nhiều nhất, chính là do thái độ quá cứng rắn của ngài đối với thế giới Cộng sản.
Thái độ quá cứng rắn ấy thực sự lại là vấn đề chung của tất cả mọi chính quyền thuộc thế giới tự do lúc bấy giờ. Từ Âu sang Á, từ châu Mỹ đến châu Úc, đâu đâu cũng gặp thái độ ấy đối với phe Cộng. Sở dĩ thế giới tự do có thái độ ấy cũng là vì tin tưởng có thể đánh bại được cộng sản. Nhưng ngày nay, rõ rệt là ta không thể đánh bại được Cộng sản, ta không thể xua đuổi chúng khỏi lãnh địa con người (terre des hommes), ta không thể hủy diệt được họ, mà bắt buộc phải chấp nhận họ, dù là phải chấp nhận họ như một “thực tế”! Hậu quả là phải tìm cách để có thể sống chung với họ trong một hậu ý rất thực tế là mong họ để cho ta yên thân và dần dần dụ họ bạch hóa theo một “chánh sách chiêu hồi” khôn khéo! Giáo Hội Công giáo đã đi tiên phong trong thái độ ấy, ngay từ lúc Cộng sản đang hăng say sát hại con chiên của mình.
Hậu quả, như ta đã thấy, các quốc gia Cộng sản đã bắt đầu thay đổi thái độ và ngay cả cái anh chàng cứng đầu cứng cổ là Tàu Cộng cũng đã có một đối thái độ hòa hoãn đối với một thế lực mà xưa nay họ vẫn coi là gián điệp, là dụng cụ của đế quốc.
Ở Việt Nam, nhóm của Cha Lan có thể được coi là nhóm đầu tiên đi theo con đường ấy.
Vì họ là những phần tử Công giáo Cấp tiến, đa số du học từ các quốc gia Tây Âu, được đọc nhiều và thấy nhiều, do đó đã phát hiện được những vấn đề lớn. Có lẽ vì vậy, khi đưa ra những giọng điệu thân tình hoặc ca ngợi, họ cũng nhằm cùng một mục đích như những vị giáo hoàng ở La Mã đã nhắm: một cuộc sinh hoạt bình thường cho giáo hội địa phương.
Hẳn không một ai có thể quên được sự kiện nửa phần quê hương đang chính thức nằm dưới quyền quản trị của Cộng sản. Ở nửa phần quê hương ấy, đang có rất nhiều người Công giáo sinh sống, rất nhiều vị giám mục và linh mục cũng như Tu sĩ đang hành sự một cách hạn chế. Nhà cầm quyền miền Bắc từ trước vốn áp dụng một chính sách nhằm hạn chế công cuộc đào tạo hàng linh mục và tu sĩ cho nhu cầu giáo nội địa phương.
Do đó, công cuộc sinh hoạt của Giáo hội ấy đang gặp thật nhiều khó khăn. Trong một tinh thần “các thánh cùng thông công”, bắt buộc những người sống an ổn ở bên này phải tìm cách giúp đỡ để cho những người sống bên kia có thể sinh hoạt bình thường. Các ảnh hưởng đã được vận dụng kể cả cơ quan Caritas quốc tế qua vị đại diện là một giám mục Tây Đức nhằm liên lạc với nhà cầm quyền Hanoi.
Trong phạm vi sở trường của mình, người trí thức mệnh danh là cấp tiến chẳng còn biết làm gì hơn là lôi kéo cảm tình trên lãnh vực tư tưởng, trong quan điểm chính trị, với mục đích đánh tan cái thành kiến vốn có, vốn quy trách cho giáo hội La Mã là giáo hội phục vụ quyền lợi đế quốc. Chính vì vậy, các nhà trí thức công giáo đã cố gắng nói lên quan điểm của mình, không hẳn là quan điểm của giáo hội, nhưng là quan điểm của một nhóm Công giáo, để “cho ai kia” thấy rằng: ít nhất cũng đã có một cái gì thay đổi nơi người Công giáo và mình có thể tạm sống với họ được.
Chúng tôi nghĩ rằng đó là hậu ý của nhóm Cha Lan. Có nhiều người cho rằng: Có thể quan điểm đó đúng nhưng người ta không khía cạnh trên đây, rất có thể nhóm Cha Lan còn để lộ cho thấy một trò chơi trí thức.
Theo họ, thì nhóm Cha Lan phần lớn là những người từng đi du học ở Tây Âu trở về: người từ Pháp là Sorbonne, kẻ thì học ở Louvain. Tại các trung tâm tư tưởng đó, họ làm quen với rất nhiều trào lưu thế giới, được tiếp xúc giao dịch với nhiều môn phái, được đọc rất nhiều sách vở, và nhất là các tài liệu rất thời sự từ những quốc gia Cộng Sản mang tới hoặc từ những quốc gia thân hữu với Cộng sản cung cấp. Ngược lại, tại mảnh đất Giao Chỉ khốn khổ vì chiến tranh, vì chậm tiến này, nơi mà mầm dân chủ chỉ mới được gieo, chưa đủ màu mỡ để mà nẩy nở... mọi cái đều bị ngăn cấm, kể cả văn hóa phẩm của miền Bắc, hoặc bất cứ một sản phẩm nào của địch... Do đó, khi vớ được một tài liệu nào của địch, người ta mừng quá xá, mừng y như là anh chàng buôn đồ quốc cấm đi được chuyến hàng trót lọt. Một dạo, ở trường Đại học Văn khoa, người ta đem các-thứ nghiên cứu văn học của miền Bắc ra mà giảng coi như đó là một tài liệu quý giá. Người đầu tiên mang ra giới thiệu lại chính là ông Nguyễn Văn Trung. [ * ]
Trong các bài giảng của ông, thỉnh thoảng ông trưng ra một vài tài liệu mua được của miền Bắc và coi như một cái gì quý hóa làm tăng giá trị cho bài giảng... Ở trong một môi trường thích đồ "quốc cấm", như làm vậy thì người nào may mắn có được đồ quốc cấm không thể nào yên tay yên chân, bắt buộc họ phải mang ra bán và vì càng bán càng có người ham dùng, nên lại càng thêm hứng và bán ra thêm.
Nếu người bán không có mục đích ham lời, ham tiền, thì đúng đó là một nhà trí thức: Chỉ nhằm mục đích thỏa mãn thị hiếu độc giả và đồng thời giải thoát mình khỏi ấm ức vì đã trót có đồ quốc cấm.
Họ cũng còn bảo rằng: Vả lại tại các quốc gia chậm tiến, nơi mà dân chúng thật ít khoái nghe chính phủ, thì những giọng điệu khuynh tả lại rất ăn khách.
Con đường tiến thân mau nhất chính là con đường thiên tả. Tất nhiên, những anh chàng thiên tả rất dễ bị tù. Do đó có anh đã phải chua thêm vào cái măng xét thiên tả của mình cái câu đại cù lần: "không Cộng sản " để tránh tai bay vạ gió. Trường hợp nhóm Cha Lan thì khác; họ không cần cái măng xét đại cù lần ấy. Họ thiên tả thẳng thừng. Vì họ cóc có sợ ai.
Họ là các nhà tu hành hoặc ít nhất họ là những người đã may mắn chiếm được một địa vị khả quan có ảnh hưởng lớn trong xã hội nên họ cóc cần phải sợ ai. Như mấy ông linh mục thì ai mà dám bắt bớ? Cho dù là có bắt bớ thì đâu cảnh sát có dám cho họ ăn dùi cui... Đụng một tí là họ la hoảng đàn áp tôn giáo. Bố chính quyền cũng chẳng dám làm gì. Mà nếu có làm gì thì cũng chỉ đến thế là cùng, họ đâu có vợ con gì để mà hòng nhượng bộ.
Thật mấy ông linh mục đến thế là khôn! Do đó, họ có làm trò bảnh thiên tả, cũng chả ai làm gì họ... Nói tóm lại, họ muốn diễn một màn trò trí thức.
Chúng tôi không tin như vậy. Vì họ là những con người nhiệt huyết, chín chắn, không thể nào đồng hóa với những tên hề Chính trị hiện nay, miệng nó cái này cái nọ nhưng thật ra không phải tranh đấu vì những cái nọ cái này.
Những điều được viện dẫn để mà tranh đấu thực sự chỉ là những mục tiêu giả tạo, có cũng được mà không có cũng chẳng sao. Đằng sau những chiêu bài ấy mới là điều quan trọng. Trước sau, chúng tôi vẫn tin: nhóm cha Lan tranh đấu một cách ngay tình, một cách thành thực, chứ không phải làm dáng cho xôm trò. Nhưng họ đã chỉ tranh đấu thực sự cho những quyền lợi của giáo hội họ. Mà quyền lợi của một giáo hội người ta rất hoài nghi được đồng hóa với quyền lợi dân tộc. Dân tộc là một cái gì bao la bát ngát, mà tôn giáo chỉ là một thành phần. Cần phải vượt lên trên để tìm ra những nhu cầu thực sự của dân tộc. Nhưng như đã nói, tự nó dân tộc là một ý niệm mơ hồ không đủ năng lực của một thứ nước rửa tội. Do đó, cứ nhắm mắt hô hào trở về lòng dân tộc, thì đó là một tiếng kêu hoàn toàn chìm lắng vào sa mạc vô nghĩa. Xác định nhu cầu của dân tộc, cần phải lưu ý đến môi trường không gian và thời gian cụ thể; chứ không nên nhân danh bất cứ một nhân bản thuyết nào, một thứ lý thuyết tưởng tượng nào một thứ đạo nhân ái mơ tưởng nào đó.
Dân tộc chỉ có thể được phục vụ bằng thái độ khiêm cung đóng góp. Vì thái độ đó sẽ mang lại khách quan tính cho những con người phục vụ. Mà khách quan tính cũng chính là phổ quát tính, là chân lý vậy. Người ta rất mừng vì nhóm cha Lan đã thẳng tay phê phán những khuyết điểm, những tội lỗi (nếu quả đó là tội lỗi) của các nhà cai trị miền Nam cũng như của những người đến trợ giúp họ.
Qua những phê bình gay gắt ấy, người ta thấy nhóm cha Lan đang đóng vai trò của những tiên tri xưa không ngại cường quyền, xuất hiện công khai chỉ trích vua chúa quân quyền, trách mắng, lên án họ với một ý thức thanh lọc, đúng hơn là trong sạch hóa bộ máy công quyền nhằm phục vụ quyền lợi dân tộc.
Ông Thiệu hay bất cứ người nào lên cầm quyền ở cái môi trường chiến tranh và chậm tiến này, đều đều cần được những người như thế hướng dẫn vì phê bình là một cách hướng dẫn hiệu quả nhất. Người Mỹ thì chả tốt đẹp gì. Cứ nhìn ngay vào triết lý viện trợ của họ thì cũng đủ biết... Ấy thế nhưng, chỉ nên ngừng lại ở đó thôi. Vai trò của tiên tri nên ngừng lại, đừng đi quá.
Trong khung cảnh nội bộ, anh muốn mắng mỏ nhà cầm quyền làm sao thì mắng mỏ. Nhưng xin anh đừng nên mượn tiếng người ngoài để mà mắng mỏ. Cũng xin anh đừng nên ve vuốt kẻ thù, đừng nên cho chúng cái ấn tượng được ủng hộ. Vì bao lâu còn những cái ve vuốt ấy, những ấn tượng ủng hộ ấy thì là anh vô tình làm hại dân tộc. Vai trò tiên tri của anh đã mất ý nghĩa. Vì dân tộc hay không? Rõ ràng là không, một cách khách quan.
Vĩnh Nam - 16-10-1970
[ * LTC chú thích:
➜ “tìm về dân tộc” là giọng điệu Lý Chánh Trung (giáo sư Đại học Văn Khoa) khởi xướng qua các quyển tạp bút Tìm Về Dân Tộc (Trình Bày xuất bản, 1967), Tôn Giáo Và Dân Tộc (Lửa Thiêng, 1972) cùng với nhóm Linh mục Công giáo thiên tả Chân Tín, Nguyễn ngọc Lan (tạp chí Đối Diện) và Nguyễn văn Trung (các tạp chí như Hành Trình, Đất Nước, Trình Bày) dùng làm chiêu bài, luận điệu la lối để che đậy cái lốt cộng sản hoặc thân cộng của họ.
➜ Nguyễn văn Trung: khoa trưởng Đại học Văn Khoa, chủ trương tờ tạp chí Hành Trình ra mắt tháng 12-1964, cùng với nhiều trí thức thiên tả lẫn các cây bút Việt cộng nằm vùng. Vì Hành Trình có giọng điệu thiên cộng quá lố nên bị chính quyền quốc gia tịch thu và cảnh cáo nhiều lần, đến tháng 6-1966 tạp chí Hành Trình đóng cửa để tờ Đất Nước (ra số đầu tháng 4-1966) thế chỗ.
Trình Bày là tờ báo Bán Nguyệt san, số đầu ra ngày 1-8-1970.
Cả 3 tờ Hành Trình, Đất Nước, Trình Bày đều là chủ trương của Nguyễn văn Trung nhưng đề tên người khác làm chủ nhiệm để núp bóng, là những tờ báo có cùng luận điệu thiên cộng, bằng đủ mọi lối ngụy biện … rẻ tiền làm lợi cho cộng sản, chê bai, đả kích chánh quyền quốc gia.
➜ tờ báo (Công giáo) Thẳng Tiến. Chủ nhiệm: linh mục Phạm Văn Thăm, là Tuần báo, số 1 ra tháng 07-1962
➜ tờ báo (Công giáo) Xây Dựng. Chủ nhiệm: linh mục Nguyễn Quang Lãm, là nhật báo, số 1 ra ngày 02-01-1964
➜ Nhóm linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan: cho ra tờ tạp chí Đối Diện số đầu vào tháng 7-1968. Tờ báo này có xu hướng thiên Cộng càng ngày càng lộ liễu, đến nỗi khi đọc một số bài đăng trong đó làm độc giả tưởng đó là báo của Việt cộng (MTGP = Mặt trận Giặc Phỉ) xuất bản ở Saigon.
Hai linh mục Chân Tín, Nguyễn ngọc Lan là bè bạn hữu hảo cùng một giuộc với Nguyễn văn Trung (và với Lý Chánh Trung) nối lại thành một mô thức đối lập kiểu mẫu dẫn đầu một cách vênh vang, bề thế, kéo theo sau là một bầy lâu la đệ tử hăm hở hăng hái, cùng nhau hoạt động làm lợi cho Cộng sản, chống chánh quyền quốc gia.
Cơn mê sảng ảo giác hoang tưởng của băng trí thức Công giáo này chỉ chấm dứt khi chộ với băng nón cối dép râu trong rừng tràn ra đô thành; cơn mộng tưởng với những luận điệu lớn lối khoa trương "tìm về dân tộc" ra rả lâu nay của băng này tan nhanh như bọt nước xà phòng; trong chớp mắt, băng nón cối CSBV co giò đạp thẳng mặt băng trí thức Công giáo hoang tưởng từ cõi thiên đàng quốc gia rớt tòm xuống hố địa ngục cộng sản xã nghĩa; tấm bình phong đối lập của hai phe, phe của 2 anh cùng tên Trung liên thủ với phe 2 linh mục Chân Tín và Nguyễn ngọc Lan cũng rớt ào xuống và trơ trẽn lòi ra cái cốt khỉ: nín khe không dám thốt một lời nào vênh vang như những năm xưa khi còn được chánh quyền quốc gia biệt đãi, trọng vọng; hèn nhũn trước bạo quyền cộng sản không khác chi loài giun dế sát đất; ngậm miệng nhắm mắt trước những hành động của tập đoàn Cộng sản Bắc Việt đang vênh váo bạo ác giáng đòn thù thô bỉ hèn hạ lên quân và dân miền Nam.
Tệ hơn, 2 bên, 2 phe không nhìn mặt nhau, mà trở nên kình chống nhau nặng nề, tố giác nhau đủ thứ chuyện tầm thường, hạ cấp in hệt phường buôn gian bán lận ngoài chợ trời.
Nguyễn ngọc Lan viết (Nhật Ký I 1988; Nhật Ký II 1989 - 1990 và Nhật Ký III 1990 - 1991, gởi ra hải ngoại và do Nhà Xuất bản Tin, Paris, ấn hành năm 1993, trong đó tố giác Nguyễn văn Trung, Lý Chánh Trung đủ thứ chuyện lớn nhỏ, bêu mặt hai anh Trung này thậm tệ. Hiện LTC tôi không có bộ 3 tập Nhật Ký Nguyễn ngọc Lan này, nhưng bạn đọc có thể dễ dàng dùng Google Search Nhật Ký Nguyễn ngọc Lan để đọc những bài viết của nhiều người khác nhau nhận xét về bộ Nhật Ký đó dù hiện nay - 2025 - các bài ấy không còn nhiều trên Cyberspace.
Để phản pháo, Nguyễn văn Trung viết một xấp giấy pelure, 29 trang, đề ngày 4-10-1993, được đánh máy lại và công bố năm 2012, trong đó Nguyễn văn Trung tố cáo rằng, thời quốc gia (VNCH) Nguyễn ngọc Lan phụ trách làm kinh tài cho Việt cộng, tìm mọi cách lạc quyên gom góp tiền bạc rồi đổi ra ngoại tệ nạp cho Y4 (bí số của khu ủy Việt cộng vùng Sài Gòn - Gia Định), và tố Nguyễn ngọc Lan cũng đã từng vô 'bưng' của Việt cộng nhiều lần.
Đọc 29 trang của Nguyễn văn Trung cộng với các bài nhận xét vừa kể ở trên khả dĩ cho chúng ta cái nhìn trần trụi về 2 phe Nguyễn ngọc Lan — Nguyễn văn Trung khi họ đã tự lột mặt nạ. Bạn đọc chịu khó tìm hiểu thì xin xem 29 trang viết tay của Nguyễn văn Trung ở đây (xin ráng nén cái khó chịu khi đọc vì cách trình bày thô thiển, vụng về của chủ Blog này): phần 1 | phần 2 (và hết).
➜ Ngoài ra, Nguyễn ngọc Lan còn tìm cách lợi dụng không gian Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế 38 Kỳ Đồng để làm cơ sở hoạt động cho cộng sản, việc này Nguyễn ngọc Lan tự khoe trong tạp chí Đứng Dậy số 100 ra tháng 10-1977 [ đổi tên thành Đứng Dậy là vì sau black April, VC cho Đối Diện tiếp tục ra báo nhưng phải đổi tên Đối Diện thành Đứng Dậy ]. Cuối năm 1978, VC bóp chết luôn Đứng Dậy (ra số 114 là số cuối cùng) với lời phê Đứng Dậy «đã làm xong vai trò lịch sử».
Từ đây, các linh mục Chân Tín, Nguyễn ngọc Lan bị VC từ từ đá đít cho ra rìa. Riêng Nguyễn văn Trung còn bị nặng hơn: bị Cộng sản, người anh em tôi bắt bỏ tù năm 1976, thả ra cuối năm 1977. Nguyễn văn Trung trở thành một con bù nhìn hình rơm cho chế độ cộng sản Hanoi, im mồm mà sống, viết nhiều bài theo đơn đặt hàng của Hanoi, Cộng sản, người anh em tôi ra lệnh bảo viết bài gì thì viết bài đó, nín thở qua sông chờ ngày chạy thoát Cộng sản, người anh em tôi 😂.
Về sau, khi đã vượt thoát được ra hải ngoại vào năm 1993, Nguyễn văn Trung đã có thuật lại quá trình phá hoại quốc gia của ông ta, tuy không thuật hết, không chịu nói thẳng hết (còn nói quanh co, dấu dấu đút đút vì xấu xa quá, u mê quá, sai lầm quá …) nhưng đọc những lời lấp liếm quanh co ấy cũng đủ cho ta biết bộ mặt ngu dại của bầu đoàn trí thức Công giáo thiên cộng ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản này.
Câu Nguyễn văn Trung viết được nhiều người nhắc lại là: «tham gia cách mạng là tham gia vào một quá trình tự tiêu diệt sau này» qua bài “Tưởng Niệm Việt Nam Cộng Hòa” đăng nơi trang 3 tờ Nguyệt san Tạp chí Văn Học (hải ngoại) số 174 ra tháng 10-2000 (do Nguyễn Mộng Giác làm Chủ Bút).
Hay một câu khác, Nguyễn văn Trung viết «...nhận ra những gì mình đã nhân danh gọi là lý tưởng này nọ đôi khi chỉ che giấu những động cơ, mục tiêu cá nhân: Hám danh lợi quyền lực, muốn được xung tụng trọng vọng…» qua bài "Nhìn Lại Những Chặng Đường Đã Qua" là bản viết tay của Nguyễn văn Trung do Nguyễn Vy Khanh đánh máy lại và gửi đăng trên Web Thông Luận ngày 04-9-2007 nhưng hiện nay Web Thông Luận này đã tiêu vong, chỉ còn bản lưu (đăng lại năm 2019) của Văn Việt theo link nêu trên.
Nguyễn văn Trung còn viết nhiều bài đăng báo (Web) khác nữa từ sau năm 2000 (khi kỹ thuật điện toán và Internet phát triển rộng và nhanh thành Liên Mạng Toàn Cầu) nhưng tôi thấy không cần phải đăng lại ở đây thêm nữa làm gì, vì bạn đọc có thể tìm search đọc không khó gì, và cũng vì tôi thấy tuy nói, viết nhiều nhưng tựu trung, Nguyễn văn Trung phần lớn vẫn không thành thật, vẫn cố xào nấu chữ nghĩa, ngụy biện và che đậy những tội lỗi u mê của ông ta đã một thời ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản ở miền Nam Tự Do, nối giáo cho giặc, ru ngủ quần chúng và làm hại không ít người trẻ tin theo ông ta.
➜ Ngày 3/5/1998, Nguyễn ngọc Lan và Chân Tín đi bằng chiếc xe gắn máy honda dame đến dự đám tang tay Việt cộng phản tỉnh Nguyễn Văn Trấn vừa mới chết, tổ chức ở Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế 38 Kỳ Đồng. Ngay khi hai người chở nhau ra khỏi nhà thờ thì bị một bọn ba bốn người lạ mặt đi kẹp hai bên, trong đó có 1 tên co giò đạp vào bánh xe trước của chiếc xe honda dame làm hai người té nhào lăn ra giữa đường. Nguyễn Ngọc Lan bị thương nặng, bất tỉnh. Chân Tín bị thương nhẹ. Chỉ cần có chiếc xe hơi nào trờ tới là cả hai khó lòng sống sót.
➜ Tháng 5-1990, Cộng sản cho lệnh quản thúc (cấm cố) vô thời hạn Nguyễn Ngọc Lan ở Quận 10 Saigon và Chân Tín ở vùng Cần Giờ, Duyên Hải, là vùng ven xa đô thành Saigon 70 cây số.
➜ Nguyễn Ngọc Lan cởi áo dòng, lấy vợ vào năm 1977, chết năm 2007.
➜ Chân Tín chết năm 2012.
Cả 2 linh mục này, cho đến lúc chết, tuyệt không có lấy một lời nào tự kiểm, ăn năn sám hối tội lỗi của mình, cũng không một dòng nào tố cáo cái bộ mặt gian ác, phi nhân kinh tởm của Cộng sản Ba Đình.
Sau đây là vài bài báo cũ miền Nam, như những trang sử chắc nịch còn ghi lại những hoạt động núp dưới tấm áo 'đối lập' tiếp tay cho giặc, làm cho hậu phương rối ren thêm, do băng trí thức Công giáo thiên cộng này gây ra mà thực chất chỉ là đưa thân làm con rối cho cộng sản.
Chúng ta cũng có thêm loạt bài tham luận giá trị “Nghĩ Về Một Số Trí Thức Ảo Tưởng” của Ánh Việt, đăng làm 4 kỳ trên mục Diễn Đàn nơi trang 2 nhựt báo #Chính Luận, Oct. 6, 1970 (kỳ 1) cho đến Oct. 9, 1970 (kỳ 4 - tiếp theo và hết), thiết tưởng, cùng với bài “Vì Dân-Tộc Hay Không?”, tham luận của Vĩnh-Nam đăng làm 2 kỳ trên trang 2 #Chinh Luan Dec. 12, 1970 và #Chinh Luan Dec. 13_14, 1970 (đã đăng ở trên) ... tổng hợp lại khả dĩ cho ta nhận diện đúng bộ mặt thực của băng trí thức Công giáo thiên tả này.
Mời bạn đọc theo dõi qua Phân đoạn 6.
$pageOut $pageIn Đăng vào ngày cuối năm Tây 2025
Phân đoạn 6
#Chính Luận Feb. 23, 1971 trang ba
Linh mục Chân Tín, Chủ nhiệm báo “Đối Diện” tuyên bố: Kháng Án Để Tiếp Tục Ra Báo: quyết tạo điều kiện để ngưng bắn.
Saigon. – (TV) 22/2 Linh mục Chân Tín, Chủ nhiệm Nguyệt san Đối Diện vừa bị Tòa Sơ Thẩm Saigon đóng cửa báo này 6 tháng và phạt tù (9 tháng) Chủ Nhiệm cũng như tác giả 2 bài báo liên hệ, vào chiều ngày 20/2 tuyên bố, ông quyết tâm tạo điều kiện cho một cuộc ngưng bắn, khởi đầu cho sự hòa giải dân tộc và tiến tới hòa bình.
Trong cuộc phỏng vấn dành cho tờ New York Times tại Saigon, đáp câu hỏi của phóng viên báo này về lập trường của báo Đối Diện, vị Linh mục 50 tuổi, Linh mục Chân Tín, nói rằng: “sau 25 năm chiến tranh, chúng tôi ý thức rằng cuộc chiến tranh tại Việt Nam hiện nay là do 2 khối tư bản và cộng sản chủ trương, và có thể đưa dân tộc Việt tới chỗ diệt chủng”. Linh mục nói tiếp: “trong hoàn cảnh như vậy, chúng tôi xác tín rằng, trong tình người và tình dân tộc, mặc dù khác về ý thức hệ gây ra, người dân Việt Nam cũng phải dần dà tạo điều kiện để đi đến hòa giải dân tộc. Trong cuộc hòa giải này, theo Linh mục, việc ngưng bắn là điều kiện tiên quyết để đi tới hòa bình. Ông nói, “vì thế nguyệt san Đối Diện chúng tôi quyết tâm tạo điều kiện cho một cuộc ngưng bắn”. Linh mục Chân Tín nói thêm rằng, chính trong tinh thần này chúng tôi đã tìm hiểu những ưu khuyết điểm của chế độ miền Bắc nhằm đánh tan thái độ khép kín và xa cách giữa 2 miền Nam Bắc. Đề cập đến bài báo nhan đề “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” mà tác giả là Linh mục Trương Bá Cần đã bị Tòa kết án, Linh mục Chân Tín nói “đó là một phần trong chủ trương của chúng tôi tìm hiểu những ưu khuyết điểm của chế độ miền Bắc” … “một công trình nghiên cứu rất khách quan và vô tư, sự suy luận dựa trên những dữ kiện có thể có được” …
[ bài báo có nhan đề “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” của Linh mục Trương Bá Cần đăng làm 3 kỳ trên "Đối Diện số 14, số 15 và số 16. ]
#Đuốc Nhà Nam Feb. 21_22, 1971 trang nhất:
Ngày 18-2-1971, Linh mục Chân Tín chủ nhiệm báo "Đối Diện" và linh mục Trương Bá Cần, tác giả 2 bài đăng trên tờ báo này với tựa “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” và "Sản xuất dưới bom đạn Mỹ", mỗi vị bị Tòa tuyên án 9 tháng tù ở, và báo "Đối Diện" bị đóng cửa 6 tháng (mỗi bài báo với tựa như trên, là một vụ, vụ thứ nhứt mỗi vị bị phạt 3 tháng tù ở và vụ thứ nhì 6 tháng tù ở).
Tiếp theo vụ báo "Đối Diện" là tuần báo "Quật Khởi" bị truy tố "phổ biến những bài báo có luận điệu xuyên tạc với dụng ý làm phương hại đến nền an ninh quốc gia". Tòa phạt giáo sư Châu Tâm Luân quản lý báo "Quật Khởi" 500.000đ tiền phạt vạ và ĐÓNG CỬA VĨNH VIỄN tờ báo này. Báo "Quật Khởi" do Dân biểu Nguyễn trọng Nho làm chủ nhiệm, nên chỉ có Quản lý bị truy tố. [ vì dân Biểu VNCH được hưởng quyền "bất khả xâm phạm", thể theo Hiến Pháp VNCH ngày 1-4-1967, chi tiết như sau:
Để bảo đảm tính độc lập và quyền uy trong vai trò đại diện ý dân, Dân biểu và Nghị sĩ được hưởng một số đặc quyền cũng như bị một vài hạn chế. Một trong các đặc quyền đó là quyền Bất khả Xâm phạm: Nhằm ngăn ngừa bị uy hiếp và bảo vệ vai trò của người đại diên cho dân chúng, Dân biểu và Nghị sĩ được hưởng quyền Bất khả Xâm phạm (quyền này không áp dụng cho trường hợp các tội vi cảnh, hay liên quan đến kỷ luật nội bộ Nghị viện, hay quả tang phạm pháp). => Điều 37 – Khoản 2 Hiến Pháp VNCH (1967): "Trong suốt thời gian pháp nhiệm, ngoại trừ trường hợp quả tang phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử Dân biểu hay Nghị sĩ nếu không có sự chấp thuận của 3/4 tổng số Dân biểu hay Nghị sĩ" ]
#Tien Tuyen Sept. 17, 1971 trang ba
Tòa Đô chánh Thông Cáo chính thức sẽ đưa ra Tòa vụ họp bất hợp pháp đường Kỳ Đồng
SAIGON (VTX) — Tòa Đô Chánh trong một bản tin phổ biến hôm nay đã nói rõ về cuộc họp bất hợp pháp do Linh Mục Chân Tín tổ chức tối qua tại nhà xứ trong khuôn viên nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng cùng sự lộn xộn xảy ra sau đó khi anh em NDTV đến yêu cầu giải tán cuộc họp này.
Bản tin tòa Đô chánh cho biết vào lúc 20g45 ngày 14 tháng 9 năm 1971, Bộ Chỉ huy Cảnh sát Quốc Gia Thủ đô đã nhận được cuộc điện thoại do một ngoại kiều báo tin và yêu cầu cơ quan Cảnh sát đến can thiệp bảo vệ và đưa Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ McGovern ra khỏi khuôn viên nhà Dòng Chúa Cứu Thế đường Kỳ Đồng.
Bộ Chỉ huy Cảnh sát Quốc Gia Quận 3 nhận được lệnh, đã huy động Nhân viên công lực đến nơi mở cuộc điều tra và được biết như sau:
— Lúc 20g20, Linh mục Chân Tín có tổ chức một buổi họp không có giấy phép của cơ quan Hành chánh địa phương gồm độ 30 người có tên sau đây:
1. Linh mục Chân Tín 2. Linh mục Nguyễn ngọc Lan 3. Ni sư Huỳnh Liên 4. Đại đức Thích Liễu Minh 5. Giáo sư Trần tuấn Nhậm 6. Luật sư Nguyễn Long 7. Giáo sư Nguyễn văn Trung 8. Giáo sư Cao thị Quế Hương 9. Sinh viên Trần văn Long 10. Sinh viên Trần thị Lan.
Và một số sinh viên học sinh đoàn viên của nhóm gọi là toán xung kích để tham gia vào việc đốt xe ngoại quốc trong những ngày qua như:
— Nguyễn ngọc Thọ, Tăng quốc Kiệt, Ng văn Tạo, Trần thị Ngọc Diệp, Lê thành Yến, Lê ngọc Ba, Nguyễn thị Mân, Trần Hưng, Phạm thị Xuân Quế, Phạm văn Hoàng, Võ ngọc
(XEM TIẾP TRANG 6)
________________________________________
TIẾP THEO TRANG 3
Ẩn, Cao Lộc, Phạm cao An, Nguyễn thị Bảy, Lê Anh, Ngô Mật, Nguyễn thị Bình, Đỗ ngọc Long.
— Ngoài ra còn có 6 người ngoại quốc và 1 ngoại kiều tên là David Bourquin thuộc đoàn chí nguyện quốc tế mặc thường phục, trong đó có Thượng nghị sĩ McGovern cùng tham dự cuộc hội họp.
Cha Phó Bề Trên Dòng Chúa Cứu Thế không đồng ý cho Linh Mục Chân Tín mở cuộc hội họp không có giấy phép trong khuôn viên nhà thờ, và yêu cầu số người tham dự giải tán.
— Tuy nhiên số người này vẫn tiến hành cuộc hội họp, do đó anh em NDTV Khóm liên hệ đã vào ngăn cản cuộc hội họp và yêu cầu giải tán, rời khỏi khuôn viên nhà thờ nhưng bất thành.
— Số người tham dự cuộc họp bất hợp pháp đã đóng cửa phòng, xô đẩy các anh em NDTV, do đó đã có phản ứng của NDTV và giáo dân địa phương bằng cách nổi lửa đốt 1 chiếc xe chở hàng loại nhỏ và 8 chiếc xe gắn máy của nhóm người nói trên.
— Riêng số người ngoại quốc trong đó có Thượng Nghị Sĩ McGovern đã được Bộ Chỉ huy Cảnh sát Quốc gia quận 3 và Quân Cảnh Hoa kỳ bảo vệ hộ tống an toàn ra khỏi khu vực nói trên.
Bộ chỉ huy CSQG quận 3 đã lập biên bản nội vụ, ghi chung tất cả những người tổ chức cũng như tham dự cuộc hội họp bất hợp pháp nói trên. Hồ sơ nội vụ sẽ được chuyển trình Biện Lý Cuộc Tòa sơ thẩm Saigon.
— Số người tham dự cuộc họp bất hợp pháp đã được tự do ra về sau khi ghi cung, trong khi chờ đợi sự quyết định của cơ quan tư pháp hữu thẩm quyền.
An ninh trật tự tại khu vực nói trên đã hoàn toàn vãn hồi vào lúc 23 giờ cùng ngày.
Đăng vào ngày Tết Tây 2026
#Chính Luận Oct. 6, 1970 trang hai
(Bài 008) DIỄN ĐÀN: Nghĩ Về Một Số Người Trí Thức Ảo Tưởng by Ánh Việt
(viết về Nguyễn văn Trung và băng trí thức Công giáo thiên cộng) (kỳ 01) (Bài 008) Nghĩ Về Một Số Người Trí Thức Ảo Tưởng by Ánh Việt
(viết về Nguyễn văn Trung và băng trí thức Công giáo thiên cộng) (kỳ 01)
I — Đặt vấn đề
Không phải tới hôm nay mới thấy xuất đầu lộ diện những kẻ đòi hòa bình không điều kiện mà ngay từ ba bốn năm qua, nhân dân miền Nam ta đã từng thấy khuôn mặt họ ẩn núp sau chiêu bài này, ngụy trang sau danh hiệu nọ, luồn lách trong tổ chức kia, để cố gắng nói lên tiếng nói lạc điệu giữa những chiến đấu sôi nổi của quân dân: đòi ngưng chiến với bất cứ giá nào. Tuy nhiên, cần nói toạc ra rằng, phải đợi cho đến hôm nay, nhân lúc giới lãnh đạo Saigon đang phải đối phó với những khó khăn dồn dập cả trong lẫn ngoài, những kẻ chủ bại ấy mới bám víu lấy cơ hội ngàn năm một thử đặng hùa nhau gióng trống phất cờ, tuyên truyền quảng cáo cho cái chủ trương cực kỳ phiêu lưu nguy hiểm nói trên. Vậy thì họ là ai? Họ đã bị chụp mũ một cách phi lý chăng? Tại sao đòi hòa bình tức khắc, hoặc kêu gọi liên hiệp, hô hào trung lập lại bị gọi là một chủ trương phiêu lưu nguy hiểm? Những yếu tố nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường bấp bênh ấy? Nếu mục tiêu đấu tranh của họ đạt được thì vận mệnh của miền Nam này sẽ đi tới đâu? Đó là những câu hỏi lớn đang cần một sự giải đáp thỏa đáng mà chúng tôi muốn thử đặt thành vấn đề tìm hiểu trong bài này.
Tưởng cũng cần minh xác thêm rằng chủ đích của người viết bài này không nhằm tranh luận với những người có lập trường chính trị hoàn toàn trái ngược với lập trường quốc gia, mà chỉ muốn bày tỏ một số quan điểm liên quan đến thời cuộc với một thiểu số trí thức trẻ đang được dư luận chú ý bởi những bài báo của họ. Nhiệt tình của tuổi trẻ và sức mạnh của ngòi bút vẫn là 2 nhân tố cơ bản tạo nên khả năng thuyết phục mạnh mẽ, dễ tác động vào tâm tư quần chúng hơn so với những lời tuyên bố ồn ào của các chính khách xôi thịt, các trí thức phòng trà. Mặt khác, do nhận thức rằng, ở người trí thức trẻ thường không có thái độ bảo thủ, khép kín như phần đông các bậc trí thức "đàn anh", mà ngược lại, thường tỏ ra cởi mở, sẵn sàng đón nhận phản ứng, như một Nguyễn văn Trung, người đáng được coi là đại diện cho lớp trí thức trẻ cấp tiến đã tự khẳng định: «Tôi vốn coi việc viết của mình phải nhằm thúc đẩy người khác phản ứng...»
«Với độc giả, tôi nghĩ thái độ tôn trọng nhất đối với họ là đòi hỏi họ phải phản ứng lại. Hoặc đồng ý hoặc phản đối. Thế nào cũng được, miễn là có phản ứng. Tôi coi việc phản ứng, ngay cả sự phản đối, là một thành công cho người viết...» (trích Nhận Định V của Nguyễn văn Trung) vì thế, chúng tôi mạnh dạn bày tỏ một số phản ứng cần thiết với hy vọng không bị ngộ nhận một cách đáng tiếc.
II — Chung quanh hiện tượng chụp mũ
Trong sinh hoạt chính trị ở miền Nam gần đây, người ta nghe nói nhiều đến từ ngữ chụp mũ.
Nhưng thế nào gọi là chụp mũ? Ai chụp và ai bị chụp? Lý do?
Để gợi phương hướng giải đáp mấy thắc mắc vừa kể, tưởng cần phải nêu bật lên trước hết cái nhiệm vụ chiến lược của Cộng sản là thôn tính miền Nam. Muốn hoàn thành nhiệm vụ chiến lược ấy, tập đoàn lãnh đạo Hà Nội, thông qua công cụ thực hiện là Mặt trận Giải phóng miền Nam và cái gọi là "chính phủ cách mạng lâm thời", đang ráo riết vận dụng mọi hình thức đấu tranh: quân sự, chính trị, ngoại giao, tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể. Trước âm mưu và chủ trương, sách lược đó, bất cứ hoạt động nào từ phía hàng ngũ quốc gia nếu có lợi trực tiếp hay gián tiếp cho đối phương đều dễ bị gán là thân Cộng. Lẽ cố nhiên, những người chụp mũ luôn luôn là các phần tử cá nhân, hoặc đoàn thể có lập trường triệt để và dứt khoát đối với Cộng sản (theo nghĩa đứng dắn nhất) cũng như "nạn nhân" của việc chụp mũ thường là những người vô tình hay hữu ý có hành vi ngôn ngữ làm lợi cho đường lối, chính sách của kẻ thù. Đó là chưa kể đến trường hợp có một số người đã tự chụp cho mình cái mũ khuynh tả, đối lập v.v… Phân tích như vậy là chỉ muốn nhấn mạnh rằng chụp mũ hay bị chụp mũ không phải là điều quan trọng, mà điều quan trọng chính là thái độ đúng đắn hay sai lệch, và hành động có lợi hay có hại của mỗi phía mà thôi.
Trong thực tế, nếu như có một số người về phía quần chúng cũng như về phía chính quyền thường mắc bệnh gán ghép cho kẻ khác những cái mũ thân Cộng, tay sai một cách hàm hồ, khiến gây chia rẽ, mâu thuẫn trong nội bộ quốc gia thì đồng thời, cũng có một số người bị chụp mũ là quá khích, là tiếp tay cho địch, không do ai tố cáo mà chính là do những việc làm nông nổi, bồng bột hoặc kém thận trọng, chủ yếu là do thái độ thiếu vô tư của họ tự phơi bày ra trước dư luận khiến cho quần chúng bất bình.
Muốn nhận diện số người này, không phải là điều khó khăn lắm. Họ là một số giáo sư đại học, nhà tu hành, nhà báo, dân biểu quy tụ chung quanh mấy cơ quan ngôn luận mang nhãn hiệu "cấp tiến" để dùng ngòi bút làm vũ khí đấu tranh, cổ vũ cho đòi hỏi chấm dứt chiến tranh không điều kiện đi đôi với việc thỏa mãn các yêu sách liên hiệp, trung lập v.v… Điểm tựa của những mục tiêu tranh đấu ấy luôn luôn được họ bám sát vào, là tinh thần Dân tộc.
Hai tiếng Dân tộc đã trở thành cơ sở lý luận của họ trong việc thể hiện và khai thác các đề tài hấp dẫn như bảo vệ chủ quyền, thực hiện dân chủ, cách mạng xã hội, thống nhất đất nước. Không ai chối cãi rằng các chủ đề vừa kể, tự bản thân chúng, có tác dụng kích thích tâm lý quần chúng yêu nước không ít. Tuy nhiên, người ta chỉ lấy làm tiếc rằng trong khi khai triển vấn đề, họ đã thiếu hẳn một thái độ khách quan cần thiết. Sự thiếu sót cố tình này đã là cái duyên cớ chính đáng cho mọi người nghi ngờ vào "thiện chí" của họ.
Trong vòng 5, 6 năm nay, những ai thường theo dõi bài viết của họ trên các tập chí, nguyệt san như Hành Trình, Đất Nước, Nghiên cứu Văn học, Đối Diện, Trình Bày và một số tác phẩm phổ biến hạn chế như Hoa Sen Trong Biển Lửa, Nhìn Kỹ Quê Hương [ của Thích Nhất Hạnh, 1966, 1967 ], hoặc công khai như Chứng Từ 5 Năm, Đường Hay Pháo Đài [ Nguyễn ngọc Lan, 1969 ], đều dễ dàng thấy rõ thái độ thiên lệch nói trên.
Từ các tiểu luận như "chủ quyền quốc gia trước sự can thiệp và chi phối của ngoại bang" (Hành Trình số 7 và 8) đến truyện ngắn như "Tấm căn cước bọc nhựa hay là vết tích của sự nhục nhã" (Hành Trình số 3 và số 4) cho đến cả những bài nhận định dưới hình thức trả lời phỏng vấn hoặc thư ngỏ như "Bắt Con Bỏ Chợ" và "Lá thư gửi sinh viên Huỳnh tấn Mẫm đang bị giam giữ tại Tổng nha cảnh sát công an" (Đối Diện số 10), qua cái nhìn một chiều, lối suy luận xa rời thực tế và giọng văn mỉa mai cay độc của tác giả các bài viết đó, người đọc thật khó mà tin được thái độ vô tư, xây dựng của họ. Thật ra, giữa một thời kỳ lịch sử gay go quyết liệt như miền Nam ta trong vòng 10 năm trở lại đây, những khó khăn phức tạp liên hệ đến đời sống chính trị, văn hóa, kinh tế, quân sự của đồng bào và chiến sĩ ta là những hiện tượng tất nhiên không thể tránh khỏi.
Thay vì đặt ra những thực trạng khó khăn ấy để gợi phương hướng giúp chính quyền giải quyết thì họ lại tập trung mũi nhọn vào việc đả kích giới lãnh đạo quốc gia, thóa mạ Hoa Kỳ, nhằm qui hết trách nhiệm về phía Saigon và Tòa Bạch Ốc cùng những đoàn thể, cá nhân chủ trương duy trì cuộc chiến tranh tự vệ mà chúng ta đang tiến hành.
Đọc kỹ các bài viết của họ, người ta thấy rõ ý hướng đả phá, buộc tội của tác giả đối với những ai đang tích cực tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào các hoạt động chống lại các cuộc vận động tái lập hòa bình tức khắc. Ý hướng đả phá thay thế cho thiện chí xây dựng hầu như đã trở thành tư tưởng chỉ đạo, quán xuyến từ đầu chí cuối ở nhiều bài báo. Kể ra thì họ cũng can đảm trong việc cố gắng phân tích, suy diễn và khoét sâu thêm các ung nhọt xã hội do chiến tranh gây ra, cũng như họ đã can đảm tố cáo những ai đang kiên quyết giữ vững lập trường chống Cộng, can đảm lên án các hành động đàn áp của chính quyền đối với các phong trào đòi chấm dứt chiến tranh với bất cứ giá nào, can đảm lên án chính sách can thiệp của Hoa Kỳ vào tình hình quân sự ở miền Nam. Dưới ngòi bút của họ, các hoạt động chiến tranh tự vệ đang diễn ra ở bên này vĩ tuyến 17 đã bị đồng hóa với những tội ác ghê tởm.
Tuy nhiên, tính can đảm nếu không đi đôi với một thái độ công bằng thì chỉ có nghĩa là một sự ngụy biện, khó được quần chúng thừa nhận, nhất là đối với người trí thức.
Không cần phải là người có trình độ kiến thức văn hóa cao, ai cũng có thể nhìn thấy thái độ bất công, vô trách nhiệm của số người cầm bút nói trên. Biểu hiện của thái độ bất công ấy được cụ thể hóa trong một số việc làm tiêu biểu của họ như:
— Thường xuyên phản kháng những người quốc gia tiếp tục chiến đấu chống Cộng, ráo riết đòi Mỹ rút về nước nhưng lại im lặng trước sự có mặt của bộ đội miền Bắc trên lãnh thổ VNCH cũng như im lặng trước chính sách xâm lược của Hà Nội là nguồn gốc gây nên cuộc chiến.
— Căm thù phẫn nộ trước các hành động vi phạm tự do dân chủ của chính quyền Saigon nhưng lại thờ ơ trước các hoạt động phá hoại liên tục của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đối với nền an ninh công cộng tại đây.
— Luôn luôn sốt sắng trong việc khai thác các vụ "bất lợi" do quân đội đồng minh hoặc chính quyền gây ra như các vụ Mỹ Lai, Bình Tuy, Côn Đảo nhưng lại hờ hững trước các hành động man rợ của đối phương như những cuộc tàn sát tập thể ở Huế và gần đây việc bộ đội giải phóng miền Nam tiến công, khủng bố Viện Cô Nhi An Hòa. [ * ]
— Sẵn sàng cổ động cho các hành động can thiệp vào nội bộ miền Nam của Hoa Kỳ, nhưng lại tán thưởng việc các sinh viên nước ngoài đến Saigon xách động biểu tình, bất chấp cả pháp luật và chủ quyền quốc gia.
— Hằn học đối với những cơ quan ngôn luận có lập trường chống Cộng rõ rệt như Xây Dựng, Thẳng Tiến, Chính Luận … nhưng lại tỏ ra đồng tình với các luận điệu tuyên truyền của Hà Nội về một số vấn đề chính trị, văn hóa.
— Nghiêm khắc lên án chính quyền Saigon không tôn trọng Hiến pháp nhưng lại khuyến khích các cuộc biểu tình, "xuống đường" của sinh viên, học sinh, gây xáo trộn sinh hoạt quần chúng đô thị.
— Lớn tiếng kêu gọi đoàn kết quốc gia, hòa đồng dân tộc nhưng lại thường đả kích, bôi nhọ các phần tử không cùng xu hướng, lập trường chính trị với mình, hoặc tung ra những luận điệu kỳ thị địa phương, chia rẽ giai cấp, tôn giáo.
(Xem tiếp trang 11)
Diễn Đàn
(Tiếp theo trang 2)
— Luôn miệng hô hào miền Nam Quốc gia ngừng bắn, nhưng không hề bày tỏ phản ứng ngay thẳng nào trước thái độ "hiếu chiến, ngoan cố" của giới lãnh đạo miền Bắc Cộng sản.
Tóm lại, có thể nói rằng, các bài báo của họ nếu đem tổng hợp lại thì sẽ có giá trị một bản cáo trạng hùng hồn về những tội ác tày trời do các nhà cầm quyền chế độ Saigon và người Mỹ gây ra cho đồng bào miền Nam. Và điều đáng chú ý là bản cáo trạng ấy chỉ được xây dựng bằng những yếu tố chủ quan, một chiều, lệch lạc, thiếu hẳn một căn bản tinh thần vô tư tối thiểu. Chính vì vậy mà dư luận quần chúng đã không dành cho họ những cảm tình tốt đẹp. Bởi họ là những phần tử trí thức, nên dư luận cũng thường tỏ ra khắt khe hơn trong việc đánh giá, phê phán. Chẳng hạn như đã có không ít người phân loại trong số họ chỉ gồm các thành phần ích kỷ hoặc thiển cận như sau:
— Bất mãn vì tham vọng cá nhân không được thỏa mãn, địa vị xã hội không được chiếu cố đúng mức.
— Xu thời, mị dân, cơ hội chủ nghĩa, muốn làm một thứ phù thủy chính trị hòng đoạt lấy một ngôi báu lãnh tụ.
— Đứng núi này trông núi nọ, nghĩ rằng một ngày nào đó, nếu chế độ này bị sụp đổ, thì họ sẽ được Cộng sản ban thưởng cho một ân huệ đặc biệt nhờ "thành tích" tranh đấu trong quá khứ.
— Bi quan dao động trước tình thế khó khăn, không tin vào sự tồn tại lâu dài của chế độ miền Nam nên cố gắng "làm một cái gì" để chứng minh với Cộng sản sau này với hy vọng sẽ được thoát khỏi xiềng xích cải tạo tư tưởng.
— Kiêu căng, hợm mình, chỉ thích đeo cặp kính đen ngòm vào mắt để nhìn đời đặng cho mình là nói đúng, bất chấp cả những sự thật khách quan.
— Là những trí thức nô lệ sách vở, ưa lý thuyết suông, không biết nhìn vào thực tiễn đấu tranh gay go tế nhị để rút ra những kinh nghiệm và nhận thức khoa học.
Sự phân loại trên đây bắt nguồn từ những phản ứng gay gắt của quần chúng đối với việc làm thiếu trách nhiệm của một thiểu số trí thức hiện đang sinh hoạt trong hàng ngũ quốc gia.
Riêng đối với một số độc giả bình tĩnh hơn (trong đó có cả kẻ cầm bút này) thì lại cho rằng trong số họ, phần đông là những người yêu nước và có nhiệt tình xã hội. Họ không chấp nhận chủ nghĩa mác xít bởi một lẽ rất đơn giản là con người tiểu tư sản với các yếu tính của tự do, độc lập như họ không thể phù hợp với những giáo điều công thức có tính cách nguyên tắc cố định máy móc. Họ cũng từ chối luôn chủ nghĩa tư bản với một xã hội thối nát và nhiều chênh lệch, bất công.
Do đó, họ là những người đứng lưng chừng ở giữa 2 thái cực, dường như không tìm thấy một lối thoát nào thích hợp với quan niệm sống của họ, thành ra lập trường chính trị của họ cũng sa vào trạng thái bấp bênh. Trong tình huống bế tắc đó, họ muốn đóng vai một nhà cách mạng, ít ra là trên mặt lý thuyết, để được giải tỏa những ẩn ức, khắc khoải của một tấm lòng yêu nước đang bị thời cuộc dày vò.
Hầu hết trong số họ gồm những người du học lâu năm ở các nước dân chủ phương Tây, bị ảnh hưởng nặng nề ở các trào lưu tư tưởng triết học xa lạ với hoàn cảnh xã hội VN. Do đó, những quan niệm và hành động của họ thường là cách biệt với lối sống và nếp suy tư của quần chúng ở một nước chậm tiến. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là họ đã phát biểu quá nhiều về những vấn đề liên quan đến chính trị, đến đấu tranh hòa bình trong khi chính bản thân họ chưa hề có kinh nghiệm thực tế về Cộng sản, hoặc vì quá chủ quan, tự cao, tự đại, nhận thức của họ về tình hình chiến tranh đã không xuất phát từ những sự kiện khách quan, nên tiếng nói của họ nhiều lúc trở nên ngây ngô, ảo tưởng. Người giàu óc châm biếm đã đồng hóa các việc làm ngây ngô của một số trí thức Saigon với cái gọi là "Tòa án quốc tế xử tội phạm chiến tranh của đế quốc Mỹ ở VN" do ông già lẩm cẩm Bertrand Russel [ Triết gia người Anh, cùng với J. P. Sartre, triết gia Pháp, là một trong vài trí thức thiên tả Tây phương tiêu biểu đã cắn ngon lành cái bã lừa gạt của Cộng sản Bắc Việt ] tổ chức cách đây 3 năm mà báo chí Saigon dạo ấy đã mỉa mai đó là một gánh xiếc.
(Còn tiếp)
[ * Đại tội ác của cộng sản tại cô nhi viện An Hòa
#Chinh Luan Sept. 1, 1970 trang nhất
#Chinh Luan Sept. 1, 1970 trang nhất
Tội đại ác của Cộng Sản ở Cô Nhi Viện An Hòa
Tung bộc phá vào phòng ngủ cô nhi, trói nhà sư mà bắn gục
▼ Cộng sản vơ vét hết tiền bạc, gà, heo của Cô Nhi Viện.
XUYÊN PHÙ, 30-8 (AP). — Trong những cuộc tấn công của Cộng sản tối qua, vụ dã man tàn bạo nhất phải kể đến là vụ tấn công vào một cô nhi viện Phật giáo tại An Hòa gần Đà Nẵng.
Toán đặc công Cộng sản mở cuộc tấn công vào cô nhi viện này, chúng yên trí quá vì rằng không có một sức kháng cự nào. Các trẻ em vào lúc đó, khoảng 1 giờ sáng, đang ngủ ngon.
Từng tiếng nổ đằng sau từ những ngọn đồi an toàn, chúng nã khoảng 50 phát đạn súng cối vào khu cô nhi viện, và khu các nữ y tá và một bệnh viện nhỏ do Tây Đức viện trợ.
Những phần tử đặc công khác bò lại gần bằng súng nhỏ và súng phóng lựu đạn hỏa tiễn vào khu của các nữ y tá, làm cho gian nhà phát cháy và một nữ y tá trẻ tuổi với đứa con trai mới đẻ của cô bị thiệt mạng. Thì thể đứa bé sau đó được bỏ vào một thùng đạn, đặt lên trên quan tài của người mẹ.
Bọn Cộng quân tiến dễ dàng qua một vườn rau. Tại đây không có lực lượng phòng thủ, không có cả vòng rào kẽm gai nữa. Khoảng 30 tên đã tiến vào trong cô nhi viện ném lựu đạn và bộc phá vào những gian nhà nơi khoảng 60 trẻ nhỏ đang run cầm cập co quắp lấy nhau nấp dưới giường.
Bọn đặc công mặc quân phục Bắc Việt nhả đạn liên thanh vào bất cứ vật gì di động.
Chúng kéo cổ Thượng Tọa Thích Nguyên Tri, trụ trì chùa An Hòa và là người điều khiển cô nhi viện, trói giật cánh khuỷu nhà tu hành và hành quyết ngay tại sân cô nhi viện.
Cuối cùng, trước khi lực lượng quân đội quốc gia tiếp cứu kịp đến, chúng biến về các ngọn đồi sau khi đã lấy hết tiền bạc, tất cả gà qué, và 3 con heo của cô nhi viện. Số heo còn lại bị chúng cho một tràng liên thanh chết hết.
Trong nửa tiếng đồng hồ làm cỏ cô nhi viện này, chúng đã giết 15 người và làm cho 45 người khác bị thương mà 2 phần 3 là các trẻ mồ côi. Kỳ dư là các nữ y tá và lao công giúp việc.
Khi mà Đại úy Phan huy Huỳnh quận trưởng đem 2 trung đội Nghĩa quân đến tiếp cứu thì địch đã đi được chừng nửa tiếng đồng hồ rồi.
Đại úy Huỳnh nói: “Chúng tôi không đặt lực lượng phòng thủ ở đây vì có ai nghĩ rằng Cộng quân lại tấn công một cô nhi viện bao giờ. Tôi nghĩ rằng có lẽ hôm nay là ngày bầu cử và Cộng quân phải làm một cái gì cho dân sợ mà không dám đi bầu.”
Không một đồn quân nào của VNCH hay Mỹ đóng chung quanh cô nhi viện bị tấn công.
Xuyên Phù, một ngôi làng thuộc quận Dục Đức chỉ cách căn cứ TQLC Mỹ ở An Hòa ngót 5 cây số và cách Đà Nẵng 35 cây số về phía Tây Nam. Tất cả vùng này được coi như bất an ninh và nguy hiểm.
Đến sáng Chủ nhật, những người sống sót, thu nhặt các tử thi đặt trên thềm ngôi chùa ở ngay gần cô nhi viện. Các cụ bà đến niệm Phật và các cụ ông trán còn buộc băng với vết máu khô thâm ra ngoài thành màu nâu đậm, kéo những tấm chăn phủ mặt lau rửa cho các trẻ em nằm bất động.
Một Thiếu tá VNCH bước vào khu nữ y tá trông thấy thi thể cháy đen của cô y tá liền thốt lên: “Trời ơi, Dã man quá!”
Ông bước quanh gian nhà trống thấy chiếc quan tài và thùng đạn đựng thi thể đứa nhỏ, ngồi bên là người chồng đang than khóc, ông Thiếu tá lắc đầu và nói thêm: “Dã man đến thế là cùng!”
#Chính Luận Oct. 7, 1970 trang hai
DIỄN ĐÀN: Nghĩ Về Một Số Người Trí Thức Ảo Tưởng (tiếp theo Kỳ 1) by Ánh Việt
Kỳ 2
Do những hiểu biết hời hợt, nông cạn về đường lối hành động của Cộng sản, việc làm của họ trong một số trường hợp, đã hóa ra phiêu lưu, tài tử, nếu không muốn nói rằng "theo đuôi Cộng sản", chỉ biết chống chiến tranh, đòi hòa bình mà không cần biết đến nguồn gốc của chiến tranh, thủ phạm của Hòa bình tại đất nước này là do đâu, do ai.
Cũng chính vì lập trường chính trị bấp bênh, nên họ đã gặp Sartre ở quan điểm hành động mơ hồ, luẩn quẩn khi đứng bên này, lúc ngả về bên kia, la lối om xòm, đả kích lung tung, kiêu căng trịch thượng, muốn làm một thứ anh hùng ví như con gà trống mỗi lần cất tiếng gáy thì ngỡ rằng sẽ gọi được mặt trời lên, nhưng thực chất lại chỉ biểu lộ một sự hoảng hốt, giật mình trước những khó khăn, gian khổ, giống như chú gà ri kia, vội vàng rúc đầu vào cánh mỗi lần nghe tiếng động mạnh.
Không ít người lấy làm ngạc nhiên khi thấy số trí thức nói trên đã bất chấp cả những khó khăn trở ngại tất nhiên do kẻ thù trong và ngoài nước gây ra cho miền Nam, cho nên họ ngày càng hung hăng gieo rắc tư tưởng đầu hàng chủ bại trong quần chúng. Họ đã cố tình quên đi cái sự thật sơ đẳng nhất, rằng nếu chỉ ngồi cầm bút chửi đổng một cách vô trách nhiệm thì quả là một chuyện dễ dàng, chứ đứng vào cương vị lãnh đạo một tập thể, một cộng đồng quốc gia dân tộc để giải quyết các vấn đề trọng đại mới là câu chuyện vừa tế nhị, vừa khó khăn.
Chỉ cần nêu ra một ví dụ nhỏ: GS Nguyễn văn Trung, trước ngày giữ chức vụ khoa trưởng Đại học Văn khoa, đã từng là một người nổi tiếng là quá khích nơi các bài báo "khuynh tả" của ông. Nhưng rồi khi bước vào thực tế, với nhiệt tình, khả năng và quyền hạn sẵn có, ông đã chẳng làm được gì đáng kể trong việc góp phần cải thiện một nền giáo dục đại học tiến bộ, suốt cả gần một năm điều khiển phân khoa ấy. Sự kiện trớ trêu này đáng lẽ phải là một bài học kinh nghiệm quý báu cho những ai quen nghề soi mói, nguyền rủa, đả kích không đúng chỗ đúng hướng.
Nhưng bản tính cao ngạo đã làm cho họ không dám nhìn thẳng vào những sự thật gay go quyết liệt đang hiện ra sững sờ trước mắt để bình tĩnh tìm cách khắc phục.
Các đòi hỏi hết sức phi lý đi đôi với những đề nghị bất chính của họ chung quanh vấn đề giải quyết chiến tranh ở miền Nam nước ta, nếu chỉ được phổ biến dưới hình thức tuyên bố ồn ào thì có lẽ không đến nỗi nguy hiểm lắm vì quần chúng coi đó như một trò hề của những kẻ múa rối trên sân khấu.
Nhưng tiếng nói của họ lại được truyền đi dưới hình thức văn chương, sách báo vốn là phương tiện tuyên truyền mang nhiều hiệu lực, vì thế họ có điều kiện phun ra những nọc độc, trước hết là thủ tiêu ý chí đấu tranh cho một nền hòa bình chân chính và lâu dài của nhân dân ta. Mặt khác, trong thực tế, họ lại là những giáo sư đại học, những nhà tu hành, những ký giả, dân biểu, với uy tín do chức vụ và nghề nghiệp thiêng liêng đó ban cho, những tiếng nói nguy hiểm của họ không khỏi tác hại đến một số "đồ đệ" khiến cho hàng ngũ quốc gia vì vậy mà lỏng lẻo, suy yếu thêm. Trong tình hình đó, những kẻ được hưởng lợi nhiều nhất chính là tập đoàn lãnh đạo Hanoi và những phần tử cầm đầu của cái gọi là MTGPMN.
III — Ngây thơ hay ấu trĩ?
Để chứng minh sự hiểu biết quá non nớt, ngây ngô về đường lối hành động của Cộng sản ở một số trí thức nói trên, chúng tôi xin đưa ra dưới đây 2 trường hợp điển hình:
1) Ngây thơ về sách lược giai đoạn của Cộng sản
Trong bài bút ký nhan đề "Nói chuyện với người đã khuất" trong tạp chí Đất Nước số tháng 10-1969 nhân dịp Hồ-Chí-Minh từ trần, sau khi tâm tắc ca ngợi tài đức của họ Hồ mà tác giả "cảm thấy như là một bổn phận" (sic), giáo sư Lý chánh Trung đã nhận định: "... nếu nhìn lại những hành động công khai của cụ từ năm 1954, phải nhận rằng cụ đã luôn luôn đặt ưu tiên cho những cố gắng hòa giải: hòa giải với các đảng phái quốc gia năm 1946, với Pháp năm 1946, và 1954, với chế độ Ngô đình Diệm những năm 1957–1959 (?) khi miền Bắc không còn đòi Tổng tuyển cử như đã dự trù trong hiệp định Genève mà chỉ yêu cầu hiệp thương, nối lại quan hệ bình thường giữa 2 miền".
Rõ ràng là nhận định này đã phản ánh một vốn liếng hiểu biết vô cùng ấu trĩ về các chiến thuật của người Cộng sản, đồng thời cũng phủ nhận luôn cái chân lý khách quan ở chỗ tác giả cho rằng "miền Bắc không đòi Tổng tuyển cử như đã dự trù trong hiệp định Genève" (Sự thật là do chính quyền và nhân dân miền Nam lúc đó không công nhận giá trị của hiệp định Genève chứ đâu phải do thiện chí muốn hòa giải của họ Hồ).
Chắc chắn không một người VN có ít nhiều kinh nghiệm sống với Cộng sản lại nghĩ rằng việc Hồ chí Minh thành lập chính phủ liên hiệp với các đảng phái quốc gia vào năm 1946 là biểu hiện của một tinh thần cố gắng hòa giải. Sự thật hoàn toàn khác hẳn. Sau một năm cướp chính quyền, Cộng sản ngày càng gặp những khó khăn trở ngại trong việc lãnh đạo kháng chiến, chủ yếu là sự bất hợp tác của các đảng phái quốc gia. Để khắc phục trở ngại đó, Hồ chí Minh phải mở rộng thành phần chính phủ, tức là liên hiệp, một trong 3 hình thức sách lược căn bản (Mặt trận, Hòa bình, Trung lập) của kế hoạch xâm lược. Đối với người Cộng sản, mục đích của việc thiết lập chính phủ liên hiệp (không thể gọi là hòa giải như giáo sư Lý chánh Trung đã nhận định) là vừa được tiếng là có tinh thần đoàn kết dân tộc, lại vừa có điều kiện kiểm soát đặng tiến tới đàn áp, tiêu diệt các phần tử đối lập. Bằng chứng rõ rệt nhất là sau ngày Chính phủ liên hiệp ấy được thành lập không lâu, họ Hồ đã thẳng tay loại trừ các đảng phái quốc gia, điển hình là vụ tàn sát, thủ tiêu Quốc Dân Đảng ở phố Ôn Như Hầu Hà Nội. Bởi thế, việc Hồ mời cụ Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam v.v. ..tham gia chính phủ nhất thiết không thể được coi là một cử chỉ đoàn kết, hay một thiện chí hòa giải các mâu thuẫn nội bộ quốc gia mà chỉ là một chiến thuật tạm thời, nếu không muốn nói là một thủ đoạn vô cùng nham hiểm.
Thủ đoạn nham hiểm đó cũng đã được phơi bày lộ liễu trong một chỉ thị của Lénine: "Phải biết dùng mọi chiến lược, mọi mánh lưới, những cách thức hoạt động ngấm ngầm, làm ngơ và che dấu sự thật nhằm mục đích duy nhất là xâm nhập vào các nghiệp đoàn, bám sát vào các tổ chức để từ đó mà hành động với bất cứ giá nào" (trích dẫn theo Minh Võ trong quyển Sách Lược Xâm Lăng Của Cộng Sản [ xuất bản ở Saigon 1963 ]).
Chính vì coi sự tráo trở, lật lọng, mưu mô như một nguyên tắc hành động, nên các lãnh tụ Cộng sản ở VN, trong quá khứ cũng như hiện tại, đã tạm thời "hòa giải" với những người quốc gia qua việc thành lập Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc, và gần đây là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Mục đích của chiến thuật giai đoạn này cũng đã được vạch rõ trong bài xã luận "Chính sách Mặt trận của Đảng ta" do Xuân Thủy viết ở tạp chí Học tập (số 1-1960) cơ quan lý luận của trung ương đảng Lao động, đồng thời cũng đã được ghi trong chương lĩnh của MTGPMN sau này. Có đoạn viết nguyên văn như sau: "Mặt trận chủ trương đoàn kết bất cứ người nào có thể đoàn kết được, tranh thủ bất cứ người nào có thể tranh thủ được, trung lập bất cứ người nào có thể trung lập được, cố nhằm phân hóa kẻ thù đến cao độ và cô lập chúng, đồng thời kiếm thêm nhiều bạn ở trong và ngoài nước..."
Vài sự kiện tiêu biểu về chiến thuật hành động của Cộng sản vừa trích dẫn tưởng cũng đủ khẳng định một cách mạnh mẽ rằng tin vào thiện chí hòa giải của người Cộng sản chỉ là một điều ngây ngô hão huyền, đáng thương hại.
2) Ngây thơ về phương pháp tuyên truyền của Cộng Sản.
Sau bài biên khảo dài chiếm 20 trang nhan đề "Từ cách mạng tháng 10 đến cách mạng tháng 8" đăng trên tạp chí Đất Nước (số 3 tháng Giêng 1968) vừa qua, linh mục Trương bá Cần lại cao hứng viết tiếp một tham luận tràng giang đại hải với cái tiêu đề khá hấp dẫn "25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc" đăng ở tạp chí Đối Diện qua 3 số liên tiếp, chiếm gần 90 trang (các số 14, 15, 16). Không cần nói đến lời ca ngợi một cách nhiệt thành của tác giả đối với chủ nghĩa mác xít lê nin cũng như đối với các lãnh tụ của phương trào cách mạng vô sản quốc tế, cũng như không cần nói đến việc tác giả đề cao đường lối, chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội của miền Bắc như những thành tựu vĩ đại, hoặc tuyên truyền cho ảnh hưởng của chế độ chính trị miền Bắc bằng cách trích dẫn một đoạn trong bài diễn văn của Lê Duẩn với nội dung nói lên những hứa hẹn quyến rũ của một "chế độ ưu việt" đã làm kết luận cho bài tham luận của mình, mà chỉ cần bàn đến tính chất ngây thơ của tác giả trong việc tin tưởng vào các con số thống kê được phổ biến công khai trên các sách, báo Hanoi cũng đã thấy rõ sự lầm lẫn đáng tiếc.
Dựa vào những con số thống kê về các thu hoạch trong những địa hạt nông nghiệp, thương mại, văn hóa, kỹ thuật, công nghiệp nặng, nhẹ, cũng như dựa vào các lời tuyên bố, các nghị quyết của Lê Duẩn, Trường Chinh, hoặc Chính trị bộ trung ương đảng, tác giả đã làm cho những người đọc non nớt ngộ nhận rằng tập đoàn lãnh đạo miền Bắc đã có những nỗ lực phi thường rất đáng khâm phục trong sự nghiệp xây dựng một miền Bắc độc lập và giàu mạnh, hay nói cách khác, đã hoàn thành một cách tốt đẹp công cuộc dân tộc dân chủ trên một nửa tổ quốc. Nếu chỉ đơn thuần căn cứ vào những con số thống kê tỉ mỉ kèm theo những bảng đồ biểu như tác giả đã sưu tầm và trình bày thì quả là chế độ miền Bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao Động, đã đạt những thắng lợi lớn về đủ mọi phương diện. Tuy nhiên, người đọc có ý thức lấy làm tiếc rằng đấy chỉ là những con số được trích dẫn theo các báo chí, sách vở có tính cách tuyên truyền của nhà nước Cộng sản miền Bắc, chẳng hạn như tuần báo "Vietnam en marche" các cuốn "Kháng chiến trường kỳ nhất định thắng lợi" của Trường Chinh, "Thanh niên với cách mạng xã hội chủ nghĩa" của Lê Duẩn, "Sự nghiệp, kinh tế và văn hóa 1945–1956" của Nghiêm xuân Yêm (bộ trưởng nông nghiệp) hoặc dựa theo tài liệu của Viện kinh tế và tài liệu của một số ký giả quốc tế thân Cộng như Bernard Fall. Nói đến tuyên truyền là nói đến cái nguyên tắc "tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại", tưởng không mấy ai mà chưa biết. Một điều đáng tiếc nữa là sau mỗi phần trích dẫn, tác giả đã không bày tỏ một nhận xét khách quan nào. Thái độ im lặng trong trường hợp đó chỉ có nghĩa là một sự tán đồng, ngưỡng mộ.
(Xem tiếp trang 11)
Diễn đàn
(Tiếp theo trang 2)
Có thể tác giả làm như vậy là muốn biểu thị một thái độ khách quan trong việc biên khảo chăng? Nhưng tác giả đã quên rằng trong hoàn cảnh đấu tranh chính trị phức tạp ở miền Nam hiện nay, thái độ "muốn làm ra vẻ khách quan" ấy đã vô tình phục vụ đắc lực cho đường lối kế hoạch tuyên truyền của đối phương. Riêng đối với những ai đã có dịp sống chung với Cộng sản, hay ít ra có tinh thần vô tư trong việc nghiên cứu về lý thuyết và hành động của Cộng sản, đều nhận thức được rằng việc giới thiệu thành tích bằng những con số phóng đại là một trong các phương pháp tuyên truyền rất hiệu quả, thường có tác động mạnh mẽ vào tâm lý quần chúng theo chiều hướng có lợi cho đảng mà cán bộ Cộng sản không hề quên.
IV) Hòa bình thật hay chỉ là chiêu bài?
Trong những ngày gần đây, với sự đỡ đầu của ngoại bang, một số trí thức ở miền Nam đã lợi dụng "quyền bất khả xâm phạm" của họ, cụ thể như dân biểu Ngô công Đức, đã cố gắng khuấy động lên phong trào phản chiến, đưa ra các giải pháp chính trị cực kỳ phiêu lưu, phản động. Hậu thuẫn cho những giải pháp vô trách nhiệm đó, vẫn là những tiếng nói hằn học, những lời buộc tội phiến diện, những phân tích nhận định một chiều, những phán đoán thiếu cơ sở thực tế khách quan của một số ít trí thức, đứng đầu là linh mục Nguyễn ngọc Lan, thông qua các bài báo của họ chung quanh vấn đề chiến tranh và hòa bình. Điều đáng chú ý là ở mỗi bài viết của mình, họ đã khôn khéo viện dẫn đến các thông điệp của Đức Giáo Hoàng để làm bình phong che đậy cái ý đồ bất công hoặc làm cơ sở cho các lập luận máy móc do họ đưa ra. Vẫn là những giọng điệu kết án Mỹ can thiệp vào chủ quyền miền Nam, vẫn là những lời khích động tâm lý hiếu hòa của quần chúng, chứ không hề thấy họ bày tỏ một thái độ nghiêm chỉnh nào trước các hoạt động gây chiến của Cộng sản HN. Họ đòi Mỹ rút quân không điều kiện, đòi hòa bình tức khắc, đòi quyền sống bức thiết cho đồng bào, đòi thiết lập chính phủ lâm thời kết hợp với việc chống bắt lính, chống quân sự học đường, chống tăng cường quân đội v.v… chỉ là sự học vẹt lại một cách trơ trẽn các luận điệu tuyên truyền già nua mồm mép của đài Hà Nội mà quần chúng thường nghe lải nhải ngày này qua ngày khác đến nhàm tai.
(Còn tiếp).
#Chính Luận Oct. 8, 1970 trang hai
DIỄN ĐÀN: Nghĩ Về Một Số Người Trí Thức Ảo Tưởng (tiếp theo Kỳ 2) by Ánh Việt
Kỳ 3
Ai mà không oán ghét chiến tranh! Ai mà không muốn được sống trong thanh bình, tự do, no ấm? Nhưng việc chấm dứt chiến tranh cũng như tái lập hòa bình phải được giải quyết trên căn bản nào, trong những điều kiện nào thật hợp tình hợp lý, chứ đâu phải chỉ đơn phương miền Nam buông súng, đơn phương lính Mỹ rút đi là có hòa bình ngay!
Thử tưởng tượng rằng một ông chủ nhà kia, thay vì tống cổ bọn cướp ra khỏi vườn, lại đuổi những người hàng xóm không cho họ vào giúp mình can thiệp ngăn chặn các hành động mờ ám của bọn du thủ du thực, đặt vấn đề như thế thì có khác gì đòi Mỹ rút quân, đòi chiến sĩ ta ngưng bắn trong khi vẫn làm ngơ trước các hoạt động vũ trang của địch? Giải quyết vấn đề chiến tranh miền Nam theo chiều hướng ấy có khác gì mở toang cửa cho bọn cướp vào nhà tung hoành, dọn đường cho chúng giành lấy địa vị chủ nhân ông?
Bởi quá ngây thơ nên Linh mục Trương Bá Cần và một số "đồng chí" của ông đã không biết rằng người Cộng Sản không bao giờ muốn xây dựng một nền hòa bình đích thực.
Chủ trương cố định này đã từng được xác nhận qua những chỉ thị, giáo điều của các lãnh tụ Cộng sản quốc tế như Lénin: "Nguyên tắc căn bản của chiến lược và chiến thuật Sô Viết là sự chủ trương một cuộc chiến tranh toàn diện, triệt để và vô hạn định." hoặc Mao Trạch Đông: "Nhiệm vụ trung tâm của cách mạng, hình thức cao đẳng của cách mạng chính là chinh phục quyền bính bằng vũ khí, nghĩa là bằng chiến tranh. Nguyên tắc cách mạng của chủ nghĩa Mác Lê này có giá trị ở khắp nơi, đối với Trung hoa cũng như các nước khác" (trích Minh Võ trong Sách Lược Xâm Lăng Của Cộng sản, sách đã dẫn). Chủ trương này tự nó tố cáo quan niệm về danh từ hòa bình hoàn toàn đối lập với cách hiểu thông thường của chúng ta. Nói khác đi, hòa bình theo ý nghĩa của Cộng sản, chỉ là một chiêu bài, một cạm bẫy, một viên thuốc độc bọc đường, một chiến thuật nhất thời của phe yếu nhằm đối phó với một địch thủ mạnh hơn, đúng như Clausewitz lý thuyết gia Cộng sản đệ tam quốc tế đã viết: "Sự ký kết hòa ước chỉ là một giai đoạn chuẩn bị chiến tranh".
V. — Dân tộc hay chỉ là một nhãn hiệu?
Nhân bàn đến chiến thuật liên hiệp, hòa bình của Cộng sản, người ta không thể không nói tới chiêu bài quen thuộc khác của các lãnh tụ cách mạng vô sản: đó là 2 tiếng Dân tộc. Trong các tài liệu văn hóa phổ biến tại miền Bắc, người ta thấy nói đến rất nhiều cái gọi là "hình thức dân tộc kết hợp với nội dung xã hội chủ nghĩa". Điều đó có nghĩa là Cộng sản vận dụng từ ngữ dân tộc như một chiếc áo màu mè nhằm che đậy cái thực chất "vong bản" ở bên trong.
Trên lãnh vực chính trị, hai chữ dân tộc có giá trị của một nhãn hiệu kích thích tâm lý yêu nước của quần chúng, nhất là đối với lớp trí thức đặng lôi cuốn họ tham gia vào con đường cách mạng vô sản quốc tế hoàn toàn xa lạ với quyền lợi của tổ quốc mình. Đặc biệt ở những nước thuộc địa, hoặc những nước nhược tiểu, chậm tiến như VN, các lãnh tụ Cộng sản coi hai tiếng dân tộc như một nhân tố tích cực, có tầm ảnh hưởng sinh tử đối với quá trình đấu tranh của đảng:
"Nhân tố dân tộc chẳng những thúc đẩy phong trào cách mạng của công nhân và nông dân mà còn kích thích tinh thần yêu nước của các tầng lớp khác trong nhân dân. Nó quyết định phần lớn tính chất độc đáo của cách mạng thuộc địa." (Quốc tế Cộng sản với Vấn đề Dân tộc và Thuộc địa. NXB Sự Thật, Hà Nội 1960).
Từ ý nghĩa đó, các khẩu hiệu, tổ chức như "giải phóng dân tộc", "cách mạng dân tộc", "liên minh dân tộc dân chủ" v.v... do Cộng Sản khai sinh, cần được hiểu như một chiến thuật giai đoạn nhằm đánh lừa những người có lý tưởng yêu nước, có tinh thần quốc gia, chỉ phục vụ cho chủ trương chiến lược của họ chứ tuyệt nhiên không đáp ứng nguyện vọng đoàn kết, hòa đồng dân tộc của đa số nhân dân. Cái nhãn định "chủ nghĩa Cộng sản phát triển nhờ chiếc cầu quốc gia dân tộc" chính là rút ra từ bài học kinh nghiệm về sự lợi dụng và phản bội của Cộng sản mà mọi người quốc gia sáng suốt không có quyền làm ngơ.
VI.— Một cái nhìn đại cương vào sơ đồ đấu tranh của Cộng sản VN.
Trong khi say sưa phấn đấu cho một lý tưởng cao quý, con người ta thường bị thu hút bởi những danh từ hào nhoáng đẹp đẽ như Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, nên cũng dễ bị lợi dụng. Đó cũng là trường hợp Việt Minh cướp chính quyền ngày 10-8-1945 biến cuộc biểu tình vĩ đại của các đảng phái quốc gia tại Hà nội thành cuộc tổng khởi nghĩa của họ cách đây 25 năm.
Kinh nghiệm ê chề về sự lợi dụng trắng trợn và thô bỉ ấy đã là một bài học cảnh giác sâu sắc cho các phần tử yêu nước chân chính. Do đó, các khẩu hiệu, tôn chỉ quyến rũ như "Phấn đấu xây dựng một nước VN hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" (của Mặt trận tổ quốc) hoặc "đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo, các nhân sĩ yêu nước ở Nam Việt Nam, không phân biệt xu hướng chính trị để đấu tranh... thực hiện hòa bình, độc lập, dân chủ hoàn thành thống nhất tổ quốc" (của MTGPMN) đã không còn tác dụng thu hút nữa. Tuy nhiên, trong hàng ngũ quốc gia ở miền Nam ta, vẫn còn một thiểu số trí thức, hoặc vì tuổi đời còn trẻ, chưa có kinh nghiệm bản thân đối với Cộng sản, hoặc vì quá chủ quan và tự đại, nên đã vô tình đi vào con đường đấu tranh của đối phương.
Như nhiều người đã biết, mục tiêu cuối cùng của các đảng Cộng sản là tiến tới xích hóa toàn cầu. Mưu đồ ấy cũng đã được phản ánh một phần nào qua định nghĩa quen thuộc trước đây của Hồ Chí Minh như: "cuộc chiến tranh ở VN là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới do Liên xô lãnh đạo" hoặc của Trường Chinh như "cuộc đấu tranh giai cấp ở VN là một hình thái đấu tranh giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa".
Để đạt tới mục tiêu đó, các lãnh tụ Cộng sản ở các nước có nhiệm vụ xây dựng tại địa phương mình một chế độ chính trị trên cơ sở các nguyên lý hành động mác xít - lêninnit tức chủ nghĩa Cộng sản. Trên bình diện lý thuyết, con đường hành động của các đảng Cộng sản địa phương không ra ngoài các kế hoạch sách lược có tính cách giáo điều, kinh điển của Lénin, nhưng trong thực tiễn, để phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể và thích nghi với đặc điểm tình hình của từng giai đoạn, con đường đi của họ được vận dụng theo một sơ đồ đấu tranh uyển chuyển, chủ yếu là về
(Xem tiếp trang 11)
________________________________________
Diễn Đàn
(Tiếp theo trang 2)
Mặt chiến thuật xâm lược, phương pháp tuyên truyền, cách giải quyết các mâu thuẫn nội bộ quốc gia v.v.
Riêng tại VN, sơ đồ đấu tranh nói trên đã được mô tả qua bài trả lời của Hồ Chí Minh với phóng viên nhật báo L’Unita, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Ý, vào tháng 6 năm 1959.
Họ Hồ nói: "Chúng ta đang xây dựng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, chúng ta chỉ đang xây dựng xã hội chủ nghĩa trên một phần nửa xứ sở trong khi phần nửa khác chúng ta còn phải đánh đổ đế quốc và chấm dứt chế độ dân chủ tư sản. Điều này có nghĩa là trên thực tế, đảng ta có nhiệm vụ thực hiện cùng một lúc 2 cuộc cách mạng, một ở miền Bắc và một ở miền Nam". Hơn một năm sau, sơ đồ đấu tranh ấy được cụ thể hóa trong nghị quyết của Đại hội Đảng Lao Động lần thứ 3 (họp vào đầu tháng 9-1960) theo đó, nhiệm vụ trung tâm của Cộng sảnVN Nam là "củng cố miền Bắc và giải phóng miền Nam". (Ở đây, chúng ta chỉ đề cập tới phần liên hệ đến miền Nam).
Theo cách nói của Hồ Chí Minh, thì "đánh đổ đế quốc Mỹ và chấm dứt chế độ dân chủ tư sản" có nghĩa là đuổi Mỹ ra khỏi miền Nam và tiêu diệt giai cấp phú địa hào.
Thật ra đây chỉ là một chiêu bài quá quen thuộc mà các lãnh tụ Cộng sản VN đã từng sử dụng ngay từ thời kỳ đầu cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 với nhiệm vụ của nó đã được giải thích là "phản đế bài phong", và sau này, nhãn hiệu đó lại được dán vào cho tổ chức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam với cái ý nghĩa một cuộc cách mạng "dân tộc dân chủ". Điều đáng vạch trần ra đây là âm mưu của Cộng sản trong việc lợi dụng chiêu bài dân tộc dân chủ (tức phản đế bài phong).
Cộng sản vốn biết rằng VN là một nước nông nghiệp, tuyệt đại bộ phận nhân dân làm nghề cày ruộng. Vậy muốn dành lấy hậu thuẫn sức mạnh to lớn ấy cần phải tuyên truyền thế nào cho quần chúng nông thôn hiểu rằng đảng bị đàn áp, bóc lột thậm tệ, nhằm sách động họ dậy chống lại các thế lực cầm quyền để rồi sau đó, sẽ được phân chia ruộng đất.
Như thế, người nông dân vừa được giải phóng về mặt chính trị, lại vừa được quyền làm chủ ruộng đất của mình. Đó là ý nghĩa đơn giản nhất về quan niệm dân tộc dân chủ đối với người nông dân ít học mà Cộng sản hy vọng rằng với chiêu bài nói trên, họ sẽ thu hút được cảm tình và sự ủng hộ của đông đảo nông thôn.
Riêng đối với tầng lớp trí thức ở thành thị, Cộng sản lại khôn ngoan hơn trong việc khai thác tâm lý. Đối với thành phần này, việc kích thích tinh thần dân tộc, ý thức dân chủ không có gì khác hơn là khai thác các vấn đề chủ quyền quốc gia, những xung đột giữa lãnh đạo và quần chúng, những bất mãn của nhân dân yêu nước đối với sự can thiệp của ngoại bang, đi đôi với việc phát động các phong trào đấu tranh đòi tự do ngôn luận, tự do nghiệp đoàn, tự do hội họp, bất chấp cả những hạn chế tất yếu của hoàn cảnh một nước đang có chiến tranh. Điều cần nhấn mạnh là Cộng sản triệt để vận dụng quan niệm dân chủ Tây phương vào việc khai thác tâm lý của giới trí thức bằng cách lấy ngay các mục tiêu đấu tranh xây dựng dân chủ mà người trí thức hằng theo đuổi làm mục tiêu tranh đấu của họ, tức là dùng chiến thuật "gậy ông đập lưng ông".
Trong quá trình tiến hành nhiệm vụ nói trên, dĩ nhiên, các cán bộ Cộng sản không bao giờ sao lãng các thủ đoạn gây chia rẽ, xáo trộn, phân hóa hàng ngũ quốc gia bằng cách đào sâu thêm những mâu thuẫn đã có, hoặc nếu chưa có thì phải tạo ra trong mọi lĩnh vực, mọi môi trường sinh hoạt xã hội. Thủ đoạn nguy hiểm này cũng đã được vạch rõ trong chỉ thị của Lénine gửi cho các đảng viên, cán bộ Cộng sản: "Trong cuộc đấu tranh cách mạng, muốn đạt được thắng lợi, đảng lãnh đạo phải biết lợi dụng mâu thuẫn tạm thời trong nội bộ kẻ thù mà thực hiện liên minh có điều kiện với những người có thể là bạn đồng minh mạnh của cách mạng, dù chỉ là bạn đồng minh tạm thời, bấp bênh, không chắc chắn và có điều kiện". (Những nguyên lý của chủ nghĩa Lénin, Sự Thật, Hà nội 1964).
Tóm lại, trong quá trình tiến hành các sách lược đấu tranh, chủ yếu là lợi dụng và khai thác các mâu thuẫn nội bộ quốc gia nhằm phân hóa cao độ hàng ngũ của ta, các cán bộ Cộng sản luôn luôn hành động theo những phương châm chiến lược cổ điển. Các phương châm chiến lược ấy cũng đã được Staline nói rõ như:
— "Thấu suốt tư tưởng cách mạng bạo lực, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, kết hợp khởi nghĩa ở nông thôn với khởi nghĩa ở thành thị để giành chính quyền... không thể đấu tranh chính trị đơn thuần, cũng không thể có ảo tưởng đấu tranh hòa bình hợp pháp.
— Tích cực chuẩn bị, chớp lấy thời cơ, dũng cảm phát động toàn dân khởi nghĩa giành chủ quyền".
Staline còn giải thích thêm rằng: "Thời cơ cách mạng đã đến là lúc mà cuộc khủng hoảng đã phát triển đến tột độ, lúc mà đội tiên phong đã sẵn sàng chiến đấu đến cùng, lúc mà những lực lượng hậu bị đã sẵn sàng ủng hộ đội tiền phong và lúc mà hàng ngũ địch đã hỗn mang đến cao độ" (Sách đã dẫn, trang 98).
Như đã nói ở trên, các phương châm chiến lược và chiến thuật hành động của người Cộng sản có tính cách nguyên tắc, giáo điều. Do đó, các cán bộ của họ buộc phải tuân theo một cách máy móc cuồng tín, không được quyền thắc mắc, suy nghĩ về những thay đổi của tình hình đất nước cũng như đối tượng đấu tranh.
Chính vì vậy mà cách đây 25 năm, để động viên tinh thần yêu nước của quần chúng, các lãnh tụ Cộng sản Việt Nam cũng đã chú ý đến mâu thuẫn giữa nhân dân và tập đoàn thống trị thực dân phong kiến đương thời. Sau ngày kháng chiến chống Pháp chấm dứt, Cộng sản lại hướng mọi nỗ lực tuyên truyền vào cái gọi là mâu thuẫn cơ bản của xã hội miền Nam, coi Mỹ là đối tượng tranh đấu thay cho Pháp trước kia, như tạp chí Học Tập, cơ quan lý luận của Trung ương đảng Lao động đã viết:
"... Mâu thuẫn giữa một bên là nhân dân Miền Nam bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản, giai cấp tư sản dân tộc, các tầng lớp và cá nhân yêu nước khác, một bên là đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng gồm những bọn thân Mỹ phản động nhất trong giai cấp địa chủ và tư sản mại bản ngày càng bộc lộ sâu sắc, kịch liệt và chỉ có thể giải quyết bằng cách đánh đổ chính quyền miền Nam" (Số tháng 7-1961)
Cho đến nay, sau hơn 9 năm, Cộng sản vẫn giữ nguyên luận điệu tuyên truyền cũ rích ấy, nhưng vẫn không hấp dẫn được đông đảo nhân dân ta. Bằng chứng hùng hồn nhất là chế độ Cộng Hòa tại miền Nam vẫn tồn tại và ngày càng được phát triển.
(Còn một kỳ)
#Chính Luận Oct. 9, 1970 trang hai
DIỄN ĐÀN: Nghĩ Về Một Số Người Trí Thức Ảo Tưởng (tiếp theo Kỳ 3 và hết) by Ánh Việt
Kỳ 4 (kỳ cuối)
Hiện nay, những khó khăn do chiến tranh gây ra, đặc biệt là do sự tuyệt vọng trong chủ trương đấu tranh quân sự để lật đổ chế độ miền Nam, Cộng sản đã phải thay đổi đường lối chiến thuật bằng cách khuấy động lên phong trào nguy hòa, kết hợp với việc thổi phồng những mâu thuẫn giữa lớp người này với lớp người khác, giữa tôn giáo miền này với tôn giáo kia, giữa quần chúng và giới lãnh đạo, và chủ yếu là giữa dân tộc Việt Nam với đồng minh Mỹ nhằm làm suy yếu tiềm lực chống Cộng của quân & dân miền Nam. Trước tình hình đó, một số trí thức cầm bút đang hung hăng chĩa mũi nhọn vào việc đả kích, bôi nhọ Hoa Kỳ, đòi Mỹ rút quân, kêu gào lập chính phủ lâm thời, hô hào thỏa hiệp với Mặt trận GPMN trong một số đề nghị phi lý của họ, hằn học với những cá nhân, đoàn thể, tổ chức có lập trường quốc gia kiên định; chuyên nghề bi đát hóa các tệ nạn xã hội, trầm trọng hóa tình hình mọi mặt ở miền Nam; tất cả những việc làm quá khích đó mang ý nghĩa tích cực nào dối với sự nghiệp cải tạo xã hội, xây dựng dân chủ, giải quyết chiến tranh không? Hay chỉ có tác dụng vô tình tiếp tay với Cộng sản trong mưu đồ xâm lược miền Nam, bồi dưỡng thêm sinh lực cho một kẻ thù hiếu chiến, ngoan cố vốn đang bị suy yếu và sa lầy trên con đường cách mạng bạo lực hung hãn?
VII — Thực tế hay ảo tưởng?
Trước lúc vào tổng kết bài này, người viết muốn được xác định một lần nữa rằng các dẫn chứng và nhận định ở các phần trên đây không nhằm bôi nhọ uy tín cá nhân hoặc chụp mũ “thân cộng” một số trí thức đang quay lưng hoặc tự tách mình ra khỏi hàng ngũ chống Cộng của đồng bào miền Nam mà chỉ muốn nói lên một lời yêu cầu tha thiết với họ rằng vì vận mệnh và tiền đồ miền Nam, các ngài hãy xét lại hành vi và thái độ của mình trong quá khứ và hiện tại.
Từ mấy năm nay, theo dõi những luận điệu hằn học, đả kích sống sượng, gay gắt của các ngài được vung vãi trên một số sách báo, bất cứ một người nào có lập trường quốc gia vững chắc cũng không thể chấp nhận được. Quả vậy, nếu như những trang chữ của các ngài có gây được một vài ảnh hưởng tốt đẹp nào đó, chẳng hạn như thức tỉnh được một số phần tử trí thức quen thói cầu an, hưởng lạc, hoặc truyền vào các bạn trẻ tuổi một ngọn lửa nhiệt tình, thì đồng thời, nhiều bài báo của các ngài cũng dễ gây hoang mang chia rẽ, xung đột không ít trong hàng ngũ nhân dân, cũng như trong quần chúng tín đồ công giáo, và nhất là gần đây, đã làm tổn thương nặng nề đến lập trường chống Cộng của nhân dân miền Nam, qua việc đòi hòa bình tức khắc. Nói thế không có nghĩa là chính phủ và nhân dân miền Nam muốn duy trì chiến tranh, muốn kéo dài cảnh chết chóc rừng rợn trên quê hương đất nước này, mà chỉ muốn nhấn mạnh thái độ bất công của các ngài ở chỗ các ngài chỉ biết đòi miền Nam ngưng bắn mà không có một lời nào chỉ trích các hoạt động gây chiến, khủng bố, phá hoại của giới lãnh đạo Cộng sản Hà Nội cùng bè lũ của họ ở bên này vĩ tuyến 17. Nói thế cũng không có nghĩa là chính phủ và nhân dân miền Nam lên án những người yêu hòa bình mà chỉ muốn biểu lộ ý chí tôn trọng một nền hòa bình trong tự do và công lý chứ không thể chấp nhận một thứ hòa bình giả hiệu, tức là loại hòa bình diễn ra dưới nanh vuốt thống trị của Cộng sản.
Nói đến vấn đề hòa bình, chắc chắn có nhiều người quan tâm và mong ước hơn cả các ngài nữa. Hàng triệu chiến sĩ, công chức, cán bộ và quần chúng lao động ở những vùng thiếu an ninh, nếu so với cuộc sống nhàn nhã, thong dong của các ngài, thì khát vọng hòa bình ở các thành phần vừa kể, hẳn nhiên nung nấu, thiết tha hơn các ngài gấp bội. Nhưng đối với họ, thà chấp nhận hy sinh, gian khổ, đấu tranh cho một nền hòa bình chính nghĩa, đích thực, chứ không thể chịu cúi đầu khoanh tay nhận lấy một thứ hòa bình tạm bợ, mong manh, mở đường cho kẻ thù tiến công và chiếm đoạt sau này.
Các ngài từng lớn tiếng khẳng định rằng sự có mặt của quân đội nước ngoài trên lãnh thổ miền Nam là nguyên nhân gây ra chiến tranh và để giải quyết chiến tranh, chỉ có biện pháp duy nhất là quân đồng minh phải rút ra khỏi miền Nam. Nhận định này rõ ràng là hết sức ngây thơ, nếu không muốn nói đó chỉ là cái loa tuyên truyền và cổ vũ cho lập trường chính trị của Hà Nội và MTGP. Chẳng lẽ các ngài đã cố tình quên rằng Cộng sản phát động cuộc chiến tranh tại miền Nam này từ năm 1960, nghĩa là ngay sau khi Hà Nội vừa thiết lập xong tổ chức MTGPMN (thực chất đấy là một công cụ thi hành các đường lối chính sách của họ) và các lực lượng quân đội Mỹ, Úc, Đại Hàn, Tân Tây Lan chỉ mới đặt chân vào lãnh thổ miền Nam bắt đầu từ năm 1965 theo lời yêu cầu của giới lãnh đạo Saigon.
Sự thật về nguồn gốc chiến tranh miền Nam rõ rệt như ban ngày, tại sao các ngài lại có thái độ nhập nhằng đánh lận con đen, để rồi ngày nay ráo riết đòi quân đội Đồng minh về nước? Có bao giờ các ngài nghĩ đến hậu quả của việc quân đội Đồng minh rút ra khỏi miền Nam đối với số phận của mười lăm triệu đồng bào và sự tồn tại của chế độ ta, nhất là trong tình hình miền Nam đang bị phân hóa như hiện nay? Nói vậy không có nghĩa là phủ nhận sức mạnh của quân dân ta và thần thánh hóa vai trò của các chiến sĩ nước bạn mà chỉ muốn nêu bật một sự thật quan trọng, rằng trong giai đoạn quyết định của cuộc chiến đấu chống lại một lực lượng thù địch không phải chỉ riêng một ít đơn vị vũ trang ở miền Nam này mà là chống cả một tập thể quân đội Miền Bắc với sự yểm trợ tích cực của đế quốc Nga Sô, đế quốc Tàu Cộng, thì nhân dân ta vẫn còn cần đến sự giúp đỡ của các nước bạn về cả hai mặt vũ khí và nhân lực. Mặc dù sự có mặt của đông đảo quân đội nước ngoài tại đây đã ít nhiều làm va chạm và xáo trộn nếp sinh hoạt tinh thần lẫn vật chất của đồng bào ta, nhưng ta vẫn phải chấp nhận họ như chấp nhận một nhu cầu thiết thân cho sự sống còn của chế độ miền Nam, ít ra là trong giai đoạn lịch sử hiện nay.
Vì thế, giải quyết vấn đề chiến tranh miền Nam theo quan điểm của các ngài, chỉ cần rút quân đội đồng minh ra khỏi miền Nam mà không đặt điều kiện cụ thể nào đối với sự có mặt của hàng trăm nghìn bộ đội Cộng sản Bắc Việt ở đây, là chẳng khác gì đặt cái cày trước con trâu, là chỉ đốn cây ở ngọn mà không đào tận gốc, là vẫn duy trì mầm mống chiến tranh, là sa vào cạm bẫy của đối phương, là đầu hàng địch một cách nhục nhã, hèn nhát.
________________________________________
Diễn đàn
(Tiếp theo trang 2)
Các ngài có biết rằng chính vì các ngài là trí thức, lại thường tự vỗ ngực cho mình là những người yêu nước thương nòi, nên việc làm của các ngài cũng thường bị quần chúng đánh giá một cách gắt gao không? Một số người này thì bảo các ngài bị lóa mắt trước một vài cái hay của miền Bắc mà quên đi những cái dở vô cùng tai hại trong chủ trương đường lối chính sách độc tài, chuyên chính khắc nghiệt của tập đoàn lãnh đạo Cộng sản Hà Nội; nhóm người nọ thì bảo các ngài đang định đóng vai thần tượng, hoặc những anh hùng cá nhân, muốn dư luận phải chú ý đến các hành vi ngôn ngữ cử chỉ đối lập ngang ngửa của mình; không ít người thì cho rằng các ngài bị mặc cảm nặng nề về một số bất công thối nát của tư bản Tây phương nên dễ bị lôi cuốn bởi những nét hấp dẫn trong các thứ sách báo tuyên truyền của Cộng sản; và những người vô tư nhất — thành phần này chiếm đa số — thì nhận định rằng: bởi các ngài chưa từng là nạn nhân của chế độ Cộng sản, chưa có một vốn liếng kinh nghiệm đấu tranh nào đối với Cộng sản, lại chỉ biết Cộng sản qua một vài tác phẩm kinh điển của Marx hay một vài văn kiện tuyên truyền có tính cách quyến rũ như bản Tuyên ngôn Cộng sản, nên mới có những hành động phiêu lưu và ảo tưởng.
Tính chất phiêu lưu và ảo tưởng nơi việc làm của các ngài được biểu hiện ở khuynh hướng đả phá tích cực lập trường chiến đấu của quân dân ta và đồng minh, ở các đòi hỏi thành lập chính phủ chuyển tiếp nhằm tiến tới một chính phủ liên hiệp và một chính sách trung lập, ở thái độ phủ nhận giá trị pháp lý của chế độ miền Nam, mà không biết rằng chính các đòi hỏi đó cũng là những mục tiêu đấu tranh căn bản của đối phương nhằm làm thất bại mọi chủ trương và hoạt động của chính phủ và nhân dân ta.
Tính chất phiêu lưu và ảo tưởng nơi việc làm của các ngài còn được cụ thể hóa ở chỗ các ngài tin tưởng rằng Cộng sản Hà Nội cũng đang mong muốn đất nước sớm hòa bình và thống nhất trong tự do và phồn thịnh như niềm mơ ước của nhân dân ta mà không hiểu biết thế nào là chủ trương chiến lược và thế nào là chính sách giai đoạn của người Cộng sản.
Cuối cùng, tính chất phiêu lưu và ảo tưởng còn thể hiện ở chỗ các ngài nghĩ rằng những lời ve vãn, thiết tha kiểu “Cộng sản, người anh em của tôi” (Nguyễn Văn Trung, tạp chí Đất Nước số 3), những lời suy tôn chân thành kiểu “Nói chuyện với người đã khuất” (Lý Chánh Trung, Đất Nước số 14) những lời tán dương nức nở trong bài “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” (Trương Bá Cần, Đối Diện các số 14, 15, 16) đối với các lãnh tụ và chế độ Hà Nội kèm theo thái độ lăng nhục không tiếc lời của Nguyễn Ngọc Lan đối với giới cầm quyền và chế độ quốc gia ở Saigon (trong loạt bài viết cho báo Tin Sáng gần đây) là có thể làm lay chuyển được tâm tình và ý chí của đối phương.
Nhìn vào các việc làm có tính cách phiêu lưu và ảo tưởng của các ngài, nhiều người đã tự hỏi có đúng là các ngài thơ ngây thật sự hay chỉ là một thái độ ngụy tín, biện lận? Là những nhà trí thức ưa tìm tòi, nghiên cứu và phát hiện các vấn đề lớn, tại sao các ngài đã không nghĩ đến trường hợp những Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường ở ngoài kia và những Lê Văn Hảo, Trần Triệu Luật ở trong này, cũng chỉ vì quá tin tưởng ở người Cộng sản mà ngày nay phải kéo dài một cuộc đời nô lệ nhục nhã trong sự khống chế nghiệt ngã của những người mà trước kia họ đã từng hết lòng ủng hộ và tin tưởng.
VIII — Chú đà điểu và con thiêu thân
Đã đến lúc nhân dân miền Nam cần nói thẳng với số người trí thức ảo tưởng rằng: các ngài nên xác định một cách đúng đắn và dứt khoát chỗ đứng của mình trong chế độ miền Nam. Phản ứng sôi nổi tới mức thiếu cả sự bình tĩnh của quần chúng trong mấy ngày vừa qua đối với những việc làm phản bội của Ngô Công Đức [ * ] tưởng cũng đủ mang đến cho các ngài một đề tài suy nghĩ. Nếu như các ngài dùng ngòi bút sắc bén phanh phui các tệ nạn xã hội nhằm góp phần cải thiện chế độ miền Nam là điều đáng tán thưởng thì ngược lại, thái độ chính trị lập lờ hoặc cực tả của các ngài lại là một điều bất lợi cho công cuộc chiến đấu vì quyền lợi chung của dân tộc ta.
Như các ngài đã thấy rõ, trên lĩnh vực sinh hoạt chính trị, tiếng nói phản chiến gắt gao của các ngài thông qua những bài báo đả kích ác ý ác độc đối với những ai đang quyết tâm giữ vững lập trường chống Cộng, cho đến nay tiếng nói đó vẫn không hề tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của đa số quần chúng.
Các ngài thường mỉa mai thái độ cương quyết đánh thắng Cộng sản ở những người quốc gia yêu nước nhiệt thành là “chống Cộng lối con đà điểu” (Đối Diện số 16), nhưng các ngài có hiểu rằng những việc làm phiêu lưu nguy hiểm của các ngài lại chỉ có nghĩa như những con thiêu thân? Con đà điểu chúi đầu xuống đất nhưng vẫn còn được sống, được quờ quạng lên bước dưới ánh sáng mặt trời, chứ hành động của con thiêu thân chỉ dẫn đến cái chết lập tức một cách khờ dại, cuồng tín và vô nghĩa.
Ở những dòng cuối cùng này, người viết muốn được nói lên một lời yêu cầu khẩn thiết: Xin các ngài đừng lợi dụng chức vụ tôn giáo này, địa vị xã hội nọ, môi trường hoạt động kia, đừng tìm cách ngăn cản cuộc chiến đấu chống Cộng nghĩa của nhân dân miền Nam. Lẽ cố nhiên, cuộc chiến đấu ấy rồi sẽ đến ngày kết thúc, nhưng chắc chắn sẽ không kết thúc trong những điều kiện ô nhục và bất công như các ngài thường đòi hỏi.
Chế độ miền Nam này tuy chưa phải là một chế độ lý tưởng, nhưng ít ra, ở đây các ngài cũng còn được quyền tự do hưởng thụ và ăn nói, kể cả sự chỉ trích bừa bãi vô trách nhiệm, khác hẳn với chế độ mà đối phương của chúng ta đã lầm lì thiết lập tại miền Bắc và đang lăm le thiết lập tiếp tại miền Nam này, trong đó mỗi công dân kể cả giáo sư, dân biểu và nhà tu hành như các ngài chỉ còn là những công cụ sản xuất theo các chỉ tiêu kế hoạch của đảng và nhà nước Cộng sản mà thôi./.
____________
[ * LTC tóm lược bản tin này (của VTX) do Tiền Tuyến đăng lại:
#Tien Tuyen Sept. 19, 1970 trang nhất
Đề Nghị Lập Chính Phủ Lâm Thời Của Một Số Dân Biểu Bị Đả Kích Kịch Liệt
Ngày 17-9-1970, các dân biểu [ hoạt động nội tuyến cho Cộng sản ] do Ngô công Đức dẫn đầu gồm có Dương văn Ba, Hồ ngọc Nhuận, Lý quý Chung, đã đăng trên một số tờ báo ở Saigon một bản đề nghị «Thành lập một chính phủ lâm thời tại Nam Việt Nam, thực hiện ngưng bắn trên toàn lãnh thổ để đưa đến việc tổ chức tuyển cử tự do nhằm định đoạt tương lai chính trị của miền Nam». Đề nghị này bị hầu hết các chính khách miền Nam phản đối kịch liệt, trong đó có một số chính đảng phẫn nộ hăm dọa sẽ có biện pháp thích đáng dành cho Ngô công Đức và đồng bọn.
LTC: hai bài tham luận của Vĩnh Nam và của Ánh Việt trên báo Chính Luận trên đây cho đến nay – 2026 – vẫn còn nguyên giá trị bao lâu cuộc trường chinh diệt trừ Cộng sản trên giải đất Việt Nam này chưa kết thúc.
Luận cứ của hai cây bút đặc sắc này của báo Chính Luận cho ta thấy hai ông có sự am hiểu thấu đáo về người Cộng sản chuyên nghề thủ đoạn gian tà chỉ chực thôn tính người Quốc gia. Sự am hiểu đó là một chữ ký bảo đảm hai ông có đủ thẩm quyền nói lên những lời tuyên ngôn của người Quốc Gia không chấp nhận chế độ Cộng sản ở mọi thời.
Thêm nữa, hai bài tham luận còn chứng tỏ một tinh thần văn minh, hiếu hòa của bậc trí thức chơn chánh khi viết bài trình bày sát rạt chủ đề sinh tử của cả miền Nam nhưng vẫn dùng lời lẽ ôn hòa và tôn trọng dành cho những kẻ trí thức thiên tả, những kẻ đang ra sức phá hoại công cuộc vệ quốc của miền Nam, gây phân tán nhân tâm, lũng đoạn hàng ngũ trong những giờ khắc cần sự đoàn kết hơn bao giờ hết. Bộ mặt thật – cốt khỉ – của băng trí thức thiên tả này đã lộ diện trần truồng một cách nham nhở, thảm hại và đớn hèn ngay sau khi bầy CSBV nón cối dép râu trong rừng tràn ra đô thành Saigon black April.
Vì thế hôm nay đọc lại những dòng chính luận này, chúng ta không khỏi lấy làm tiếc rằng, những Nguyễn văn Trung, Nguyễn ngọc Lan, Chân Tín, Lý chánh Trung và những bè lũ hữu hảo với họ v.v… không xứng đáng được trọng nể như vậy. Tuy nhiên, vì muốn giữ vẹn trang Sử miền Nam Quốc Gia với những giá trị Tự do, Nhân bản vàng ròng không chối cãi, nên tôi vẫn kiên nhẫn typing và đăng lên ở Library này, trước là để san sẻ với anh em Quốc Gia nào còn hùng tâm quyết chí, sau là để làm hành trang cho lớp người đến sau trên chặng đường nhận lãnh trọng trách tái thiết Quốc Gia Việt Nam Tự Do sắp tới.
_________________________
$pageOut $pageIn Phân đoạn 7
Vụ Nguyễn văn Trung (tiếp theo)
LTC: Sau bài tham luận của Ánh Việt trên đây, thì Nguyễn văn Trung đâu có chịu im, mà viết bài "Lên tiếng" đáp lại, được Nhựt báo Chính Luận đăng làm 2 kỳ: Chinh Luan Oc. 29, 1970 trang hai « Nói với ông Ánh Việt, tác giả bài ‘Nghĩ về một số người thức ảo tưởng’ » by Nguyễn văn Trung (kỳ 1) và Chinh Luan Oc. 30, 1970 trang hai (kỳ 2 và hết.)
Tưởng đâu Nguyễn văn Trung đọc những lời tâm huyết, ôn tồn khuyên nhủ như Ánh Việt đã viết thế kia, thì sẽ hồi tâm, phục thiện trước những chứng cứ rành rành thiết cận sự an nguy của miền Nam trước cơn xâm lăng hung hãn bằng võ khí Nga Tàu do CSBV gây ra. Nhưng không! Bài "Lên tiếng" của Nguyễn văn Trung chứng tỏ một tâm địa dối trá, tiểu nhân nhỏ nhen, cho dù Nguyễn văn Trung đã tìm đủ cách xảo ngữ mẹo thuật xào nấu ý tưởng và chữ nghĩa để đánh trống lảng vấn đề chánh, để làm loãng đi, xô giạt đi chủ đề vệ quốc đang sinh tử trong khói lửa chiến tranh nóng hổi từng giờ, làm cho người đọc không thể không tự hỏi thế Nguyễn văn Trung đang ở đâu? ở Việt Nam hay ở La Mã? đang nói về đề tài gì? về chuyện quân & dân miền Nam đang thời chiến, ngày đêm nỗ lực đánh tan Cộng quân từ miền Bắc kéo vô đây gây máu lửa ngút trời cho dân lành, hay Nguyễn văn Trung đang bàn về một chủ đề giáo khoa nơi bàn giấy lớp học trong thời bình? Thói bất lương tự trong xương của tay trí thức mắt mù và vô liêm sỉ này làm LTC tôi không chịu nổi cho dù hôm nay là đã 55 năm kể từ ngày anh ta làm trò múa rối. Do đó, tôi không có đủ vui vẻ để retyping bài đáp lại kia của anh ta, mà chỉ post vào đây nguyên dạng ảnh chụp bài báo Chính Luận để bạn đọc theo dõi.
Sau đây là Lời Tòa Soạn Chính Luận (ra ngày Oct. 29, 1970 trang hai) khi đăng bài "Lên tiếng" của Nguyễn văn Trung:
LTS: GS Nguyễn văn Trung, nguyên khoa trưởng Đại Học Văn Khoa, vừa gửi tới Chính Luận bài "Lên tiếng" đăng tải dưới đây để trả lời bài "Nghĩ về một số người trí thức ảo tưởng" của ông Ánh Việt đăng cách đây mấy tuần ở mục này.
Bài lên tiếng của GS Trung, lẽ dĩ nhiên sẽ bác bỏ mọi nhận định của ông Ánh Việt và sẽ chứng minh thực tế không ảo tưởng trong tư tưởng cũng như trong hành động của ông và các nhà trí thức đã được đề cập. Tuy nhiên ngoài cái phần thông lệ đó ra, bài lên tiếng của GS Trung gợi lên một điều khá mới mẻ và khá thành thật. Đó là điều ông có vẻ thành thật tin tưởng rằng chủ nghĩa Cộng sản hay tổ chức Cộng sản mạnh lắm đến nỗi không ai – kể cả Cộng sản – có thể hiểu thấu và tổ chức Cộng sản mạnh lắm đến nỗi không thể bị đánh bại hoàn toàn. Còn "phía bên này" tất nhiên là hoàn toàn dở. Thực tế có như thế hay không đó lại là chuyện khác. Nhưng đây dường như là nguyên nhân sâu xa đã khiến GS Trung đứng hẳn qua lập trường được gọi là "cấp tiến".
#Chinh Luan Oct. 29, 1970 trang hai (kỳ 1) #Chinh Luan Oct. 29, 1970 trang 11
#Chinh Luan Oct. 30, 1970 trang hai (kỳ 2 và hết) #Chinh Luan Oct. 30, 1970 trang 11
$pageOut $pageIn Phân đoạn 8
Cục diện cuộc chiến CSBV xâm lăng miền Nam
Chinh Luan Sept 1, 1970 trang nhất
Ý KIẾN - Chuyện Bi Hài
Cuộc thi đua ngắn hạn, từ 15-8 đến 5-9, do Cộng sản Phân Cục Miền Nam phát động đã sắp hết hạn. Mục tiêu của cuộc thi đua được đề ra là «liên tục tấn công — liên tục nổi dậy». Nhưng kết quả đạt được cho tới nay chẳng thế nào gọi được là «liên tục tấn công, liên tục nổi dậy».
Cho tới nay, thành tích lớn nhất mà cuộc thi đua của Cộng sản đã đạt được chỉ là một vụ pháo kích và tấn công ở địa phận Quảng Nam và mục tiêu có ý nghĩa nhất là một cô nhi viện. Dù vậy đây chưa phải là điểm nổi bật nhất trong giai đoạn được gọi là «thi đua liên tục tấn công, liên tục nổi dậy». Điểm nổi bật nhất trong giai đoạn thi đua là: 13 ngày sau ngày hạ lệnh thi đua, chủ tịch chính phủ ma Huỳnh tấn Phát, qua một bài diễn văn dài dòng kể lể về sự tất thắng của Cộng sản và sự tất thua của Quốc gia, đã hạ một câu rằng «Mỹ vẫn còn theo đuổi ảo vọng tìm thế mạnh trong sự xuống thang» và rằng «nếu ta (Cộng sản) không từ mọi cố gắng để tìm giải pháp chính trị thỏa đáng cho miền Nam thì mặt khác ta cũng không lùi một bước nào trước ý đồ của đế quốc Mỹ...»
Lời tuyên bố của Huỳnh tấn Phát, đem đối chiếu với thực tế chiến trường, đối chiếu với lập trường Trung ương CSVN (mới đây do Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp trình bày) và đối chiếu với thái độ của các thượng cấp Nga Tàu của Hanoi, cho thấy phía Cộng sản còn có nhiều vấn đề rắc rối hơn là phía VNCH và đồng minh Hoa kỳ.
Về quân sự, mệnh lệnh được ban ra từ Hà nội là phải chuyển đổi cuộc chiến trở về thế «chiến tranh nhân dân» nghĩa là phải chịu tụt lùi để có thể đứng lâu, nhưng tại trận tiền, Cộng sản Phân Cục Miền Nam lại hạ lệnh «liên tục tấn công — liên tục nổi dậy» nghĩa là mệnh lệnh leo thang đã đưa tới cuộc «dậy non Mậu Thân», đã từng phung phí cả trăm ngàn sinh mạng Cộng quân mà kết quả là một bước lùi dài. Như thế quan điểm của hai bên rõ ràng là đối nghịch. Sự đối nghịch chỉ có thể tăng thêm nếu một bên không chịu từ bỏ quan điểm của mình. Bởi vì trước mắt cả hai bên cùng thấy giống nhau là: địch vẫn xuống thang mà ta vẫn ở thế mạnh.
Về chính trị, Trung Ương CS VN kín đáo hơn và khéo léo hơn. Họ đã âm thầm để cho Souphanouvong của họ ở Lào chịu thương thuyết trong cái thế kém với hy vọng thử tách đất Lào ra khỏi toàn bộ Đông Dương đặng may ra cứu gỡ cho con đường xâm nhập đi Nam khỏi bị mưa bom Mỹ, giúp họ gây lại phần nào thế giá trước khi phải chấp nhận một giải pháp chung cuộc về vấn đề Miền Nam. Ngoài ra Hà Nội tuy là làm già, để đến nỗi tân trưởng phái đoàn Mỹ phải nổi sùng, nhưng không dám để nổi sùng hơn thêm, và Xuân Thủy đã vội vàng bỏ cả giỗ ông Hồ mà đi Ba Lê. Chuyến đi Ba Lê của Xuân Thủy được bắn tiếng là sẽ «nói chuyện kín với Mỹ» trong cái ý đồ là gây mâu thuẫn Việt Mỹ. Nhưng mà gây được hay không là chuyện khác. Chỉ biết rằng cho tới nay, về mặt công khai, Trung Ương Cộng Sản VN trong cái thế chờ đợi chưa chịu từ bỏ lập trường quyết liệt một cách vô vọng.
Trong khi đó, có lẽ đây là lần đầu tiên Cộng sản phân cục Miền Nam thở ra cái giọng bất thường «không từ mọi cố gắng nào để tìm một giải pháp chính trị thỏa đáng cho tình hình Miền Nam». Nếu hiểu rằng đây là một bước đi trước của Phân Cục đối với Trung Ương và đó cũng là một dấu hiệu khác biệt thì vụ «chuyện riêng chuyện kín Hoa Kỳ — Bắc Kỳ» không phải chỉ gây thắc mắc cho VNCH mà còn thê gây thắc mắc hơn cho MTGP. Nghĩa là bằng mệnh lệnh «liên tục tấn công liên tục nổi dậy», Phân Cục đòi Trung Ương liên tục đóng góp xương máu chứ không phải đóng góp mệnh lệnh. Nếu không được thế thì «đàn em» đành phải tìm cách riêng để kiếm lối sống cho chính mình và cũng là để biện minh cho cuộc chém giết làng xóm trong Nam đã kéo quá dài.
Sự tình bi hài này chẳng có gì là khó hiểu. CSVN mà có làm được gì là tùy theo ý muốn của Cộng sản Quốc Tế. Hiện nay thì Cộng sản Quốc Tế tuy có chia ra thành hai đầu nhưng chẳng có cái đầu nào là không đi tìm cái thế bồ bịch với thế lực mà họ vẫn gọi là đế quốc (Mỹ). Nga Xô qua một loạt chính sách đã thể hiện sự cương quyết đi tìm cái thế sống chung. Tàu cộng tuy vẫn hung hăng nhưng đó chỉ là cái hung hăng ngoài miệng, cái hung hăng làm giá, còn mục đích cuối cùng vẫn là sống cái đã. Mục đích của Cộng Sản Quốc Tế có vẻ bần tiện nhưng đó là cách thực tế đi tìm sự sống. Còn mục đích của Cộng Sản VN rất lý tưởng (lý tưởng về phương diện lý thuyết) tuy nhiên có điều hơi tiếc là nó chỉ đưa tới cái chết. Để an ủi thôi thì cũng nên gọi đó là cái chết anh hùng cho một chủ nghĩa.
#Tien Tuyen May. 21, 1970 trang năm Văn Hóa - Chính Trị
NHỮNG MỤC TIÊU MỚI CỦA CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM
Trong tháng 4-1970 cộng sản BV leo thang chiến tranh rõ rệt bằng các cuộc tấn công vào các tiền đồn biên giới của VNCH, trên một chiến tuyến dài gần 300 cây số, đồng thời mở hàng loạt các vụ pháo kích bằng hỏa tiễn vào các đô thị và thị trấn, trong đó có thủ đô Saigon cũng bị pháo kích trong ba đêm liền.
Trong các cuộc tấn công của cộng sản, có cuộc vây hãm hai tiền đồn Dakseang và Dakpet của VNCH kéo dài suốt 26 ngày, với hy vọng tạo một Điện Biên Phủ ở miền Nam.
Theo tin tức giới quân sự thì các cuộc tấn công của Cộng sản nằm trong cao điểm Hè, nhắm nhiều mục tiêu chiến lược và chiến thuật để gỡ thế bị động hiện nay của Cộng sản tại chiến trường VN và Cam Bốt.
CÁC MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC
1. Tìm nơi phân tán quân. Hiện quân đội cộng sản đang lâm vào thế kẹt "lưỡng đầu thọ địch". Tại VNCH, quân đội cộng sản bị săn đuổi khắp nơi, không còn dựa vào các làng mạc để đóng quân được nữa, vì chính phủ VNCH đã kiểm soát hơn 90% đất đai nông thôn. Tại Cam Bốt hàng chục ngàn quân cộng sản trước đây ẩn trú an toàn tại các sào huyệt bất khả xâm phạm nay đã bị truy nã gắt gao. Vì vậy cộng sản cần phải mở rộng địa bàn nông thôn VN để có thể phân tán bớt một số quân đồn trú tại Cam Bốt.
2. Phá kế hoạch "Việt Nam hóa chiến tranh". Các cuộc tấn công của cộng sản nhằm cầm chân quân đội Hoa Kỳ khiến chính phủ Nixon không thể rút quân đúng thời hạn và không giữ đúng được lời cam kết với dân chúng Mỹ. Cộng sản sợ kế hoạch thay quân dần dần của Hoa kỳ tại VN mà thành công, thì sẽ làm chúng mất đối tượng tuyên truyền, đồng thời có thể làm dịu dư luận phản chiến tại Hoa kỳ.
CÁC MỤC TIÊU CHIẾN THUẬT
1. Chọc thủng màng lưới phòng vệ biên giới VNCH. Cộng sản mở nhiều trận đánh lớn nhằm buộc liên quân Việt Mỹ phải tập trung vào những địa điểm trọng yếu, tạo ra những kẻ hở trong màng lưới phòng vệ biên giới của VNCH. Khi đó cộng sản cho xâm nhập những toán quân nhỏ vào vùng đông dân cư, một đằng để phân tán lực lượng, một mặt để hỗ trợ cho các lực lượng du kích địa phương khi có cơ hội thuận tiện sẽ tập trung lại thành các đơn vị lớn mở các cuộc tấn công vào các đô thị và thị trấn của VN.
2. Cắt đôi VNCH thành hai vùng. Cộng sản đã tấn công vây hãm hai tiền đồn Dakseang và Dakpet thuộc tỉnh Kontum ở cách Saigon 400 cây số về hướng Tây, và chỉ cách biên giới Lào-Việt từ 8 đến 12 cây số. Nếu tiêu diệt được hai đồn này, cộng sản có thể chiếm thị trấn Kontum và mở rộng hành lang xâm nhập từ đường mòn Hồ chí Minh vào miền Nam, rồi từ đó đánh thẳng xuống Nha Trang ở sát bãi biển miền Trung, cắt đôi VNCH thành hai vùng cô lập. Chúng đã thất bại.
3. Cướp lương thực. Công cuộc bình định và phát triển nông thôn, và cuộc đảo chính ở Cam Bốt đã làm cho cộng sản bị thiếu thốn lương thực trầm trọng. Sự kiện này đã được một hàng binh cao cấp của cộng sản, Thiếu tá Đặng ngọc Toàn, nguyên tiểu đoàn trưởng Việt Cộng thuộc Đặc khu Quảng Đà tiết lộ. Kể từ đầu năm 1970, các cán bộ VC đã nhận được chỉ thị phải tự túc 4 tháng lương thực trong một năm, và việc tiếp tế gạo bị giảm đi phân nửa. Do đó, cộng sản phải tìm cách lọt vào sống lẫn lộn trong dân làng để liệu cách sống tự túc, nghĩa là cướp bóc của dân mà sống, khỏi cần đến tiếp tế của Trung ương cộng sản ngoài Hanoi.
4. Bảo vệ cơ sở hậu cần. Các cuộc tấn công của cộng sản còn nhằm làm trì hoãn các cuộc hành quân ngoại biên chinh phạt của liên quân Việt Mỹ sang lãnh thổ Cam Bốt, giúp cho cộng sản có đủ thời giờ di tản hoặc ngụy trang các cơ sở hậu cần đặt trên đất Cam Bốt. Các cơ sở này được thiết lập cách biên giới VNCH từ 20 đến 30 cây số và không được phòng vệ vững chắc vì trước đây cộng sản ỷ vào sự che chở của cựu Quốc trưởng Sihanouk.
Trong những năm trước, cộng sản luôn luôn vượt biên giới tấn công VNCH. Khi bị truy kích hoặc oanh tạc trả đũa thì cựu Quốc trưởng Sihanouk lại lên tiếng tố cáo VNCH vi phạm nền trung lập của Cam Bốt.
5. Kỷ niệm sinh nhật Hồ chí Minh. Các cuộc tấn công của cộng sản cũng nhằm sửa soạn kỷ niệm ngày 19-5, ngày kỷ niệm sinh nhật Hồ chí Minh, đồng thời cũng là ngày thành lập đảng Cộng sản Đông Dương. Sự thực thì cộng sản dùng những ngày lễ này như những phương tiện để khích thích tinh thần các cán binh đã bị suy nhược, vào những mục đích chính trị và chiến tranh của cộng sản.
Nhiều quan sát viên cho rằng các cuộc tấn công mới của cộng sản trong cao điểm Hè chỉ là những hành động bị động, như câu phương ngôn của Việt Nam bảo là: "vào chỗ chết để tìm con đường sống".
#Tien Tuyen May 22, 1970 trang nhất
Sau những thất bại nặng nề từ Tết Mậu Thân
Cộng sản MỞ CUỘC CHỈNH HUẤN #Tien Tuyen May 22, 1970 trang nhất
Sau những thất bại nặng nề từ Tết Mậu Thân
Cộng sản MỞ CUỘC CHỈNH HUẤN TƯ TƯỞNG CÁN BINH TOÀN MIỀN
★ Tinh thần cán binh sa sút, ngao ngán chiến tranh đã đưa Trung ương Cục Cộng sản Miền Nam vào chỗ khó khăn suy sụp ★ VC đã phải chấp nhận sự lùi bước trong chiến lược.
⚫ HOÀNG ÂN
SAIGON 21-5 (H. A). — Sau hai năm thất bại chua cay cả chính trị lẫn quân sự, Trung ương Cục Cộng sản miền Nam đã phải mở cuộc chỉnh huấn tư tưởng cán binh toàn miền.
Mục đích của cuộc chỉnh huấn to tát này là để nhận định quá trình cuộc chiến do Cộng sản phát động tại miền Nam, trong giai đoạn «Tổng công kích – Tổng khởi nghĩa» năm 68 – 69 đồng thời đề ra nhiệm vụ trong năm 70 và kế tiếp.
Những sự khó khăn của Cộng sản hiện nay
Theo tài liệu «Mật» của Cộng sản thì hiện nay Trung ương Cục miền Nam đã phải gặp những khó khăn trở ngại như: cán binh yếu kém tinh thần và kỷ luật, tư tưởng hữu khuynh, tiêu cực, ngại khó khăn, sợ ác liệt, ngao ngán chiến tranh kéo dài, hoài nghi, không tin tưởng vào thắng lợi.
Ngoài ra, Cán bộ còn thiếu tinh thần trách nhiệm với binh sĩ, có tác phong quân phiệt, quan liêu, mệnh lệnh, hưởng lạc, tham ô, hủ hóa [ dâm dật, là loại chữ riêng Cộng sảnBV dùng ] và những hành động bất lương. Còn binh sĩ thì tư tưởng tự do, vô tổ chức, vô kỷ luật, không triệt để chấp hành thượng lệnh.
Những sự kiện nêu trên đã đưa Trung ương Cục Miền Nam vào chỗ khó khăn trở ngại và thất bại nặng nề.
Cộng sản phải chấp nhận một sự thụt lùi
Trước đây, khi mở cuộc «Tổng công kích, tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân (1968) Cộng sản âm mưu thắng nhanh. Nhưng qua 2 năm chiến đấu bị thất bại nặng nề Cộng sản phải ước tính lại tình hình bằng cách nêu ra 3 khả năng của chúng mà trong đó có khả năng «giằng co giữa Cộng sản và VNCH» cũng như khả năng «trở lại thế du kích chiến». Như vậy, trong tư tưởng chỉ đạo chiến tranh Cộng sản đã phải chấp nhận một sự lùi bước trong chiến lược.
Ngoài ra, Cộng sản còn đề ra năm 70 là năm giành «Thắng lợi quyết định» nhưng nếu không xong thì để qua năm 71. Như vậy chứng tỏ rằng Cộng sản không dám dứt khoát thời gian, vì khả năng và thực lực của chúng hiện tại không cho phép.
Hơn nữa mục tiêu đề ra của Cộng sản chỉ có tính cách khích động tinh thần cán binh hơn là thực tế.
Theo sự nhận xét của giới chức quân sự thì sở dĩ tinh thần cán binh Cộng sản ngày càng suy nhược là do ảnh hưởng chiến cuộc gây ra. Như vậy càng đánh càng thua, chúng càng tạo thêm nhiều khó khăn và mâu thuẫn trong nội bộ. Vì thế Cộng sản phải cấp tốc đề ra chương trình chỉnh huấn nhằm ổn định tư tưởng cán binh sau các cuộc tấn công bị thất bại và đồng thời để chuẩn bị đương đầu với những khó khăn mới.
Máu Đổ Cửa Thiền
Bạn đọc có thể xem lại phần tôi chú thích nơi phân đoạn 4 để biết rõ nguyên cớ đưa đến sự kiện bi thảm này: rạng sáng ngày 3-5-1970, phe Ấn Quang dàn một đoàn quân gồm tăng ni và Phật tử đông đảo tới hàng ngàn người như đi hành quân từ chùa Ấn Quang kéo nhau qua tấn công và chiếm cứ Việt Nam Quốc Tự (VNQT) gây cảnh hãi hùng mà báo giới đương thời gọi là Máu Đổ Cửa Thiền.
Phân đoạn 9 này dành để tường thuật nội vụ, gồm có:
➯ Tin tức trên các nhựt báo, trong đó tôi ưu tiên chọn các bài tường thuật nội vụ Máu Đổ Cửa Thiền đăng trên báo Chính Luận, Tiền Tuyến từ ngày 5-5-1970 trở đi.
➯ Trích một vài tin tức có liên hệ tới nội vụ trích trong tập "Bạch Thư về Vấn đề Chia rẽ của Ấn Quang với Việt Nam Quốc Tự" by Thích Tâm Châu, Tổ Đình Từ Quang Montréal, Québec xuất bản, Canada – 1993, do Thích Tâm Châu lần đầu tiên 18 năm sau khi giặc Cộng cướp miền Nam, đã kể lại những sự thật mà từ trước đến nay công luận chưa từng biết.
Rất may là chúng ta còn các số báo cũ miền Nam Tự Do, tựa như bộ ký ức khổng lồ của trang Sử Quốc - Cộng hai mươi năm, lưu giữ lại hết các sự kiện lịch sử đã xảy ra, phản ảnh trung thực các mặt thuận lợi-khó khăn, sáng-tối, hay-dở, tốt-xấu, vui-buồn của VNCH trong hai mươi năm kiến quốc và vệ quốc trước dã tâm trùng trùng của cộng sản quốc tế dùng tập đoàn Bắc bộ phủ làm công cụ tay sai hòng xâm lăng thôn tính miền Nam. Cộng sản có thể đánh cướp miền Nam — trong một giai đoạn có hạn — nhưng chúng không thể nào đốt phá, xóa nhòa được ký ức lịch sử Công chính, Nhân bản và Tự do của miền Nam là các giá trị làm nên Chánh Nghĩa Quốc Gia trường cửu của Việt Nam Cộng Hòa.
Máu Đổ Cửa Thiền là trang Sử dơ bẩn, kinh hãi và bi thảm của Giáo hội PGVNTN không cách gì chối cãi hay biện bạch được, do đó, người ta có thể hiểu vì sao trong bao nhiêu năm sau Tháng Tư Đen, không một ai thuộc giới chức sắc Phật giáo Ấn Quang đả động tới sự vụ bi thảm này. Chỉ may đâu có ông Thích Tâm Châu - VNQT cho phổ biến Bạch Thư (nói trên) vào năm 1993 tại Gia Nã Đại, công bố các nguyên do chánh khiến Phật Giáo Việt Nam bị chia rẽ ra làm hai, tuy nhiên trong Bạch Thư đó, Thích Tâm Châu cũng nói rất ít về sự vụ Máu Đổ Cửa Thiền tháng 5-1970, cùng rất ít các sự vụ quan trọng khác, khiến ta có cảm tưởng chính Thích Tâm Châu cũng ngần ngại, tránh né không muốn nhắc lại chuyện quá khứ xấu xa của những kẻ tu hành mình khoác áo tràng, mồm nhân danh Phật Đạo để làm toàn những chuyện huyễn tưởng, điên đảo, và tội lỗi.
Giáo hội PGVNTN hoàn toàn không phát ngôn gì về chặng hành trình lịch sử của Giáo hội trong giai đoạn 1964 - 1975 và sau 1975, từ những chức sắc đang còn ở trong nước cho chí người ở hải ngoại (ví dụ, Thích Nhất Hạnh, ở Pháp). Sự im lặng kỳ lạ này làm cho trang sử của Giáo hội PGVNTN bị chết ngang ở cột mốc năm 1964. Điều đó khiến ta không khỏi nhận thấy rằng, Giáo hội PGVNTN bị kẹt nặng không ăn nói gì được về hai chặng hành trình của họ: một đằng là được hoạt động một cách tự do tha hồ thỏa thích từ 1965 - 1975 vì được tôn trọng, che chở dưới chế độ Quốc Gia dân chủ, tự do; và một đằng là bị bịt mồm, bóp nghẹt từ 1975 đến nay (2026) vì bị bỏ tù, chà đạp, đàn áp bằng nhiều thủ đoạn đẫm máu độc ác không gớm tay của chế độ độc tài toàn trị Cộng sản Hanoi.
Vì thế, phục dựng lại trang Sử này là niềm hân hạnh của Le Tung Chau được phục vụ bạn đọc trong tinh thần công chánh: những gì của lịch sử phải trả về cho lịch sử, phải trả lại cho Caesar những gì thuộc về Caesar.
LTC
Jan. 17, 2026
Bạn đọc có thể download "Bạch Thư về Vấn đề Chia rẽ của Ấn Quang với Việt Nam Quốc Tự" by Thích Tâm Châu ở đây (~ 60 MB, 54 pages).
Phân đoạn 9 này dành để tường thuật nội vụ, gồm có:
➯ Tin tức trên các nhựt báo, trong đó tôi ưu tiên chọn các bài tường thuật nội vụ Máu Đổ Cửa Thiền đăng trên báo Chính Luận, Tiền Tuyến từ ngày 5-5-1970 trở đi.
➯ Trích một vài tin tức có liên hệ tới nội vụ trích trong tập "Bạch Thư về Vấn đề Chia rẽ của Ấn Quang với Việt Nam Quốc Tự" by Thích Tâm Châu, Tổ Đình Từ Quang Montréal, Québec xuất bản, Canada – 1993, do Thích Tâm Châu lần đầu tiên 18 năm sau khi giặc Cộng cướp miền Nam, đã kể lại những sự thật mà từ trước đến nay công luận chưa từng biết.
Rất may là chúng ta còn các số báo cũ miền Nam Tự Do, tựa như bộ ký ức khổng lồ của trang Sử Quốc - Cộng hai mươi năm, lưu giữ lại hết các sự kiện lịch sử đã xảy ra, phản ảnh trung thực các mặt thuận lợi-khó khăn, sáng-tối, hay-dở, tốt-xấu, vui-buồn của VNCH trong hai mươi năm kiến quốc và vệ quốc trước dã tâm trùng trùng của cộng sản quốc tế dùng tập đoàn Bắc bộ phủ làm công cụ tay sai hòng xâm lăng thôn tính miền Nam. Cộng sản có thể đánh cướp miền Nam — trong một giai đoạn có hạn — nhưng chúng không thể nào đốt phá, xóa nhòa được ký ức lịch sử Công chính, Nhân bản và Tự do của miền Nam là các giá trị làm nên Chánh Nghĩa Quốc Gia trường cửu của Việt Nam Cộng Hòa.
Máu Đổ Cửa Thiền là trang Sử dơ bẩn, kinh hãi và bi thảm của Giáo hội PGVNTN không cách gì chối cãi hay biện bạch được, do đó, người ta có thể hiểu vì sao trong bao nhiêu năm sau Tháng Tư Đen, không một ai thuộc giới chức sắc Phật giáo Ấn Quang đả động tới sự vụ bi thảm này. Chỉ may đâu có ông Thích Tâm Châu - VNQT cho phổ biến Bạch Thư (nói trên) vào năm 1993 tại Gia Nã Đại, công bố các nguyên do chánh khiến Phật Giáo Việt Nam bị chia rẽ ra làm hai, tuy nhiên trong Bạch Thư đó, Thích Tâm Châu cũng nói rất ít về sự vụ Máu Đổ Cửa Thiền tháng 5-1970, cùng rất ít các sự vụ quan trọng khác, khiến ta có cảm tưởng chính Thích Tâm Châu cũng ngần ngại, tránh né không muốn nhắc lại chuyện quá khứ xấu xa của những kẻ tu hành mình khoác áo tràng, mồm nhân danh Phật Đạo để làm toàn những chuyện huyễn tưởng, điên đảo, và tội lỗi.
Giáo hội PGVNTN hoàn toàn không phát ngôn gì về chặng hành trình lịch sử của Giáo hội trong giai đoạn 1964 - 1975 và sau 1975, từ những chức sắc đang còn ở trong nước cho chí người ở hải ngoại (ví dụ, Thích Nhất Hạnh, ở Pháp). Sự im lặng kỳ lạ này làm cho trang sử của Giáo hội PGVNTN bị chết ngang ở cột mốc năm 1964. Điều đó khiến ta không khỏi nhận thấy rằng, Giáo hội PGVNTN bị kẹt nặng không ăn nói gì được về hai chặng hành trình của họ: một đằng là được hoạt động một cách tự do tha hồ thỏa thích từ 1965 - 1975 vì được tôn trọng, che chở dưới chế độ Quốc Gia dân chủ, tự do; và một đằng là bị bịt mồm, bóp nghẹt từ 1975 đến nay (2026) vì bị bỏ tù, chà đạp, đàn áp bằng nhiều thủ đoạn đẫm máu độc ác không gớm tay của chế độ độc tài toàn trị Cộng sản Hanoi.
Vì thế, phục dựng lại trang Sử này là niềm hân hạnh của Le Tung Chau được phục vụ bạn đọc trong tinh thần công chánh: những gì của lịch sử phải trả về cho lịch sử, phải trả lại cho Caesar những gì thuộc về Caesar.
LTC
Jan. 17, 2026
Bạn đọc có thể download "Bạch Thư về Vấn đề Chia rẽ của Ấn Quang với Việt Nam Quốc Tự" by Thích Tâm Châu ở đây (~ 60 MB, 54 pages).
#Chinh Luan May 5, 1970 trang nhất #Chinh Luan May 5, 1970 trang nhất
DO KẾ HOẠCH BỐ TRÍ TÀI TÌNH, TỈ MỈ, VÀ BÍ MẬT ĐƯỢC BẢO VỆ ĐẾN PHÚT CHÓT
Ấn Quang hành quân chớp nhoáng chiếm VNQT
chiêu hồi Viện trưởng Viện Hóa Đạo đối phương
★ Cả một loạt tuyên ngôn tuyên cáo được tung ra để phát huy chiến quả thu được.
★ Phe thất thủ đang ráo riết chuẩn bị phản công sau khi cuộc đột kích đang đêm bị bẻ gãy.
✺ Tâm Chung
SAIGON, 4-5. — Vài ngày sau khi liên quân Việt Mỹ bất thần mở cuộc tấn công vào các căn cứ Cộng Sản VN trong nội địa Miên gây chấn động dư luận quốc tế thì tại Saigon một cuộc hành quân chớp nhoáng đã diễn ra vào tối hôm qua do giáo hội Phật giáo Ấn Quang thực hiện để chiếm đóng trụ sở trung ương của giáo hội Phật giáo Việt Nam Quốc Tự. Cuộc hành quân cỡ nhỏ khác cũng đang gây chấn động dư luận Phật tử trong nước và tuy rằng cuộc chiến đấu đã xảy ra giửa hai phe trong giới vốn nổi tiếng là có chủ trương hòa bình, bất bạo động, thể nhưng một ít máu cũng đã đổ ra.
Hồi 7 giờ tối qua, sau khi hội họp tại Chùa Ấn Quang, khoảng 1.000 Phật tử bắt đầu «xuống đường» kéo thẳng xuống VN Quốc Tự cầm đầu bởi Đại đức Huyền Diệu cùng hơn 100 Hướng đạo sinh Phật tử với gậy gộc và theo sau phần đông là đàn bà, trẻ con.
Trong khi đi đường, Đại đức Huyền Diệu cũng đã nhiều lần bắc loa kêu gọi «chính quyền đừng xen vào nội bộ Phật Giáo» và có lẽ Cảnh sát đã nghe theo nên không có một hành động ngăn cản nào cả.
Vì vậy, đoàn biểu tình đã thừa thắng xông lên và tiến vào VN Quốc Tự dễ dàng. Trong khi đó tại VN Quốc Tự đang hành lễ hằng tuần và cuộc lễ đã phải ngưng ngay lại nửa chừng.
Dân biểu Dương văn Thụy từ đoàn biểu tình Ấn Quang đã tiến vào gặp Hòa thượng Minh Thành, Viện trưởng Viện Hóa Đạo VNQT, và thuyết phục ông nên đi về chùa Ấn Quang để tránh sự phạm thượng của những phật tử quá khích. Trong khi đó đoàn biểu tình đang đứng hò hét đầy ngoài sân. Hòa Thượng Minh Thành sau giây lát suy nghĩ đã đồng ý và được Dân biểu Thụy «hộ tống» ra ngõ sau để lên Taxi. Khi về tới chùa Ấn Quang, Hòa Thượng Minh Thành đã gặp Thượng tọa Thiện Hoa (Viện trưởng Viện Hóa Đạo Ấn Quang). Một cuộc lễ sám hối đã được cử hành ngay sau đó và Hòa Thượng đã ký vào tuyên cáo 6 điểm trao trả chức viện trưởng Viện Hóa Đạo (VHĐ) của VNQT cho Thượng tọa Thiện Hoa, trả ngôi VN Quốc Tự cho Phật giáo Ấn Quang, kêu gọi Hội đồng VNQT hãy đoàn kết sau lưng Thượng tọa Thiện Hoa để tái lập sự thống nhất giáo hội, yêu cầu nhà cầm quyền từ nay đừng can thiệp vào nội bộ giáo hội để tránh sự phân hóa. Tuyên cáo của Hòa Thượng Minh Thành kết thúc: «Tôi thành tâm đảnh lễ đức lão Hòa thượng Tăng Thống Thích Tịnh Khiết và Hội Đồng VHĐ, xin sám hối tất cả tội lỗi của tôi trong việc tham gia giáo hội PGVNQT trước đây».
Sau khi chiếm được VN Quốc Tự một cách dễ dàng rồi, đoàn hướng đạo Phật tử Ấn Quang đã kéo cờ hiệu của Ấn Quang lên bên cạnh ngọn cờ Phật giáo và căng ở cổng VNQT tấm biểu ngữ cũng chữ lớn: «Yêu cầu chính quyền chấm dứt xen vào phá hoại Phật giáo VN». Đoàn ra thông cáo kêu gọi Phật tử tạm ngưng các cuộc lễ bái để chấn chỉnh lại chùa, cùng nhau chia người ra canh gác khắp nơi. Một số đông những người biểu tình đã ở lại VN Quốc Tự.
Đến 3 giờ sáng nay có một số người mặc thường phục (mà phe Ấn Quang cho là Cảnh sát) với sự hỗ trợ của Nhân Dân Tự Vệ toan đội nhập VNQT, nhưng đã bị những người canh gác tại đây ngăn chặn nên họ đã nổ súng và cuộc xô xát diễn ra khoảng 30 phút bằng gạch đá và gây cho một đại đức bị thương.
Sau vụ xô xát, một số các Phật tử ở lại trong VNQT, một số thì bỏ về nhà mình ở gần đó ngay cả trong giờ giới nghiêm.
Theo đại đức Nhật Thường của Ấn Quang, trưởng ban điều hành VNQT, thì sự việc xảy ra kể trên chỉ là do đệ tử của Thượng tọa Tâm Châu hay người của chính quyền. Vậy chính quyền cũng phải chịu trách nhiệm vì trong khi đó là giờ giới nghiêm không thể có thường dân đi lại.
Phát ngôn viên văn phòng VHĐ/PG Ấn Quang cho biết: Giáo hội trung ương đã bổ nhiệm Thượng tọa Từ Nhơn làm trụ trì VNQT đồng thời một ủy ban thu hồi VNQT đã được thành lập do 3 đại đức Liễu Minh, Huyền Diệu, Pháp Siêu đứng đầu. Trong thư ngỏ gửi đồng bào Phật tử, Phật giáo Ấn Quang kêu gọi sự đồng tâm nhất trí và nỗ lực xây dựng giáo hội mà trong đó có ngôi VNQT vừa được thu hồi sau nhiều năm «bị chính quyền chiếm đoạt.»
Mặt khác, Tổng đoàn Thanh niên Tăng Ni VN, và hội đoàn Phật tử Vụ thuộc giáo phái Ấn Quang phổ biến quyết định rằng:
— Tăng, tín đồ VN nhất quyết thu hồi VNQT bằng mọi giá.
— Cung thỉnh các bậc tôn túc trung ương trở về VNQT để tiếp tục hoàn thành sứ mạng trước dân tộc và đạo pháp.
— Vì tiền đồ của dân tộc và đạo pháp, các vị đi ngược lại nguyện vọng của đại đa số quần chúng phải thật tâm sám hối và trở về đường chánh.
Ngoài ra 1 tuyên cáo của sinh viên phật tử Ấn Quang đã cương quyết cùng toàn thể tăng ni và tín đồ Phật tử thu hồi VNQT trụ sở Trung ương của GHPGVNTN.
Hiện nay, Hòa thượng Minh Thành vẫn còn lưu lại chùa Ấn Quang. Tất cả các sư sãi khác tại VNQT, sau khi xảy ra cảnh «về chùa» bất ngờ kể trên, một số đã lẩn trốn ra ngoài để về Miền Vĩnh Nghiêm, một số bị bắt đưa về chùa Ấn Quang. Một số khác là Học Tăng đang theo học nội trú tại VN Quốc Tự sáng nay đã chán nản mang khăn gói bỏ về tỉnh.
Trong khi đó, có tin Thượng tọa Tâm Châu đang ở Vũng Tàu, Thượng tọa Đức Nghiệp ở Đà Lạt và Thượng tọa Huyền Minh không biết ở đâu.
Một nguồn tin khác cho hay ngay khi ngôi VNQT bị Phật Giáo Ấn Quang thu hồi xong, các tăng ni thuộc VHĐ/VNQT vẫn còn một số ở trong các phòng tu học của Học Tăng, có chiếc cầu ngăn đôi chánh điện và phòng trọ, trên chiếc cầu này được bỏ lên một khúc cây to làm hàng rào ngăn chặn ngay chính giữa không cho ai qua lại.
Nguồn tin thông thạo từ giới thân cận VHĐ/VNQT cho biết: nội trong ngày hôm nay Thượng tọa Tâm Giác sẽ nhóm họp hội đồng viện để tỏ rõ thái độ trước sự việc VNQT bị xâm chiếm và có thể ông sẽ vận động võ sinh nhu đạo của các võ đường Quang Trung xuống Saigon để chiếm lại VNQT.
Trong khi đó thì phe Ấn Quang vẫn canh gác chặt chẽ và cấm ngặt không cho ai ra vào VNQT.
Theo tin tức của hãng Reuter, Đại đức Pháp Siêu nói ông tin là chính phủ sẽ mưu toan tìm cách lấy lại Việt Nam Quốc Tự để trả lại cho phe ủng hộ chính phủ. Ông nói thêm là VN Quốc Tự hôm nay được chiếm giữ để chuẩn bị cho cuộc tổ chức lớn vào ngày Phật Đản sắp tới 15 tháng Tư Âm lịch tức nhằm ngày 19-5 Dương lịch.
#Tien Tuyen May 5, 1970 trang nhất
Hồi 7 giờ kém 15 chiều Chủ nhật sau khi hội thảo,
ẤN QUANG TIẾN CHIẾM V.N. QUỐC TỰ
BẮT CÓC HÒA THƯỢNG VIỆN TRƯỞNG!
#Tien Tuyen May 5, 1970 trang nhất
Hồi 7 giờ kém 15 chiều Chủ nhật sau khi hội thảo,
ẤN QUANG TIẾN CHIẾM V.N. QUỐC TỰ
BẮT CÓC HÒA THƯỢNG VIỆN TRƯỞNG!
★ Dân Biểu DƯƠNG VĂN THỤY ĐÃ KÈM SÁT Hòa Thượng MINH THÀNH (VIỆN TRƯỞNG VNQT) ĐI LỐI SAU VỀ ẤN QUANG.
◙ Thượng Tọa TÂM GIÁC SẼ VẬN ĐỘNG CÁC VÕ SINH NHU ĐẠO HÀNH QUÂN TÁI CHIẾM VNQT?
NGUYỄN KHẮC NHẪN
SAIGON 4-5-70 (TT). — 6g45 chiều hôm qua sau cuộc hội thảo về vụ Việt kiều bị thảm sát ở Cam-bốt, bất ngờ Đại đức Pháp Siêu tay run run cầm micro đọc 1 quyết định quan trọng của Hội tăng ni VN và Hội đoàn Phật Tử Vụ về quyết định Thâu hồi VNQT. Hàng ngàn đồng bào Phật tử, tăng ni Ấn Quang ngược đường Sư Vạn Hạnh tiến về VNQT.
Trong khi đó quanh các góc đường, Cảnh sát chìm nổi lại báo động phong tỏa các con đường tiến về hướng Tòa Đại sứ Miên.
15 phút sau, Phật giáo Ấn Quang đã vào chánh điện VNQT không gặp một chống đối nào.
7g20 dân biểu Dương văn Thụy, cùng với 2 tăng khác thuộc khối AQ từ ngôi chánh điện VNQT tiến qua cây cầu gỗ đi vào ngôi nhà trú ngụ của Hòa Thượng Thích Minh Thạnh, Viện trưởng Viện Hóa Đạo VNQT. Hòa Thượng đã ra khỏi cửa để gặp dân biểu Thụy để hỏi sự việc xảy ra. Sau khi nghe dân biểu Thụy trình bày lý do, và mời Hòa thượng về chùa Ấn Quang để gặp các Thượng Tọa bên đó, Hòa Thượng Minh Thạnh với dáng điệu mệt mỏi, chán nản trả lời:
— Tôi thì sao cũng được.
Nhưng lúc dân biểu Thụy dẫn Hòa Thượng qua các hành lang sâu hun hút để đi ra ngoài, khi ngang qua một căn phòng nhỏ, Hòa Thượng Minh Thành dừng lại ngập ngừng nói: Hay các anh nhốt tôi vào đây cũng được.
Dân biểu Thụy không ngớt phân trần thuyết phục, và một tay choàng ngang hông dẫn hòa thượng Minh Thạnh đi. Thay vì đi lối trước, Dân biểu Thụy sợ bất trắc nên đã ra lối ngõ sau, băng qua một bãi cỏ và để Hòa thượng Minh Thành trong căn phòng nhỏ Viện Cô Nhi với 2 tăng sĩ kèm sát bên. Dân biểu Thụy lại đi ra, và 15 phút sau ông ngồi trên một chiếc Taxi mang số ED 7148 băng ngang vườn cỏ ra ngõ Tô Hiến Thành để xe chở Hòa Thượng về chùa Ấn Quang.
Trong khi đó, bên trong chánh điện VNQT, những hồi chuông trống bát nhã vẫn không ngớt vang lên. Đại Đức Pháp Siêu đọc 1 thông cáo của Hội đồng Viện Hóa Đạo cho biết đại đức Từ Nhơn được bổ nhiệm làm trụ trì ngôi VNQT.
10 giờ đêm, có một tăng sĩ Ấn Quang đi từ chùa Ấn Quang qua đây phổ biến một bức thư của HT Minh Thành có nội dung chính là từ chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo. Trong khi đó các Thanh niên Thiện chí vẫn chia thành nhiều toán để phòng thủ chống cự một cuộc tái chiếm khác.
Trả lời một câu hỏi của chúng tôi, nếu có một cuộc tấn công của Cảnh sát hoặc Phật tử VNQT thì sẽ quý vị đối phó như thế nào?
Đại đức Huyền Diệu, Chủ tịch UB Thâu hồi VNQT cho biết: sẵn sàng chết nên miếng đất VNQT này để bảo vệ đến cùng, và Đại đức nói rằng nơi này là tài sản xương máu của Phật giáo đồ VN.
Trong khi Phật giáo Ấn Quang tiến vào VNQT thì Thượng tọa Tâm Châu đang ở Vũng Tàu, Thượng tọa Đức Nghiệp đang ở Đà Lạt và Thượng tọa Huyền Minh vắng mặt. Được hỏi có phải vì sự vắng mặt của các nhân vật quan trọng VNQT mà Phật giáo Ấn Quang mới quyết định bất ngờ thâu hồi VNQT hay không?
Đại đức Huyền Diệu cho biết, dù có Thượng tọa Tâm Châu hay Đức Nghiệp vẫn thi hành nghiêm chỉnh quyết định của Hội đồng Viện Hóa đạo. Đại đức còn nhấn mạnh:
— Rất tiếc vào đây không có Thượng tọa Tâm Châu.
Bên ngoài máy phóng thanh từng lúc vẫn vang lên lời kêu gọi:
— Đã đến lúc «Tà lực» phản dân tộc phản giáo hội phải chấm dứt. Phật giáo VN nhất định phải thu hồi VNQT.
12g đêm, đồng bào Phật tử lần lượt ra về, bên trong VNQT chỉ còn các thanh niên thiện chí và các tăng sĩ có nhiệm vụ canh gác các ngả ra vào để đề phòng mọi chuyện bất trắc.
Đến 3 giờ sáng, có khoảng 20 người mặc thường phục đột nhập vào VNQT, liền bị các thanh niên thiện chí phát giác, thế là một cuộc xô xát rùng rợn đã xảy ra. Nhiều tiếng súng nổ, xen lẫn với tiếng hò reo la hét, tiếng thất thanh cầu cứu.
1 tăng sĩ đã bị trúng đạn ngã quỵ, thương thế trầm trọng.
Khoảng 20 phút sau toán người lạ mặt rút đi.
Thượng Tọa Tâm Giác sẽ chiếm lại VNQT
Trong một tuyên cáo, đoàn sinh viên Phật tử Saigon đã cương quyết cùng toàn thể Tăng Ni và Tín đồ Phật tử thu hồi VNQT trụ sở Trung ương của GHPGVNTN.
Ngay khi ngôi VNQT được Phật Giáo Ấn Quang thu hồi xong, các Tăng ni thuộc VHĐ/VNQT vẫn còn ở lại trong các phòng tu học dành cho Học tăng và Học ni, bên ngoài là một chiếc cầu ngăn đôi Chánh điện với dãy phòng trọ này, lúc này được gác lên một thanh sắt chắn ngay ở giữa — không cho qua lại.
Một nguồn tin phát xuất từ đoàn sinh viên Phật tử Saigon cho biết sáng nay 4-5-1970 Thượng tọa Thích Tâm Giác sẽ vận động võ sinh Nhu Đạo của các Võ Đường Quang Trung xuống Saigon chiếm lại chùa VNQT.
Chúng tôi đang theo dõi các diễn biến và sẽ tiếp tục tường thuật trong các số báo kế tiếp.
Cầu Bến Hải ngăn đôi VNQT và Ấn Quang
Cho đến lúc chúng tôi viết bản tin này thì tại bên trong khuôn viên VNQT đã được chia đôi bởi một cây cầu ván bắc ngang, một bên là chùa VNQT, một bên là nơi tu học và chỗ ở của những học tăng học ni thuộc VNQT. Đoàn tăng ni Phật tử Ấn Quang đã chiếm phần trước của bên trong vòng cầu, còn phần bên kia cầu thuộc về phe VNQT.
#Chinh Luan May 6, 1970 trang nhất
Giữa tiếng súng nổ, tiếng hò hét, tiếng chửi bới và tiếng chuông mõ inh ỏi
SAU GẦN 3 GIỜ ÁC CHIẾN ẤN-QUANG BỊ ĐÁNH BẬT KHỎI QUỐC-TỰ!
#Chinh Luan May 6, 1970 trang nhất
Giữa tiếng súng nổ, tiếng hò hét, tiếng chửi bới và tiếng chuông mõ inh ỏi
SAU GẦN 3 GIỜ ÁC CHIẾN ẤN-QUANG BỊ ĐÁNH BẬT KHỎI QUỐC-TỰ!
★ Người chỉ huy cuộc chống trả của Ấn-Quang loan báo:
Ấn-Quang bị thiệt mạng trên 10 người và phía đối phương đốt luôn xác chết.
★ Vài dãy nhà và nhiều xe cộ bị đốt cháy.
★ 37 người bị bắt giữ trong đó có 2 lính có súng.
SAIGON, 5-5. — Sau một ngày tiến chiếm và làm chủ VNQT, «quân» của Ấn-Quang đã bị «quân» của VNQT đánh bật ra vào hồi rạng sáng hôm nay qua mấy giờ đồng hồ chiến ác liệt. Sân chùa VNQT lần này lại nhuộm thêm máu và ngọn lửa... hận thù đã thiêu rụi hai dãy nhà trong VNQT.
10 xe GMC kéo tới
Theo lời thuật lại của đồng bào quanh khu VNQT thì vào lúc 3g15, tức là còn trong giờ giới nghiêm, có khoảng 10 chiếc xe GMC nhà binh trên xe chở đầy người tiến thẳng tới trước cổng VNQT thì dừng lại. Những người này mặc thường phục, có một số khoác ngoài bằng áo giáp Cảnh sát Dã chiến, trên tay họ kẻ cầm gậy gộc người cầm súng rời khỏi xe tiến tới trước cổng VNQT. Trên đầu họ có bịt bao ni lông trắng và tay trái có đeo một giải băng màu vàng.
Tất cả đều được hướng dẫn bởi một nhà sư (mà theo lời Đại Đức Nhật Thường thì vị sư này là Thượng tọa Tâm Giác, Đại Tá Giám đốc Nha Tuyên úy Phật giáo QLVNCH).
Chiêu hồi không xong mới khai hỏa
Trước hết, «quân» của VNQT dùng loa phóng thanh kêu gọi «chiêu hồi» «quân» ở bên trong. Để đáp lại lời kêu gọi này, «quân» Ấn-Quang ở bên trong liền cho khua chuông mõ báo động ầm ĩ.
5 phút nặng nề trôi qua. Bất thần từ phía ngoài một tràng đạn M16 nổ lên ròn rã. Tiếp theo là tiếng la ó, hò hét ầm ĩ của cả bên trong lẫn bên ngoài.
Vẫn theo lời đồng bào ở quanh khu VNQT thì «quân» VNQT nổ súng, dường như «quân» bên trong cũng đáp lễ lại bằng một tràng súng tương tự.
Thế rồi cứ thế đó từng tràng súng thì nhau nổ từng hồi, hòa lẫn với tiếng la hét, tiếng chửi bới, tiếng chuông mõ.
Hỗn chiến
Khoảng nửa giờ sau «quân» VNQT được lệnh tấn công ba mặt. Phía cổng VNQT, 1 chiếc xe GMC rồ máy rồi tông thẳng vào. «Quân» bên trong nhào ra nghênh chiến. Gậy gộc vung lên tới tấp. Đồng thời cùng lúc «quân» VNQT tấn công vào phía cổng hậu VNQT và bên hông điện thờ Quách Thị Trang. Quân hai bên đã đánh nhau túi bụi bằng gậy gộc, bằng gạch đá, bằng nhu đạo và cả... võ tự do nữa.
Trong dịp này hàng trăm quả lựu đạn cay được tung ra, khói bốc ra mù mịt. Trận đánh giáp lá cà kéo dài hơn 1 tiếng đồng hồ thì «quân» Ấn-Quang có vẻ yếu thế dần rồi rút chạy. Một số «quân» của Ấn Quang đã bị bắt làm tù binh, bị trói và bị bịt mắt dẫn ra xe.
Trong số bị bắt này người ta bảo có cả ông Trưởng đoàn Thanh niên Phật tử Thiện chí (Ấn Quang).
Có tin nói có 4 người chết và trong số đó có cả người của phe Quốc Tự. Nguồn tin chính thức loan báo có 37 người bị giữ trong số này có 2 người mặc quân phục võ trang bằng súng carbin.
Lửa hận thù bốc cháy
Trong lúc hai bên đánh nhau thì ngọn lửa (không biết do phe nào đốt, phe tiến đánh hay phe rút lui) từ dãy nhà dùng làm trường dạy nghề may vá cho các Tăng Ni ở phía trước sân VNQT bốc cháy.
Vì không có ai chữa lửa ngay nên ngọn lửa mặc sức tung hoành, đốt rụi cả dãy nhà trên chục căn và có hàng trăm xe gắn máy, Vespa, Honda, máy may cũng bị ngọn lửa đốt ra tro. Sau đó xe cứu hỏa đã tới dập tắt đám cháy.
Cảnh sát phong tỏa
Sau khi trận chiến kết thúc, tất cả các ngả đường vào VNQT đều bị phong tỏa. Cảnh sát Dã Chiến và Cảnh Sát sắc phục (áo trắng) đã án ngữ các ngả đường bằng nhiều hàng rào kẽm gai, cô lập hoàn toàn khu vực xảy ra trận ác chiến vừa qua. Báo chí cũng không được bén mảng tới trước khu VNQT.
Chẳng một ai được ra vào qua lại, do đó nhà báo không biết rõ ở bên trong VNQT hiện ra sao đành chỉ còn nước đứng ở xa mà nhìn vào, và thấy rằng VNQT giờ đây chẳng khác gì một bãi chiến trường sau khi im tiếng súng. Dãy nhà bị đốt cháy đêm qua, bây giờ vẫn còn bốc khói. Và quanh khu vực VNQT, từng toán Phật tử tụm lại bàn tán, chỉ trỏ. Mọi người đều có vẻ dè dặt, e ngại.
Viện Hóa Đạo Ấn Quang
Tại khu VHĐ Ấn Quang vào sáng nay quang cảnh vô cùng rộn rịp. Ký giả, đồng bào, SV tụ họp tại đây rất đông. Lúc 10 giờ, một cuộc «họp báo» đã được tổ chức tại phòng khách VHĐ Ấn Quang, thuyết trình viên là Đại Đức Thích Nhật Thường, Phụ tá Tổng thư ký Phật giáo Ấn Quang.
Theo Đại Đức Nhật Thường thì chính Đại Đức là người chỉ huy cuộc chống trả khi VNQT bị tấn công tái chiếm hồi đêm qua. Theo Đại Đức Nhật Thường thì trong VNQT đêm qua, có 600 người vừa tăng ni vừa phật tử và dân chúng theo phe Ấn Quang. Một số người được lệnh phải ở lại giữ VNQT cho dẫu có phải chết.
Cũng theo Đại Đức Nhật Thường thì lúc 3g30 sáng, Thượng tọa Thích Tâm Giác mặc đồ trận đeo lon Đại tá đích thân điều khiển trận đánh chiếm lại VNQT. Lực lượng của Thượng tọa Tâm Giác gồm có quân đội, Cảnh sát Dã chiến mặc giáp và nhiều võ sinh trường Nhu đạo Quang Trung. Phe tấn công ồ ạt theo nhiều ngả tiến vào, kể cả ngả leo tường. Súng, lựu đạn cay, mã tấu được dùng rất nhiều. Có cả màn đánh xáp lá cà nữa. Phía Ấn Quang dùng gậy gộc và bất cứ thứ gì gặp được để chống lại. Trận đánh kéo dài cho đến 6 giờ 20 thì chấm dứt. Phía cố thủ bị thương hoặc chết nhiều quá nên phải tháo chạy. Theo lời Đại Đức Nhật Thường thì trận đánh này «tàn bạo hơn cả cuộc tàn sát Việt kiều ở Cao Miên.»
Theo lời Đại Đức Nhật Thường thì phe Ấn Quang bị chết trên 10 người và bị thương cả 100 người. Lúc 11 giờ sáng nay, Ấn Quang vẫn chưa kiểm điểm được có tất cả bao nhiêu người chết, bị thương hoặc mất tích. Trong lúc hoảng hốt chạy trốn, một số thường dân theo phe Ấn Quang bị mất giấy tờ nên đành phải chạy về chùa Ấn Quang náu thân không dám ra đường. Đại Đức Nhật Thường nói rằng chính Đại tá Đô Trưởng mang xe đến VNQT chở đi 3 xác chết. Theo lời Đại Đức Nhật Thường quả quyết thì phe tấn công đã đốt cháy luôn cả xác người chết và nhiều xe gắn máy của phe Ấn Quang. Đại Đức Nhật Thường nói, theo luật tù binh thì khi đã bắt được tù binh rồi thì không được đánh nữa. Thế mà phía Thượng tọa Tâm Châu đã bắt được người bên kia rồi mà còn mang ra ngoài đường đánh thêm nữa.
Giáo sư Hoàng Châu, Trưởng Ban Trật tự của Ủy ban Thâu hồi VNQT đã bị bắt và đang bị giam ở chùa Từ Quang.
Đại Đức Nhật Thường kết luận rằng đây là lực lượng của Miền Vĩnh Nghiêm đến đánh chiếm VNQT.
Còn phía Thượng tọa Tâm Châu thì chưa thấy lên tiếng.
Vì trận đánh đêm qua là một việc rất quan trọng cho nên phe Ấn Quang còn nhóm họp hội đồng để thảo luận đã rồi mới có thái độ.
Cuộc họp báo của Đại Đức Nhật Thường tiến hành tới đây thì có người chạy ra la thất thanh «có địch! có địch!» rồi một nhà sư líu xíu báo cáo với Đại Đức Nhật Thường «thưa thầy, có một tên của phe Tâm Châu về đây dò xét, đã bị bắt, bây giờ ta làm thế nào?» Đại Đức Nhật Thường nhanh nhẹn rẽ đám ký giả, thoát đi vào phía hậu viện, vừa đi miệng vừa lẩm bẩm «để đó! để đó!...».
Một ngày chiếm đóng
Buổi tối trước khi xảy ra trận chiến, Việt Nam Quốc Tự dưới dưới tay Ấn Quang khoác một bộ mặt khác hẳn trước đây. Ngay cổng chính là một biểu ngữ lớn đề chữ «yêu cầu chính quyền không được xen vào nội bộ Phật giáo», bên cạnh là những chiếc loa tranh đấu phát thanh liên hồi các tuyên cáo và kêu gọi phật tử bình tĩnh, đề phòng sự phá hoại bất kỳ từ đâu tới. Cổng vào chùa chỉ hé mở với sự canh gác soát xét cẩn mật của các Phật tử mặc đồng phục cầm gậy gộc.
Bên trong chánh điện, hương khói đơn sơ, không một tiếng kinh cầu nào được vang lên vì tiếng hát cộng đồng của những đoàn hướng đạo sinh Phật tử vang vang với những bài ca như «cách mạng mùa thu...».
Trong sân VNQT cũng căng đầy lều trại, dây nhợ và gậy gộc ngổn ngang bên cạnh những hàng thực phẩm tiếp tế từ bên ngoài để nuôi quân cắm trại 24/24 giờ tại đây. Từ ban chiều, tại đường Trần Quốc Toản, giao thông bị cản trở vì đồng bào tập trung rất đông trước ccửa cổng VNQT, có tới hàng trăm đồng bào chen lấn để được nhìn vào bên trong VNQT.
Trong đám đông đó, chúng tôi thấy có rất nhiều «thầy áo nâu» và không thấy 1 bóng «áo vàng» nào cả. Trời càng về tối, số người tập trung càng đông, thỉnh thoảng có một vài anh lính Mỹ bị kẹt đường không đi được, bèn đứng lên trên xe xích lô máy la lối om sòm, cuối cùng đành nhảy xuống len lỏi ra ngoài cuốc bộ vậy...
Trong khi đó, thì đồng bào Phật tử thuộc phe VNQT lại tập trung tại 2 chùa Giác Minh và Từ Quang. Số đông phật tử này đều có võ trang gậy, túi ni lông và trái chanh tươi. Tin tức từ trong đám đông đó cho biết Thượng tọa Tâm Châu từ Vũng Tàu vừa về đến Saigon là đã liên tiếp mở nhiều cuộc họp mặt với các Thượng tọa, Đại Đức VNQT để bàn thảo kế hoạch hành quân tái chiếm VNQT.
Đến 11 giờ khuya thì đồng bào tản mát ra về dần dần. Điểm đặc biệt đáng ghi nhận là trong khi đồng bào tập trung ồn ào trước VNQT như thế thì chẳng thấy bóng một nhân viên công lực sắc phục xuất hiện ở đó cho tới hơn 3 giờ khuya thì trận chiến xảy ra.
Cho tới 12 giờ trưa nay (5-5) chưa thấy một thông cáo chính thức nào của chính quyền về vụ này.
#Tien Tuyen May 6, 1970 trang ba
Sau khi chiếm Việt Nam Quốc Tự, phe Ấn Quang bị phản công đêm 5-5-70
V.N. QUỐC TỰ CHÁY NGẤT TRỜI #Tien Tuyen May 6, 1970 trang ba
Sau khi chiếm Việt Nam Quốc Tự, phe Ấn Quang bị phản công đêm 5-5-70
V.N. QUỐC TỰ CHÁY NGẤT TRỜI
HÀNG TRĂM NGƯỜI ĐÃ BỊ BẮT ĐI
KHÔNG RÕ AI BẮT VÀ BẮT ĐI ĐÂU
★ TOÁN TÁI CHIẾM VNQT, ĐƯỢC XE CAM NHÔNG CHỞ TỚI VỚI ĐẦY ĐỦ SÚNG ỐNG — ĐÃ KHAI HỎA VANG RỀN TRƯỚC KHI XÂM NHẬP ◩ PHÍA TRONG CÓ NHIỀU NGƯỜI BỊ THƯƠNG
SAIGON. — Như đồng bào đã biết, Phật tử Ấn Quang vừa chiếm VNQT vào tối ngày 3-5, được mấy tiếng đồng hồ thì đến 3 giờ sáng ngày 4-5, có 1 số người lạ mặt độ 20 tên võ trang tấn công vào VNQT. Sau 15 phút, thanh niên sinh viên canh giữ bên trong VNQT đã chống cự với tốp người lạ mặt nọ làm họ yếu thế phải rút lui. Chỉ có 1 tu sĩ bị trúng đạn bị thương khá nặng, còn ngoài ra, có một số phật tử bị xây xát.
Tấn công lần thứ 2 mãnh liệt hơn
Qua 3 giờ 30 sáng 5-5, tại V.N.Q.T đang có đông sinh viên thanh niên phật tử và nhiều học tăng đang canh gác thì bên ngoài có nhiều toán người võ trang nổ súng và tiến vào VNQT.
Theo đồng bào cho biết trước giờ nói trên, có nhiều xe chở toán người võ trang gậy gộc đến bao vây 4 phía VNQT, họ nổ nhiều loạt súng đủ loại, tiếng súng nổ kéo dài 15 phút thì có mấy chiếc xe cam nhông tông vào cửa chánh làm cửa tung ra và toán người vũ trang tiến vào bên trong bắn như mưa làm cho bên trong mặc dầu rất đông sinh viên, tăng ni và phật tử nhưng không thể chống cự nổi. Trong toán người xông vào VNQT, người ta thấy có đủ giới phận sự, từ mặc đồ nhà binh có, thường phục có, và các loại súng. Ngoài ra một số thanh niên và phụ nữ cũng được các xe cam nhông chở đến, mỗi người trùm đầu 1 bao ni lông và nơi tay có cột 1 miếng vải vàng. Ngoài số người nói trên còn có nhiều thầy tu cũng võ trang bằng gậy. Khi họ tiến vào được bên trong VNQT thì các thanh niên, sinh viên, học tăng, đồng bào phật tử trụ tại VNQT không còn chạy được, chỉ đưa tay cho tốp người ngoài vào đánh. Họ bị trói, bịt mắt, rồi bị lôi ra đường Trần Quốc Toản dồn lại một đống chờ cho đông lên rồi thì có xe đến chở đi.
Bên trong còn nhiều loạt súng nổ làm cho các căn phòng làm việc đều bị trúng đạn bể cửa, lủng vách, tủ kính bị đạn bể tan tành; và dãy nhà Tổng vụ Hành chánh và Tài chánh bị thiêu rụi hoàn toàn, cháy luôn cả nhà và đồ đạc trong phòng.
Tại dãy nhà dạy học may ở phía sau có trên 20 cái máy may cũng bị đốt và một số xe gắn máy như Vespa, Honda rồi xe đạp của sinh viên học sinh đều bị đốt cháy, tất cả khoảng trên 100 chiếc.
Số người bị thương được người ta ước lượng vừa tăng, Đại đức, thanh niên, sinh viên học sinh và đồng bào phật tử gồm cả trăm người, nhưng số người này bị toán người tấn công chở đi hết, nên người ta chưa biết được đích xác là bao nhiêu người.
Trong khi lửa cháy trong dãy nhà làm văn phòng Tổng vụ Hành chánh, có một đội vòi rồng cứu hỏa được tin cấp báo đến nơi nhưng bị ngăn chặn tại góc đường Pétrus Ký và Trần Quốc Toản. Sau cùng đoàn xe cứu hỏa mới vào được thì bên trong đã bị cháy thiệt hại nặng nề.
Sau khi tái chiếm VNQT tốp người có võ trang đã rút về chỉ còn để lại số thanh niên giữ trật tự của VNQT trước đây, nay họ trở về «cầm quyền» như cũ.
Sáng ngày 5-5, tất cả các con đường lưu thông vào VNQT như Trần Quốc Toản, Pétrus Ký, Kiều Công Hai bị cô lập chặt chẽ không ai qua lại được.
Nhà chức trách Quận 10 và ông Biện Lý đến làm biên bản
Sau khi VNQT bị tái chiếm, nơi đây đã hóa ra một cảnh tượng điêu tàn: sáng ngày 5-5, có nhà chức trách Cảnh sát Quận 10 và ông Biện Lý Quận cùng nhân viên Tư pháp đến VNQT làm biên bản nhưng bị toán giữ trật tự tại ngõ này không cho vào và sự canh gác trước VNQT rất cẩn mật.
#Tien Tuyen May 6, 1970 trang ba
PHƠ by Kẹo Đồng
HÀNH QUÂN CHIẾM... CHÙA!
Trong một nước đang có chiến tranh như nước ta, dù là bồ câu hay diều hâu, hay... «gà» (chữ của Dân biểu Nguyễn Trọng Nho) ai nấy cũng đều bị ảnh hưởng của quân sự. Làm gì cũng có chiến lược, chiến thuật, dù là chính khách, gian thương hay... tham nhũng.
Đến như quý vị tu hành thì ai cũng cho rằng quý vị đó phải ở trên cao hơn con người trần tục, nghĩa là không bao giờ xử dụng những chiến lược chiến thuật của chúng sinh đang ngụp lặn trong tham sân si.
Nhưng chiều Chủ nhật vừa rồi, một chuyện động trời đã xảy ra: Phe giáo Ấn Quang đã «tiến chiếm» Việt Nam Quốc tự.
Sự thật VNQT là một ngôi chùa lớn của Phật giáo VN, vậy thì Phật giáo thuộc phe phái nào cũng có thể đến đó tu hành được. Nó là của phe Thượng Tọa Tâm Châu thì nó cũng là nơi thờ Phật. Nó về với phe Ấn Quang thì đó cũng là nơi thờ Đức Thích Ca.
Nhưng ngôi chùa đó đã bị «tiến chiếm». Và vì được gọi là «tiến chiếm» nên người ta thấy trong đó có tính chất một cuộc «hành quân». Bởi vì trước hết nó có yếu tố... bất ngờ y như quân lực VN bất thần đánh thốc vào vùng Mỏ Vẹt ở Cam Bốt. Bởi vì việc tiến chiếm VNQT của phe Phật giáo Ấn Quang là một quyết định... «hợp thời cơ», bởi vì Cảnh sát đang bận... «dàn chào» ở Tòa Đại Sứ Cam Bốt và các trường Đại, Trung Học ở Saigon, chưa kể việc Thượng tọa Tâm Châu có việc phải đi Vũng Tàu. Trường hợp này cũng giống như QLVNCH và Hoa Kỳ tiến đánh Cộng sản ở Cam Bốt sau khi Sihanouk bị hạ bệ.
Sau khi chiếm VNQT, một Đại Đức tuyên đọc quyết định cử Thượng Tọa Từ Nhơn làm trụ trì, trường hợp này cũng giống như khi Sihanouk bị truất phế thì ông Cheng Heng được cử làm Quốc Trưởng Lâm Thời Cam Bốt.
Trong lúc đó lại có tin Trung Tá Thượng Tọa Tâm Giác đang chiêu mộ võ sinh nhu đạo của ông để tái chiếm VNQT, trường hợp giống như Sihanouk tính chuyện trở về Cam Bốt lấy lại chánh quyền.
Không ngờ chuyện ở bên Cam Bốt lại đang được tái diễn ở VN, không phải trên địa hạt chính trị mà trên địa hạt tôn giáo. Vì Cam Bốt là một quốc gia rất sùng mộ đạo Phật.
Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát.
$pageOut $pageIn Phân đoạn 10
Máu Đổ Cửa Thiền (tiếp theo 1)
#Chinh Luan May 7, 1970 trang ba
TRONG LÚC «CHIẾN TRƯỜNG» VNQT ĐANG ĐƯỢC THU DỌN
Ấn Quang lẫn VNQT đều họp báo TỐ CÁO NHAU TƠI BỜI
#Chinh Luan May 7, 1970 trang ba
TRONG LÚC «CHIẾN TRƯỜNG» VNQT ĐANG ĐƯỢC THU DỌN
Ấn Quang lẫn VNQT đều họp báo TỐ CÁO NHAU TƠI BỜI
❖ Ở chùa Ấn Quang, lẫn trong tiếng «Nam mô» là những tiếng đòi «chặt đầu 3 giáo gian Tâm Châu, Tâm Giác, Đức Nghiệp»
◙ VNQT không nhận đã chiếm lại chùa, Ấ.Q. dọa chiếm lại VNQT
❁ ĐƯỜNG THIÊN LÝ
SAIGON 6-5. — Sáng nay, trong lúc «chiến trường» Việt Nam Quốc Tự ở đường Trần Quốc Toản đang được thu dọn và theo lời yêu cầu của Dân Biểu Hồ Ngọc Cứ, Biện Lý Cuộc sẽ được yêu cầu đến kiểm kê xác chết thì tại chùa Ấn Quang đường Sư Vạn Hạnh và chùa Từ Quang đường Phan Thanh Giản Saigon đang trong không khí hội họp rất sôi nổi căng thẳng.
Tại chùa Từ Quang
Thượng tọa Thích Tâm Châu đã phổ biến cho báo chí bản Thông Bạch số 201, là tiếng nói chính thức đầu tiên của phe VN Quốc Tự về vụ giao chiến đẫm máu hôm 5-5-1970.
Thông bạch này trước hết nói về nguyên nhân đưa đến cuộc chiến, đó là, do hội nghị sơ bộ ngày 1-5-70 tại Võ đường Nhu Đạo Quang Trung bị thất bại. Sau nhiều lần tiếp xúc trước, hội nghị này đã khai diễn lúc 19g30 và kéo đến 22 giờ thì bế tắc.
Phe Ấn Quang gồm các Thượng Tọa Thiện Minh, Trí Thủ, Huyền Quang, Đức Nhuận... Phe VNQT có Thượng Tọa Tâm Châu và Tâm Giác. Bên Ấn Quang nói trước và nhất quyết đòi lấy Hiến Chương Phật Giáo đầu tiên để làm tiên quyết cho các cuộc thương thảo thống nhất. Bên Quốc Tự thì đề nghị cả 2 bên cứ chính thức gặp nhau, xé bỏ cả 3 bản Hiến Chương rồi lập một Hiến Chương mới.
Sau khi bế tắc, hai bên có hẹn gặp nhau lại, nhưng theo bên Quốc Tự thì Ấn Quang đã không giữ thành tín, xua quân chiếm VNQT.
Đoạn sau của Thông bạch, gián tiếp thanh minh rằng, đêm 4 rạng ngày 5 tháng 5, Thượng Tọa Tâm Châu không có mặt trong cuộc hành quân vì theo đó, thì lúc 10g10 ngày 3-5-70, Thượng Tọa Tâm Châu đã đi Vũng Tàu để lo tắm gội cho binh lính bị bệnh tê liệt và mãi đến đúng 11 giờ 30 ngày 5-5-70 mới trở về Saigon.
Thông bạch số 104 tiếp theo cũng của VN Quốc Tự mang chữ ký của Viện trưởng Hóa Đạo Minh Thành, nói rằng hôm Ấn Quang tiến vào VNQT, ông đã bị bắt và bị buộc ký vào tờ giấy đã thảo sẵn, và nay ông cực lực lên án hành vi đó.
Thông bạch tiếp theo là mời tất cả chư tăng Phật tử tập trung về trụ sở VNQT lúc 16 giờ chiều ngày 4-5-70 để nghe Thượng Tọa Minh Thành kể lại diễn tiến nội vụ và Thượng Tọa Tâm Châu nói về nhiệm vụ của Phật tử trong giai đoạn hiện tại, Thông bạch ghi rõ, Phật tử đến dự phải mang theo thẻ Căn Cước để kiểm soát an ninh.
Tại Ấn Quang
Dưới tượng Phật Di Đà thật cao, tay bắt ấn «Tam Muội», một hàng Thượng tọa Thiện Hoa, Thiện Minh, Hộ Giác, Pháp Tri, Huyền Quang và Pháp Lan đã chủ tọa một cuộc họp báo đầy tiếng nói máu lửa lúc 20 giờ hôm nay.
Thượng Tọa Trí Quang vắng mặt với lý do thường được nói đến: bị bệnh Suyễn!
Dưới một chút là 3 Đại đức trong Ủy Ban thu hồi VNQT gồm Huyền Diệu, Pháp Siêu, và Nhật Thường. Ba thầy này được giới thiệu như là đã chỉ huy chiếm VNQT rồi chỉ huy chống trả khi bị tái chiếm.
Dưới một chút nữa là 3 Dân biểu Nguyễn Đại Bảng, Trần Công Quốc và Phạm Tấn Nho.
Sau hết là báo chí và phật tử.
Mở đầu, Ban Tổ chức tuyên bố lý do, được kể như đây là một cuộc họp báo máu, vì máu đã chảy tràn lan trong VNQT, máu đã chảy trong lòng Phật giáo đồ.
Lên án giáo gian và chính quyền
Tiếp theo, Thượng Tọa Thiện Hoa đọc bản tuyên cáo 7 điểm lên án gay gắt giáo gian và chính quyền.
Trong phần mở đầu, cũng như bên Quốc Tự, Ấn Quang vạch rõ sự bế tắc của Hội nghị Hiến Chương hôm 1-5 và quy trách nhiệm cho bên Quốc Tự ngoan cố không muốn thu xếp, nên sau 34 giờ chờ đợi, bắt buộc Ấn Quang phải ra tay hành động.
Chiếm VNQT, Ấn Quang còn hy vọng chờ đợi một cuộc đối thoại cởi mở hiểu biết về đạo vị của bên kia, nhưng bên kia lại chọn sắt thép để giải quyết.
Vì thế, Ấn Quang kết tội 3 «giáo gian Tâm Châu, Tâm Giác và Đức Nghiệp» và đòi phải đền tội giết người, đốt chùa cướp của là những tội mà Thượng Tọa Thiện Minh nói phải «chặt đầu».
Điều 2 và 3 bản tuyên cáo tố cáo chính quyền làm hậu thuẫn đắc lực cho giáo gian và vi phạm Hiến Pháp trong âm mưu cướp đoạt VNQT.
Giáo Hội Ấn Quang tán thán sự hy sinh đóng góp xương máu của giáo dân và thông báo sẽ tổ chức “cùng khắp”, nhất loạt cầu siêu trên toàn quốc vào ngày 10-5-70.
Số tử thương tăng vọt
Bản tuyên cáo ghi Ấn Quang có 5 chết, 53 bị thương nhưng vào giữa chừng cuộc họp báo, có tin giờ chót vừa kiểm kê được thì số người chết đã lên đến 10 người, bị thương lên 100 và 50 bị bắt mất tích.
3 nhân chứng quả quyết
Ba nhân chứng sau đây đã được Ban Tổ chức mời lên quay lại khúc phim thảm sát tại VNQT. Theo cách tả chân rùng rợn, 3 nhân chứng này đã gây xúc động cho người nghe và theo sự mô tả của họ thì chính Thượng Tọa Tâm Châu đã lái xe nhà binh như 1 tướng lãnh xuất hiện đầu tiên để chỉ huy, tiếp theo là Thượng Tọa Tâm Giác bắn 3 phát súng khai hỏa rồi cuộc tấn công bắt đầu.
Nhân chứng Đại Đức Hạnh Châu nhân danh ký giả báo Saigon Mới, nói rằng thảm sát kinh hoàng quá, không ngôn ngữ nào tả xiết.
Dân biểu Quốc khóc
Nhân chứng Dân biểu Trần Công Quốc vừa khóc vừa kêu gọi Phật tử phải đoàn kết để quyết liệt chống lại tập đoàn phản dân tộc.
Sau hết là nhân chứng Đại Đức Giác Nguyên, nhân danh đệ tử của thầy Tâm Châu lên tố cáo thầy đã chỉ huy cuộc tàn sát VNQT.
Sẽ tái chiếm VNQT
Trong phần trả lời câu hỏi của báo chí, Thượng Tọa Thiện Minh không tiết lộ kế hoạch tái chiếm VNQT lần thứ hai, nhưng ông nói «VNQT đương và sẽ là một cơ sở của Giáo Hội vì đó là xương máu của mình, nhất là cơ sở đó ngày nay không còn phải là nơi tôn thờ nữa, chúng tôi nhất quyết phải loại trừ bọn giáo gian. Tôi đã phản ảnh đúng mức thái độ của Hội đồng Viện trong phiên họp gần nhứt là như vậy».
Điều đặc biệt đáng ghi nhận trong cuộc họp báo máu này, trước và sau mỗi câu của quý chư tôn Thượng Tọa Đại Đức đều có câu niệm thông thường «Nam mô A Di Đà Phật».
Bên ngoài, Cảnh Sát Dã Chiến ứng trực đề phòng có biểu tình, và đã sắp thành hàng, tay cầm ma trắc chờ đợi.
Phản ứng đầu tiên của Phật tử Huế
Theo Dân Biểu Nguyễn Đại Bảng thì trong một cuộc điện đàm hôm qua, Đại diện Phật tử Huế là ông Nguyễn tắc Luyện nói rằng, Phật tử Huế đã vô cùng xúc động trước tin VNQT bị tấn công và cho biết Phật tử Huế sẽ siết chặt hàng ngũ để chờ lệnh của Giáo Hội Ấn Quang.
Đại Tá Đô Trưởng minh xác
— Hôm nay Văn phòng Đại Tá Đô Trưởng Đỗ Kiến Nhiễu lên tiếng minh xác về lời tố cáo của Đại Đức Nhật Thường (Ấn Quang) nói rằng Đại Tá đã lái xe vào VNQT chở đi 3 xác chết.
Văn phòng Đại Tá Nhiễu xác định là Đại Tá Đô Trưởng hoàn toàn đứng bên ngoài cuộc tranh chấp của Phật Giáo về VNQT và Đại Tá chỉ hoàn toàn lo giữ an ninh trật tự cho dân đô thành.
LTC Phụ chú cần thiết:
Chúng ta sẽ nắm rõ hơn sự vụ Máu Đổ Cửa Thiền này nếu ta thử xem nó nằm trong bối cảnh nào của miền Nam vào 6 tháng tiền bán niên 1970. Vì thế, tôi xin làm một phụ chú vắn tắt cần thiết sau đây:
➯ Sau 2 trận đánh miền Nam vào Tết Mậu Thân 1968 và mùng 5 Tết Kỷ Dậu 1969 (nhằm ngày 22-2-1969), Cộng quân bị thua xiểng liểng và tổn thất nặng nề. Đến nỗi chúng hết còn sức lực gây chiến tranh đốt phá hung ác như trước nữa [ * ]. Bước sang năm 1970, miền Nam gần như sống trong cảnh yên bình hiếm hoi sau hơn chục năm chịu lắm đau thương binh lửa, giết chóc và phá hoại của Cộng sản.
➯ Thế nhưng có một người không dễ dãi lạc quan trước điều đó, đó là Tổng thống Thiệu. Ông hiểu rằng, chánh quyền quốc gia sẽ phải đối trước một thực tế khó chịu khác. Khi chiến tranh như thể khuất bóng – khi thành phố đã thưa dần tiếng đại bác ầm ì đêm đêm vọng về, khi giấc ngủ ngon của người Saigon hết còn bị phá ngang nữa – thì không chỉ giới Phật giáo tranh đấu (Ấn Quang), giới trí thức cho đến giới sinh viên mà cả chính bầu khí Dân Chủ nói chung của VNCH nữa như được thả cửa mặc sức chạy quàng chạy xiên. Cơn binh lửa dẫu có phai dần, nhưng thói tật gây gỗ gùn ghè hội đoàn đảng phái không ngơi ầm ĩ chí choé của miền Nam bây giờ lại nổi lên điền thế vô tiếng đại bác gầm rú khi trước.
➯ Tình hình Cao Miên: vào tháng 8-1969, một tân chính phủ Cộng Hòa Cao Miên được thành lập. Trong khi ông Hoàng Sihanouk vẫn giữ quyền hành tổng quát, thì Thiếu tướng Lon Nol giữ chức vụ tân Thủ tướng kiêm Tổng Tư lệnh quân lực, còn gọi là Quân Lực Khmères (FANK).
Đầu tháng 1-1970, Sihanouk rời Cao Miên làm một vòng Âu du, Nga sô và Trung cộng. Trong khi Thái tử vắng mặt thì vào ngày 11-3, ở thủ đô Nam Vang, nhân dân Cao Miên nổi lên biểu tình chống Bắc Việt và Việt cộng. Được giới quân nhân chống Sihanouk ngầm tổ chức và tiếp sức, các cuộc biểu tình mau lẹ chuyển sang bạo động, các Toà Đại sứ Bắc Việt và Nga Sô bị dân chúng bao vây, đập phá. Trung tuần tháng Ba/1970, Lon Nol ra lệnh cho VC và Cộng sản Bắc Việt phải triệt thoái khỏi Cao Miên trong vòng 72 tiếng đồng hồ, là tối hậu thư mà Bắc Việt giả lơ. Ngày 18-3-1970, Quốc Hội Cao Miên biểu quyết truất phế Sihanouk khỏi chức vị Quốc trưởng. Lon Nol dùng quyền hạn Thủ tướng để ban bố tình trạng khẩn trương và tiếp đó cắt đứt quan hệ ngoại giao với Bắc Việt.
Trong vòng có mấy ngày sau cơn chính biến này, liền xảy ra cuộc đụng trận giữa FANK và Cộng quân Việt, và cộng quân dành phần thắng không mấy khó trước quân đội Cao Miên vốn yếu hơn về võ khí lẫn đội ngũ. Tiếp đó Cộng quân Việt tiến chiếm hầu hết các tỉnh của Cao Miên dọc biên giới Miên Việt và chuẩn bị tiến về thủ đô Nam Vang. Đây là đầu mối xảy ra việc QLVNCH – có sự yểm trợ của Cố vấn quân sự Mỹ, không lực và phi pháo Mỹ – thực hiện những cuộc hành quân ngoại biên sang đất Cao Miên (đã được chánh quyền Lon Nol thỏa thuận với VNCH hay nói đúng hơn là Lon Nol cầu cứu VNCH trước nguy cơ sụp đổ tân chánh quyền Miên mới thu được sau vụ đảo chánh Sihanouk) khởi đầu với cuộc Hành Quân Tất Thắng khai diễn ngày 5-4-1970 [ #Chinh Luan Apr. 10, 1970 trang nhất ] để thọc sâu vô tận sào huyệt, kho bãi võ khí và tiếp liệu, lương thực của CSBV trên đất Miên.
Tiếp theo là các cuộc hành quân đại quy mô phối hợp các quân binh chủng VNCH:
✑ Quân đoàn III & Quân khu 3: Hành Quân Toàn Thắng 42 khai diễn ngày 29-4-1970, Hành Quân Toàn Thắng 43 khai diễn ngày 1-5-1970,
✑ Quân đoàn II & Quân khu 2: Hành Quân Bình Tây 1 khai diễn ngày 5-5-1970
✑ Quân đoàn IV & Quân khu 4: Hành Quân Cửu Long khai diễn ngày 6-5-1970 (Quân đoàn IV & Quân khu 4)
[ #Tien Tuyen May. 12, 1970 trang nhất ]
... đã dẹp tan mật khu Ba Thu và các mật khu lớn nhỏ khác của Cộng sản, là hang ổ trên đất Miên mà CSBV dùng làm bàn đạp tiến đánh VNCH, uy hiếp đô thành Saigon.
Chiến dịch Hành Quân Ngoại Biên này còn có công dụng chận đứng đà hiếp đáp của CSBV với Quân Lực Khmères.
Có thể kể, đến hết tháng 6-1970, Chiến dịch Hành Quân Ngoại Biên đạt được nhiều thắng lợi ngoài sự mong đợi: 15,837 cán binh Cộng sản bị hạ tại trận; 1,884 bị bắt sống; quân đội Quốc gia tịch thu được 2,832 súng cộng đồng và 26,186 võ khí cá nhân của Cộng sản.
Về phía VNCH thiệt hại coi như là quá nhẹ chỉ có 66 tử thương và 330 bị thương.
Kể từ sau các cuộc hành quân ngoại biên của QLVNCH, tình hình chiến sự trên toàn quốc trở nên lắng dịu vì Cộng quân đã hoàn toàn suy bại. Nhờ đó, nói riêng thủ đô Saigon được yên bình và chánh quyền quốc gia được rảnh tay lo việc nước được gần 2 năm. Xin xem 2 bài Nhận Định của nhật báo Tiền Tuyến: Thu Ngắn Chiến Tranh (#Tien Tuyen May 8, 1970 trang nhất) và Chuyện Không Ngờ (#Tiền Tuyến May 12, 1970 trang nhất) dưới đây.
➯ Sinh viên làm loạn: Tới đây bắt đầu khởi lên nạn Việt kiều ở Cao Miên bị thảm sát. Một phần nhỏ của sự việc là do chính quyền Lon Nol từ trước đã khơi ra một chiến dịch chống người Việt thật là ác nghiệt hòng quy tụ dân chúng Cao Miên lại với nhau trong mục đích chống Cộng sản. Phần nhiều hơn, theo báo giới Saigon, thì thủ phạm chánh tàn sát thường dân Việt kiều vô tội là Cộng sản Bắc Việt bằng thủ đoạn ném đá dấu tay, chúng cố tình gây tội sát nhân chính đồng bào Việt Nam để gây rắc rối, khó khăn cho cả 2 chính quyền VNCH lẫn chính quyền Lon Nol chống Cộng [ #Tien Tuyen Apr. 26_27, 1970 trang nhất ]. Cộng đồng nhỏ Việt kiều đang sinh sống ở Cao Miên lối 600.000 người bỗng dưng lâm nạn, và trong tháng 3-1970, số kiều bào Việt bị sát hại khoảng 92 người tại 2 thị trấn Prâsaut và Chi Phou, cách biên giới Việt Miên lối 30 cây số. Khi tin tức loan ra trên báo chí Saigon cho biết con số thường dân Việt kiều bên Miên bị sát hại, thì một làn sóng Sinh viên bỗng nổi lên chống Cao Miên, cao điểm là 8 giờ sáng ngày 24-4-1970, một số đông SVHS kéo nhau làm loạn, nhưng đó chỉ là cái vỏ bề ngoài, sự thực bên trong các SVHS này bị xúi dục bởi 2 tay Dân biểu hoạt động nội tuyến cho Cộng sản là Lý Quý Chung và Ngô Công Đức [ Tien Tuyen Apr. 26_27, 1970 trang ba ]. 2 tay Dân biểu Cộng sản này cũng có mặt trong đám SVHS lấy cớ là yêu nước, nhảy vô chiếm Tòa Đại Sứ Miên ở Saigon (góc đường Lê Văn Duyệt – Phan Đình Phùng) hô khẩu hiệu “đả đảo Lon Nol” gây thêm rắc rối cho chánh quyền quốc gia một cách vô nghĩa, cái cớ do 2 tên Dân biểu Cộng sản kia mớm cho Sinh viên là chánh quyền đã không chu toàn trách nhiệm bảo vệ Việt kiều Miên và đòi ông Thiệu phải giải quyết vấn đề.
➯ Tình hình Thương phế binh và Cô nhi Quả phụ:
Từ đầu tháng 3-1970, khi được nghe phong thanh về chính sách Cải cách Điền địa của Chánh quyền Tổng thống Thiệu thì đã có khởi đầu một ít vụ chiếm đất dựng nhà bất hợp pháp của Thương phế binh (TPB) mà người Saigon gọi là «cắm dùi».
Sau khi Luật NCCR được Quốc Hội chuẩn y và ngày ban hành Luật Người Cày Có Ruộng (NCCR) là ngày 26-3-1970, thì Hội Ái Hữu TPB nhập cuộc bằng đòi hỏi cụ thể. Anh em không đòi đất mà đòi nhà ở. Thương phế binh Sài Gòn đưa ra tuyên ngôn bằng câu biểu ngữ: “Người cày có Ruộng, Thương phế binh có Nhà”. Cũng tại Saigon, hoặc ngồi xe lăn hoặc chống nạng, họ đã huy động được hàng trăm người làm một phong trào chiếm đất cất nhà nơi các công viên hay các con phố, và đòi chính phủ cấp nhà ở cũng như tạo công ăn việc làm cho họ.
Ngày 4-4, một nhóm nhỏ thuộc Hội Ái Hữu TPB kéo nhau diễn hành trước Quốc Hội để trình thỉnh nguyên thư. Từ Quốc Hội, họ kéo sang Dinh Độc Lập để hội kiến Tổng thống. Khi Cảnh sát ngăn không cho họ tiến vào khuôn viên Dinh, thì có phế binh ném đá vào hàng rào Cảnh sát. Thiếu tướng Phạm Văn Đổng Tổng trưởng Cựu Chiến Binh vội bước ra để trấn an anh em TPB và báo cho hanh em biết là đã có Dự luật Tương trợ Cựu Chiến binh, Thương phế binh và Cô nhi Quả phụ và Dự luật này đã được Tổng thống chuyển sang Quốc Hội phê chuẩn. Chưa thoả mãn, phế binh cất lều tạm trên những con phố quanh đó để chờ được gặp Tổng thống. Trong 2 ngày tiếp, phế binh nhiều lần tấn công lực lượng Cảnh vệ Dinh. Có một cuộc đụng độ nhỏ làm vài Cảnh vệ bị thương nặng nên Cảnh vệ phải bắn phi tiễn hơi cay để đẩy lui phế binh. Đã vậy còn thêm cuộc biểu tình mới nổi lên của sinh viên hùa vào, làm cho đường phố Sài Gòn mới yên bình được hơn hai năm, nay bạo động và bất ổn lại quay trở lại.
Ngày 7-4, Tổng thống kêu gọi anh em TPB chấm dứt biểu tình để Chính phủ và Quốc Hội làm việc về Dự luật của tướng Đổng, và ông yêu cầu anh em TPB đừng chiếm đất công và đừng để xảy ra xô xát đáng tiếc với Cảnh sát hoặc chặn đường chặn ngõ làm trở ngại lưu thông. Ông hạ giọng van nài, khẳng định ông hết sức thông cảm những đòi hỏi chính đáng của họ. “chính tôi là một chiến sĩ chiến đấu từ cấp nhỏ trong suốt 20 năm và cho đến nay tôi cũng còn một số con cháu bị thương tích vì chiến đấu như anh em ... cho nên tôi đã lo, đang lo và sẽ lo chu đáo cho anh em. Tôi kêu gọi anh em thông cảm những lời tôi vừa nói. Vì quyền lợi quốc gia và số đông đồng bào, tôi phải làm cho luật pháp và kỷ luật trật tự công cộng được tôn trọng …. Anh em đừng quan niệm nhầm lẫn rằng anh em thắng Chánh phủ, hoặc Chánh phủ thắng anh em. Giữa người Quốc gia chống Cộng chúng ta, không có ai thắng ai cả. Kẻ mà chúng ta phải thắng chung là Cộng sản. Anh em phải hiểu và giúp tôi.” [ Vietnam Bulletin (Nguyệt san Thời sự của Phòng Thông Tin Hoa Kỳ) April 12_18, 1970, trang 5 ]. Tổng thống biết nỗi bất bình của Thương phế binh là chính đáng, nhưng đào đâu ra nguồn ngân quỹ để tăng khoản cấp dưỡng hưu bổng cho Thương phế binh trong khi ngân sách quốc gia đã bị trương ra đến hết cỡ rồi. Tuy nhiên, lời ông hứa cũng tạm thời xoa dịu Thương phế binh, để ông được rảnh tay thu xếp một cuộc khủng hoảng khác sắp xảy ra, đó là vụ sinh viên bất ngờ làm loạn vào ngày 24-4-1970 như đã nói trên.
➯ Thấy TPB chiếm đất cắm dùi thì giới Cô nhi Quả phụ cũng đua theo làm reo với các đòi hỏi quyền lợi này kia khác nọ. Tuy nhiên, vụ Cô nhi Quả phụ làm ồn có phần yếu hơn và không mấy gây rối ren cho bằng các vụ Ấn Quang, TPB và SVHS.
Và như chúng ta đã biết, vào ngày 3-5-1970, Khối Phật giáo Ấn Quang lợi dụng tình trạng phố xá hỗn loạn, bèn làm một cuộc hành quân đột kích tiến chiếm Việt Nam Quốc Tự.
➯ Với một số giới chức chủ trương cứng rắn trong chính phủ, đây là giọt nước tràn ly, giới hạn cuối cùng. Trong cuộc họp Hội đồng Tổng trưởng ngày 4-5-1970, Tổng thống Thiệu và các Tổng, Bộ trưởng quyết định tái lập trật tự công cộng. Câu niệm chú thiêng của Tổng thống Thiệu, do chính ông khởi xướng, là “Sống còn trước đã.” Thắng cuộc chiến với Cộng sản xong đã, ấy mới là lúc ông sắt son một lòng trung với nếp Dân chủ dựa trên căn bản Dân quyền. Nội Các thuận tình biểu quyết tăng giờ giới nghiêm, cấm biểu tình, điều động 4 tiểu đoàn gồm Sinh viên Sĩ quan tại Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức và khóa sinh tại các quân trường khác về tăng cường cho lực lượng Cảnh sát Đô thành và đóng cửa tất cả các trường Đại học, Trung Tiểu học Công lập & Tư thục Phổ thông và Chuyên nghiệp, Kỹ thuật trong vùng Saigon – Gia Định kể từ ngày 6-5-1970 cho đến khi có lệnh mới. Sáng sớm ngày 5-5-1970, Cảnh sát Dã chiến tràn vào Toà Đại sứ Cao Miên bắt giữ hơn 70 sinh viên, chấm dứt cuộc tạo loạn, vãn hồi trật tự và cuộc sống bình yên cho đô thành Saigon. Trận đàn áp không nương tay bắt buộc phải xảy đến và có hiệu quả ngay lập tức, không còn cách nào khác.
[ * Chú thích:
Con số tổn thất của quân Cộng sản Bắc Việt và VC tại chỗ ở miền Nam:
Trận Tết Mậu Thân 1968:
Theo Đại tá Hoàng Ngọc Lung, Trưởng Phòng 2 (Tình báo) Bộ TTM/VNCH, đưa ra con số do QLVNCH ước tính là: “Vào cuối năm 1967, tổng quân số của địch ở Nam Việt Nam đạt khoảng 323.000… Trong đó quân tác chiến là 130.000; cán bộ chính trị và du kích quân với các loại khác là 160.000”. Còn lại là cán bộ hậu cần hoặc dân công khuân vác chiến trường. [ Hoang Ngoc Lung, The General Offensive of 1968–1969 (Washington, D.C.: Center for Military History, 1981), p. 56, 57.
Còn MACV thì khác, liệt kê quân số của địch là 115.000 quân tác chiến tung vô cuộc tấn công, một con số mà CIA cực lực bác bỏ. Tính toán của CIA thì nhìn nhận một điều là “con số thực có thể còn vượt quá con số 160.000 hiện thời” [ Draft Working Paper, “The Probable Strength of the VC Main and Local and North Vietnamese Army Forces in South Vietnam,” CIA, Jan. 31, 1968 ]
Quân số của địch mà quân VNCH và đồng minh ước lượng có nhiều sự vênh nhau. Theo tài liệu chính thức của quân đội Bắc Việt History of the People’s Army thì đầu năm 1968, ở miền Nam họ có 278.000 quân chủ lực và quân địa phương (tại chỗ). Một tài liệu chính thức khác của Bắc quân cũng khớp con số đó. Trong một báo cáo nội bộ, họ phân loại gồm: “220.000 quân chủ lực và 57.000 quân tại chỗ (không kể dân quân, du kích hoặc tự vệ.)” [ Lich Su Khang Chien tập V, trang 48 ]. Vậy thì tách bạch con số xung trận hay gộp cả hậu cần vào cũng đâu có gì rạch ròi dứt khoát, mà đấy là con số tính chung cho toàn cuộc tấn công. Theo Cơ quan Tình báo Hoa Kỳ ước tính thì có 85.000 quân địch tham gia vào các cuộc tấn công, nhưng đó chỉ thuần là đoán chừng vì không có định nghĩa cụ thể nào xác định cho đúng loại mà kiểm đếm.
Những tuyên bố của VNCH và đồng minh về tổn thất của địch trong cuộc tấn công cũng có sai biệt. Đại tá Lung khẳng định rằng số chết của Cộng quân là 87.534, số ra đầu hàng và hồi chánh với VNCH vào năm 1968 là 27.178 nhưng ông không tự tin kê ra con số địch chết trong các trận đánh đầu năm - Tết Mậu Thân là bao nhiêu. Các Tư lệnh Mỹ thì viện ra con số khoảng 40.000 địch quân bị hạ trong cuộc tổng công kích, là lý do chính khiến MACV tuyên bố VNCH và đồng minh đã có một chiến thắng lớn như vậy.
Tuy nhiên, theo một tài liệu nội bộ của Cục Tác chiến Bắc quân nói rằng “tổn thất của ta trong đợt đầu tiên [từ ngày 30-1 đến ngày 30-4] là 12.818 chết và 22.316 bị thương.” [ Bien nien su kien: Bo tong tham muu trong khang chien chong My, cuu nuoc, tap V (1968) xuất bản 2005, Hà Nội ]. Tài liệu thứ hai, của Bộ Quốc phòng Bắc Việt, đề ngày 14-2-1969, liệt kê tổng số thương vong và mất tích trong năm 1968 là 113.295, chưa kể 10.899 trường hợp đào ngũ [ Cộng sản né không nói là số này về chiêu hồi với chính quyền quốc gia ]. Trong số đó, chết 44.824 và bị thương 61.267. Theo thống kê này, số thương vong là 34%, tức xấp xỉ số 15.240 chết và 20.831 bị thương trong chiến trận mấy ngày Tết. Hai tài liệu của họ cũng không khớp nhau mà họ cứ trân tráo để nguyên như thế, có điều nó cho chúng ta thấy tổng số thương vong kê ra nơi hai tài liệu vừa kể là gần bằng như nhau.
Tóm lại, cứ cho là các thủ tục kiểm đếm của Bắc quân là hữu lý đúng đi, thì Bắc Việt đã phải hứng chịu hơn 35.000 thương vong trong 3 tháng binh lửa đó. Cho dẫu con số thực tế có thể còn gấp đôi hoặc hơn, đó vẫn là một con số ghê rợn!
Trận Xuân Kỷ Dậu 1969:
Cứ xem những con số tổn thất của cộng sản do chính Bộ chỉ huy đầu não Bắc quân tự nhìn nhận, thật tình người ta phải phát khiếp:
Chúng ta sẽ nắm rõ hơn sự vụ Máu Đổ Cửa Thiền này nếu ta thử xem nó nằm trong bối cảnh nào của miền Nam vào 6 tháng tiền bán niên 1970. Vì thế, tôi xin làm một phụ chú vắn tắt cần thiết sau đây:
➯ Sau 2 trận đánh miền Nam vào Tết Mậu Thân 1968 và mùng 5 Tết Kỷ Dậu 1969 (nhằm ngày 22-2-1969), Cộng quân bị thua xiểng liểng và tổn thất nặng nề. Đến nỗi chúng hết còn sức lực gây chiến tranh đốt phá hung ác như trước nữa [ * ]. Bước sang năm 1970, miền Nam gần như sống trong cảnh yên bình hiếm hoi sau hơn chục năm chịu lắm đau thương binh lửa, giết chóc và phá hoại của Cộng sản.
➯ Thế nhưng có một người không dễ dãi lạc quan trước điều đó, đó là Tổng thống Thiệu. Ông hiểu rằng, chánh quyền quốc gia sẽ phải đối trước một thực tế khó chịu khác. Khi chiến tranh như thể khuất bóng – khi thành phố đã thưa dần tiếng đại bác ầm ì đêm đêm vọng về, khi giấc ngủ ngon của người Saigon hết còn bị phá ngang nữa – thì không chỉ giới Phật giáo tranh đấu (Ấn Quang), giới trí thức cho đến giới sinh viên mà cả chính bầu khí Dân Chủ nói chung của VNCH nữa như được thả cửa mặc sức chạy quàng chạy xiên. Cơn binh lửa dẫu có phai dần, nhưng thói tật gây gỗ gùn ghè hội đoàn đảng phái không ngơi ầm ĩ chí choé của miền Nam bây giờ lại nổi lên điền thế vô tiếng đại bác gầm rú khi trước.
➯ Tình hình Cao Miên: vào tháng 8-1969, một tân chính phủ Cộng Hòa Cao Miên được thành lập. Trong khi ông Hoàng Sihanouk vẫn giữ quyền hành tổng quát, thì Thiếu tướng Lon Nol giữ chức vụ tân Thủ tướng kiêm Tổng Tư lệnh quân lực, còn gọi là Quân Lực Khmères (FANK).
Đầu tháng 1-1970, Sihanouk rời Cao Miên làm một vòng Âu du, Nga sô và Trung cộng. Trong khi Thái tử vắng mặt thì vào ngày 11-3, ở thủ đô Nam Vang, nhân dân Cao Miên nổi lên biểu tình chống Bắc Việt và Việt cộng. Được giới quân nhân chống Sihanouk ngầm tổ chức và tiếp sức, các cuộc biểu tình mau lẹ chuyển sang bạo động, các Toà Đại sứ Bắc Việt và Nga Sô bị dân chúng bao vây, đập phá. Trung tuần tháng Ba/1970, Lon Nol ra lệnh cho VC và Cộng sản Bắc Việt phải triệt thoái khỏi Cao Miên trong vòng 72 tiếng đồng hồ, là tối hậu thư mà Bắc Việt giả lơ. Ngày 18-3-1970, Quốc Hội Cao Miên biểu quyết truất phế Sihanouk khỏi chức vị Quốc trưởng. Lon Nol dùng quyền hạn Thủ tướng để ban bố tình trạng khẩn trương và tiếp đó cắt đứt quan hệ ngoại giao với Bắc Việt.
Trong vòng có mấy ngày sau cơn chính biến này, liền xảy ra cuộc đụng trận giữa FANK và Cộng quân Việt, và cộng quân dành phần thắng không mấy khó trước quân đội Cao Miên vốn yếu hơn về võ khí lẫn đội ngũ. Tiếp đó Cộng quân Việt tiến chiếm hầu hết các tỉnh của Cao Miên dọc biên giới Miên Việt và chuẩn bị tiến về thủ đô Nam Vang. Đây là đầu mối xảy ra việc QLVNCH – có sự yểm trợ của Cố vấn quân sự Mỹ, không lực và phi pháo Mỹ – thực hiện những cuộc hành quân ngoại biên sang đất Cao Miên (đã được chánh quyền Lon Nol thỏa thuận với VNCH hay nói đúng hơn là Lon Nol cầu cứu VNCH trước nguy cơ sụp đổ tân chánh quyền Miên mới thu được sau vụ đảo chánh Sihanouk) khởi đầu với cuộc Hành Quân Tất Thắng khai diễn ngày 5-4-1970 [ #Chinh Luan Apr. 10, 1970 trang nhất ] để thọc sâu vô tận sào huyệt, kho bãi võ khí và tiếp liệu, lương thực của CSBV trên đất Miên.
Tiếp theo là các cuộc hành quân đại quy mô phối hợp các quân binh chủng VNCH:
✑ Quân đoàn III & Quân khu 3: Hành Quân Toàn Thắng 42 khai diễn ngày 29-4-1970, Hành Quân Toàn Thắng 43 khai diễn ngày 1-5-1970,
✑ Quân đoàn II & Quân khu 2: Hành Quân Bình Tây 1 khai diễn ngày 5-5-1970
✑ Quân đoàn IV & Quân khu 4: Hành Quân Cửu Long khai diễn ngày 6-5-1970 (Quân đoàn IV & Quân khu 4)
[ #Tien Tuyen May. 12, 1970 trang nhất ]
... đã dẹp tan mật khu Ba Thu và các mật khu lớn nhỏ khác của Cộng sản, là hang ổ trên đất Miên mà CSBV dùng làm bàn đạp tiến đánh VNCH, uy hiếp đô thành Saigon.
Chiến dịch Hành Quân Ngoại Biên này còn có công dụng chận đứng đà hiếp đáp của CSBV với Quân Lực Khmères.
Có thể kể, đến hết tháng 6-1970, Chiến dịch Hành Quân Ngoại Biên đạt được nhiều thắng lợi ngoài sự mong đợi: 15,837 cán binh Cộng sản bị hạ tại trận; 1,884 bị bắt sống; quân đội Quốc gia tịch thu được 2,832 súng cộng đồng và 26,186 võ khí cá nhân của Cộng sản.
Về phía VNCH thiệt hại coi như là quá nhẹ chỉ có 66 tử thương và 330 bị thương.
Kể từ sau các cuộc hành quân ngoại biên của QLVNCH, tình hình chiến sự trên toàn quốc trở nên lắng dịu vì Cộng quân đã hoàn toàn suy bại. Nhờ đó, nói riêng thủ đô Saigon được yên bình và chánh quyền quốc gia được rảnh tay lo việc nước được gần 2 năm. Xin xem 2 bài Nhận Định của nhật báo Tiền Tuyến: Thu Ngắn Chiến Tranh (#Tien Tuyen May 8, 1970 trang nhất) và Chuyện Không Ngờ (#Tiền Tuyến May 12, 1970 trang nhất) dưới đây.
➯ Sinh viên làm loạn: Tới đây bắt đầu khởi lên nạn Việt kiều ở Cao Miên bị thảm sát. Một phần nhỏ của sự việc là do chính quyền Lon Nol từ trước đã khơi ra một chiến dịch chống người Việt thật là ác nghiệt hòng quy tụ dân chúng Cao Miên lại với nhau trong mục đích chống Cộng sản. Phần nhiều hơn, theo báo giới Saigon, thì thủ phạm chánh tàn sát thường dân Việt kiều vô tội là Cộng sản Bắc Việt bằng thủ đoạn ném đá dấu tay, chúng cố tình gây tội sát nhân chính đồng bào Việt Nam để gây rắc rối, khó khăn cho cả 2 chính quyền VNCH lẫn chính quyền Lon Nol chống Cộng [ #Tien Tuyen Apr. 26_27, 1970 trang nhất ]. Cộng đồng nhỏ Việt kiều đang sinh sống ở Cao Miên lối 600.000 người bỗng dưng lâm nạn, và trong tháng 3-1970, số kiều bào Việt bị sát hại khoảng 92 người tại 2 thị trấn Prâsaut và Chi Phou, cách biên giới Việt Miên lối 30 cây số. Khi tin tức loan ra trên báo chí Saigon cho biết con số thường dân Việt kiều bên Miên bị sát hại, thì một làn sóng Sinh viên bỗng nổi lên chống Cao Miên, cao điểm là 8 giờ sáng ngày 24-4-1970, một số đông SVHS kéo nhau làm loạn, nhưng đó chỉ là cái vỏ bề ngoài, sự thực bên trong các SVHS này bị xúi dục bởi 2 tay Dân biểu hoạt động nội tuyến cho Cộng sản là Lý Quý Chung và Ngô Công Đức [ Tien Tuyen Apr. 26_27, 1970 trang ba ]. 2 tay Dân biểu Cộng sản này cũng có mặt trong đám SVHS lấy cớ là yêu nước, nhảy vô chiếm Tòa Đại Sứ Miên ở Saigon (góc đường Lê Văn Duyệt – Phan Đình Phùng) hô khẩu hiệu “đả đảo Lon Nol” gây thêm rắc rối cho chánh quyền quốc gia một cách vô nghĩa, cái cớ do 2 tên Dân biểu Cộng sản kia mớm cho Sinh viên là chánh quyền đã không chu toàn trách nhiệm bảo vệ Việt kiều Miên và đòi ông Thiệu phải giải quyết vấn đề.
➯ Tình hình Thương phế binh và Cô nhi Quả phụ:
Từ đầu tháng 3-1970, khi được nghe phong thanh về chính sách Cải cách Điền địa của Chánh quyền Tổng thống Thiệu thì đã có khởi đầu một ít vụ chiếm đất dựng nhà bất hợp pháp của Thương phế binh (TPB) mà người Saigon gọi là «cắm dùi».
Sau khi Luật NCCR được Quốc Hội chuẩn y và ngày ban hành Luật Người Cày Có Ruộng (NCCR) là ngày 26-3-1970, thì Hội Ái Hữu TPB nhập cuộc bằng đòi hỏi cụ thể. Anh em không đòi đất mà đòi nhà ở. Thương phế binh Sài Gòn đưa ra tuyên ngôn bằng câu biểu ngữ: “Người cày có Ruộng, Thương phế binh có Nhà”. Cũng tại Saigon, hoặc ngồi xe lăn hoặc chống nạng, họ đã huy động được hàng trăm người làm một phong trào chiếm đất cất nhà nơi các công viên hay các con phố, và đòi chính phủ cấp nhà ở cũng như tạo công ăn việc làm cho họ.
Ngày 4-4, một nhóm nhỏ thuộc Hội Ái Hữu TPB kéo nhau diễn hành trước Quốc Hội để trình thỉnh nguyên thư. Từ Quốc Hội, họ kéo sang Dinh Độc Lập để hội kiến Tổng thống. Khi Cảnh sát ngăn không cho họ tiến vào khuôn viên Dinh, thì có phế binh ném đá vào hàng rào Cảnh sát. Thiếu tướng Phạm Văn Đổng Tổng trưởng Cựu Chiến Binh vội bước ra để trấn an anh em TPB và báo cho hanh em biết là đã có Dự luật Tương trợ Cựu Chiến binh, Thương phế binh và Cô nhi Quả phụ và Dự luật này đã được Tổng thống chuyển sang Quốc Hội phê chuẩn. Chưa thoả mãn, phế binh cất lều tạm trên những con phố quanh đó để chờ được gặp Tổng thống. Trong 2 ngày tiếp, phế binh nhiều lần tấn công lực lượng Cảnh vệ Dinh. Có một cuộc đụng độ nhỏ làm vài Cảnh vệ bị thương nặng nên Cảnh vệ phải bắn phi tiễn hơi cay để đẩy lui phế binh. Đã vậy còn thêm cuộc biểu tình mới nổi lên của sinh viên hùa vào, làm cho đường phố Sài Gòn mới yên bình được hơn hai năm, nay bạo động và bất ổn lại quay trở lại.
Ngày 7-4, Tổng thống kêu gọi anh em TPB chấm dứt biểu tình để Chính phủ và Quốc Hội làm việc về Dự luật của tướng Đổng, và ông yêu cầu anh em TPB đừng chiếm đất công và đừng để xảy ra xô xát đáng tiếc với Cảnh sát hoặc chặn đường chặn ngõ làm trở ngại lưu thông. Ông hạ giọng van nài, khẳng định ông hết sức thông cảm những đòi hỏi chính đáng của họ. “chính tôi là một chiến sĩ chiến đấu từ cấp nhỏ trong suốt 20 năm và cho đến nay tôi cũng còn một số con cháu bị thương tích vì chiến đấu như anh em ... cho nên tôi đã lo, đang lo và sẽ lo chu đáo cho anh em. Tôi kêu gọi anh em thông cảm những lời tôi vừa nói. Vì quyền lợi quốc gia và số đông đồng bào, tôi phải làm cho luật pháp và kỷ luật trật tự công cộng được tôn trọng …. Anh em đừng quan niệm nhầm lẫn rằng anh em thắng Chánh phủ, hoặc Chánh phủ thắng anh em. Giữa người Quốc gia chống Cộng chúng ta, không có ai thắng ai cả. Kẻ mà chúng ta phải thắng chung là Cộng sản. Anh em phải hiểu và giúp tôi.” [ Vietnam Bulletin (Nguyệt san Thời sự của Phòng Thông Tin Hoa Kỳ) April 12_18, 1970, trang 5 ]. Tổng thống biết nỗi bất bình của Thương phế binh là chính đáng, nhưng đào đâu ra nguồn ngân quỹ để tăng khoản cấp dưỡng hưu bổng cho Thương phế binh trong khi ngân sách quốc gia đã bị trương ra đến hết cỡ rồi. Tuy nhiên, lời ông hứa cũng tạm thời xoa dịu Thương phế binh, để ông được rảnh tay thu xếp một cuộc khủng hoảng khác sắp xảy ra, đó là vụ sinh viên bất ngờ làm loạn vào ngày 24-4-1970 như đã nói trên.
➯ Thấy TPB chiếm đất cắm dùi thì giới Cô nhi Quả phụ cũng đua theo làm reo với các đòi hỏi quyền lợi này kia khác nọ. Tuy nhiên, vụ Cô nhi Quả phụ làm ồn có phần yếu hơn và không mấy gây rối ren cho bằng các vụ Ấn Quang, TPB và SVHS.
Và như chúng ta đã biết, vào ngày 3-5-1970, Khối Phật giáo Ấn Quang lợi dụng tình trạng phố xá hỗn loạn, bèn làm một cuộc hành quân đột kích tiến chiếm Việt Nam Quốc Tự.
➯ Với một số giới chức chủ trương cứng rắn trong chính phủ, đây là giọt nước tràn ly, giới hạn cuối cùng. Trong cuộc họp Hội đồng Tổng trưởng ngày 4-5-1970, Tổng thống Thiệu và các Tổng, Bộ trưởng quyết định tái lập trật tự công cộng. Câu niệm chú thiêng của Tổng thống Thiệu, do chính ông khởi xướng, là “Sống còn trước đã.” Thắng cuộc chiến với Cộng sản xong đã, ấy mới là lúc ông sắt son một lòng trung với nếp Dân chủ dựa trên căn bản Dân quyền. Nội Các thuận tình biểu quyết tăng giờ giới nghiêm, cấm biểu tình, điều động 4 tiểu đoàn gồm Sinh viên Sĩ quan tại Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức và khóa sinh tại các quân trường khác về tăng cường cho lực lượng Cảnh sát Đô thành và đóng cửa tất cả các trường Đại học, Trung Tiểu học Công lập & Tư thục Phổ thông và Chuyên nghiệp, Kỹ thuật trong vùng Saigon – Gia Định kể từ ngày 6-5-1970 cho đến khi có lệnh mới. Sáng sớm ngày 5-5-1970, Cảnh sát Dã chiến tràn vào Toà Đại sứ Cao Miên bắt giữ hơn 70 sinh viên, chấm dứt cuộc tạo loạn, vãn hồi trật tự và cuộc sống bình yên cho đô thành Saigon. Trận đàn áp không nương tay bắt buộc phải xảy đến và có hiệu quả ngay lập tức, không còn cách nào khác.
[ * Chú thích:
Con số tổn thất của quân Cộng sản Bắc Việt và VC tại chỗ ở miền Nam:
Trận Tết Mậu Thân 1968:
Theo Đại tá Hoàng Ngọc Lung, Trưởng Phòng 2 (Tình báo) Bộ TTM/VNCH, đưa ra con số do QLVNCH ước tính là: “Vào cuối năm 1967, tổng quân số của địch ở Nam Việt Nam đạt khoảng 323.000… Trong đó quân tác chiến là 130.000; cán bộ chính trị và du kích quân với các loại khác là 160.000”. Còn lại là cán bộ hậu cần hoặc dân công khuân vác chiến trường. [ Hoang Ngoc Lung, The General Offensive of 1968–1969 (Washington, D.C.: Center for Military History, 1981), p. 56, 57.
Còn MACV thì khác, liệt kê quân số của địch là 115.000 quân tác chiến tung vô cuộc tấn công, một con số mà CIA cực lực bác bỏ. Tính toán của CIA thì nhìn nhận một điều là “con số thực có thể còn vượt quá con số 160.000 hiện thời” [ Draft Working Paper, “The Probable Strength of the VC Main and Local and North Vietnamese Army Forces in South Vietnam,” CIA, Jan. 31, 1968 ]
Quân số của địch mà quân VNCH và đồng minh ước lượng có nhiều sự vênh nhau. Theo tài liệu chính thức của quân đội Bắc Việt History of the People’s Army thì đầu năm 1968, ở miền Nam họ có 278.000 quân chủ lực và quân địa phương (tại chỗ). Một tài liệu chính thức khác của Bắc quân cũng khớp con số đó. Trong một báo cáo nội bộ, họ phân loại gồm: “220.000 quân chủ lực và 57.000 quân tại chỗ (không kể dân quân, du kích hoặc tự vệ.)” [ Lich Su Khang Chien tập V, trang 48 ]. Vậy thì tách bạch con số xung trận hay gộp cả hậu cần vào cũng đâu có gì rạch ròi dứt khoát, mà đấy là con số tính chung cho toàn cuộc tấn công. Theo Cơ quan Tình báo Hoa Kỳ ước tính thì có 85.000 quân địch tham gia vào các cuộc tấn công, nhưng đó chỉ thuần là đoán chừng vì không có định nghĩa cụ thể nào xác định cho đúng loại mà kiểm đếm.
Những tuyên bố của VNCH và đồng minh về tổn thất của địch trong cuộc tấn công cũng có sai biệt. Đại tá Lung khẳng định rằng số chết của Cộng quân là 87.534, số ra đầu hàng và hồi chánh với VNCH vào năm 1968 là 27.178 nhưng ông không tự tin kê ra con số địch chết trong các trận đánh đầu năm - Tết Mậu Thân là bao nhiêu. Các Tư lệnh Mỹ thì viện ra con số khoảng 40.000 địch quân bị hạ trong cuộc tổng công kích, là lý do chính khiến MACV tuyên bố VNCH và đồng minh đã có một chiến thắng lớn như vậy.
Tuy nhiên, theo một tài liệu nội bộ của Cục Tác chiến Bắc quân nói rằng “tổn thất của ta trong đợt đầu tiên [từ ngày 30-1 đến ngày 30-4] là 12.818 chết và 22.316 bị thương.” [ Bien nien su kien: Bo tong tham muu trong khang chien chong My, cuu nuoc, tap V (1968) xuất bản 2005, Hà Nội ]. Tài liệu thứ hai, của Bộ Quốc phòng Bắc Việt, đề ngày 14-2-1969, liệt kê tổng số thương vong và mất tích trong năm 1968 là 113.295, chưa kể 10.899 trường hợp đào ngũ [ Cộng sản né không nói là số này về chiêu hồi với chính quyền quốc gia ]. Trong số đó, chết 44.824 và bị thương 61.267. Theo thống kê này, số thương vong là 34%, tức xấp xỉ số 15.240 chết và 20.831 bị thương trong chiến trận mấy ngày Tết. Hai tài liệu của họ cũng không khớp nhau mà họ cứ trân tráo để nguyên như thế, có điều nó cho chúng ta thấy tổng số thương vong kê ra nơi hai tài liệu vừa kể là gần bằng như nhau.
Tóm lại, cứ cho là các thủ tục kiểm đếm của Bắc quân là hữu lý đúng đi, thì Bắc Việt đã phải hứng chịu hơn 35.000 thương vong trong 3 tháng binh lửa đó. Cho dẫu con số thực tế có thể còn gấp đôi hoặc hơn, đó vẫn là một con số ghê rợn!
Trận Xuân Kỷ Dậu 1969:
Cứ xem những con số tổn thất của cộng sản do chính Bộ chỉ huy đầu não Bắc quân tự nhìn nhận, thật tình người ta phải phát khiếp:
trong sáu tháng đầu năm 1969, lực lượng ta chịu thương vong tổng cộng 48.365 người trên toàn miền Nam. Con số này gồm 19.385 chết, 25.408 bị thương, 522 bị bắt, 2.915 mất tích và 135 hồi chánh. Chiến trường chịu thương vong cao nhất là [Mặt trận B2] với tổng số là 25.934 người. Ta phải gánh chịu 19.400 thương vong trong đợt đánh mùa Xuân (từ ngày 22-2 đến ngày 31-3-1969), chiếm tới 40% tổng số thương vong; 19.030 thương vong trong đợt đánh mùa Hè (từ ngày 11-5 đến ngày 20-6-1969), chiếm 39% tổng số thương vong; và trong các đợt đánh thường xuyên, liên tục của ta, có tới 9.935 thương vong chiếm 21% tổng số thương vong.
#Tien Tuyen May 12, 1970 trang nhất Hành Quân Ngoại Biên 1970 Map #Tien Tuyen May 8. 1970 trang nhất Nhận Định — Thu Ngắn Chiến Tranh #Tien Tuyen May 8. 1970 trang nhất
Nhận Định —
Thu Ngắn Chiến Tranh
NHỮNG hình ảnh của "Thời sự Quân đội" chiếu trên màn ảnh Vô tuyến Truyền hình mấy ngày qua đã cho thấy kết quả thực tiễn của các cuộc hành quân do QLVN Cộng Hòa và Hoa Kỳ chủ động tại vùng Mỏ Vẹt và Lưỡi Câu bên kia biên giới Cambốt.
Hàng ngàn tấn võ khí, đạn dược, thực phẩm, thuốc men bị tịch thu đã nói lên sự quan trọng của các căn cứ Cộng sản trên đất Miên. Đánh thẳng vào các căn cứ đó để hủy diệt là rút ngắn chiến tranh là tiết kiệm xương máu cho đồng bào và chiến sĩ ta, vì nếu ta không ra tay kịp thời thì cái gọi là "Chiến dịch X" của Cộng sản có lẽ đã gây nhiều đau thương tang tóc và phá hoại tại VN trong những ngày qua, bởi những kho súng đạn và thực phẩm nói trên sẽ giúp cho Cộng sản có đủ phương tiện thực hiện các mưu định ngông cuồng của chúng.
Nhờ những cuộc hành quân của QLVNCH và Hoa Kỳ tại vùng mà Cộng sản lập mật khu và bản doanh "Trung ương Cục Miền Nam" của chúng, nên Cộng quân phải rút sâu vào nội địa Cambốt và không thể mở những cuộc tấn công ở VN như chúng đã dự định.
Nếu Bộ binh và Không lực ta cùng đồng minh san bằng tất cả các căn cứ địch trên đất Cambốt thì phải một thời gian khá lâu Cộng quân mới tái thiết được. Nhưng điều này có lẽ khó thực hiện, bởi nếu Chính phủ Cambốt hoan hỉ chấp nhận các cuộc hành quân đang diễn ra hiện nay trên lãnh thổ Khmer thì Chính phủ này cũng sẽ không ngần ngại thỏa thuận để Không quân Đồng Minh dội bom các căn cứ Cộng quân nếu sau này chúng tái lập trên đất Cambốt.
Mặt khác, nguồn tin mới nhất cho biết Quân Đoàn II đã tung 1 Sư đoàn sang Cambốt cắt ngang đoạn cuối của đường mòn Hồ Chí Minh. Như vậy các cuộc hành quân tại Cambốt và các cuộc oanh tạc những căn cứ tập trung của địch ở Quảng Bình, Nghệ An đã có một mục đích rõ rệt: tiêu diệt tất cả mọi phương tiện và năng lực gây chiến của Cộng sản để chặn đứng mọi mưu toan tấn công của địch ở VN, và buộc Cộng sản phải đi đến chỗ thương thuyết nghiêm chỉnh.
Muốn phòng thủ hữu hiệu thì phải tấn công. Chờ địch đánh mới chống cự thì người phải chết, nhà phải tan. Chi bằng tìm đến tận sào huyệt của địch mà đánh tức là một cách chấm dứt chiến tranh từ trong trứng. Đó là một hành động hòa bình thực tiễn chứ không phải mở rộng chiến tranh như Cộng sản đã già mồm hộ hoán, trong khi chính chúng đã mở ra trận Chiến tranh ở VN, ở Lào, rồi ở Cambốt.
TIỀN TUYẾN
Tien Tuyen May 12, 1970 trang nhất
Nhận Định —
Chuyện Không Ngờ
CHỈ tại một căn cứ tiếp liệu của Cộng sản trong vùng Lưỡi Câu, Quân Lực VN và Hoa Kỳ đã tịch thu trên 7.500 vũ khí từ súng lục đến đại liên phòng không. Đây là số vũ khí bị tịch thu được coi là lớn nhất chưa từng thấy trong cuộc chiến tranh tại Đông Dương từ trước đến nay.
Số vũ khí lớn lao bị tịch thu nói trên cộng với hàng tấn vũ khí, đạn dược khác đã bị tịch thu từ khi có cuộc hành quân đánh thẳng vào những sào huyệt của địch tại Cambốt, đã chứng minh lý do chính đáng của các cuộc hành quân này.
Những tài liệu bắt được của Cộng sản cho thấy địch không ngờ có những trận tấn công đại qui mô như vậy vào các mật khu của chúng. Cộng sản chỉ ước lượng những cuộc tấn công nhỏ, có tính cách ngắn ngủi và phá hủy qua loa. Nhưng lần này thì Cộng sản đã hoàn toàn sửng sốt. Một số lớn căn cứ quan trọng của chúng đã bị khám phá và sẽ còn nhiều căn cứ khác bị khám phá. Nếu biết rằng Cộng sản phải mất hết biết bao công phu và xương máu mới đưa được các số vũ khí lớn lao đó vào những mật khu ở bên kia biên giới Việt Miên và sẽ dự tính bao nhiêu chuyện “ác ôn côn đồ” trong trận chiến tại VN vào những ngày tháng tới thì mới thấy các cuộc hành quân trên lãnh thổ Cambốt đã có một giá trị quý báu không có gì sánh được.
Vì ý thức được như vậy nên các chiến sĩ VN như diều gặp gió, càng thêm hăng say phấn khởi, vì chưa bao giờ họ được đánh những trận lớn mà chiến quả lại vĩ đại như thế. Một căn cứ của địch bị phát giác, bị phá hủy, súng đạn của địch bị tịch thu là như chặt lần từng cánh tay, từng cái chân của Cộng quân ở VN. Không còn kho tiếp liệu chính ở Cambốt, Cộng quân ở VN như con người không có trái tim để cung cấp máu cho các huyết quản trong cơ thể, cho nên đã thiếu thốn và đói kém nay Cộng quân chỉ còn nước chờ chết.
Người ta phải tưởng tượng là Cộng quân ở miền Nam hốt hoảng và tinh thần sa sút đến bực nào. Có thể nói là cán binh Cộng sản ở miền Nam còn xuống tinh thần gấp mấy lần khi họ nghe Hồ chí Minh chết. Mất “bác Hồ” chỉ là mất một phần tin tưởng, còn mất cái kho tiếp liệu ở Cambốt là coi như bó tay chịu chết.
Tuy nhiên, những viên chỉ huy Cộng sản không để cho cán binh của chúng có thì giờ hốt hoảng trước viễn ảnh làm “người Bô-hê-miên lang thang”. Vì vậy Cộng quân ở VNCH đã tăng gia pháo kích và đột kích tại một vài nơi. Pháo kích để lấy máu dân chúng mà rửa hận thảm bại, còn đột kích thì là một cách tự tử phù hợp nhất, vì vừa gây được chút tiếng vang vừa giải quyết được nạn “thiếu tiếp tế”.
TIỀN TUYẾN
#Tien Tuyen May 8, 1970 phụ trang (trang 10)
Hành Quân Phá Sào Huyệt Địch Trên Lãnh Thổ Cam Bốt $pageOut $pageIn Phân đoạn 11
Máu Đổ Cửa Thiền (tiếp theo 2)
#Chinh Luan May 7, 1970 trang ba
NHẬN ĐỊNH RẰNG Cộng sản ĐÃ LỢI DỤNG CÁC XÁO TRỘN ĐANG TÌM CÁCH XÂM NHẬP ĐÔ THÀNH
CHÍNH PHỦ ÁP DỤNG HAI BIỆN PHÁP MẠNH: tăng giờ giới nghiêm, đóng cửa các trường học
★ Thủ Tướng giải thích với phái đoàn Thượng Viện về 3 vụ: Sinh Viên, Ấn Quang – Việt Nam Quốc Tự, người Việt gốc Miên và cho biết ở trường Hồ Ngọc Cẩn, học sinh đã đào hố cá nhân trong trường.
⚫ CHÍNH PHỦ «ĐỨNG HẲN RA NGOÀI» VỤ PHẬT GIÁO
SAIGON 6-5. — Tòa Tổng Trấn Saigon – Gia Định cho hay: Lợi dụng các cuộc xáo trộn tại Đô thành, Cộng sản đang tìm cách xâm nhập để phá hoại và tạo tình trạng bất an tại Đô thành. Với tư cách trách nhiệm bảo vệ sinh mạng và tài sản đồng bào, Tổng Trấn Saigon – Gia Định tạm thời ấn định lại giờ giới nghiêm kể từ thứ Tư ngày 6-5 như sau:
Tại Đô Thành
1. Từ 23g đến 05g30 sáng (thay vì từ 1g đến 5g30 sáng).
— Tại các quận 1, 2, 3, 4, 5 và 10.
— Một phần quận 6 giới hạn bởi đường Lục Tỉnh, công trường Duy Linh, đường Minh Phụng, đường Bình Tiên và bến Lê Quang Liêm.
— Một phần quận 11 giới hạn bởi công trường Duy Linh, đại lộ Trần Quốc Toản, đường Dương Công Trừng chạy thẳng đến giáp ranh Đô Thành.
2. Từ 22g đến 5g30 sáng (thay vì từ 23g đến 5g30):
—Tại các quận 7, 8, 9 cùng phần còn lại của các quận 6 và 11.
Tại Gia Định
1. Từ 23g đến 5g30: Khu vực thị xã Gia Định bao gồm quận lỵ Gò Vấp, xã Phú Nhuận và Thị Nghè.
2. Từ 22g đến 5g30: Xa lộ Biên Hòa từ cầu Xa lộ đến giáp ranh tỉnh Gia Định – Biên Hòa cùng khu vực Đông Ông Cộ, Cầu Sơn.
Đóng cửa các trường học
Hội Đồng Nội Các trong phiên họp sáng ngày 5-5 đã quyết định đóng cửa tất cả các trường Đại Học, Trung Học, Tiểu Học Công lập và Tư thục các ngành Phổ Thông, Kỹ Thuật và Chuyên nghiệp trong vùng Saigon – Gia Định kể từ ngày 6-5 cho đến khi có lệnh mới.
Dịp này, Bộ Giáo Dục cũng yêu cầu các phụ huynh Sinh Viên, phụ huynh học sinh trong thời gian các trường nghỉ học hãy khuyên nhủ con em nên tránh những nơi tụ tập đông người cùng mọi hành động có thể gây xáo trộn trật tự công cộng.
— Tin VTX cho hay, Hội Đồng Nội Các thu hẹp ngoài việc quyết định tăng giờ giới nghiêm, đóng cửa các trước ốc, còn quyết định một biện pháp khác là tăng cường hệ thống an ninh trên toàn lãnh thổ Biệt Khu Thủ Đô.
Thủ Tướng giải thích
Trong cuộc tiếp xúc sáng nay với báo Chính Luận, Nghị Sĩ Bùi Văn Giải, Chủ Tịch Ủy Ban Nội Vụ Thượng Viện đã cho hay là vào lúc 15g30 chiều qua, Thủ Tướng Khiêm đã tiếp 1 Phái Đoàn Nghị sĩ gồm 5 vị do ông hướng dẫn để trình bày về 3 vấn đề: vụ tranh đấu của SV, vụ VNQT và Ấn Quang và vụ người Việt gốc Miên. Tham dự buổi tiếp xúc này, ngoài Thủ tướng còn có ông Phó Thủ tướng Nguyễn Lưu Viên, ông Quốc Vụ Khanh Nguyễn Tiến Hỷ, ông Bộ trưởng Liên lạc Quốc Hội, ông Thứ trưởng Bộ Nội Vụ …
Trong cuộc tiếp xúc này, ông Phó Thủ tướng cho biết là cuộc tranh đấu của Sinh viên hiện nay không những xuất hiện tại Saigon mà còn bùng nổ tại các thành phố khác nữa. Cuộc tranh đấu đã chuyển sang giai đoạn nguy hiểm cho an ninh quốc gia vì nó không còn do các ban đại diện các trường điều khiển mà do những bàn tay lạ nhúng vào. Cuộc tranh đấu đã lan tới học sinh các trường Trung học và họ chủ trương chiếm giữ các trường. Điển hình là trường Hồ Ngọc Cẩn Gia Định đã bị chiếm giữ và các em đã đào hố cá nhân ngay trong trường rồi giăng nhiều biểu ngữ từ ngoài đem vào. Vì vậy Chính phủ phải có biện pháp. Thứ nhất là cho các học sinh các trường nghỉ học. Thứ hai là đột nhập vào tòa Đại sứ Miên bắt hết các Sinh Viên. Số Sinh Viên bị bắt gồm 74 người trong đó chỉ có 13 Sinh Viên, số còn lại là 51 HS phần đông dưới 15 tuổi, 1 nữ tu sĩ và 7 người không có giấy tờ.
Hiện nay chưa có phản ứng gì sau vụ bắt này nhưng Chính phủ vẫn nhận thấy tình thế chưa có thể gọi là tạm yên.
Ngoài ra theo Thủ tướng thì ông đã chỉ thị cho Bộ Nội Vụ dành mọi sự dễ dàng trong việc lập thủ tục hợp thức hóa Tổng hội Sinh viên. Các SV đã được mời tới Bộ để lập thủ tục và chính phủ đã định dành một biệt thự hơn 2000 thước vuông tọa lạc tại số 207 đường Hồng Bàng để anh em Sinh viên làm trụ sở nhưng tiếc thay Hội Quả Phụ Tử Sĩ đã nhanh chân chiếm mất rồi.
Về vụ tranh chấp giữa VNQT và Ấn Quang. Thủ Tướng cho biết đây là một vấn đề phức tạp gây thêm nhiều khó khăn cho đất nước trong tình trạng hiện tại nhưng vì vấn đề thuộc phạm vi nội bộ của Phật Giáo nên chính quyền đứng hẳn ra ngoài. Thủ Tướng cũng quả quyết là trong vụ chiếm lại VNQT không có việc quân đội tham gia. Nếu có báo nào đã đăng tin như thế thì xin hãy cải chính lại. Quân đội có can thiệp chăng cũng chỉ là vấn đề giữ gìn an ninh công cộng mà thôi.
Về vụ người Việt gốc Miên, theo thông cáo của UB tranh đấu do Thượng tọa Kim Sang ký thì là vì trong giai đoạn hiện tại có nhiều biến chuyển quan trọng nên để tránh mọi sự lợi dụng của Cộng Sản, các UB Tranh đấu 14 tỉnh hãy bình tĩnh chờ lệnh mới, vì vậy nên Thủ Tướng cho rằng vấn đề này đã tạm ổn.
Các cuộc xuống đường của SV bất thành
Sáng nay Tổng Hội SV Saigon cho hay 19 SV trong số các SVHS bị bắt ở Tòa ĐS Miên đã bị giải qua Biện Lý Cuộc vì tội « phá rối trị an », trong số có SV Thắng, quyền Chủ tịch THSV Saigon. Cũng tin trên cho biết SV Thắng, Trực và Hiền mặt mày đều sưng húp. Hầu hết các học sinh bị bắt đã được trả tự do từ chiều qua do sự bảo lãnh của Phụ huynh. Riêng các SV còn lại vẫn bị giữ tại Quận 3. Đêm qua SV tổ chức Đêm không ngủ, ca hát tưng bừng trong bót.
— Sáng nay, cuộc xuống đường của Sinh Viên Kỹ Thuật Phú Thọ đã bất thành vì Cảnh Sát phong tỏa chặt chẽ. Ngay từ sáng qua các Phân Khoa Đại Học cũng đều phong tỏa như vậy. Ở Đại Học Kiến Trúc, Ban Đại Diện SV đã ra kháng thư phản đối Chính Quyền đã cho hàng trăm CSDC (Cảnh Sát Dã Chiến) đến trèo vào trường bất chấp sự phản đối của Giáo Sư Khoa Trưởng. Ban Đại Diện kêu gọi toàn thể SV Kiến Trúc ngày 9-5 này tới trường để tích cực đòi Cảnh Sát phải rút khỏi trường.
— Đại Hội Học sinh dự định tổ chức vào sáng nay ở Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp cũng bất thành vì Cảnh Sát phong tỏa rất kỹ. Khoảng 200 HS tụ tập ở bên hông sân vận động Hoa Lư và Bộ Xã Hội đã bị Cảnh Sát giải tán, không có gì đáng tiếc xảy ra.
#Tien Tuyen May 7, 1970 trang nhất
Một Sĩ quan thuộc Nha Tuyên úy Phật giáo cho biết:
2 Thượng Tọa Tâm Châu và Tâm Giác không có mặt khi tái chiếm V.N.Q.T.
◙ Hòa Thượng Minh Thành đã trốn khỏi chùa Ấn Quang
▣ Sáng 6-5, khu Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp bị phong tỏa nên kẹt xe kinh khủng suốt mấy tiếng đồng hồ.
❁ NHẤT GIANG
SAIGON 6-5 (NG) — Đại úy Nguyễn Thụy Hòa, Phụ tá Khối Giáo vụ thuộc Nha Tuyên úy Phật Giáo sáng 6-5 đã tiếp một ký giả trong nước đến phỏng vấn Thượng Tọa Thích Tâm Giác, Giám đốc Nha Tuyên úy Phật giáo về việc có nguồn tin Thượng tọa Thích Tâm Giác đã chỉ huy việc tái chiếm VN Quốc Tự trong đêm 5-5-70.
Đại úy Hòa cho biết đêm đó Thượng tọa Thích Tâm Giác đã ngủ lại ở dưới Trường Nhu Đạo Quang Trung. Tuy nhiên, sau vụ khối giáo phái Ấn Quang chiếm VNQT, Thượng tọa sợ có chuyện không hay xảy ra nên trong đêm ngày 4 rạng ngày 5-5, Thượng tọa ngủ ở Nha Tuyên Úy Phật giáo và không hề đi đâu vắng mặt một phút nào. Trung sĩ I Hoàng Toại, người thư ký của Thượng tọa Thích Tâm Giác cũng xác nhận như vậy và anh nói anh rất lấy làm ngạc nhiên đến sững sờ khi nghe nói Thượng Tọa Thích Tâm Giác đã có mặt và chỉ huy việc tái chiếm VNQT. Anh nói nếu cụ đi ra ngoài thì chính anh là kẻ phải mở cửa cho cụ, và đêm hôm đó, cụ ngủ ở trong phòng Giám đốc, còn tôi luôn luôn túc trực ở ngoài.
Tiếp theo đó, Đại úy Hòa cho biết về phản ứng của Giáo hội PGVNTN thuộc VNQT về việc khối Ấn Quang chiếm ngụ bất hợp pháp VNQT. Giáo hội đã định sẽ áp dụng theo căn bản pháp lý và sẽ nhờ công lý can thiệp. Đồng thời hôm 1-5-70 chư thượng tọa bên Ấn Quang như Hòa thượng Trí Thủ, Thượng tọa Thiện Minh, Thượng tọa Đức Nhuận, Thượng tọa Mãn Giác, Thượng tọa Huyền Quang còn thọ trai chung với Thượng tọa Tâm Châu và Thượng tọa Tâm Giác tại Trường Nhu đạo Quang Trung để thông cảm về vấn đề thống nhất Giáo hội và các vị trong giáo hội đều tin tưởng rằng cuộc họp mặt thân mật này sẽ mở đầu cho những ngày tươi sáng về sau. Nhưng đau đớn thay, chữ “thành tín” đã không còn được tôn trọng. Đại úy Hòa cũng xác nhận về Thượng tọa Thích Tâm Châu đã đi Vũng Tàu cho đến 10 giờ sáng 5-5, Thượng tọa mới từ Vũng Tàu về đến Saigon.
Kể lại khúc phim Hòa thượng Minh Thành đi trốn
Sau đó, Đại úy Hòa đã kể lại khúc phim Hòa thượng Minh Thành bị phe Ấn Quang bắt về VNQT và bắt ép ký vào một tờ Thông Bạch đã đánh máy sẵn và người bắt ép là Thượng tọa Mãn Giác. Hòa thượng Minh Thành còn bị dọa nếu không ký sẽ bị đem trả về VNQT giao cho những thanh niên vừa chiếm VNQT và sẽ «không bảo đảm tính mạng». Sau đó Hòa Thượng đã bị giam cầm tại một căn phòng trong chùa Ấn Quang cho đến 5 giờ sáng, Hòa thượng xin phép đi tiểu và đã lẻn ra được khỏi chùa. Hòa thượng đi bộ về đường Trần Quốc Toản, vào Trại Phan Đình Phùng ở gần VNQT để nhờ gọi điện thoại cho Cảnh sát nhưng không thấy đến, sau đó phải nhờ gọi về Nha Tuyên Úy Phật giáo và ở đây đã cho một chiếc xe đến đón Hòa thượng.
Đến sáng ngày 4-5, Hòa thượng Minh thành với tư cách viện Trưởng viện Hóa Đạo kiêm Trụ Trì VNQT đã đến Biện Lý Cuộc trình bày sự việc với ông Phó Biện Lý Phòng 3. Buổi chiều, Nha Giám Đốc Cảnh Sát Đô Thành cũng đã lấy lời khai của Hòa thượng. Hiện Hòa thượng Minh Thành đang trú ngụ nhờ ở chùa Vĩnh Nghiêm.
Chỉ là một chuyện tranh giành ảnh hưởng
Ngoài ra, Đại úy Hòa cũng cho biết về việc chiếm đi chiếm lại VNQT có thể là do một nhóm người quá khích chủ xướng để cố ý làm tan nát nội bộ Phật giáo.
Cũng như việc nói Thượng tọa Tâm Giác chỉ huy bên phía VNQT có thể «đẩy» Thượng tọa ra khỏi chức Giám đốc Nha Tuyên úy Phật giáo vì từ lâu có một nhóm người vẫn muốn Thượng tọa Mãn Giác thay thế Thượng tọa Tâm Giác mà không được.
Đường phố Saigon ngày 6-5
Sáng ngày 6-5, các đường phố ở Saigon đều bị kẹt kinh khủng vì một số đường bị phong tỏa. Một số học sinh gồm nữ sinh Trung học Gia Long và một vài trường Tư Thục đã tụ họp ở đường Đinh Tiên Hoàng trước sân vận động Hoa Lư để toan vào Trung tâm Quốc Gia Nông Nghiệp ở đường Cường Để, nhưng sau đó đã ra về. Đường Trần Quốc Toản và xung quanh VN Quốc Tự cũng vẫn còn bị phong tỏa.
#Tien Tuyen May 7, 1970 trang ba
"GIẶC ĐẾN BỒ ĐỀ?" Tien Tuyen May 7 1970
PHƠ
by Kẹo Đồng
"GIẶC ĐẾN BỒ ĐỀ?"
SẤM của cụ Trạng Trình có câu rằng... "Giặc đến Bồ Đề thì giặc lại tan".
Phải chăng đây là điềm... hòa bình sắp xuất hiện?
Vì súng đã nổ và máu đã đổ nơi cửa thiền khi Phật giáo giành nhau ngôi Việt Nam Quốc Tự. Đánh nhau ngay trong chùa thì có khác nào "chiến tranh đến tận Bồ Đề", vì "giặc" nói trong câu sấm là "giặc giã" chứ đâu phải giặc ở ngoài?
Nếu Phật giáo VN phải... hy sinh đến như vậy để có hòa bình cho đất nước thì cũng là một điều đáng ghi khắc công đức.
Nhưng tên Kẹo Đồng chỉ là một kẻ đoán mò, vậy thì không nên tin "lời bàn Mao tôn Cương" của hắn.
Trong khi đó, các hãng thông tấn ngoại quốc đánh tê-lê-típ đi khắp thế giới, nguyên văn như sau:
SAIGON — 5/5. — Sau hơn 32 tiếng đồng hồ chiếm đóng ngôi chùa lớn nhất VN, các nhà sư VN đã bị một số các nhà sư VN khác tấn công chiếm lại. Phật tử VN trong chùa này đã bị Phật tử VN ở ngoài tràn ngập, vì họ có súng. Một số nhà trong ngôi chùa này đã bốc cháy và người ta được biết do tay những Phật tử (không biết bên nào) đốt. Theo dư luận từ VN cho biết thì các nhà sư và Phật tử VN của cả hai bên đều tôn thờ một Đức Phật, đều tụng kinh cùng một thứ tiếng, đều gõ chuông gõ mõ theo một nhịp điệu như nhau. Cho đến giờ này, chính Đức Phật cũng không hiểu vì sao mà họ lại chia rẽ, và giành nhau một ngôi chùa, vì chùa nào cũng có tượng Phật giống nhau. Hơn nữa, theo Kinh Phật dạy thì Phật lại ở trong … tâm con người chứ không phải ở mô cả. Người ta tự hỏi: Phải chăng vì nước VN chịu đựng chiến tranh quá lâu nên ai cũng bị... «ảnh hưởng chiến tranh, kể ngay cả tôn giáo?»
#Chinh Luan May 8, 1970 trang ba
Thượng tọa Tâm Giác chính thức xác nhận: Chính Phật tử tự động tái chiếm VNQT
VNQT tố cáo: Ấn Quang tàn bạo hơn Cộng sản
#Chinh Luan May 8, 1970 trang ba
Thượng tọa Tâm Giác chính thức xác nhận: Chính Phật tử tự động tái chiếm VNQT
VNQT tố cáo: Ấn Quang tàn bạo hơn Cộng sản
Ấn Quang sẽ làm lễ cầu siêu sớm hơn 2 ngày
★ Thượng tọa TÂM CHÂU TỐ ẤN QUANG ĐÃ PHỤC RƯỢU CHO VNQT SAY ĐỂ VNQT KÝ...
❖ ẤN QUANG CỐ LIÊN HỆ VỤ VNQT VỚI CÁC VỤ THẢM SÁT MỸ LAI, VIỆT KIỀU Ở MIÊN.
LÊ HOÀNG PHÚ – ĐƯỜNG THIÊN LÝ
SAIGON 7-5. — Trong lúc các Thượng tọa Tâm Châu, Tâm Giác cùng xác nhận những người đã đến tái chiếm VNQT đêm vừa rồi là «các Phật tử đã tự động tiến chiếm» thì cả 2 phía VNQT lẫn Ấn Quang đều đang ráo riết chuẩn bị các cuộc họp báo kế tiếp các cuộc họp báo trước và đều nói là «để làm sáng tỏ vấn đề». Riêng Ấn Quang sẽ tổ chức «lễ cầu siêu các nạn nhân bị thảm sát ở VNQT» vào ngay chiều 8-5 tức là sớm trước hơn đã định 2 ngày.
2 Thượng tọa Tâm Châu, Tâm Giác đã nói những gì?
Mặc áo nâu sồng, hút thưốc tây, nhai trầu và chiếc dù mang sẵn trên vai trong khi ngồi nói chuyện, đó là Đại Tá Thích Tâm Giác, Giám đốc Nha Tuyên úy Phật Giáo, người được bên Ấn Quang xem là Tổng lãnh binh trận đánh bật 600 người của Ấn Quang ra khỏi VNQT hôm 5-5.
Thượng Tọa Tâm Giác đã trả lời cuộc phỏng vấn của chúng tôi tại Miền Vĩnh Nghiêm chiều 6-5 sau khi ông hoàn toàn phủ nhận sự hiện diện của mình trong đêm tái chiếm VNQT trước một số đông tín đồ và tỏ ý than phiền dư luận đã thiên lệch quá nhiều khi gán cho ông và Thượng Tọa Tâm Châu những tội ác ghê gớm qua 2 ngày nay.
Chúng tôi hỏi: Thưa Thượng Tọa, như vậy theo thượng tọa, ai là người chỉ huy cuộc tái chiếm đó? Thượng Tọa đáp: «Do Phật tử tự động tiến chiếm».
Chúng tôi hỏi: «Thượng Tọa nghĩ sao về một số nhân chứng của Ấn Quang, quả quyết đã thấy Thượng Tọa mặc sắc phục, đeo súng mang lon chỉ huy cuộc giao chiến?»
Thượng Tọa đáp: «Tôi không dại gì làm vậy, hơn nữa tôi là một nhà tu».
Chúng tôi hỏi: «Trong đêm đánh nhau, Thượng Tọa ở đâu?» Thượng Tọa đáp: «Tôi ngủ ở Nha Tuyên úy. Chỉ có Đại úy Đức là sĩ quan trực, Hạ sĩ Thành, vì nghe tin VNQT bị đốt cháy hết, nên lái xe lên xem và xe đó đã bị Cảnh Sát giữ».
Chúng tôi hỏi: «Trong trường hợp Ấn Quang trở lại VNQT lần thứ hai...?» Thượng Tọa đáp: «Tôi vẫn mong các Ngài ấy trở về để được đón rước trong nghi lễ hòa hợp. Tôi không mong có bạo lực, vì bất cứ hình thức bạo lực nào cũng không phải là nhiệm mầu của đạo pháp».
Trong khi cuộc nói chuyện đang diễn ra, thì có 2 bà tín đồ vào, bò sát đất lễ bái Thượng tọa và nói rằng: «Xin Thầy phải nói hết, nói sao cho mọi người biết, chứ cứ để dọc báo thấy nói Thượng tọa thế này, thế kia, chúng con buồn lắm...».
Chúng tôi cáo từ bước ra tìm Thượng Tọa Tâm Châu, Thượng Tọa Tâm Châu ngồi xuống cạnh tôi. Bây giờ tôi mới có dịp quan sát gần, Thượng tọa mặc áo vàng để hở một khoảng vai bên phải thật lớn, da trắng hồng, Thượng tọa cười tươi, đôi mắt dưới làn kính trắng có vẻ lạc quan và tự tin. Câu thứ nhất Thượng tọa nói ý như Thượng tọa Tâm Giác, nghĩa là do Phật tử tự động.
Câu thứ hai, chúng tôi hỏi khác đi rằng: «Ấn Quang đòi đi kiện quý Thầy về tội giết người, đốt chùa cướp của, Thầy nghĩ sao?» Thượng tọa Tâm Châu hỏi lại: «Thế còn cái tội chiếm gia cư và bắt người trái phép hôm trước của họ ai kiện?»
Chúng tôi hỏi, trường hợp đệ tử của Thầy là Giác Nguyên hôm qua đã lên án Thầy ở Ấn Quang? Thượng tọa Tâm Châu cố nhớ giây lâu rồi nhắc đi nhắc lại cái “tên tục” của nhân chứng Giác Nguyên – mà chúng tôi không tiện viết ra đây – rồi nói: «Có, đó là một người đi lang thang được tôi nhận nuôi một lúc ở chùa Từ Quang, nhưng đã đuổi đi từ lâu vì hay ưa tranh đấu bậy bạ».
Về câu hỏi Ấn Quang vẫn giữ lập trường trở lại VNQT thì sao? Thượng tọa cười đáp vỏn vẹn 1 tiếng «tùy» với một ý nghĩa đặc biệt.
Chúng tôi hỏi, do căn bản nào mà 2 bên không đồng ý 1 bản Hiến Chương?. Thượng tọa đáp «chúng tôi quan niệm tổ chức thì thống nhất, nhưng chủ quyền mỗi giáo phái phải có, như vậy mới tránh được độc tài».
Sau hết, Thượng Tọa Tâm Châu nói, sau đêm đổ máu, ông vẫn còn hy vọng có cơ duyên thống nhất Phật Giáo.
Một xe hơi bóng loáng có người mở cửa sẵn chờ bên thềm, thấy thế, tôi nghiêng mình cáo biệt.
«Ông già chịu chơi»
Trước đó, như tin chúng tôi đã loan, theo 1 thông báo của bên Quốc Tự một lễ cầu an, nói chuyện dự định tổ chức tại VNQT nhưng vào giờ chót lại thay đổi về Miền Vĩnh Nghiêm.
Thượng Tọa Thích Minh Thành, Viện trưởng Viện Hóa Đạo Quốc Tự, sau khi trốn thoát khỏi Ấn Quang trở về, đã kể lại sự kiện ông bị bắt, bị ép ký tên và sám hối. Khác với tiếng nói văn vẻ của hai Thượng Tọa Tâm Châu, Tâm Giác, bằng giọng nói chơn chất đơn giản của người miền Nam, Thượng Tọa Minh Thành nói rằng, ông đã từng bị Cộng sản bắt, nhưng «Cộng sản đã không ngược đãi tàn tệ bằng mấy ngày bị Ấn Quang bắt».
Thượng Tọa Minh Thành cho biết, khi Ấn Quang vào Quốc Tự, ông đã bị ép buộc ký vào tờ giao lại chùa, kèm theo tiếng hăm dọa: «Nếu không ký, sẽ bị đánh». Vì vậy, từ nay, Thượng Tọa không còn muốn nhắc đến 2 tiếng Ấn Quang nữa, dù vẫn hoạt động cho Phật giáo được thống nhất. Đến đây, đằng sau có tiếng một người nói lớn: «Ông già chịu chơi thật».
Thượng Tọa Minh Thành năm nay 70 tuổi.
Phục rượu cho say để ký
Trước tín đồ, Thượng tọa Tâm Châu tiết lộ những bí mật trong buổi hội đàm sơ bộ ở Võ đường Nhu Đạo hôm 1-5. Theo đó thì bên kia có 6, bên này có 2, do Thượng Tọa Tâm Giác mời ăn cơm chay. Cơm nước xong đem vấn đề Hiến Chương ra bàn.
Theo Thượng tọa Tâm Châu thì bên kia đã đánh 3 đòn quyết liệt, đòn thứ nhất là Đại đức Giác Đức giả khóc hu hu một cách mùi mẫn, đòn thứ hai cũng Đại đức Giác Đức hăm dọa: «Nếu các Thầy không thống nhất thì tôi sẽ làm mạnh».
Đỡ đòn, Thượng Tọa Tâm Châu nhắc lại, nguyên văn: «Chú đừng có đe dọa, một mình tôi, cũng không sợ. Nếu cần, chứ cứ đứng ra lập lực lượng thứ ba mà hành động, loại chúng tôi ra. Tôi chỉ muốn đi lang thang trên khắp thế giới cho khoái để làm thơ, tôi bất cần...».
Đòn quyết liệt sau cùng là sau khi phục rượu cho say, Đại đức Giác Đức đã đưa ra dự thảo đánh máy 1 bản tuyên cáo để mời bên Quốc Tự ký. Tuyên cáo gồm 3 điểm: Thứ nhất, hai bên Quốc Tự và Ấn Quang đồng ý bỏ Hiến chương 2 và 3. Thứ hai, tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh của Đức Tăng Thống Tịnh Khiết, và thứ ba, Hòa Thượng Tăng Thống Tịnh Khiết sẽ ra giáo chỉ cho Ủy ban Thường vụ lo sắp xếp việc thống nhất.
Thượng Tọa Tâm Châu nói rằng, đây là chuyện trẻ con muốn khôn người lớn, họ tưởng phục rượu cho chúng tôi say ngà là đưa gì cũng ký, nhưng chúng tôi đã không dại.
Thượng Tọa Tâm Châu nói, tôi không ngờ mới bữa tối ngày 1-5 còn ngồi ăn nói với nhau thì cách hai ngày sau họ tráo trở điều này khiến cho tôi liên tưởng đến Tết Mậu Thân, VC tuyên bố hưu chiến để đánh úp miền Nam.
Có tiếng vỗ tay, ban tổ chức đã phải thường xuyên kêu gọi: Phật tử bình tĩnh!
Trong việc tiến chiếm này, Thượng Tọa Tâm Châu nêu đích danh Dân biểu Dương Văn Thụy và quy trách nhiệm cho Quốc Hội về những tội chiếm nhà, bắt người trái phép do Dân biểu này gây ra.
Dạy võ nhưng hiền
Trong 1 Thông Bạch gửi quân nhân Phật tử các cấp, Đại Tá Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo xác nhận ý thức đại hùng, đại lực nhưng đại từ bi để phủ nhận những tin đồn ác ý về ông.
Trước Phật từ miền Vĩnh Nghiêm, Thượng Tọa Tâm Giác nói rằng tuy ông dạy võ nhưng ông hiền khô, và Nha Tuyên Úy không phải là cái Nha đi đánh nhau, thế mà người ta vu cho rằng, Đại Tá đã bảo «tách! tách», để tấn công VNQT.
Thượng Tọa nói, sở dĩ người ta dễ đồn đãi như vậy là vì trong tay ông có quân và có đến 2000 Võ Sĩ Sĩ đạo. Ông kết luận: nếu cứ tiếp tục giả dối với nhau như thế thì làm sao mà có được hòa bình?
Buổi nói chuyện đã kết thúc bằng một bài kinh cầu.
Cả 2 phe đều nhộn nhịp chuẩn bị
SAIGON 7-5. — Hôm nay, Đoàn Thanh Niên Phật Giáo Ấn Quang đã công bố tuyên cáo cho biết:
Đoàn TNPT đã nhận lệnh của Hội đồng VHĐ tiếp thu VNQT, nhưng đêm 4 rạng 5-5-70 Chánh quyền đã hỗ trợ cho một nhóm người quân nhân, nhà tu với đầy đủ súng ống tàn sát Phật tử tại VNQT trong đó có 2 đoàn sinh Phật tử bị thương, Đoàn Trưởng Hoàng Châu bị bắt và đánh đập tàn nhẫn, yêu cầu:
1. Chánh quyền chịu trách nhiệm trao trả anh Hoàng Châu lại cho gia đình Phật tử.
2. Cực lực lên án tập đoàn «giáo gian».
3. Phải trả 2 xác chết Nguyễn hòa Bình và Tâm Biên lại cho gia đình Phật tử.
Ngoài ra Tổng Đoàn Phật Tử Thiện Chí cùng với học sinh Phật Tử Vụ Ấn Quang hôm nay cũng ra một văn thư cho biết sẽ tổ chức tại Chùa Ấn Quang, lúc 8g30 ngày 8-5-1970 buổi «lễ Cầu Siêu và Cầu An cho các thanh niên, Sinh viên và học sinh nạn nhân trong vụ thảm sát tại VNQT vừa qua».
Như vậy, lễ cầu siêu này được tổ chức sớm hơn dự định hai ngày so với như đã được loan báo trước đây.
Quang cảnh Chùa Ấn Quang sáng nay có vẻ nhộn nhịp. Kẻ ra, người vào. Một số thanh niên, thiếu nữ bị thương nằm la liệt. Ngoài sân, một số hình ảnh trong vụ thảm sát Mỹ Lai Quảng Ngãi cũng như Việt kiều tại Cam Bốt được gắn trên bảng cùng với hàng chữ đỏ: «Xin liên tưởng hình ảnh vụ thảm sát này qua hình ảnh cuồng sát tại VNQT ngày 5-5-70».
Chiều nay, 7-5, lúc 18 giờ, các hội đoàn Phật Tử Ấn Quang sẽ họp khẩn để thảo luận về các vấn đề thời sự.
— Trong khi đó thì chùa Từ Quang (của Thượng tọa Tâm Châu trên đường Phan Thanh Giản Saigon) cũng hết sức rộn rịp lo tổ chức họp báo và ấn loát các bản thông bạch. Cuộc họp báo này dự định tổ chức tại VNQT vào 10 giờ sáng thứ Sáu 8-5 để làm sáng tỏ mọi khía cạnh trong biến cố Phật giáo vừa qua cũng như loan báo lập trường của Việt Nam Quốc Tự.
Tuy nhiên, địa điểm dự định trên đây chưa hoàn toàn chắc chắn, vì hôm nay, khu vực VNQT vẫn bị phong tỏa, và đến ngày mai, liệu điều kiện an ninh có đủ để cho phép giải tỏa khu vực này hay không?
Luật sư Liễng lại lên án Chính Quyền
Lực Lượng Quốc Gia Tiến Bộ (LLQGTB) của Luật sư Trần Ngọc Liễng lại vừa ra tuyên cáo tố cáo chính quyền đang âm mưu đàn áp gây chia rẽ nội bộ tôn giáo qua vụ thảm sát VNQT. Nhân dịp này, LLQGTB còn lên án Chính Quyền về đủ mọi vụ khác như: bắt bớ giam cầm tra tấn SV, đàn áp TPB, làm ngơ trước vụ Việt kiều Cam Bốt bị tàn sát, còn cung cấp võ khí và nhân lực để củng cố chế độ Cam Bốt, và sau rốt lên án chính quyền đang che dấu sự bất lực của mình trên mọi lãnh vực đối nội đối ngoại bằng cách mở rộng chiến tranh, phối hợp với Hoa Kỳ hành quân qua Cam Bốt và tái oanh tạc miền Bắc.
#Chinh Luan May 8, 1970 trang ba
Trong khi Ấn Quang loan báo có đến 10 người chết, 100 bị thương, Tòa Đô Chánh ra thông cáo cho hay:
Chẳng có người nào chết
chỉ có 30 người bị thương
SAIGON 7-5 (VTX). — Tòa Đô Chánh hôm qua đã ra một thông cáo nói về vụ xô xát VNQT xảy ra trong đêm 4 rạng 5-5 vừa qua. Theo Tòa Đô Chánh, chưa có người nào được ghi nhận tử thương trong vụ này mà chỉ có 20 người bị thương hiện đang được điều trị tại bệnh viện.
Dưới đây là nguyên văn thông cáo của Tòa Đô Chánh:
1) Ngày 3-5-1970, lúc 19g05, một nhóm trên 200 người thuộc Phật Giáo Ấn Quang đã bất thần kéo đến chiếm Việt Nam Quốc Tự và bắt giữ Thượng Tọa Thích Minh Thành (Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Việt Nam Quốc Tự).+ + + +
2) Đêm 4 rạng 5-5-70, hồi 3g30, khoảng 40 người đã bất thần từ xóm nhà đối diện tràn qua đột nhập VNQT. Sau đó, vài loạt súng nổ bên trong VNQT được ghi nhận. Ngoài ra, vài căn nhà trong VNQT phát cháy và đã được xe cứu hỏa dập tắt ngay sau đó.
Đến 4g25, nhóm người đột nhập Việt Nam Quốc Tự dẫn ra ngoài một số người khác. Tất cả số người trên gồm 4 tu sĩ, 15 dân sự và 3 người mặc quân phục với 2 khẩu súng carbine và 1 súng lục, đều được giữ lại để giao cho cơ quan Tư Pháp.
Hồi 6g00, ông Biện Lý Tòa Saigon đã đến nơi để làm biên bản bảo theo thủ tục pháp định.
Cuộc điều tra chi tiết đang được tiến hành.
3) Tính đến hôm nay, Tòa Đô Chánh chưa ghi nhận có người nào tử thương. Chỉ có 30 người bị thương hiện đang được điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy và bệnh viện Bình Dân.
SỔ TAY
SỨC MẤY ghi chép
ĐIỂM BÁO
Vụ Việt Nam Quốc Tự bị thất thủ, rồi lại tái chiếm, là một biến cố quan trọng nhất của Phật Giáo từ 1963 đến nay. Hai ngày liền, tất cả các báo ở Thủ Đô đều chạy tin lớn về biến cố này. Tất nhiên, mỗi báo, tùy theo cái nhìn của mình, đã đặt tựa khác nhau.
Từ ngày người dân phải đóng thuế kiệm ước phi pháp, cái gì cũng đắt đỏ, mỗi gia đình, mỗi ngày thường chỉ mua một tờ báo, có gia đình chỉ đi mướn mà đọc chứ không mua. Để bạn đọc có dịp nhìn qua một lượt tất cả các báo đối với biến cố kể trên, sau đây Sức Mấy xin làm một cuộc điểm báo, ghi lại tất cả tựa lớn của các báo về vụ VNQT trong 2 ngày 5 và 6-5-70.
1. — Ngày 5-5, tức là VNQT bị chiếm, các báo chạy tựa như sau:
— Ấn Quang đã «tiếp thu» VN Quốc Tự (Tiếng Vang 8 cột).
— Đại Quân Ấn Quang đã chiếm gọn VNQT (Thủ Đô 8 cột).
— Hòa Thượng Thích Minh Thành trao trả VNQT cho Ấn Quang (Tin Điển 2 cột).
— Ấn Quang tiến chiếm VNQT bắt cóc Hòa Thượng Viện Trưởng (Tiền Tuyến 4 cột).
— Tối 3-5: Phật Tử, Tăng Ni, Đại Đức Ấn Quang xuống đường kéo đến chiếm VNQT. Nhiều tiếng súng nổ, một tu sĩ bị thương nặng. Một số Phật tử bị bắt đem đi (Thời Đại Mới 4 cột).
— Đêm 3-5: Hàng ngàn Phật tử tiến chiếm VNQT bị giải tán mạnh, một số bị thương. Kết cuộc Phật Giáo Ấn Quang đã thu hồi VNQT (Tin Sớm 5 cột).
— Ấn Quang bất thần xua quân chiếm VNQT. Viện Trưởng VNQT chấp thuận thống nhất (Độc Lập 4 cột).
— Xuống đường bất bạo động với lực lượng 2.000 tăng ni, thanh niên, Sinh viên học sinh và đồng bào Phật tử, Ấn Quang tiến chiếm VNQT (Tin Sáng 8 cột).
— 5.000 Phật Tử xuống đường chiếm VNQT (Công Luận 8 cột).
— Phật Giáo sôi động: Ấn Quang tái tiếp thu VNQT. Xô xát đẫm máu đầu tiên: một tăng sĩ (Ấn Quang) bị bắn thọ thương (Sự Thật 8 cột).
— Khối Phật Tử của Thượng tọa Tâm Châu chuẩn bị phản ứng sau khi Phật Tử Ấn Quang tiến quân thu hồi VNQT (Tia Sáng 4 cột).
— Một biến chuyển quan trọng trong hàng ngũ Phật Giáo: Hàng ngàn tăng ni Phật tử thu hồi VNQT vào tối 3-5 (Saigon Mới 3 cột).
— Sau khi VNQT về phái Ấn Quang. Xô xát súng nổ và bắt cóc Phật Tử (Đuốc Nhà Nam 2 cột).
— Phật Giáo Ấn Quang «kéo quân» chiếm VNQT. Thượng Tọa Tâm Giác sẽ huy động Võ sinh tái chiếm (Xây Dựng 3 cột).
— Phật Tử Ấn Quang chiếm VNQT (Điện Tín 6 cột).
— Đêm 3-5: PG Ấn Quang thâu hồi VNQT chớp nhoáng (Cấp Tiến 8 cột).
— Súng nổ «phản công», 2 phe Phật Giáo gườm nhau sau khi Ấn Quang kéo đến «giải phóng» VNQT (Dân Ý 5 cột).
— Ấn Quang «hành quân chớp nhoáng» đã tiến chiếm VNQT (Hòa Bình 3 cột).
2. — Ngày 6-5, sau khi Ấn Quang bị đánh bật khỏi VNQT, các báo chạy tựa như sau:
3 giờ sáng 5-5, 3 đợt tấn công. ẤQ và VNQT ác chiến đẫm máu gậy gộc, mã tấu, súng nổ, lửa cháy (Xây Dựng 4 cột).
— Lửa cháy, máu đổ thịt rơi ở VNQT (Tiếng Vang 8 cột).
— Xô xát đẫm máu tại VN Quốc Tự, Thượng tọa Tâm Giác cầm đầu một nhóm người võ trang tấn công VNQT (Saigon Mới 7 cột).
— Như đám giặc! Phe Thượng tọa Tâm Châu «tái chiếm» VNQT (Tiếng Việt 8 cột).
— Đêm hãi hùng đầy máu lửa tại VNQT (Điện Tín 8 cột).
— Đạn lửa ngập trời! Các sư giành Chùa, máu loang cửa Phật... Khuya 4-5, VN Quốc Tự lại đổi chủ (Sự Thật 8 cột).
— Tử chiến suốt 3 giờ tại VNQT, tranh từng tấc đất, máu loang cửa Phật Đài (Thủ Đô 8 cột).
— Súng nổ rền, lửa cháy rực, VNQT bị tái chiếm (Dân Ý 8 cột).
— 3g30 sáng 5-5: Phe Tâm Giác võ trang súng, lựu đạn, đi xe cam nhông nổ súng thảm sát «tái chiếm» VN Quốc Tự (Công Luận 8 cột).
— Súng nổ, lửa cháy, người chết tại VNQT giữa giờ giới nghiêm (Tia Sáng 6 cột).
— Lực lượng bí mật bắn giết, Phật tử VNQT bị hỏa thiêu cháy cả giờ (Độc Lập 4 cột).
— 3 giờ 15: Phe Tuyên Úy Phật Giáo dùng súng đạn tái chiếm VNQT (Cấp Tiến 8 cột).
— Đại Tá TUPG Th. Tâm Giác, Th. Đức Nghiệp, Th. Tâm Châu đích thân chỉ huy dẫn lính tái chiếm VNQT bằng vũ lực (Tin Điển 8 cột).
— Hỏa thiêu VNQT sau khi tái chiếm (Thời Đại Mới 8 cột).
— Máu lửa tại VNQT! (Đuốc Nhà Nam 8 cột).
— Cuộc tái chiếm đẫm máu VNQT 2 chết, 50 bị thương (Hòa Bình 3 cột).
— Ấn Quang thất thủ VNQT (Tin Sáng 8 cột).
— VNQT cháy ngất trời, hàng trăm người đã bị bắt đi, không rõ ai bắt và bắt đi đâu (Tiền Tuyến 3 cột).
$pageOut $pageIn Phân đoạn 12
Máu Đổ Cửa Thiền (tiếp theo 3)
#Chinh Luan May 9, 1970 trang ba
Ấn Quang kêu gọi ... — Tâm Châu dọa kiện ... #Chinh Luan May 9, 1970 trang ba
Ấn Quang kêu gọi ... — Tâm Châu dọa kiện ...
Tố Tòa Đô Chánh, tố Ti Vi, tố Mỹ và bảo đã thấy hồn Phật tử hiện về đòi trả thù
Ấn Quang kêu gọi Phật Giáo đồ tỏ căm phẫn bằng hành động tích cực
▶ Mời Phật Giáo Thế Giới đến điều tra vụ thảm sát và đòi Phật Giáo Thế Giới khai trừ Thượng tọa Tâm Châu.
❁ LÊ HOÀNG PHÚ
SAIGON 8-5. — Đại Đức Nhật Thường, Tổng Thư Ký Ủy Ban Đặc Trách vụ V.N.Q.T (Ấn Quang) hôm nay tuyên bố cực lực phản đối bản thông cáo của Tòa Đô Chánh nói về biến cố V.N.Q.T, nhất là bài bình luận của Đài Truyền Hình VN dựa trên bản thông cáo này, đã không phản ảnh đúng sự thật, che dấu tội ác của những kẻ sát nhân.
Đại Đức nhấn mạnh, khuya hôm đó, hàng ngàn quân nhân đủ mọi binh chủng, đủ loại vũ khí đã tràn vào VNQT bắn xả láng, gây thương tích cho hàng trăm người, một số người chết và một số khác mất tích. Nhiều người đã thấy tận mắt xe Hồng Thập Tự Mỹ di chuyển một số xác chết ra khỏi khu vực này.
Đại Đức Nhật Thường cũng cho biết chính tận mắt của ông đã thấy hai Thượng Tọa Tâm Giác và Đức Nghiệp có mặt ngay trong đêm biến cố tại VNQT và Đại Đức bảo đảm có thật 100 phần trăm. Đại Đức cũng cho biết, sáng hôm nay, Đại Hội Đồng Viện Hóa Đạo Ấn Quang họp khoáng đại để kiểm điểm công việc đã qua cũng như sắp tới. Ngoài ra, Văn Phòng VHĐ Ấn Quang đang soạn thảo một bản thông cáo mới, chỉ thị cho các cấp giáo hội làm lễ truy điệu cho những người đã chết.
Hồn Phật Tử đòi trả thù
Trong cuộc tiếp xúc riêng với Chính Luận sáng nay, Đại Đức Pháp Siêu, Tổng Vụ Phó Tổng Vụ Cư Sĩ đã kể lại rằng, vào lúc 2 giờ sáng nay, trong lúc Đại Đức đang nằm nghỉ, thì oan hồn của một em bé Phật Tử, bị chết hôm 5-5 bằng hai phát súng lục vào thái dương và bụng, đã hiện về khóc và nói với Đại Đức rằng, em yêu cầu những người còn sống hãy loại trừ cho được những tên phản đạo. Hồn oan cũng cho biết, em chết không bao giờ em tiếc, nhưng chỉ bận bọn giáo gian vẫn còn sống.
Đại Đức Pháp Siêu còn tố cáo hai Thượng Tọa Đức Nghiệp và Tâm Giác đã quyên tiền để ăn mừng chiến thắng trên sự chết chóc của đồng đạo, và hỏi tiếp rằng, đó là chiến thắng hay là mối ô nhục của một đời người? Đại Đức Pháp Siêu muốn nhắn gởi với những kẻ dùng bạo lực rằng: «sắt thép và súng đạn có làm cho những người yêu dân tộc, đạo pháp chùn bước trên bước đường đấu tranh hay không. Hay là lịch sử đã từng chứng minh chính những kẻ dùng sắt thép phải bị tiêu diệt bởi sắt thép?»
Đại Đức Pháp Siêu cũng nhận định về bản thông bạch của Thượng Tọa Tâm Châu «làm ra vẻ như can gián hai bên» chỉ là một kỹ thuật hạ cấp để lừa bịp dư luận. Thử hỏi, nếu ba Thượng Tọa Tâm Châu, Tâm Giác và Đức Nghiệp không chỉ huy vụ này thì ai làm?
Ấn Quang thuyết pháp
Đại Đức Tâm Thanh, trong cuộc thuyết pháp tối hôm qua tại chùa Ấn Quang đã nhấn mạnh rằng, đừng tưởng vụ Việt Nam Q.T. không liên quan đến những vấn đề khác. Ông nhắc lại thái độ của chính quyền qua vụ Trần Ngọc Châu, SVHS, Thương Phế Binh và nhất là vụ V.N.Q.T mới đây đã kết luận «đấy chính là sắc thái của nền Dân Chủ Pháp Trị tại VN.»
Đại Đức Tâm Thanh cho rằng vụ Mỹ Lai có đến 900 người chết, vụ cáp duồn tại Cam Bốt thây trôi đầy sông, nhưng vụ cuồng sát tại VNQT vừa rồi gấp trăm, gấp ngàn lần vụ Mỹ Lai, vì nó xảy do chính bàn tay của các tu sĩ, mang áo cà sa, vì nó xảy ra vào đúng ngày 1-4 Âm lịch là ngày chay tịnh của tất cả mọi người. Đại Đức cũng nhắc lại một vài nguồn dư luận cho rằng "mấy ông thầy chùa lắm chuyện bày đặt đánh chùa làm gì để giết hại lẫn nhau" để rồi phiên trách báo chí tại sao lại dùng chữ "tái chiếm VNQT". Ông nói ngôi chùa đó là của tất cả chúng ta, chúng tôi chỉ tạm rời nó từ năm 1966, và bây giờ chúng tôi trở về ngôi chùa cũ mà thôi, nhưng không được. Chính những tên giáo gian kia mới là kẻ cướp chiếm ngôi chùa của chúng tôi.
TỐ MỸ
Đại Đức Tâm Thanh nói với khoảng 500 Phật tử Tăng Ni dự thính rằng, ngay vào lúc mà chúng ta tưởng hòa bình đã đến gần khi Mỹ lại tái oanh tạc Bắc Việt, tiến quân qua Cam Bốt, khiến cuộc chiến lan rộng cùng khắp nơi, và đẩy hòa bình ra xa ngoài tầm mức ước vọng của chúng ta. Tuy nhiên, theo Đại Đức, trước khi quốc gia có hòa bình, Phật Giáo phải thống nhất trước cái đã.
Phật tử đòi xuống đường
Theo lời tiết lộ của Đại Đức Tâm Thanh, một số Phật tử đã đến xin Đại Đức cho phép «đi trả thù, thầy cho chúng con đi bắn, đi giết, chúng con say thuốc súng rồi, chúng con phải xuống đường, nợ máu phải trả bằng máu». Tuy nhiên, Đại Đức và Giáo Hội đã khuyên bảo anh em bình tĩnh, và hãy biến vụ VNQT thành một bài kinh thánh thiện muôn đời bất diệt, và hãy để yên cho người đời nguyền rủa.
Đại Đức cho biết, hôm nay, Biện Lý Cuộc sẽ đưa những tên sát nhân ra Tòa Đại Hình để xét xử. Theo Đại Đức Tâm Thanh, Ông Đô Trưởng Đỗ Kiến Nhiễu đã thấy 16 bàn tay nổi lềnh bềnh trong hồ nước V.N.Q.T khi ông này viếng thăm nơi đây vào sáng hôm qua. Nhiều tiếng tặc lưỡi nổi lên làm gián đoạn cuộc thuyết pháp.
Hippy: du thủ du thực
Trong khi kể chuyện về những kẻ dùng bạo lực, Đại Đức Tâm Thanh có nhắc đến tên của ba tên du thủ, du thực chuyên cướp của giết người, thì dường như để cho mọi người dễ hiểu, Đại Đức Tâm Thanh đã ví rằng, ngày xưa người ta gọi là du thủ du thực, còn ngày nay người ta gọi là Hippy, lan tràn từ bên Tây qua!
Tuyên bố 6 điểm
Trước khi kết thúc buổi thuyết pháp dài 90 phút, Đại Đức Tâm Thanh đã giới thiệu một thanh niên Phật tử lên đọc một bản thông cáo gọi là của đồng bào Phật Tử Saigon Gia Định, trích nguyên văn như sau:
«Chúng tôi long trọng tuyên bố trước đồng bào toàn quốc:
1. Khai trừ ba tên phản-giáo-đồ gian trá là Thích Tâm Châu, Thích Tâm Giác, Thích Đức Nghiệp ra khỏi hàng ngũ Phật Giáo VN.
2. Không công nhận tên giáo gian Thích Tâm Châu trong hàng ngũ PG Thế giới.
3. Yêu cầu các tổ chức PG Thế giới có chi nhánh hoạt động trên lãnh thổ VNCH phải cấp tốc chấm dứt mọi liên lạc phật sự với tên giáo tặc Thích Tâm Châu hầu tránh những sự đáng tiếc có thể xảy ra do lòng căm phẫn tột độ của Phật giáo đồ VN.
4. Các tên giáo tặc Châu, Giác, Nghiệp nhất định phải đền tội trước Phật Giáo đồ VN.
5. Yêu cầu Giáo Hội PGVNTN khẩn cấp mời các tổ chức Phật Giáo Thế giới đến VNCH điều tra vụ thảm sát tại VNQT.
6. Chúng tôi kêu gọi Phật giáo đồ toàn quốc hãy bày tỏ lòng căm phẫn bằng hành động tích cực...»
Thượng tọa TRÍ QUANG yêu cầu Phật tử chớ quá khích bạo động
SAIGON. — Có mặt ở Saigon trong suốt thời gian Ấn Quang tiến chiếm VNQT và đêm máu lửa ở VNQT, chiều hôm qua, Thượng tọa Trí Quang đã lên đường rời Saigon đi Huế. Nói về chuyến đi này, một nguồn tin từ Ấn Quang cho hay "đây là dịp đánh dấu việc thầy hoạt động trở lại". Tin này cho hay, Thượng tọa Trí Quang về Huế để xoa dịu dư luận sôi sục của Phật tử miền này.
Nguồn tin trên còn tiết lộ cho người ta thấy là trong cuộc họp khẩn, đại đa số giới lãnh đạo AQ đều đi đến quyết định chiếm VNQT bằng bất cứ giá nào nhưng Thượng tọa Trí Quang đã không đồng ý ý kiến này. Thượng tọa Trí Quang nói rằng sự rạn nứt giữa 2 khối đã quá trầm trọng, nếu làm như vậy, càng khơi thêm sâu sự rạn nứt đó, chỉ đau lòng Phật Tử mà thôi. Hơn nữa trong hoàn cảnh đất nước hiện nay, mọi hoạt động tranh đấu đều bất lợi vì nhiều bàn tay ngoại bang sẽ nhúng vào. Trước phiên họp, Thượng Tọa Trí Quang đã tình nguyện bay ra Trung để dùng uy tín của mình để trấn an Phật Tử, yêu cầu họ đừng quá khích bạo động. Cũng nguồn tin trên cho hay một số tăng sĩ cấp tiến đã ủng hộ triệt để quan niệm của Thượng tọa Trí Quang và họ tin rằng sẽ có 1 biện pháp thống nhất Phật Giáo được nêu ra trong thời gian gần đây với sự hoạt động tích cực của Thượng tọa Trí Quang, biện pháp thống nhất sẽ có cơ thành tựu.
Thượng tọa TÂM CHÂU DỌA SẼ ĐI KIỆN những ai gọi ông là giáo gian
và đòi giao lần Giáo Hội cho giới trẻ có học lãnh đạo
⚫ Thượng tọa Đức Nghiệp tiết lộ đêm tái chiếm VNQT có mặt cả một số nhân vật cao cấp Hành pháp
◈ ĐƯỜNG THIÊN LÝ
SAIGON 8-5. — Trong cuộc họp báo sáng nay tại Miền Vĩnh Nghiêm, bên Quốc Tự đã chính thức công nhận về hành động chiếm VNQT mà Thượng tọa Thích Đức Nghiệp gọi chỉ là hành động «đuổi những kẻ cướp nhà ra ngoài». Đây là nguyên văn 1 đoạn trong bản thông cáo của Quốc Tự:
«Về phần Giáo Hội chúng tôi:Trong phần trả lời báo chí, Thượng tọa Đức Nghiệp, 1 trong 3 người Ấn Quang gọi là giáo gian chỉ huy tiến chiếm VNQT, nhấn mạnh rằng trong hàng ngũ Phật tử tự động đó, dĩ nhiên là có đủ thành phần như ký giả, xích lô, buôn bán và... quân nhân. Mà quân nhân thì họ có quyền mang vũ khí, việc họ mang vũ khí và đi trong giờ giới nghiêm thì xin hỏi thẳng Chính quyền và các cá nhân đó.
1. Vào 3 giờ sáng, rạng ngày 4-5-1970, các hàng Phật tử đã tự động vào Việt Nam Quốc Tự để đón rước Hòa thượng Viện Trưởng Thích Minh Thành, vì được tin Hòa Thượng đương bị cầm giữ và cưỡng đoạt chữ ký trong VNQT. Nhưng sau khi vào chừng 5 phút và biết rõ Hòa Thượng Viện trưởng đã bị đem đi nơi khác, các hàng Phật tử chúng tôi lại ra về.
2. Vào 2g30 sáng, rạng ngày 5-5, các hàng Phật tử nhiệt tâm vì Đạo pháp và vì quyền lợi chung của quốc gia, cũng đã tự động sang Việt Nam Quốc Tự, đuổi tất cả những kẻ chiếm cứ phi pháp gia cư và tài sản của Giáo Hội ra khỏi. Trong vụ xô xát này chỉ có những người bị thương, và không có người nào chết cả.
Tuy nhiên hiện nay, còn một số chừng sáu chục (60) người quá khích còn lẩn trốn bên Cô Nhi Viện Quách Thị Trang, không kể các em cô nhi bé nhỏ, bọn người này vẫn còn mưu sang chiếm Việt Nam Quốc Tự một cách phi pháp.»
Thượng tọa Đức Nghiệp nói rằng, ông còn gặp một số đông nhân vật cao cấp bên Hành pháp nhưng xin dấu tên. Thượng tọa xác nhận rằng đêm đó có đến VNQT bằng xe Jeep để xem tình hình và trở về ngay Miền Vĩnh Nghiêm lúc 3g34 phút, vừa đến thì nhận được điện thoại của Phật Tử tại địa điểm nói trên cho biết họ đã khởi sự tấn công và ông đã dùng xe Jeep lên lầu chùa Từ Quang để đứng xem, nhưng ông thề rằng, trước đó ông không hay biết gì cả.
Hạn định 3 ngày
Thượng tọa Tâm Châu khi trả lời báo chí đã lược trình diễn tiến «hòa đàm chiến tranh» từ ngày 1-5-70 đến nay như Chính Luận đã đăng tải và nói thêm rằng, nếu năm nay tổ chức được lễ Phật Đản chung thì có thể thống nhất và nên giao lần Giáo Hội cho giới trẻ có học lãnh đạo, loại dần những người có vết dơ ra làm cố vấn.
Thượng tọa Tâm Châu đã vô cùng phẫn nộ về các Dân biểu Kiều Mộng Thu, Dương Văn Thụy và Ấn Quang gọi ông là giáo gian. Thượng tọa Tâm Châu lập luận thế nào là gian, ngay như sau:
— Phải chăng đưa Phật xuống đường là ngay, còn để Phật mà thờ là gian? Mở miệng ra là nói đến bắn, giết là ngay và trốn tránh vào Tòa Đại Sứ Mỹ trong lúc Phật giáo đang tranh đấu bên ngoài là ngay?
Thượng tọa Tâm Châu hạn định 3 ngày kể từ hôm nay, nếu sau đó, ai còn lớn tiếng nói ông là giáo gian, ông sẽ đi kiện và để xem hiệu lực của nước dân chủ pháp trị này tới đâu.
2 cái bóng bên ngoài
Trong cuộc họp báo, Thượng tọa Tâm Châu đã lớn tiếng tố cáo (bên Ấn Quang) đích danh các Thượng tọa Giác Đức, Thiện Minh, Huyền Quang... nhưng tuyệt nhiên ông không nhắc đến tên của Thượng Tọa Trí Quang, trong lúc đó thì Thượng Tọa Giác Đức quả quyết rằng, hai cái bóng bên ngoài Hội Đồng Giáo Hội là Tâm Châu và Trí Quang mới thật là vai trò quyết định mọi chuyện.
Tố cáo Thượng tọa Trí Quang
Một ấn bản của Đoàn Thanh Niên Tăng Ni phân phát cho báo chí thì lại gọi đích danh bàn tay trong hậu trường là Thượng tọa Trí Quang ra để hài tội, nhất là tội phỉ báng Phật tử Bắc Việt rằng chỉ có tam quy mà không có ngũ giới (Ngũ giới là dâm ô, rượu chè, nói láo, sát sanh, bài bạc), và phỉ báng người miền Nam chỉ đóng vai cầm cờ chạy hiệu. Thượng tọa Trí Quang đã ham danh lợi đóng vai lãnh tụ hơn là tu hành và vì vậy mà dân Saigon đã hiểu Trí Quang đồng nghĩa với thù hận.
Hắn đó, Hắn đó
Chủ tọa cuộc họp báo, Hòa Thượng Minh Thành, Viện Trưởng Hóa Đạo VNQT đã diễn lại khúc phim ông bị bên kia bắt với nhiều chi tiết thật ly kỳ:
«Vào hồi 7g tối ngày 3-5-70, có một số đông người mang theo gậy gộc cùng mấy vị thanh niên Tăng Ni, mà dẫn đầu là thầy Nhật Thường và Liễu Minh. Tất cả những người này tiến vô VNQT, trong khi tôi đương ở trong phòng làm việc. Chư Tăng và Phật Tử đương tụng niệm trên chùa.
Tiếp đó, có tiếng la lớn: «Hắn đó, Hắn đó». Đồng thời, bốn người trong bọn họ trông thật dữ dằn, tiến lại sát tôi và lôi kéo tôi đi. Trong vụ này, đặc biệt có Dân Biểu Dương Văn Thụy cũng bảo tôi phải đi. Trước hết tôi bị dẫn sang Cô nhi Viện Quách Thị Trang kế VNQT. Trong sân Cô nhi Viện đã có một xe hơi đậu sẵn. Rồi chúng bắt tôi lên xe và chạy thẳng xuống chùa Ấn Quang. Nơi đây, tôi bị dẫn lên một phòng trên lầu, có sự hiện diện của Thượng Tọa Huyền Quang và Mẫn Giác.
Hai vị này nói với tôi: «Làm Viện Trưởng làm chi, và theo cánh Thích Tâm Châu làm gì. Có phải họ cho tiền xây chùa ở dưới ấy không?»
Tôi trả lời: «Chùa và trường học đã xây đủ rồi. Tôi làm Viện Trưởng chỉ mong làm cho Quý Ngài hai bên Quốc Tự và Ấn Quang sớm vui vẻ và hòa hợp với nhau, thì tôi mừng lắm». Kế đó, hai vị Huyền Quang và Mẫn Giác đưa ra một tờ giấy đánh máy sẵn và ép buộc tôi phải ký vô giấy đó. Lúc đầu, tôi không chịu ký. Hai vị này nói: «Nếu Ngài không ký từ chức, và nhường lại cho Thượng tọa Thích Thiện Hoa, thì 4 vị thanh viên tăng và Phật Tử ở đây sẽ đưa ngài đi nơi khác... và không bảo đảm tính mạng của ngài». Bị ép buộc nhiều lần quá, sau chót, tôi miễn cưỡng phải ký vô tờ giấy đó.
«Đến 1 giờ đêm hôm đó, Thượng Tọa Thích Thiện Hoa có đến nói chuyện để dụ dỗ tôi nhưng bất thành.
Đến 5 giờ sáng hôm sau 4-5-70 khi thấy tất cả chư tăng lên chùa tụng giới, dưới chùa Ấn Quang vắng cả, tôi liền trốn thoát khỏi chùa Ấn Quang.
«Một điều mà mấy hôm nay không được ai bên Quốc Tự nói đến là tại Việt Nam Quốc Tự đã chiếm lại được từ hôm 5-5-70 mà cho đến nay vẫn chưa ai chịu về ở. Tất cả mọi cuộc họp mặt dự định tại VNQT đều đưa về Từ Quang và Vĩnh Nghiêm, trong khi nhà của VNQT chiếm được rồi vẫn còn do Cảnh Sát phong tỏa canh giữ không cho ai ra vào, kể cả báo chí.»
#Chinh Luan May 9, 1970 trang 2 — DIỄN ĐÀN DIỄN ĐÀN
... ĐỂ PHẬT GIÁO VN SỚM THOÁT KHỎI KIẾP NẠN THẢM KHỐC
của Phật-Tử TRƯƠNG-LÊ
LTS: Kiếp nạn khủng khiếp mới xảy ra tại Việt Nam Quốc Tự đã gây kinh hoàng cho Phật tử cũng như các giới đồng bào. Một Phật tử thuộc giáo hội Ấn Quang, ông Trương Lê, vừa gửi tới Chính Luận lá thư ngỏ đăng tải dưới đây nhằm kêu gọi cả hai giới lãnh đạo và Phật tử hai khối hãy kịp thời dừng lại, «đừng đào sâu thêm hố chia rẽ, đừng dấn thêm những bước phiêu lưu...»
Tâm Thư Kính Gửi Chư Thượng Tọa, Đại Đức lãnh đạo hai khối Phật Giáo Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự
Kính thưa chư Thượng tọa, Đại Đức.
Cùng quý Đạo Hữu thân mến.
Thật đau xót khi tôi phải dùng đến tiếng «phe» tự giới thiệu, với chính những đạo hữu của tôi, rằng tôi là một phật tử thuộc «phe Ấn Quang» ngay trong phần mở đầu bức tâm thư này. Sự phân biệt cay đắng phi lý và dai dẳng diễn ra giữa đám con Phật làm cau mặt nát lòng đấng từ phụ Thế Tôn Đại Từ Đại Bi Đại Giác của tất cả chúng ta.
Tệ hại hơn nữa, sự phân biệt hận thù hiềm khích ấy lại vừa là nguyên nhân của một kiếp nạn kinh hoàng làm xúc động sửng sốt mọi giới đồng bào Phật tử cũng như không Phật tử ở phe bên này cũng như ở phe bên kia: máu thịt của đồng đạo đã thực sự rơi đổ dưới chân Phật đài, tại nơi mà mới ngày nào, năm nào, tất cả chúng ta còn đồng lòng mừng mừng tủi tủi, cùng hy vọng vinh quang chung của Giáo Hội trong tình thương ruột thịt chân thành thiêng liêng nhất của những người đã đem và sẵn sàng hy sinh tất cả cho sự lớn mạnh của Giáo Hội và chỉ cho Giáo Hội.
Việt Nam Quốc Tự, biểu tượng của nền thống nhất Giáo Hội, của tình đoàn kết, nơi rao giảng Từ Bi Hỷ Xả, ngày nay chỉ còn là đổ nát, tro tàn loang máu đỏ, chứng tích thảm hại của hiềm khích chia rẽ, kết quả khốc liệt của những hành động hiếu sát bồng bột.
Ai là thủ phạm trực tiếp, gián tiếp gây nên thảm cảnh này? Không ai xa lạ, mà chính là tất cả chúng ta, là quý Đạo Hữu của tôi bên này lẫn bên kia, là Quý Thầy của tôi bên này lẫn bên kia. Trước đấng Thế Tôn, chúng ta đều phải cúi đầu nhận mình là thủ phạm, bởi chúng ta đã làm ngược lại lời khuyên dạy thống thiết cao minh của Người «Oán thù nên cởi, không nên buộc». Chúng ta, tất cả chúng ta, đều phải thành tâm sám hối đã trót hành động nhân danh tự ái, ích kỷ, bè phái, chứ không phải nhân danh Đạo của Người, trừ phi chúng ta cố tình ngụy biện để bôi nhọ Từ Bi Hỷ Xả của Người. Chúng ta thảy đều phải là thủ phạm, là kẻ có tội trong kiếp nạn này.
Ai sẽ phải gánh lấy trách nhiệm nghiệm trọng này? Lại cũng chính là tất cả chúng ta. Chúng ta đã từng đoàn kết, đồng lao cộng khổ, đã thành đạt sự nghiệp thống nhất Giáo Hội. Nhưng, cũng giữa chúng ta, một sớm một chiều, bất đồng chính kiến đã làm băng hoại nền thống nhất từng được xây dựng bằng cả máu xương của con Phật ấy. Chúng ta lại đã tỏ ra bất lực trong trách nhiệm dung hòa những chính kiến dị đồng bằng các phương cách ôn hòa tốt đẹp mà Phật Tổ đã vạch sẵn cho chúng ta. Chúng ta đã tiếp tục bôi mặt nhau như kẻ thù hằn. Những từ ngữ xấu xa nhất đã được chúng ta sử dụng điên cuồng như những kẻ mệ muội đã chỉ vào các đồng đạo phía đối lập.
Mỉa mai thay, trong khi đó, chúng ta cả 2 phía đều đang khoác chung mẫu áo, cùng biểu dương một màu cờ, cùng tụng niệm một lời kinh, cùng tôn thờ một đấng Thế Tôn, cùng hãnh diện nhận mình là con của Phật và danh xưng Giáo Hội vẫn là Giáo Hội PGVN Thống Nhất! Tất cả những tương đồng thiêng liêng tối thượng đó há chưa đủ giá trị tuyệt đối để được chúng ta cùng nhau long trọng đem đặt lên trên hết thảy các dị biệt chính kiến kia sao? Viễn tượng suy đồi của tập thể PGVN chia rẽ há chưa đủ là một cảnh giác nghiêm trọng để chúng ta dẹp bỏ hiềm khích mà cùng tương nhượng ngồi lại với nhau để giải quyết một cách ôn hòa hay sao?
Chúng ta đã bất lực một cách phi lý. Chúng ta lại phạm phải những lỗi lầm phi lý hơn nữa khi chúng ta chọn tới con đường hiếu động đẫm máu để giải quyết bất đồng nội bộ. Hậu quả tức thời của những lỗi lầm ấy thật đã quá thê thảm.
Nếu ngần ấy vẫn chưa đủ để thức tỉnh tất cả chúng ta, nếu chúng ta vẫn tiếp tục tự đồng hóa mình với vô minh hiếu sát, vẫn tiếp tục lao mình hành động ngược lại Từ Bi Hỷ Xả của Đạo Pháp thì chắc chắn chúng ta sẽ còn phạm nhiều lỗi lầm hơn nữa, tạo nhiều kiếp sát hơn nữa và hậu quả sẽ khủng khiếp không lường trước được. Phật Giáo VN đã phân hóa sẽ phân hóa hợn nữa. Dân Tộc VN đã ngửa nghiêng điêu đứng vì bạo lực sẽ còn ngửa nghiêng điêu đứng hơn nữa vì sự tranh thắng giữa chính chúng ta.
Các Đạo Hữu gục ngã trong khuôn viên VNQT đã chết đi để lại cho tất cả chúng ta một bài học, một bài học thê thảm về chia rẽ nội bộ. Nếu chúng ta, cả hai bên, vẫn chưa rút ra được bài học thực tế đó, vẫn chưa chịu ngừng tay lại, thì cái chết của những người con Phật kia sẽ hoàn toàn vô nghĩa và hồn thiêng của họ sẽ mãi mãi ngậm hờn.
Tôi biết rằng có những Đạo Hữu của tôi, bên phía của tôi, đang hăng hái trông chờ một quyết định phản ứng mạnh mẽ của các cấp lãnh đạo đối với biến cố đau lòng vừa qua. Tôi cũng biết rằng có những Đạo Hữu của tôi, ở phía bên kia, đang sẵn sàng hành động quyết liệt không kém để chống trả. Sức mạnh tập thể của Giáo Hội, đáng lẽ được xử dụng vào những mục tiêu hữu ích nhằm phục vụ Dân Tộc và Chánh Đạo, sẽ phải huy động một cách uổng phí để đương đầu đối nghịch lẫn nhau.
Hố chia rẽ đã được đào sâu thêm giữa đồng đạo chúng ta. Những vọng động vô minh đã dẫn dắt chúng ta đến sát bờ hố thẳm đó, nhìn về nhau với uất hận căm hờn. Tôi khẩn khoản van cầu quý Đạo Hữu của tôi, quý Thầy của tôi, bên này cũng như bên kia, đừng nên có thêm quyết định nào vô tình biến hố thẳm chia rẽ kia thực sự trở thành hố diệt vong chung cho cả chúng ta, cho cả tập thể Phật giáo VN. Kẻ thủ lợi sau cùng sẽ vẫn luôn luôn là những kẻ thù bên ngoài Phật Giáo, bên ngoài Giáo Hội lúc nào cũng sẵn sàng rình rập khai thác sơ hở của anh em đồng đạo chúng ta.
Đừng quên rằng bạo hành không bao giờ là tôn chỉ của Đạo và tranh thắng bằng xô xát không thể nào mang lại vinh quang cho Giáo hội.
Tiền đồ của Giáo hội, của Quốc Gia không cho phép chúng ta dấn những bước phiêu lưu dài hơn nữa. Hãy cùng nhìn về Phật Tổ, hãy hướng theo con đường sáng soi ánh Đạo Từ Bi của Ngài, hãy vì tương lai PGVN mà dẹp bỏ tị hiềm, tự ái vô nghĩa để cùng tiến tới hòa giải trong tình đồng đạo thiêng liêng.
Hãy để những cá nhân lỡ phạm tội cho công lý thẩm quyền xét xử. Họ sẽ phải đền tội xứng đáng trước pháp luật về những thảm sát do chính họ gây ra. Còn chúng ta, Đạo chúng ta, Đạo của Phật Tổ, chỉ chủ trương cảm hóa chứ không đặt nặng trừng phạt. Chúng ta kêu gọi chính quyền hãy thực thi luật pháp quốc gia một cách nghiêm chỉnh phân minh để ngăn ngừa sự tái diễn những thảm cảnh đáng tiếc tương tự.
Chúng ta hãy bình tĩnh đề cao cảnh giác để chặn đứng ngay những bàn tay ác ý có thể đang cố tình phá vỡ mọi nỗ lực hòa giải của chúng ta.
Kính thưa chư Thượng Tọa, Đại Đức lãnh đạo hai khối.
Quý Thầy là những bậc quản thông giáo lý Phật Tổ. Quý Thầy là những người đã phát tâm đem Đạo cứu Đời. Quý Thầy hãy lắng nghe tiếng van xin khẩn thiết của những Phật tử yêu Đạo kính Thầy chúng tôi, đang chân thành trông ngóng quý Thầy mau sớm có những quyết định ôn hòa sáng suốt kịp thời.
Nguyện cầu Phật Tổ Từ Bi gia hộ để PGVN sớm thoát khỏi kiếp nạn thảm khốc hiện nay.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
5-5-1970
TRƯƠNG LÊ
Pháp danh MINH-TUẤN
#Tien Tuyen May 9, 1970 trang nhất
✺ VUA CHẠY CỜ — KÉP ĐỘC
TỬU KẾ
Vụ hành quân chiếm và tái chiếm Việt NamQT đã là một vết nhơ cho lịch sử Phật giáo Việt Nam. Các vị lãnh đạo tinh thần hai khối AQ và Việt NamQT dù muốn dù không đều phải chịu trách nhiệm.
Hiện tại, cả 2 phe đều đang tìm cách đổ tội cho nhau, nên phải tố cáo nhau, lật tẩy nhau, do đó, vạch áo cho người xem.
Phe AQ tố cáo Thượng tọa Tâm Châu cố tình phá vỡ mọi cố gắng đi tới thống nhất, và tự nhận là mình có thiện chí đầy mình.
Phe Việt NamQT cũng tự cho mình có thiện chí, còn «đối phương» thì ngoan cố.
Thật ra, theo Kép Độc, cả 2 phe đều đáng được gán cho những điều mà phe bên nọ tố phe bên kia. Và, những tố cáo đó càng nhiều thì vết nhơ trong lịch sử PGViệt Nam càng lớn, đồng thời trách nhiệm của quý thầy càng nặng, và nghiệp chướng càng dầy.
Như mới đây, báo Hòa Bình có tường thuật lại những lời Thượng tọa Tâm Châu đã tố cáo một số quý thầy phe AQ.
Theo lời Thượng tọa Tâm Châu thì Đại đức Giác Đức (phe AQ, học trò cũ của Tâm Châu) đã phục rượu Thượng Tọa, để toan ép phe Việt NamQT ký vào một bản tuyên cáo gì đó.
Nếu đúng như vậy thì phe phục rượu lẫn phe bị phục rượu đều không xứng đáng là con Phật. Rượu là một trong ba thứ cấm kỵ của nhà Phật (Tửu, Sắc, Đồ) [ Đồ = sát sinh ]. Người mang cái xấu đó ra để lừa gạt kẻ khác là vô đạo, và một Thượng tọa mà lại để bị phục rượu thì cũng không xứng đáng tí nào. Bởi không uống rượu thì làm sao bị phục rượu được.
Một truyền thuyết trong sách Phật có kể rằng xưa kia có kẻ phạm tội bị quan quyền ép làm một trong 3 điều sau đây thì sẽ được tha: đốt nhà, giết mẹ và vợ, hoặc uống rượu.
Kẻ này sau khi cân nhắc đã nhận uống rượu vì cho là vô hại nhất. Nhưng sau khi uống say, hắn đã nổi điên đốt nhà. Mẹ và vợ ra can thì bị hắn giết luôn.
Xem đó thì biết nếu có đốt nhà cũng chỉ phạm 1 tội ác, còn uống rượu đã gây ra 3 tội ác.
Không hiểu tại sao quý thầy lại lựa chọn ngay cái đầu mối của những tội ác đó mà... xài như vậy?
Tien Tuyen May 9, 1970 trang hai
Đem Đạo Vào Đời
⚫ Nơi gọi là Việt Nam Quốc Tự đã là chiến trường sắt máu cho 2 phe Phật Tử. Máu đã đổ chan hòa trước mặt đấng Từ bi. Một đồng nghiệp ở đây đã viết: chuông mõ đã biến thành dụng cụ báo động — nhà trai gác chuông đã biến thành lô cốt — các con Phật, thay vì được thuyết giảng về đức hiếu sinh thì lại được huấn thị là phải chiến đấu dù có chết. Không biết có lý do nào biện minh nổi cho những hành động đầy sân si, thù hận kể trên không?
◕ Kẻ viết bài này, kinh qua những biến thiên của Phật Giáo trong khoảng năm, mười năm gần đây, thấy rằng đã đến lúc đặt lại một vấn đề đã cũ nhưng luôn luôn còn giá trị: vấn đề chính danh. Xin lấy ngay đối tượng tranh đấu của 2 phe để làm minh chứng. Đó là một khoảng đất tại đường Trần Quốc Toản, được mệnh danh là Việt Nam Quốc Tự. Trên phương diện giá trị vật chất, thực tiễn thì khu này thua cái vẻ trang nghiêm bề thế của khu Vĩnh Nghiêm. Chùa chiền, phòng ốc cũng mới chỉ được xây cất bằng vật liệu nhẹ, không thể sánh được với cái kiến trúc tân kỳ nhiệm mầu đạo vị của chùa Xá Lợi. Tại sao mà 2 phe lại phải thi hành đủ mọi âm mưu, đủ mọi phương tiện để giành giật khu này như vậy? Phải chăng phe nào cũng muốn ôm lấy hai chữ Quốc Tự cho mình — Việt Nam Quốc Tự, theo như chỗ hiểu biết của kẻ viết bài này có nghĩa là Chùa của nước Việt Nam. Nước Việt Nam ta có bao nhiêu là chùa, tại sao chỉ nơi này mới được gọi là quốc tự? Nước ta ở vị trí một giao điểm của lục địa Trung Ấn, nên mang trong mình bao nhiêu là màu sắc tôn giáo, bao nhiêu là tín ngưỡng dị đồng. Trong cái xe chở đấu đong đạo phái ở đây, từ lớn cho đến nhỏ chưa có đạo nào cho nơi thờ phượng của mình mang chữ «quốc» cả, thì Phật Giáo lại tự phong cho một bất động sản của mình là quốc tự. Trong Hiến Pháp của ta cũng chưa hề nói đến vấn đề quốc giáo, thì 2 chữ quốc tự kia có phải là một danh xưng nghiêm chỉnh hay không? Danh bất chính tất ngôn bất thuận — ngôn bất thuận tất sự bất thành — tôi nghĩ rằng đầu mối của mọi sự tranh chấp trong Phật Giáo, đều bắt nguồn từ hai chữ «quốc tự» kể trên. Giả thử như khuôn viên khu nhà chùa chiền trên đường Trần Quốc Toản được mang tên là Tâm Châu Tự (giả thử thôi) thì chắc đã không xảy ra «Hỏa thiêu Hồng Liên Tự» dở khóc dở cười cho đồng bào các giới.
◔ Tôi là một kẻ hiểu thật là lõm bõm về Phật Giáo. Nghe nói là lúc kẻ hèn này mới được sinh ra, khó nuôi quá, nên phải làm cái lễ bán khoán làm con «đức ông». Lớn lên một chút theo bà, theo mẹ ra chùa thì con mắt trẻ thơ của tôi không hiểu thế được thế nào là Phật — vì ngoài chùa có nhiều Phật quá. Có ông Thiện lại có ông Ác, có đức ông nghiêm chỉnh, có Phật Bà Quan Âm hiền từ, có ông mập nhịn ăn mà mặc, có ông gầy nhịn mặc mà ăn, có ông Phật cười, có ông Phật khóc. Anh em chúng tôi mỗi đứa tùy theo sở thích và lựa chọn lại yêu riêng một vị Phật của mình. Tuy là con đức ông, nhưng bản tâm tôi lại yêu đức Phật Bà Quan Âm Thị Kính, đức Phật thật hiền, thật đẹp, trên tay có con chim xanh đậu xuống.
◐ Đến khi lớn lên, cái bản tính bông lông của tôi lại khiến tôi yêu đạo Phật bằng một khía cạnh khác. Tôi yêu cái quan niệm «Phật tại tâm». Phật không hề phân chia giai cấp, không bắt buộc phải theo một đường lối nhất định nào, không hạn định ở nơi nào, lúc nào, ai cũng có Phật tính và ai cũng có thể thành Phật được bằng cái «giác» của mình. Trong cái việc «trở nên người», Phật cho chúng sinh nhiều tự do nhất. Mỗi người đều có quyền hướng về Phật theo đường lối của mình. Phật cũng không hề kể công ơn với bất cứ ai, vì «thành» hay «bất thành» đều hoàn toàn do mình định lấy.
⚫ Với cái quan niệm rất là thường tục của tôi về Phật, tôi lấy làm ngạc nhiên tại sao các thầy lại bắt chúng sinh phải đi theo đường lối riêng của các thầy vẽ sẵn. Phật đâu có trao bằng độc quyền rao bán cho ai. «Có thì có tự mảy may, không thì cả thế gian này cũng không», vậy tại sao chỉ vì một cái hư danh — mà các thầy lại hướng dẫn chúng sinh vào con đường tương tàn tương sát. Phật đâu có dạy nói dối, nói là họp bàn về thống nhất đạo pháp mà sự thật lại là giữa giờ giới nghiêm kéo đi chiếm đất. Phật cũng thường giới răn là không nên sát sinh, dù là con sâu cái kiến, Phật đâu có dạy nổ súng vào người đồng chủng bao giờ.
◕ Hay là thời đại mới, kỷ cương mới nên phải «đem đạo vào đời» theo cách ấy đó chăng?
Ký giả LÔ RĂNG
$pageOut $pageIn Phân đoạn 13
Máu Đổ Cửa Thiền (tiếp theo 4)
#Chinh Luan May 10_11, 1970 trang hai
LÀM SAO GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHẬT GIÁO VN? #Chinh Luan May 10_11, 1970 trang hai
LÀM SAO GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHẬT GIÁO VN?
◐ ĐÃ ĐẾN LÚC MỔ CÁI NHỌT BỌC RA CHƯA? ◔ SAU CÁC BIẾN CỐ NÃO NỀ, CẦN ĐẶT THẲNG VẤN ĐỀ VÀ ĐI TÌM MỘT GIẢI PHÁP CHO DỨT KHOÁT. ◔ QUAY LẠI CUỐN PHIM NÃO NỀ, VÀ ĐI TÌM NHỮNG SỰ THẬT. ◔ THÁI ĐỘ CỦA ĐỐI BÊN SAU CÁC BIẾN CỐ MỚI THẬT ĐÁNG KỂ. ★ NHỮNG Ý KIẾN TRÀN NGẬP, GHI KHÔNG HẾT, NHƯNG CŨNG CỐ GHI. ◔ NHỮNG NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM NÊN DỨT KHOÁT LẦN NÀY, KHỎI ĐỂ XẢY RA NHỮNG THẢM CẢNH VỀ SAU... ❁ ĐỪNG QUÊN RẰNG HÀNG PHẬT TỬ CÓ HIỂU BIẾT ĐÃ CHÁN NGÁN LẮM...
— Bài Của TRIỆU-VIỆT.
Người viết là một Phật tử, vốn chẳng có chân ở giáo phái Phật giáo nào, — mà đến nay nguyện viết một bài thật khách quan, cũng tự thấy là khó. Rất có thể người viết sẽ bị cả hai phe Phật giáo cùng chê, cùng giận, nhưng biết làm thế nào?.. Tuy công việc khó, nhưng người viết cũng ráng để nói thẳng ra một ít điều; nhất là nêu lên ý kiến thẳng thắn của một số những nhân vật quốc gia và Phật tử, hi vọng rằng «thuốc đắng dã tật». Phật tử thật ra đã buồn lòng rất nhiều, nhiều lắm rồi, từ lâu lắm rồi. Nhưng sinh lực tung vào những cuộc đấu tranh nội bộ, giá mà đem đặt vào những công trình xây dựng văn hóa và xã hội cho đất nước khốn khổ này, như kế hoạch mà Phật giáo Thống Nhất đã nêu lên tại Đại Hội Phật Giáo đầu tiên, sau ngày chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, tại chùa Xá Lợi, thì có phải đã hay biết bao nhiêu cho Phật giáo Việt Nam?
Cứ phải đi tìm một nền Phật giáo thống nhất trong khi Phật giáo đã chia rẽ hẳn.
Vấn đề Thống nhất Phật giáo mà khối Ấn Quang đặt ra từ trước đến nay đã không được đặt trên căn bản thỏa hiệp hoan hỉ và đồng lao cộng khổ. Qua nhiều tuyên ngôn của những nhân vật Ấn Quang từng được loan báo ra ngoài, khối đó biểu lộ một sức đấu tranh lúc nào cũng mạnh mẽ và gay gắt với tất cả các lực lượng khác, và luôn với cả chính quyền (có lẽ vì những cuộc đấu tranh chống chính quyền của mình mà khối đó từng được cảm tình của những giới vốn không ưa người cầm quyền chính, dù giới đó ở những khuynh hướng nào).
Bởi thế mà sự thống nhất Phật giáo, đối với Ấn Quang, chỉ có nghĩa là một cuộc thu hút, một cuộc chiêu hồi. Người ta nhớ lại biết bao nhiêu tuyên ngôn phát xuất từ Ấn Quang (nhất là tuyên ngôn của Giáo hội tiếp theo Đại hội Cư Sĩ vừa rồi — mà Chính Luận đã có phân tích) những tuyên ngôn đó đã từ khước sự thống nhất mà chỉ đặt vấn đề chiêu hồi mà thôi?
Bởi thế mà những người am hiểu, khi thấy vấn đề đoàn kết Phật giáo được đặt ra gần đây, đã không tin tưởng gì cho lắm! Nhất là tình hình nội bộ Phật giáo và tư tưởng chính trị đã đi xa khác trước, nhiều lắm rồi.
Và người ta cũng không quên rằng: dù hai Giáo Hội Quốc Tự và Ấn Quang có đoàn kết lại với nhau một cách chặt chẽ, thì họ cũng chỉ tạo được hình ảnh của một Phật Giáo VN chưa thống nhất, bởi vì cái hình ảnh thống nhất ấy chỉ mới gom được một phần của Phật giáo mà thôi.
Phật giáo VN đã chia ra nhiều mảnh từ lâu!
Người ta nhớ lại hồi Phật giáo đấu tranh chống chế độ Diệm. Lúc đó, Phật giáo có thống nhất, tuy chưa thống nhất được trọn vẹn. Đến khi ông Diệm đổ rồi, Phật giáo đã triệu tập Đại Hội tại Chùa Xá Lợi lần đầu tiên, và đã đưa ra kế hoạch 20 năm của Phật giáo (Lập trường học khắp nơi, mở các công trình cứu trợ xã hội...) và cùng đưa ra Hiến Chương Phật giáo Thống nhất đầu tiên.
Giới Phật tử hết sức vui mừng và hi vọng.
Nhưng sự vui mừng và hi vọng ấy tắt ngấm ngay vì trong nội bộ của Giáo Hội, có những phần tử gay gắt hơn những phần tử khác, nhất quyết đặt nền thống trị lên các thành phần khác của Phật giáo và buộc các thành phần khác phải hủy thể trước một Hội đồng Viện Hóa Đạo có trọn quyền.
Đó là lý do khiến cho Hội Phật Học Nam Việt rút ra đầu tiên, rồi đến các Giáo hội khác của Phật giáo miền Nam.
Hồi đó, những giáo hội li khai đó đã bị đả kích, bị bôi lọ không ít trong khi họ chỉ cố chống đỡ bằng những bản thông bạch trình bày lý do phải li khai. Dần dần người đời hiểu được lý do của những giáo hội Phật giáo miền Nam là hợp lý: họ không muốn bị hủy thể và trao hết vận mạng cho những người không phải là họ, mà họ không tin; họ cũng không muốn bị đưa vào những cuộc phiêu lưu chính trị bất tận, trong khi họ chỉ muốn tu, học, nghiên cứu, một cách hiền hòa.
Và như vậy thì Phật giáo đã chia rẽ từ lâu rồi, đâu phải đến ngày nay mới chia rẽ? Phật giáo Thống Nhất VN khi đó chỉ còn hai khối: khối Tâm Châu và khối Trí Quang (xin lỗi: gọi như vậy cho tiện, mặc dù là không đúng, vì danh hiệu một người không thể biểu hiệu cho cả Giáo Hội).
Bản chất hai khối Phật giáo còn lại
Và, dù nói thẳng ra, thì khối của thầy Tâm Châu là khối của các Phật tử miền Bắc di cư vào Nam, ảnh hưởng của khối này có nhiều ở Saigon Gia Định, các thị xã lớn miền Nam và Nam Trung Việt.
Còn khối của thầy Trí Quang có nhiều ảnh hưởng ở miền Trung, nhất là vùng Thừa Thiên và vùng Quảng Nam.
Để khỏi mang tiếng chỉ là Bắc hoặc chỉ là Trung, mỗi khối Phật giáo nói trên đều cố thỉnh những vị sư miền Nam đứng vào tổ chức của mình. Đồng thời, khối của thầy Trí Quang từ đất Huế tiến vào Nam, để lập thế tại đất Thủ Đô then chốt.
Hai khối còn đoàn kết với nhau qua cuộc đấu tranh tiếp sau đó dù rằng không hoàn toàn đồng ý với nhau. Rồi các sự bất đồng ý kiến xuất hiện dần dần, không những trong quan niệm đấu tranh mà luôn cả trong các quan niệm chính trị nữa.
Cuộc tranh đấu đầu tiên mở ra trong thời kỳ tướng Nguyễn Khánh cầm quyền. Đất Huế đấu tranh đầu tiên, và tụ tập chung quanh thầy Trí Quang lúc đó, là một lô giáo sư và nhân vật đất Huế, xử dụng những tờ tạp chí như trong một quốc gia vô chính phủ, đả kích luôn cả các đảng phái Quốc Gia ở miền Trung hồi đó. Bộ phận của thầy Tâm Châu không hưởng ứng cuộc tranh đấu đó trong lúc đầu, nhưng cuộc tranh đấu cũng đã lan dần vào Nam. Nguyễn Khánh đi vào những vết chân độc đoán, tự cô lập hóa và càng ngày càng yếu, và đến cuối cùng thì Nguyễn Khánh lập mưu đẩy hai khối Phật Giáo và Công giáo chống nhau để Khánh được thoát hiểm .
Tuy nhiên, trước làn sóng sinh viên, học sinh, Khánh chỉ tạm nhượng bộ, lánh mặt một thời gian ngắn rồi lại xuất hiện trở lại, với tất cả uy thế. Uy thế đó về sau chỉ bị đánh đổ là vì cuộc xấp trận của các tướng trẻ, để rồi quyền chuyển sang tay một Thượng Hội Đồng.
Khi cụ Trần văn Hương lên cầm quyền, với sự hỗ trợ của Phật giáo miền Nam, Phật giáo Thống Nhất của hai phái Tâm Châu và Trí Quang đã đoàn kết phát động ngay cuộc đấu tranh chống chính phủ.
Nhưng rồi quyền lại vào tay thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ (Uỷ Ban Hành chánh Trung Ương). Khối thầy Tâm Châu không chống chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ; trong khi đó, khối thầy Trí Quang phát động cuộc đấu tranh ghê gớm, và Huế, Đà Nẵng nổi loạn, các Tư lệnh Tiểu khu, Tỉnh trưởng theo về phe thầy Trí Quang đem quân li khai với chính quyền trung ương, thành lập mặt trận đàng hoàng, chùa chiền biến thành lô cốt. Chính phủ Trung Ương trao quyền đánh dẹp cho đại tá Loan. Mấy tướng đại biểu miền Trung ra ngoài đó đều bị «cháy». Cuối cùng là cuộc đánh dẹp đẫm máu, người chết đầy rẫy, sình thúi kinh khiếp trong các đường phố. Tiếp đó là phong trào «bàn thờ xuống đường», lan cả vào trong Nam. Nhưng cuối cùng, cuộc nội dậy được dẹp yên.
Mở màn những cuộc tranh đấu nội bộ
Dĩ nhiên là trong nội bộ Phật giáo mệnh danh Thống Nhất hồi đó, các sự chia rẽ bên trong đã trầm trọng rồi, vì hàng chục những nguyên nhân khác nhau.
Một bên chủ trương đấu tranh ôn hòa và ẩn nhẫn để gây ảnh hưởng và không còn coi chánh quyền là đối tượng đấu tranh nữa. Còn bên kia nhất quyết đấu tranh chống các chính quyền.
Và đường lối chánh trị, chia rẽ hoàn toàn: một bên có đường lối quốc gia rõ rệt, chấp nhận cuộc chiến tranh chống Cộng để kiến tạo hòa bình (sự kiện thầy Tâm Giác làm Giám đốc Nha Tuyên Uý Phật giáo trong quân lực). Còn bên kia chủ hòa rõ rệt, chống chiến tranh, và không có lập trường rõ rệt đối với Cộng sản.
Những lập trường đó có thể bắt nguồn từ bản chất những con người: Hầu hết các thầy trong khối giáo hội BV di cư là những người Quốc Gia, có những thầy là đảng viên trong những đảng quốc gia cách mạng, sự hiện diện của họ là một biểu hiện chống Cộng (những thầy nòng cốt ở lại BV để tranh đấu tiếp, đã bị Cộng sản giết sau khi họ tiếp thu miền Bắc). Phần khác, có những người trí thức nổi tiếng cầm đầu phong trào tranh đấu của Phật giáo miền Trung đã lộ bộ mặt cán bộ Cộng sản, (như anh em Hoàng phủ Ngọc Tường), khi họ đứng ra làm các công việc cho Cộng quân hồi Huế bị chiếm dịp Tết Mậu Thân.
Cho nên người viết không ngần ngại viết ra để nêu lên một lý do chia rẽ, có thể là lý do trầm trọng nhất: đó là lý do bất đồng chánh kiến. Khi mà chánh trị đã xâm nhập tôn giáo, theo mấy phía khác nhau, thì khó mà thống nhất được. Nói vậy không phải là chê rằng Phật giáo đã để cho chánh trị xâm nhập, — vì trong thật tế, tôn giáo nào cũng có chánh trị, nhất là Thiên chúa Giáo, nhưng tôn giáo khác đã thống nhất được là vì họ thống nhất được chủ trương chánh trị.
Tranh chấp.
Trước khi chia rẽ nhau, những cuộc hội nghị đã mở ra ở VNQT. Đó là những cuộc họp gay gắt. Thầy Trí Quang và các thầy miền Trung đòi hạ bệ thầy Tâm Châu khỏi chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo. Các thầy miền Bắc không chịu.
Những cuộc cãi lộn thật là gay gắt.
(Xem tiếp trang 11)
LÀM SAO GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHẬT GIÁO V.N.?
(Tiếp theo trang 2)
Thầy Trí Quang đã nói: «Những sư Bắc Kỳ thật là lộn xộn!» Thầy Tâm Giác đáp lễ: «Những sư Trung Kỳ muốn gì đây, nói thẳng ra». Những cuộc tranh chấp đưa dẫn đến các tranh chấp địa phương, và những danh từ «sư Bắc Kỳ» từng được tung ra. Đó là những chuyện buồn.
Từ đấy, có giáo hội Việt Nam Quốc Tự và giáo hội Ấn Quang.
Bây giờ, đường hé mở vào thống nhất thì cũng lại bị lấp lại ngay vì cái chuyện Hiến Chương. Hiến Chương thứ nhất của Phật giáo thống nhất đi đến sự phá hủy các giáo phái khác nhau cho nên phái của thầy Tâm Châu không thể chấp nhận, tin chắc rằng Hiến Chương đã làm tan nát Giáo Hội Thống Nhất thì không thể gây lại được nền thống nhất. Trái lại, phái của Thầy Trí Quang đòi phải lấy lại Hiến Chương thứ nhất đó. Phái thầy Tâm Châu đã xin hủy cả Hiến Chương của mình (đã được nhà nước công nhận) để đề nghị cả 2 bên cùng nhau đi tìm một Hiến Chương mới, nhưng cũng không xong. Thế rồi đã xảy ra cuộc đánh chiếm VN Quốc Tự vào tối ngày 3-5-1970, 48g sau bữa tiệc tẩy trần giữa 2 phe tại võ đường Quang Trung của thầy Tâm Giác...
(CÒN TIẾP)
#Chinh Luan May 12, 1970 trang hai
LÀM SAO GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHẬT GIÁO VN?
Bài của TRIỀU-VIỆT (Tiếp theo)
Bài 02
Đề cập đến các biến cố xảy ra
Bây giờ, người viết xin đề cập đến các biến cố đã xảy ra tại VN Quốc Tự. Những chuyện ghi sau có thể là những chuyện bên lề, có thể là ý kiến thâu lượm được tại chỗ, nhưng cái đó mới là quan trọng. Những sự thật được cố tình giấu kín do các tuyên ngôn, hoặc được làm sai lệch đi do những cuộc xách động, thì phải bằng những tình tiết nhỏ, những nhận xét của chứng nhân nhỏ, mới tìm được sự thật.
Cuộc tấn công của lực lượng Ấn Quang
Cuộc tấn công của lực lượng Ấn Quang đã được làm bằng những toán thanh niên mang gậy gộc. Vài ba trăm người thôi, không phải nhiều như người ta thường nói. Đánh chiếm quốc tự chẳng khó khăn gì vì là cuộc đánh bất ngờ. Quốc Tự bao giờ cũng mở rộng cửa đến đêm khuya, người ra vào tự do, và bên trong chỉ có những văn phòng làm việc với những em cô nhi ở vào một khu biệt lập.
Bên chánh điện là nơi thờ tự, chỉ có mấy sư lành hiền. Phía ngoài là mấy dãy nhà cây. Bên trong, phía tay mặt, sau các dãy nhà cây, là văn phòng của các thượng tọa và ngôi nhà bê tông lớn dùng làm trường học, xây cất chưa xong.
Đoàn người mang gậy gộc cứ tự do tiến vào, sục sạo các nơi và trấn đóng. Những biểu ngữ được căng ra: "Yêu cầu chánh quyền dừng can thiệp vào việc nội bộ Phật giáo". Đoàn người lùng tìm thượng tọa Thích Minh Thành, Viện trưởng Viện Hóa đạo của VNQT và bắt buộc phải ký vào tấm giấy xin "hồi chánh" và "giao chùa" đã được làm sẵn. Chính một dân biểu trong đám biểu tình chiếm chùa đã buộc thượng tọa Thích Minh Thành phải ký giấy, "và không ký thì sẽ bị các hình phạt".
Không ai lạ gì khí thế của những đám đông, chỉ một tiếng hô là có thể đưa con người đến sự tàn sát. Thượng tọa Minh Thành đã phải ký, — nhưng đó là sự ký kết trong cảnh hăm dọa và ép buộc.
Đến đây, chúng ta chưa nói đến những thầy nào ở Ấn Quang tổ chức cuộc cướp chùa. Nhưng ai cũng có thể đoán được rằng đây là hành động của toàn ban lãnh đạo Ấn Quang, khó có bàn tay thứ ba xía vào mà xách động được. Bởi lẽ có bàn tay thứ ba xía vào, thì thành thử khối Ấn Quang tổ chức quá lỏng lẻo và uy tín các vị sư không có hay sao? Người ta cũng biết rằng thầy Trí Quang tuy kín tiếng và dấu mặt, nhưng bao giờ thầy cũng là người chỉ huy tối cao có thẩm quyền quyết định cuối cùng (nhưng sau đấy nếu thấy bảo rằng thầy không nhúng tay vào vụ chiếm đánh Việt Nam Quốc Tự, thì người Phật tử cũng cứ việc vui mừng, — ít ra, đó là cái cửa mở ra cho ý định hòa giải).
Phật tử Vĩnh Nghiêm sôi động
Tin lan truyền rất mau chóng trong ngày mùng 4 và các Phật tử miền Vĩnh Nghiêm, nhất là trong vùng Bàn Cờ và phường Phan Thanh Giản, kéo đến trước chùa rất đông để xem. Người viết cũng có mặt trong những đám đông đó và ghi nhận sự lo lắng của nhiều người:
— Không biết các thầy trong đó ra sao? Có bị đánh không? Bị cầm tù hết rồi chăng? Người ta có tiêu hủy các sổ sách giấy tờ không?
— Không biết các máy may và vật dụng học nghề thế nào?
— Các em cô nhi có việc gì không?
Một bà cụ nắm lấy tay tôi:
— Sợ lắm ông ơi, kìa ông trông những người đằng đằng sát khí kìa. Phật tử người Trung trong xóm tôi đấy. Tôi không dám phê bình gì, sợ chúng đánh.
— Phần lớn những người xầm xì với nhau cho rằng lực lượng Nhu Đạo của thầy Tâm Giác thế nào cũng xuất hiện để lấy lại chùa. Thầy Tâm Giác có cả chục ngàn võ sinh và cán bộ thừa sức làm được việc đó. Người khác bảo:
— Nhưng có thể thầy Tâm Giác sẽ khiếu nại với chính quyền, và chính quyền sẽ đưa lực lượng đến!
— Nhưng người ta đã yêu cầu "chánh quyền đừng can thiệp vào việc nội bộ Phật giáo" mà!
— Có một việc nội bộ Phật giáo, nhưng cũng có một việc vô cớ mà chiếm nhà bất hợp pháp. Chủ nhà khiếu nại thì chánh quyền phải lo bổn phận mình, cũng như lần trước chánh quyền cho lực lượng bảo vệ chùa đó thôi? Vả chăng, đã có hai Giáo hội khác nhau, làm chi có chuyện nội bộ Phật giáo nữa.
— Nhưng chính quyền sẽ bị công kích chứ!
— Nói cho đúng ra, vụ chiếm Quốc Tự này là một cái đấm đánh vào giữa mặt chính phủ. Chính phủ đã không biết bảo vệ cho một giáo hội được nhà nước công nhận.
Người ta bàn nhau xem những gì sẽ xảy ra. Nhưng những người dân chờ đến 11, 12 giờ đêm cũng chẳng thấy gì, họ lục tục về nhà ngủ...
Trận đánh chiếm lại Việt Nam Quốc Tự.
Bây giờ nữa, bảo rằng thầy Tâm Giác, thầy Tâm Châu và thầy Đức Nghiệp chẳng biết gì về cuộc tấn công chiếm lại VNQT, thì cũng lại là một chuyện phi lý. Trong ngày mùng 4, biết bao nhiêu nhân vật có cảm tình với thầy Tâm Giác đã đến tận nơi dâng kế. Đích thân thầy Tâm Giác phải huy động những lực lượng của mình để chiếm lại VNQT, đó là một chuyện tự nhiên.
Dĩ nhiên, sau đó, nếu mấy thầy bên Việt Nam Quốc Tự cải chánh rằng mình không hay biết gì về cuộc tấn công chiếm lại Quốc Tự, thì người ta cũng hiểu rằng các thầy nói vậy thôi, chứ sự thật là khác, nhưng đó lại cũng là một điểm đẹp để khỏi chặt cây cầu, khỏi cạn tàu ráo máng với nhau.
Vậy ta hiểu như sau:
— Các thầy Trí Quang, Thiện Minh, Huyền Quang, Thiện Hoa đã tổ chức cuộc cướp ngôi chùa Quốc Tự, — rồi thầy Trí Quang bảo là không biết.
— Và các thầy Tâm Giác, Tâm Châu, tổ chức cuộc tấn công cướp lại chùa, các thầy lại cũng bảo là mình không biết.
— Thì cả hai bên cùng tương đương nhau, — và nếu phải coi đó là một cái để vớt vát lại sau khi hành động, thì âu cũng là một điểm đẹp, tuy các chuyện đã lỡ hết.
Vậy thì, một số lực lượng VN Quốc Tự với nòng cốt là lực lượng Vĩnh Nghiêm, được tập hợp lại. Đủ các hạng người. Có những nhà báo, những phật tử, thông thường vẫn làm việc bên cạnh các thầy. Có một số võ sinh nhu đạo (không huy động được nhiều trong vòng 12g). Có cả một số nhân viên trong Nha Tuyên Úy nữa. Không có bao nhiêu, chừng một vài trăm người. Trong buổi đêm, họ tập họp trong những ngôi nhà ở khu vực các xóm hẻm phường Phan Thanh Giản, ở phía trước VNQT, hoặc tại các ngôi chùa trong phường. Rồi đến giờ tiến công. Họ chỉ phải chạy ngang qua lề đường Trần Quốc Toản. Một vài sĩ quan tòng sự ở Nha Tuyên Úy lái xe Jeep chạy đến (những người này về sau bị cơ quan công lực bắt).
Những nhân dân tự vệ khoái con mắt và xúc động đứng trong các hẻm mà bắn súng cho vui. Trận đánh lâu đến 3 giờ đồng hồ thì cũng phải kể là kỳ phùng địch thủ. Hai bên cùng dùng gậy mà đập nhau, cùng hăng hái như nhau, nhưng bên thầy Tâm Giác lại có những võ sinh nhu đạo thì đó cũng là một cái lợi. Lực lượng Quốc Tự dần dần trội hơn, và những chiến sĩ sót lại của Ấn Quang cuối cùng tháo chạy, trong ánh lửa của dẫy nhà bị đốt. Trong lúc đánh nhau, người ta đã không quên tổ chức một cuộc phá hoại.
Lực lượng Quốc Tự đã chiếm lại ngôi Chùa, trụ sở của Giáo hội. Ta chỉ còn nói thêm rằng, chuyện chỉ có vậy, và phái Quốc Tự đã có những cán bộ lo việc chiếm lại chùa, trận tái chiếm không cần có mặt thầy Tâm Giác hoặc bất cứ thầy nào khác, bởi vì không ai dại mà chường mặt ra đó.
Vậy để nói cho đúng thì thầy Tâm Giác tổ chức trận sau mà không dại có mặt, cũng như thầy Trí Quang tổ chức trận trước mà cũng không dại có mặt tại nơi trận địa.
Ấn Quang lập mê hồn trận tài tình...
Qua bao nhiêu kinh nghiệm đấu tranh, khối Ấn Quang đã tỏ ra tài giỏi vượt bậc trong các công trình xách động và chiến đấu.
Buổi sáng ngày mùng 5 tháng 5, trong khi những người quen bàn chuyện chánh trị còn đương luận về cái sự "Cao Biền dậy non" của phái Ấn Quang thì phái Ấn Quang mất VNQT nhưng đã đương thắng keo xách động đầu tiên.
Mấy anh quốc gia từ trong các hẻm ở phường Phan Thanh Giản, đến ngay trước VNQT để quan sát. Dãy nhà còn đương cháy phừng phừng. Cảnh Sát Dã Chiến đương lo chở những "chiến sĩ" đi nhà thương, không phân biệt bên nào. Một anh đứng xem, nói:
— Tình trạng Đô Thành đã đến nỗi nát bấy, mà Ấn Quang đã vội hành động vậy? Chỉ một toán Cảnh Sát Dã Chiến là đủ xong chuyện hết.
(Xin mở dấu ngoặc tại đây. Người vừa nói như vậy đã chỉ quan sát ở bề ngoài, thấy Cảnh Sát ra vô và gác Quốc Tự thì đề quyết là Cảnh Sát đã can thiệp. Trong thực tế, thì Cảnh Sát thường chỉ làm công việc như bất cứ cuộc đánh nhau nào khác: trước khi người ta đánh nhau, thì không có ai can; sau khi người ta đánh nhau lổ đầu sứt trán rồi Cảnh Sát mới ló mặt tới, để làm biên bản và đưa kẻ bị thương vào bệnh viện. Và như vậy là Cảnh Sát lạc vào mê hồn trận của sự xách động, bởi lẽ đây không phải là trận đánh nhau thường).
Một anh khác nói:
— Trêu vào tay ông Tâm Giác là khó lắm. Hồi Phật giáo chống nhà Ngô, một tay ông Tâm Giác quật ngã 8 tên Mật Vụ lực lưỡng. Bị bắt và bị tra tấn, ông vẫn tiếp tục đánh các Mật Vụ. Sau họ phải đập ông ta chết giấc, đem treo ngược lên xà nhà, mới tra tấn ông ta được!
(Xem tiếp trang 11)
LÀM SAO GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHẬT GIÁO V. N. ?
(Tiếp theo trang 2)
Phái Ấn Quang đã lợi dụng ngay vụ tái chiếm VN Quốc Tự, bằng những cuộc xách động loan tin lanh lẹ một cách kỳ ảo. Chỉ cần 1 thầy loan báo có 10 người chết, có ông Đô Trưởng lái xe đến chở xác chết đi, có lính đến bắn hàng loạt đạn, và có những xác liệng vào đám cháy cho mất tích … là đủ cho tin tức loan đi như gió, qua miệng những anh tắc xi, xích lô, không cần chờ đến báo chí hôm sau thuật lại. Trong ngày mùng 5, trái lại, các thầy Quốc Tự cứ im lìm. Các thầy «tỉnh người» sau vụ Quốc Tự bị chiếm, đã tỉnh người hơn nữa, khi đọc báo và thấy có cả một lớp người từ những dân biểu đến những thượng tọa gọi mình là giáo gian và đòi đem ra chặt đầu! Ngày mùng 6, các thầy mới họp báo và chỉ có một số báo đăng lèo tèo những lời chống đỡ yếu ớt của các thầy vào ngày mùng 7. Vậy là đã chậm rồi.
Và cái anh bạn không hiểu tại sao Ấn Quang tấn công chiếm VNQT một cách quá sớm để rồi bị đánh bật ra, lúc đó mới hiểu rằng «Ấn Quang chẳng mất chi hết! Vì đánh chiếm Quốc Tự mà chiếm được luôn, thì kể như thắng! Còn không chiếm được mà bị đánh bật ra, thì tức là đã có lý do xách động. Đàng nào cũng lợi, — vì Ấn Quang biết chắc rằng phái Quốc Tự dở về chính trị, không biết xách động, thế nào phái Quốc Tự cũng cho đầu vào bẫy. Phái Quốc Tự phải «tỉnh người» là vì chỗ đó!
#Chinh Luan May 13, 1970 trang hai
LÀM SAO GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHẬT GIÁO VN?
Bài của TRIỀU-VIỆT (Tiếp theo)
Bài 03
Lỗi của bên này...
Mở trận tấn công chiếm VN Quốc Tự, các thượng tọa và đại đức bên Ấn Quang đã làm một việc "không tốt đẹp". Đứng về phương diện thuần đạo pháp mà nói, Phật tử nào cũng biết rằng "sư đâu thì chùa đấy", sư mà thanh tịnh và được kính trọng, thì sư chỉ cần ngồi dưới một gốc cây, là gốc cây thành chùa. Cho nên cái chuyện tranh chùa chẳng tốt đẹp chút nào.
Trong những năm qua, những chuyện tranh chùa hoặc xoay tiền làm chùa vẫn có, nhưng may đó là những vụ nhỏ và không phát giác ra ngoài. Đến nay chuyện cướp Việt Nam Quốc Tự trở thành chuyện lớn, vì đó là ngôi chùa thuộc một Giáo Hội có Hiến Chương và có Nhà Nước công nhận; vì ai cũng hiểu rằng đó là chuyện một Giáo Hội này đi cướp của Giáo Hội kia; và vì, sau cuộc cướp chùa lại có một cuộc đánh chiếm lại...
Sau khi các biến cố xảy ra, phái Ấn Quang đã tung ra một cuộc xách động dữ dằn, nhưng trước sau vẫn không thể dập tắt được hai sự kiện:
1— Chính phái Ấn Quang đã đánh trước (cướp Chùa trước).
2— Chính là Giáo Hội Ấn Quang đã chủ trương việc đó, chứ không phải là một thành phần vô kỷ luật đã làm ẩu. Trong những cuộc họp báo, các thượng tọa trong Viện Hóa Đạo Ấn Quang đã ngồi trên để yểm trợ cho các đại đức Pháp Siêu, Huyền Diệu và Nhật Thường, là những đại đức đã đích thân cầm "quân" đi đánh chiếm Quốc Tự.
Muốn gỡ lại cái lỗi "đánh trước", các vị ở Ấn Quang đáng lẽ phải trước tiên phủ nhận việc đánh Quốc Tự và trừng trị các đại đức Pháp Siêu, Huyền Diệu, Nhật Thường, rồi tha hồ đả kích hành động của đối phương. Nhưng các vị đã không làm như vậy.
Một vấn đề khác được nêu ra để giải thích cho hành động cướp chùa. Cướp chùa không phải là hành động để tạo thống nhất, chỉ là hành động để phá thống nhất. (tiện đây, xin thưa với quý vị rằng, muốn tìm bàn tay thứ ba đã phá thống nhất Phật Giáo, xin quý vị tìm xem kẻ nào đã thúc đẩy quý vị tổ chức cuộc cướp Quốc Tự?).
Lý do nào đã gây ra hành động cướp Chùa? Phải chăng là nhu cầu phải cướp lấy chánh nghĩa? Chúng tôi thiết nghĩ: chánh nghĩa là ở các việc làm ích quốc lợi dân và tốt đẹp cho đạo pháp, chứ không phải ở một địa điểm, cũng không phải ở một Hiến Chương. (quý vị vẫn có Hiến Chương đó thôi?! Nhà Nước không công nhận, nhưng quý vị có thể tranh đấu để Nhà Nước công nhận, đó là một câu chuyện khác, là chuyện của quý vị với Nhà Nước và lúc ấy nhiều người có thể sẽ hỗ trợ quý vị việc đó để quý vị hoằng dương đạo pháp, làm việc lành cho xã hội)
... Và lỗi của bên kia
Người Phật tử không chấp nhận được việc cướp Quốc Tự thì cũng không thể chấp nhận được hành động tấn công cướp lại ngôi Chùa đó.
Một "cán bộ" của miền Vĩnh Nghiêm có cho hay:
— Hành động đánh chiếm lại Chùa là hành động của người tự vệ. Cướp vào nhà thì mình phải đánh. Cộng quân Bắc Việt vào Nam thì mình kháng chiến đánh bật ra. Lỗi không thể đổ lên đầu kẻ bị đánh trước.
Trong việc đánh chiếm phải có sát phạt; mà ở đây chỉ có gậy gộc. Mọi chuyện người chết hoặc súng đạn chỉ là bịa đặt. Giả sử vào đêm 3-5, chúng tôi có nhiều người giữ Quốc Tự lúc Ấn Quang đến đánh, thì có phải đã có nhiều người bị thương rồi không?
Một cán bộ khác của Giáo hội Quốc Tự nói:
— Chúng tôi đã hành động đến mức tối thiểu và chỉ trong phạm vi tự vệ, nghĩa là chỉ lấy lại cái gì đã mất.
Trong ngày 4 tháng Năm, đã có nhiều nghị sĩ, dân biểu và những nhân vật Phật giáo đến đưa đề nghị chiếm luôn ngôi chùa Ấn Quang, và hành động những gì như Ấn Quang đã hành động với Quốc Tự, nhưng chúng tôi đã không làm như vậy, vì không muốn gây thù oán và chặt đứt cây cầu. Chúng tôi đáng được cảm thông như bất cứ những dân tộc và phe nhóm nào bị xâm lăng. Chúng tôi cũng không thể bị trách cứ cũng như các nhà sư kháng chiến Tây Tạng cởi bỏ cả áo cà sa để khoác chinh y không thể bị trách cứ.
Tuy được nghe những lời giải thích thật tế ấy, chúng tôi vẫn cho rằng việc đánh chiếm Quốc Tự là một việc không hay, vì các lý do sau đây:
1) Lấy sức đấu sức không phải là hành động của con nhà Phật. Lấy ân báo oán, oán oán tiêu tan; Lấy oán báo oán, oán oán chập chùng: lời Phật đã dạy như vậy kia mà. Vả chăng, người khác đã lỡ, mình lại theo vết xe của người khác sao đang?
2) Chẳng xá gì một mảnh đất Quốc Tự, người ta chiếm của mình, thì mình cho luôn; uy tín tạo nên là do những sự kiện khác (các hành động giúp ích nhân dân, hoằng dương Phật pháp) chứ không phải là do việc cướp lại được mảnh đất.
3) Đứng về phương diện tâm lý, cứ để cho mất Quốc Tự đi, rồi lấy cái đó làm động cơ huy động Phật tử tiến mạnh mẽ vào các hoạt động tổ chức, phát triển và làm việc xã hội thì hay biết mấy?
Nếu là kẻ hèn này được tham dự vào việc bàn mưu đối phó vụ Quốc Tự bị chiếm, kẻ hèn này sẽ đề nghị:
— Quý thượng tọa, đại đức và quý ni, quý bà Phật tử, sẽ bình tĩnh đến cắm trại tại lề cỏ trước VNQT đủ 3 ngày, tụng kinh gõ mõ... Nếu bị đánh cứ nằm trơ ra chịu chết!?
— Một phái đoàn sẽ đến yết kiến các vị Ấn Quang, để yêu cầu trả lại ngôi Quốc Tự.
— Một lần yêu cầu không được, thì 10 lần yêu cầu, 100 lần yêu cầu...
Làm như vậy, sẽ đến lúc Ấn Quang phải trả lại ngôi Quốc Tự, và một chút hòa khí sẽ không mất; dù chút hòa khí ấy chỉ còn 1/100, cũng cứ ráng giữ lấy. Kế hoạch ấy chỉ phiền có một điều là Ấn Quang sẽ rầm rộ lợi dụng trụ sở VN Quốc Tự để làm những cuộc xách động, tranh đấu khác,— nhưng đó cũng không phải lý do để e ngại. Nếu Ấn Quang làm được gì, cứ để Ấn Quang làm. Ấn Quang mà vươn lên được, thì giáo hội bên này há chẳng theo bước mà vươn lên được hay sao?
Khốn thay, lòng con người làm sao bằng được lòng Phật để thực hành «hạnh bố thí» như Phật đã làm, cho hết của cải, cả đến con, đến vợ! Cuộc đời thì bao giờ cũng đầy tranh đấu, đầy sát phạt. Nam mô Phật!
Những sự kiện sau khi cuộc đánh nhau đã xảy ra
Chúng tôi gọi là cuộc đánh nhau cho đúng nghĩa, chứ không gọi là cuộc tàn sát, vì không có người nào chết ở VNQT. Và chúng tôi ghi như vậy, sau khi tự mình có những điều tra riêng...
Những người chủ chốt ở phái Quốc Tự quả quyết là không có ai chết. Các phúc trình của cơ quan công lực bảo là không có ai chết. Có vị bên Ấn Quang bảo là có 10 người chết, có mấy người chết bị liệng xác vào lửa và ông Đô Trưởng lái xe Jeep chở đi hai cái xác để phi tang. Những điều đó về sau không được xác nhận là đúng, đó chỉ là những tin tức tung ra vì nhu cầu xách động. Chúng tôi có hỏi những người dự kiến từ trên các tầng lầu của các ngôi nhà ở đằng trước Quốc Tự, họ nói: «Không thể có xác liệng vào lửa, vì không thấy mùi khét».
Về sau, chính phái Ấn Quang xác nhận có 2 người chết, và họ chỉ đòi 2 cái xác mà thôi. Nhưng có một cái xác đã «sống lại» rồi: đó là anh Nguyễn Hòa Bình, con trai của giáo sư Hoàng Châu, anh này đã ra trước Tòa và khoẻ mạnh. Anh là một trong số những người của cả 2 phe Quốc Tự và Ấn Quang bị Cảnh Sát bắt về tội đánh nhau.
Sau khi các việc đáng tiếc xảy ra rồi, chúng tôi ghi nhận một số những sự việc tiếp theo sau.
Trong số những sự kiện ấy, có những chuyện tốt đẹp: việc thành lập một Ủy Ban hàn gắn (chỉ tốt đẹp có nửa chừng!) và có một số các vị sư thuộc cả hai phái đã lên tiếng rằng «mình không dính líu đến các việc đã xảy ra».
Nhưng lại có những việc không tốt đẹp, và đó là những lời chửi rủa lẫn nhau, những cuộc xách động thiếu sự nhã nhặn.
Thầy Trí Quang bảo rằng mình không hay biết gì về vụ chiếm Quốc Tự do phái Ấn Quang thực hiện đêm 3-5. Đúng vậy là hay biết bao. Thầy Trí Quang lại bảo rằng «thầy sẽ cố gắng để thực hiện cuộc hàn gắn và hòa giải!» Như vậy cũng là hay biết bao! Phật tử chỉ mong có vậy.
Bây giờ, việc đầu tiên mà thầy Trí Quang cần làm là dập tắt những lời chửi rủa những người cầm đầu Giáo Hội bên Quốc Tự như các thầy Tâm Châu, Tâm Giác, Đức Nghiệp.
— Gọi những thầy đó là «giáo gian» để đòi «chặt đầu» thì làm sao mà quan niệm thống nhất Phật giáo được? Chẳng lẽ sau này lại thống nhất với «những tên giáo gian đáng chặt đầu»? Một vài kẻ nhờ thời nhẩy được lên bàn địa vị, một cô điếm đàng; vài chàng trai lãng tử mà cũng chửi được các nhà tu cầm đầu Giáo Hội, thì còn ra thể thống gì? Rồi lại thượng tọa bên này chửi thượng tọa bên nọ, cũng bằng những danh từ như vậy, thì thật là đáng buồn. Bảo rằng «cần thống nhất» mà chủ trương như vậy là «chặn đường thống nhất». Chửi như vậy là sỉ nhục chung Phật giáo và tự sỉ nhục mình.
Ngoài ra những lời chửi nặng nề, còn cần chấm dứt những lời xách động. Sự kiện xách động «có nhiều người chết» có dụng ý để làm khơi động sự căm hờn của Phật tử, để Phật tử sẵn sàng lao đầu vào chỗ chết. Nhưng nếu đã có chuyện xách động thì cũng phải tới lúc các lời xách động hết còn đúng sự thật nữa!. Cho đến hôm bài này được viết, số người chết từ 10 đã tụt xuống là 2, và trong số 2 người chết này, thì 1 người đã xuất hiện bằng xương bằng thịt trước Tòa, như đã nói trên.
Một hướng xách động khác là lôi đầu các thầy Tâm Giác và Tâm Châu ra, để bảo rằng các Thầy đích thân chỉ huy trận chiếm lại ngôi Quốc Tự. Bảo rằng các thầy có ra lệnh, còn có thể nghe được (cũng như các thầy điều khiển phái Ấn Quang đã ra lệnh chiếm Quốc Tự hôm trước),— chứ bảo rằng các thầy đích thân đi đánh thì là bịa đặt để xách động quá đà, tức là phải có lúc bị người ta nhận thấy.
Tờ Độc Lập đã nhận xét rằng ni cô Như Nghiêm, do Ấn Quang đưa lên để xách động, đã tố cáo thầy Tâm Châu nguy trang mặc áo ngắn, tay cầm súng Colt, đầu đội nón rách. Cũng ni cô đó lại báo cáo gặp thầy Đức Nghiệp và nghe thấy hết những lời thầy nói. (Tờ Độc Lập đã kể rằng «các tiểu thuyết gia nghe ni cô kể, đều khóc mà xin giải nghệ, vì họ tuy có nhiều khả năng tưởng tượng mà vẫn còn thua ni cô, vì không tưởng tượng nổi cảnh thầy Tâm Châu đội nón rách, mang súng Colt»).
Nhưng trước đó, một nhà sư Ấn Quang đã bảo rằng «đích mắt trông thấy Thầy Tâm Giác, Tâm Châu, mặc cà sa, chùm khăn, đứng chỉ huy trận đánh». Và một nhà sư khác họp báo lại hét lên «Chính mắt tôi trông thấy Tâm Giác mặc quân phục đeo lon đại tá, bắn 3 phát tiến quân». Báo Độc Lập phê bình «Thế là lời mô tả sau chửi bố cái lời mô tả trước!»
Những lời xách động về cuộc «tàn sát» có mục tiêu gây phẫn khích và xua Phật tử vào cuộc chém giết, tuy nhiên có thể có hậu quả khác hẳn là làm cho Phật tử sợ sệt và chán nản. Chính Luận, số báo ngày 10 và 11-5, đã kể rằng, đại lễ cầu siêu cho các nạn nhân vụ «thảm sát ở Quốc Tự» chỉ có 50 người dự, và luật sư Nguyễn Hữu Doãn, trưởng đoàn Phật tử Thiện chí, đã lắc đầu than rằng «cha mẹ các em ngăn cấm, không cho con đi, sợ gặp chuyện không may». Phản ứng của Phật tử như vậy là một tiếng chuông cảnh cáo.
Còn 1 kỳ. — Làm sao đi đến một giải pháp? Ủy Ban Hòa Hợp Phật giáo sẽ làm được gì không?
#Chinh Luan May 14, 1970 trang hai
LÀM SAO GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHẬT GIÁO VN? (Bài 04 — tiếp theo và hết)
Bài của TRIỆU-VIỆT
Cần đi đến thống nhất thì phải làm gì?
Nam mô Phật! Nếu cần để Phật giáo VN thống nhất lại thì người ta phải:
1— Cởi bỏ hết hận thù.
2— Tôn trọng lẫn nhau và biết công nhận những ưu điểm của nhau.
3— Quan niệm một nền thống nhất rộng rãi chứ không phải chỉ gom có hai phái mà thôi.
4— Phải biết đi tìm một thế đoàn kết mới mẻ và thích hợp.
Và nếu không thể tạo được những điều kiện như vậy, thì người ta hãy dứt khoát với nhau cho xong, để cho Phật tử được yên lành.
Đó là đề tài của bài cuối cùng về các vấn đề Phật giáo mà chúng tôi xin trình bày.
Về Ủy ban Hòa hợp Phật giáo
Tin tức ngày 11-5 cho biết có 3 đại đức và 1 thượng tọa đã ăn tiệc chay do Luật sư Liễng thết. Nếu tiệc chay đó thành hình được thì tức là người đứng ra để mời các vị lãnh đạo hai giáo hội gồm các vị chân giáo và các «đại giáo gian đáng chặt đầu» đến dự tiệc đã ngồi với nhau. Người ta mỉm cười về những hậu quả của những cuộc xách động quá đà. Tiệc chay mà đã có, ta phải mừng rằng các vị Ấn Quang đã phải hạ mình mà công nhận «giáo gian» và các vị Quốc Tự đã không thèm chấp nhất (nhất là 3 đại đức đứng mời và người thiết tiệc đều thuộc phe Ấn Quang).
Được biết: Ủy Ban Hòa Hợp Phật giáo gồm có 4 người là Nghị sĩ cựu tướng Trần Văn Đôn, luật sư Trần Ngọc Liễng, Giáo sư nguyên Tổng trưởng Vũ Văn Mẫu...
Ủy Ban đó sẽ làm được gì, trước hết phải do thành phần của Ủy Ban có xứng đáng để làm việc đó hay không — không nói đến sự xứng đáng về đức độ và về đường lối chính trị, mà chỉ nói về sự xứng đáng được cả hai phái Phật giáo tín nhiệm.
Nghị sĩ Trần Văn Đôn vừa đây đã theo phái Ấn Quang, kết quả ra sao thì không ai biết về phương diện chính trị. Sự kiện đó có thể do việc Nghị sĩ Đôn muốn nhờ Ấn Quang hỗ trợ về phiếu trong cuộc bầu sắp tới; cũng có thể do việc Nghị sĩ Đôn và Ấn Quang muốn liên kết với nhau về chính trị, vì cùng một con đường chủ hòa, của khối thứ ba, và cùng chống chính quyền. Một vài nguồn tin cho rằng Ấn Quang vẫn muốn đứng thế riêng, không chấp nhận sự dính líu của Nghị sĩ Đôn. Nhưng dầu sao thì Nghị sĩ Đôn cũng có thể được coi là người của Ấn Quang hay là thân Ấn Quang. Ai cũng biết vậy.
Luật sư Liễng cũng có tánh chất tương tự. Trước kia, ông Liễng là đệ tử của thầy Tâm Châu, và chính thầy Tâm Châu giới thiệu cho ông vào làm Tổng trưởng Xã Hội trong chính phủ của thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ. Về sau, ông Liễng đổi chiều, chủ trương trung lập và chạy sang ủng hộ Ấn Quang nhưng không được Ấn Quang chấp nhận (và ông Phó Tổng thống Kỳ cũng đã kể nhiều chuyện ngộ ngộ về ông Liễng).
Giáo sư Vũ Văn Mẫu là cựu Tổng trưởng trong chính phủ Ngô Đình Diệm — nhưng đến những ngày cuối cùng của cuộc đấu tranh Phật giáo, ông đã gọt tóc và rời chính phủ Diệm. Đó là một điểm son. Làm luật sư, ông đã mạnh miệng đứng vào lập trường những người tranh đấu. Có lẽ ông là một Phật tử không thiên bên nào, và ông đã tự mình tạo uy thế riêng, không vì chính trị hay vì đường sanh kế mà đi nhờ vả một phái Phật giáo này hay phái Phật giáo nọ.
Xét thành phần như trên, ông Vũ Văn Mẫu có thể được đóng vai trò của mình trong cuộc hòa giải 2 phái Phật giáo, và người ta không chắc rằng ông Đôn và ông Liễng sẽ đóng được vai trò trung gian hòa giải một cách hiệu nghiệm.
Những ai có thể ngồi thêm vào Ủy ban Hòa hợp để cho Ủy ban có đầy đủ tín nhiệm và hiệu lực?
Đưa vụ Phật giáo trao cho Quốc hội
Tin tức ngày 10-5 cho biết rằng các thầy có thẩm quyền thuộc cả hai khối Phật giáo nói rằng «chờ mong chính phủ thực tâm điều tra nội vụ để truy tố thủ phạm» — nhưng nghị sĩ Đôn nói rằng «chính phủ không muốn can dự vào nội vụ, nên các thượng tọa chờ mong ở Quốc hội giải quyết».
Trong khi đó thì Tổng Nha Cảnh sát, trong thật tế, đã điều tra, lập phúc trình và tiếp tục điều tra nữa... Nhưng các thủ tục vẫn được tiến hành để đưa lên cho Quốc hội lập Ủy ban điều tra. Tuy nhiên, hình ảnh chia rẽ bê bối và không khí xách động thiếu đứng đắn trong Hạ viện, và thành phần đa số Công giáo ở Thượng Viện khiến cho cuộc điều tra của Quốc hội đối với vụ Phật giáo sẽ mất hẳn ý nghĩa tốt đẹp.
Quốc hội xía vào chuyện Phật giáo, tức là chuyển cuộc đấu tranh trong khối Phật giáo vào trong nội bộ của cơ quan Lập Pháp và càng đưa đến những cuộc tranh chấp kém tốt đẹp. Việc hòa hợp Phật giáo do đấy sẽ khó thành và chỉ càng rắc rối thêm, bởi chính các cơ quan Lập Pháp vốn gặp rắc rối trong nội bộ, với những phần tử thiếu đứng đắn và không quan niệm đúng mức sinh hoạt dân chủ.
Vả chăng, người ta thấy rõ từ trước những gì sẽ xảy ra. Những nghị sĩ và dân biểu thân Ấn Quang sẽ vận động mạnh để vào Ủy ban đó hầu lái cuộc điều tra bất lợi cho phái Quốc Tự, tuy nhiên, đa số trong Quốc hội sẽ có những cuộc bỏ thăm mà người ta đoán được trước, cuối cùng là người ta sẽ được nghe những tuyên ngôn vung vít của những phần tử thiếu số vốn đã vung vít rồi.
Cuối cùng, Hiến Pháp không trù liệu những cuộc điều tra đối với các phần tử tư nhân như vậy. Điều 41 [ Hiến Pháp VNCH 1967 ] chỉ ghi rằng: «Thượng Nghị Viện có quyền mở cuộc điều tra về sự thi hành chính sách Quốc Gia và yêu cầu các cơ quan công quyền xuất trình các tài liệu cần thiết cho cuộc điều tra này». Đạo luật không cho Hạ Viện quyền điều tra, và chỉ cho Thượng Viện điều tra về việc làm của Hành Pháp mà thôi. Nếu Quốc Hội xía vào chuyện của những đoàn thể tư nhân, thì mai mốt có thể sẽ phải điều tra cả những vụ vợ chồng đánh lộn hoặc bạn hàng chửi nhau tại chợ.
Điều cần đặt ra: việc thống nhất Phật giáo
Lại cần phải nói thêm một điều: là Quốc hội có làm được cuộc điều tra đi nữa, thì cũng không phải cuộc điều tra ấy làm cho sự thống nhất Phật giáo trở nên dễ dàng. Mà, trong hiện tại, đối với Phật tử, sự thống nhất Phật giáo là cần thiết hơn hết — mà nếu không thống nhất được, thì ít nữa cũng có cuộc hòa hợp hoặc cuộc «sống chung hòa bình», để cho Phật tử hết còn đau buồn và mắc cỡ.
Đã đặt vấn đề cần thống nhất Phật giáo, thì điều trước tiên là phải hỏi xem: những phái trong cuộc có thành tâm chịu đoàn kết với nhau không đã? Nhưng thành tâm là một chuyện, mà lại còn chuyện khác là sự phá phách của bàn tay thứ ba nữa. Bàn tay thứ ba này là ai? Có những người bảo là bàn tay lông lá, ám chỉ ngoại bang; hành động qua những người trung gian đem gài vào phe này và phe kia, để xúi dục cướp chùa và xúi dục hai phái chửi nhau cho đã đời.
Tuy nhiên, bảo như vậy thì lại hóa ra là các thượng tọa, đại đức của chúng ta còn ấu trĩ quá, đến nỗi cứ phải đi nghe kẻ thứ ba để cướp chùa và chửi nhau như những kẻ thấp kém; hoặc là nghe những nhân vật ngoài, nghị sĩ, dân biểu, đã tuyên bố vung vít và bịa đặt, xúi dục? Hoặc là khoái tỉ mà đọc những tờ báo ủng hộ mình, những báo này phóng đại các lời tuyên bố, để rồi chính mình phải hoảng sợ rằng mình là người tu hành mà lại «cứ đòi máu trả nợ máu», cứ thành lập «những đoàn quyết tử», cứ «đòi lấy đầu người ta», và cứ vạch trần áo ra cho người đời được dự vào một màn chửi nhau không tiền khoáng hậu giữa các thượng tọa vốn là khả kính.
(người viết xin mở một dấu ngoặc: tờ báo Chính Luận đã luôn luôn trình bày đúng sự thật không thêm bớt, và do đấy tự hào là đã phục vụ đứng đắn cho Phật giáo nói chung, và cả hai phái Phật giáo nói riêng. Hẳn là đã được thấy những lời chửi rủa lẫn nhau không được tốt đẹp, — cho nên Ấn Quang đã có lệnh chỉ có một phát ngôn viên chính thức là thượng tọa Huyền Quang mà thôi. Nói cách khác là phủ nhận những lời tục tằn hạ cấp của những thượng tọa và dân biểu khác).
4 điều kiện để hòa hợp.
Việc thống nhất Phật giáo cần có những yếu tố sau đây để hy vọng thực hiện được:
1) Phải cởi bỏ hết hận thù và ngay lập tức. Chấm dứt mọi sự đả kích lẫn nhau, kể cả lời đả kích hạ cấp và những lời mai mỉa.
2) Phải biết tôn trọng lẫn nhau và công nhận những ưu điểm của nhau. Không thể nói rằng bên nào đúng bên nào sai, nhưng cứ cùng nhau hòa hợp và tôn trọng quan điểm của mỗi bên. Bên Thiên Chúa Giáo có phái Công Giáo và phái Tin Lành, vẫn chấp nhận nhau. Bên Phật giáo có phái Tiểu thừa và phái Đại Thừa. Bây giờ có chính trị xâm nhập tôn giáo, mà phái Ấn Quang có một con đường chính trị khác, thì sao không tôn trọng quan điểm chính trị của nhau như thể một đảng Cộng Hòa hay một đảng Dân Chủ ở bên Mỹ đã biết dung hợp cả chục khuynh hướng chính trị khác nhau trong nội bộ của họ? Quốc Tự đừng tưởng rằng Ấn Quang ngụy hòa, và Ấn Quang cũng đừng tưởng rằng chánh sách thuần túy «dân chủ xã hội» của Quốc Tự là đồ bỏ. Cũng vậy, Quốc Tự đừng giận rằng chính sách tranh đấu dữ dằn của Ấn Quang từng làm chết nhiều Phật tử và làm cho Phật giáo xuống dốc; Ấn Quang cũng đừng giận rằng Quốc Tự non kém, luôn luôn thỏa hiệp với chính quyền cho nên không tranh đấu cho Phật giáo được!
Có điều khó là hai chính sách sẽ khó hòa hợp? Nhưng không hòa hợp thì «sống chung hòa bình» cũng được chứ sao?
3) Phải quan niệm một nền thống nhất rộng rãi. Thật ra, thì hai phái Ấn Quang và Quốc Tự chỉ mới đại diện cho một phần Phật tử VN. Các giáo hội Phật giáo khác thuần túy Nam Việt đâu có đứng vào nữa? Ấn Quang và Quốc Tự có thể thống nhất lại với nhau thì cũng chưa phải là Giáo hội Thống nhất, hãy mời cho được Hội Phật học Nam Việt, hội Tịnh độ Tông, Tịnh độ Cư Sĩ và bao nhiêu hội Phật Giáo khác nữa ở miền Nam.
4) Phải biết nhượng nhau để tìm một nền đoàn kết mới mẻ. Đoàn kết thống nhất không thể có nghĩa là tranh chấp tiêu diệt lẫn nhau để một phái của mình làm bá chủ trong giáo hội. Đoàn kết, thống nhất phải được làm với sự chịu đựng lẫn nhau, nhường nhịn nhau để hai phái cùng sống song song với nhau.
Đó là cái lẽ thật tế, trong tình trạng hiện tại, Hiến Chương đầu tiên của Phật giáo Thống nhất đã làm cho nền thống nhất tan rã vì Viện Hóa Đạo lúc đó đòi hội Phật học Nam Việt và các hội miền Nam khác phải hủy thể, và bây giờ các phái Quốc Tự, Ấn Quang lại thù nhau thì đâu còn có thể «thống nhất triệt để được nữa?» (đó cũng là tình trạng của các đảng phái bị phân hóa vì ý kiến bất đồng hoặc vì những mưu đồ độc đoán; những hệ phái từ đó không còn có thể ngồi với nhau được nữa; họa hoằn có ngồi lại được, cũng phải tôn trọng sự tự trị của từng bộ phận).
Trong cảnh đau khổ và xấu hổ, người Phật tử chỉ mong các thầy hòa hợp, sống chung, tôn trọng lẫn nhau, trong một tổ chức lỏng lẻo cũng được; mà nếu không được vậy, thì thà rằng người Phật tử tự lập những hội Phật học riêng và giúp nhau tu tiến; Phật vốn tại tâm và thứ nhất vẫn là tu tại gia mà! Bên Nhật Bản cũng vậy, có biết bao nhiêu hội Phật giáo khác nhau, họ vẫn sống hòa hợp với nhau chứ đâu có cướp chùa và đánh nhau?
$pageOut $pageIn Phân đoạn 14
Máu Đổ Cửa Thiền (tiếp theo 5)
#Chinh Luan May 12, 1970 trang hai
CÂU CHUYỆN HÔM NAY - bài 01
by Nguyễn Văn
Một Tình-Trạng Bi-Đát
— Không hề có sự rạn nứt giữa các cấp lãnh đạo Phật giáo, nhất là giữa hai anh em chúng tôi.
Đó là lời trích trong thông bạch ngày 15-5-1964 của hai vị thượng tọa từng được bao người tôn kính, Thích Tâm Châu và Thích Trí Quang.
Chiều ngày 3-5-1970, hàng trăm người đã từ chùa Ấn Quang bất thần kéo đến đường Trần quốc Toản Saigon chiếm đóng VNQT, và bắt đem đi cả Hòa thượng Thích Minh Thành, Viện trưởng Viện Hóa Đạo.
Rồi đêm 4 rạng 5/5, cũng hàng trăm người khác tới giành lại Quốc Tự, và cuộc xung đột đổ máu đã xảy ra như thế nào, các báo đã tường thuật với những chi tiết rất khó tưởng tượng.
Mọi sự đã biến chuyển ra sao từ 1964 để đưa tới cảnh bi đát như vậy?
X
Khi đọc thông bạch kể trên, một số người vô tư đã bảo nhau: đây hẳn lại mấy chú Cần Lao phao đồn tin nhảm gây chia rẽ, các thầy thanh minh làm gì cho tốn công?
Theo sự hiểu biết của giới thân cận tướng Nguyễn Khánh hồi đó, thì Hiến Chương Phật giáo ngày 4/1/64 vừa được thừa nhận bằng sắc luật ngày 14/3, song hình như có một số điều khoản không được sự tán thành của vài chức sắc cao cấp thuộc các tông phái. Ngoài ra, đối với những nhân vật thuộc chế độ cũ, nhiều vị muốn tỏ ra khoan hồng, trong khi một số thấy cần cứng rắn... Dù sao không ai quan tâm, vì yên trí rằng bất đồng ý kiến là sự rất thường tình trong các đoàn thể lớn.
Hơn nữa, Hiến chương lại được tu chính trong đại hội PG khóa 2, ngày 14-12-65, và lại được thừa nhận dễ dàng do sắc luật ngày 26-2-66 của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Như thế, thì những điểm nào gây thắc mắc hẳn đã được sửa đổi để đem lại hòa khí và củng cố thống nhất.
Nhưng ngày 13/3, sau khi tướng Nguyễn chánh Thi được Hội đồng Tướng lãnh cho nghỉ việc, thì Viện Hóa Đạo lên tiếng tỏ rõ ngay lập trường: các tướng có công với Cách mạng phải được trở lại quân đội; các tướng lãnh phải trở về cương vị quân sự; phải lập chính phủ đoàn kết, phải bầu một Quốc hội.
Và từ đó cho tới cuối tháng 7/1966, các vụ biểu tình đòi thỏa mãn 4 nguyện vọng trên tiếp diễn tại Saigon, tại nhiều tỉnh miền Trung và Cao nguyên, nhất là Huế và Đà nẵng.
Chính cuộc tranh đấu này mới gây ra, hoặc cho thấy rõ dần hai khuynh hướng khác nhau của các cấp lãnh đạo: ôn hòa và quyết liệt.
Thượng tọa Thích Tâm Châu, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, đã nhiều lần kêu gọi Phật tử bình tĩnh và kiên tâm, chờ chính quyền đáp ứng các nguyện vọng của PG (ngày 19-3, ngày 20-3 và ngày 26-3 v.v...)
Song phong trào tranh đấu vẫn sôi nổi, các vụ đình công, bãi thị, bãi Mỹ, v.v... cứ bồng bột lan tràn. Ngày 31-3, hàng ngàn người tụ họp trước chợ Bến Thành Saigon, và treo tại Pháp trường cát hình nộm các tướng trong chính phủ...
Khuynh hướng quyết liệt vượt và át hẳn khuynh hướng ôn hòa. Đêm 2-4, sau buổi thuyết pháp của Đại đức Thích Hộ Giác, hàng trăm người rầm rộ kéo tới phủ Chủ tịch và đài Phát thanh, và lần đầu tiên có nhiều tiếng hò hét: đả đảo Thích Tâm Châu.
Thượng tọa Thích Tâm Châu vẫn giữ nguyên lập trường, mặc dầu chính phủ gửi mấy tiểu đoàn ra tái lập an ninh tại Huế và Đà Nẵng (5-4). Tối hôm đó, Thượng Tọa tuyên bố trước hàng ngàn Phật Tử: Đòi trong 3 tháng phải có chính quyền dân cử và quốc hội; nhưng xác nhận là tranh đấu bất bạo động; đồng thời, cho biết sẽ vui lòng nhận những viên đạn do phần tử quá khích đã dọa đem tặng. Rồi muốn tránh mọi sự xách động, Thượng tọa cho tạm đóng cửa VN Quốc Tự trong một thời gian.
Nhưng không vì thế mà tình hình lắng dịu. Thượng Tọa Thích Thiện Minh thông cáo: các tướng lãnh không giữ lời cam kết, Phật giáo phải chống đến cùng (8-4). Hôm sau, các báo được mời tới Viện Hóa Đạo để nhận tin thành lập Ủy ban Lãnh đạo Lực lượng Phật tử thống nhất hoạt động tranh đấu. Hơn nữa, ngày 27/5, lại có thông cáo: từ nay, theo lối tập đoàn chỉ huy, Viện trưởng Viện Hóa Đạo chỉ là người thừa hành.
Cuộc tranh đấu tiếp tục rất mạnh dưới nhiều hình thức: tuyệt thực, tự thiêu, xung đột với quân đội tại Huế và Đà Nẵng, biểu tình luân chuyển ngày đêm, bắt giam cả sĩ quan Quân vụ Thị trấn Đà Lạt, đốt phá Phòng Thông tin Tòa Lãnh sự Mỹ tại Huế, đem bàn thờ Phật bày trên các mặt đường... Thượng Tọa Thích Trí Quang nhiều lần kêu gọi Hoa Kỳ rút sự ủng hộ đối với chính quyền quân nhân và đòi các tướng trong chính phủ từ chức (ngày 20-5, ngày 25-5...)
Trong khi đó, Thượng Tọa Thích Tâm Châu vẫn không thay đổi đường lối. Ngày 31-5, Thượng tọa cùng 6 vị cao tăng khác tới dinh Gia Long hội đàm với Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia để tìm giải pháp chung ổn định tình thế. Hôm sau, Thượng Tọa Thích Pháp Siêu phẫn nộ đến nỗi toan tự thiêu ngay tại Viện Hóa Đạo, nếu không được Phật tử can ngăn. Thượng Tọa Thích Tâm Châu còn bị một số tăng ni phản đối lần nữa hôm 3-6, chính ngày lễ Phật Đản. Mấy lần Thượng tọa ngỏ ý muốn từ chức, và đi lánh khỏi Viện Hóa Đạo, nhưng lại được các tăng ni ôn hòa cung thỉnh trở về; Đã có lúc Thượng tọa muốn tỏ ra cương quyết để nắm vững lại nội bộ: như ngày 5/6, ra thông cáo: tăng ni vô kỷ luật không tôn trọng đường lối chung sẽ bị cảnh cáo, trục xuất hoặc giao chính quyền. Song lệnh của Thượng tọa vẫn không được theo; ngày 13/6, Thượng tọa đọc thông bạch trên đài phát thanh, kêu gọi rước bàn thờ Phật về chùa, nhưng ngay hôm sau, Viện Hóa Đạo ra thông cáo: thông bạch đó chưa được Hội đồng Viện chấp thuận.
Đến tháng 7, xem chừng cuộc tranh đấu chỉ đem lại những kết quả bi quan: các chùa Từ Đàm và Diệu Đế bị quân đội kiểm soát, số đông lãnh tụ phong trào tranh đấu bị bắt, các vụ biểu tình đều bị giải tán, các bàn thờ Phật được quân đội đem về chùa, Thượng Tọa Thích Thiện Minh bị mưu sát và trọng thương. Viện Hóa Đạo cùng chùa Ấn Quang bị bao vây và lục soát, thủ phạm giết cảnh sát Kiều Công Hải trốn trong Quốc Tự bị bắt, Thượng Tọa Thích Trí Quang được đưa từ Huế vô Saigon dưỡng bệnh, hàng ngàn ban đại diện PG trong quân đội bị tan rã, và nhiều niệm phật đường bị bỏ vắng.
Trước tình trạng đó, tất nhiên chính sách hòa hoãn lại được tạm nhận là cần thiết. Ngày 23-6, hội đồng Viện ủy quyền cho Thượng Tọa Thích Tâm Châu thương thuyết với chính phủ; đồng thời Đức Tăng Thống ra lệnh cho Thượng Tọa Thích Trí Quang hãy ngưng tuyệt thực.
Thượng Tọa Thích Tâm Châu hội kiến với thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung ương, và được thỏa hiệp về 5 điểm do Thượng Tọa đưa ra: tôn trọng chùa chiền, bảo vệ an ninh cho tăng ni, trả tự do cho những người bị bắt, khoan hồng đối với các phần tử tranh đấu ngoại trừ kẻ chủ mưu và Cộng sản (30/6). Ba hôm sau, 200 thanh niên và tăng ni bị tạm giữ được phóng thích trước mặt Thượng tọa, và Viện Hóa Đạo ra thông cáo: cần phải có 1 thời gian hòa hoãn để tạo không khí thuận lợi cho một giải pháp thích ứng và ôn hòa. Phải chăng phe ôn hòa đã thắng?
Ngày 4-7, nhiều Thượng tọa nhóm họp tại chùa Ấn Quang vẫn quyết định tổ chức liền "3 tháng cầu nguyện" kể từ 8-7-66.
(Còn tiếp)
#Chinh Luan May 13, 1970 trang hai
CÂU CHUYỆN HÔM NAY (bài 02)
Càng Ngày Càng Bi Đát
Đầu tháng 7-1966, các vụ xáo trộn đã ngớt; và sau nhiều ngày bị xúc động, nhiều giới dân chúng hy vọng rằng tình hình lắng dịu sẽ thuận lợi cho mọi sự hòa giải.
Nhưng tại bệnh viện đường Duy Tân Saigon, Thượng tọa Thích Trí Quang vẫn tiếp tục cuộc tuyệt thực kéo dài sang tháng thứ hai. Và bởi sự chống đối chưa chấm dứt, Thượng tọa Thích Tâm Châu không chịu tới dự hội đồng Viện Hóa Đạo nhóm họp tại chùa Ấn Quang, hội đồng bèn biểu quyết ra hạn 24 giờ cho Thượng tọa đến họp, nếu không sẽ phải chịu mọi trách nhiệm cùng hậu quả của sự vắng mặt (12-7). Hôm sau, Thượng tọa trả lời: không ai có quyền cất chức Viện trưởng của Thượng tọa; cần dưỡng bệnh 2 tháng, không chịu trách nhiệm về Viện trong thời gian tạm nghỉ, phải lánh đi, vì bị mưu sát.
Không khí rất nặng nề. Dư luận Phật tử rất xôn xao và hoang mang. Tiếp tục tranh đấu hay tạm ngừng? Nếu tiếp tục, thì theo hình thức nào vì bạo động không đem lại kết quả. Đối với phe ôn hòa, ít nhất cũng phải đòi được chính phủ giữ lời hứa và áp dụng một chính sách hữu nghị, phóng thích các tăng ni và những người còn bị giam giữ vì đã tham gia tranh đấu. Nếu Thượng tọa Thích Tâm Châu không chịu đảm lãnh nhiệm vụ, thì có nên hay có thể cử người nào thay thế không? Thượng tọa Hộ Giác đích thân tới Quang Trung can thiệp với nhà chức trách về sự phóng thích, nhưng vô hiệu (11/8). Làm thế nào thoát khỏi bế tắc?
Ngày 15/9, Thượng tọa Trí Quang ngừng tuyệt thực sau 100 ngày nhịn ăn, và về chùa Ấn Quang. Thượng tọa Tâm Châu, sau 2 tháng tạm lánh, cũng trở lại Viện Hóa Đạo. Phải chăng đây là những triệu chứng cho phép chờ đợi một đường lối mới khả dĩ dung hòa được hai khuynh hướng?
Nhưng chỉ một tuần sau, ngày 20/9, thì truyền đơn bay tới tấp trong Viện Hóa Đạo, chống sự trở lại chức Viện trưởng của Thượng tọa Tâm Châu. Trước sự đối nghịch này, thay vì nản lòng, Thượng Tọa lại rút đơn từ chức đã đệ 8-9 mà Đức Tăng Thống chưa chấp nhận: Thượng Tọa quyết ở lại chấn chỉnh giáo hội.
Cuộc tranh chấp lại bước vào giai đoạn gay go hơn. Vấn đề tái cử Viện trưởng được đặt ra. Đại hội Phật Giáo được triệu tập. Thượng Tọa Tâm Châu yêu cầu xét công và tội, nếu không, sẽ quyết không từ chức nữa. Cuộc bàn cãi rất sôi nổi. Miền Vĩnh Nghiêm, Phật Giáo Theravada, và Tỉnh hội Gia Định bác bỏ sự bầu lại (21-10).
Nhưng đêm 21 rạng 22-10, các tăng ni ủng hộ Thượng tọa Trí Quang và Thượng tọa Quảng Liên nhóm họp tại chùa Ấn Quang, và bầu Thượng tọa Thích Thiện Hoa làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo. Để tránh mọi dị nghị, Thượng tọa Trí Quang từ chức Chánh Thư ký Viện Tăng thống, và nhường chỗ cho Thượng tọa Trí Tịnh.
Đối với Phật giáo Việt Nam, biến cố này có tầm quan trọng của sự phân ly giáo hội Công giáo Đông phương năm 867, và sự phân ly giáo hội Công giáo Tây phương năm 1378 (Schisme d'Orient, Schisme d'Occident).
Phản ứng tất nhiên rất mạnh: ngày 23/10, hàng ngàn Phật tử kéo tới trước chùa Ấn Quang chống đối sự chia rẽ cùng những vị nào gây chia rẽ. Thượng tọa Tâm Châu ra thông báo xác nhận: vẫn giữ chức Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, Phật giáo miền Vĩnh Nghiêm, Phật Giáo Theravada, Việt Nam Phật Giáo miền Nam cũng ra tuyên cáo: không công nhận vụ bầu cử Thượng tọa Thiện Hoa cùng vụ bầu cử Thượng tọa Trí Tịnh (25-10).
Rồi hai tháng sau, ngày 24/12, Thượng tọa Tâm Châu tuyên bố trong một buổi thuyết pháp: trở về Việt Nam Quốc Tự, không xuống đường tranh đấu nữa, đề nghị sửa lại Hiến Chương Phật Giáo.
X
Hiến Chương mới được biểu quyết và chấp thuận ngày 14/3/67 tức ngày 4 tháng 3 Đinh Mùi. Phật lịch 2511, do các đại diện các giáo đoàn và hội đoàn Phật Giáo Nam Bắc Tông tại Việt Nam sáng lập Giáo hội Phật Giáo Việt Nam.
Ký tên vào bản văn Hiến Chương, là Hòa Thượng Tối Thắng, Phó Tăng Thống Giáo Hội Nguyên Thủy Việt Nam; Thượng tọa Thích Tâm Giác, chủ tịch Giáo Hội tăng già Bắc Việt; Thượng tọa Kim Sang, Trưởng Giáo Giáo Phái Phật Giáo Theravada; cư sĩ Sơn thái Nguyên, chủ tịch Cư sĩ Giáo Phái Phật Giáo Theravada; cư sĩ Dư cao Thăng, hội trưởng hội Việt Nam Phật Giáo, tập đoàn Bắc Việt di cư.
Hiến Chương được thừa nhận do sắc luật UBLĐQG ngày 18-7-67.
Và đây lại là một nguyên nhân tranh chấp nữa, vì Hiến Chương rất dễ bị phe đối lập công kích, cả về hình thức lẫn nội dung.
Trước hết, khối Ấn Quang đã không công nhận Viện Hóa Đạo Việt NamQT, tất không muốn biết đến Hiến Chương do Viện này soạn thảo và đề nghị, cũng như không muốn biết Đại hội do Viện này triệu tập để biểu quyết về Hiến Chương đó. Hiến Chương không hề được phê chuẩn do Đức Tăng Thống, mà Đức Tăng Thống chỉ có thể là Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết.
Nhưng quan trọng hơn nữa, là những mục tiêu của sự thay đổi:
Hiến Chương mới đã bổ túc Hiến Chương cũ bằng những điều khoản mới buộc giáo hội chuyển hướng hoạt động:
Như «hoằng dương chánh pháp» ở điều 5 có thể hiểu là «thực hiện những việc văn hóa, giáo dục, từ thiện xã hội» (chứ không phải là tranh đấu chánh trị bạo động).
Điều 8 nhấn mạnh rằng: Giáo Hội là thành phần của Giáo Hội tăng già Thế giới và là trung tâm địa phương của Phật Giáo liên hữu Thế giới.
Nếu vậy, thì phải theo đường lối ôn hòa của Phật Giáo Thế giới. Công chúa Pismai, chủ tịch hội đồng Phật Giáo Thế giới đã có dịp lưu ý Viện Hóa Đạo về điểm này (17/6/66). Hơn nữa ngày 17/11/66, Hiến Chương Phật Giáo Thế giới được bổ túc tại Vọng Các bằng một điều cấm hoạt động chánh trị với tư cách Phật tử tăng ni. Như vậy há chẳng ràng buộc Tăng ni Phật tử Việt Nam hay sao?
Ngoài ra, theo Hiến Chương mới, quyền hành của Đức Tăng Thống giảm bớt trong khi quyền hành của Viện trưởng Viện Hóa Đạo tăng nhiều.
Hiến Chương cũ đã dự trù: Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống do đức Tăng Thống cử trong hàng Thượng Tọa; quyền hạn Văn phòng do Đức Tăng Thống ấn định. (điều 13)
Hiến Chương mới, điều 13.C và điều 20, chỉ dành cho Đức Tăng Thống quyền «đề cử» chức vụ kia cho hội đồng Viện «chấp thuận». Như thế không khác nào hội đồng là cấp trên Đức Tăng Thống.
Hiến Chương cũ chỉ nói: điều hành Giáo Hội là Viện Hóa Đạo, thành phần gồm có... Nhiệm vụ và quyền hạn của các vị trong ban chỉ đạo Viện, được ấn định bằng một bản quy chế có tính cách nội qui (điều 15).
Hiến Chương mới định rõ: Viện Hóa Đạo thay mặt Giáo hội, lãnh đạo và điều hành tất cả mọi Phật sự đối nội và đối ngoại (điều 23). Ngoài ra, điều 28 còn xác định: Viện trưởng Viện Hóa Đạo trông coi mọi việc của Giáo hội và thay mặt Giáo hội trước pháp lý.
Trên đây, chỉ là vài điểm chính mà người đọc lần đầu tiên cũng đoán ngay được là có thể gây phản đối kịch liệt.
Quả nhiên Hiến Chương vừa được thừa nhận ngày 18-7-67 thì ngày 14/8 và ngày 24-9, các thượng tọa tại chùa Ấn Quang họp báo và công kích dữ dội.
Đến 28-9, thì hàng trăm tăng ni biểu tình trước Dinh Độc Lập đòi thu hồi sắc luật 23/67 đã thừa nhận Hiến Chương, và mãi tới 10-10, mới chịu tạm trở về chùa Ấn Quang...
(Còn tiếp)
#Chinh Luan May 14, 1970 trang hai
CÂU CHUYỆN HÔM NAY (bài 3 – bài chót)
Xung Đột Và Hòa Giải
Nguyễn Văn
Có những vụ kiện tụng giữa hai cá nhân kéo dài nhiều năm, vì mỗi bên đều có những lý lẽ đáng kể hoặc nội vụ có nhiều tình tiết rắc rối khiến cho quan tòa phân vân và việc xét xử khó khăn.
Huống chi là những vụ tranh chấp cộng đồng giữa những đoàn thể lớn, liên quan đến nhiều người thuộc nhiều nhóm với những ý kiến, tính tình và quyền lợi trái ngược, nhất là nhiều bằng chứng bị thất lạc, khi việc lại mắc vướng vào các biến chuyển của một thời cuộc rối ren, hoặc còn trở nên phức tạp vì nhiều người ngoài xen vô với những ẩn tình ẩn ý. Như thế, thì chỉ có trời họa may thấu rõ thực trạng cùng các uẩn khúc mà xét cho công bằng.
Trong lịch sử VN 25 năm qua, biết bao trường hợp như trên? Hễ đi sâu vào việc lớn nào, cũng chỉ thấy mờ mịt, không biết đàng nào đen trắng, trừ khi từ bỏ tham vọng nhận định khách quan mà phê phán bừa theo tình cảm hay xu hướng cá nhân.
Đối với việc vừa xảy ra ngay cạnh mình, nhiều khi cũng chẳng thể biết hư thật ra sao. Như vụ tranh giành VN Quốc Tự chẳng hạn: bên nào cũng cho là mình có độc quyền chiếm đóng, vậy sở hữu phải về ai? Theo bên này, thì có 4 rồi 10 người chết, hoặc 16 bàn tay nổi lên mặt ao, và có cả âm hồn trẻ thơ hiện về báo mộng đòi giải oan... Theo bên kia thì chẳng có ai thiệt mạng, chỉ có vài chục bị thương trong cuộc xô xát. Các thông báo của Tòa Đô Chánh cũng bị cải chính, đài truyền hình thì bị trách là loan tin thất thiệt.
Trách nhiệm, thì càng khó phân định. Một bên lên án vụ bạo động tái chiếm. Một bên cãi rằng chỉ có việc xua đuổi nhóm người xâm đoạt mà thâu hồi tài sản. Bên này quả quyết là 3 lãnh tụ bên kia đã đích thân chỉ huy cuộc tấn công; bên kia cực lực bác bỏ lời tố cáo. Có hay không có sự tham gia hỗn chiến của một số nhân viên an ninh và quân nhân với cả súng đạn? v.v...
Những người trong cuộc, khi lên tiếng buộc tội, thường bảo rằng đối phương phải chịu trách nhiệm trước quốc dân và lịch sử. Thật là khổ cho quốc dân, vì ai biết hết và biết đích xác để xét đoán? Và đáng ngại thay cho sử sách sau này, vì những tin tức sốt dẻo còn không thể tin, thì sự thâu lượm và ghi chép trong vài năm hay vài chục năm nữa, liệu có giá trị gì không? Căn cứ vào những tài liệu như vậy mà bàn luận thì sẽ chỉ củng cố và duy trì những sự sai lạc, và mang tội với lương tâm cùng lịch sử mà thôi.
X
Các vụ xung đột giữa các đoàn thể cũng như các cá nhân dưới một chế độ pháp trị, phải do các cơ quan công quyền hòa giải hoặc phân xử theo luật lệ.
Song khi công quyền bị trách là thiếu vô tư, bị ngờ là nghiêng về một phía, thì uy tín bị phủ nhận không cho phép thi hành nhiệm vụ trọng tài hoặc chế tài. Những biện pháp an ninh, dù có đem áp dụng để ngăn chặn bạo động và giữ gìn trật tự công cộng, cũng dễ bị chỉ trích như những hành vi đàn áp.
Trong tình trạng đó, hết nhóm này đến nhóm khác có khuynh hướng tự tìm lấy giải pháp cho mọi sự bất đồng, kể cả sự thanh toán quyết liệt. Sự bất lực của một chính quyền bị coi thường, cùng thói quen tự xử của những đoàn thể bất chấp luật lệ giữa thế kỷ 20 có thể đưa trở lại cảnh hỗn loạn của thời phong kiến xa xưa mà không ai mong muốn. Đó là nguy cơ đã thấy trong bao vụ xung sát chủng tộc hay kỳ thị địa phương tại Ấn Độ và Hồi Quốc, những vụ xung đột mới đây giữa Công Giáo và Tin Lành tại Ái Nhĩ Lan.
Khi công quyền không phân xử được hay không chế ngự được, thì sự tranh chấp chỉ có thể hòa giải do những nhân vật hay đoàn thể nào còn được sự tin cậy hoặc ít ra là sự kiêng dè của cả hai bên đối nghịch. Những người và nhóm đó không phải là không có, và chắc chắn là sẵn lòng đứng ra can gián và thuyết phục.
Nhiệm vụ này thường bạc bẽo, và chỉ đem lại những kết quả nhất thời và hạn chế, khi hai bên đối thủ đang ở tình trạng tâm lý căng thẳng, khi tình thương đã bị tràn ngập bởi hận thù, với những ngôn ngữ và hành động trái ngược hẳn với giáo lý thiêng liêng hoặc ngay cả với luật pháp trần tục. Song ít ra, lời kêu gọi thiết tha của nhiều thiện chí, sự đòi hỏi bình tĩnh của nhiều giới đã chán ngán mọi sự xáo trộn, tóm lại, là áp lực của dư luận, cũng có thể khiến hai bên dừng tay và nói chuyện.
Nỗi khó khăn, là bên cạnh những mong ước hòa giải, vẫn không thiếu những yếu tố kích thích xung đột: sự ngoan cố của những phần tử quá khích hay hiếu thắng, sự xui nguyên giục bị của người ngoài cuộc, vì những mục đích âm thầm chia rẽ muốn làm giảm thiểu thế lực của cả hai bên, thói quen đổ dầu vào lửa của những người ưa gây xúc động bằng những tin tức thổi phồng...
Song trở ngại lớn nhất trong các vụ hòa giải, là sự thiếu thành thực của các đối phương. Những lý do công bố để bênh vực thái độ và hành động, thường lại không phải là động lực chính yếu, mà các đương sự khó lòng nói ra, mà đa số người thuộc đoàn thể chưa chắc đã biết, ngoại trừ một số lãnh tụ.
X
Một cuộc hòa giải chỉ có thể bắt đầu trong một bầu không khí lắng dịu.
Vậy hai bên cần cố gắng tự chủ, tạm ngưng những vụ công kích, tố cáo xách động. Các giới hạn tạm cũng nên tránh hết những cử chỉ hay phê bình nào có tính cách kích thích.
Muốn vậy, những phương tiện thông tin chỉ nên được sử dụng một cách thận trọng. Những buổi họp báo hay phát thanh và mọi tuyên bố thông cáo nên nhường bước cho những cuộc tiếp xúc và vận động kín đáo.
Vì chỉ ở trong những giờ phút hội đàm riêng, với sự tham dự của một số trung gian tối thiểu, mới mong hai bên cởi mở, và bày tỏ những lý do đích thực của vụ tranh chấp, cùng những yêu sách đích thực không tiện nói ra trước nhiều người. Và sự nhượng bộ nhau sẽ dễ dàng hơn vì thể diện và tự ái không cần phải bảo vệ cương quyết như khi đứng trước công chúng.
Trước công chúng, thái độ và ngôn ngữ của hai bên thường được tính toán, để tự đề cao và hạ thấp đối phương, hoặc đóng vai nạn nhân mà đổ lỗi cho bên kia, hoặc nêu ra những lý do hành động với những danh từ mỹ lệ vang dội chẳng ăn thua gì đến những nguyên nhân đã gây ly gián và oán thù.
$pageOut $pageIn Phân đoạn 15
khai phóng tri thức, bắt kịp đà tiến bộ kỹ thuật
#Tien Tuyen Jul. 6, 1972 trang năm
Một Nghề Mới Mẻ: Thảo Chương Viên Điện Toán #Tien Tuyen Jul. 6, 1972 trang năm
trang 5 #Tien Tuyen mỗi Thứ Năm hàng tuần | Chuyên trang Kinh tế - Chính trị | Tri Vũ phụ trách
(Bài 009) Một Nghề Mới Mẻ: Thảo Chương Viên Điện Toán
Một tháng có thể kiếm được từ 30.000đ tới 60.000đ nếu làm việc tại Việt Nam, từ 700 tới 1000 Mỹ kim (tương đương với 297.000đ VN tới 425.000đ VN) nếu làm việc tại ngoại quốc. Đó là tương lai của các chuyên viên điện toán được huấn luyện tại Việt Nam.
Kỹ sư Nguyễn Từ Huân, Chủ tịch Hội Chuyên viên Điện toán Việt Nam cho biết như trên, trong dịp lễ mãn khóa lớp Thảo Chương Viên Điện Toán khóa 3 được tổ chức tại Bộ Lao Động.
Các lớp điện toán mới xuất hiện trong khoảng hai năm nay nhưng đã cung ứng một số chuyên viên điện toán đáng kể cho Việt Nam và cho cả ngoại quốc. Theo ông Huân và một số giáo sư huấn luyện lớp điện toán, với đà phát triển trong tương lai của xã hội Việt Nam về mọi mặt nhất là trong thời kỳ kinh tế hậu chiến, thì tương lai của các chuyên viên này rất rực rỡ.
Vài sự kiện không ngờ
Kỹ sư Nguyễn Từ Huân, cũng trong buổi lễ còn nói nhiều sự kiện đáng kể về tương lai của các chuyên viên điện toán được huấn luyện tại Việt Nam.
Ông Huân cho biết hiện nay, Đại Tá Nguyễn Thành Huê, tốt nghiệp khóa phân tích về tổ chức trong năm qua tại Bộ Lao Động đang là chỉ huy trưởng của Trung tâm Điện toán Quân Tiếp Vụ. Trung tâm này hiện nay là một trung tâm với những máy móc và sự tổ chức có thể nói là lớn nhất Việt Nam. Điều đáng kể nữa là trung tâm này, nếu đem nó sánh với các trung tâm khác ở Đông Nam Á, không thua kém bất cứ một trung tâm nào.
Mặt khác, bốn nữ thảo chuơng viên điện toán khóa II do Bộ lao Động tổ chức hiện đã ký hợp đồng làm việc tại ngoại quốc, một người làm tại một nhà xuất bản rất lớn tại Pháp còn ba người kia làm tại các Trung tâm Điện toán Hoa Kỳ. Ông nói lương của những người này hiện vào khoảng 700 tới 1000 Mỹ kim, một tháng.
Ông cũng cho biết hiện nay, các lớp huấn luyện điện toán tổ chức trong vòng hai năm qua, đã có 107 chuyên viên điện toán trong vòng hai năm nay, gồm có 87 người tốt nghiệp ngành thảo chương viên và 20 người phân tích viên.
Ngoài ra, hiện nay, trong số những người tốt nghiệp đã có một người làm quản đốc một Trung tâm Huấn luyện Điện Toán của chính phủ, 3 người được giao phó tổ chức việc tại các cơ quan dân chính và quân sự tại Hoa Kỳ hoặc các xí nghiệp ngoại quốc tại Việt Nam; sáu người giúp việc cho các công ty quốc doanh, 4 người sang tu nghiệp tại tại Hoa Kỳ và Nhật Bản.
Lương của những người làm việc tại Việt Nam, theo ông Huân, không kể các công chức quân nhân, thì vào khoảng từ 30.000 cho tới 100.000 đồng.
Những người này theo ông Huân, các xí nghiệp đều ghi nhận là họ có đầy đủ khả năng để làm việc, nếu không muốn nói là nhiều khi rất xuất sắc.
Tú Tài II, có thể theo học
Đặc biệt là các lớp điện toán nêu trên đều được tổ chức tại Việt Nam. Đã có tất cả một lớp phân tích nghề nghiệp, ba lớp thảo chương viên. Các lớp nói trên do Hội Chuyên viên Điện toán Việt Nam đảm trách, với sự cộng tác của Bộ lao động và Cơ quan USRID. Tất cả các lớp kia đều học tại Bộ Lao Động, đường Trần Hưng Đạo Sài Gòn.
Muốn theo học lớp này, các học viên phải có bằng Tú Tài II trở lên và qua một thời kỳ thi tuyển do Bộ Lao Động tổ chức. Một số học viên có khả năng sẽ được theo học. Việc dự thi tuyển cũng khá gay go. Trong lớp Thảo Chương Viên Điện Toán khóa III, có tất cả 422 người ghi danh ứng thí nhưng chỉ có 42 người được theo học và chỉ có 33 người tốt nghiệp.
Kể từ hai năm nay, có tất cả tới 1.700 người ghi tên theo học, nhưng chỉ có 107 chuyên viên tốt nghiệp mà thôi.
Có lẽ lý do khiến nhiều người ghi tên là vì tương lai của các học viên là «khá» như vừa kể trên. Nhiều vị phụ huynh đã khuyến khích con cháu theo học lớp này. Cô Lê thị Phương Lan, một học viên tốt nghiệp ưu hạng lớp Thảo Chương Viên Khóa III, đã xác nhận: cô theo học vì Ba cô nói rằng, nghề này sẽ có tương lai khá. Cô cũng nói với bạn bè là cô cũng ở vào trường hợp tương tự.
Một số các học viên khác theo học vì ý thích, như anh Nguyễn Hữu Sự, một học viên ưu hạng khác cùng lớp với cô Lan, cho rằng anh học lớp này vì tò mò muốn hiểu biết về ngành khoa học điện toán. Nhưng dù là lý do nào, các học viên khác cũng có đủ khả năng vì đã qua kỳ thi tuyển.
Tuy là một ngành học mới nhưng các học viên đã học một cách dễ dàng. Mặc dầu đậu Tú Tài I và II ban văn chương [ ban C ], cô Phương Lan cho biết học về ngành này không mấy khó khăn. Cô nói: Môn học không hẳn thiên về Toán mà người ta vẫn lầm tưởng. Anh Nguyễn Hữu Sự cho biết chương trình học gồm có 4 phần và kéo dài trong sáu tháng.
Phần thứ nhất, học về những hiểu biết của ngành điện toán; phần thứ hai học về máy điện toán IBM 360, một loại máy điện toán thông dụng hiện tại. Trong phần này, các học viên được chỉ bảo rành rọt về sự nhận dữ kiện, biến đổi dữ kiện và phát dữ kiện của máy. Phần thứ ba và tư, giảng về hai hệ thống ngôn ngữ điện toán RPG, và Cobol.
Ngôn ngữ điện toán là một loại ngôn ngữ đặc biệt, người ta phải đổi các dữ kiện này theo những con số hoặc dấu hiệu, ký hiệu đặc biệt để chuyển vào máy IBM, và khi máy này phát trở ra thì phải đọc các ngôn ngữ này để hiểu được các dữ kiện.
Cô Phương Lan cho biết, tuy vậy, cô đã phải cất công để học, mất gấp 4, 5 lần học thi Tú Tài vì phải học nhiều. Cô cho rằng, không cần kéo dài lớp này ra quá vì 6 tháng cũng đã đủ để hiểu, và cũng không nên rút ngắn thời gian học lại vì sẽ thiếu.
Một số học viên khác đều đồng ý như trên. Các lớp học trên gồm cả nam và nữ học viên. Trong Khóa 3 Thảo Chương Viên có tất cả 13 nữ học viên vì 20 nam học viên.
Huấn luyện tại Việt Nam thì tiết kiệm được 255 triệu bạc VN.
Nhờ chương trình huấn luyện viên, theo kỹ sư Nguyễn Từ Huân, một số người đủ mọi thành phần xã hội, một trình độ … đã có được một nghề nghiệp tiến bộ «Tân kỳ và đắc dụng nhất trên thế giới». Thành phần như trên gồm đủ các tầng lớp công chức, tư chức, quân nhân tại ngũ, cựu quân nhân, và sinh viên v.v. theo học. Trình độ học vấn thì cũng đủ mọi ngành khác nhau.
Người đậu Tú Tài II ban C như cô Lan, Cao học Hóa học như anh Nguyễn Hữu Sự, một số thành phần khác như các sinh viên tốt nghiệp Chính trị Kinh doanh, Luật … cũng có thể theo học.
Chương trình nói trên khi huấn luyện tại VN, theo kỹ sư Huân, có thể tiết kiệm được 600 ngàn Mỹ kim, tức tương đương với 255 triệu bạc VN theo hối suất hiện tại.
Theo ông Huân, từ trước tới giờ, mọi công tác huấn luyện và tu nghiệp chuyên viên ngành điện toán đều chi thực hiện tại quốc ngoại rất tốn kém và đòi hỏi nhiều điều kiện, thể thức phức tạp. Phí tổn cho mỗi học viên được gởi theo học ngành này vào khoảng 5.000 Mỹ kim tức là tương đương với 2.125.000 theo hối xuất hiện tại.
Ông Huân cũng nói rằng, mặc dù huấn luyện tại VN nhưng các học viên không thua gì các học viên được huấn luyện ở ngoại quốc, bằng cớ là các kết quả đã kể trên.
Ông Marvin Tank, Phó Giám đốc Cơ quan USAID, nói rằng, chương trình của cơ quan này cho biết, các học viên rất nhanh và giỏi.
Cần thiết cho hậu chiến.
Ngoài sự giúp ích cho các học viên có một nghề nghiệp bảo đảm lợi tức cao là một lẽ, còn lẽ khác là với các lớp điện toán này mở ra, ta phải nhìn tới một khía cạnh khác, đó là sự quan tâm tới việc đầu tư nhân lực cho tương lai. Ông Tổng trưởng Lao Động Đàm Sỹ Hiến đã nói với các học viên như vậy.
Kỹ sư Huân cũng nói rằng: Vấn đề huấn nghệ các chuyên viên Điện toán rất cần thiết cho thời hậu chiến.
Theo ông Huân, máy điện toán được áp dụng trong mọi ngành kế toán, quản trị vật liệu, quản trị xí nghiệp, tài chánh nhân viên và nhiều lãnh vực khác.
Ông cũng cho biết điện toán còn áp dụng vào Y Khoa để khám bệnh, vào Luật Khoa, Giáo Dục, Thuế Khóa, Bầu Cử v.v.
Điện toán, theo ông, chắc chắn sẽ giữ vai trò của một chìa khóa trong các lãnh vực kinh tế, đời sống xã hội cho quốc gia VN, nhất là trong thời kỳ hậu chiến sắp tới.
Mở những lớp điện toán hiện tại là khởi đầu những bước nhỏ mà Bộ Lao Động đã tiên phong đi tới và chắc chắn còn những bước nữa tiếp tục. Ông nói, «với các học viên trong tương lai, chúng tôi hy vọng điện toán sẽ xuất hiện ở mọi ngành và các học viên hiện tại sẽ len lỏi vào mọi lãnh vực, mọi khung cảnh của chính phủ và xí nghiệp, để đem nhiệt huyết và kinh nghiệm ngõ hầu đương đầu với tình trạng của một quốc gia đang cần gây dựng lại.»
LTC: Khi làm lại bài này, tôi vừa typing mà trong lòng vừa rưng rưng thầm khóc. Đây là một (trong những) bằng chứng rõ ràng, giản dị ai cũng thấy được, hiểu được để nói rằng, nếu VNCH không bị đồng minh Mỹ phản trắc thì muôn đời CSBV không thể nào mó tới nổi phố phường miền Nam chớ đừng nói là ăn cướp được Saigon, và nhứt là, VNCH sẽ là nước đi đầu trong tiến trình hóa Rồng hóa Hổ ở khu vực Đông Nam Á ngay trong thập niên 1980s.
Và ngày nay, 50 năm sau ngày black April, nhìn lại nước mình bị bầy chó cộng xã nghĩa phá tan tành, mọi giá trị bị đảo lộn hoàn toàn, và tương lai của cả xứ sở chìm trong u tối, vô vọng ... thì tôi nghĩ chỉ có tượng đá mới không biết khóc là gì.
#Tien Tuyen May. 21, 1970 trang năm
LÀM SAO NHẬT BẢN GIÀU CÓ NHƯ VẬY #Tien Tuyen May. 21, 1970 trang năm, Văn Hóa - Chính Trị
(Bài 010) LÀM SAO NHẬT BẢN GIÀU CÓ NHƯ VẬY
#Tiền Tuyến dịch | bài của John K. Jessup, Tạp chí LIFE March 27, 1970, p. 44
Với sự khai mạc của Hội chợ OSAKA năm 1970 được coi là Năm của nước NHẬT. Sự đòi hỏi này đã được chứng minh bằng sự khéo léo lèo lái của Nhật trên thị trường quốc tế, từ kỹ nghệ sắt thép tới kỹ nghệ đóng tàu tới kỹ nghệ làm nhạc cụ, đàn dương cầm, đàn guitar, trống v.v… cho tới làm bao tay đánh banh.
Nhật Bản đã đạt được những tỷ lệ phát triển kinh tế tốt đẹp, tăng tới 14% năm rồi (so với Mỹ tăng có 4%) và đã khiến cho tổng sản lượng quốc gia của Nhật dẫn đầu trên thế giới chỉ sau có Mỹ và Nga. Nếu tỷ lệ gia tăng này vẫn được tiếp tục giữ nguyên, những năm của thập niên 1970 sẽ là thập niên của Nhật Bản. Sự ổn cố chính trị Nhật Bản được bảo đảm bằng sự thắng lợi tuyển cử mới rồi của Đảng của Thủ tướng SATO đã như một người đứng canh gác cho sự thịnh vượng của Nhật Bản. Theo như Herman Kahn tiên tri, Nhật Bản có thể sẽ là một quốc gia giàu nhất thế giới vào năm 2000, và tin rằng thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của người Nhật.
Người ta thường khó mà vô tư khi trở nên giàu có, điều này rất đúng với Nhật Bản. Trong khi trở nên giàu có mau lẹ hơn ai hết, cho tới bây giờ Nhật Bản đã phải tránh những vai trò thiếu trong sạch trong ván bài của các thế lực chính trị thế giới.
Nước Nhật là một siêu cường nhưng lại hành động như một nước nhỏ, trung lập một cách khéo léo. Họ cũng khéo tránh sao cho mặt ưu mạnh về kinh tế của nước họ khỏi bị dính líu tới chuyện chính trị, và họ cũng gác qua một bên những quyết định gì mà đòi phải dùng tới mặt ưu thế đó. Nhưng điều này không thể kéo dài được, sự vô tư của Nhật cũng chỉ là tạm thời mà thôi.
Năm của Nhật Bản, bắt đầu bằng hội chợ Osaka, là năm mà người Mỹ cần phải lưu tâm tới những gì đang xảy ra cho một Nhật Bản kẻ thù của Mỹ. Người Mỹ phải biết tới câu nói của Đại sứ Mỹ Reischauer nói với người Mỹ qua các sự việc ồn ào xảy ra tại Việt Nam rằng: "Nhật Bản còn quan trọng cho chúng ta (Mỹ) hơn bất cứ phần còn lại nào của Á Châu". Mậu dịch của Mỹ đối với Nhật Bản có trên 8 tỷ Mỹ kim mỗi năm, là con số ngoại thương lớn nhất giữa 2 quốc gia từ trước tới giờ. Điều này đã rất thuận lợi cho Nhật Bản và sinh ra những lời trách cứ sự cư xử không đẹp của Nhật với Mỹ, nếu số ngoại thương này cứ tiếp tục gia tăng.
Người Mỹ cũng đã học hỏi được, từ những cuộc thảo luận hòa giải giữa Nixon và (Thủ tướng) Sato về vấn đề hòn đảo Okinawa rằng hiệp ước an ninh Mỹ Nhật mới được tái tục năm rồi chắc sẽ không còn được coi như thực tế nữa, và cả mọi vấn đề khác về Nhật Bản nữa cũng thế, gồm cả vấn đề nguyên tử, và đầu óc ham hòa bình một cách bướng bỉnh của dân Nhật.
Nhật Bản tóm lại đang ở trong một điều kiện lý thú mà thời đại nữ hoàng Victoria gọi là “thai nghén”. Tuy nhiên, sự chú ý của người Mỹ vào quốc gia mạnh mẽ đang phát triển này chỉ gồm trong vài địa hạt là chuyên viên và doanh nhân. Một vài người Mỹ khác đã bắt đầu hiểu về Nhật Bản nhiều hơn bằng cách tự hỏi rằng các doanh gia Nhật đã học hỏi được những gì, nghĩa là tại sao Nhật Bản, một nước mới đây từng là nạn nhân bị tàn phá của một cuộc chiến tranh tàn khốc, lại có thể trở thành giàu có mau như vậy?
Nếu tài nguyên thiên nhiên đã quyết định cấp bực của các đại cường thì Nhật Bản có thể bị xếp hạng dưới. Nhật có ít than, có thời tiết tốt và bờ biển thuận tiện cho việc xây cất các xưởng máy để nhập cảng với giá rẻ, giống như thiên nhiên của nước Anh hồi thế kỷ 19. Nhưng cũng giống như Anh ở thế kỷ này, Nhật Bản có cả một cơ nghiệp vô tận ở trong đầu óc, và đức tính của cả 102 triệu dân Nhật, mà phần đông được giáo dục kỹ hơn là dân Anh hồi thế kỷ 19, là biết đoàn kết chặt chẽ với nhau hơn cả dân Mỹ.
Thêm vào đó họ rất ham làm việc, và đây chính là lý do thứ nhất của 3 lý do đã làm nên sự thịnh vượng của Nhật.
Sự kiện dễ nhận thấy nhất ở Nhật là một đám đông đảo người Nhật làm lụng rất siêng năng ban ngày cũng như ban đêm. Điều này cũng gây chú ý cho ngay cả người Nhật đi ra ngoài nước trở về. Một người Nhật sống ở Nam Dương trở về nói: "Tôi trở lại Nhật mỗi năm một lần, và tôi cảm thấy không chịu được, mọi việc đều ồn ào, gấp rút, gấp rút, gấp rút". Ở ngoài phố, ở xưởng máy, hay bàn giấy, người Nhật luôn luôn biểu lộ rằng ý lực và nỗ lực là trên hết mọi sự.
Người Nhật có giác quan bén nhạy về nghĩa vụ, điều này đã thúc đẩy họ cố gắng hơn nữa, để giữ lời hứa về thương mại. Người ta có thể thấy cấp chỉ huy, người giữ sổ sách, hay nhân công Nhật đều tình nguyện làm việc cả ban đêm để cho đúng thời hạn giao hàng.
Họ chú ý tới công việc thực sự hơn là chú ý tới giờ giấc. Điều này đã làm ngạc nhiên những người Tây phương. Người Nhật Bản không sợ thất nghiệp vì ở đâu họ cũng kiếm được công việc, thường thường là đủ sống, và chính phủ Nhật cũng chẳng thấy cần phải làm thống kê về thất nghiệp theo kiểu Tây phương. Họ cũng không phải làm việc để tăng công trạng, bởi vì họ được tăng lương và tiền công thể theo thời gian làm việc thâm niên. Làm việc chịu khó là thói quen của Nhật, người Nhật rút những nguyên do và lý luận đó ra từ người khác hơn là từ chính họ.
Và theo tập tục của họ thì họ sợ nhất là: động đất, lửa cháy và nước lụt. Họ sợ những điều này kinh khủng, còn ngoài ra, đối với họ, mọi sự ở đời đều đơn giản có thể giải quyết được nếu có cố gắng.
Phong trào nghiệp đoàn Nhật được khuyến khích trong 7 năm bị Mỹ chiếm đóng, đã có tới 10 triệu 8 trăm ngàn đoàn viên, nhưng ít có hội đoàn kỹ nghệ mà hầu hết là giống như một công ty đóng góp trực tiếp sự quản trị với xí nghiệp. Liên hiệp nghiệp đoàn lớn nhất là Sohyo, được coi như là trụ cột của Đảng Xã hội Nhật, đã gây một áp lực khá mạnh cho mức lương bổng chung; Đình công chỉ có từng giờ chứ không đình công cả ngày «họ chỉ đình công sau giờ làm việc», một chuyên viên lao động Nhật nói như vậy.
Nếu có đình công, họ cũng cho biết trước chứ không muốn người tiêu thụ bị ảnh hưởng.
Bên cạnh tính cầu tiến của dân Nhật, có một lý do nữa khiến cho nền kinh tế của họ thịnh vượng là do sự thích nghi và dễ phù hợp với biến đổi của dân Nhật. Họ đã chứng tỏ khả năng này cho Tây phương biết qua cái phép lạ của thời Minh trị từ 1868 tới 1912 khi vị lãnh tụ của Nhật đã kỹ nghệ hóa xứ sở ra khỏi một xã hội phong kiến mà chỉ qua có một thế hệ. Đây là bằng chứng hùng hồn nhất cho khả năng thích nghi của Nhật trong lịch sử tiến hóa của nhân loại.
Trước kia, gấm lụa được Nhật Bản xuất cảng khá nhiều, nhưng về sau trở nên lạc hậu so với tơ nhân tạo của Mỹ, vậy mà chỉ ít lâu, Nhật Bản trở nên dẫn đầu trong ngành xuất cảng tơ nhân tạo trên thế giới.
Một bằng chứng nữa cho khả năng thích nghi mau chóng của Nhật là bài 20 năm trước, ở thôn quê có 50% dân Nhật ngụ cư, còn ngày nay chỉ còn có 18%. Đạo luật cải cách ruộng đất do Đại tướng MacArthur khởi xướng, được coi là một cải cách kỹ thuật hơn là cải cách sản xuất, đã đưa 10 triệu dân Nhật từ thôn quê lên thành thị làm việc.
Vì nông dân Nhật cũng được giáo dục như các tầng lớp khác nên họ dễ dàng thích ứng với đời sống xưởng máy và đời sống thành thị. Trường học của họ chú trọng đặc biệt tới toán học và khoa học để có thể áp dụng vào bất cứ công việc nào. Sự khéo léo thiên phú cho họ được thấy rõ khi họ xử dụng máy điện toán cũng như tại sân phơi lúa. Cựu nông dân đã là nguồn nhân lực chính cho sự phát triển kỹ nghệ, nhưng bây giờ nguồn ấy đã cạn và Nhật có thể đi đến chỗ khan hiếm nhân công với một sinh xuất không đổi và không có di dân như hiện tại.
Nhưng hiện giờ nhân công vẫn còn dư, ví dụ như tại 1 thang máy ở Đông Kinh có tới 3 cô gái Nhật mặc Kimono làm việc, nhưng thực ra chỉ có một cô làm và 2 cô khác đứng đợi tới phiên mà thôi; tại tiệm hớt tóc có một người cắt tóc thực sự và có tới 6 người phụ việc.
Thêm vào đó Nhật Bản có một nền kinh tế hai từng, một phần chậm tiến về kỹ thuật, một phần rất tân tiến. Hơn phân nửa công nhân Nhật làm việc tại các xưởng máy nhỏ và ít vốn, với số nhân công dưới 300 người. Ở dưới hầm của một khách sạn hạng thường, người ta có thể dễ dàng thấy một số các bà mẹ tụ tập lại với nhau vừa trông con vừa làm những sản phẩm hoa nhân tạo hoặc cây hoa Noel để bán ra ngoại quốc. Dù tiền công và năng xuất của những xưởng này rất thấp kém so với các công việc nơi xí nghiệp lớn, nhưng nó cũng tồn tại được nhờ là cái kết ước ngầm với các xí nghiệp lớn. Có điều họ cũng dễ bị tan vỡ, và thường thường họ là nạn nhân đầu tiên của sự bóp chặt các tín dụng của ngân hàng Nhật.
Một điều nữa chứng tỏ khả năng thích nghi của dân Nhật là sự tối tân của kỹ thuật Nhật trong các xưởng lớn. Như trong thời Minh Trị, tất cả tiến bộ của Nhật đều dựa trên các kỹ thuật vay mượn của ngoại quốc. Nhật Bản là dân chịu khó học hỏi các kỹ thuật của các nước nhất thế giới và xin sản xuất dưới môn bài của nước khác nhiều nhất. Nhưng nếu gọi họ là những người bắt chước thuần túy thì có lẽ đúng dưới thời Minh Trị, còn về sau mà nói thế thì thật là lời phỉ báng đối với họ. Họ là những người bắt chước giỏi nhất và cải tiến giỏi nhất, điều này được chứng tỏ bằng chiếc transistor, một phát minh của Mỹ, đã đạt được thành công rất lớn về thương mại của Nhật trên thị trường thế giới. Kỹ thuật của Nhật ngày nay không thua kém các nước Tây Phương trên mọi lãnh vực chỉ ngoại trừ điện toán mà thôi. Qua hoạt động của Hội đồng Phát triển Khảo cứu, Nhật Bản đã chịu bỏ ra rất nhiều tiền trong việc khảo cứu kỹ thuật, về hỏa tiễn, về không gian lẫn về nguyên tử.
Để đánh giá khả năng kỹ thuật của Nhật, người ta cần lưu ý rằng 80 phân tâm nhân viên thừa hành thương mại Nhật đều tốt nghiệp Đại học, và hầu hết đều thuộc về lãnh vực khoa học hay kỹ sư.
Dù nền kinh tế của Nhật là nền kinh tế tư bản nhưng các doanh gia Tây Phương đều phải sửng sốt bởi 1 điểm đặc biệt, đó là sự phụ thuộc hoàn toàn của các xí nghiệp lớn hay nhỏ vào các trái khoản của ngân hàng thay vì số tư bản của tư nhân. Tỷ lệ thông thường là 70-30 hoặc 80-20, trong khi ở Mỹ thì ngược lại, thị trường tư bản tư nhân phát triển rất mạnh. Dưới con mắt của Tây Phương, cả cơ cấu doanh nghiệp của Nhật hình như nổi trên mặt bể tín dụng ngân hàng.
Tuy nhiên, sự phụ thuộc hoàn toàn vào trái khoản ngân hàng tín dụng thương mại này đã làm thành một điểm mạnh của hệ thống doanh thương của Nhật và cũng là lý do thứ ba cho sự thịnh vượng của kinh tế Nhật.
Đây là sự hợp tác thường là giữa doanh nghiệp công và tư của Nhật. Hàng chục ngàn hãng lớn nhỏ với tổng số tín dụng rất lớn cần cho các xí nghiệp như vậy đã có thể làm ra những quyết định chính yếu cho mọi vấn đề đầu tư, giá cả và chính sách sản xuất chung. Ngược lại những ngân hàng này lại phụ thuộc vào chính sách tài chánh của Ngân hàng Quốc gia Nhật Bản nghĩa là của Chính phủ Nhật.
Do cái kim tự tháp về tín dụng như thế này mà cơ cấu doanh nghiệp của Nhật như người Mỹ đã gọi, trở nên một «sự bành trướng chính sách công bằng phương tiện tư.»
Hệ thống kinh tế này đã được mô tả là «chế độ cộng đồng cạnh tranh có kiểm soát» hay nói vắn tắt hơn là một “Công ty Nhật Bản”. Động cơ của việc đầu tư và cải biến là các xí nghiệp tự lớn hay nhỏ, những xí nghiệp này cạnh tranh với nhau trong thị trường mới trong một chừng mực nhất định.
Một ký giả của tờ The Economist Anh quốc (xứ có một nền kinh tế hoạch định) tuyên bố rằng Nhật Bản là cả một hệ thống kinh tế chỉ huy sáng suốt nhất thế giới. Những ông quan chỉ huy thường làm tại các Bộ Kinh tế Kế hoạch, Bộ Tài Chánh và Bộ Kỹ nghệ và Mậu dịch Quốc tế. Nhưng thay vì làm trọng tài cho mọi cuộc tranh chấp doanh nghiệp, họ thường đứng ra bảo vệ quyền lợi chung đối với những hành vi quá lố của hệ thống tự do thương mại, họ tham gia tích cực vào mọi quyết định của doanh nghiệp. Họ không cần ra nhiều lệnh hay dùng cổ phần để sử dụng quyền bỏ phiếu, mà chỉ cần đạt được những tương thuận trong các buổi thảo luận giữa các đại diện của các hội đoàn thương mại và các lãnh tụ doanh gia.
Như vậy, các kinh tế gia của Tổ chức phát triển kinh tế sau khi trao đổi quan điểm với các kinh tế gia và kế hoạch gia đầu tư của các kỹ nghệ chính sẽ công bố kế hoạch 5 năm để phát triển. Cái kế hoạch theo chỉ thị hay nói đúng hơn là loại kế hoạch làm cảnh. này sẽ không trở lại xử dụng phương pháp bó buộc như tại các nước xã hội chủ nghĩa Sự phát triển hoạch định thường đến sau các hoàn cảnh thực tế, thành ra mỗi kế hoạch của Nhật từ năm 1956 tới nay cứ phải duyệt đi duyệt lại 2, 3 năm 1 lần.
Nhưng ít nhất nó cũng chứng tỏ được rằng chính phủ Nhật muốn hậu thuẫn cho sự phát triển theo chiều hướng tự nhiên. Hơn nữa Bộ Tài chánh và Bộ Kỹ nghệ là 2 Bộ có quyền hạn thực sự về tài chánh và chánh sách thường dùng quyền hạn của họ để hướng dẫn sự trợ cấp tài nguyên cho đúng với kế hoạch đã định. Như vậy công ty Nhật Bản giống như một khối kết hợp khổng lồ của cả ngàn chi nhánh quản trị riêng và các ngành sản xuất khác nhau vào thành một trụ cột tài chánh và tham mưu trung ương. Sự kết hợp có được là nhờ một yếu tố là, các xí nghiệp tư của Nhật ít muốn trục lợi tư bản riêng như các xí nghiệp tại Âu Mỹ. Doanh gia Nhật muốn xí nghiệp phát triển mạnh hơn là thu lời bằng tiền, và đầu óc dân tộc của họ hướng đã quyết định của họ theo như những gì đã được hoạch định chung rồi, nghĩa là chính sách đã vạch ra của Đại Công ty Nhật Bản.
Dù sao, cả hệ thống đã hoạt động, mà một thành công rực rỡ nhất của Nhật là tổng số xuất cảng của Nhật đã tăng lên 600% trong vòng 15 năm và tăng nhanh gấp 2 lần số mậu dịch của thế giới nói chung.
Người Nhật bảo rằng, họ đã hoạch định như vậy vì họ tập trung tiềm lực vào việc đầu tư xuất cảng về các ngành điện tử, máy móc thương mại, và kỹ nghệ hóa học, và bây giờ là xe hơi.
Vì vậy mà hiệu năng kỹ nghệ của họ gia tăng rất mau lẹ đến nỗi các xí nghiệp nhỏ và các nhà sản xuất nhỏ phải hứng chịu định luật đào thải.
Xuất cảng là một chứng nghiệm cho khả năng sản xuất gia tăng của Nhật nhưng không phải lối thoát chánh. Trái với các nước như Anh (20%), Tân Tây Lan (25%), Hoà Lan (42%), Tổng sản lượng quốc gia Nhật chỉ phụ có 10% vào ngoại thương. Kẻ thụ hưởng đầu tiên của sản xuất của Nhật là thị trường quốc nội. Vì thế các nhà xuất cảng Nhật cũng không cần phải “dumping” (bán thật rẻ để bán được nhiều), vì khối tiêu thụ của thị trường trong nước cũng đủ để cho các nhà chế tạo thiết lập nổi các xưởng máy và phát triển đều mà vẫn giữ được giá cả theo mức thị trường.
Thực ra đây không phải là “dumping” mà là hoạch định như vậy. Vì chỉ sau một vài năm tìm kiếm thị trường, và sau khi đã có một thị trường quốc nội vững mạnh, Nhật Bản đã dám thách đố với Đức về giá xe hơi bán rẻ trên thị trường quốc tế.
Hiện nay Đông Kinh là thành phố nhiều xe hơi Nhất thế giới, và trên toàn quốc Nhật có trên 8 triệu xe du lịch, xe buýt, xe vận tải do Nhật chế tạo đang lưu hành. Do đó kỹ nghệ xe hơi Nhật đã có một căn bản để bán xe ra ngoài rẻ hơn là được bảo vệ tại quốc nội đối với các loại xe Volkswagen và các loại xe Mỹ.
Nhưng khối tiêu thụ của Nhật dù có bị Tây Phương hóa rất nhiều đi chăng nữa, vẫn giữ vững trong phạm vi chính sách của chính phủ. Lương bổng và lợi tức vẫn không cao hơn tại Ý (lúc tức tư bản ở Ý khoảng 1.100 so với ở Mỹ 4.100) lương bổng tại Nhật chỉ đứng vào thứ 20 về lợi tức trên thế giới dù rằng tổng xuất lượng của Nhật đứng hạng 3. Lương bổng, lợi tức và mức tiêu thụ tăng lên đều đều mỗi năm, nhưng tổng số sản xuất còn tăng nhanh hơn và làm cho dân chúng có cảm giác thịnh vượng.
Tỷ lệ tiết kiệm thực sự của Nhật cao nhất thế giới đã giúp ích rất nhiều cho công cuộc phát triển. Dân Nhật tiết kiệm được rất nhiều, phần vì lợi tức cao, phần vì theo tục lệ. Một phần ba lợi tức nằm dưới hình thức tiền thưởng nên rất dễ dàng được gửi vào ngân hàng.
Nhưng còn một lý do nữa khiến Nhật tiết kiệm được nhiều và liên tục là, trái với Mỹ phải chi những 9,2% của tổng sản lượng quốc gia cho việc võ trang và Quốc phòng, Anh quốc chi 5,5%, Nhật chỉ chi có dưới 1% tổng sản lượng vào việc quốc phòng, và cũng không muốn chi nhiều hơn nữa vào việc này.
Nói tóm lại chuyện thành công về kinh tế của Nhật là do sự trợ cấp tài nguyên theo lệnh của chính phủ cho những việc xử dụng hữu hiệu nhất, và động cơ thúc đẩy là khả năng ham thích kỹ nghệ và khả năng thích nghi mau chóng của dân Nhật. Nhưng bây giờ, Nhật lại phải đương đầu với một sự thay đổi mãnh liệt, một sự thích nghi mới là hậu quả của thành công của họ.
Vì dù rằng Nhật Bản xuất cảng rất nhiều nhưng lại phụ thuộc vào việc nhập cảng nguyên liệu và nền kinh tế Nhật đã được che chở bởi thế giới không Cộng sản. Nhật Bản không thể đứng vững trong 20 ngày nếu không có nguyên liệu, nhưng mọi thứ nhập cảng vào trong nước đều bị kiểm soát gắt gao.
Chính phủ Nhật kiểm duyệt kỹ càng không những tất cả những gì dùng cho kỹ nghệ, mà còn cả những gì người tiêu thụ Nhật mua ở ngoài, để cho những gì có thể làm được ở Nhật thì không nhập cảng vào Nhật được, và nếu cái gì có thể làm được bởi các xí nghiệp Nhật thì tư bản ngoại quốc cũng không còn cần thiết.
Cái chính sách «con nhím» này đã đưa Nhật Bản đến chỗ xích mích với Mỹ và các hội viên khác tại Tổ chức Hợp tác Phát triển kinh tế được gọi là “Hội quán của nhà giàu” (gồm cả Mỹ, Gia Nã Đại, Nhật và các nước Tây Phương) mà chính sách của tổ chức là tự do mậu dịch và đầu tư lẫn vào nhau.
Sự xích mích với Mỹ đã trở nên càng cay đắng hơn, và gây nhiều bất lợi cho việc giải quyết vấn đề hòn đảo OKINAWA và hiệp hội an ninh Mỹ Nhật. Trong 2 năm rồi, cán cân chi phó ngoại thương Mỹ Nhật đã nghiêng phần lợi lộc cho Nhật tới trên 1 tỷ rưỡi Mỹ kim.
Người Nhật đã cư xử với người Mỹ, như người Bỉ và Hòa Lan cư xử với thuộc địa của họ hồi trước chiến tranh. Nhật mua các nguyên liệu của Mỹ và bán cho Mỹ các hàng hóa đã được chế biến bằng một kỹ thuật rất cao. Nếu khuynh hướng này tiếp tục gia tăng vào năm 1973, thì ngoại thương của Mỹ sẽ khiếm hụt với Nhật trên 4 tỷ Mỹ kim.
Thí dụ rõ ràng nhất là xe hơi. Trong khi Mỹ nhập cảng tới 182.500 xe du lịch, xe buýt và vận tải của Nhật trong năm 1968, thì chỉ có 4000 xe của Mỹ được nhập cảng vào Nhật. Giá 1 chiếc xe Ford Maverick ở Nhật đắt gấp 3 lần ở Mỹ do giá cả và thuế khóa của Nhật. Giá bán tại Nhật chỉ là 1 hình thức hạn chế nhập cảng. Các môn bài nhập cảng đều phải qua Bộ Kỹ nghệ.
Từ năm 1965, khi có thặng dư ngoại thương, Nhật liền vi phạm vào những hiệp ước thương mại song phương, nhưng dưới áp lực của Tây phương, Thủ tướng Sato đòi phải hứa xét lại vấn đề tự do mậu dịch vào năm 1972 và hạ giá nhập cảng xuống một chút đối với các loại trái cây như quả nho nhập cảng.
Nhiều doanh gia Nhật vẫn ở ngoại sự tự do mậu dịch có thể để bị Hoa Kỳ lấn át nên đã đòi hỏi thêm một thời gian nữa để lấp hết cái hố cách biệt kỹ thuật còn lại giữa Nhật với Tây phương. Mặt khác chánh quyền Nhật cũng sợ các xí nghiệp ngoại quốc ở Nhật khó bảo hơn các xí nghiệp Nhật và nếu có quá nhiều xí nghiệp ngoại quốc thì sẽ đe dọa hệ thống tương thuận của kinh tế Nhật. Ngay bây giờ, xí nghiệp hỗn hợp Nhật-ngoại quốc thường thường nắm giữ phần việc quản trị, nhưng người ngoại quốc ít khi được mời họp trong những buổi thảo luận về chính sách.
Tuy nhiên để tiếp tục phát triển, Nhật cũng thấy phải duy trì mậu dịch song phương giữa 2 quốc gia, nhất là đối với những nước tiến bộ về kỹ nghệ. Vì một điều là giá tiêu thụ 5% mỗi năm và một vài chính trị gia đã đổ lỗi cho đó là tại vì chế độ bảo vệ mậu dịch.
Quan trọng hơn nữa là nhiều nhà chế tạo Nhật đã hoạt động với kỹ thuật nhập cảng, và Nhật đã phải trả cho việc này tới 1 tỷ rưỡi Mỹ kim từ thời chiến tranh tới bây giờ. Ngoài vấn đề kỹ thuật, các doanh gia Nhật lại muốn có tư bản ngoại quốc, và nghiệm trọng hơn là họ sợ sự phục thù của người Mỹ. Người Nhật biết thừa rằng có cả hàng trăm dự luật được đưa tới quốc hội Mỹ nhằm ngăn cản bớt sự nhập cảng vào Mỹ mà như thượng nghị sĩ My Javits nói «động viên một cuộc chiến tranh mậu dịch.»
Dù công việc doanh nghiệp đã lôi kéo những tài năng và bộ óc tài giỏi nhất của Nhật, nhưng nó cũng không tạo ra đường lối hoạt động riêng, hoặc những đường lối chính trị. Hệ thống làm việc tương thuận đã chống lại điều này, và các hội viên chỉ làm việc như đàn ong hơn là lãnh đạo hay tranh luận với nhau. Đảng Dân chủ Tự do, đảng của giới doanh nghiệp, đã có hậu thuẫn vững vàng nhưng đã tỏ ra không có thẩm quyền về chính trị. Sự thành công của Đảng này trong tháng 10 năm rồi là do sự thiếu hụt hậu thuẫn và phá sản của đảng Xã Hội đối lập mà thôi. Về chính trị cũng như về doanh thương, Nhật Bản không thích gì hơn là làm tách biệt ra được cái huyền thoại về dân tộc tính của họ.
(Xem tiếp trang 6)
Làm sao Nhật Bản trở nên giàu có...
(Tiếp theo trang 5)
Thủ Tướng Nhật Sato nói tại Quốc hội Nhật rằng: “Thời kỳ bắt chước đã chấm dứt, bây giờ là lúc chúng ta phải tạo ra những mục tiêu riêng bằng chính bàn tay của chúng ta.”
Sự tìm kiếm mục tiêu quốc gia này có thể đưa Nhật vào nhiều năm gấp rút gia tăng sản xuất. Một vài người Nhật đã e ngại sự phục sinh cái niềm hãnh diện quốc gia sẽ làm cho Nhật sống lại chủ nghĩa quân phiệt quốc gia quá dỗi kinh hồn vào những năm 1930. Người ta nói rằng Hoa Thịnh Đốn cần để cho Nhật chia sẻ gánh nặng phòng thủ Thái Bình Dương thì một giáo sư Đại học đường Kyoto trả lời: “Có nhớ vụ Trân Châu Cảng không?”
Nhiệm vụ hợp lý trong tương lai của Nhật là ngoại viện. Nhật đã chi ít tiền cùng một tỷ lệ bách phân vào tổng sản lượng quốc gia trong khối cộng đồng phát triển kinh tế, con số này đã lên tới 1 tỷ mỹ kim trong năm 1968 và sẽ gia tăng mau hơn.
Ngân hàng Nhật đã gấp một phần ba số vốn trong cuộc đầu tư của Tây phương để tái kiến thiết Nam Dương. Nhật Bản được bao bọc bởi nhiều quốc gia chậm tiến gồm cả Siberia và Alaska, và dĩ nhiên có Hoa Lục. Có cả 2 lý do đóng góp vào công cuộc phát triển các xứ này. Thứ nhất là, số thặng dư trong cán cân chi phó không biết làm gì, và có thể Nhật tới chỗ ấn định lại hối suất đồng Yên đã xảy ra với đồng Mark, trừ phi Nhật đầu tư thêm nữa và nhập cảng thêm nữa. Lý do thứ hai là diện tích đất đai của Nhật đã làm hạn chế việc phát triển, nhiều xưởng máy Nhật giờ đây thấy khó mà kiếm ra những vùng đất để lập xưởng máy ở trên hòn đảo này.
Xuất lượng của mỗi mẫu đất tại Nhật đã ở mức độ cao nhất và nhiều xưởng máy đã rất thèm muốn có đất đai rộng rãi hơn và ít đông đúc dân cư hơn để mở mang mà không có. Thứ ba nữa, mức lương bổng nhân công tại Nhật tăng đều 15% mỗi năm và nếu vấn đề khan hiếm nhân công không lớn lên thêm thì Nhật Bản sẽ lôi cuốn các nhân công giá rẻ ở các nơi khác thuộc Á châu. Nhật Bản hiện nay không phải chỉ nhập cảng vải lụa của Bulgaria mà còn để cho Đại Hàn đánh cá và vớt rong biển lên để bán cho Nhật làm thức ăn. Những nhà hoạch định kinh tế Nhật tin rằng sản phẩm bông vải và tơ sợi, gang thép, và có phần xe hơi nữa … đang có nhiều tương lai để Nhật nhập cảng từ các nước Á châu hơn là làm tại Nhật.
Mậu dịch và đầu tư của Nhật như vậy đang chế ngự khắp Á châu, và cả một phần ở Phi Châu và Mỹ Châu La Tinh nữa. Không kể Trung Cộng có thể là làn sóng kinh tế Nhật lan đến trong tương lai, tất cả các phần còn lại thuộc Á Châu đều phụ thuộc vào hơn một phần tư số nhập cảng của họ vào Nhật Bản. Ngay cả Đài Loan, miền đất khá thịnh vượng và cả là một xứ cạnh tranh với Nhật cũng như là cựu thuộc địa của Nhật, thì những hãng lớn như Mitsui, Mitsubishi và Hitachi đã dành hết cả ngoại thương của xứ này, gồm cả những việc ngoại thương không phải với Nhật Bản. Nhật Bản đang gặp phải vấn đề thị trường tràn ngập, nêu lên một mối e ngại chính trị là sợ bị quá phụ thuộc tại những quốc gia như Thái Lan và Phi Luật Tân.
Nhật Bản không vị tha gì, nhưng cũng không phải đế quốc. Trong thị trường của thế giới tự do, Nhật Bản đã cho ít hơn là nhận, lợi nhiều hơn thiệt. Một vài vị lãnh tụ Nhật đã nhận định rằng sự thịnh vượng liên tục của họ phụ thuộc vào thị trường tự do mậu dịch của thế giới tự do. Không phải là lần đầu tiên người Nhật ham kỹ nghệ và dễ phù hợp đã thay đổi đường lối, mà đây là một nhiệm vụ lương hảo và là vai trò lương thiện của một tân siêu cường.
Thuật theo LIFE
Nguyên văn bài của Jessup trên LIFE Mar. 27, 1970:
$pageOut $pageIn $pageOut $pageIn $pageOut
các Phần tiếp theo ==>
















































No comments:
Post a Comment
Enter you comment ...