Quên đi quá khứ của ai hả Hanoi?
Cái Quá khứ mà họ hết sức đòi người ta quên đi chính là chuyện gốc tích sanh ra cái Hiện tại mà họ chối không dám gọi tên.
Translated into Vietnamese by Le Tung Chau
Sept. 28, 2026.
Forget whose past, Hanoi?
The past they really want erased is the origin story of the present they refuse to name.
By Carl Robinson
Sept. 27, 2026
![]() |
| Xem bài nguyên văn Anh ngữ nằm ở dưới bài dịch này |
Hà Nội vẫn luôn mồm nói người ta hãy quên đi quá khứ và hướng tới tương lai. Còn với những người khác nữa — cả ở miền Nam lẫn nơi cộng đồng người Việt ở hải ngoại trong đó có biết bao gia đình từng nếm mùi thảm cảnh bị cầm tù cải tạo, gia sản bị cướp đoạt hay những thập niên thuyền nhân vượt biên sinh tử … thì là cái quá khứ ấy mới chính là cái gánh chưa một phút thôi trĩu nặng trên vai. Các bạn-nạn nhân này là lớp người bị đòi phải quên đi những trò tẩy não, quên cảnh tù đày, quên cảnh bị chụp mũ, bị nhục mạ là "tay sai" và quên cả cảnh bị bịt miệng không cho lên tiếng.
Ấy thế nhưng cái quá khứ mà người ta bây giờ đòi xóa đi đó đâu có phải là quá khứ của các bạn. Mà là quá khứ của chính họ — gồm những trò chụp giựt bất chấp, nói một đường làm một nẻo, tuyên truyền tẩy não, rồi là cả một chiến dịch đàn áp khủng bố và thâu tóm hết quyền hành vào tay. Lời nói "quên đi quá khứ" không phải là lời mời hòa giải; mà nói như thế để ráng sức vùi lấp đi những thành tố nào đã lột trần việc chế độ hiện tại của họ được dựng lên như thế nào.
Hãy trở lại với khởi điểm "cách mạng" tháng Tám 1945. Việt Minh đâu có đánh bại quân Nhật. Phát xít Nhật đã đầu hàng rồi, và bộ máy chính quyền thực dân thì đã tan biến. Chẳng qua Hồ Chí Minh là kẻ nhanh tay lẹ chân hơn hết — vọt lên hàng đầu trong số những lực lượng kháng Pháp, chớp thời cơ khi thấy có khoảng trống quyền lực, giành lấy micro và rồi tuyên bố một cuộc "cách mạng" mà thực tế cuộc "cách mạng" đó chưa hề diễn ra. Thực chất đó chỉ là trò chụp giựt được khoác lên lớp áo gọi là tất yếu lịch sử.
Lại nữa, Việt Minh đâu có tư cách đại diện cho toàn dân. Việt Minh chỉ là một đoàn người tiên phong đi theo chủ nghĩa Mác-Lê thôi, và ngay từ nhiều năm trước năm 1945, Việt Minh đã bắt đầu ra tay tiễu trừ, thanh toán, thủ tiêu các đối thủ chính trị. Các "mặt trận thống nhất" này kia mà Việt Minh bày ra chỉ là những cửa tiệm treo đầu dê bán thịt chó. Thực dân Pháp luôn thấy dễ ăn hơn khi ruồng bố, đàn áp các lực lượng người Quốc Gia-không cộng sản rất dễ nhìn thấy, còn Việt Minh thì Pháp chừa ra mà nó là phe có tổ chức sau chót còn trụ lại được khi Phát xít Nhật đã bị xếp xó.
Trong khi đó, ở miền Nam — dù còn đủ thứ rối ren, huyên thuyên náo nhiệt và bất toàn — lại đang xây dựng một thể chế chính trị không cộng sản với bầu khí tự do chính trị lớn hơn xa so với những gì miền Bắc dám làm. Gồm có tự do báo chí, tự do đảng phái, tự do hội thảo, tự do tuyển cử và dân chúng trong Nam không việc gì phải rỉ tai to nhỏ mỗi khi bàn chuyện chính trị. Đó là lý do vì sao miền Nam từ chối không đặt tay ký Hiệp định Geneva. Đó cũng là lý do vì sao có tới hàng ngàn người từng đi theo Việt Minh đã phải tháo chạy vào Nam. Vì họ đã tận mắt chứng kiến bộ mặt thật của chế độ miền Bắc — kềm chặt dân chúng, các trận bắt bớ thủ tiêu, nỗi kinh hãi của cuộc Cải cách Ruộng đất — cho nên họ không còn muốn dính gì tới nó nữa.
Sau năm 1954, trên nước Việt Nam đã hình thành hai thể chế chính trị mà trong đó chỉ có một là nhà nước độc đảng. Có một điều mà ít ai nhắc đến, đó là: vào thời điểm đó, Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng hề chính thức hiện hữu. Đảng này đã tự giải tán vào năm 1945 cốt để che đi hình tích thật của họ. Cuộc chiến kháng Pháp thì diễn ra dưới cái bảng hiệu của Việt Minh. Thế rồi vào năm 1951 Đảng này ló mặt ra với tên gọi là Đảng Lao động — và mãi đến sau năm 1975, khi thâu tóm cả nước dưới sự kiểm soát của chế độ độc tài đảng trị, thì cái tên "Đảng Cộng sản Việt Nam" mới được đưa ra lại. Những gì gọi là huyền thoại chỉ là trò thêu dệt về sau.
Và Hồ Chí Minh cũng chưa hề được là một người hùng độc tôn. Ở miền Nam thì không đã đành. Với người Quốc Gia – không cộng sản cũng không. Cũng không nốt với những ai từng đi theo Việt Minh rồi tìm đường di cư vào Nam sau khi tận mắt chứng kiến bản chất của Việt Minh. Sự sùng bái độc tôn áp lên Hồ Chí Minh là do chế độ miền Bắc đẻ ra — qua lề lối tuyên truyền, qua cách ruồng bố, đàn áp và cách độc chiếm cái loa thông tin một mình một chợ. Ở miền Nam, người ta nhớ đến ông ta như là một kẻ đã dựng lên nhà nước độc tài đảng trị ở miền Bắc, là kẻ đã phát động những trận khủng bố kinh hoàng và đưa người xâm nhập vào Nam gọi là "tình nguyện" — nhưng thực chất đó là quân chính quy Bắc Việt. Chẳng có ai ở Sài Gòn mừng đón gì ông ta vào năm 1975 cả. Sự suy tôn ông ta chỉ là riêng ở địa phận Bắc Việt chứ không phải toàn quốc — và nó chỉ trở thành tính "quốc gia" sau khi mọi tiếng nói bất đồng đã bị dập tắt.
Nội cuộc chiến hai mươi năm còn mang trong mình nó một sự thật mà Hà Nội chưa bao giờ dám công nhận: đó là miền Bắc đã đưa hàng trăm ngàn thanh niên trai tráng xâm nhập vào Nam dù biết rõ phần lớn trong số đó chỉ có đi mà không có ngày về. Số trai trẻ ấy là số thanh thiếu niên bị cưỡng bách tòng quân — nông dân có, học sinh sinh viên có — những cậu trai trẻ này bị bắt phải lìa bỏ quê nhà để sa chân vào con đường gọi là đường mòn Hồ chí Minh rồi nhập vào một cỗ máy mệnh danh là chiếc "cối xay thịt". Đảng gọi đó là công cuộc "giải phóng" nhưng thực chất đó là cuộc thí quân coi mạng người như cỏ rác. Có những đoàn quân Bắc Việt đã chết sạch không còn chút vết tích. Và thân nhân, gia đình của những cán binh này đã mòn mỏi mong ngóng trông tin con em mình hay chồng mình suốt trong nhiều chục năm sau để rồi chẳng bao giờ nhận được chút tung tích nào. Còn Miền Nam, đâu chỉ có chiến đấu chống lại một đoàn quân y hệt cái cỗ máy bị giựt dây đó mà Miền Nam còn phải đối đầu với nguyên một thế hệ trai tráng mà CSBV đã coi như khai tử họ rồi. [ * ] Sự hy sinh của những thanh niên miền Bắc là có thật rành rành, thế nhưng họ bị người ta quyết định ném vào chảo lửa chỉ vì mưu đồ chính trị của người ta thôi, chứ chẳng phải họ là anh hùng gì.
Chẳng phải tự nhiên mà bùng ra cuộc chiến ở miền Nam. Nó chẳng phải là do "nhân dân nổi dậy". Cũng chẳng phải bởi lý do nội tại từ tinh thần dân tộc trỗi dậy.
[ LTC chú: ở đây, Carl Robinson muốn nói tới việc gọi bằng «chống Mỹ» mà Bắc Việt đã xài đến mòn lỉn, trong đó chúng luôn mồm bảo rằng, khi thấy người Mỹ trợ lực cho VNCH chống lại Bắc Việt xâm lăng thì tinh thần dân tộc của nhơn dân miền Nam trỗi dậy chống Mỹ!
Nguyên văn đoạn này là:
The war in the South wasn’t spontaneous. It wasn’t “the people rising up.” It wasn’t an organic nationalist awakening. ]
Tất cả đều do bàn tay của Hà Nội. Họ phát động một chiến dịch khủng bố. Họ dùng bạo lực cưỡng ép để tách riêng các địa phương ra. Họ thủ tiêu Xã trưởng, giáo chức và viên chức Cảnh sát. Họ dựng lên một thứ chính quyền mà họ đứng núp bóng đàng sau. Họ bày trò thu thuế, dùng thủ đoạn gài ép để đưa người chui vô nội bộ chánh quyền Quốc Gia. Còn quân chính quy Bắc Việt của họ — mà họ kêu bằng cái tên thơm tho là lính "tình nguyện" thì họ chối là không có xâm nhập miền Nam. Thiệt là thứ nói láo không ai nhịn được cười. Hồi năm 1975 ở Sài Gòn chẳng một ai reo mừng. Cũng chẳng có cái gì gọi là giải phóng. Chỉ có người ta bỏ rồi họ đến lấy thôi. Rồi mọc lên những trại tù cải tạo, những vụ cướp đoạt tài sản, chiếm đoạt gia sản, các cuộc ruồng bố bắt bớ, rồi tới làn sóng thuyền nhân vượt biển, tất cả đều bị bịt miệng và nỗi sợ bao trùm.
Ngay cả những anh Việt Cộng cũng không thoát khỏi hệ lụy khi Cộng sản thắng. Khi thắng cuộc rồi, nhiều cán bộ miền Nam — vốn đã trực tiếp chiến đấu, xây dựng mạng lưới giao liên bí mật và từng chịu nhiều hung hiểm sinh tử — lại bị gạt sang bên lề, bị giáng chức hoặc bị thanh trừng. Số Việt Cộng này trong thời chiến thì có lợi đấy nhưng chưa bao giờ họ được tin tưởng thực sự. Hà Nội thay thế lớp Việt Cộng này bằng các cán bộ từ miền Bắc trung thành với Đảng chứ không phải những người một lòng một dạ vì miền Nam. Bây giờ khi đã thắng cuộc thì những "giải phóng quân" hôm qua bị đối xử như một bài toán nan giải cần phải kềm chặt hơn chớ họ không còn được coi là đồng chí nữa. Đó là một mảng tối khác của quá khứ mà trong câu chuyện chính thống hôm nay nó không bao giờ được nhắc đến.
Đó là cái quá khứ mà Tô Lâm đòi người ta quên đi.
Bởi lẽ, nếu như ai ai cũng nhớ rành như thế — với bộ máy nhà nước công an trị, với các điều luật 331 và 117 rành rành, những giấy triệu tập, với sự kiểm duyệt bịt miệng và cai trị đất nước bằng nỗi sợ — thì bây giờ ngay trong hiện tại, người ta sẽ khó mà xem đấy là đường lối chuệch choạc nhất thời, mà thấy rất rõ đó là một sự liên tục tiếp nối từ quá khứ mà Ha Noi đã làm.
Cái Quá khứ mà họ đòi người ta quên đi chính là chuyện gốc tích sanh ra cái Hiện tại mà họ chối bỏ không dám gọi tên.
Translated into Vietnamese by Le Tung Chau
Sept. 28, 2026.
[ * : đoạn này Carl Robinson muốn nói là, đoàn quân chính quy Bắc Việt một khi «đi B» (tức lên đường xâm nhập miền Nam) thì coi như đó là một đoàn quân ma vì họ đã bị bọn đầu lãnh Cộng sản Bắc Việt (CSBV) đưa vô chỗ chết khi đem họ nướng thí trong cái chảo lửa chiến trường miền Nam. Nhưng vì đây là chuyện người chết cho nên Carl dùng lối nói ẩn dụ thiệt là sâu xa kín đáo bởi vì nói trắng ra thì nó bất nhẫn quá!!! Nguyên văn câu này Carl viết là: «The South wasn’t fighting puppets; it was fighting a generation the North had already written off.
Lối diễn tả khéo léo này LTC tôi chưa từng thấy một người ngoại quốc nào viết ra ngay cả với một bậc thầy chuyên viên về chiến tranh Việt Nam, «rành sáu câu» về CSBV, là Giáo sư Douglas Pike!
Còn người Quốc Gia miền Nam chúng ta thì nói làm gì, chúng ta đã có 4 chữ «Sinh Bắc Tử Nam» là đủ gọn ghẽ để diễn tả hết nỗi đau thương của đoàn cán binh Cộng sản bị buộc phải bỏ cha mẹ, người thân yêu, bỏ xóm giềng lên đường xâm nhập miền Nam mà bắn giết đồng bào để rồi chính họ cũng bỏ thây giữa núi rừng Trường Sơn!!!
Đến nay, Sept. 2026, đọc bài tiểu luận với những giọng lời diễn đạt sắc cạnh của Carl Robinson như đục thẳng vô cái gốc tội ác của Hanoi không tránh né, làm tôi không khỏi nhớ lại ngay lập tức một người cũng am hiểu về chiến tranh Việt Nam như vậy, đó là Giáo sư Douglas Pike.
Hồi 1972, Giáo sư Douglas Pike có viết một bài Tiểu Khảo với tựa «When the Communists come» [ «Khi Cộng Sản Đến», bài này tôi đã dịch sang Việt ngữ hồi Nov. 2024 và đã đăng trong Library này [ Phân đoạn 6 ], đôi ba hôm nữa tôi sẽ đem lên chợ Phây đăng lại ].
Bài «When the Communists come» của Giáo sư Douglas Pike đã đăng làm 2 kỳ trên tờ Bán Nguyệt san Tin Tức của Bộ Ngoại Giao VNCH bằng Anh ngữ là tờ Vietnam Bulletin Volume VII, No. 16, Aug. 31, 1972, trang 14, và số tiếp theo là Vietnam Bulletin Volume VII, No. 17 & 18, Sept. 20, 1972, trang 29.
Trong «When the Communists come», Giáo sư Douglas Pike đã làm kinh ngạc biết bao nhiêu người ở hậu phương của miền Nam đang còn yên vui yêu đời nơi phồn hoa đô hội văn minh trong khi chính họ là người Việt nhưng sự hiểu biết về chính chiến cuộc đang tàn phá đất nước VNCH của họ chả thấm vào đâu khi đọc tới Giáo sư Douglas Pike.
Cả Ký giả Carl Robinson lẫn Giáo sư Douglas Pike [ 1924 – 2002 { ông nhỏ hơn Tổng Thống Thiệu 1 tuổi } ] là hai trong số ít người Mỹ có một trình độ am hiểu sâu xa thấu đáo nguyên ủy cùng diễn biến của cuộc chiến tranh phi nghĩa hai mươi năm mà Hanoi chủ chiến, cũng như hiểu tường tận bọn đầu lãnh CSBV từ lề lối suy nghĩ của chúng cho đến cách thức tổ chức, phân cấp trong hàng ngũ Bắc Việt. Và nay thì một người đã quy tiên còn một người vẫn còn tại tiền. Kẻ hậu sinh LTC này nguyện không bao giờ quên tâm tình sâu xa của nhị vị đã dành cho đất nước VNCH, miền Nam Tự Do của chúng tôi!!!
Forget whose past, Hanoi?
The past they really want erased is the origin story of the present they refuse to name.
Carl Robinson Sept. 27, 2026
Hanoi keeps telling people to forget the past and look to the future. But the burden is always on everyone else — the South, the diaspora, the families who lived through re‑education camps, confiscations, and the boat people years. You’re the ones expected to forget the lackey slur, the prisons, the purges, the silence.
Yet the past they want erased isn’t your past at all. It’s theirs — the opportunism, the camouflage, the purges, the terror campaign, the takeover. “Forget the past” is not a call for reconciliation; it’s an attempt to bury the parts that expose how their present has been built.
Start with the “revolution” of August 1945. The Việt Minh didn’t defeat the Japanese. Tokyo surrendered. The administration evaporated. Hồ Chí Minh was simply quickest off his feet — first to seize the vacuum, grab the microphone, and declare a “revolution” that hadn’t actually happened. Opportunism dressed as inevitability.
And the Việt Minh didn’t represent the whole nation. They were a Marxist‑Leninist vanguard that had already begun purging rivals long before 1945. The “united fronts” were camouflage. The French had always found it easier to persecute the visible non‑communist nationalists, leaving the Việt Minh as the last organised force standing when the Japanese folded.
Meanwhile the South — messy, noisy, imperfect — was building a non‑communist political space with far more freedom than the North ever allowed. It had newspapers, parties, arguments, elections, and a public that didn’t whisper when politics came up. That’s why the South refused to sign Geneva. That’s why thousands of ex‑Việt Minh fled south. They had seen the system up close in the North — the surveillance, the purges, the land reform terror — and wanted nothing more to do with it. Two systems emerged after 1954, and only one of them was a one‑party state.
Here’s the part nobody ever says: The Vietnamese Communist Party wasn’t even officially there. It dissolved itself in 1945 to hide its identity. The French war was fought under the Việt Minh banner. The Party only re‑emerged in 1951 as the Workers’ Party — and didn’t reclaim the name “Communist Party of Vietnam” until after 1975, once the whole country was under one‑party control. The mythology came later.
And Hồ Chí Minh was never a universal hero. Not in the South. Not among the non‑communist nationalists. Not among the ex‑Việt Minh who fled south after seeing the system up close. The reverence was manufactured in the North — built through propaganda, purges, and a monopoly on narrative. In the South, he was remembered as the man who built a one‑party state, launched the terror campaign, and sent “volunteers” who were actually troops. Nobody in Saigon cheered his arrival in 1975. The mythology was regional, not national — and it became “national” only after dissent was silenced.
And the war itself carried a truth Hanoi never acknowledges: the North sent hundreds of thousands of young men south knowing full well most would never return. They were conscripts — farmers, students, boys pulled from villages and marched down the Trail into a meat grinder. The Party called it “liberation,” but it was attrition. Entire cohorts vanished. Families waited decades for news that never came. The South wasn’t fighting puppets; it was fighting a generation the North had already written off. The sacrifice was real, but the decision to spend them was political, not heroic.
The war in the South wasn’t spontaneous. It wasn’t “the people rising up.” It wasn’t an organic nationalist awakening.
It was Hanoi.
They launched the terror campaign. They cut off regions under coercive control. They assassinated village chiefs, teachers, policemen. They built shadow governments. They taxed, coerced, infiltrated. And denied having troops there — “volunteers,” they said. Everyone laughed.
Nobody cheered in Saigon in 1975. There was no liberation. There was takeover. Re‑education camps, confiscations, purges, boat people, silence, fear.
And even the Việt Cộng didn’t escape the aftermath. Once the war was won, many of the southern cadres — the ones who had carried the fighting, built the networks, taken the risks — were side-lined, demoted, or purged. They were useful during the war, but they were never trusted. Hanoi replaced them with northern cadres loyal to the Party, not to the South. The “liberators” were treated as a problem to be managed, not partners in victory. Another part of the past that never makes it into the official story.
That’s the past Tô Lâm wants forgotten.
Because if people remember it clearly, the present — the police‑state machinery, the 331/117 reality, the summonses, the censorship, the fear — looks less like a deviation and more like continuity.
The past they want forgotten is the origin story of the present they refuse to name.


No comments:
Post a Comment
Enter you comment ...