. .

Saturday, April 12, 2025

Chứng Tích bên phía CSBV part 3

written & collected by Le Tung Chau
ngày khởi đăng Apr. 12, 2025
(tiếp theo Chứng Tích bên phía CSBV)

$pageIn
Phân đoạn 1

KHI CỘNG SẢN ĐẾN
WHEN COMMUNISTS COME

By Douglas Pike
(Trang 14 Vietnam Bulletin Volume VII, No. 16, Aug. 31, 1972)
Translated into Vietnamese by Le Tung Chau – Nov. 20, 2024

KHI CỘNG SẢN ĐẾN
WHEN COMMUNISTS COME
By Douglas Pike
(Trang 14 Vietnam Bulletin Volume VII, No. 16, Aug. 31, 1972)
Translated into Vietnamese by Le Tung Chau – Nov. 20, 2024

Ở những vùng hậu phương VNCH bị Bắc Việt chiếm đóng, đời sống của dân chúng bây giờ là một tổng hợp của nỗi kinh khiếp, lúng túng lo âu và cả niềm hy vọng.
Cảnh ngộ ấy hiện lên qua những gì mà đồng bào tản cư chạy giặc và nhiều người khác chạy thoát về được … kể lại cho chúng ta biết tình hình ở 14 quận (trong tổng số 272 quận trên toàn lãnh thổ VNCH) bị Bắc quân kiểm soát (tính đến đầu tháng 7 năm 1972).
Trong đó, có 7 quận thuộc tỉnh Quảng Trị, tỉnh địa đầu giới tuyến của Nam Việt Nam, nằm ngay dưới vĩ tuyến 17 phân chia 2 miền Nam Bắc. Còn lại là 7 quận nằm sâu hơn về mạn Nam, thuộc tỉnh Bình Định và một phần của tỉnh Kontum kế cận; thậm chí nằm xa hơn nữa về phương Nam, ngay bên trên Sài Gòn, phân nửa vùng Bắc Bình Long.

I
TỔNG QUAN: Các tay đầu lãnh Bắc Việt vô cùng thất vọng vì cái gọi là trận đánh Mùa Hè Đỏ Lửa (1) của chúng đã chẳng kéo theo các cuộc biểu tình, bạo loạn, nổi dậy nào cả, cũng chẳng có các kiểu xáo trộn xã hội nào khác trên toàn cõi VNCH và nói riêng là ở các thành phố lớn, là điều mà chúng đã phần nhiều trù tính là sẽ gây được xáo trộn và rồi nuốt trọn miền Nam luôn. Sở dĩ chúng thất vọng là do bởi chúng đã mọng ăn miếng to quá lố chớ đó không phải chỉ là chuyện trông chờ thường tình. Nếu chúng không mong đợi là sẽ có chuyện tổng nổi dậy ly kỳ đến hoang đường - mà vụ tổng công kích Tết Mậu Thân năm 1968 đã dạy chúng là chớ có trông chờ điều đó – thì lần này chúng lại trông chờ những cử chỉ sát cánh, biểu lộ lòng trung kiên và quàng vai chúng vào cùng một phe … sẽ xảy ra nơi các phe cánh chống chính quyền của Tổng thống Thiệu, thêm vào đó là trông chờ vào tình tự chống Mỹ của nhiều giới ở Nam Việt Nam.
Nhưng điều trông chờ đó cũng không có luôn. Cái cỗ xe gây chiến tranh chết chóc hủy diệt của Bắc quân – hàng hàng các sư đoàn xe tăng có bộ đội tùng thiết, hàng đoàn quân có đại pháo đi kèm sầm sập tràn về phương Nam - đã gây khủng bố chết chóc cho biết bao thôn dân làng xã miền Nam. Làm sao có thể khác được bởi vì loại xe tăng chiến lược này tự ngay nơi bản chất cũng như công thức chế tạo là cốt để sinh ra một lượng thương vong nhân mạng khổng lồ. Thất thần trước họa thương đau, người dân Nam chỉ còn biết nỗi sợ hãi. Thất thần vì nỗi sợ hãi, người dân Nam đã dằng xé giữa hai đàng – bị buộc phải lựa chọn, hoặc là quân xâm lăng Bắc Việt hoặc là người lính bảo quốc an dân VNCH, không có lựa chọn thứ ba.

Kề sát với mối nguy đang lù lù xấn tới thì bất cứ điều gì khác biệt với Cộng sản mà người dân Nam có thể đã từng thấy biết nơi chính quyền của Tổng thống Thiệu ở Sài Gòn giờ đây đều trở nên nhạt nhòa, xa xăm. Bắc quân đang mở trận đánh phục hận trên ba mặt trận địa. Trận địa thứ nhất là đánh vào Huế, thành phố mệnh danh là miền đất thần kinh của nước Việt Nam. Trận địa thứ hai là từ một hang ổ ở bên Cao Miên chỉ cách Saigon có 70 dặm [ lối 112 cây số ] dàn quân tiến về Sài Gòn. Trận địa thứ ba và cũng là trận địa lộ liễu nhứt ấy là các trận tập kích vào Kontum ở vùng rừng núi giáp giới với Lào và cùng lúc đánh vào tỉnh Bình Định kế cận, nếu chuyện đó mà thành thì chúng sẽ chia cắt Nam Việt Nam ra làm hai. Đó là nỗi ám ảnh hiện ngay trước mắt những người Việt miền Nam đang đương đầu ở tiền tuyến, ai ai cũng đều chứng kiến cái cảnh đoàn quân Bắc Việt đang xồng xộc lao tới.
Lối ba phần tư triệu đồng bào Xã Ấp Việt Nam đã tháo chạy trước cuộc tấn công trực diện này của Bắc quân, và số đồng bào ấy nay được xếp loại là đồng bào chiến nạn hay còn gọi là nạn nhân chiến cuộc. Số đồng bào ấy vẫn quyết chạy giặc tản cư, bỏ ngoài ta mọi lời nói của Bắc Việt bảo đảm với họ rằng cộng sản không phải là kẻ thù của họ, họ từ chối quay về nhà nơi những vùng Xã Ấp đang bị Bắc Việt chiếm đóng bất chấp người cộng sản cố công tuyên truyền gắt gao cùng với những cố gắng dẻo mồm khác để thuyết phục đồng bào chiến nạn hồi hương. Đời sống trong các trại tạm cư dành cho nạn nhân chiến cuộc vốn được xây cất gấp rút, làm sao mà đủ đầy tiện nghi, thế nhưng đối với 750.000 nạn nhân chiến cuộc thì ở đấy vẫn còn tốt hơn nhiều quay về nhà mà sống với cộng sản.
Còn khoảng 600.000 đồng bào khác đã không kịp - hoặc không thể - chạy thoát. Bây giờ họ đành chịu nằm lại dưới ách khống chế của cộng sản. Đây là số đồng bào – khoảng 3% tổng dân số Nam Việt Nam – chiếm phần chú trọng chủ yếu của chúng tôi qua những dòng này. Tập tiểu khảo này là một công trình nghiên cứu về những gì đã xảy ra với số đồng bào ấy khi cộng sản đến.
(1): + nguyên văn: Easter offensive, là chữ Anh ngữ mà người Mỹ và các báo chí ngoại quốc gọi cuộc tấn công của CSBV (Cộng sản Bắc Việt) vượt qua Vùng Phi Chiến đánh vào Nam vào ngày 30-3-1972 vì nó nhằm Mùa Lễ Phục Sinh (Easter) của người Công giáo. Còn dân miền Nam thì quen gọi đấy là Mùa Hè Đỏ Lửa, gọi theo tên tựa sách Bút Ký Chiến Tranh Mùa Hè Đỏ Lửa của Đại Úy – nhà văn Phan Nhật Nam, Sáng Tạo xuất bản lần thứ nhất, Saigon, Sept. 1972.
+ Người Mỹ và báo chí ngoại quốc thường dùng chữ Anh ngữ để gọi miền Nam Tự Do, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) là Nam Việt Nam (The South Vietnam). Ở đây, tôi dùng danh xưng – quốc hiệu VNCH nhiều hơn vì quen thuộc, thuận nhĩ với dân miền Nam nói riêng và chính đính với Sử Việt nói chung, chứ không (hoặc ít) dùng chữ Nam Việt Nam như trong nguyên bản.
+ Người Mỹ và báo chí ngoại quốc cũng thường dùng chữ Anh ngữ People's Army Of Vietnam tức PAVN = Quân đội Nhân dân Việt Nam để trỏ quân CSBV theo cách mà Cộng sản Bắc Việt tự gọi quân đội của chúng, còn tôi dùng chữ mà người Quốc Gia ở miền Nam đã quen dùng để trỏ quân Bắc cộng là, hoặc CSBV, Bắc quân hoặc Cộng quân.
+ Vietnam Bulletin: Bán Nguyệt san Tin tức của Tòa Đại Sứ VNCH tại Hoa Thịnh Đốn

II
TÍNH CÁCH MA MỊ THẦN QUYỀN: Thật vậy, một khi chiếm được một địa phương Xã Ấp nào của miền Nam thì số cán bộ cộng sản biến thành một thứ chính quyền quân quản ở nơi đó, chúng luôn đeo trong đầu một kiểu cách ma mị thần quyền về những gì chúng đang làm, phải làm như thế nào và lý do tại sao làm. Quan trọng là phải hiểu cho được trong đầu chúng có những hiểu biết gì vì nếu không thì viết cho lắm nói cho lắm cũng chẳng có nghĩa lý gì. Hồi tháng 4 năm nay, tại tỉnh Quảng Tín, quân Quốc gia có tịch thu được một tài liệu của Cộng sản, với tiêu đề là 'Mười ngày tiến tới thắng lợi', đó là một bản hướng dẫn của Ủy ban Trung ương Tỉnh của Việt cộng về cách tiếp quản và điều hành một địa phương Xã Ấp sau khi chiếm được của địch. Tài liệu đó viết theo kiểu không phải như một bản Thông Tư hành chánh thông thường mà là một tài liệu huấn luyện, nó đúng là một kiểu lý tưởng hóa khi đem các thứ nhồi sọ, tưởng bở với lại các chỉ thị thi hành trên thực tế trộn lẫn vào với nhau. Lý do chánh ta nên đọc tài liệu đó là, chẳng phải vì có mỗi chuyện thu thập tin tức bên phía Cộng sản, mà là cốt để hiểu cho thấu suốt những định kiến gì đã được cài vào đầu bọn cán bộ sẽ nắm quyền quân quản nơi nào chúng chiếm được.

‘Mười ngày tiến tới thắng lợi’ gồm những điều như sau:

'Ngày thứ nhất: Các đơn vị chính quy (Bắc Việt) tấn chiếm Xã, Ấp hoặc một đồn bót nào đó. Du kích tại chỗ thủ tiêu hết công chức và chính quyền cơ sở của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và tiêu diệt luôn các đơn vị võ trang phòng vệ Xã Ấp của phía Quốc gia. Xách động dân chúng nổi dậy'
'Ngày thứ hai: Tổ chức họp hành và các cuộc mít tinh. Lập ra tòa án cách mạng, bắt đầu các phiên xử. Lập ra các bộ phận hành chánh địa phương. Tiếp tục mở các cuộc hành quân đánh các tiền đồn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ở quanh đó.'
Ngày thứ ba: Tổ chức trong quần chúng lập ra các hiệp hội mang tên giải phóng và các phong trào xã hội khác. Dùng các kỹ thuật binh vận để hóa giải tinh thần binh sĩ nơi các tiền đồn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và đồng thời thiết lập một hệ thống phòng thủ.'
'Ngày thứ tư: Bắt đầu mở các khóa học nhồi sọ nhằm khống chế dân chúng bằng các giáo điều Cộng sản. Hô hào dân chúng góp tiền góp gạo,'
'Ngày thứ năm: Bắt đầu huấn luyện đám quân du kích mới vừa tuyển được.'
"Ngày thứ sáu: Tiếp tục vận động dân chúng góp tiền góp gạo. Bắt đầu dựng ra Xã Ấp chiến đấu. Tiếp tục gây áp lục quân sự lên các tiền đồn QLVNCH ở gần đó.
'Ngày thứ bảy: Phân loại các thành phần dân chúng. Tuyển người làm cán bộ và nhân viên hành chánh địa phương (cho giai đoạn kế tiếp). Dàn dựng các cuộc họp hành mít tinh kỷ niệm thắng lợi.'
'Ngày thứ tám đến ngày thứ mười: Gia tăng công cuộc tuyên truyền xách động trong dân chúng. Ban hành các hình thức tuyên dương công trạng với phần thưởng. Bắt đầu lên kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo – giai đoạn đấu tranh và nổi dậy.'

Những điều như thế đúng là một thứ ma mị thần giáo. Có thực tại chứa trong đó chớ, vì nếu không phải là thực tại của sự thật, thì đó là thực tại của nhận thức, của hiểu biết trong đầu người Cộng sản. Đó là đường hướng của cán bộ Cộng sản khi y ta bước vào nhận nhiệm vụ ở Xã Ấp.
Lịch trình tổng quát của các sự kiện mà tài liệu 'Mười ngày tiến tới thắng lợi' viết đã xảy ra đúng y như vậy. Quân chính quy CSBV đánh chiếm một địa phương. Chúng dựng lên một bộ máy hành chánh cho địa phương đó bằng cách hoặc dùng bọn đặc tình nằm vùng tại chỗ trong các vùng đất do cộng sản kiểm soát gần kề đó hoặc dùng thành phần dân chúng Xã Ấp cũ được coi là đủ tiến bộ giác ngộ. Thường thì các công chức Xã Ấp của chính quyền Quốc gia được lưu dụng tạm một vài tuần. Tiếp đó, CSBV đưa ra một thứ quyền hành ngầm nấp sau bức bình phong che mắt thế gian, gồm những thành phần cộng sản tại chỗ do chính chúng đưa lên, bọn này cố khoác cái vẻ hiện diện bề ngoài sao cho giản dị không màu mè gì hết.
Tiếp theo là định hình một chính quyền địa phương, đẻ ra các phong trào quần chúng địa phương, cho đi thu gom tiền bạc, gạo mắm, rồi cào bằng hết thảy bằng một thứ gọi là công lý, công bằng của cách mạng, rồi một lực lượng dân quân Xã Ấp được tuyển mộ và huấn luyện (nhưng không được trang bị võ khí), và các buổi học tập nhồi sọ cùng với các nỗ lực gây động lực xách động khác bắt đầu.

III
Khi cộng sản đến, nói riêng trên bình diện phân tích, thì chúng bèn mưu tính mở rộng một hình thức gọi là Tổ tam tam tức là từ trong dân Xã Ấp mà chúng đang đang kiểm soát, lấy ra cứ ba người làm thành một nhóm mà hoạt động. Bây giờ đến lượt chính cái Tổ này đề ra theo cách khá là chi tiết về động cơ và mục tiêu chính của họ sẽ làm.

GIỮ CHẶT CÁI GỐC: Việc thứ nhất là những việc làm có thể được gọi bằng cái tên lòng thòng là công cuộc siết chặt an ninh nội vùng, nội khu mới chiếm được. Hoạt động này nhằm tiễu trừ triệt nọc tất cả các thành phần có khả năng thù nghịch chống đối ra khỏi Xã Ấp. Cuộc binh đao này kéo dài đã quá lâu và trí nhớ của thôn dân địa phương Xã Ấp còn rõ mồn một. Trong quá khứ, bà con đã từng hứng chịu biết bao đau khổ mất mát hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp do bàn tay của người cộng sản. Cán bộ Cộng sản biết rằng chúng vẫn còn bị người ở các địa phương Xã Ấp thù hiềm căm ghét rất nhiều. Những thôn dân nào căm thù Cộng sản nhiều nhất có lẽ đã lo bỏ xứ chạy thoát trước khi quân chiếm đóng tới. Nhưng đâu có phải lúc nào cũng được như vậy. Có một số người đủ cứng cỏi quyết đoán hoặc quá bất khuất và mạo hiểm ở lại với một ý chí bí mật, âm thầm phá hoại cái thứ chính nghĩa mà cộng sản hay rêu rao, tại ngay nơi chốn võ đài hiểm nghèo nhất, đó là địa phương Xã Ấp do cộng sản kiểm soát; và chính lớp người này mới là tiêu biểu cho những anh hùng vô danh đích thực của cuộc chiến này. Còn nhiều người khác thì có thể họ đã bị bắt ở lại địa phương mà không có cơ hội trốn thoát.
Việc trừ khử kẻ thù là chuyện hiển nhiên, và theo quan điểm của cộng sản, là việc cần thiết chẳng có gì khó hiểu cả. Thế nhưng công cuộc này đã vượt quá lằn mức của việc giữ an ninh nội khu thường tình.

Chiến dịch quy mô ưu tiên hàng đầu do cán bộ cộng sản phát động nhằm mục đích dập tắt không chỉ mối nguy đe dọa về thân mạng mà còn là dẹp hết mọi vết tích bất đồng chống đối, hoặc thậm chí chỉ là chút sinh sự thắc mắc về những gì cộng sản đang làm, hoặc tại sao làm thế v.v…. Với Cộng sản Việt Nam thì không có một chỗ nào dành cho sự chống đối trên lý thuyết và càng chắc chắn không có chỗ cho chống đối trên thực tế nơi một địa phương Xã Ấp nào bị chúng chiếm đóng. Cũng không được bất đồng ý kiến gì hết. Đảng viên thì có thể bày tỏ ý kiến chỉ trích mang tính xây dựng nếu nói cho khéo ở chỗ riêng tư, còn đặc quyền này không được áp dụng cho dân chúng. Thậm chí không dung thứ cả chuyện đặt câu hỏi thắc mắc này nọ. Một thôn dân địa phương khôn ngoan sẽ mau chóng nhận ra rằng mình có thể nằm trong 'guồng máy của cách mạng' nhưng điều đó không có nghĩa là anh ta được Cộng sản tin tưởng.
Mục đích của các biện pháp thanh lọc an ninh nội khu là đạt được sự ủng hộ tuyệt đối không chút nghi vấn gì hết của thôn dân dành cho Đảng và mọi hoạt động của Đảng. Biện pháp này có 2 cách thu xếp: tích cực và tiêu cực. Bằng vào các đợt tuyên truyền và xách động gắt gao dưới bàn tay điều khiển của các cán bộ thạo nghề, nó có thể xui khiến trong lòng dân nảy sinh ra một tình tự hậu thuẫn, vì những cán bộ Cộng sản kia vốn đã quá thâm niên già nghề với đủ các phương thức khả dĩ đẩy kỹ thuật tuyên truyền xách động lên hàng cao thủ. Khi xài cách tích cực mà không xui khiến được sự hậu thuẫn, thì sẽ xài bằng cách tiêu cực với mệnh lệnh, nếu cần phải xuống tay tàn nhẫn cũng không từ. Phương thức khủng bố được đem xài một cách có chọn lọc, tỉnh táo; nhưng người cộng sản hiếm khi quét sạch trọn bộ một Xã Ấp như kiểu họ đã làm với súng phun lửa ở Dak Son [ 1 ] bởi vì nếu người ta chết hết rồi thì còn gì nữa mà học với tập.
Đường lối chính thức đem xài trong công cuộc thanh lọc nội vùng cũng đầy nham hiểm sát khí và câm lặng như tử thần. Rất khó để chúng ta có được những lời kể chính xác về cái gọi là công lý cách mạng của Cộng sản, bởi vì bọn cán bộ đã xài nhiều biện pháp bưng bít nghiêm ngặt để không có một bàn tay đẫm máu nào của chúng bị bại lộ. Nhưng có những chuyện vẫn lọt ra ngoài và ta có thể có cách kiểm chứng, có điều nên nhớ rằng đó chắc chắn chỉ là một mẩu nhỏ trong toàn thể chuyện này, vốn vẫn còn nguyên trong đầu cán bộ Cộng sản, hoặc số đồng bào còn nằm trong tay cộng sản vẫn nhớ như in. Câu chuyện tàn nhẫn đó đã sinh ra những lời chính luận buồn thảm không chỉ về bản tánh bạo tàn man rợ của cộng sản mà còn về thiên bi kịch điên rồ mà người ta sẽ trình diễn nhân danh một thứ viễn vông mơ hồ trừu tượng, như thống nhất đất nước chẳng hạn.
Các hành vi khủng bố của cộng sản hiện nay (cuối tháng 6) tính trung bình mỗi tuần gồm có: 150 vụ thủ tiêu ám sát, 290 vụ gây thương tích cho thường dân (thuần là do cố ý chứ không phải lỡ bị tai nạn khi giao tranh) và 500 vụ bắt cóc, bắt bớ hoặc cưỡng bức bắt lính.
Vào ngày 18 tháng 5, Cộng sản dựng một phiên tòa cách mạng như kiểu một buổi mít tinh tại trường Tiểu học Xã Hoài Xuân, thị trấn Bồng Sơn (Quận lỵ của quận Hoài Nhơn tỉnh Bình Định) rồi đưa 20 người ra đó xử tội, chủ yếu là thành phần Hội đồng Xã, viên chức chính quyền Xã, và Cảnh sát Xã Hoài Xuân. Xã trưởng Xã Hoài Xuân, Phùng Sao, bị xử tội tử hình và bị bắn chết tại sân trường. Những người còn lại cũng bị xử tội tử hình, bị đưa đến chợ Xã An Đồng (thị trấn Bồng Sơn) cùng với độ 70 người khác, là những người ắt là đã bị các phiên tòa tương tự ở các nơi khác xử tội, rồi bắn chết hết một lượt.
Ngày 21 tháng 5, Trưởng Thôn Tân Thành (Xã Tam Quan, Quận Tam Quan, Tỉnh Bình Định) Đặng Tâm, cùng với 47 đồng bào Xã Hoài Thành (Quận Tam Quan) đã bị Cộng quân địa phương xử tử bằng cách chôn sống tập thể.
[ bạn đọc chú ý đoạn này trở xuống, tác giả Douglas Pike có vài chỗ bị nhầm lỗi typo các địa danh thuộc vùng tỉnh Bình Định, Pleiku, và tôi đã điều chỉnh lại cho đúng (xin xem phần nguyên văn Anh ngữ bên dưới bản dịch này). Bạn đọc cũng lưu ý là ở đây chúng ta dùng địa danh hành chánh thời VNCH mới đúng - chính xác - về mặt Sử liệu; bởi vì sau khi cướp được miền Nam thì Việt Cộng đã thay đổi khá nhiều địa danh cũ rồi chế ra nhiều cái tên mới lạ hoắc, nếu chúng ta không phân biệt được điều này thì các lớp hậu duệ khi tra cứu trang Sử Quốc - Cộng, sẽ bị sai lạc nhầm lẫn hết! Các trang báo Tiền Tuyến, Chính Luận là do tôi sưu lục để thêm phần xác định sự kiện mà Giáo sư Douglas Pike dẫn ra trong bài của ông ]

#Tien Tuyen May 21, 1972 trang 3
#Tien Tuyen May 21, 1972 trang 3:
Theo Tiết Lộ Của Một Đồng Bào Vừa Thoát Khỏi Bồng Sơn
CSBV Treo Cổ Giết 400 Người
Chôn Sống 15 Người Tại Một Bờ Sông


QUẢNG NGÃI (VT) 20-5 Phái viên từ miền Trung vừa điện về cho biết vào đầu tuần qua, Cộng sản đã đem 15 đồng bào gồm 3 lão ông, 2 phụ nữ và 10 tráng niên đến chôn sống một cách tàn nhẫn tại bờ sông Lại Giang [ tức Lại Dương Giang thường gọi tắt là Lại Giang cũng nhiều khi gọi là Sông Bồng Sơn ], phía Tây Bồng Sơn. Theo một đồng bào, bà Nguyễn thị Hoành 49 tuổi, vừa trốn thoát khỏi Bồng Sơn cho biết, từ ngày các vùng Hoài Ân, Hoài Nhơn và Tam Quan (Bình Định) bị lọt vào tay Cộng sản đến nay, đã có khoảng 400 đồng bào bị Cộng sản sát hại bằng cách treo cổ, dùng cọc nhọn đâm chết, chôn sống, trói vào cột rồi dùng dao lẻo từng miếng thịt và đổ mủ cây xương rồng vào mắt và các chỗ kín trên người.
Ngoài ra, Cộng sản còn bắt dân chúng đi làm dân công cho chúng: khuân vác tiếp vận [ theo CSBV định nghĩa Dân công = bốc hàng, cáng thương, cấp dưỡng ], phá cầu cống, lập Ấp chiến đấu, đào địa đạo và cưỡng bức thanh thiếu nhi đi lính cho chúng.


Tại quận lỵ Lộc Ninh [ tỉnh Bình Long ], cán bộ Cộng sản mở một chiến dịch tạm gọi là "tố bạn". Chúng thông báo cho những người đã bị chúng kết án tử hình rằng nếu ai chỉ điểm chỗ ẩn náu của bất cứ công chức hoặc binh lính Quốc Gia nào hiện đang ở đâu thì sẽ được thoát chết.
Khoảng 42 viên chức Xã, Hội đồng Xã và Cảnh sát từ thôn Vĩnh Phụng Xã Hoài Xuân (quận Hoài Nhơn tỉnh Bình Định) đã bị xử tử hình vào ngày 27 tháng 5 và thi hài của họ được chôn ở bãi cát Trường Gạo, bãi cát này nằm ở giữa 2 Xã Hoài Xuân và Hoài Hương.
Vào ngày 29 tháng 5, Cộng quân bắt tập họp lối 1.000 đồng bào Xã Ân Thạnh, Quận Hoài Ân (tỉnh Bình Định) để coi chúng mở phiên tòa xử tội ba người của Xã: Nguyễn Minh Văn, cán bộ Xã Đoàn Xây dựng Nông thôn, Nguyễn Cần, tài xế xe Cảnh sát, và một người thứ ba chưa rõ tên tuổi. Cả ba đều bị xử tử hình và hành quyết tại chỗ. Cả ba người chỉ mới 21 tuổi.
Ngày 6 tháng 6 tại Pleiku, một quân nhân VNCH, Thượng sĩ Văn Chuyên, 21 tuổi, kể cho các phóng viên báo chí nghe vụ Cộng quân đánh Tân Cảnh, trong đó nói riêng về Xã nhà của anh: "Bọn cộng sản ngăn không cho dân chúng bỏ Xã ra đi." “Chúng nã hỏa tiễn vào đoàn nạn dân đang kéo nhau đi làm một số chết tại chỗ. Chúng tôi đành phải linh động ứng biến và quay trở lại." Nhiều đồng bào chạy giặc ở thị xã Quảng Trị cũng như ở tỉnh Bình Long cũng tường thuật lại những sự việc tương tự, Cộng quân nã hỏa tiễn và ném lựu đạn vào đoàn dân chiến nạn đang cố chạy thoát, chỉ vì một lẽ hiển nhiên là chúng cố bằng mọi cách để ngăn cản không cho đồng bào chạy đi.
Xã Trưởng và cũng là một nhà nông, ông Nguyễn Văn Khánh ở một Xã mạn Bắc Quảng Trị, có sáu người con mà đã chết hết ba trong đợt quân CSBV đánh vào Quảng Trị lần này, ông nói với một phóng viên ở Huế rằng: "Vâng, họ định giải phóng chúng tôi đấy, cho dù phải giết chết hết chúng tôi đi nữa."

#Chinh Luan Apr. 30, 1972 trang nhất
#Chinh Luan Apr. 30, 1972 trang nhất
Những Người Thoát Chết Từ Tân Cảnh Kể Lại Giờ Phút Thập Tử Nhất Sinh
▶ Cộng quân chiếm đất vội treo cờ rồi bỏ chạy
▶ Tình hình thị xã Kontum hiện nay ra sao


◙ ANH TRINH

SAIGON (TV) 29-4. – . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Tân Cảnh, Dakto
Cũng sáng nay, một gia đình thoát chết từ Tân Cảnh về đến Saigon kể lại cho ký giả nghe rằng «Tân Cảnh nay không còn gì nữa»!
Ông Vũ văn Ân, thuộc Ban Chấp Hành Hội Phế Binh Dakto thuật rằng, đại bác của VC, mưa bom B52 đã làm cho nhà cửa, chợ búa, rạp hát tại Tân Cảnh trong đêm 23 rạng 24-4 sụp đổ và cháy ra tro, kể cả căn cứ chỉ huy của Đại tá Lê Đức Đạt.
Ông Ân thuật rằng, hàng chục ngàn đồng bào tại Tân Cảnh chia làm nhiều toán để lẩn trốn Cộng sản mà thoát về Quận Dakto dưới những trận bắn nhau của VC và phi cơ trực thăng của chính phủ yểm trợ cho đồng bào di tản. Ông Ân cho hay, hiện một nửa số đồng bào này đang bị kẹt lại tại một làng cách quận Dakto 10 cây số bởi sự phong tỏa của Cộng quân.
Một chi tiết được ghi nhận là trên khoảng đường dài 45 cây số từ Tân Cảnh đến Dakto, những người đi lánh nạn đã phải đi hết 2 ngày và một đêm. Sở dĩ có sự chậm chạp này là vì, ông Ân nói, đồng bào đã bị sự ngăn cản dữ dội của Cộng quân kèm theo sự bắt cóc các thiếu niên trong đoàn người di tản.
Các nạn nhân thuật rằng không ai thích ở trong vùng bị Cộng sản chiếm cả vì khi chiếm được Tân Cảnh rồi thì Cộng quân treo cờ Giải Phóng lên khắp nơi rồi bỏ chạy không dám ở vì sợ bị thiêu sống bởi B52.
Một sự kiện khác cũng được xem là thê thảm, một thiếu niên tên Vũ văn Tuấn 16 tuổi thuật rằng khi VC chiếm được Tân Cảnh, họ đã bắt tất cả đàn ông từ 14 đến 30 tuổi tập trung lại đưa đi vô mật khu, nhưng một số thiếu niên như trường hợp anh Tuấn thoát nạn được là nhờ anh đã giả gái và bồng trẻ nít trên tay chạy đi. Anh Tuấn kể, tại quận Diên Bình, 1 thiếu niên bị VC bắt đã nổi nóng dùng tay đấm vỡ mồm 1 tên VC, liền đó anh ta bị bắn chết trước sự phẫn nộ, kêu than của đồng bào.
Mặt khác. Hội Phế Binh hôm nay loan báo là Hội sẽ lập một Trung tâm Tiếp cư nạn nhân chiến cuộc tại Saigon và trong khi chờ đợi, Hội kêu gọi mỗi gia đình Phế Binh ở Saigon nên nuôi giúp vài nạn nhân chiến cuộc ở khắp nơi.

[ 1: đó là vụ Thảm Sát Dakson - Dak Son Massacre (ngày 5-12-1967). Xem chi tiết ở Phân đoạn 3

[ còn tiếp ]

$pageOut$pageIn Phân đoạn 2

Khi Cộng sản đến by Douglas Pike
(Vietnam Bulletin Volume VII, No. 17 & 18, Sept. 20, 1972)
Translated into Vietnamese by Le Tung Chau – Nov. 20, 2024
[ tiếp theo và hết ]

NUÔI CÁI GỐC: Khi Cộng sản đến, việc chủ yếu thứ nhì chúng làm sau việc thanh lọc nội bộ, ấy là chuyện tiền bạc, tài chánh. Trong đầu cán bộ Cộng sản, bất cứ một Xã Ấp nào chúng chiếm được đều là cả một kho báu, Xã đó giàu hay nghèo không cần biết, chỉ cần một điều là phải cướp hết, nhân danh cách mạng. Theo Cộng sản nghĩ thì dân chúng có bổn phận tự nguyện đem tiền của nộp cho cách mạng, mà thật thì bà con còn phải chịu như thế trong bất cứ sự vụ gì lớn nhỏ.
Nhu cầu tận thu cơm áo, vật thực của Cộng sản mấy cũng không vừa, càng nhiều càng tốt cho nên cả Xã sẽ bị hút máu. Dĩ nhiên là làm sao thì làm miễn đừng đẩy dân vô cảnh chết đói vì nếu để dân đói thì còn sinh chuyện to hơn việc vơ vét lương thực; và nữa, dân mà thiếu đói thì còn mong chi chuyện thu hoạch vụ mùa sắp tới. Ở thị xã An Lộc và các Xã Ấp thuộc tỉnh Bình Long, bất kể loại gạo nào hễ mà Cộng sản phát hiện thấy là chúng đều ra tay tịch thu hết. Sau đó, mỗi nhân khẩu trong Xã phải làm thủ tục ghi danh để được phát phần gạo ăn cho một tháng. Số gạo còn lại, CSBV chuyển ngược lên vùng cao nguyên để nuôi quân trên đó. Hồi tháng Tư ở quận Hoài Ân, tỉnh Bình Định, Cộng sản định mức một khẩu phần gạo là 250 gram/người/ngày – số gạo đó được phát từng ngày. Việc trữ gạo tại nhà bị cấm ngặt. Tại tỉnh Quảng Trị, khi nguồn tiếp tế tại chỗ đã cạn kiệt, Bắc Việt bèn mang gạo vào – phần lớn số gạo đó được vô bao 23 kg bên ngoài có đề chữ "canh tác tại Trung quốc" và phát nhỏ giọt cho dân, với mức tính toán tối thiểu là 1600 calories/ngày (là mức sống cầm hơi theo xếp loại của tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc - FAO ).

Cộng sản coi việc trưng thu gạo, đồ ăn là một hình thức thu tiền dân đóng góp. Tại tỉnh Bình Định, mỗi nhân khẩu trong Xã phải nộp một khoản gạo nuôi quân là 20 kilogram, không cần biết trong nhà đó có gạo nhiều hay ít.
Bất thứ đồ đạc của nả sản nghiệp gì của dân xét thấy không cần thiết cho việc sống còn đều bị Cộng sản tận thu, vơ vét. Nhưng tối thiểu thì chuyện đó cũng chỉ là ý chúng muốn mà thôi, còn làm được hay không là chuyện khác. Cũng từ đây sinh ra một cuộc đấu trí giữa những người làng cáo già đem gạo và tiền của cất giấu đi, với bọn cán bộ có sạn trong nghề biết rõ những mưu tính nào mà bà con đã xài để đối phó, chúng cũng biết luôn những lời khai chống chế giả vờ của dân chúng. Thường thì bà con bỏ tiền của và gạo thóc vô những chiếc hũ sành (rồi lấy đất sét hoặc bùn nhồi với rơm rồi khằn kín miệng hũ lại) và đem chôn sau vườn hoặc chôn ngoài đồng ruộng của mình. Khi tên cộng sản thu thuế đến, chúng lấy một cây xăm bằng sắt nhỏ và mảnh xăm xuống đất để dò tìm chỗ khả nghi chôn giấu. Cũng có khi hắn ta phát hiện ra đồ cất giấu, có khi không, ở đây hễ ai mưu trí hơn hoặc may mắn hơn thì thắng.

CÁC HÌNH THỨC THU TIỀN KHÁC – hay đúng hơn là một kiểu tống tiền, gồm những mục sau đây:
Thu thuế: Cộng sản thanh lọc và phân loại thành phần gia đình giàu nghèo trong dân chúng (bằng cách coi hình dạng nhà cửa của họ để làm căn cứ phân loại) thành một trong hai tốp sau đây. Tốp thứ nhất, thường chiếm khoảng hai phần ba số hộ gia đình trong Xã, được ấn định là phải nộp thuế bằng một khoản tiền mặt từ 50 đến 500 Mỹ kim, đây là một số tiền lớn đối với bất kỳ ai ở xã Ấp địa phương VNCH. Tốp còn lại được xếp loại là nghèo xơ xác chẳng có cái quái gì để nộp thuế (chắc là trong túi họ cũng chẳng có được mấy đồng) thì được Cộng sản cho nộp thuế dưới hình thức quy ra tiền, tỉ như đi làm dân công tình nguyện cho chúng, chẳng hạn như ở quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, số dân công này phải chịu đương thân ra mà vác đạn dược.

Tịch thu và Cướp đoạt: Toàn bộ y cụ, thuốc men trong các hiệu thuốc và kho thuốc Tây ở thị xã Quảng Trị đều bị bọn đặc công của Bắc quân tịch thu và chuyển ra miền Bắc. Các bác sĩ và bệnh viện trong thị xã chỉ còn trơ lại bất cứ thứ thuốc men và y cụ nào mà họ đang cầm sẵn tại chỗ ngay trên tay. Gia sản của các gia đình công chức làm việc trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa hoặc nhà của quân nhân các cấp (thường là sĩ quan nhiều hơn) hoặc bất cứ ai bị xếp loại là thành phần thân chính quyền Quốc Gia sẽ bị Cộng sản tịch thu sung công hết, còn nếu là nông dân, thì ruộng đất của họ sẽ bị tịch thu và chuyển thành ruộng tập thể, dưới quyền cai quản của 1 Đảng ủy.

Bán Chiến Phiếu (Công khố phiếu thời chiến): Những Công khố phiếu này được phân hạng chia ra bán, thường 1 tờ Công khố phiếu bán với giá khoảng 1 đô la, và mỗi dân làng được khuyến khích mua mỗi tuần vài tờ.
Chúng dùng một thứ gọi là Tín Chỉ cộng sản [ communist script ] thay cho đồng tiền của Việt Nam Cộng Hòa để mua bán trao đổi hàng hóa.
Ví dụ, tại quận Hoài Ân (Bình Định), ước tính có khoảng 1.600 chiếc xe gắn máy chúng đã mua bằng loại Tín Chỉ đó, và Cộng sản nói với các chủ sở hữu các chiếc xe này rằng số Tín Chỉ đó sẽ được chuộc lại sau khi chiến tranh kết thúc, dĩ nhiên là trong trường hợp cộng sản thắng.
Khống chế thật chặt chuyện tiền bạc tài chánh còn nhằm để bảo đảm sẽ cho việc xài đồng bạc đặc biệt riêng tại nơi nào Cộng sản chiếm đóng được (mà theo dự trù của chúng thì sẽ in giấy bạc đó và tới tháng Tám sẽ cho lưu hành) và cũng cho lưu hành và xài tiền miền Bắc nữa.
Việc nuôi cái gốc cây cộng sản, tuy nhiên, đâu có phải chăm chăm chỉ mỗi việc bòn rút nơi số ít ỏi thành phần dân làng gọi là có của dư của để, vì thành phần quý hiếm ấy chỉ như là số đếm được trên đầu ngón tay nơi hầu hết các vùng nông thôn VNCH. Khác xa vùng đồng bằng Cửu Long sung túc trù phú, tỉnh Bình Định của miền Trung chẳng hạn, có lẽ là vùng địa phương nghèo nhất của Nam Việt Nam, cũng là nơi duy nhất trên toàn quốc có những nhà nghèo rớt mồng tơi y như bên Ấn Độ chẳng hạn. Mà thay vào đó là dồn hết sức cho sản xuất huê lợi, tức có nghĩa là chủ yếu lo canh tác cây lương thực. Cánh tay nối dài đem ra xài ở đây, thuần vì canh chừng hơn là nhắm cái đích năng suất, là loại công xã thô sơ hoặc đại khái là một loại đội sản xuất nông nghiệp. Cộng sản gom dân vô thành từng tổ sản xuất và đưa ra đồng để thâm canh sao cho đạt được năng xuất lương thực tối đa. Các loại nông cụ cũng được cung cấp, nếu cần thì nhập từ bên ngoài vào. Thôn dân bị đối xử như họ là người đã thoát khỏi chủ nghĩa cộng sản ở một nơi nào khác, mà có lần người ta đã tả rằng những người đó nếu không phải bị coi như con vật thì cũng không khác chi một cỗ máy cày bừa cả đời. Hết 90% lượng lương thực làm ra được dành nuôi cái gốc Cộng sản, còn 10% mới đem thí cho dân. Ít nhất thì đó là đường lối dùng huê lợi chung mà cộng sản đề ra lúc trước [ như mô hình nông trường tập thể của chúng chẳng hạn ]. Còn ngay tại những chỗ chúng chiếm đươc hiện thời thì còn quá sớm để biết mô hình nào ló mặt ra, vì vụ lúa tới chưa đến mà phải chờ mùa thu hoạch vào tháng 10 mới biết được.

BÀY RA NHỮNG ĐOÀN HỘI ĐỂ THÚC ĐẨY PHONG TRÀO: Là việc chính yếu thứ ba, nằm chen giữa hai việc trước cốt để hỗ trợ các việc đó chạy cho suông. Nói bằng chữ Việt Cộng thì đó là đem trồng cảm tình và tư tưởng cách mạng trước sau như một bên trong quần chúng. Còn giới báo chí thì thường gọi đó là khống chế tư tưởng hoặc tẩy não nhưng các thuật ngữ này lại gán cho cộng sản quá nhiều quyền hạn với bất cứ ai, trong chỉ có con người chúng ta mới là ông chủ tối thượng của tâm trí mình.
Lấy các thứ đoàn hội để làm guồng máy, và lấy công cuộc khống chế tư tưởng để thúc đẩy cho máy chạy. Với cái kiểu đó thì vai trò Ý thức hệ chỉ đồ cỏn con. Ví dụ, ngày 7 tháng 6, Đài Hà Nội, trong một buổi phát thanh nghe được ở Nam Việt Nam, có diễn giải việc đặt định ý thức hệ cho những vùng mới giải phóng là dựa vào các việc này: 'Trừ khử các tư tưởng triết học như chủ nghĩa duy linh, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa phiếm thần ngoại lai (ám chỉ Cơ đốc giáo) và chặn đứng việc Khổng giáo hồi sinh'.

BỘ MÁY HÀNH CHÁNH: cách dựng một cái sườn chung cho các thứ đoàn hội, về cơ bản là lúc nào cũng giống nhau và gồm có ba thành phần giẫm đạp lên nhau như sau:
1. Lấy từ trong quần chúng ra để lập các đoàn hội nọ kia. Đây là một lô các phong trào dưới dạng đoàn hội với đủ thứ tên gọi và lúc nào cũng có 2 chữ giải phóng đi kèm để lập ra nào là hội nông dân, hội phụ nữ và hội thanh niên, học sinh. Cũng có khi chúng đẻ ra các phong trào quần chúng khác, ví dụ như hội công nhân giải phóng nơi những vùng có đồn điền cao su ở tỉnh Bình Long, rồi hội người cao tuổi (trên 50 tuổi) ở tỉnh Bình Định, còn ở Quảng Trị thì lớp thanh thiếu niên được chia làm hai tính theo độ tuổi, một là thiếu niên (từ 12 đến 17) và một là thanh niên (từ 18 đến 30). Lớp thanh thiếu niên được chúng đặt nặng chú ý nhứt. Còn hội viên trong các hội nông dân và hội phụ nữ thường chỉ lấy số 30 tuổi, số nông dân thanh niên thanh nữ thì gom vô hội thanh niên.
Các thứ đoàn hội này rất có lợi cho cán bộ Cộng sản. Về hình thức, các thứ hội giải phóng như thế này có lợi nói riêng về mặt thúc đẩy dân chúng, nó như một cái máy khai thác và kiểm soát sức dân.
Những phong trào quần chúng của NLF như vừa kể, khi kết hợp lại với nhau thì ta thấy nó giống như một tấm lưới đánh cá chụp xuống đồng bào Xã Ấp, gom hết họ vô chung một rọ. Nó là một hệ thống sinh ra để giám sát mọi hoạt động trong địa phương, thúc đẩy tăng năng suất cây lương thực, trừ khử hết những thành phần thù nghịch chống đối, tuyển mộ dân quân du kích và còn khiến dân chúng có cái cảm tưởng hài lòng khi được dự phần trong việc ra quyết định của địa phương mình.
Riêng trong trận Mùa Hè Đỏ Lửa hiện thời, hệ thống đó được đem ra xài để tung ra một đợt địch vận vào trong hàng ngũ người Quốc gia miền Nam, đặc biệt là công chức chính quyền hoặc quân nhân VNCH. Ở các tỉnh Bình Định và Bình Long, hiện tại đợt địch vận này đưa dân Xã Ấp ra làm cái việc móc nối để dẫn dụ những bà con chòm xóm nào đã chạy tị nạn nay quay về lại địa phương. Số người làm việc móc nối này được Cộng sản cấp một giấy thông hành đặc biệt cho phép đi ra khỏi các vùng bị Cộng sản chiếm đóng để tìm tới bạn bè và thân nhân rồi lôi kéo họ quay về lại (người tham gia vào các nhiệm vụ như thế này phải có bạn bè hoặc thân nhân ở lại làm con tin như một món thế chấp hầu bảo đảm là đi rồi về lại chớ không đi luôn). Ngoài ra chúng còn mở một chiến dịch ra đầu ra đũa kêu người làng viết thư và nhắn nhe cho thân nhân đang tại ngũ trong Quân đội Quốc Gia nhằm hối thúc họ đào ngũ. Còn nhiều các loại cánh tay nối dài, các thứ công cụ ngoại vi khác của Cộng sản cũng được đem ra xài trong mục này.

2. Bộ khung đảng viên Cộng sản cốt cán, với số lượng rất ít và ẩn bên trong không lộ diện, là cái then máy của mọi hoạt động. Ở Nam Việt Nam, nó có tên gọi là Đảng Nhân dân Cách mạng. Về mặt tổ chức, đây là nơi tập trung quyền hành, nó là một thứ bộ khung Đảng tiêu chuẩn, một ban chấp hành trung ương và một hệ thống chi bộ Đảng ở mỗi cấp chính quyền tương ứng (toàn quốc, tỉnh, quận, xã) và hệ thống chi bộ nằm tuốt dưới hạ tầng là đơn vị cơ bản. Về mặt hành chánh, nó là một thứ kim tự tháp mỏng dẹt nằm bên trong kim tự tháp to hơn bên ngoài là NLF-PRG (2) , tức là một đơn vị nhỏ chèn bên trong một Ủy ban Cách mạng hoặc các thứ hội giải phóng lớn khác. Nó điều khiển không phải kiểu như kẻ giật dây từ bên ngoài mà là giật từ bên trong như một bộ phận không thể thiếu của guồng máy. Đó là một hệ thống hết sức hữu hiệu.

(2): + NLF: National Liberation Front = Mặt trận Giải phóng, còn gọi là Việt Cộng (một nguỵ danh khác của cộng sản Bắc Việt) hay dân miền Nam thường gọi chúng là Mặt Trận Giặc Phỉ
+ PRG: Provisional Revolutionary Government = Chính phủ Lâm thời của Việt cộng hay còn gọi là Chính phủ Ma [ the Ghost Government ] là chữ mà Tổng thống Thiệu dùng để chỉ trò bịp bợm tự biên tự diễn tự gọi là 'Chính phủ Cách mạng Lâm thời' của VC: không do ai bầu, không có đất, không có dân vậy nó không phải chính phủ Ma thì là chính phủ của người cõi âm, phải không? Kể từ đó, người miền Nam Quốc gia quen theo, gọi bọn VC là “chính phủ ma” ]

3. Một bộ máy chính quyền bán chính thức, là các cấp hành chánh được gọi là Ủy ban Cách mạng, hay gọi chung là chính quyền cách mạng. Đây là đơn vị hành chánh cơ bản. Nó cai quản các khoản đóng góp của các thứ hội giải phóng kia. Nó cũng là một công cụ Đảng trị. Đường lối của Đảng chạy từ thôn Ấp đến làng Xã đến Quận (trong 14 quận nói trong bài này) và (chỉ trong trường hợp của tỉnh Quảng Trị) lên đến tỉnh; sau đó đi qua cái ngả Đảng ủy và cuối cùng là ra đến Hà Nội.
Chính quyền cộng sản lập ra ở cấp Xã Ấp thường gồm có một Ấp trưởng/Thôn trưởng, một chủ tịch Xã, một phó chủ tịch Xã phụ trách an ninh, chỉ huy quân du kích địa phương mới lập ra và trông coi các tổ theo dõi-chỉ điểm hoặc bất cứ thứ gì có thể được gọi chung chung là công an chìm của địa phương; với thêm một phó chủ tịch Xã phụ trách tuyên truyền-xách động chuyên trách các lớp học nhồi sọ và tổ chức các buổi học tập cho dân địa phương. (Ở tỉnh Quảng Trị, công việc của tay phó chủ tịch Xã như thế này được gọi là 'cải tạo tư tưởng', nó ăn lan qua các lớp học chính trị, mỗi lớp có 100 người, hầu hết trong độ tuổi từ 16 đến 30 ngồi nghe giảng bài, coi phim ảnh tuyên truyền và tham gia thảo luận về thực chất và nhu cầu của cuộc cách mạng là gì.)
Ít nhất ở một số quận, chúng đã đẻ ra được một bộ sườn hành chánh khá phức tạp và rối rắm. Chúng thường gọi cái này là Chính quyền Cách mạng Tỉnh gồm có một Chủ tịch, một ban thư ký và đủ thứ các ban khác (an ninh; tuyên truyền; tài chánh-kinh tế; quản lý tổ chức mặt trận; giao liên quân sự; giáo dục; tuyển binh và huấn luyện quân sự; và thông tin kỹ thuật).
Ủy ban huyện [ chữ 'huyện là chữ Cộng sản, còn Quốc Gia gọi là Quận - district ] có lẽ là thành phần chủ chốt trong bộ sườn chính quyền cách mạng của Cộng sản; thành hay bại của cộng sản phần lớn là do nó mà ra (và còn do trình độ cán bộ của nó nữa). Ủy ban huyện này là nơi đề ra đường lối cho hầu hết mọi hoạt động của Xã Ấp và nó độc chiếm quyền ra quyết định về các vụ thủ tiêu ám sát, phân công cán bộ, định nội dung các lớp học tập chính trị và sau cùng là quyết định tha ai bắt ai.
Ở tỉnh Quảng Trị, các cán bộ Việt cộng làm công tác hành chánh Xã Ấp cũng như cán bộ NLF là đều do Ủy ban huyện này chỉ định cho làm hay cách chức. Hồi tháng 5, huyện ủy Hoài Ân Việt cộng (tỉnh Bình Định) đã họp lại để xét duyệt hồ sơ của hàng trăm người, phần lớn là công chức hoặc nhân viên dân sự chính quyền Quốc Gia của tỉnh đã bị lọt vào tay VC, đưa đến khoảng 30 người bị VC xử tử hình. Tại tỉnh Bình Long, theo đài phát thanh Giải phóng [ một đài phát thanh của VC ở miền Nam ], vào cuối tháng 5, các huyện ủy VC đã tạm tha cho khoảng 600 quân nhân và công chức chính quyền Quốc Gia bị rơi vào tay VC [ hồi tháng 4 khi mặt trận Bình Long nổ ra ác liệt trong đợt đầu của cuộc xâm lăng Mùa Hè Đỏ Lửa của CSBV ] vì số người này đã học xong khóa học tập cải tạo tư tưởng vốn cũng do huyện ủy VC điều khiển. Từ trung tuần tháng 4, ở tỉnh Bình Long, cán bộ VC cấp huyện bắt đầu tiến hành việc bầu Ban trị sự Thôn Ấp; các hộ gia đình tập họp lại trong các buổi mít tinh ngoài trời, để bỏ phiếu bầu ra các cán bộ Thôn Ấp mới, trong vụ bầu bán này, có trường hợp mà chi tiết được biết rõ, là bọn cán bộ huyện đã đi xuống Thôn Ấp cầm theo tờ danh sách những ai mà huyện ủy VC chỉ định phải bầu. Bọn cán bộ này được cử xuống Thôn Ấp là cốt để bảo đảm việc bầu bán đó phải diễn ra đúng y như vậy.

CÔNG THỨC: Tổ chức đoàn hội được thì huy động được. Huy động được thì thúc đẩy được. Đó chính là thứ công thức bộ tam của cộng sản: tổ chức, huy động, thúc đẩy. Nếu có thứ gọi là võ khí bí mật của cộng sản, thì chính là nó đấy.
Tỉnh Quảng Trị: Trường hợp của tỉnh Quảng Trị thì có khác về mức độ và có lẽ cả về loại công thức ấy so với hai nơi khác – vùng Bình Long và vùng Bình Định Kontum – là những vùng bị Bắc Việt chiếm được trong chiến dịch Mùa Hè Đỏ Lửa hiện tại của chúng. Sự khác biệt, ở một vài phương diện nào đó, là một thứ điềm gở.
Phần tỉnh Quảng Trị bị lọt vào tay Cộng sản là phần đất của VNCH nằm ở khoảng giữa sông Mỹ Chánh, là chỗ giáp địa phận tỉnh Thừa Thiên, với tỉnh Quảng Bình, là tỉnh của Bắc Việt ngay sát vùng giới tuyến phi chiến [ VC kêu là Khu Vĩnh Linh, là chỗ giáp giới với miền Nam Quốc Gia - VNCH, là Cầu Hiền Lương bắc qua Sông Bến Hải, một nửa Cầu bờ Bắc là CSBV, một nửa Cầu bờ Nam là VNCH ]. Hiện tại, khu Vĩnh Linh này là một vùng hoang địa không người ở và cũng là khu chiến địa rộng độ 4, 5 cây số tách biệt với bờ Nam bên kia thuộc Quân lực Quốc Gia đối đầu, đây là tình thế chiến tranh trực diện đầu tiên như vậy trong toàn thể cuộc chiến tranh Nam Bắc này.
Ngày 24 tháng 4, Bắc Việt lập ra Ủy ban Cách mạng tỉnh Quảng Trị để cai quản khoảng 70.000 người còn kẹt lại trong tỉnh (dân số của tỉnh trước khi CSBV đánh trận Mùa Hè Đỏ Lửa là vào khoảng 300.000 người). Chủ tịch Ủy ban này là Nguyễn Viết Trác, một cựu giáo sư trung học ở thị xã Quảng Trị. Phó Chủ tịch là một cựu viên chức cảnh sát của chính quyền Quốc Gia, Lê Chí Đại.
Trong các thông cáo ra ngày 4 tháng 5 và ngày 11 tháng 5, Ủy ban này tuyên bố rằng tất cả các cấp chính quyền cũ - tỉnh, quận, xã ấp - bị bãi bỏ và đang được thay thế bằng các cấp chính quyền cách mạng. Ủy ban này cũng giải tán tất cả các phong trào chánh yếu cũ thuộc về dân sự chuyên hoạt động xã hội và ra lệnh cho các lãnh tụ các chính đảng Quốc Gia, các hội đoàn tôn giáo (có vẻ như chỉ nhắm nói riêng mỗi mình Kitô giáo, chớ không nói Phật giáo) cũng như quân nhân và cảnh sát các cấp phải ra trình diện cùng với võ khí nếu có. Ủy ban cũng ban hành một loạt các quy định cấm mọi sự đi lại mà không có giấy phép, cấm phao tin tức nếu không được Ủy ban chấp thuận, và đặt ra một loạt các biện pháp an ninh nội tỉnh nhằm chống các hoạt động gián điệp, phá hoại và cướp phá.

Loại chính quyền như thế này ở Quảng Trị chỉ là loại cấp tỉnh và đó cũng không phải là nơi mà Cộng sản vốn thường dự trù sẽ cắm cờ NLF [ cờ màu nửa xanh nửa đỏ ] khi chiếm được, tức là nơi mà chúng dự tính sẽ lấy đó mà lập thủ đô của chính phủ Cộng sản miền Nam [ chính phủ ma PRG ] do Cộng sản Bắc Việt hậu thuẫn. Các báo cáo cho biết quân chính quy Bắc Việt có mặt ở khắp mọi nơi. Nhứt định là chuyện này là chuyện có thật theo cái nghĩa trật tự chiến trường của quân CSBV [ cả đoạn câu này tác giả ý muốn nói rằng, việc tấn chiếm Quảng Trị là do công của quân chính quy Bắc Việt thì quân Bắc Việt có đặc quyền cai quản vùng đất mới chiếm được chớ không phải công của NLF mà NLF cai quản hay treo cờ NLF. Sở dĩ Giáo sư Douglas Pike nói như vậy là vì, trong suốt cuộc binh đao Quốc Cộng 20 năm, chế độ Hanoi-CSBV luôn leo lẻo nói rằng bọn chúng không có gây chiến, không đánh VNCH mà chiến tranh xảy ra là do chính quyền Quốc Gia kìm kẹp, áp bức nhân dân v.v… cho nên các tầng lớp nhân dân miền Nam tự nổi dậy chống lại để giải phóng. Luận điệu xảo trá rẻ tiền này vậy mà đã lừa được dự luận thế giới – như báo chí, truyền thông, triết gia, nhà văn v.v… – khá nhiều, cũng như lừa gạt được một số chính quyền các nước phương Tây kể cả một số tiểu bang ở Mỹ, thậm chí cả Tòa thánh Vatican cũng gật gù khen ngon khi cắn nhai nuốt cái bả giải phóng tồi tàn này của Cộng sản rồi đứng về phe với CSBV và có ác cảm với chính quyền Quốc Gia hoặc chống VNCH trên phương diện quốc tế, ví dụ, có lần, năm 1973 tại Ba Lê, Giáo Hoàng La Mã đã từ chối không tiếp phái đoàn VNCH nhưng lại tiếp bọn chính phủ ma VC Nguyễn Thị Bình. Tới ngày black April Day thì tất cả các loại nạn nhân cả tin Cộng sản kể trên đây mới biết là đã nuốt quả lừa của Cộng sản suốt hàng chục năm, nhưng lạ thay tất cả đều câm họng không một lời hối lỗi ăn năn, trong đó lạ lùng nhứt là Giáo Hội Công giáo La Mã hoàn toàn ngậm họng như một người câm khi trong khoảng 3 năm 1976, 1977 và 1978, Việt Cộng đã hành quyết hơn 10 Linh Mục cùng một số Thầy tu của các Dòng Tu Công giáo vùng Saigon – Biên Hòa, cùng với bỏ tù hàng trăm Linh Mục với Ki Tô hữu với hầu hết là án tù khổ sai 20 năm, trong đó có hết 2/3 số tù nhân này đã chết vì bị bỏ đói và bịnh nặng trong tù nhưng Cộng sản bắt phải chôn tại chỗ, không cho Giáo Hội hay thân nhân mang về nhà an táng ]. Đoàn quân CSBV hỗ trợ cho chính quyền mới lập của chúng ở Quảng Trị gồm có bốn sư đoàn bộ quân chính quy Bắc Việt, gồm sư đoàn 304, sư đoàn 308, sư đoàn 324 (ở vùng núi phía tây Huế) và sư đoàn 325.
Cảnh tượng đáng chú ý ở tỉnh Quảng Trị là việc Cộng sản cho dời tập thể tất cả dân Xã Ấp ra khỏi nhà, đây là một điều không xảy ra nhiều ở các nơi khác trong trận VC đánh Mùa Hè Đỏ Lửa hiện nay. Toàn bộ các Xã Ấp thuộc quận Hải Lăng - gồm các Ấp Phước Điền, Kim Sanh, Trung Đồng thuộc Xã Hải Thành; các Ấp Kim Long, Hải Nhì, Kim Giao thuộc xã Hải Dương (tất cả đều nằm ở mạn Nam tỉnh Quảng Trị) đã bị ép lùa đi, dời đi ngược trở ra dồn vào các doanh trại Cộng sản lập tạm thuộc quận Triệu Phong. Không còn nghi ngờ gì nữa, việc dời dân này cốt để tạo ra một tấm lá chắn đệm giữa Cộng sản với bên Quốc Gia.
Ngoài ra, việc Cộng sản tra xét giấy tờ và canh chừng an ninh ở Quảng Trị còn kỹ càng gắt gao hơn nhiều so với những nơi khác. Từ bên trong tỉnh Quảng Trị, các báo cáo cứ đều đặn lọt ra ngoài về vùng Quốc Gia cho biết Cộng sản cho mở đợt làm hàng loạt thẻ căn cước như một cách thức kiểm soát dân chúng. Ngay cả chuyện làm thẻ này cũng cho thấy các chi tiết phân chia bên này bên kia. Theo một số báo cáo, thì thẻ phân ra nhiều loại màu sắc khác nhau tùy vào lập trường chính trị của người được cấp được tin cậy bao nhiêu, đó là thẻ màu đỏ dành cho cựu công chức, cựu quân nhân VNCH hoặc những người có thân nhân làm việc cho chính quyền Quốc Gia, màu xanh lá cây dành cho thành phần lừng khừng cửa giữa, màu vàng dành cho loại người được coi là đáng tin cậy. Trong quá trình thanh lọc, cũng theo các báo cáo này, thì những ai được cấp thẻ màu đỏ hoặc ai được cấp thẻ dành cho loại không đáng tin cậy, thì được lệnh bắt đầu ngay một khóa học tập chính trị. Người có thẻ đỏ cũng được thông báo là họ sẽ sớm được đưa ra Bắc Việt để làm ruộng trong các hợp tác xã, nông trường nông nghiệp ngoài đó đang bị thiếu lao động. Riêng có các báo cáo từ quận Triệu Phong thì nói rằng hồi tháng 5, Cộng sản đã đưa một số nông dân Xã Ấp trong quận đi ra miền Bắc. Cũng có một kiểu chọn lựa thay thế, đó là người thẻ đỏ nếu chịu đi lính cho quân đội Bắc Việt và cầm súng ở miền Nam thì khỏi phải ra Bắc làm lao động.
Trong mọi trường hợp, các báo cáo cho biết về quá trình thanh lọc tới lui của CSBV, thì đồng bào tỉnh Quảng Trị coi như được mặc định rằng họ không còn là công dân của VNCH nữa mà giờ đây là công dân của Bắc Việt và phải nhận mọi bổn phận của dân Bắc Việt. Nếu những nguồn tin khẳng định này, dựa vào tường trình và chứng lý miệng từ một đệ tam nhân, mà là đúng sự thật, thì nghĩa là điều này cho thấy Bắc Việt có ý định thật là chúng sẽ sát nhập tỉnh Quảng Trị vào lãnh thổ Bắc Việt.

#Chinh Luan Aug. 8, 1972 trang ba: Thảm cảnh đồng bào Quảng Tri bị CSBV lưu đày ra Bắc


HẬU TỪ: Sẽ là khá hấp tấp lúc này nếu đưa ra bất cứ một kết luận chung nào về ý nghĩa của việc Bắc Việt chiếm đóng ba vùng lãnh thổ của Nam Việt Nam.
Nhưng nói về nhất thời và theo một nghĩa hẹp, thì việc chiếm đóng của Bắc Việt là đã thành. Chúng chiếm được đất, chúng cải tổ đời sống và đưa dân chúng vào thành một hệ xếp đặt mới – nói theo chữ của VC thì việc cải tổ đó đã đẻ ra lương thực, tiền bạc, nhân lực và an ninh nội khu.
Thành quả này có thể tồn tại trong một đoản kỳ. Ngay vào lúc tôi đang viết những dòng này thì có khoảng bốn Lữ đoàn Bộ binh và Thủy quân Lục chiến VNCH đang phát động một cuộc phản công nhằm đuổi quân Bắc Việt ra khỏi tỉnh Quảng Trị.
Những tay đầu lãnh Bắc Việt đã tung rất nhiều vốn liếng vào vùng phi chiến cho công cuộc xâm chiếm này của chúng, nói nội trong mặt nhân lực, thời giờ và tiền bạc. Có vẻ như chúng đã không thu lại được lợi lộc gì cho tương xứng với khoảng tốn phí mà chúng đã vung tay quá trán bỏ ra.
Biểu lộ của số vốn liếng đó, ta có thể thấy được nếu quan sát tình hình ở vùng tỉnh Bình Long. Độ phân nửa tỉnh thuộc Bắc Bình Long, là nơi sau lần chạy giặc lúc đầu, vẫn còn kẹt lại khoảng 50.000 đồng bào địa phương, có một toán 200 cán bộ dân sự đặc biệt của Cộng sản mang ám số là D-97 đã bắt đầu hoạt động ngay sau khi Lộc Ninh thất thủ vào đầu tháng 4.
Đây là những cán bộ quý và ít ỏi của Cộng sản, có kinh nghiệm về quản lý, tổ chức, tuyên truyền, quyên gạo tiền, v.v. Cộng sản đang bị thiếu nguồn tiếp tế. Bình thường thì với một vùng đất nhỏ cỡ đó có dân số chừng đó sẽ do nhiều lắm là độ một tá cán bộ cao cấp đảm nhiệm. Việc xài tới 200 tên cho chúng ta thấy ý định làm thiệt của bọn đầu lãnh CSBV cũng như các toan tính quy mô riêng về mặt dân sự của cuộc xâm lăng Mùa Hè Đỏ Lửa này của Bắc Việt. Vào ngày 12 tháng 4, quân giải phóng của Cộng sản (PLAF) đã ra một quân lệnh, trong đó nêu chi tiết các tính toán của cộng sản, có thể nói là trong lệnh đó đã nói toạc móng heo ra hết. Nó ra lệnh cho bọn đặc công và cán bộ Cộng sản nằm vùng ở Nam Việt Nam phải xách động các cuộc bạo loạn và nổi dậy ở các đô tỉnh thị lẫn và vùng thôn quê Xã Ấp. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thâm nhập vào Lực lượng Địa Phương Quân và Nghĩa Quân – là các Đại Đội thuộc quân đội Quốc Gia, là lực lượng căn bản lo bảo an Xã Ấp và các địa phương vùng nông thôn của Nam Việt Nam – để sinh ra các cuộc bạo loạn trong hàng ngũ các cánh quân này. Lệnh này còn kêu gọi các đội đặc công chuyên gài mìn phá hoại phải gia tăng các cuộc giật mìn phá hủy cầu cống đường sá. Lệnh đó nói rằng các vụ phá hoại này phải kết hợp cùng lúc với các trận đánh của quân chính quy Bắc Việt.
Chủ đề xuyên suốt trong các thứ lệnh lạc này, cũng như trong tất cả các tuyên bố công khai khác của cộng sản kể từ khi chúng khởi hấn trận Mùa Hè Đỏ Lửa, là một trạng thái đảo ngược của những lời lẽ thúc đẩy lúc trước, là một lời kêu gọi những thành phần Cộng sản trung kiên ở miền Nam phải hiểu rõ ý nghĩa của trận đánh Nam Việt Nam lần này là đánh vì, đánh cho Bắc Việt, Lào và Cao Miên.
Tất cả những gợi ý vừa kể cho thấy rằng khởi thủy Cộng sản có một chiến lược to tát là dùng quân chính quy Bắc Việt để thu hút và trói chân phần lớn QLVNCH. Hệ quả là quân PLAF sẽ tương đối rảnh tay mở các trận đánh vào những vùng nông thôn, thị trấn và thị xã nào do Địa Phương Quân và Nghĩa Quân phòng thủ. Với tình thế này, ít nhất, Cộng sản sẽ có thể làm được cái việc tái lập mới phần lớn bộ máy hành chánh nông thôn những nơi mà chúng chiếm được và từ đó chúng đảo ngược công cuộc Bình định Nông thôn của VNCH. Cũng có thể nó sẽ tạo được áp lực lớn hòng phân hóa cơ cấu nền móng chính trị ở Sài Gòn và có thể làm cơ cấu đó sụp đổ, hoặc nếu không sụp đổ thì buộc phải có những biến chuyển lớn trong cơ cấu chính quyền VNCH, dọn đường cho một chính phủ liên hiệp do cộng sản kiểm soát chường mặt ra.
Nếu quả đó là toan tính của cộng sản, thì cho đến nay toan tính đó đã thất bại và cho thấy rốt cuộc sẽ chỉ là một viễn cảnh thất bại mà thôi. Nhưng vì chúng ta vẫn chưa thể nói hoàn toàn chắc chắn về bản chất và phạm vi của ý định ban đầu của cộng sản là gì – có thiệt nó là cú dốc túi xuống một canh bạc tháu cáy hay không – nên chúng ta chưa thể thẩm định được mức độ thất bại của chúng như thế nào.
Trong câu chuyện này, có một sự thật nổi rõ hơn hết thảy. Đó là, nếu cuộc chiến tranh này, trên hết là một cuộc chiến thu phục nhân tâm, thì phía Bắc Việt đã hoàn toàn đại bại. Trận Mùa Hè Đỏ Lửa của Bắc Việt có thể đã giúp chúng chiếm được đất giành được dân nhưng với cái giá phải trả là chịu thua ngay chính nơi khối đông đảo thường dân vùng Quốc Gia – tới 97% – mà chúng không chiếm được.
Với 3% đồng bào miền Nam vẫn nằm trong tay cộng sản tại thời điểm viết bài này (ngày 11-7-1972), thì những gì chất chứa trong lòng đồng bào là niềm hy vọng; hy vọng được giải thoát. Dù sớm hay muộn, số đồng bào này sẽ được giải thoát, lúc đó chúng ta sẽ được nghe, từ chính miệng họ kể lại với nhiều chi tiết phong phú, rằng đầu đuôi câu chuyện nó như thế nào khi cộng sản đến.

Le Tung Chau dịch
Nov. 24, 2024

$pageOut$pageIn Phân đoạn 3

Thảm Sát Dakson 5-12-1967 - Dak Son Massacre Dec. 5, 1967
LTC tổng hợp


Tổng hợp từ:

▶ Trong nước:
nhựt báo Chính Luận các ngày 8, 9, 10_11 tháng 12-1967
▶ Ngoại quốc:
nhựt báo The New York Times; TIME; (hãng thông tấn) AP, UPI.
▶ Từ các chuyên viên khác:
Giáo sư Douglas Pike; tác giả & Biên tập viên John G. Hubbell; Cố vấn Bill Laurie



#Chinh Luan Dec. 8, 1967
#Chinh Luan Dec. 8, 1967 - trang nhất

121 Thường Dân Bị Thảm Sát Ở Dakson Theo Tin Mới Nhất.
CẢ MỘT GIA ĐÌNH 13 NGƯỜI BỊ BANH THÂY HOẶC THIÊU SỐNG
Nhà Báo Ngoại Quốc Đến Tận Nơi Phải Nói Rằng Là Không Tưởng Tượng Nổi.


SAIGON 7.12. – Về vụ khủng bố dã man nhất của Việt Cộng tại làng Dakson trong tỉnh Phước Long, hôm qua, một phát ngôn viên Hoa Kỳ cho biết con số mới nhất những nạn nhân là 121 người, phần lớn là đàn bà và trẻ em. Số thường dân bị thiệt mạng là 141 người, 7 người khác là Nghĩa Quân. Ngoài ra, có 47 người bị thương, được đưa về bệnh viện tỉnh Sông Bé, phần nhiều đều bị phỏng nặng do súng phun lửa mà bọn Việt Cộng sát nhân phun xuống hầm trú ẩn của đồng bào khi chúng vào làng sáng sớm hôm kia [ là ngày 5-12-1967 ].
Một số thường dân còn mất tích, có thể đã bị VC bắt đem đi hoặc chết dưới các hầm trú ẩn bị súng phun lửa giết chết, hoặc chết vì bị lựu đạn VC quăng vào.
Theo dân làng thì đã nhiều lần VC đột nhập vào làng dụ dỗ, cưỡng bức thanh niên đi theo chúng, nhưng đồng bào làng này đã phản đối, vì thế chúng tức giận và thi hành biện pháp trả thù vô cùng dã man này. Bắt đầu, chúng bắn súng cối vào làng, rồi tấn công, đốt nhà, giết người, cướp của.
Trước đó, trái với tin đã loan trước đây, nguồn tin quân sự VNCH cho hay chỉ có 47 thường dân bị giết, và vì những tin tức không được chính xác và có phần trái ngược nhau như vậy nên hôm qua, nhiều toán nhân viên, phóng viên của Thông Tấn Xã UPI, AP đã đến tận làng Dakson để tận mắt chứng kiến. Theo các phái viên ngoại quốc mô tả thì đây là vụ khủng bố dã man vô nhân đạo đến mức không thể tưởng tượng nổi.
Một người đàn ông ôm một đứa bé con vừa khóc vừa cho biết: nhà ông đã ra tro và gia đình ông mất 13 người trong đó có vợ ông. Họ đều bị banh thây vì súng đạn VC, hoặc bị thiêu sống vì súng phun lửa của chúng. Phóng viên đi một quãng đã đếm được 75 nóc nhà bị đốt, nhiều hầm trú ẩn bị phá hủy tan hoang, có lối 75% người chết là đàn bà và trẻ em, nhiều thi thể bị cháy đen.
Được biết, lực lượng phòng vệ làng Dakson gồm 54 người gồm Nghĩa Quân và Thanh niên Chiến đấu. Dân số của làng là 2.000 người. VC đã sử dụng 1 lực lượng 300 tên để tràn ngập làng.
Dakson cách Bù Đốp 20 cây số về phía Tây Nam, và cách Saigon 120 cây số về hướng Đông Bắc, cách biên giới Cao Miên 40 cây số. Dân làng phần lớn là đồng bào tỵ nạn cộng sản gồm người Kinh và người Thượng.

#Chinh Luan Dec. 9, 1967 - trang nhất
trang trích ra từ báo TIME, Dec 15,1967
collected and reformatted by Le Tung Chau Dec. 2024
Tấm ảnh trên trang nhất báo Chính Luận Dec. 9, 1967 (bị nhòe vì bản microfilm chụp không được tốt) cũng chính là tấm ảnh trên báo TIME này.


#Chính Luận Dec. 9, 1967 trang ba
#Chính Luận Dec. 9, 1967 trang ba
#Chinh Luan Dec. 9, 1967 - trang ba
3 NGÀY SAU KHI QUÂN ĐỘI CỘNG SẢN B.V. LẬP «CHIẾN CÔNG»
DAKSON CÒN SẶC MÙI TỬ KHÍ
NHỮNG TẢNG THỊT NGƯỜI, THỊT HEO BẦY NHẦY BÊN CÁC ĐỐNG RUỘT TRÂU BÒ RUỒI NHẶNG BU ĐẦY

⚫ LÊ THIỆP

DAKSON. 7.11 (CHÍNH LUẬN). – Ba ngày sau, Ấp Đời Mới Dakson vẫn sặc mùi tử khí. Trước những nền nhà cột cháy đen khẳng khiu, người dân làng Dakson đứng ngơ ngác như tìm kiếm lại hình ảnh thân yêu. Tiếng khóc than vang dậy một vùng. Nhiều người khác vẫn lầm lũi đào hố. Bên cạnh đó là xác người thân yêu họ nằm co quắp, bên trên phủ một tấm chăn do viên trợ Mỹ, đôi khi chân tay ló ra ngoài. xám xịt. Một vài xác người đặt trên những tấm tôn cong queo nám đen, phơi dưới ánh nắng gay gắt. Đó là những hình ảnh đầu tiên lọt vào mắt chúng tôi khi phái đoàn báo chí được đưa tới viếng Dakson.

144 người bị giết
Trận cuồng sát dã man xảy ra đêm 4 rạng 5.12.1967. Hai tiểu đoàn chính quy Cộng Sản đã nã súng rồi tràn ngập hai Ấp Dakson 1 và 2 do hai Trung đội Nghĩa Quân và khoảng 60 Cán bộ Trường Sơn trấn giữ. Lực lượng trấn giữ chỉ chống trả được độ nửa giờ. Cộng quân tràn vô Ấp đốt nhà giết hết dân. Áp Dakson vốn là nơi vẫn chịu nhiều bom đạn nên nhà nào cũng có hầm trú ẩn. Khi vào Ấp, Cộng quân đã bỏ lựu đạn và thụt súng phun lửa xuống hầm. Tổng cộng tới nay có khoảng hơn 100 người chết, phần lớn là đàn bà trẻ em. Thiếu úy Trần Hữu Triệu cho hay, hiện chưa thể phối kiểm để biết số người chết thật sự vì có quá nhiều người người chết dưới hầm và đồng bào lấp đi luôn. (Tin AFP sáng 8-12 cho hay, có 144 thường dân chết, 47 bị thương).
Cả một Ấp Dakson 2 kể như không còn lại một cái gì. Giữa những nền nhà cháy đen, người dân làng đi thất thểu, thỉnh thoảng lại đứng lại nhìn dáo dác.
Có những người cả nhà chết hết. Họ vừa đi vừa kêu khóc, không phải là tiếng kêu khóc của loài người, mà như từ thế giới khác vọng về. Có thể nói là tất cả những người ở đây đều kêu khóc, vì người nào cũng có thân nhân bị hạ sát. Tại một góc Ấp, năm ba người già nước mắt trộn với đất đọng thành từng vệt trên mặt, lui cui buộc giây vào tay xác chết. Họ hè nhau kéo xác xuống hố rồi vùi vội vàng.

Những tảng thịt bầy nhầy
Mỗi vật ở đây là một chứng tích Những chiếc Cồng rượu Cần cháy nám đen, nước men mất đi trơ trụi. Bên cạnh một bồ lúa còn âm ỉ cháy một tảng sườn heo vàng ngậy nằm lạc lõng. Một chỗ khác, dăm ba cây gỗ nhỏ cháy thành than nằm gác lên một tảng thịt bầy nhầy. Người đàn bà ú ớ, giơ tay xua xua như muốn chúng tôi đừng nhìn. Tổng cộng 77 căn nhà đã cháy rụi, nhiều căn khác bị xiêu vẹo, đổ nghiêng. Suốt con đường nằm vắt ngang Ấp Dakson 2, chúng tôi không gặp một ai ngoài đống ruột trâu bò ruồi nhặng bu đầy.
Thiếu Úy Trần Văn Trà, sĩ quan Phòng II Quân báo có mặt trong trận đánh này thuật lại: Cộng quân chỉ trong gần nửa tiếng đã đánh thủng phòng tuyến phía Đông. Chúng kéo đông khoảng 600 tên, võ trang đầy đủ. Chúng xử dụng súng cối 82 ly, súng phóng hỏa tiễn B40, B41, đại liên 50. Khi vào trong Ấp, chúng không từ một ai, dân cũng như lính. Khi đang nói chuyện với chúng tôi thì một người dân làng nhem nhuốc bước ra, đứng yên một lúc, nhìn Thiếu Úy Triệu, giơ tay như phân bua điều gì. Thiếu úy Triệu nhìn chúng tôi im lặng, rồi lắc đầu nói: Thôi, đồng bào kiếm cái gì xong lấp sơ chứ làm sao сó quan tài bây giờ.


Phái đoàn Thượng Viện viếng Dakson

SAIGON. – Hồi 14 giờ ngày 7-12-1967, một phái đoàn Thượng Viện do Nghị sĩ Trần Văn Đôn hướng dẫn, đã đến viếng đồng bào làng Dakson. Phái đoàn đã được Chuẩn Tướng Phạm Quốc Thuần, Tư lệnh Sư đoàn 5 BB và Trung Tá Tỉnh trưởng Phước Long tiếp đón và hướng dẫn đến địa điểm tập trung của đồng bào còn sống sót. Sau khi nghe thuyết trình, phái đoàn đã đi thăm và ủy lạo từng gia đình một, và tặng đồng bào 100.000đ tiền mặt. Thành phần phái đoàn gồm 4 Nghị sĩ: Trần Văn Đôn, Trần Ngọc Nhuận, Nguyễn Văn Mân và K’sor-Rot.


#Chinh Luan Dec. 10_11, 1967 - trang nhất

#Chinh Luan Dec. 10_11, 1967, trang nhất

Vụ Thảm Sát Ở Dakson Có Ý Nghĩa Gì?
SAIGON 9-12. – Đài Úc Đại Lợi đêm qua cho biết, theo nguồn tin thông thạo thì vụ VC thảm sát thường dân vô tội ở Dakson là một trong những biện pháp nhằm chận đứng một phong trào đang bành trướng, trong đó, dân chúng đòi tự động ly khai VC để trở về những vùng được Chánh phủ Quốc gia che chở.
Các quan sát viên ở Saigon còn nhận xét rằng, những trận đánh lớn liên tiếp mấy tháng qua ở Phước Long, Bình Long, Dakto, Bù Đốp … là nằm trong một kế hoạch của Cộng sản nhằm phục hồi những cơ sở du kích VC ở các địa phương khác đang đến hồi tàn tạ. Cộng sản hy vọng rằng, với những trận đánh lớn do quân chính quy Bắc Việt và quân chủ lực VC thực hiện sẽ lôi cuốn quân lực Mỹ và Đồng Minh dồn đến những chiến trường nhất định khiến cho các nơi khác sơ hở. Những trận đánh lớn đó cũng là một cách kích thích cho cán binh VC ở địa phương. Tuy nhiên, Cộng sản đã thất bại trong âm mưu này.
Giáo sư Douglas Pike
The Viet Cong Strategy of Terror by Douglas Pike, Saigon, 1970 (trang bìa trước tập tiểu khảo Sách Lược Khủng Bố của Việt Cộng 94 trang, của Giáo sư Douglas Pike viết cho Tòa Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, xuất bản tại Saigon 1970) - collected and reformatted by Le Tung Chau Dec. 2024
Ngày 5-12-1967: Một địa danh ắt hẳn còn được người ta nhớ mãi chẳng khác gì Lidice [ 1 ] là Dak Son, một làng người Thượng Việt Nam với dân số khoảng 2.000 người ở tỉnh Phước Long, nơi đây đã diễn ra một trong những tội ác man rợ nhất trong toàn thể cuộc chiến hung tàn tận diệt này. Một lực lượng khoảng 300 tên cộng sản đã trút trận đòn thù vào Dakson. Võ khí chủ yếu: súng phun lửa, 60 khẩu không kể những thứ khác. Mục đích: khủng bố trắng. Hậu quả: một "phép giải Carthage" [ 2 ], không có gì hơn là hủy diệt lâu dài và triệt để.
Sau khi chọc thủng tuyến phòng thủ mỏng manh của lực lượng dân quân tự vệ làng, Cộng quân bắt đầu ra tay hủy diệt một cách có hệ thống hết cả làng và cư dân đang ngụ tại đó. Nhiều nhà – cả nhà – bị thiêu sống bên trong những túp lều tranh vách nứa hoặc bên dưới những hầm trú ẩn được đào dưới đất ngay dưới giường ngủ. Mọi vật dễ bắt lửa đều biến thành ngọn đuốc: nhà cửa, lúa đậu ngô khoai mới thu hoạch còn để trên nền nhà, gia súc (gà vịt trâu bò), hàng rào, cây cối, và con người.
Qua hôm sau, một trong những người Mỹ đầu tiên đến tận hiện trường nói rằng: "Khi còn đi từ xa chưa đến, chúng tôi tưởng mình đang thấy những khúc gỗ bị cháy thành than xếp chồng lên nhau giống như kiểu bạn xếp những thớt gỗ cho ngay ngắn bên vệ đường." Khi chúng tôi lại gần hơn, tôi mới thấy được đó là những xác người cháy đen, xác của hàng chục trẻ con. Mùi thịt da cháy khét, chao ôi quả là thứ mùi không cách gì quên được, đã xộc vô chúng tôi ngay khi còn bên ngoài làng và tất nhiên là càng vô giữa làng mùi càng xộc nặng. Người người đang cố tránh cái mùi kia để mà thở . . . Tôi thấy một bé trai và một bé gái nhỏ hơn, có lẽ là em gái của cậu, cả hai như thể chảy ra rồi tan vào nhau trong một vòng tay ôm cháy đen. Tôi thấy một người mẹ bị cháy đen vẫn đang cố che chở hai đứa con nhỏ, cũng bị cháy đen. Mọi thứ đều bị cháy hết và thành than đen. Thảm thiết nhất là tiếng kêu van than khóc của những người còn sống sót đang cố nhặt nhạnh lục lọi bên dưới đống tro tàn. Một người đàn ông cứ kêu gào và cơn gào thét như bật ra hết cỡ từ buồng phổi. Suốt một giờ đồng hồ, ông ta cứ tiếp tục gào khóc như vậy không ngừng. Ông không bị thương, theo như tôi thấy. Ông cứ thét gào mãi cho đến khi có một bác sĩ đến tiêm cho ông một mũi morphine hoặc một thứ thuốc gì đó . . . Lửa làm thân xác trương phình ra, là điều tôi từng có kinh nghiệm, và vài giờ sau, da dẻ sẽ nứt bong ra rồi co quắp lại... Phần xa cuối làng không bị cháy; bọn cộng sản đã hết nhiên liệu trong súng phun lửa trước khi chúng tiến đến đó . . ."
Con số thiệt hại ước tính: 252 người chết, khoảng hai phần ba trong số đó là đàn bà và trẻ em; 200 người bị bắt đem đi và họ không bao giờ còn trở về nữa.

Le Tung Chau dịch
Dec. 9, 2024

[ 1 : Lidice Massacre là vụ Thảm sát Licide ngày 10-6-1942 do Đức Quốc Xã tiến hành theo lệnh của lãnh tụ Quốc Xã Adolf Hitler. Thời Đệ Nhị Thế Chiến, Licide là một làng nhỏ thuộc nước Tiệp Khắc. Có tới 173 người toàn trẻ vị thành niên trên dưới 15 tuổi bị giết tại chỗ. Một số lớn khác (khoảng 500) bị bắt đem đi tống vô trại tù và cũng là lò sát sinh Chełmno, sau đó hết phân nửa bị tống vô các lò hơi ngạt tại đây của Đức Quốc Xã.
[ 2: nguyên văn: "Carthaginian solution". Thuật ngữ "Carthaginian solution" = "phép giải Carthage" ám chỉ một Hòa Ước tàn nhẫn bạo ác nhằm mục đích làm tê liệt vĩnh viễn phe bại trận. Thuật ngữ này có nguồn gốc từ các điều khoản của Hòa ước đó mà La Mã dùng để áp đặt lên Vương quốc Carthage sau cuộc Chiến Punic [ hồi thế kỷ III trước Công lịch ] để chinh phục và thôn tính luôn Carthage.



Dưới đây là nguyên văn trang 72 và 73 của tập tiểu khảo The Viet Cong Strategy of Terror - Sách Lược Khủng Bố của Việt Cộng 94 trang, của Giáo sư Douglas Pike viết cho Tòa Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, xuất bản tại Saigon đầu năm 1970.



$pageOut$pageIn Phân đoạn 4

✦ Thảm Sát Dakson [ tiếp theo 1 ]

Khủng Bố Dakson - Dak Son Terror
by Columbia Missourian Newspaper Dec. 19, 1967
Le Tung Chau dịch

Vào ngày 6 tháng 12, một lực lượng khoảng 300 tên Việt Cộng đã bài binh bố trận một cuộc giết người không gớm tay, triệt hạ hết người làng Dak Son, Nam Việt Nam, vốn là một Ấp Đời Mới quy tụ khoảng 2.000 đồng bào tỵ nạn cộng sản về đây sinh sống.
Sau khi tấn công tràn ngập Lực lượng Dân quân phòng vệ địa phương có 54 người, bọn chúng đã giết chết 7 người, sau đó tiếp tục xuống tay cuồng sát thêm 114 thường dân nữa.
Số thường dân ngụ trong làng này đều là người Thượng thuộc các sắc tộc vùng thượng du, vốn phải mang cái họa bị VC trả thù vì đã không chịu cho người của mình gia nhập hàng ngũ du kích Cộng sản. Hầu hết trong số đồng bào Thượng này là đàn bà và trẻ em.
Cuộc đột kích mở màn bằng một loạt đạn súng cối hạng nặng. Rồi Cộng quân dùng súng phun lửa đốt cháy 75 căn nhà tranh. Toàn thể các gia đình trong Ấp đều bị tiêu diệt triệt hạ bởi lựu đạn hoặc bị chết cháy vì súng phun lửa. Những tấm ảnh chụp lại cảnh bốn hoặc năm xác chết cháy đen nằm co quắp lại với nhau đã vẽ lại đúng nỗi kinh hoàng khi Việt Cộng trả thù.
Tuần trước, có một đoàn biểu tình phản chiến khoảng 50 người kéo nhau xuống đường ở khu Đại Học Brown, Providence để phản đối chiến tranh Việt Nam. Hai xác chết hình nộm làm bằng giấy bồi bị đem ra đốt cháy như một kiểu mô tả tiêu biểu rằng đó là thường dân Việt Nam đã bị thiệt mạng trong chiến tranh.
Những xác chết hình nộm bị đốt cháy nham nhở rồi đem đến văn phòng tuyển dụng việc làm của trường Đại Học và để bên ngoài một căn phòng do một nhân viên tuyển dụng thuộc Công ty Hóa chất Dow sử dụng, người nhân viên này lúc đó không có mặt. Công ty Dow là công ty chuyên sản xuất bom napalm để dùng ở Việt Nam.
Lẽ nào đoàn người biểu tình này chưa nghe tin vụ Thảm Sát Dak Son chăng. Cũng có thể họ đã cố ý giả lơ vụ đó. Vụ Thảm Sát Dak Son đã chứng minh rằng để giết người cháy thành than thì súng phun lửa hữu hiệu đâu có kém gì bom napalm.
Tuần trước, một Phát Ngôn Viên Quân đội Hoa Kỳ cho biết quân Đồng minh đang làm mọi cách sao cho kềm giữ con số thương vong của thường dân trong chiến cuộc Việt Nam xuống thật thấp. Các cuộc hành quân trên bộ, các phi vụ không kích và pháo binh được phối hợp với các cấp chỉ huy Tỉnh và Quận của Việt Nam. Các phi công được thông báo kỹ lưỡng điều này và vì thế các anh thường thả truyền đơn báo trước các cuộc hành quân của quân Đồng minh. Đây cũng chính là những người phi công thực hiện các phi vụ ném bom napalm.
Phát Ngôn Viên ấy còn nói, "Việc này [ tức là việc đánh có chừa chỗ chớ không đánh thẳng tay => nguyên văn: “restraint”) ] thì không bao giờ có bên phe Việt Cộng. Lúc nào Việt Cộng cũng cố tình lấy khủng bố ra xài như một thứ võ khí nhắm vào thường dân."
Chuyện này làm ta không thể không đề ra câu hỏi là tại sao đoàn người biểu tình chỗ khu Đại Học Brown kia, bất kể lai lịch, thành phần của họ là gì, lại không kéo nhau xuống đường biểu tình chống bọn khủng bố Việt Cộng. Lẽ nào vụ biểu tình này, xảy ra sau vụ Thảm Sát Dak Son có 5 ngày, là kiểu riêng của đám biểu tình nhằm lân la làm thân với cái thứ hội chứng quái đản sát nhân mà họ nói là họ chống đối đó sao.

Nguyên Văn:



Tin Thảm Sát Dak Son trên vài số báo ngoại quốc khác:

Burying Details Clean-Up After Flame Throwing Viet Cong Hit Village.
Tin chi tiết việc chôn cất và thu dọn sau vụ súng phun lửa của Việt Cộng nhấn chìm Ấp Dak Son.

Bản tin Thảm Sát Dak Son (trang nhất) nhật báo The Bryan Times (tiểu bang Ohio, Mỹ) số ra ngày Friday, Dec. 8, 1967 - Photo saved & reformatted by Le Tung Chau Dec. 2024:

Bản tin The Massacre of Dak Son - Thảm Sát Dak Son (trang 5) nhật báo The Age (của Úc Đại Lợi) số ra ngày Wednesday, Dec. 13, 1967.
Photo saved & reformatted by Le Tung Chau Dec. 2024:

$pageOut$pageIn Phân đoạn 5

✦ Thảm Sát Dakson [ tiếp theo 2 ]

HÌNH ẢNH THẢM SÁT DAKSON

[ do Le Tung Chau sưu lục và lưu trữ, từ các hãng thông tấn và báo chí ngoại quốc: AP, UPI, New York Times, TIME và các nguồn khác. Mỗi bức ảnh đều được LTC ghi chú rõ chi tiết xuất xứ, tác giả ảnh, ngày tháng chụp v.v...
Một số hình ảnh chụp cận cảnh coi quá ghê rợn tàn nhẫn, thương tâm, cho nên theo xu hướng chung của Cyberspace là tránh cho đăng hoặc hạn chế hiển thị, do đó việc dò tìm Photos of Dak Son Massacre bị gặp khó khăn khá nhiều. ]


by AP:
NYT’ caption: Survivors covering the bodies of some of the 114 villagers in Dak Son killed by the Viet Cong and North Vietnamese troops in December 1967. Photo by AP (Associated Press).
NYT chú: Người còn sống đang bọc thây người chết, khoảng 114 người trong Ấp Dakson đã bị VC và quân Bắc Việt giết hại vào tháng 12-1967.
LTC chú: đây là tấm ảnh của hãng thông tấn AP, được tờ Nữu Ước Thời Báo (The New York Times) mua lại và đăng trong 1 bản tin vào ngày 7-12-1967. LTC sưu lục và ghi chú, Dec. 2014
by USIA:
Two battalions of Viet Cong systematically killed 252 civilians in a "vengeance" attack on the small hemlet of Dak Son. Tears are streaming down the face of little three-year-old Dieu Do, now homeless, and fatherless. December 6, 1967. (photo by USIA)
Bé Điểu Độ, 3 tuổi, bị phỏng vì súng phun lửa của VC trong vụ 2 tiểu đoàn Cộng quân cuồng sát 252 thường dân trong một trận đòn thù tại Ấp Dakson ngày 5-12-1967. Nước mắt ràn rụa trên mặt bé giờ đây trở thành kẻ không nhà và tứ cô vô thân. (ảnh của USIA)
Photo saved & reformatted by Le Tung Chau Dec. 2024
LTC chú thích: bạn đọc chú ý:
USIA = United States Information Agency = Cục Thông Tin thuộc Chính phủ của Hoa Kỳ.
Phân biệt với:
USIS = U.S. Information Service = Sở Thông Tin Hoa Kỳ thuộc Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại ngoại quốc (như tại VNCH chẳng hạn). USIS là cơ quan thuộc quyền của USIA.



by Getty Images
by Douglas Pike:
MEDCAP Team treats three-year-old Dieu Do who was burned in his mother's arms as the Viet Cong directed their flame throwers into their homes. Photo from Douglas Pike Photograph Collection.
Bé Điểu Độ, 3 tuổi, đang được Đoàn Y tế Dân sự Vụ Hoa Kỳ chữa trị vết phỏng lửa, khi Việt cộng bắn thẳng súng phun lửa vô nhà bé khiến nhà cháy và bé bị phỏng khi Mẹ bé đang ẵm trên tay, trong vụ Thảm Sát Dakson ngày 5-12-1967.
ảnh trong bộ sưu tập của Giáo sư Douglas Pike | saved & reformatted by Le Tung Chau Dec. 2024


Video Clip Thảm Sát Dak Son: by TRIBAL ACTION GROUP YouTube Channel, May 30, 2009
LTC: video có cảnh tàn nhẫn thương tâm, cho nên YouTube hạn chế xem. Bạn đọc click vào dòng chữ Watch on YouTube để xem trên trang chánh thức YouTube.




by John Feltz:
Khung cảnh Ấp Dakson 1 tuần sau vụ Thảm Sát.

Photos by John Feltz, nhân viên MACV thị xã Sông Bé [tỉnh lỵ tỉnh Phước Long]. Căn Cứ MACV Phước Long đặt tại Phường Phước Bình, thị xã Sông Bé, tỉnh Phước Long VNCH (năm 1967). John Feltz lúc đó mới có hơn 20 tuổi, tòng quân sang Việt Nam thuộc Tiểu đoàn Truyền Tin 44th quân đội Hoa Kỳ, là người có mặt tại thị xã Sông Bé vào đêm xảy ra vụ Thảm Sát Dakson.
[ MACV = Military Assistance Command, Vietnam = Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ Tại Việt Nam ]



$pageOut$pageIn Phân đoạn 6

Nguyên Văn:
WHEN COMMUNIST COMES by Douglas Pike, 1972



$pageOut$pageIn Phân đoạn 7

Sơ Lược Hành Trạng Giáo Sư Douglas Pike [ 1924 - 2002 ]
by Texas Tech University
translated into Vietnamese by Le Tung Chau

Giáo sư Pike là một học giả lừng danh đã biên soạn một khối lượng lớn các bài viết nhận định, tiểu khảo, hoặc khảo luận chuyên về lý thuyết, chiến lược và chiến thuật của Cộng sản Việt Nam. Là một cựu viên chức ngành Ngoại giao, và sau khi mãn nhiệm cương vị Khoa Trưởng Khoa Nghiên cứu Đông Dương tại Đại học California ở thành phố Berkeley (1982-1996), vào năm 1997, ông đã sang cộng tác với Trung tâm Việt Nam Học của Viện Đại Học Texas Tech và sự nghiệp đồ sộ ấy của ông cũng đến đây cùng ông. Thời làm việc ở Texas Tech, ông cho tục bản chuyên san Niên Giám Đông Dương, một Tam Cá Nguyệt San vốn ra mắt số đầu tiên vào năm 1982 và được nhiều giới chức cùng nhiều độc giả khác ở khắp nơi để tâm theo dõi các diễn biến ở Đông Nam Á đón đọc.
Giáo sư Pike là Phó Trưởng Khoa Nghiên cứu tại Trung tâm Việt Nam Học, là nơi ông miệt mài làm việc cho đến khi bị đột quỵ vào tháng 11 năm 2001. Cơn bạo bệnh đã chấm dứt một sự nghiệp lừng lẫy, trong đó có cả công vụ Ngoại Giao mà Giáo sư Pike đã đảm trách tại Sài Gòn, Hương Cảng, Đông Kinh và Đài Bắc. Ông được coi là một chuyên gia am hiểu hàng đầu về Việt Nam, đã biên soạn 6 quyển sách, cùng với 24 tập biên khảo lớn nhỏ, và là tác giả của nhiều bài viết chuyên về lãnh vực học thuật, nhiều khảo luận, cùng nhiều bài thuyết trình tại các phiên hội nghị về Đông Dương và Đông Nam Á.
Cùng theo Giáo sư Pike đến Texas Tech là nguyên một công trình tập đại thành sưu tập bao trùm, gồm các tài liệu liên quan đến Việt Nam như: các sách, tài liệu do chính ông biên soạn, cùng với hàng triệu trang bản sao tài liệu, ấn loát phẩm của chính phủ, tờ rời các bài báo cắt ra, truyền đơn tuyên truyền các loại của Cộng sản Việt Nam, và nhiều thứ khác nữa. Ngày nay, Bộ sưu tập Pike chiếm một vị trí quan thiết trong Trung tâm Lưu trữ Việt Nam Học của Viện Đại Học Texas Tech.

Vào ngày ông tạ thế, một Cáo Phó chiếm hẳn một cột báo dài của báo New York Times, có nhắc lại một công trình biên khảo của Giáo sư Pike xuất bản năm 1970, đã bị giới phản chiến công kích như thế nào, rằng "có một số kẻ đôi co, đấu khẩu một cách quá khích khi ông trưng bằng chứng cho thấy quân đội Bắc Việt đã xuống tay thảm sát tập thể thường dân ở Huế trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968." [ 1 ] Tuy nhiên, cũng theo tờ báo, thì ông "rất khác với một người hậu thuẫn, khích lệ phía VNCH, đã vậy còn chỉ trích gắt gao cách tổ chức lỏng lẻo của VNCH khi đương đầu với một đối phương dùng lối siết chặt tổ chức hơn là Cộng sản Bắc Việt; vô hình chung, tự ông đã trở thành nhà chuyên môn riêng về khoản cơ cấu quyền hành và tổ chức của quân Cộng sản Bắc Việt, cũng như thủ tục chiến trận của họ."

Bằng hữu và cộng sự đã bày tỏ lòng tôn kính và ghi lại những kỷ niệm với Giáo sư Pike như sau:

Từ Jay Veith: "Năm 1994, tôi đến Berkeley vì công việc, cũng là thời tôi vừa mới bắt đầu nghiên cứu về cuộc chiến tranh Việt Nam, vì thế tôi muốn đến thăm văn phòng của ông. Một người có dáng vóc không cao lắm, ăn mặc không lấy gì làm chải chuốt với hàm râu có hình thù khác lạ, đã chào tôi từ đàng sau một cái bàn giấy đầy tràn những giấy tờ tài liệu, rồi nhìn tôi một lượt và hỏi tôi quan tâm mục gì về Việt Nam. Tôi nói với ông là tôi muốn nghiên cứu về POW/MIA [ prisoner of war / missing in action = tù binh chiến tranh / mất tích khi thi hành công vụ]. Ông bèn chỉnh tôi, bảo rằng đúng hơn phải nói là 'Việc Giải quyết Tù binh', và bằng một giọng nói ôn tồn với chất giọng vùng Trung Tây khá đậm, ông bắt đầu kể tôi nghe nhiều chuyện về những ngày ông làm việc với đồng bào nạn nhân chiến cuộc vào cái thời ông còn làm việc ở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ [ tại Việt Nam ]. Vài phút sau, ông chỉ cho tôi lối đi tới chỗ để các hồ sơ, tài liệu của ông, bảo tôi nếu cần gì thì cứ hỏi, và cho biết đến giờ cơm trưa, rồi để lại tôi lại một mình trong cái kho lưu trữ mênh mông đó của ông. Đó là buổi đầu gặp gỡ của một mối thân tình sao mà quá ngắn ngủi."

Từ Stephen M. Graw: "Ai ai cũng nhìn nhận ông Pike như là một hình mẫu chí sĩ của thời Chiến Tranh Lạnh, và các công trình học thuật của ông đã ví Việt Nam như là một 'Vương quốc Prussia của phương Đông.'[ 2 ] - và có lẽ ông là người đầu tiên dùng danh từ này " Nhưng … ở đoạn kết bài thuyết trình của ông tại hội nghị 'Vietnam Reconsidered' năm 1983 ở Los Angeles, ông Pike đã một mực kêu gọi bình thường hóa bang giao Mỹ-Việt. Lập trường bạo dạn này đã đặt ông vào thế đụng chạm trực tiếp với chính quyền Reagan và Carter vốn áp dụng chính sách cứng rắn với Hà Nội.”

Từ cựu Đại tá Dan Yen, QLVNCH: "Douglas Pike là mẫu người hùng của tôi. … Tôi chắc chắn rằng Giáo sư Pike cũng chiếm được lòng tôn kính cực đại nơi cả các tướng lãnh của miền Nam Quốc Gia lẫn của miền Bắc cộng sản.

Từ cựu Đại tá Roger H.C. Donlon, Mỹ, quân nhân đầu tiên được trao tặng Anh dũng Bội tinh trong Chiến tranh Việt Nam: "Trong chúng tôi, những ai đã biết Pike và làm việc với Pike, thì những đoan chắc của ông vẫn còn lưu lại trong lòng chúng tôi nguồn hứng khởi." Riêng cá nhân tôi, tôi lấy làm vinh dự là một cựu chiến binh của Quân đội Hoa Kỳ. Tưởng nhớ đến ông Pike sẽ còn tiếp tục đem lại nghị lực mạnh mẽ cho tôi.”

Từ Phong trào Nhân dân Hành động Việt Nam: "Phong trào Nhân dân Hành động Việt Nam nhận được hung tin Tiến sĩ Pike đã từ trần, chúng tôi xin gửi lời chia buồn sâu xa nhất."

Từ Peter C. Rollins, Giáo sư Khoa Điện ảnh Anh - Mỹ: "Douglas Pike là một con người chân thật, chân thật tới độ có lúc thật là ngỡ ngàng khi nghe ông nói. Về hai cuốn phim tài liệu về Việt Nam là: cuốn phim The Impact of Visual Images và phim Television's Vietnam: The Real Story, thì vai trò của tôi là phỏng vấn ông Pike một cách chi tiết. Câu trả lời của ông rất cận nhân tình, hết sức chân thực và quá xác thực đến độ ta có cảm tưởng được dội gáo nước lạnh cho tỉnh lại để mà nghe ông nói. Hình như ông có một am hiểu tới tận gốc ngọn và hình như ông hằng chạm tới những loại sự thật có điện giật vậy. Sự chân thực ấy hiển hiện trước nhất qua các tập Nội San của ông - đặc biệt là trong mục điểm sách. Kể từ những "bài điểm sách" của Thomas Carlyle và Orestes Brownson vào thời thế kỷ 19, thiệt tình là tôi chưa từng thấy những ý kiến đánh giá chân thực một cách dã man như vậy nơi các bài viết chuyên đề - trong trường hợp này, chuyên đề là Việt Nam."

Từ Ann Mills Griffith, Liên Hội Thân Nhân POW/MIA toàn quốc: "(Tôi) những tưởng ông luôn hiện diện cùng chúng tôi, là ngọn núi đá sừng sững và là nền móng hiểu biết về Việt Nam cùng hầu hết mọi đề tài liên quan đến Việt Nam. … Ông đã chạm đến rất nhiều người, rất nhiều mảnh đời bằng một nhân cách thực sự khó quên. Ông đã góp tay vào với chúng tôi!"

Từ Tiến sĩ Jane Hamilton-Merritt: "Thật là một mất mát quá lớn. Douglas Pike là một quý ông lịch duyệt giang hồ, một học giả và là một trong những con người được chú ý tới nhất trong giới học thuật về Chiến tranh Việt Nam."

Từ gia đình của cố Đô đốc Elmo Zumwalt, Jr.: "Là một đích thân gia đình bị tác động từ cuộc Chiến tranh Việt Nam, chúng tôi vô cùng ngưỡng mộ những ai đã nhận lãnh trách nhiệm hàng đầu trong việc bảo đảm cho các thế hệ hậu duệ sẽ không bao giờ quên cuộc chiến này và tất cả những gì liên quan đến cuộc chiến đó. Trong số những người đi đầu trong công cuộc đó có Tiến sĩ Douglas Pike."

Từ cựu Phó Đô đốc & Bà Emmett H. Tidd, Hải quân Hoa Kỳ: "Sẽ không có một Doug Pike nào khác nữa đâu. Chúng ta chỉ phải tìm cho ra một Biểu tượng khác để điền vào chỗ trống - nhưng không bao giờ có ai đâu mà thế chỗ."

Từ ông Nguyễn Xuân Phong, [ cựu Tổng Ủy Lao Động, Tổng Ủy Chiêu Hồi (thời Nội Các Chiến Tranh 1964 - 1966), cựu Quốc Vụ Khanh đặc trách về hòa đàm (thời Đệ Nhị Cộng Hòa) cựu Trưởng Phái đoàn VNCH tại hòa đàm Ba Lê : "...Douglas Pike là một nhân vật 'không phải là người Việt Nam' vô cùng hiếm có, đã biểu lộ một trình độ am hiểu sâu xa về các phe phái người Việt Nam ở cả hai bên chiến tuyến của cuộc chiến tranh man rợ này… . Ông như thể bị nước Việt Nam cuốn hút quyến rũ, và chúng tôi, những người Việt, cũng lấy làm kinh ngạc trước sự tinh thông của ông về đất nước và con người Việt Nam. … Với nhiều người Việt ở cả hai bên chiến tuyến của cuộc Chiến tranh Việt Nam và với những ai đã có biết đến ông từ hơn 40 năm trước, Douglas Pike của USIS [ U.S. Information Service = Sở Thông tin Hoa Kỳ ] tại Sài Gòn sẽ là một con người mà không ai có thể quên được vì ông có nhận thức quá thâm sâu về Nhân Bản Tính giữa một thời đại ngập trong chết chóc và hủy diệt …."

[ 1 ]: đó là quyển The Viet Cong Strategy of Terror (Chiến lược Khủng bố của Việt Cộng), viết cho Tòa Đại sứ Mỹ tại Saigon, Việt Nam, xuất bản năm 1970
[ 2 ]: Vương quốc Prussia: là một vương quốc của Đức (Germany) hiện diện ở từ đầu thế kỷ thứ XVIII sang đến năm 1918 thì chấm dứt, chiếm một vai trò chủ chốt trong việc hình thành nền chính trị Âu Châu và thống nhất đế quốc Đức (năm 1871)


Vietnam Magazine là Nguyệt san của The Vietnam Council on Foreign Relations ( Hiệp- Hội Việt- Nam Phát-Triển Bang- Giao Quốc Tế. Chủ tịch: Ngoại trưởng Trần Văn Lắm ), do Giáo sư Nguyễn Ngọc Linh (Giám đốc VTX – Việt Tấn Xã VNCH) làm Chủ Bút.


$pageOut $pageIn Phân đoạn 8

Cộng Sản Bắt Lính Trẻ Vị Thành Niên Và Tống Trẻ Em Ra Nướng Ở Chiến Trường Đỏ Lửa
Collected by Le Tung Chau
Dec. 5, 2024

Le Tung Chau: Một bản chất đao phủ thú tính có hệ thống khác của tập đoàn máu Cộng sản Hanoi trong chiến tranh Quốc – Cộng là không tiếc máu xương, nói riêng ở đây là chủ trương vét lính, vét tàn nhẫn đến độ miền Bắc hầu như không còn đàn ông (dĩ nhiên là ngoại trừ con cháu các tên đầu lãnh Bắc Bộ Phủ, hoặc được ở lại vì nhiều lý do, hoặc được đưa đi lánh mặt bằng cái gọi là đi học ở các nước Cộng sản Đông Âu, cùng với một số hết sức ít ỏi đàn ông lớn tuổi còn sót lại làm việc trong các ban bệ hành chánh của chế độ Cộng sản Hanoi). Chủ trương vét lính này bắt đầu từ ngoài Bắc ngay vào năm 1965 để chuẩn bị quân số cho các trận đánh đẫm máu trong miền Nam như trận Bình Giã II, tỉnh Phước Tuy tháng Giêng 1965, trận Đồng Xoài, tỉnh Phước Long tháng 6-1965, trận Đức Cơ, tỉnh Pleiku tháng 8-1965, trận Ia Drang, Pleiku tháng 11-1965, mặt trận Bình Định - Phú Yên - Quảng Ngãi từ tháng 3-1966 đến tháng 11-1966, trận Dakto, Kon Tum tháng 10_11-1967, trận Khe Sanh Quảng Trị 1968 ... rồi khi tất cả đều bị thảm bại nặng nề trước QLVNCH, quân số Cộng quân tụt giảm thảm hại, thì Bắc Việt lại tận vét thanh niên ngoài Bắc lẫn trong Nam để chuẩn bị cho trận đánh trộm Tết Mậu Thân 1968. Để dốc túi đặt cửa xuống Canh Bạc Máu Mậu Thân, những tên đầu lãnh máu lạnh ở Bắc Bộ Phủ hạ lệnh cho thủ hạ của chúng ở trong Nam [ là bọn MTGP, COSVN ] phải tìm mọi cách bắt lính một cách triệt để.
Trước, Trong và Sau những trận đánh trộm Tết Mậu Thân 1968 rồi tới trận đại quy mô Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, người ta thấy trong số rất nhiều tù binh Cộng sản từ bọn quân chính quy Bắc Việt cho tới quân Cộng sản miền Nam [ mà ngôn từ của Hanoi gọi là quân chủ lực miền, còn VNCH gọi là 'VC tại chỗ', và Mỹ hoặc các hãng tin tức phương tây gọi là quân 'Cộng sản địa phương' ( local force, local guerrillas, local force troops in South Vietnam ) ] bị quân đội Quốc Gia bắt sống tại trận địa, có rất nhiều trẻ vị thành niên, số quá nhỏ là tuổi mới 12, 13, còn số lớn hơn là 14, 15 tuổi.
Nội trận Tết Mậu Thân, Bắc Việt đã tung 80.000 lính từ miền Bắc vào, cùng với tất cả quân du kích NLF và đặc công VC nằm vùng để tấn công 36 trong số 44 tỉnh miền Nam và 6 thị xã, cùng với 64 trong số 242 quận lỵ. Cán binh Cộng sản (cả bọn chính quy Bắc Việt lẫn bọn Cộng quân tại chỗ) phần lớn đều ở độ tuổi vị thành niên, chỉ được huấn luyện sơ sài cách dùng súng nhưng không biết đường rút quân vì hoàn toàn lạ lẫm với phố phường sầm uất văn minh của miền Nam. Tại những tòa cao ốc mà VC chiếm được tại đô thành Saigon, chúng đã lập dã chiến các công sự đặt súng lớn mà chân xạ thủ bị xiềng bằng dây xích vào bàn súng. Các tù binh VC bị bắt trong trận Tết Mậu Thân 1968 khai rằng, trước khi đi vào đô thành, chúng được các tên chính trị viên (đa số là quân CSBV, bọn chính trị viên này là cấp chỉ huy tối hậu của 1 cánh quân VC) bắt mang theo 2 bi đông: 1 bi đông chứa nước đã pha sẵn thành một thứ nước hỗn hợp có màu xanh nhạt để lính VC uống vào thấy lên tinh thần, thấy khỏe và không biết đói, không biết sợ khi xung trận; và 1 chứa xăng để khi rút bỏ đi thì rưới xăng rồi châm lửa đốt nhà.
Những ai cư ngụ tại Saigon và có mặt tại Saigon trong cú giặc Cộng đánh trộm Tết Mậu Thân đều thấy biết sự kiện trong số Cộng quân bị chết hoặc bị bắt tại trận như tại Tòa Đại sứ Mỹ ở Saigon, tại Bộ Tổng Tham Mưu VNCH, tại các mặt trận đầy khói lửa khác trong vùng đô thành Saigon Gia Định và Cholon, tại trước Bộ Tư lệnh Hải quân VNCH (ngay bến Bạch Đằng Saigon), tại mặt trận Hàng Xanh, Gò Vấp, Hóc Môn, Ngã Tư Bảy Hiền, Bà Quẹo v.v… đại đa số đều ở tuổi vị thành niên (dưới 16) hoặc chưa tới 20 tuổi. Dân Saigon ai ai cũng đều ghi nhớ những hình ảnh kinh hãi đó không sao quên được: giặc Cộng quá nhỏ tuổi!

Sau đây chỉ là một số ít bản tin chọn làm tiêu biểu cho chủ đề Cộng Sản Bắt Lính Trẻ Vị Thành Niên ... này, trích trên các nhựt báo miền Nam Quốc Gia (vì Tin Tức tương tự như thế này nhiều vô kể, không thể đăng hết), cộng với một số hình ảnh ghi nhận tại thực địa do các hãng tin tức ngoại quốc chụp được lúc đương thời, tôi đã sưu tập lại (chưa đầy đủ) và tinh chỉnh ảnh cho thật rõ cùng với phần ghi chú cẩn thận kèm theo từng bức ảnh. Những tấm ảnh tôi post ở đây có được là nhờ tôi sưu tập từ trước và để dành nay mới còn, chứ hiện tại trên Cyberspace, các hình ảnh loại này đã bị mất khá nhiều vì hơn chục năm qua, có nhiều trang Web (có đăng nhiều hình ảnh tương tự như thế này) đã ngưng hoạt động hoặc – không rõ vì lý do gì – đã tự đóng cửa, thành thử có khá nhiều hình ảnh loại này đã bị mất luôn, thật đáng tiếc.

✑ NLF: National Liberation Front = MTGP > người Quốc Gia gọi bọn này là Mặt trận Giặc phỉ, hay Việt Cộng (là cánh tay nối dài của Cộng sản Bắc Việt).
✑ COSVN: Central Office for South Vietnam = Trung ương cục miền Nam (bọn này cũng tương tự như MTGP, là một nguỵ danh khác của Cộng sản Bắc Việt).
✑ Nhân dân Việt Nam quan niệm Việt Cộng (VC) là tất cả quân địch ở Bắc cũng như ở Nam Việt Nam hay nói cách khác là Cộng sản Việt Nam. Trái lại, người Mỹ phân biệt Cộng sản Bắc Việt là Cộng sản ở ngoài Bắc và VC là Cộng sản ở trong Nam. Nhiều vùng thôn quê Việt Nam còn dùng danh từ “Việt Minh” thay cho “Việt Cộng”. – trích "Kế Hoạch Hỗn Hợp Mục Tiêu Chiến Lược" 1971 / "Combined Strategic Objectives Plan" by Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH và Phái bộ MACV phối hợp biên soạn.




#Tien Tuyen Apr. 12_13, 1970 trang nhất
#Tien Tuyen Apr. 12_13, 1970 trang nhất
Một tù binh cộng sản tiết lộ:
HÀ NỘI VƠ VÉT THANH NIÊN ĐỂ CƯỠNG BÁCH ĐƯA VÀO NAM


SAIGON 10-4. – Cộng sản Hà nội hiện đang thi hành chánh sách vơ vét thanh niên để ném vào chiến trường miền Nam. Không một thanh niên nào được viện dẫn bất cứ lý do nào để xin miễn hoặc hoãn chuyến đi không hẹn ngày về.
Anh Lương đức Tiến, 18 tuổi, cán binh thuộc Trung đoàn F.51 Công trường 9 CSBV, bị bắt làm tù binh, cho biết: Anh là con độc nhất trong gia đình, có Mẹ già. Vừa học hết lớp 10 thì bị buộc phải thi hành nghĩa vụ quân sự. Sau 5 tháng huấn luyện, anh được lệnh lên đường vào Nam. Anh đã viện lý do gia đình đơn chiếc để xin ở lại chăm sóc Mẹ già, nhưng cán bộ không cho. Anh xin về phép vài ngày để thăm và từ biệt Mẹ già nhưng vẫn không được, và khi anh bị buộc lên đường vào Nam, anh biết chắc lần này là đi không trở lại.
Anh Tiến là một trong những cán binh Cộng sản, cùng với 11 đồng đội khác, bị QLVNCH bắt làm tù binh vào ngày 3-4 1970 vừa qua tại Quận Hiếu Thiện tỉnh Tây Ninh trong lúc đơn vị của anh đang di chuyển từ vùng núi Bắc Tây Ninh xuống vùng đồng bằng.
Anh Tiến còn cho biết thêm, từ năm 1965 cho tới nay, rất nhiều thanh niên Bắc Việt đã phải lên đường vào Nam [ Công sản kêu bằng ‘đi B’ ] nhưng anh chưa thấy có ai trở về hoặc gởi thư về cho thân nhân ngoài Bắc. Anh nói: “tôi không dám chắc bây giờ Mẹ tôi có biết tôi đã ở miền Nam hay chưa, nhưng khi bà con ở ngoài đó không nhận được tin tức gì về con cháu mình thì chắc ai cũng tin chắc rằng con cháu họ đã ở trong Nam rồi”. Theo anh Tiến thì có nhiều gia đình ngoài Bắc đã phẫn nộ và đòi hỏi chính quyền phải thông báo cho họ biết mỗi khi đưa con cháu họ vào Nam để gọi là ‘giải phóng’, hoặc không thì phải cho con cháu họ liên lạc thư từ với gia đình.
Nhưng cũng anh Tiến cho biết, có những lúc có người điên lên vì có con cái bị cưỡng bách vào Nam, họ la khóc đòi chính phủ phải trả con lại cho họ, thì cán bộ lại tìm cách «xây dựng tư tưởng» hoặc đe dọa cắt bớt phần gạo, lương thực của những kẻ chống đối. Vì thế, thanh niên miền Bắc hết lớp này đến lớp khác cứ theo nhau ‘đi B’ và chịu chết ở miền Nam.
Mặt khác, anh Nguyễn trọng Ngân, 19 tuổi, cùng bị bắt làm tù binh với anh Tiến, khi được hỏi về hoàn cảnh riêng của anh, anh Ngân nói: “tôi đang ở nhà làm ruộng với cha mẹ tôi thì được lệnh phải vào Nam. Cha mẹ tôi buồn lắm vì chỉ có mình tôi là con trai trong nhà, khi Cha mẹ tôi thắc mắc thì cán bộ nói vì tôi là thanh niên nên phải vào Nam làm nhiệm vụ ‘giải phóng’ cho tới khi nào hoàn thành thì mới được về. Cha mẹ và các em gái tôi đã khóc lóc rất nhiều vì biết tôi đi là đi luôn không có ngày về”.
Anh Ngân ngỏ ý muốn viết thư về thăm gia đình, nhưng lại thôi, vì theo anh “có viết thư cũng vô ích vì tôi biết chắc chính phủ ở ngoài Bắc sẽ không bao giờ chuyển thư của tôi cho gia đình tôi”.



#Tien Tuyen Nov. 17, 1970 trang nhất
Bất Chấp Cha Già Mẹ Yếu, Tàn Tật Mù Lòa Hay Gia Đình Đông Con
CSBV bắt tất cả thanh niên phải đi lính

by ANH NHÂN




#Tien Tuyen Feb. 21_22, 1971 trang nhất Hết Đàn Ông, Bắc Việt Phải Động Viên Cả Mấy Triệu Phụ Nữ
Để thay thế cho đàn ông đã ra chiến trận




#Tien Tuyen Mar. 29, 1969 trang ba
#Tien Tuyen Mar. 29, 1969 trang ba
Phát hiện nhiều toán trẻ trẻ em bị đưa ra Bắc trên đường mòn HCM

Một hồi chánh viên gốc miền Bắc tiết lộ: Trên đường vào Nam, anh gặp 600 em trên đất Bắc, 500 em còn đang trên đất Lào, 400 em ở vùng Tuyên Đức đang được di chuyển. Các em khoảng từ 10 tới 15 tuổi.
Bị cùng kiệt về nhân lực, CS quay sang bắt trẻ em 12, 13t ra chiến trường hoặc xung vào các toán đặc công phá hoại.

Tin tức gần đây ghi nhận CS đã lừa gạt để bắt trẻ em miền Nam đưa ra Bắc huấn luyện quân sự, rồi đưa trở lại miền Nam để gia tăng quân số, tiếp tục kéo dài chiến tranh.
Tài liệu dưới đây có mục đích vạch trần âm mưu và hành động dã man, hiếu chiến đó của CS, đồng thời cảnh giác toàn dân trước âm mưu này.


HỎI: Xin cho biết Cộng sản đã thực hiện âm mưu này từ bao giờ?
ĐÁP: Theo tin tức nhận được, Cộng sản Bắc Việt [ CSBV ] đã bắt trẻ em miền Nam đưa ra Bắc vào khoảng tháng 9 năm 68. Ta không thể xác định rõ ngày nào, chỉ biết rằng có nhiều toán trẻ em đã được phát giác đang di chuyển trên nhiều quãng đường mòn Hồ Chí Minh trong thời gian trên. Cũng trong thời gian này, 1 Cộng quân về đầu thú đã cho nhà chức trách VNCH biết anh đã thấy nhiều toán trẻ em từ 8 đến 15 tuổi được đưa đi trên đường mòn Hồ chí Minh. Tên CS này đã chận 1 trong những người dẫn đầu toán trẻ em đang di chuyển trên đường mòn phía Tây Kontum để hỏi, thì người này cho biết là các trẻ em đó sẽ đáp phi cơ từ Cam Bốt để đi Bắc Việt [ BV ].

Những sự kiện trên phù hợp với một nguồn tin khác trong tháng 9-1968 nói rằng Cộng quân đã gửi những toán thiếu niên đã được tuyển chọn từ 15 đến 17 tuổi ra BV để huấn luyện trong thời gian ngắn.

HỎI: Có địa phương nào phát hiện được âm mưu của CS trong thời gian này (tháng 9/1968) không?
ĐÁP: Tại Quảng Ngãi, Mỹ Tho và vùng ngoại ô Thành phố Đà Lạt, âm mưu trên đây của CS đã được phát hiện trước hết.

Trong tháng 9-1968 ở một vài nơi thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Cộng quân đã ráo riết cưỡng ép, dụ dỗ trẻ em để đưa ra Bắc huấn luyện quân sự, nhưng chúng lại tuyên truyền rằng số trẻ em này được đưa đi học để đào tạo thành phần lõi cho thế hệ tương lai. Thủ đoạn gian ác này của CS, còn được ghi nhận qua sự chống đối của nhân dân tại một số ngoại ô Mỹ Tho, và của nhân dân vùng chung quanh thành phố Đà Lạt. Các cơ quan quân sự VNCH đang trông coi giữ trẻ một cách cẩn thận để khỏi bị Việt cộng bắt.

HỎI: Nghe nói mới đây hồi chánh viên Trần văn Huỳnh, thượng sĩ Việt cộng có tiết lộ nhiều chi tiết quan trọng liên hệ đến vấn đề này. Vậy xin cho biết những chi tiết đó?
Đáp: Theo anh Huỳnh, trên lộ trình xâm nhập từ Thanh Hóa vào đến Tuyên Đức anh thường xuyên được gặp các toán thiếu nhi ở miền Nam trên đường ra Bắc. Những toán thiếu nhi này gồm cả nam lẫn nữ, nhưng đa số là nam từ 10 đến 15t. Trên đất Bắc, anh cũng đã gặp khoảng 600 em, trên đất Lào độ 500 em và ở miền Nam (các tỉnh Kontum, Gia Lai, Darlac, Tuyên Đức) độ 400 em. Hầu hết các em đều mặc quần xanh, áo xanh, một số ít mặc sơ mi trắng, chân đi dép cao su, đội mũ vải, lưng đeo bầu bên trong đựng gạo và vật dụng gồm một cái võng, 2 bộ quần áo lót, 1 khăn mặt và 1 chai nước. Các em đi thành từng toán từ 30 đến 50 em, mỗi toán có 2 cán bộ hướng dẫn ăn mặc quần áo bà ba đen, đi dép cao su, đội mũ vải, lưng đeo ba lô và được trang bị 1 súng K 54.
Trong mỗi toán, những em 14, 15t cũng được trang bị súng carbine M 1, M 2 và 2 băng đạn.

Theo tin tức mà Chính phủ ta nhận được, thì hiện nay tại các vùng Chánh phủ ta chưa hoàn toàn kiểm soát thuộc vùng I chiến thuật (Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi) VC đã ráo riết tiến hành chủ trương này. CS vẫn lặp lại luận điệu tuyên truyền quen thuộc là số trẻ em mà chúng dụ bắt sẽ được đem ra Bắc dạy dỗ, khi nào có cơ hội thuận tiện sẽ gửi lại vào miền Nam.

HỎI: Tại sao CS bắt trẻ em miền Nam đưa ra Bắc?
ĐÁP: Việc bắt trẻ em ra Bắc của Cộng sản nằm trong sách lược:
• Trường kỳ gây chiến.
• Lấy chiến tranh (dùng tài nguyên của ta đánh lại ta) của CS.

Để đạt được 2 mục đích trên, CS đã tiến hành công việc như sau:
• Tuyên truyền lừa gạt: Một số trẻ em nhẹ dạ hoặc vô gia cư, nói là đưa ra Bắc học tập nhưng kỳ thực đưa vào các mật khu để nhồi sọ về chính trị và huấn luyện về quân sự qua loa, rồi bổ sung cho các đơn vị chiến đấu hiện đang thiếu hụt quân số trầm trọng, để rồi đưa chúng trở về hoạt động phá hoại tại các địa phương.
• Bắt trẻ em làm con tin: Khai thác liên hệ tình cảm gia đình khiến thân nhân các em phải tiếp tay hoạt động cho chúng. Biến hàng thân nhân này thành những cán bộ cốt cán hoặc ít ra cũng thuộc loại quần chúng tốt làm hậu thuẫn cho việc thực hiện các thủ đoạn đấu tranh chính trị của CS.
• Vét sạch tài nguyên cuối cùng trong những vùng Chính phủ ta chưa hoàn toàn kiểm soát, để sau này khi ta đến bình định sẽ gặp phải nhiều khó khăn về mặt chính trị và trở ngại trong việc phát triển lực lượng nhân dân tự vệ tại địa phương.
• Dễ sai khiến: Trẻ em thường thiếu suy nghĩ, tính hiếu động, nên dễ dụ dỗ, đầu độc và sai khiến hơn những người lớn tuổi. CS dùng lớp trẻ này vào những hoạt động có tính cách mạo hiểm như đặt mìn phá hoại, đột kích vào các đồn bốt, tấn công vào các thành phố.
• Nhồi sọ tư tưởng: Đặc biệt, đưa số trẻ em này ra Bắc để nhồi sọ tư tưởng, biến chúng thành những phần tử cuồng tín và mất lý trí, sẵn sàng tuân theo lệnh đảng trở về Nam tiếp tục công việc phá rối trong tương lai để thực hiện âm mưu trường kỳ mai phục của chúng.

HỎI: CS đã thực hiện âm mưu này bằng những cách nào?
ĐÁP: CS đã áp dụng những cách sau đây:
1. Tuyên truyền xảo quyệt: Dùng lời lẽ ngon ngọt để phỉnh gạt trẻ em và đồng bào như đã nói trên.
2. Ấn định chỉ tiêu: Ấn định số lượng nhất định cho mỗi xã còn bị mất an ninh và cho cán bộ đến từng ấp cưỡng bức nhân dân mỗi ấp phải nộp người cho chúng. Theo các tài liệu ta bắt được thì mỗi xã phải nộp 10 thiếu nhi từ 10 đến 14 tuổi để chúng gửi ra Bắc.
3. Bắt cóc: Chỉ thị cho cán bộ nằm vùng bắt cóc các trẻ em, nhất là trẻ em ở thành phố hoặc đô thị. Qua sự việc CS bắt trẻ em miền Nam đưa ra Bắc, ngoài tính chất dã man vô nhân đạo mà tài liệu vừa đề cập, chúng ta còn nhận thấy tình trạng kiệt quệ, sa sút của CS.

Tham vọng thống trị đã thúc đẩy CSBV gây ra chiến tranh và ngoan cố kéo dài chiến tranh. Thế nhưng qua bao nhiêu thất bại, ngày nay chúng đã lâm vào tình trạng cùng kiệt về nhân lực, đó là lý do chính khiến Cộng sản hành động bất nhân, điên cuồng bắt bớ bắt cả trẻ em đưa ra chiến trường, sử dụng vào công tác đặc công, phá hoại.
Phương ngôn có câu "Gạo ao bèo xuống đất". Đây chính là tình trạng bi đát hiện tại của Việt Cộng sau gần 10 năm khởi xướng chiến tranh xâm lược miền Nam.



#Chinh Luan Apr. 17, 1971 trang ba
MỘT EM BÉ VỪA THOÁT KHỎI TAY CỘNG SẢN TIẾT LỘ
NHIỀU TRẺ TỪ 11 ĐẾN 15 TUỔI BỊ CỘNG SẢN BẮT VÔ RỪNG QUẢNG NAM HUẤN LUYỆN

#Chinh Luan Apr. 17, 1971 trang ba
MỘT EM BÉ VỪA THOÁT KHỎI TAY CỘNG SẢN TIẾT LỘ
NHIỀU TRẺ TỪ 11 ĐẾN 15 TUỔI BỊ CỘNG SẢN BẮT VÔ RỪNG QUẢNG NAM HUẤN LUYỆN


QUẢNG NAM — Một thiếu nhi vừa thoát khỏi tay Cộng sản về tố giác rằng Cộng quân đã bắt cóc nhiều thiếu nhi để huấn luyện quân sự tại vùng rừng núi ở Quảng Nam.
Em Nguyễn ngọc Hồ, 15 tuổi, vừa thoát khỏi sự kiểm soát của Cộng quân trở về cho biết, em cùng một số thiếu nhi khác bị Cộng quân bắt tại khu phố Vĩnh Điện trong khi chúng đột nhập vào đây cùng lúc với các cuộc pháo kích vào Hội An, Đà Nẵng và tấn công quận lỵ Đức Dục cuối tháng 3 vừa qua.
Em Hồ cho hay, Cộng quân đã dẫn em cùng ít nhất 30 thiếu nhi khác, có em chỉ mới 11 tuổi, vào vùng rừng núi cách Quảng Nam 50 cây số để huấn luyện quân sự như học bắn súng AK47, ném lựu đạn và tập bò theo thế du kích. Em cho biết thêm rằng em và các đồng bạn của em phải học tập dưới những căn hầm lớn nền tráng ciment. Em cũng cho hay có nhiều phụ nữ trong ban huấn luyện chính trị của CS để huấn luyện chính trị cho những người bị CS bắt.
Em Hồ đã thoát khỏi trong một dịp Cộng sản dẫn tập thể thiếu nhi bị bắt đi tắm sông. Tuy nhiên, em không xác định được vị trí đóng quân vì khi đi các em bị bịt mắt cho tới bờ sông để tắm CS mới mở khăn bịt mắt cho các em.




#Tien Tuyen Apr. 30, 1972 trang nhất
HÀ NỘI ĐÓNG CỬA TRƯỜNG HỌC
Lùa hết học sinh vào Nam để thực hiện cuồng vọng xâm lăng
Vẫn cái trò phỉnh gạt: đánh ở đâu cũng bảo ở đó đã «giải phóng» rồi!
★ ANH NHÂN


#Tien Tuyen Apr. 30, 1972 trang nhất
HÀ NỘI ĐÓNG CỬA TRƯỜNG HỌC
Lùa hết học sinh vào Nam để thực hiện cuồng vọng xâm lăng
Vẫn cái trò phỉnh gạt: đánh ở đâu cũng bảo ở đó đã «giải phóng» rồi!
★ ANH NHÂN


KONTUM. – Được tin mật báo của đồng bào Thượng, vào chiều ngày 21-4-1972, lực lượng Cảnh sát Quốc gia đã phối hợp với Nghĩa Quân Ấp Desemai, 6 cây số phía Nam Kon Tum, và đã bắt sống được một cán binh BV. Đó là tù binh Nguyễn văn Tuyến thuộc Đại đội C20 vận tải của Trung đoàn 9 mặt trận B3 [ là chữ mà Cộng sản dùng để trỏ vùng Tam Biên ] vừa mới từ BV xâm nhập vào Nam chưa đầy 1 tháng.
Theo lời cán binh này thì 2 tháng trước đây, chính phủ Hanoi đã ra lệnh đóng cửa trường học có lớp 10 mà em đang theo học. Hiện tại em chỉ mới 17 tuổi, tuy nhiên chính phủ CSBV vẫn bắt buộc tất cả các em học sinh trong lớp phải nghỉ học để đi học tập quân sự trong vòng 1 tháng và ngay sau đó các em được đưa vào Nam.

Miền Nam tự do hơn miền Bắc
Trên đường xâm nhập, em được bộ chính trị tuyên truyền là Kontum đã được ‘giải phóng’ và nhiệm vụ của đơn vị là đến tiếp thu đất đai.
Sự lễ phép và thành thật đã hiện rõ trên khuôn mặt và dáng điệu ngây ngô của em khi em trả lời y như giải bày tâm sự vậy.
Em cũng không ngờ là miền Nam lại có nếp sống tự do và sung sướng hơn đồng bào miền Bắc rất nhiều. Khi em được đưa ra phố thị xã Kontum, em lấy làm ngạc nhiên về sự hiện diện của binh sĩ VNCH tại đây. Đến lúc đó em mới vỡ lẽ ra là miền Bắc đã lừa dối dân và các em học sinh.
Ngoài ra em còn tâm sự thêm là nếu chưa bị bắt, em định một ngày nào rảnh sẽ đón xe đò đi ngắm cảnh Kontum, một nơi mà nhà nước Cộng sản miền Bắc đã mô tả là ‘đã được giải phóng’.
Khi biết được sự thật thì dù bị bắt, em cũng không ngần ngại nói với anh em Nghĩa Quân quay lại chỗ cũ đón một đồng chí thân nhất của em để cùng về chung sống cho vui.



MỘT SỐ HÌNH ẢNH tại thực địa:

Tù binh thiếu nhi CSBV bị bắt trong trận Quảng Trị, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972
trích Đặc san Cờ Bay Trên Cổ Thành, do Cục Tâm Lý Chiến / Tổng Cục CTCT VNCH ấn hành (20.000 số) tháng 9-1972.


$pageOut $pageIn
Phân đoạn 9

#Tien Tuyen Feb. 01, 1971 trang hai
Người Tù Binh Cộng Sản Trong Chiến Cuộc Tại Miền Nam
#Tien Tuyen Feb. 01, 1971 trang hai
Người Tù Binh Cộng Sản Trong Chiến Cuộc Tại Miền Nam

Khi người cán binh Cộng sản bị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) cầm tù, họ đã trở thành tù binh với đầy đủ ý nghĩa của danh từ đó.
Ngay từ giờ phút đầu, mạng sống của họ được bảo đảm khi không còn vũ khí đương đầu với ta. Chính phủ ta không coi họ là thù địch nữa. Chúng ta coi việc họ phải xâm nhập miền Nam để tác chiến, gây tan tác, đổ vỡ chỉ vì bị Nhà Nước và Đảng bắt buộc để phục vụ cho mưu đồ chiến tranh của Cộng sản mà thôi. Do đó, khi họ rời bỏ cái bộ máy gây chiến và không còn ở thế tác chiến nữa thì Chính phủ ta sẵn sàng dành cho họ nhiều sự giúp đỡ để làm cho cuộc sống của họ tạm thời trong vòng kiềm tỏa được dễ chịu.
Người tù binh Cộng sản có thể dễ dàng nhận thấy quan niệm nói trên ngay khi họ được tiếp xúc với các cơ quan của Chính phủ VNCH. Thái độ của các nhân viên thuộc các cơ quan này là một thái độ không căm thù, đay nghiến như bên phía cán bộ Cộng sản khi họ được dịp đối xử với người tù của đối phương, mà họ vẫn mãi mãi coi là kẻ địch.
Từ mặt trận hoặc chiến trường, người tù binh Cộng sản được di chuyển mau lẹ về hậu phương. Nếu họ bị thương hoặc bị bịnh, thì họ được lo thuốc thang điều trị, nuôi dưỡng cho đến khi hoàn toàn bình phục. Họ được ăn uống đầy đủ ngay từ giờ phút đầu. Trong bất cứ trường hợp nào, các đơn vị quân đội VNCH cũng tìm đủ mọi cách để nuôi tù binh ăn ngay khi mới vừa bắt được, một việc làm trước hết vì lòng nhân đạo.
Sau đó tù binh được di chuyển đến những trại giam. Nơi đây, hàng ngàn tù binh tạm sống trong những dãy nhà khá tiện nghi. Họ được cho phát quần áo mùng mền, được nuôi ăn theo một khẩu phần do chính phủ ấn định làm cho họ có đầy đủ sức khỏe. Đời sống hàng ngày của họ được tổ chức chi tiết và chu đáo cho mọi người thấy rõ nhân phẩm của họ hoàn toàn được tôn trọng.
Đối với người tù binh Cộng sản, Chính phủ VNCH rất thông cảm sự đau khổ của họ, do đó thời giờ của họ được sắp đặt và sử dụng khéo léo nhằm làm cho họ cảm thấy dễ chịu và đủ can đảm chờ ngày được phóng thích.
Ngoài những giờ ăn uống, ngủ nghỉ, họ còn được sinh hoạt, học văn hóa, đọc sách báo, xem phim ảnh và văn nghệ giải trí.
Chính phủ sẵn sàng tiếp nhận những ý kiến, nguyện vọng của họ và cứu xét rất thận trọng để giúp họ. Những nguyện vọng được thông tri với gia đình là một nguyện vọng chính đáng mà Chính phủ tìm mọi biện pháp thực hiện cho họ.

Một vài con số sau đây cho thấy rõ đường lối vừa trình bày:
Trong năm 1970, tù binh đã gởi cho thân nhân của họ 120.000 bức thư, và đã nhận được thư hồi âm 50.000 bức, 30.000 gói đồ, và 5.000 chi phiếu có trị giá tổng cộng 1.600.000 đồng.
Số tù binh được thăm nuôi lên đến 70% tổng số.
Ngoài Nguyệt san «Con Đường Mới», các tù binh còn được đọc 30.000 ấn phẩm các loại. Về giáo dục, có 32 lớp tiểu học được mở ra để dạy học cho các tù binh (tù binh xâm nhập có tỷ lệ mù chữ lên đến 90%).
Từ 1966 đến 1970, Chính phủ đã phóng thích ngót 800 tù binh. Trong số đó một số đã được trở về miền Bắc và một số xin ở lại miền Nam.
Sự đối đãi của Chính phủ VNCH dành cho tù binh Cộng sản rất tốt đẹp và nhân đạo, nên họ vui với cuộc sống hiện tại, một cuộc sống thoát khỏi sự ác liệt hủy diệt của một cuộc chiến phi lý mà nhà nước Bắc Việt (BV) bắt họ lao vào.
Để chứng minh, Chính phủ VNCH luôn luôn mở rộng cửa trại giam để mọi người đều có thể quan sát tận mắt điều kiện sinh sống của tù binh. Như mới đây, phi hành gia Borman sau khi đến thăm tất cả trại giam trên lãnh thổ VNCH đã tuyên bố là chính sách đối đãi với tù binh của VNCH rất tốt đẹp và ông, cũng như tất cả các quan sát viên khác, đều được dành cho mọi sự đãi và giúp đỡ tận tình trong những cuộc thăm viếng.

Tóm lại, từ lúc bị bắt trở đi, người tù binh Cộng sản không còn biết đến những nỗi gian khổ của chiến trường nữa. Họ được sống no đủ và an toàn cho đến ngày nào Đảng và Bác ngoài Bắc phải chấm dứt chiến tranh, nhìn nhận và đón tiếp họ trở về.
Cho đến bây giờ, BV vẫn không nhận đã đem quân vào xâm lăng miền Nam. Do đó, họ không chịu thượng thuyết và trao tin tức về tù binh và làm mọi việc có thể được để an ủi tù binh của họ và thân nhân của những người tù binh này.
Trước thái độ ngoan cố và tàn nhẫn của tập đoàn lãnh đạo miền Bắc, Chính phủ VNCH vẫn giữ một chính sách tốt trong việc đối xử với tù binh. Thái độ này chỉ có thể hình dung được bằng danh từ «nhân đạo», đó không những phù hợp với tinh thần đại đoàn kết dân tộc của quốc gia, mà nó còn chứng tỏ chế độ miền Nam này coi tù binh là những «người» chớ không phải như những «bộ máy» mà Đảng khai thác triệt để chỉ cốt có lợi cho Đảng! Đối với Cộng sản, người tù binh của họ không có nghĩa gì cả!!!

Hiểu rõ ở đường lối dân chủ, tự do và nhân đạo của Chính phủ VNCH, các tù binh Cộng sản rất phấn khởi và tin tưởng rằng, Chính nghĩa quốc gia sẽ thắng chế độ bạo tàn.
Một ngày sắp tới, họ sẽ được trở về sum họp với vợ con họ, lúc đó, họ sẽ ghi nhớ những ngày làm tù binh như những ngày may mắn nhất trong đời họ.



#Tien Tuyen Feb. 5, 1971 trang nhất
Hành Động Của Kẻ Bại Trận (VC chỉ còn biết lén lút khủng bố giết thường dân)
#Tien Tuyen Feb. 5, 1971 trang nhất
Nhận Định
—Hành Động Của Kẻ Bại Trận—


– 34 thường dân bị hạ sát, 141 người khác bị thương và 10 người bị bắt cóc do 21 hoạt động khủng bố của Cộng quân gây ra trong 15 ngày vừa qua.
– Năm người lớn và bốn trẻ em đã bị sát hại và 40 người khác bị thương khi mìn của Cộng sản (CS) gài tại bến phà Rạch Miễu, quận Giồng Trôm, tỉnh Kiến Hòa, phát nổ vào ngày mồng 4 Tết Tân Hợi, tức ngày 30-1-70.
– Trước đó, vào ngày 29-1-71, CS ném lựu đạn vào một đám đông thuộc xã Vĩnh Long, quận Phù Cát, Tỉnh Bình Định làm ba thường dân bị thương.
– Tại Xã Đông Cát, Tỉnh Quảng Ngãi ngày 28-1-71, CS đã đặt mìn sát hại 12 thường dân và 36 người khác bị thương.
– Ngày 27-1-71, CS ném lựu đạn vào lối ra vào của một rạp hát tại Xã Phùng Danh, quận An Nhơn, Tỉnh Bình Định làm 3 người chết và 25 người bị thương.
– Trong ngày 26-1-71, CS mở một loạt khủng bố tại tỉnh Bình Thuận, Long An, Vĩnh Bình và Bình Dương, khiến một người chết, 16 bị thương và ba bị bắt dẫn đi mất.
– Vào ngày 25-1, bốn thường dân đã bị thương khi CS nổ súng cối vào một ngôi chợ thuộc Quận Bến Cát, Bình Dương.
– Hai người đi xe gắn máy, trước đó vào ngày 24-1, đã tử nạn vì trứng phải mìn của CS tại làng Ấp Thái Bình, Quận Phước Ninh, Tây Ninh.
Tất cả những vụ khủng bố giết chóc dân lành nói trên của CS đều diễn ra từ 28 tháng Chạp cho đến mồng 4 Tết, chứng tỏ Cộng sản, miệng nói ngày Tết thiêng liêng nhưng lại lợi dụng cơ hội dân chúng vui mừng đón xuân để giết chết họ.

Ngoài những vụ nói trên phải kể đến những hành động điển hình vô nhân đạo của CS như: ném 1 quả lựu đạn vào nhà dân ở Tây Nam Càng Long làm 2 người chết, 10 bị thương; ném 3 quả lựu đạn vào rạp hát tại Đập Đá làm 8 người dân chết, 19 bị thương; đặt chất nổ tại chợ Mộ Đức làm 9 người dân chết.

Nếu kể cả những vụ pháo kích làm thường dân phải thương vong, người ta sẽ thấy CS đã tự nhận sự suy yếu của mình nên không đánh lớn được mà chỉ còn cách giết dân chúng bằng những hành động lén lút: ném lựu đạn, pháo kích.
Trong thời gian hưu chiến Tết Canh Tuất, CS tuy đã vi phạm trên cả trăm vụ nhưng so với những ngày lễ có hưu chiến trước đây thì ít hơn. Điều này, thêm một lần nữa, chứng tỏ CS đã quá suy yếu. Mặt khác, trước sự tỉnh táo đề phòng và tinh thần kỷ luật cao độ của Quân Dân ta trong 3 ngày Tết, CS đành chịu thúc thủ không thực hiện được những âm mưu đánh lớn để gây tiếng vang.

Với đà này, và với tinh thần «thừa thắng xông lên» của Quân Dân ta, chắc chắn Cộng sản sẽ bị tận diệt, nếu chúng còn ngoan cố tại bàn hội đàm Ba Lê.

Tiền Tuyến



#Tien Tuyen Mar. 13, 1971 trang nhất
CÁN BINH CỘNG SẢN TỪ MẶT TRẬN HẠ LÀO VỀ TIẾT LỘ
#Tien Tuyen Mar. 13, 1971 trang nhất
CÁN BINH CỘNG SẢN TỪ MẶT TRẬN HẠ LÀO VỀ TIẾT LỘ
Mặt Trận Hạ Lào: Giai Đoạn Cuối Cùng Chiến Cuộc Việt Nam
◈ Tướng Lê Quang Đạo Của Cộng Sản Chỉ Huy 8 Sư Đoàn 304, 308, 320 Tại Mặt Trận Lào


Tổng Cục CTCT sáng 12-3-71 đã mở cuộc họp báo tại Trung tâm Quốc gia Báo chí để giới thiệu với ký giả quốc nội và ngoại quốc hai cán binh Cộng sản (CS) đã hồi chánh.
Đặc biệt hai hồi chánh viên là anh Nguyễn Trọng Quyền, Thượng sĩ, đã từng tham dự cuộc hành quân Khe Sanh cuối năm 1967, đã ra hồi chánh tại Lào với đơn vị Dù ngày 18-1-71.
Anh Vũ Văn Quảng, sinh viên năm thứ hai Đại học Vật Lý Địa Cầu, bị động viên nhập ngũ năm 1968, đi vào Nam hoạt động, đã ra hồi chánh ngày 16-10-70 với Sư đoàn 18 Bộ Binh (BB) trong một trận đánh tại Kampuchea.
Trong cuộc họp báo này, cả hai hồi chánh viên đều cho biết, không thể sống dưới chế độ độc tài Cộng sản nên đã tìm về với ánh sáng của tự do.
Hồi chánh viên Nguyễn Trọng Quyền, đã từng dự những trận đánh tại Nam Lào gần đây đã tiết lộ cho biết, hiện tại mặt trận Lào, Bắc Việt có 3 Sư đoàn 304, 308, 320 do Tướng Lê Quang Đạo chỉ huy, đã từ Quảng Bình di chuyển về Nam Lào từ tháng 2-2-71 để đối đầu với cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH).
Anh Quyền cũng cho hay cán binh CS đã được học tập trước về mặt trận này kể từ tháng 10-70 và cán binh CS cũng loan báo đây là mặt trận quyết định của chiến cuộc Việt Nam.
Anh Quyền cũng kể tiếp rằng, tại Tchépone là đầu não việc của CS và dù đã biết trước cuộc hành quân của QLVNCH nhưng vì các kho tiếp liệu quá lớn nên di chuyển không kịp, một số ống đạn dược từ đường hầm đưa ra ngoài hành lang nhưng những phi vụ B52 đã phá hủy khá nhiều.
Lúc nhắc đến các phi vụ B52, anh Quyền cho hay, là cán binh CS tham dự mặt trận Lào được biết trước 30 phút để di tản. Anh Quyền cũng không rõ được bí mật này và anh xác nhận cán binh CS đã di chuyển đến địa điểm khác thì B52 đến oanh tạc.
Anh Quyền cũng cho hay lực lượng Dù VNCH đã chiến đấu rất dũng cảm, đánh giặc rất giỏi, họ đã đánh bạt được các tiểu đoàn thiện chiến của CS để chiếm các cao điểm Langvei từ ngày 18-2-1971. Anh Quyền cũng xác nhận quân bộ BV tại mặt trận Nam Lào đông gấp đôi gấp ba QLVNCH.
Cũng trong cuộc họp báo trên, khi được hỏi nếu có Bắc tiến thì dân Bắc có chờ đợi bên này không, anh Quyền cho biết hiện tại nhân dân miền Bắc cũng mong có sự thay đổi chế độ.
Mặt khác, lúc tâm sự với báo chí, hai hồi chánh viên nói trên còn cho hay, đã 3 năm nay các anh không gặp được vợ con, và họ cho rằng, không có một quân đội nào trên thế giới mà bóp nghẹt tình cảm như quân Bắc Việt.



#Tien Tuyen May 12, 1971 trang 2
CĂN CỨ HỎA LỰC 6 - MỒ CHÔN TRUNG ĐOÀN 66 CỘNG SẢN BẮC VIỆT
#Tiền Tuyến May 12 and 13, 1971 trang hai
CĂN CỨ HỎA LỰC 6 - MỒ CHÔN TRUNG ĐOÀN 66 CỘNG SẢN BẮC VIỆT
BÀI CỦA NGUYỄN KHÁNH BẢO

Phần 1:

Sau những thất bại tại Hạ Lào, Tướng giặc Hoàng Minh Thảo tại mặt trận B3 hay còn gọi là mặt trận Tây nguyên theo cách nói của CSBV, đã nhận lệnh của tập đoàn Cộng sản Hà Nội phải gom góp số tàn quân của Trung Đoàn 28 CSBV. Cũng nên biết qua về Trung Đoàn 28 CSBV, vào những năm 69 và 1970, Trung Đoàn này đã bị các chiến sĩ Trung Đoàn 42 BB VNCH đánh chạy xấc bấc xang bang tại các tiền đồn dọc theo biên giới Lào Việt như Ben Hét, Dakseang, hơn thế nữa vào tháng 11-69 chính trung đoàn CSBV này đã bị các chiến sĩ Trung đoàn 47BB ta giáng cho những đòn chí tử tại mặt trận Bu Prang thuộc Tỉnh Quảng Đức. Nay Tướng Giặc Hoàng Minh Thảo lại huy động thêm Trung đoàn 66 gồm các Tiểu đoàn K.7, K8, K.9, Tiểu đoàn đặc công và Trinh sát K.28 cộng thêm 1 trung đoàn 40 pháo kéo đến uy hiếp Căn cứ Hỏa lực số 6 của ta. Căn cứ này cách vùng 3 biên giới khoảng 18cs về phía Đông Nam và cách Tân Cảnh khoảng 12cs về phía Tây Nam.
Thường xuyên Căn cứ này có 1 tiểu đoàn Bộ Binh và một pháo đội của ta trấn giữ để yểm trợ cho các tiền đồn dọc biên giới như Ben Hét các tiền đồn khác. Hơn thế nữa Căn cứ Hỏa lực này còn có một cao độ 1.001 thước nên từ đây người ta có thể quan sát và khám phá được mọi sự di chuyển của giặc Cộng. Cũng từ đây, người ta có thể nhìn bao quát được thung lũng Dakto rộng gần 50 cây số vuông. Với yếu tố chiến lược và chiến thuật đó, và muốn vớt vát những gì đã mất tại Hạ Lào, trong đêm 30 rạng ngày 31-3-71, giặc cộng đã huy động các đơn vị vừa kể trên để đè bẹp Căn cứ của ta.
Mở đầu trận đánh, vào lúc 5 giờ sáng ngày 31-3-71, giặc Cộng đã pháo kích tới tấp đến trên 500 quả đạn gồm hỏa tiễn 122 ly, súng cối 82 ly vào Căn cứ Hỏa lực số 6. Cùng một lúc, chúng xua 1 đại đội đặc công thuộc Tiểu Đoàn K.28 Đặc công và Trinh Sát xung phong vào tuyến phòng thủ, nhưng ngay từ khi quả hỏa tiễn đầu tiên phát nổ trên Căn cứ 6, các chiến sĩ SĐ22BB dù sẵn sàng đón tiếp chúng tại tuyến phòng thủ, các loại đạn thi nhau nổ rền vang, đạn lửa, đạn chiếu sáng, hỏa châu sáng rực một góc trời như mở hội hoa đăng. Sau trận xung phong đầu tiên, giặc cộng đã bị thất bại, chúng liền cho Tiểu đoàn K9 thuộc Trung đoàn 66 CSBV xung phong ào ạt vào vị trí phòng thủ của các chiến sĩ SĐ22BB, nhưng chúng cũng không làm sao phá thủng phòng tuyến của ta, lúc đó khẩu pháo 105 ly và 155 ly của ta tại C ăn cứ này đã phải bắn theo lối trực xạ. Cùng lúc đó, giặc Cộng huy động thêm 2 tiểu đoàn K.8 và K.7 xung phong khắp bốn mặt của căn cứ, các chiến sĩ ta đã phải sử dụng các thế đánh cận chiến, lưỡi lê, mã tấu, lựu đạn, các thế võ Vovinam, Taek won do, Judo, Boxe được các chiến sĩ sử dụng đến mức tối đa.
Địch quân với quân số đông đảo gấp 3 lần, vả lại chúng áp dụng chiến thuật biển người.
Trận chiến ác liệt và kéo dài đến 12 giờ trưa ngày 31-3-1971, các khẩu pháo của Tiểu Đoàn 63 Pháo Binh đã phải bắn đến phát đạn thứ 1500 kể từ lúc giao tranh khởi đầu.
Vì muốn bảo toàn sinh mạng cho binh sĩ trước chiến thuật biển người của giặc Cộng, cấp chỉ huy Căn cứ đã được lệnh phải điều động quân sĩ ra khỏi Căn cứ Hỏa lực 6 để chờ viện binh và cũng là một cách nhường chiến trường cho các loại phản lực cơ chiến lược và các loại trực thăng võ trang làm việc.
Ngay đêm 31-3-71 các phản lực cơ chiến lược và B52 đã trút hàng chục tấn bom xuống Căn cứ Hỏa lực 6. Như vậy kể từ khi phát súng đầu tiên nổ tại Căn cứ Hỏa lực số 6 đến 8 giờ ngày 1-4-71 giặc cộng đã phải bỏ lại 669 tên chết tại chỗ và vướng vất xung quanh vòng rào.

Quân tiếp viện giải vây và tái chiếm Căn cứ Hỏa lực số 6
Trong lúc trận chiến đang sặc mùi thuốc súng, Bộ Tư Lệnh SĐ22 BB đã điều động ngay các đơn vị thiện chiến từ các nơi khác đến để giải tỏa Căn cứ Hỏa lực số 6. Cuộc giải tỏa này được coi như là trọng tâm của trận đánh
Ngay khi vừa đặt chân đến chiến trường, các chiến sĩ SĐ22BB đã đối đầu hỏa lực quá mạnh của giặc Cộng nhưng với những tay súng thần tốc, bách phát bách trúng, các chiến sĩ SĐ22BB chỉ cần áp dụng một phần nhỏ kinh nghiệm chiến trường cũng đủ khiến cho bọn giặc Cộng của tên tướng giặc Hoàng Minh Thảo bó tay. Các tên giặc Cộng thuộc các tiểu đoàn K9 đã phải bỏ chạy rối loạn hàng ngũ. Sau hai giờ giao tranh, các chiến sĩ SĐ22BB đã chiếm được sườn đồi của Căn cứ Hỏa lực 6. Từ sườn đồi này, các chiến sĩ ta làm bàn đạp đánh thốc thẳng lên đỉnh và chiếm luôn mục tiêu.
Toàn bộ hệ thống phòng không của Tướng giặc Hoàng Minh Thảo đã phải bay hồn bạt vía vác con ác điểu của ta các con thần điểu của Phi đội 229 mặc sức mà vẫy vùng trên vùng trời 3 biên giới.
Nhưng giặc cộng cũng không để yên, chúng điều động ngay 1 tiểu đoàn Phòng không chưa rõ danh hiệu đến để trị các con ác điểu của ta, nhưng hỡi ơi, những phi công của ta cũng không phải là tay vừa, hễ thấy chỗ nào xịt khói lên là hàng tràng Mini gun trút xuống, hàng chục quả Rocket được gửi tới để hỏi thăm sức khoẻ chúng, thêm vào đó các phản lực cơ chiến lược không ngớt trút lên đầu con cái của Tướng giặc Hoàng minh Thảo hàng chục tấn bom mà báo chí thủ đô đã gọi là bom mẫu tử. Như vậy cùng một lúc giặc Cộng phải đối phó cả 2 mặt: trên không và trên bộ.
Trở lại trận trên bộ, trên đường di chuyển từ sườn đồi lên đỉnh mục tiêu, các chiến sĩ «Hắc Tam Sơn, Bạch Nhị Hà» là các tay súng gan lì đã từng dẫm nát căn cứ địa 701, 702 của giặc đặt trên đất xứ chùa Tháp, nay lại có dịp trổ tài mặc sức mà vùng vẫy như cọp về rừng. Thật vậy, với người chiến sĩ được hãnh diện mang "Nối Sông" trên vai thì dù ở bất cứ nơi nào dù là ở đồng bằng sông rạch, hay rừng núi hiểm trở chỗ nào họ cũng hoạt động một cách hữu hiệu. Với khả năng bách chiến bách thắng, đa năng đa hiệu, các chiến sĩ "Trấn Sơn Bình Hải" đã xông xáo và tiến từ sườn đồi chiếm đỉnh mục tiêu không mấy khó khăn. Chỉ sau 5 giờ đồng hồ giao tranh, các đứa con cưng nhất của Mặt trận B3 đã phải tan rã với con số 459 tên chết tại chỗ đếm được xác do các họng súng của các chiến sĩ "Trấn Sơn Bình Hải".
Đến 17g, như vậy là trước dự định 1 giờ, các chiến sĩ ta đã đến đỉnh mục tiêu và hoàn toàn làm chủ chiến trường. Các đơn vị ưu tú nhất của Mặt trận B3 thuộc trung đoàn 28 CSBV đã hoàn toàn bị tiêu diệt và đã bị khai tử khỏi sổ bộ đời của "Quân đội GPMN". Các đơn vị của Trung đoàn 28 và 66 CSBV đã bị các chiến sĩ SĐ22BB bóp vỡ ra thành từng mảnh vụn. Hoàng Minh Thảo lại huy động các tên lính chết hụt gom lại để đánh một cạnh bạc xả láng với các chiến sĩ SĐ22BB với ý định là tái chiếm mục tiêu.
Biết được ý định đó, các chiến sĩ "Núi Đen Sông Trắng" đã bao lần làm tướng giặc Hoàng Minh Thảo phải run sợ tại Ban Hét, Dakseang, Bu Prang, Đức Lập, đã làm tan rã tiểu đoàn E2B, đánh tan thành từng mảnh Sư đoàn 3 Sao vàng tại vùng đồng bằng Bình Định, đã đưa hàng ngàn giặc Cộng qua bên kia thế giới, và mới đây nhất các chiến sĩ SĐ22BB đã loại khỏi vòng chiến 200 tên tại quận Phú Nhơn thuộc tỉnh Pleiku. Nay tại Căn cứ Hỏa lực 6, các chiến sĩ SĐ22BB lại một lần nữa chứng tỏ cho tập đoàn Cộng sản Hà Nội thấy rõ khả năng tốc chiến tốc thắng và nguyện sẽ đem vinh quang về cho màu cờ sắc áo của đơn vị và thực hiện đúng khẩu hiệu "Trấn Sơn Bình Hải" mà mỗi quân sĩ đều thuộc nằm lòng.
Các chiến sĩ SĐ22BB không hề nao núng trước hoả lực quá mạnh của địch quân vì họ biết sau lưng họ còn có hàng triệu đồng bào sẵn sàng cổ võ cho công cuộc cứu nước, hơn thế nữa việc thực tiễn trước mặt họ còn có không quân, pháo binh. Như thế giặc Cộng không phải chỉ đánh với các chiến sĩ Bộ Binh mà còn phải đương đầu với các ác điểu 229. Thấy nao núng tinh thần quân sĩ, bọn giặc cộng phải tăng viện thêm 1 Đại đội phòng không 12ly7.
(CÒN TIẾP)
___________

Tiền Tuyến May 13, 1971 trang hai
CĂN CỨ HỎA LỰC 6 - MỒ CHÔN TRUNG ĐOÀN 66 CỘNG SẢN BẮC VIỆT
BÀI CỦA NGUYỄN KHÁNH BẢO

Phần 2: (Tiếp theo và hết)

Nhưng với phi công lão luyện ba của Phi đội 229 Trực thăng, các ổ súng phòng không chỉ là món ăn tráng miệng và các chiến sĩ SĐ22BB sẵn sàng tỉ thí với giặc cộng trong trận này.

Trận đụng độ đẫm máu tại Căn cứ Hỏa lực 6
Mở đầu cho trận tái chiếm này, giặc ồ ạt vừa pháo kích, vừa tấn công theo chiến thuật Tiền pháo hậu xung, chúng tưởng lần này cũng như lần trước, chúng sẽ đè bẹp được các đơn vị của SĐ22BB tại Căn cứ Hỏa lực 6. Nhưng không, chúng đã lầm, lần này chúng đã gặp phải những chiến binh nhà nghề. Sau loạt pháo kích đầu tiên chúng xua cảm tử quân vào tuyến phòng thủ của ta. Nhưng các chiến sĩ ta đâu có để cho chúng xông xáo dễ dàng như vậy. Thấy Cảm tử quân bị thiệt hại quá nặng, chúng liền ném Tiểu Đoàn K.7 vào vòng chiến, nhưng tên giặc nào vừa ló đầu vào là bị các họng súng của ta "dứt" liền. Chúng tấn công và cố gắng cầm cự để chờ viện binh, nhưng cho đến sáng hôm sau, viện binh của chúng cũng chẳng có mống nào đến tiếp cứu. Chúng đành phải ngậm đắng nuốt cay rút khỏi Căn cứ Hỏa lực 6. Trận này chúng đã phải trả giá quá đắt là 489 tên chết trên hàng rào phòng thủ.
Sáng ngày hôm sau, khi nghe Thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn II và Quân khu 2 tuyên bố : «Nếu mất Căn cứ Hỏa lực 6 là mất luôn Dakto» giặc cộng bám vào câu nói đó và dồn lực lượng vào cố chiếm cho được, nhưng chúng đâu có ngờ câu nói đó chỉ là cái bẫy giăng ra để nhử chúng vào. Bây giờ thì bằng mọi cách, mọi giá chúng phải chiếm được Căn cứ Hỏa lực 6, nên chúng đã phải tăng cường thêm 2 tiểu đoàn khác từ bên kia biên giới đến, như vậy là chúng đã vào bẫy, chỉ cần chờ phi cơ phản lực chiến lược và các loại trực thăng võ trang đến là giờ sập bẫy đã điểm. Thật vậy khi các phản lực cơ chiến lược vừa ló dạng thì giặc Cộng cố gắng bám sát vào các chiến sĩ ta để tránh hỏa lực của phi pháo, nhưng các chiến sĩ ở đâu có để cho chúng bám sát như đỉa đói, cứ mỗi lần bị đẩy lui như vậy là chúng lại có cả trăm tên về chầu diêm chúa.

Đem thịt nạp miệng cọp
Thấy không thể làm ăn gì ở Căn cứ Hỏa lực 6, chúng liền tìm đến hang cọp để nạp mạng, và chúng đã đến thật.
Vào đêm mồng 5 rạng mồng 6-4-71 giặc cộng xua 2 đại đội thuộc Tiểu đoàn K37 Đặc công đến đột kích Bộ chỉ Huy Trung Đoàn 42BB.
Vào lúc 3g50 sáng, giặc Cộng dùng B40 và B41 tấn công vào tuyến phòng thủ của ta. Ngay khi tiếng K54 hiệu lệnh của tên thủ trưởng giặc vừa ban ra, các họng đại liên của ta như M.60, rồi súng M16 liên thanh 50 đã nhả từng tràng đạn lửa để chào đón chúng. Tiếng cối 81 đều đều để soi sáng chiến trận và tiếng M79 hòa lẫn với tiếng B40 tạo thành những âm thanh ma quái rùng rợn như thương xót cho các linh hồn giặc cộng mới lìa đời. Những tên đặc công như con thiêu thân nhảy vào lửa, chúng ôm bộc phá, plastic và bangalore vào hàng rào phòng thủ của ta, càng vào thì chúng càng chết bởi những tay súng thiện xạ. Trận chiến kéo dài đến 6g30, trời đã sáng, chúng vội vàng tháo chạy bỏ lại 56 xác chết tại chỗ, ta tịch thu được 5 súng B40 và B.41, 11 súng cá nhân, trên 200 kilo thuốc nổ gồm TNT, Plastic, bộc phá và 300 lựu đạn chày.
Như vậy trong những ngày đầu của chiến trường Tây Nguyên Trung đoàn 66 CSBV đã bị các chiến sĩ SĐ22BB bóp vỡ ra thành từng mảnh nhỏ.
Trong những ngày kế tiếp, khi các tiểu đoàn thiện chiến của Trung đoàn 66 CSBV đã phải ngậm đắng nuốt cay vì con số tổn thất của chúng quá nặng về nhân mạng đã lên đến trên 2.000. Tướng giặc Hoàng Minh Thảo lại đem nướng 1 Tiểu đoàn K9B gồm những thanh thiếu niên chưa quá 20 tuổi. Hàng binh Nguyễn anh Sơn 19 tuổi, quê quán xã Xung Phong, huyện Cẩm Khê, Tỉnh Phú Thọ (BV) cho biết tiểu đoàn K9B của y vừa được thành lập và mới dự trận này là trận đầu tiên. Số người trong tiểu đoàn đã chết hết 1/3, đa số chết vì các loại bom bừa (B52) và các loại bom phản lực cơ chiến lược. Anh ta cũng cho biết anh ta vừa xâm nhập miền Nam được hơn một tháng là phải bổ sung vào đơn vị này. Như vậy đấy chỉ một lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng Tiểu Đoàn K.9B đã phải tan rã trước các họng súng của các chiến sĩ SĐ22BB.
Tướng giặc Hoàng minh Thảo đã không biết xót thương cho số phận những thanh niên miền Bắc đầy nhiệt huyết nhưng đã trót phải sinh ra trong chế độ Cộng sản tù đày, và chính vì sự điên cuồng đó của Bắc Việt nên ngày 7-4-71, Hoàng minh Thảo đem số người lính Bắc trong tiểu đoàn K7 còn lại nướng nốt vào trong những trận trước cộng thêm một số người chết hụt.
Tưởng cũng nên biết qua về tiểu đoàn K7. Tiểu đoàn này hoàn toàn mới thành lập được không đầy 90 ngày, gồm những thanh thiếu niên tuổi từ 17 đến 20 từ ngoài Bắc vừa xâm nhập vô "hành lang gió". Sau các trận đụng độ với các chiến sĩ SĐ22BB, quân số quá hao hụt nên chúng phải bổ sung đám tân binh mới xâm nhập để đối chọi với những tay súng khét tiếng của SĐ22BB.
Những trận đụng độ lẻ tẻ với các chiến sĩ "Núi đen Sông trắng" tại Căn cứ Hỏa lực số 6 đã làm cho bọn đầu sỏ mặt trận B3 phải trả bằng giá quá đắt là 2387 tên lính Bắc đã gục chết mà không có mồ chôn. Với con số lớn như vậy người ta tin rằng Hoàng minh Thảo phải kiểm điểm lại kế hoạch của mình, nhưng không, tướng giặc Hoàng minh Thảo vẫn coi rẻ sinh mạng của đồng loại, y đã không ngần ngại xua đoàn quân bại trận vào chỗ chết để cố vớt vát lấy chút uy tín đã bị chôn vùi xuống đất đen.
Hàng binh Nguyễn Anh Sơn còn cho biết chính tay chân của Hoàng Minh Thảo đã phải «ra sức động viên» tinh thần quân sĩ bại trận của chúng để che đậy những sự thật tổn thất, nên bọn giặc Cộng còn lại cũng không ngần ngại lăn xả vào họng súng của các chiến sĩ của ta như bầy thiêu thân lao vào lửa.
Qua ngày hôm sau, 8-4-71, Hoàng minh Thảo lại tung nốt Tiểu đoàn K.8 và K.33 vào trận địa, nhưng với truyền thống bất khuất và hào hùng của người chiến sĩ SĐ22BB nên các đơn vị của giặc cộng đã có thiện chiến đến đâu cũng không thể chạy thoát được chiếc võng lưới của các chiến sĩ ta. 2 tiểu đoàn K.8 và K33 là 2 tiểu đoàn thiện chiến nhất của tướng giặc Hoàng minh Thảo.
Nhưng Thiên bất dung gian, 2 tiểu đoàn này vừa đặt chân đến chiến trường thì đã bị các chiến sĩ SĐ22BB dứt hết gần 200 tên trong các trận đụng độ lẻ tẻ.
NGUYỄN KHÁNH BẢO



#Tien Tuyen May 14, 1971 trang nhất
CĂN CỨ THEO NGUỒN TIN TÌNH BÁO, CÁC NHÂN VẬT CAO CẤP MỸ TIÊN ĐOÁN :
Cộng sản CHUẨN BỊ ĐÁNH LỚN TRƯỚC CUỘC BẦU CỬ TỔNG THỐNG TẠI VNCH
★ Tổng Thống N. V. Thiệu cũng đã tiên đoán việc này? ★ Giao tranh bộc phát trở lại tại Kampuchea


HOA THỊNH ĐỐN (TV) 13-5. — Căn cứ các nguồn tin tình báo Hoa Kỳ và các nhân vật quân sự cao cấp Hoa Kỳ hôm thứ Tư nói rằng: CSBV đang nỗ lực tăng cường tiềm lực của họ và việc này có thể khiến xảy ra hai trường hợp, hoặc BV đang chuẩn bị mở một cuộc tấn công lớn vào miền Nam ngay lúc trước khi có cuộc bầu cử Tổng thống sắp tới, hoặc Cộng sản đang tăng cường lực lượng quân sự để thương thuyết trên một thế mạnh tại bàn Hội nghị Ba Lê. Trước đây, theo TT Nixon và các viên chức cao cấp, thì cho rằng, sau cuộc hành quân của lực lượng VNCH vào vùng Hạ Lào hồi đầu năm nay, CSBV đã bị thiệt hại quá nặng nề nên chưa thể mở một cuộc tấn công lớn được. Nhưng gần đây, tin tình báo cho hay, nhà cầm quyền Hà Nội đã phát động 1 chiến dịch mạnh mẽ khác, nhằm động viên thanh thiếu niên Bắc Việt vào quân đội. Chiến dịch này được cổ động mạnh trên báo chí và đài phát thanh BV, nhằm động viên thanh niên, ngoài mức cần thiết để bổ sung quân số thiếu hụt do tổn thất trong cuộc chiến vùng Hạ Lào. BV tiếp tục đưa thêm quân vào Miền Nam VN theo đường mòn Hồ Chí Minh tới các vùng dưỡng quân ở Nam Lào, giữa Saravane và Attopeu. Việc chuyển quân này vẫn tiếp tục cho dẫu là mùa mưa. Đa số viên chức Hoa Kỳ trong khi không thấy có bằng chứng Cộng sản sẵn sàng thương thuyết, thảy đều cho là Cộng sản có thể mở một cuộc đánh lớn vào lúc trước khi có cuộc bầu cử Tổng thống ở Nam VN.
Theo các viên chức ở Hoa Thịnh Đốn thì các nguồn tin tình báo Hoa Kỳ cho biết rõ rằng BV hiện đã cho tăng cường và tập trung quân ở BV nhất là tại các vùng ở phía nam lãnh thổ BV để từ đây mở những cuộc tấn công vào Cao nguyên Trung phần.

Tổng thống Thiệu: Cộng quân sẽ tìm cách đánh lớn
Theo thông tín viên Hensley của UPI ở Hoa Thịnh Đốn thì các viên chức Hoa Kỳ cũng đã cho hay rằng tại Saigon, Tổng thống Thiệu cũng đã tin rằng cộng quân sẽ tìm cách đánh lớn cùng với những cuộc tấn công khủng bố tại một vài thành phố nhằm quấy rối chính phủ VNCH ngay trước khi có các cuộc bầu cử quan trọng trong tháng 10.

GIAO TRANH BỘC PHÁT TRỞ LẠI TẠI KAMPUCHEA
NAM VANG. — Các cuộc giao tranh đã tiếp diễn trở lại tại phía Nam Nam Vang hồi đêm nay, trong khi Việt Cộng gia tăng các cuộc tấn công của chúng tiếp theo sau một thời gian lắng dịu trong dịp dân Kampuchea đón mừng lễ Phật Đản.
Phát ngôn viên bộ tư lệnh Kampuchea cho biết là phi cơ đã được điều tới để oanh kích VC cách Nam Vang vào khoảng 35 cây số về phía Nam, trong khi các lực lượng chính phủ giao tranh với quân Cộng sản gần Quốc lộ số 4 của Kampuchea, con đường thiết yếu tố nối liền Nam Vang với hải cảng duy nhất của nước này Kompong Som, vừa được khai thông trở lại hồi tuần rồi.

GIAO TRANH TRÊN QUỐC LỘ SỐ 5
Tại phía Tây Bắc Nam Vang, các lực lượng chính phủ lo bảo vệ một cây cầu trên Quốc lộ số 5, con đường chính nối liền Nam vang và vựa lúa của Kampuchea là tỉnh Battambang. Đã có 2 binh sĩ bị thương trong 1 cuộc giao tranh với VC.
Phi cơ cũng đã được kêu tới để bắn phá các vị trí cộng quân trong 1 cuộc giao tranh ở phía Nam vùng Biển Hồ.
Cuộc đụng độ tại phía Nam Nam Vang gần thị trấn Kompong Speu, 1 khu vực quân sự quan trọng, được coi là cuộc đụng độ quan trọng nhất.

___________
#Tien Tuyen May 15, 1971 trang nhất
Giao tranh ác liệt bộc phát tại Ashau
256 CỘNG QUÂN BẮC VIỆT BỊ HẠ TRONG 5 TRẬN GIAO CHIẾN
⚫ Hắc Báo được đưa đến Ashau ★ Trung tướng Nguyễn văn Minh tuyên bố vòng đai an ninh biên giới đã được bảo đảm ★ Cầu Gò Dầu Hạ suýt bị giật sập


SAIGON 13-5 (Tổng hợp). — Những cuộc giao tranh ác liệt đã bộc phát tại vùng thung lũng Ashau trong hôm thứ Tư 13-5 và quân VNCH đã hạ tại chỗ 256 quân Bắc Việt trong 5 trận giao tranh. Đây là những cuộc đụng độ ác liệt nhất kể từ hơn 1 tháng khi cuộc hành quân Lam Sơn 720 khai diễn tại vùng này.
Về phía VNCH, tổn thất được ghi nhận là rất nhẹ.
Tham dự các trận đánh này gồm các lực lượng TQLC và BB VNCH với sự yểm trợ của Không lực Hoa Kỳ.
Trong số 5 cuộc đụng độ nói trên, có 2 trận đánh dữ dội nhất. Trận thứ nhất đã diễn ra vào lúc 4g sáng ngày Thứ Tư khi khoảng 400 quân Bắc Việt tấn công vào vị trí đóng quân của một Tiểu đoàn TQLC Hoa Kỳ gồm 500 người ở vùng biên giới thung lũng Ashau về phía Tây.
Trận thứ hai đã diễn ra vào lúc 2 giờ 30 chiều cùng ngày khi hàng trăm quân Bắc Việt mở cuộc tấn công theo kiểu tiền pháo hậu xung vào cùng 1 Tiểu đoàn TQLC Hoa Kỳ nói trên nhưng chúng đã bị các oanh tạc cơ B52 và các trực thăng chiến đấu tấn công dữ dội, đã đẩy lui địch. 3 chiếc B52 đã dội 90 tấn bom 227 và 340 xuống các vị trí quân Bắc Việt tập trung trong thời gian cuộc giao chiế tiếp diễn. Nguồn tin quân sự cho biết rằng, có các Cố vấn quân sự Hoa Kỳ trong số các binh sĩ TQLC/VNCH, nhưng hiện chưa có tin tức về thiệt hại đối với các quân nhân Mỹ.
Cả hai trận giao tranh ác liệt nói trên đều diễn ra cách A Lưới 10 cây số về phía Đông.
Cũng nên biết rằng, các lực lượng Thủy quân Lục chiến VNCH đã được trực thăng vận vào Ashau hôm thứ Ba vừa rồi.

Các đơn vị Hắc Báo được chuyển đến Ashau
Phát ngôn viên quân sự cho hay các đơn vị Hắc Báo — những đơn vị thám báo tinh nhuệ của Sư Đoàn I — sáng hôm thứ Tư đã giao tranh 2 trận với quân Bắc Việt ở cách A Lưới 8 cây số về phía Đông. Thiệt hại của địch chưa được rõ, về phía Hắc Báo có 1 tử thương và 5 bị thương.
Các đơn vị Hắc Báo cũng chỉ bị thiệt hại nhẹ trong buổi chiều thứ Tư khi bị Cộng quân pháo kích.

TÂY NINH (THT) 14-5. — Với những chiến thắng liên tiếp tại nội địa và ngoại biên, quân đội quốc gia đã bẻ gãy mọi mưu đồ xâm nhập của Cộng sản Bắc Việt và vòng đai an ninh biên giới đã được bảo đảm vững chắc.
Trên đây là lời tuyên bố của Trung Tướng Nguyễn văn Minh, Tư lệnh Quân Đoàn 3 và Quân Khu 3 nhân dịp ông đến chủ tọa buổi lễ gắn huy chương cho các chiến sĩ ĐPQ và NQ hữu công tại Hiếu Thiện, Tây Ninh sáng ngày 13-5-71.
Để khen ngợi và khích lệ binh sĩ, Trung tướng Minh nói : "Trong những thời gian gần đây, vì nhu cầu đòi hỏi của chiến trường miền Đông và biên giới Miên – Việt, nhiều đơn vị tại vùng III Chiến thuật, các đơn vị thuộc quân khu 3 đã không ngừng tăng trưởng lớn mạnh vượt bực. Nếu các đơn vị Chủ lực quân VNCH đã đạt được một hiệu năng chiến đấu lưu động cao hơn với thế Công – Thủ song hành thì các lực lượng ĐPQ, NQ cũng nỗ lực rất nhiều trong công tác Bình định Phát triển và An ninh lãnh thổ. Với chiều hướng đó, quân nhân các cấp thuộc Tiểu khu Tây Ninh đã lập được nhiều thành tích đáng kể, tạo vinh dự chung cho toàn thể ĐPQ và NQ Quân khu 3. Những hạ tầng cơ sở địch lần lượt bị triệt hạ, nâng cao tỷ lệ dân chúng ở các vùng mới Bình định, những ngõ ngách xâm nhập dọc biên giới được ngăn chận hữu hiệu khiến vòng đai an ninh của Tỉnh Tây Ninh được vững chắc thêm.

Cầu Gò Dầu Hạ suýt bị giật sập
Được biết, các quân nhân này đã có công trong cuộc phục kích ngày 23-4-71 tại 7 cây số Tây Nam Tây Ninh: hạ 12 cộng quân, thu 1 B40, 1 M79, 1 AK47 cùng một số đạn dược và tài liệu quan trọng của địch. Đặc biệt nhất là có 1 chiến sĩ ĐPQ thuộc Đại Đội 613 cùng thời gian trên, khi anh đang gác cầu Gò Dầu Hạ, đã phát hiện kịp thời khối chất nổ 100 ký của địch đang trôi nổi ngay chân cầu. Binh sĩ này đã lập tức bắn nó cho nổ tan, nếu không thì cây cầu Gò Dầu Hạ bị giật sập. (THT)

Trên 30 trực thăng Hoa kỳ tung các lực lượng xung kích quân Hắc Báo vào Ashau
Theo một nguồn tin của phóng viên UPI có mặt ở tiền tuyến cho biết rằng trong hôm 14-5, trên 30 trực thăng Hoa kỳ đã đổ xuống thung lũng Ashau các đơn vị xung kích quân Hắc Báo để tấn công các hệ thống công sự chiến đấu của cộng quân trong vùng.
Các lực lượng hành quân Lam Sơn 720 cho hay rằng trong hôm 13-5, lực lượng bạn đã phát giác tại ven biên thung lũng Ashau một xưởng võ khí và một trại hậu cần lớn của quân địch dành cho cỡ trung đoàn quân BV. Hai cứ điểm này của địch nằm trên một con đường mòn mới bị quân ta khám phá thấy.



#Tien Tuyen May 16_17 1971 trang nhất (2 articles)
#Tien Tuyen May 16_17 1971 trang nhất
bài 01
TẠI MIỀN TÂY, CỘNG QUÂN ĐỊNH LỢI DỤNG MÙA MƯA LÀM ĂN LỚN, NHƯNG...
CHỈ TRONG 2 NGÀY CHIẾN SĨ QK4 ĐÃ LOẠI 300 CỘNG QUÂN, THU 151 SÚNG
★ Chiến trường sôi động diễn ra ở Bãi Voi, Hòn Sóc và Kiên Bình (Kiên Giang)

✿ BBĐPV MAI HÒA [ bổn báo đặc phái viên ]

MIỀN TÂY (TT). — Theo tin của BBĐPV Mai Hòa từ mặt trận miền Tây điện về cho biết, chiến trường miền Châu thổ sông Cửu Long trong những ngày đầu mùa mưa có phần sôi động, đặc biệt là tại các khu vực Bãi Voi, Hòn Sóc và Kiên Bình thuộc tỉnh Kiên Giang. Trong 2 ngày qua tại các vùng kể trên, quân ta đã bắn hạ gần 200 Cộng quân.
Tin chi tiết cho biết trong 2 ngày 13 và 14-5, các lực lượng thuộc Chiến đoàn 15 Sư Đoàn 9 BB, cùng với ĐPQ tham dự cuộc hành quân Cửu Long 9-11, đã mở cuộc tấn công ào ạt vào những cứ điểm của giặc tại Vùng 5 cây số nam Hòn Sóc và 7 cây số Tây Nam Tiệm Lương. Kết quả ta bắn hạ 74 giặc cộng chết tại trận, bắt sống 4 tên và về võ khí ta tịch thu được 6 súng cộng đồng, 97 súng cá nhân cùng một số lớn đạn dược.
Cũng tại Kiên Giang, 2 Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 31 Sư đoàn 21 BB tham dự cuộc Hành quân Cửu Long 21/1 đã được trực thăng vận đến các vùng 4 và 8 cây số tây nam Kiên Bình. Tại đây lực lượng hành quân đã chạm súng với 1 đơn vị giặc cộng.
Được trực thăng võ trang và Pháo Binh yểm trợ, quân ta đã bắn hạ 70 giặc cộng, bắt sống 4 tên và tịch thu 3 súng cộng đồng, 12 súng cá nhân.
Theo cung từ của các tù binh thì sau thời gian dài bị thảm bại liên tiếp trên khắp mặt Trận miền Tây, Bộ Tư lệnh của cái gọi là Quân khu 3 của giặc cộng ở miền Hậu Giang đã ra lịnh cho các đơn vị của chúng phải nương nhờ vào những trận mưa đầu mùa mở các cuộc tấn công để lấy tiếng và chiến công chào mừng những ngày kỷ niệm tháng 5 của Cộng sản.
Nhưng sau các trận đánh kể trên, âm mưu quấy phá miền Tây trong mùa mưa của giặc rất khó thành công vì các chiến sĩ QK4 đã tìm và đập địch trước khi chúng chuyển mình.
Bổn báo phái viên Mai Hòa hiện đang theo dõi mặt trận Miền Tây sẽ tường trình cùng độc giả chi tiết của các trận đánh tại Miền Tây trong mùa mưa.

bài 02
Phải chăng Lam Sơn 719 đã thật sự có đáp số?
TRẬN ĐỊA PHÁO TRÊN CHIẾN TRƯỜNG Kampuchea ĐÃ GIẢM SÚT RÕ RỆT
SONG SONG VỚI HIỆN TƯỢNG KHÔNG CHỊU THAM CHIẾN CỦA CÁC CÁN BINH 2 CÔNG TRƯỜNG 7 VÀ 9 Cộng sản

⚫ PHỤNG QUỐC HÀM

KPC (TT). — Quốc lộ 7, được xem như là vùng giao tranh chính và sôi động nhất trên chiến trường Kampuchea, trong khoảng thời gian 3 tháng nay, mức độ giao tranh bỗng giảm sút rõ rệt. Những trận địa pháo mà công trường 7 và 9 Cộng sản khai thác triệt để nhắm vào các Chiến đoàn của QLVNCH, vào cánh quân Hành Quân Toàn Thắng của Quân Khu 3, đã hầu như ngừng hẳn phần vì đạn dược đã cạn sau 1 năm ròng rã đánh lớn; cũng như những kho tàng võ khí, thực phẩm bị QLVNCH khám phá. Hơn nữa, theo các quan sát viên quân sự đã cho rằng cuộc hành quân Lam Sơn 719, nhằm cắt đứt cuống họng tiếp tế của Cộng quân trên đường mòn Hồ Chí Minh xuyên qua lãnh thổ Hạ Lào, đã thực sự bước vào thời đoạn của đáp số cuối cùng khi chứng minh rằng sau cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 của ta, vấn đề tiếp tế của Cộng quân sẽ gặp trở ngại lớn khi những võ khí, nhiên liệu, thực phẩm được chuyên vận tiếp tế trước cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 đã cạn hẳn.
Trước sự ngưng đọng của những trận địa pháo mà lâu nay Cộng quân khai thác triệt để trên chiến trường KPC, theo một giới chức quân sự của QK3, đã cho thấy "Biểu đồ pháo" của địch sử dụng trước đây, tức trước ngày 18-4-71, đã giảm sút rõ rệt, từ 200 đến 250 quả bích kích pháo được bắn đi trong vòng 24g, hiện nay được xem như không còn 1 quả nào nữa.
Giới chức quân sự này cũng đưa ra 1 số giả thuyết cho rằng, qua quốc lộ 7 làm một chiến trường điển hình, sự im lặng của địch lâu nay trên chiến trường KPC là vì chúng đã bị những tổn thất nặng trong suốt thời gian chạm súng với những Chiến đoàn VNCH. Cũng có thể sự im lặng này là Cộng quân nằm chờ cường độ hoạt động của Không Quân VNCH bị hạn chế trước mùa mưa, để nhân đó bổ sung quân số, rèn cán chỉnh quân để có thể sẵn chắc ưu thế tái tạo một chiến trường khác trong tương lai có lợi cho chúng. Bên cạnh đó, một ước đoán khác cho rằng Công Trường 7 và Công Trường 9 đang chuẩn bị cho từng đơn vị nhỏ xâm nhập vào nội địa Quân Khu 3 như âm mưu của địch hằng đeo đuổi trước đây.
Tuy nhiên, ước đoán sau cùng này đã bị những chuyên viên tình báo bác bỏ, vì cho rằng, một vài vụ pháo kích lẻ tẻ ở nội địa chỉ là một hình thái du kích chiến cố hữu chứ không phải hoạt động của Cộng quân tại nội địa là một hiện tượng lớn mạnh trở lại.

Hiện tượng mới trong hàng ngũ Công Trường 7 và 9
Theo phát ngôn viên quân sự Quân Khu 3, hiện nay hình như địch quân đang trong tình trạng rèn cán chỉ nh quân. Vì qua tin tức khai thác những tù binh, hồi chánh thuộc 2 Công trường 7 và 9 gần đây nhất tại Chrum Kret thì các Thủ trưởng của 2 Công trường này đang lo lắng trước một thái độ của hầu hết cán binh mà có thể đưa tới tình trạng các đơn vị này đi đến chỗ tự tan rã. Đó là thái độ (gàn, lì) của một số đông cán binh quê quán ngoài miền Bắc đã không chịu tham gia chiến đấu.
Theo hồi chánh viên Trần H.D., khi 1 Đại đội Cộng quân nào đó được cử đi tham chiến, tấn công, thì ít nhất có đến 30 hoặc 50 người tỏ vẻ lì lợm, chống đối bằng cách di chuyển thật chậm, hay tụm năm tụm ba lại hút thuốc, nói chuyện phiếm để trì hoãn công tác. Điển hình nhất, đơn vị K4 là đơn vị được coi là có tinh thần chiến đấu cao nhất trước đây của Công trường 9, đã tỏ lộ sự sợ sệt, chán chường nên không chịu hoàn thành 1 vụ tấn công quân ta bằng cách trốn nấp trong 1 đồn điền cho qua thời gian công tác. 2 ngày sau, đơn vị này trở về báo cáo là chưa điều nghiên được vị trí Chiến Đoàn 43 của ta.
Hiện nay, để ngăn chận hậu quả một sự tan rã vì chính tinh thần chiến đấu sút kém của những cán binh, cấp chỉ huy của 2 Công trường 7 và 9 đã cho làm những hầm giam tập thể, sâu 4 thước, rộng 3 thước, và được bố trí cẩn mật nhằm cầm chân, cô lập những cán binh thuộc thành phần mà họ cho là tỏ thái độ «gàn, lì» không chịu chiến đấu trước những đơn vị của QLVNCH.



#Tiền Tuyến May 19, 1971 trang nhất
TRONG KHUÔN KHỔ HÀNH QUÂN LAM SƠN 720
1 doanh trại 60 căn của Cộng sản gần A Lưới bị phá hủy


SAIGON. — Trong khuôn khổ cuộc Hành Quân Lam Sơn 720, hôm 14-5 các chiến sĩ BB và TQLC đã phá hủy 60 căn nhà có hầm của địch quân gần A Lưới.
Tin chiến sự cho hay lúc 9 giờ 50 sáng hôm 14-5, 1 thành phần thuộc Trung đoàn 54 Bộ binh tìm thấy và phá hủy 50 căn nhà có hầm do Cộng quân xây cất trong vùng 13 cây số Bắc Tây Bắc A Lưới. Lực lượng ta cũng đã tịch thu 500 thước dây điện thoại.
Lúc 13 giờ 20 cùng ngày, 1 thành phần TQLC tìm thấy và phá hủy 10 căn nhà của địch và tịch thu 10 quả đạn súng cối 82 ly trong khi lục soát vùng 18 cây số Đông A Lưới.
Mặt khác, ngày 14-5 các thành phần BB và Trinh sát thuộc Sư Đoàn 2 BB giao tranh với địch trong các vùng 12 cây số và 20 cây số Tây Nam quận lỵ Hậu Đức (Quảng Tín), Lực lượng ta hạ sát 5 Cộng quân và tịch thu 1 súng AK47, phía ta có 5 binh sĩ bị thương.
Vẫn theo tin chiến sự, tính đến 6 giờ 00 sáng ngày 17-5-71 có tất cả 21.792 cộng quân bị hạ sát, 2.220 tên bị bắt do các đơn vị thuộc QLVNCH tham dự các cuộc hành quân trên lãnh thổ Kampuchea.
Ngoài ra lực lượng ta còn tiếp nhận 302 hồi chánh viên, tịch thu 20.598 súng cá nhân và 2.160 súng cộng đồng.
Tổn thất phía QLVNCH gồm 2.397 tử thương và 11.817 bị thương.

$pageOut$pageIn
Phân đoạn 10

#Tiền Tuyến May 20, 1971 trang nhất
Vì trục xâm nhập Thất Sơn về U-Minh gần như bị khóa chặt
2 TIỂU ĐOÀN CƠ ĐỘNG TÂY-ĐÔ I VÀ II
của C.S. nằm chờ ngất ngư mà không có binh lính BV bổ xung
⚫ Sư đoàn 25 B.B. hành quân ở K.P.C. tịch thu một số gạo đủ nuôi 300 Tiều đoàn trong 1 ngày.

⚫ ANH NHÂN

PHONG DINH. — Các cuộc hành quân của lực lượng VNCH trên lãnh thổ Kampuchea có ảnh hưởng sâu rộng đến các đơn vị Cộng quân tham chiến tại vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đó là lời tiết lộ của hồi chánh viên Lê hữu Phước, bí danh Hai Phước, Quản lý Ban Binh vận tỉnh ủy Cộng sản Cần Thơ. Lực lượng hành quân của Sư đoàn 25 BB đã gặt hái được nhiều chiến tích vẻ vang tại mặt trận Ba Chúc, vùng biên giới giáp ranh Việt Nam và Cộng sản Cao Miên.
Anh cho rằng hai tiểu đoàn cơ động Việt cộng tại vùng Hậu Giang có tiếng là Tây Đô I và Tây Đô II, thường dưỡng quân tại tỉnh lỵ Phong Dinh sau các cuộc chạm trán với lực lượng VNCH. Trước đây trung bình mỗi tiểu đoàn có từ 400 đến 500 tên nhưng từ năm 1969 đến nay 2 đơn vị trên sa sút dần. Hiện nay mỗi tiểu đoàn vỏn vẹn còn độ 100 tên. Trong khi chỉ có khoảng 30 còn tinh thần chiến đấu, còn lại thì đau yếu, tinh thần sa sút không thể chiến đấu, chỉ làm công tác hậu cần.
Thêm vào đó, trước đây mỗi huyện (VC) tại Phong Dinh có một đại đội, quân số trên 100 tên, nhưng nay còn lối 30 tên mà chỉ có khoảng 10 tên là chiến đấu được. Riêng huyện Thốt Nốt thì hoàn toàn tan rã vì chính quyền Quốc Gia đã kiểm soát 100% đất đai.

Hết lính miền Nam chỉ còn trông cậy lính chính quy Bắc Việt
Ngoài ra các lực lượng du kích xã tại Phong Dinh đã gần như tan rã. Xã nào hoạt động được thì cũng chỉ phụ trách những công tác phá hoại khủng bố lặt vặt như gài lựu đạn, đào hầm chông. Kỳ thật chúng không còn mở nổi những cuộc hành quân chống càng quét của QLVNCH.
Sở dĩ có tình trạng vừa kể là vì hầu hết dân chúng ở các vùng Cộng sản tạm kiểm soát đã lánh cư sang các vùng Quốc Gia. Điều này đã làm cho Cộng sản không còn chỗ tuyển dụng và bắt ép thanh niên đi lính. Nên hàng ngũ Cộng sản chỉ còn trông cậy vào sự tăng viện bổ sung quân số từ miền Bắc vào. Nhưng các cuộc hành quân của quân đội Quốc Gia mới đây tại Kampuchea và việc kiểm soát trọn vẹn dãy Thất Sơn đã làm VC hỏng toàn bộ trục xâm nhập Miên-Việt và U-Minh khiến 2 tiểu đoàn VC Tây Đô phải chịu nằm chờ, không sao hoạt động được.

Sư đoàn 25 BB tịch thu 950 bao gạo
Tiếp tục cuộc hành quân ngoại biên Kampuchea, vào hồi 15 giờ 30 ngày 15-5-1971, một đơn vị Liên đoàn 3 Thiết kỵ thuộc SĐ 25 BB đã giao tranh với cộng quân tại vùng 24 cây số Tây Nam Suông. Kết quả đơn vị bạn đã hoàn toàn làm chủ tình hình, phá hủy các khu vực hậu cần quan trọng của địch đồng thời tịch thu được 950 bao gạo, mỗi bao 100 kg, 1 xe Jeep, 1 Toyota, 1 Peugeot và một số tài liệu quan trọng. Với số gạo này, cộng quân có thể dùng để nuôi quân được tới 300 Tiểu đoàn trong một ngày. Cuộc hành quân còn đang tiếp diễn.



#Tien Tuyen Mar. 27, 1971 trang hai
(bài 01) CHÍNH SÁCH KINH TẾ MIỀN BẮC TRONG TÌNH TRẠNG KHẨN TRƯƠNG HIỆN NAY
#Tien Tuyen Mar. 27, 1971 trang hai
(bài 01) CHÍNH SÁCH KINH TẾ MIỀN BẮC TRONG TÌNH TRẠNG KHẨN TRƯƠNG HIỆN NAY

Căn bản của chính sách kinh tế của CSBV là cải cách ruộng đất. Đó là một chính sách mà Đảng và nhà nước BV lớn tiếng ca ngợi và khoe khoang những thành quả như:
«Về mặt chính trị và quân sự, nó đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt nông thôn, củng cố chính quyền nhân dân…
«Lợi cho 72% nông dân và liên quan tới 63% ruộng đất trồng tỉa được. Số lượng sản xuất lúa gạo do đó gia tăng đến 68%, bởi tổng số 810.000 mẫu ruộng đã phân chia lại sản xuất đồng niên tới 1.053.000 tấn.

Nhưng toàn thể nhân dân đã biết rõ chính sách cải cách ruộng đất của Đảng và nhà nước BV thực ra đã làm đổ biết bao nước mắt và máu vô tội. Do đó, để xoa dịu phần nào niềm uất ức căm thù của quần chúng, Đảng đã phải cách chức Bí Thư Thứ nhất của Trường Chinh, người đã đẻ ra kế hoạch trên.

Tiến thêm 1 bước để kiểm soát và triệt để khai thác sức lao động của toàn dân, Đảng liền thành lập các hợp tác xã nông nghiệp. Các HTX được phân làm hai loại:

Hợp tác xã bậc thấp, trong đó nông dân đem tài sản vào nhưng vẫn là sở hữu chủ những tài sản đó. Lợi tức thâu hoạc sẽ được chia: một phần đóng góp cho nhà nước, một phần trả cho sở hữu chủ các phương tiện sản xuất, phần còn lại chia cho xã viên tùy theo số công của mỗi người.
Hợp tác xã bậc cao: Giống như Kolkhoze của Liên Xô, tập trung các phương tiện sản xuất làm của chung của tập thể. Một phần lớn lợi tức được chia cho các xã viên tùy theo số công họ làm cho hợp tác xã. Hiện nay các bậc thấp hầu như biến mất và 80% nông dân đã vào các HTX bậc cao.

Một vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến sự sản xuất là các HTX đều thiếu sức lao động. Chính sách nghĩa vụ quân sự đã thâu tóm hết thanh niên sung sức làm việc sản xuất. Để bù dắp sự thiếu hụt đó, các HTX phải dùng phụ nữ để lao động thay thế. Lực lượng phụ nữ trong các HTX lên đến 70 – 80%. Tuy nhiên, biện pháp này không cứu vãn được tình thế vì đa số phụ nữ không quen thích hợp làm việc đồng áng nặng nhọc bằng đàn ông.

Về mặt phương thức sản xuất nông nghiệp, trên bình diện tổng quát, việc canh tác còn nặng về kinh nghiệm truyền thống, không được cải tiến về mặt cơ giới cũng như kỹ thuật khoa học hiện đại.
Ngoài nạn úng thủy, hạn hán sâu bệnh làm giảm sút sản lượng lúa liền từ năm 1963, nạn thiếu phân bón và nông cụ. Phân bón hóa học quá ít, từ 19.241 tấn năm 1965 giảm xuống còn 13.121 tấn năm 1967, phân chuồng cũng kém vì việc chăn nuôi ở làng quê thất bại.

Về nông cụ, Bắc Việt không thể sản xuất đủ số máy cần dùng. Hơn nữa, các máy hiện có không phù hợp với tình hình đất đai của từng địa phương. Mỗi máy cày phải làm việc tới 4 mẫu 8, mỗi chiếc bừa phải dùng cho 5 mẫu, mỗi chiếc cào cỏ phải làm việc tới 7 mẫu 1 vụ.
Nông dân cứ tiếp tục gồng gánh nặng nề như xưa. Vẫn phải tát nước, đập lúa bằng tay đến rời rã đôi vai. Nhiều nơi phải gọi hàng trăm người dùng vồ đập đất làm màu.
Đó là về mặt lúa gạo, còn hoa màu phụ, rau đậu ngô khoai hoặc cây nông nghiệp không ngành nào đạt được mức sản xuất và thâu hoạch đề ra. Sự thất thu phần lớn đều được quy cho thời tiết xấu. Điều đó cũng là có phần đúng vì ngoài Bắc vẫn thường bị thiên tai bão lụt bất thường hàng năm nhưng phần lớn là sự thất bại về nông nghiệp do nơi cán bộ lãnh đạo nhất là cán bộ HTX quá kém về mặt tổ chức cũng như kém hiểu biết chuyên môn.

Việc phân chia quy định vùng canh tác không phù hợp với tình hình thực tế, khả năng và nhu cầu của địa phương. Việc ký kết hợp đồng thu mua, việc tạm dùng tiền vốn, vật tự, việc bán, phân phối lương thực dành cho vùng cây nông nghiệp còn rất nhiều thiếu sót, sai lầm. Gạo nhà nước dành cho vùng cây nông nghiệp không cung cấp đủ tiêu chuẩn quy định cho người sản xuất, có nơi lại dùng bậy lương thực vào việc khác chẳng hạn như nấu rượu lậu.

Về mặt phân phối sức lao động, HTX phải đạt được trung bình mỗi năm 245 ngày công cho mỗi xã viên, mỗi ngày công được 10 điểm, chia ra như sau:
— 70% dành cho việc trồng trọt và chăn nuôi trâu bò.
— 7% dành cho chăn nuôi gia súc khác.
— 13% dành cho các nghề phụ và tiểu công nghệ.
— 10% dành cho công tác thủy lợi.

Mỗi xã viên (đàn ông từ 16 đến 55 tuổi, đàn bà từ 16 đến 50 tuổi) đều phải làm việc nặng nhọc theo chỉ tiêu như sau:
— Lao động khỏe: 250 ngày công cho đàn ông, 230 ngày công cho đàn bà.
— Lao động trung bình: 230 ngày công cho đàn ông, 200 ngày công cho đàn bà.
— Phụ nữ đông con: 150 ngày công.
— Người bệnh và yếu: 100 ngày công.

Nghề nghiệp đã chậm tiến, chăn nuôi còn lạc hậu hơn. Việc chăn nuôi bị coi là nghề phụ và chỉ được dùng thời gian và phương tiện sản xuất còn dư ra mà ngành trồng trọt không cần đến. Hơn nữa, tại các vùng độc canh lúa, diện tích lúa chiếm 85- 90%, lúa gạo không đủ cho người ăn thì làm sao có thể cung cấp thức ăn cho gia súc?

( còn tiếp )


#Tien Tuyen Mar. 28_29, 1971 trang hai
(bài 02) CHÍNH SÁCH KINH TẾ MIỀN BẮC TRONG TÌNH TRẠNG KHẨN TRƯƠNG HIỆN NAY

(Tiếp theo bài 01)

Đảng không cho mục đích chăn nuôi là để cung cấp thịt cho dân chúng ăn no đủ mà chỉ để cung cấp sức kéo và phân bón cho ruộng đất. Vì phần nhiều việc canh tác đều dùng sức người và trâu bò, nên vẫn như xưa kia, trâu bò được coi là vô cùng quan trọng trong việc cày bừa.
Năm 1963, khi nông nghiệp Bắc Việt đạt đến mức phồn thịnh nhất, toàn Bắc Việt chỉ có chừng 1.058.000 trâu và 796.000 bò, kể cả những con còn nhỏ hoặc già yếu không góp gì được cho việc sản xuất. So với tổng số diện tích ruộng đất canh tác là 2.137.000 ha thì trung bình mỗi con trâu hoặc bò phải kéo 1 ha.
Ở miền núi, đất gieo trồng ít, lại có nhiều trâu bò hơn gấp ba ở đồng bằng mà diện tích đất nhiều gấp đôi. Tính tổng số 100 ha canh tác ở miền núi lại có 142 trâu bò, trong khi miền xuôi chỉ có 38 con. Ngoài ra, cách thức chăn nuôi còn cổ lỗ, thuốc men lại không có nên nhiều súc vật chết vì bệnh như 50% nghé chết vì bệnh giun đũa, 20% chết vì chuồng trại, 10% chết vì đẻ non, 3% chết vì thiếu sữa.

Về chăn nuôi trong gia đình, các nhà kinh tế học Bắc Việt tính toán cho mỗi gia đình có thể nuôi dễ dàng mỗi năm 2 con heo mập, vì họ căn cứ vào sức lao động phụ và nhàn rỗi, đồ ăn thừa bỏ đi. Nhưng thực ra, họa hoằn lắm và nơi nào thật là tốt nhất thì hai gia đình mới nuôi nổi ba con heo nhỏ.
Dân chúng chán nản vì cũng như không thu được dư gạo lúa chút nào, hoặc nuôi cho heo lớn thì phải đem bán cho nhà nước với giá nghĩa vụ, tức chỉ bằng nửa tiền giá thị trường mà thôi.
Chăn nuôi tập thể nghĩa là hợp tác xã trực tiếp kinh doanh, giao heo cho xã viên nuôi giùm ở nhà.
Ngoài ra lại còn các nông trường và trại chăn nuôi quốc doanh do cán bộ và nhân viên nhà nước quản lý trực tiếp.
Tuy gọi là được tổ chức theo khoa học, các cơ sở này còn thô sơ, kỹ thuật chưa có gì đáng kể. Người ta lại còn nai lưng ra làm cả ngày đêm để hầu hạ trâu bò mà chẳng ăn cái gì cả.

Về ngư nghiệp, nhà nước cho là miền Bắc có 1.000 cây số bờ biển, có nhiều loại cá: Vịnh Bắc Bộ tuy hàng năm có thể khai thác 30-40 vạn tấn cá. Tuy nhiên sản lượng cá hàng năm được chừng 10 vạn tấn. Các cơ sở quốc doanh nuôi cá không tạo được nguồn sản phẩm. Nhiều hợp tác xã làm nghề cá mà coi nhẹ việc đánh cá, có khi thuyền lưới để đấy không có người làm. Hàng năm xã viên làm được ít ngày công cho hợp tác xã. Có nơi dùng phương tiện sản xuất tập thể để đi làm riêng lẻ. Cơ sở vật chất kỹ thuật của nghề hiện nay còn quá yếu, việc khai thác và chế biến chủ yếu còn dựa vào lao động và công cụ thô sơ.

Một hoạt động kinh tế quan trọng của BV, sau việc cải cách ruộng đất, là xây dựng kỹ nghệ. Từ 1955 đến 1957, số vốn đầu tư vào ngành kỹ nghệ là 38% tổng số vốn đầu tư toàn quốc, và kỹ nghệ nặng chiếm 72% số vốn đầu tư dành cho công tác phát triển kỹ nghệ.

( còn tiếp )


#Tien Tuyen Mar. 30, 1971 trang hai
(bài 03 - tiếp theo bài 02 và hết)
CHÍNH SÁCH KINH TẾ MIỀN BẮC TRONG TÌNH TRẠNG KHẨN TRƯƠNG HIỆN NAY

Từ năm 1955 đến 1959, BV được khối Cộng Sản viện trợ 817 triệu Mỹ kim, mà 95% là của Trung cộng và Nga. (Trung cộng viện trợ 480 triệu Mỹ kim và Nga sô viện trợ 228 triệu.)
Một vài nhà máy được các nước cộng sản đàn anh viện trợ trang bị rất tối tân như nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, nhà máy giấy Hoàng văn Thụ, nhà máy Xi măng Hải phòng, và nhà máy dệt Nam Định. Các nhà máy này hoạt động chưa đúng mức vì chính sách động viên liên tục đã làm cạn kiệt nguồn nhân lực, vật lực, và tài lực phải cung cấp ngày càng nhiều hơn cho nhu cầu chiến tranh, nên đã bị kiệt quệ.
Bước vào kế hoạch 1966-67, nền công nghiệp suy sụp trầm trọng. Các cuộc oanh tạc đã làm cho cơ sở bị tàn phá gần hết, một số bị phân tán. Tuy nhiên, từ khi ngưng oanh tạc, các ngành, các cơ sở cố gắng khôi phục sản xuất, sửa chữa và bổ sung máy móc, tăng thêm trang bị. Tuy nhiên nhiều công trường máy móc thì nhân công ít. Nhiều đoàn xe vận tải chỉ huy động được một tỷ lệ nhỏ số xe thường xuyên, trong khi phần lớn phải nằm ở xưởng sửa chữa.
Trong nhà máy cơ khí, số giờ chạy máy còn thấp, ở một số địa phương, số máy hiện vẫn nằm ở kho vì thiếu người xử dụng.
Việc huấn luyện thợ chuyên môn quá kém làm cho hỏng máy luôn vì thợ vừa làm vừa học. Có nơi 80% vụ hỏng máy là do công nhân không biết dùng và giữ gìn máy gây ra.
Ở nhiều nơi không có đủ việc làm do thiếu các điều kiện cần thiết để sản xuất điều hòa như thiếu nhiên liệu, nguyên liệu và dụng cụ. Dây chuyền sản xuất không đồng bộ, khâu nọ chờ khâu kia và thường phải ngừng hoạt động hẳn.
Trường hợp điển hình là ngành sản xuất than mỏ. Chính quyền dành nhiều ưu tiên cho ngành này, vậy mà sản lượng than từ nhiều năm nay không gia tăng. Ngoài lý do bị oanh tạc nặng nề, còn có sự quản lý bê bối và sự chỉ đạo quan liêu của đội ngũ công nhân khu mỏ. Công nhân hoạt động chưa làm đầy đủ giờ làm việc, ngày làm việc và không tuân thủ kỷ luật lao động.
Tình hình ngành tiểu thủ công nghiệp cũng tồi tệ không kém. Trong số 335 hợp tác xã (HTX), có 120 HTX kém và phần lớn trong 366 tổ sản xuất đa số là tổ kém. Đa số các HTX không tích cực thực hiện kế hoạch của nhà nước mà lại đi nhận công việc riêng tư.
Có HTX hóa chất khai gian, tăng công thức tiêu hao các-bô-nát để làm acide bán ra thị trường với giá cao hơn giá thu mua của nhà nước rất nhiều. Có HTX sản xuất tay nắm xe đạp khai gian để lấy thừa 500 ký nhựa làm 3.705 đôi tay nắm bán ra ngoài.
Công việc làm ăn bất hợp pháp, và sự thông đồng tham ô và lấy cắp của công ở nơi nào cũng có, mọi nơi và mọi cấp.

Trong hiện tình khi miền Bắc vẫn tiếp tục gây chiến, bắt lính và gửi quân đi chiến đấu ở những mặt trận xa xôi Lào, Miên thì tình trạng tham ô càng thêm to lớn chứ không có cách gì chặn đứng được, như Đảng từng muốn làm bằng mọi phương thức. Thật thế, Đảng đã đủ mọi việc có thể làm được, từ cải tổ chi bộ tiên tiến cơ sở, thay đổi căn bản nghị quyết này đến nghị quyết khác, luật này đến luật khác, ngay cả việc trừng phạt nặng các cán bộ cao cấp đã phạm tội lấy cắp của công.
Đối với nhân dân, cái ăn là vấn đề quan trọng nhất. Đảng nắm giữ hoàn toàn việc phân phối lương thực để ép buộc các gia đình phải cho con em đi làm nghĩa vụ quân sự. Hàng triệu thanh niên đã ra đi và hơn nửa triệu người đi không trở về với gia đình. Sự hao hụt đau thương và to lớn đó làm kiệt quệ lực lượng lao động gồm những người đàn ông khoẻ mạnh có năng lực sản xuất cao, đến nỗi bây giờ tại hậu phương buộc phụ nữ phải đảm trách công việc lao động nặng nhọc mà bản chất họ không quen làm. Hơn nữa, giới này gồm có một số lớn các gia đình tổ phụ, quả phụ cô nhi mà chồng, cha, con em đã đóng góp phần xương máu vào chiến tranh xâm lăng tàn hại ở Miền Nam cũng như 2 chiến trường cô quạnh ở Miên, Lào. Tất nhiên những người này không ham gì đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm để đóng góp ngày càng nhiều lương thực cho nhà nước, cho những cán bộ mà họ đã thấy rõ sự tham ô.
Do đó, tình trạng chỉ làm cầm chừng đối với nhà nước vẫn còn tồn tại. Nhân dân, dưới sự kềm kẹp của cán bộ Đảng và nhà nước, phải tìm ra mọi thủ đoạn sáng tạo, mọi mánh khóe để làm ăn riêng tư, buôn bán bất hợp pháp, nấu rượu trái phép, ăn cắp lương thực của nhà nước và của HTX.
Hơn nữa, họ không thể tin được lời hứa của nhà nước vì đã quá thừa kinh nghiệm — là khi đã hoàn thành nghĩa vụ lương thực của mình thì họ được toàn quyền xử dụng số lượng lương thực thừa của mình, có thể để dự trữ, để phát triển chăn nuôi, để bán.
Lý do giản dị nhất là các HTX quá bóc lột đã đặt ra những tiêu chuẩn sản xuất quá cao thì làm sao nông dân có số lương thực thừa mà dự trữ. Nếu có dư đi nữa, thì họ cũng chẳng dại gì mà dự trữ, mà đem hoặc phát triển chăn nuôi, hoặc bán cho các cơ quan của chính phủ.

Vào giữa tháng 9 năm 1970, Phó Thủ Tướng Đỗ Mười tổng kết hội nghị sản xuất Đông Xuân 1970-71, đã phải thú nhận những thất bại và tình hình lơ là trong việc sản xuất lúa gạo, rau màu, công nghiệp và chăn nuôi. Tiếp theo, Hoàng Anh, Bí thơ Trung ương Đảng nhận xét rằng: «công tác lãnh đạo và chỉ đạo phải chuyển biến thật mạnh cả về tổ chức, phương pháp và tác phong thì mới đáp ứng được yêu cầu chung hiện nay. Tiềm lực khả năng của ta còn rất lớn, do đó, lãnh đạo phải chuyển thật mạnh thì mới phát huy được những khả năng to lớn.» Nhận xét của Hoàng Anh có nghĩa là một sự xác nhận rằng nông dân thì tốt, nhưng lãnh đạo các cấp còn ù lì, thiếu khả năng, tham ô như trước thì không hy vọng gì việc sản xuất đạt những kết quả mong muốn.
Hơn nữa, khi cấp lãnh đạo tối cao còn chia rẽ, các phe phái còn rình rập để triệt hạ lẫn nhau, các chưởng đòn quyết liệt còn chờ đợi thời gian để tung ra hết, thì chính quyền trung ương còn yếu và chưa thống nhất nền tảng, quần chúng chưa thể tin tưởng và yên tâm lo xây dựng một nền kinh tế lành mạnh cho đất nước được.

Vì sự ngoan cố của BV, những trận mưa bom thỉnh thoảng lại tiếp tục đổ xuống làm lung lay thêm cái lòng tin đã quá sứt mẻ của quần chúng.
Với chiến lược trường kỳ gây chiến, mở rộng chiến tranh Đông dương, bắt nhân dân chịu khổ kéo dài, BV không hy vọng gì ổn định được lòng dân, hay có thời giờ để cải tổ, sửa chữa, cứu vãn nền kinh tế đã suy sụp. Cuộc chiến tranh phi lý mà Đảng và nhà nước BV đã gây ra và vẫn nuôi dưỡng, không thể khuyến khích nhân dân tích cực lao động vì họ không còn hy vọng được hưởng chút công lao khó nhọc của mình.



#Tien Tuyen May. 12, 1971 trang nhất
Vét cạn nhân lực miền Bắc cũng không đủ để tiếp tục chiến tranh xâm lược
Bắc Việt tung cán bộ bí mật xâm nhập Thái Lan mộ lính Việt kiều
#Tien Tuyen May. 12, 1971 trang nhất
Vét cạn nhân lực miền Bắc cũng không đủ để tiếp tục chiến tranh xâm lược
Bắc Việt tung cán bộ bí mật xâm nhập Thái Lan mộ lính Việt kiều


VỌNG CÁC 10-5 (AFP). — Một điệp viên BV bí mật xâm nhập Thái Lan để tuyển mộ lính trong đám Việt kiều ở Thái rồi gửi qua chiến đấu ở VN. Tin này do tờ “Bangkok World” loan báo.
Theo tin mà báo này nói là “thông thạo" thì đã có chừng 50 thanh niên Việt đã rời Thái mới đây và còn 50 người khác nữa sắp bị đưa ra khỏi Thái để gia nhập quân đội BV. Tên cán bộ BV này cũng đã quyên góp được 1 số tiền lên tới 100.000 My kim.
Hiện đang có một sự giàn xếp của Hồng Thập Tự Thái và Hồng Thập Tự BV để đưa hết người Việt ở Thái về BV, công cuộc hồi hương Việt Kiều này đã bị gián đoạn từ năm 1965 vì hồi do BV bị oanh tạc quá nặng.
Các quan sát viên cho rằng B.V phải đi tuyển mộ lính như vậy vì chúng đã quá thiếu hụt quân số.

—⚜—

Bác sĩ BV hồi chánh viên Đặng Tấn tiết lộ: Các chiến lược gia Nga sô, Trung cộng, Cuba, Bắc Hàn và Pháp đang cố vấn cho lực lượng Cộng sản tại Nam Việt Nam.
★ Các nhóm chiến lược gia này mang võ khí, mặc bà ba đen và được lực lượng an ninh Bắc Việt bảo vệ đặc biệt


SAIGON (TV). — 11-5 «Các chiến lược gia Nga sô, Trung cộng, Cuba, Bắc Hàn và Pháp đang cố vấn cho lực lượng Cộng sản tại Nam Việt Nam.» Bác sĩ BV hồi chánh viên Đặng Tấn hôm Thứ Hai cho biết như trên.

Bác sĩ Đặng Tấn, cựu viên chức Bộ Quốc phòng BV, được gửi vào Nam VN như là Bộ trưởng Y Tế — trong cái gọi là chính phủ Việt cộng, tuyên bố rằng, chính ông đã trông thấy các cố vấn CS ngoại quốc tại các trạm nghỉ ngơi trên đường mòn Hồ chí Minh khi ông đi từ miền Nam qua Ai Lao vào năm 1967. Bs BV hồi chánh Đặng Tấn nói trên đã ở lại đó 2 năm, khi ông đang thiết lập một nhà thương cho du kích quân ở khu vực tỉnh Pleiku, ông đã trông thấy tận mắt 4 hoặc 5 nhóm chiến lược gia ngoại quốc, một nhóm có chừng 3 tới 5 người. Bác sĩ hồi chánh này nói rõ thêm, những chiến lược gia ngoại quốc này có mang vũ khí, thường mặc bà ba đen và được lực lượng an ninh BV theo hộ tống.
Bs BV hồi chánh Đặng Tấn nhấn mạnh thêm «tôi đã trông thấy các chiến lược gia Nga Trung cộng, Cuha, Bắc Hàn và Pháp ở sâu trong lãnh thổ Nam Việt Nam. Tôi đã nghe họ nói bằng ngôn ngữ tiếng của họ.» Bác sĩ hồi chánh Đặng Tấn nói tiếp, các chiến lược gia người Pháp là cựu binh trong chiến tranh Đông Dương chống Pháp, họ đã không chịu hồi hương theo thỏa ước Genere 1954. (TV)

—⚜—

#Tien Tuyen May. 8, 1971 trang nhất
Từ Căn Cứ 6 Về, Hồi Chánh Viên Chuẩn Úy Bùi Ngọc Chiêu Tiết Lộ
Tinh Thần Cán Binh Cộng Sản Sa Sút Trầm Trọng
★ Đói Ăn, Thiếu Mặc, Bịnh Tật Đã Giết Dần Mòn Cán Binh Cộng Sản Trên Bước Đường Xâm Nhập
⚫ Trung Bình, Cộng Sản Mất Khoảng 40% Tổng Số Cán Binh Từ Miền Bắc Xâm Nhập Vào Nam Việt Nam

By THÁI NGƯƠN HIỀN

KỲ 1. — Vừa gặp mặt tôi và qua sự giới thiệu của ký giả Tiến Dzũng. Hồi Chánh Viên chuẩn úy CSBV Bùi ngọc Chiêu niềm nở bắt tay tôi. Anh vui vẻ tâm sự:
— Tôi coi như được sống lại khi biết mình thực sự sống dưới chế độ Tự do tại miền Nam.
Anh nói tiếp:
— Không phải đợi đến bây giờ tôi mới có ý định ra hồi chánh. Ý định đó đã manh nha trong đầu óc tôi cách đây 5 năm.

Hồi chánh viên Bùi ngọc Chiêu là trung đội trưởng trung đội 2 thuộc ĐĐ C11 Tiểu đoàn CK Trung đoàn 28 của Mặt trận B3 CSBV, đã về trình diện ngày 10-4-71 tại Đại Đội ĐPQ Dak Mot.
Anh Bùi ngọc Chiêu năm nay 26 tuổi, quê quán tỉnh Ninh Bình, là con thứ tư trong một gia đình Trung nông có 4 anh em trai và 2 chị gái. Anh đã học hết lớp 5 tức hết bậc tiểu học.
Năm 1966 anh vào thụ huấn quân sự tại Đại đội Bộ binh tại Ninh Bình. Tại đây anh học kỹ thuật tác xạ các loại súng B30, B41, và AK47. Sau khi được thụ huấn 3 tháng, anh ra trường với cấp bậc binh nhì và phục vụ tại tỉnh nhà.

Trên bước đường xâm nhập vào Nam VN và Ý định ra hồi chánh chớm nở vào năm 1966

Sau đó anh đã được chỉ định theo Trung đoàn «Kiên Giang» để xâm nhập vào Nam VN. Vào năm 1966, Trung đoàn «Kiên Giang» đóng tại Khe Sanh được 14 tháng rồi giải tán và trở ra Bắc.
Lúc Chiến dịch Khe Sanh kéo dài 14 tháng, tại đây anh được thăng cấp Hạ sĩ và cũng tại đây, ý định ra hồi chánh của anh chớm nở trong đầu. Nhưng anh chưa có được một cơ hội nào để trốn thoát Cộng sản quỷ quyệt luôn kiểm soát quá chặt và luôn luôn đe dọa là: «Các hồi chánh viên ra hồi chánh thì bị chính quyền VNCH tra tấn tàn nhẫn để khai thác sau đó bị đem đi thủ tiêu hoặc giết chết.»
Và các cấp chỉ huy cấm hẳn các binh lính cộng sản nhặt và đọc các tờ truyền đơn kêu gọi cán binh CS ra hồi chánh.
Tuy nhiên anh em cán binh thỉnh thoảng cũng nhét vài tờ và đọc lén. Anh cũng tiết lộ là việc cấm lượm các truyền đơn kêu gọi hồi chánh thực ra cũng không quá nghiêm ngặt, vì thế đa số các cán binh CS đều có lượm và đọc qua.



#Tien Tuyen May. 12, 1971 trang nhất
Từ Căn Cứ 6 Về, Hồi Chánh Viên Chuẩn Úy Bùi Ngọc Chiêu Tiết Lộ
Tinh Thần Cán Binh Cộng Sản Sa Sút Trầm Trọng
★ Mỗi Cán binh cộng sản xâm nhập được phát hàng ngày 14 lạng gạo và 6 lạng muối trong suốt tháng
⚫ Cuộc tiến quân của QLVNCH vào Kampuchea và Hạ Lào đã cắt đứt hoàn toàn các trục tiếp liệu cộng sản

By THÁI NGƯƠN HIỀN

KỲ 2. - Sau đây là anh Chiêu phác họa lại quãng đường mà anh đã đi qua sau lần xâm nhập vào miền Nam lần thứ hai.
Ngày 20.12.68 Trung đoàn 28 đã đi bộ từ Quảng Bình cho tới ngày 10-2-68 tức là mất 50 ngày đường mới tới vùng ba biên giới Kontum, xuyên qua con đường mòn HCM trên đình Trường Sơn thuộc Quận Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị VNCH, sông Cù Bay, rồi đi dọc theo biên giới từ Trung Lào xuống Hạ Lào, xuyên qua cao nguyên Boloven cuối cùng đến ngã ba biên giới Kontum.
Anh đã tả lại cuộc «trường thành vạn lý» (longue marche) 50 ngày như là một giấc mộng khủng khiếp.
Hàng ngày cộng sản phát cho mỗi cán binh 14 lạng gạo và 6 lạng muối trong 1 tháng. Anh đã phải ăn ròng rã như thế trong suốt quãng đời chiến đấu của anh cho tới khi ra hồi chánh.
Thỉnh thoảng trung đoàn mới bắn được thú rừng xẻ ra chia nhau ăn. Ngoài ra còn phải hái cả rau rừng để ăn thêm. Tuyệt nhiên không được dân chúng tiếp tế bất kỳ một thứ gì khác.
Bệnh tật thì đe dọa thường xuyên các cán binh xâm nhập, nhất là bệnh sốt rét rừng. Trung bình cứ 100 cán binh xâm nhập được vào Nam VN thì bị chết hết 40 người.
Anh cùng thổ lộ là từ ngày xâm nhập vào Nam VN đến nay anh chưa biết mặt đồng bạc của MTGP vì tất cả tiền bạc đều do Trung đoàn trưởng thâu hết để mua gạo tiếp tế từ Trung cộng gởi sang.
Khi QLVNCH chưa lên đánh KPC và Hạ Lào thì đơn vị anh mua gạo của KPC hay Lào. Nay KPC và Ai Lao đều bị QLVNCH tiến đánh và cắt đứt mọi đường tiếp tế nên chỉ còn trông cậy vào Trung cộng mà thôi.
Điều đó đã chứng tỏ hai cuộc tiến quân của QLVNCH vô KPC và Ai Lao đã cắt đứt một cách hiệu quả các đường tiếp tế của CSBV. Như vậy, CSBV có muốn tái lập lại các trục tiếp tế của họ cũng sẽ phải mất đi vài năm.



#Tien Tuyen May 21, 1971 trang nhất
#Tiền Tuyến May 21, 1971 trang nhất
Do lời khai của các tù binh và hồi chánh viên
QUÂN BIỆT KÍCH V.N. ĐI LÙNG
50 CHIẾN XA BẮC-VIỆT TẠI BIÊN-GIỚI LÀO
Giao tranh dữ dội suốt 6 giờ tại Ashau.


SAIGON 19-5 (Tổng hợp). Khoảng một tiểu đoàn Biệt kích tinh nhuệ VNCH gồm 700 quân đã mở một cuộc hành quân tuần thám dọc biên giới Lào để tìm kiếm một căn cứ hậu cần quan trọng của quân BV. Đại úy Lê văn Phúc, một phát ngôn viên quân sự của Bộ Tư lệnh Quân Khu II đã cho biết như trên tại Pleiku, và cho biết rõ rằng cuộc hành quân này đã khai diễn vào hôm thứ Ba vừa rồi sau khi các tù binh VC bị bắt sống và các hồi chánh viên cho các Thẩm Vấn Viên VNCH biết rằng có một khu vực khoảng 50 chiếc chiến xa đang chôn dấu ở dọc biên giới.
Đại úy Phúc còn cho biết rằng, có một hồi chánh viên đã khẳng định chính mắt anh ta đã trông thấy 7 chiến xa. Đại úy Phúc còn cho hay rằng các tù binh và các hồi chánh viên nói trong vùng núi trên, quân Bắc Việt cũng có cả hỏa tiễn nữa. Đây có thể là các hỏa tiễn loại thường mà quân Bắc Việt đôi khi đã bắn lên phi cơ và người ta đã lầm là hỏa tiễn địa không (SAM). Cũng theo lời đại úy Phúc thì cho đến nay, các lực lượng hành quân vẫn chưa tìm được các chiến cụ gì quan trọng của địch.
Đại úy Phúc cũng cho biết, cuộc hành quân này ở ngay biên giới Lào, cách Ben Hét 16 cây số về phía tây bắc trong phần lãnh thổ cao nguyên Trung Phần Việt Nam.
Được hỏi là liệu quân VNCH có sẽ vượt biên giới Việt Lào không, Đại úy Phúc đáp "có thể, chúng tôi không chắc".
Đại úy Phúc cho biết thêm, cho đến nay, Hoa Kỳ không có yểm trợ nhiều lắm nhưng các oanh tạc cơ và các trực thăng Hoa Kỳ sẽ được gọi đến khi cần chẳng hạn như khi Biệt kích tìm ra được một mục tiêu nào đáng giá.

Ác chiến dữ dội tại A Shau
SAIGON (TV) 20-5. — Cuộc hành quân của các lực lượng VNCH tại thung lũng Ashau gồm nhiều tiểu đoàn TQLC và BB đã đụng độ dữ dội với các đơn vị Cộng quân thuộc 5 Trung đoàn chính qui BV trong vùng Đông Nam của thung lũng này.
Tin từ mặt trận gửi về cho hay, trận giao tranh dữ dội kéo dài trong 6 tiếng đồng hồ. Các chi tiết về trận giao tranh này chưa được công bố.


#Tien Tuyen May 22, 1971 trang nhất
#Tiền Tuyến May 22, 1971 trang nhất
Nhân ngày kỷ niệm Quân Đoàn III lên 11 tuổi, Trung Tướng Minh tiết lộ:
Sáng 20-5: Đại quân V.N. tấn công bất ngờ
ĐÃ TRÀN NGẬP BỘ TƯ LỆNH C.30 CỘNG SẢN B.V.
★ NHỮNG TRẬN ĐỤNG ĐỘ ÁC LIỆT ĐÃ DIỄN RA GIỮA TA VÀ ĐỊCH TẠI SÀO HUYỆT CỦA CHÚNG CÁCH PREYVENG 10 CÂY SỐ VỀ PHÍA ĐÔNG BẮC ⚫ VÒNG VÂY CỦA TA ĐANG SIẾT CHẶT, ĐỊCH TÌM ĐƯỜNG « CHÉM VÈ ».

⚀ Phạm Quốc Hùng — Lê Khiêm

BIÊN HÒA 21-5 (TT) — Hồi 9 giờ 30 sáng 20-5, Trung Tướng Nguyễn văn Minh, Tư lệnh Quân Đoàn III và QK III kiêm Tư lệnh Biệt Khu Thủ Đô đã chủ tọa buổi lễ kỷ niệm 11 năm thành lập Quân Đoàn III. Buổi lễ đã được tổ chức thật đơn giản nhưng rất trang nghiêm.
Sau khi đặt vòng hoa lên đài kỷ niệm các chiến sĩ trận vong thuộc Quân đoàn III, vị Tướng đương kim Tư lịnh đã không quên dành một phút mặc niệm cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí, cựu Tư lệnh QĐ III và QK III đã tử nạn phi cơ trực thăng trước đây trong khi lên đường vượt biên giới quan sát chiến trường KPC.
Sau buổi lễ kỷ niệm, Trung Tướng Minh đã tiếp xúc riêng với BBĐPV tại phòng làm việc của ông trong Bộ Tư lệnh QĐ III. Trong dịp này, ông đã tiết lộ rằng Đại quân VNCH gồm 3 Sư đoàn 5, 18 và 25 BB cùng những đơn vị Thiết kỵ và BĐQ tăng phái dưới quyền chỉ huy của ông, sáng sớm hôm 20-5-71 đã đánh thẳng vào Bộ Tư lệnh C.30 Cộng sản BV.
Hiện nay, Bộ Tư lệnh C.30 CS BV đang trú đóng tại vùng 10 cây số đông bắc Preyveng. Và, theo tin tức từ chiến trường KPC điện về BTL QĐ III báo cho biết hiện đã có những trận đụng độ ác liệt khi Đại quân của QĐ III tiến vào khu vực này. Những trận đụng độ hiện đang tiếp diễn chưa có kết quả cuối cùng, nhưng Trung Tướng Minh đã đoan chắc một chiến thắng lớn đang chờ đón anh em chiến sĩ QĐ III.
Trung Tướng Minh cũng đã cho biết thêm: Song song với Bộ tư lệnh C.30 CSBV, khu vực tam giác Kampong Cham, Preyveng, Kampong Trach là nơi 2 công trường 7 và 9 Cộng sản dùng làm sào huyệt ẩn núp để chờ ngày bổ sung quân số.
Hiện nay, cánh quân thuộc QĐ III gồm SĐ 5, 18, 25 BB cùng như những đơn vị Thiết kỵ, BĐQ với sự yểm trợ đắc lực của Không Quân VN đang ở thế chủ động, vòng vây hẹp đang càng ngày càng siết chặt để tiêu diệt gọn BTL/C30/CSBV. Trước gọng kìm của một hỏa lực quá hùng hậu này, nhất là những loại đạn mới khả dĩ tiêu diệt gọn 1 Đại đội địch khi đánh cận chiến vừa được ứng dụng trên chiến trường KPC, hiện địch quân đang ở thế bị động và muốn … «chém vè» để bảo toàn lực lượng như chúng vẫn thường áp dụng tại KPC trong những ngày gần đây, nhưng điều đó địch quân khó có thể thực hiện nổi.

Tổng kết thi đua diệt địch tại QĐ III :
Song song với buổi lễ kỷ niệm 11 năm thành lập QĐ III, buổi lễ lễ tưởng thưởng những đơn vị đoạt giải «Thi đua lập chiến công và kiện toàn đơn vị» đợt 1/71 phát động ngày 1-1-71 và kết thúc ngày 30-4-71 cũng đã được tổ chức trọng thể tại Võ Đình Trường BTL/QK II hồi 9 giờ 15 ngày 20-5-71. Kết quả cuộc thi đua như sau:
Giải đơn vị xuất sắc về nỗ lực chiến đấu:
1. ĐĐ 16 thuộc TĐ4, Trung đoàn 8 SĐ 5 BB.
2. ĐĐ 3/161 ĐPQ Tiểu khu Tây Ninh.
3. Trung đội Nghĩa quân BDC/85 TK Bình Dương.

Giải đơn vị xuất sắc về nỗ lực xây dựng đơn vị:
1. Pháo đội Chỉ huy TĐ 253 PB thuộc SĐ 25 BB.
2. ĐĐ 3/182 ĐPQ Tiểu khu Bình Tuy.
3. Trung đội Nghĩa quân BTY-21 TK Bình Tuy.
— Giải cá nhân gồm 15 quân nhân xuất sắc được tuyển chọn.
Được biết, ngoài phần tưởng thưởng bằng tiền mặt, Trung Tướng Tư lịnh QĐ III còn thăng cấp đặc cách tại mặt trận cho 6 chiến sĩ xuất sắc, gắn 6 huy chương ADBT và 3 bằng tưởng lục cấp Quân Đoàn.
Cùng thời gian 2 buổi lễ trên, Đại tá Trung tâm trưởng Trung tâm Phát triển Bình định QK III đã đại diện Trung Tướng Minh cải danh hồi chánh cho 261 tù binh CSBV. Những tù binh CSBV này hầu hết đều tự xâm vào tay mình 2 chữ «Sát cộng» để tỏ lòng căm hận chủ nghĩa vô thần mà trước kia họ bị bắt buộc hy sinh phục vụ.



#Tien Tuyen May 25, 1971 trang nhất
#Tiền Tuyến May 25, 1971, trang nhất
Sau 48 giờ hành quân đại qui mô của QLVNCH vào Đông bộ KPC
BỘ TƯ LỆNH C.30/C.S. BỊ ĐÁNH TAN
CĂN CỨ HẬU CẦN QK2/C.S. BỊ DẪM NÁT
★ TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM CỘNG SẢN SAU THỜI GIAN LƯU ĐỘNG NAY PHẢI BIẾN THÀNH «BỘ CHỈ HUY BỎ TÚI» ĐỂ DỄ CHÉM VÈ! TƯỚNG VIỆT CỘNG HOÀNG MINH THẢO, CHỈ HUY CỤC R ĐANG BỔN TẨU TRONG VÙNG KRATIÉ.

⚃ PHẠM QUỐC HÙNG — LÊ KHIÊM

BIÊN GIỚI VN.KPC (TT) — Sau lời tuyên bố của tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh QĐ III và QK III về cuộc tấn công đại quy mô của Đại quân VNCH vào Đông bộ Kampuchea, chỉ trong 2 ngày 21 và 22/5 Bộ Tư lệnh C.30 CSBV đã hoàn toàn bị tan rã.
Trước sức tấn công bất ngờ của Đại quân VNCH, với Cánh quân «Toàn Thắng 1-71» của QĐ III nhằm đánh thốc vào bản doanh của Bộ tư lệnh C.30 CSBV tại 10 cây số đông bắc thị trấn Preyveng, Cộng quân đã không kịp phản ứng cũng như phân tán lực lượng theo chiến thuật lâu nay chúng thường áp dụng nhằm bảo vệ tiềm lực chiến đấu cũng như chờ đợi quân số bổ xung và rèn cán chỉnh quân.

Cục R biến thành... Cục bỏ túi
Song song với sự tan rã của Bộ Tư Lệnh C.30 CSBV tại 10 cây số đông bắc Preyveng, được biết Cục R, tức Trung ương cục miền Nam của VC, từ hơn năm nay đã biến thành một đơn vị lưu động trước cuộc tấn công của QLVNCH sâu vào lãnh thổ KPC hiện càng ngày càng bị thu hẹp từ nhân số cũng như cơ sở do đó phải biến thành một đơn vị loại bỏ túi để dễ bề trốn chạy «chém vè» trước những cuộc oanh kích của không quân cũng như những lực lượng bộ binh của ta.
Tướng VC Hoàng minh Thảo, chỉ huy trưởng Cục R hiện nay đang nằm trong tình trạng bôn ba rày đây mai đó theo đơn vị bảo vệ của mình. Tin tức tình báo mới nhất cho biết, đơn vị «bỏ túi» này, tức Cục R, tức Trung ương cục miền Nam, hiện đang quanh quẩn ẩn núp trong vùng tỉnh Kratié, bên kia sông Tonlé Sap, tây bộ KPC. Tướng Hoàng minh Thảo hiện đang khốn khổ vì bị bệnh sốt rét rừng hành hạ.
Trong khi đó, tại Kampong Trach, các cánh quân của Chiến đoàn 46 thuộc SĐ25BB cũng đang xiết chặt vòng vây gọng kìm dồn địch vào giữa để tiêu diệt. Ngày đầu cuộc hành quân được xem là vô sự vì chỉ chạm địch lẻ tẻ nhưng đã đếm được 27 xác Cộng quân khi quân ta tiến vào lục soát vùng mà các khu trực cơ của Không quân VN vừa oanh kích tại 32 cây số tây bắc Kampong Trach.
Tin của Trung tá Diên Nghị, Sĩ quan tình báo của Quân Đoàn III hiện theo sát chiến trường viết về cho biết: Đến 0 giờ sáng ngày 21-5, 2 cánh quân của Chiến đoàn 46 đã vây hãm một tiểu đoàn Cộng quân tại 22 cây số Tây Thị trấn Kampong-Trach. Trước hỏa lực yểm trợ hùng hậu của các phi tuần khu trục Việt Mỹ, hàng ngũ địch quân đã hoàn toàn rối loạn. Tuy thế, Cộng quân đã không thể rút lui và bắt buộc phải quay lại đương đầu với các cánh quân VNCH. Chỉ trong vòng nửa giờ của cuộc ác chiến sau khi Cộng quân liều chết mở đường máu trốn chạy, chúng đã để lại 45 xác tại trận địa.

Hậu cần Quân khu 2 CSBV bị đập dập hoàn toàn
Tiếp tục truy kích đám tàn quân của Tiểu đoàn CSBV kể trên, 1 đơn vị khác, Tiểu đoàn 1/46 thuộc Chiến đoàn 46, cùng trên trục tiến quân với 2 cánh quân bạn, đã khám phá 1 công binh xưởng của Quân khu 2 CSBV tại 20 cây số Nam Kampong Trach. Đơn vị này đã tịch thu của VC 1 đại bác 57 ly, 1 B41, 1 B10, 6 súng cá nhân cùng 15 tấn đạn dược, chất nổ và quân dụng. Trong số đạn dược này, phần nhiều thuộc loại đạn bích kích pháo 82, 81 và 57 ly.
Cũng tại vùng này, Tiểu đoàn 30BĐQ thuộc SĐ5BB tăng phái cho Chiến Đoàn 46, hồi 10 giờ 50 sáng ngày 22-5 cũng đã khám phá thêm 2 hầm vũ khí quan trọng, gồm 48 vũ khí đủ loại, 500 ký chất nổ TNT và 8 thùng đạn AK.
Với những thành quả nêu trên, chỉ trong vòng 48 tiếng đồng hồ sau khi Tướng Minh tuyên bố về cuộc hành quân đại quy mô vào đông bộ KPC để đánh dấu ngày kỷ niệm 11 năm thành lập QĐ III, các chiến sĩ thuộc QĐ III đã chứng minh cho lời tuyên bố trên bằng cách khuấy động và đập nát sào huyệt của Bộ tư lệnh C.30 CSBV tại Preyveng song song với việc triệt hạ hoàn toàn căn cứ hậu cần Quân khu 2 CSBV nằm trong mật khu miền tây của Thị trấn Kampong-Trach.
Kết quả sơ khởi trong 48 giờ của 2 ngày đầu cuộc hành quân này đã có 79 VC bị hạ tại trận, 4 bị bắt sống. Ta tịch thu 64 súng đủ loại và 15 tấn chất nổ, đạn dược cùng quân dụng và thực phẩm.
Nguồn tin cuối cùng còn cho biết thêm, Cộng quân đã trả đũa lại sau khi Công binh xưởng của chúng bị khám phá, Cộng quân đã pháo 52 quả đạn bích kích pháo 82 ly vào Bộ Chỉ huy Chiến đoàn 46 vào lúc 21 giờ 45 tối cùng ngày, làm cho 2 chiến sĩ bị hy sinh và 1 bị thương nhẹ. Cuộc hành quân còn đang tiếp tục và hứa hẹn nhiều sôi động.

Chiến sĩ Sư đoàn 25 Bộ Binh tịch thu thêm 48 súng đủ loại của Cộng quân
Phát ngôn viên Thông tin báo chí Sư đoàn 25 cho biết lúc 10 giờ ngày 22-5-71, 1 đơn vị BĐQ tăng phái cho Chiến đoàn 46, thuộc Sư đoàn 25 BB, hành quân lục soát khám phá một hầm tại 20 cây số Tây Kampong Trach, Kampuchea. Kết quả chiến sĩ ta tịch thu 48 súng đủ loại gồm: 15 Tiểu Liên K50, 25 súng trường Nga, 7 Mauser 36, 1 Garant. Phá hủy 50 ký thuốc nổ TNT, 8 thùng đạn đại liên và 200 thước giây nylon.
Cuộc hành quân còn đang tiếp diễn.

$pageOut$pageIn
Phân đoạn 11

#Tien Tuyen May. 13, 1971 trang nhất
Bác sĩ hồi chánh Đặng Tấn vạch trần thủ đoạn dã man của CSBV đối với tù binh Mỹ
BV SỬ DỤNG TÙ BINH VÀO MỤC TIÊU QUÂN SỰ, KINH TẾ LÂU DÀI, KHÔNG RIÊNG Ở MIỀN BẮC
★ Tù binh Mỹ đã bị tra tấn và bị tẩy não. ★ Mặt trận Dân tộc Dân chủ Hòa bình là công cụ của CSBV
#Tien Tuyen May. 13, 1971 trang nhất
Bác sĩ hồi chánh Đặng Tấn vạch trần thủ đoạn dã man của CSBV đối với tù binh Mỹ.
BV SỬ DỤNG TÙ BINH VÀO MỤC TIÊU QUÂN SỰ, KINH TẾ LÂU DÀI, KHÔNG RIÊNG Ở MIỀN BẮC.
★ Tù binh Mỹ đã bị tra tấn và bị tẩy não. ★ Mặt trận Dân tộc Dân chủ Hòa bình là công cụ của CSBV.


SAIGON. — Trong cuộc họp báo sáng 11-5, một Bác sĩ VC hồi chánh cho biết nhân dân và Chính phủ Hoa Kỳ không nên nuôi ảo vọng BV sẽ phóng thích tất cả tù binh Mỹ hiện nay đang bị giam giữ.

Sử dụng tù binh vào mục tiêu Quân sự và Kinh tế
Theo lời Bác sĩ hồi chánh Đặng Tấn, sinh năm 1929 tại Quảng Ngãi thì qua kinh nghiệm với cuộc đấu tranh chống Pháp trước đây, BV đã coi tù binh Hoa Kỳ như là một thế chính trị của họ. Những sĩ quan Hoa Kỳ bị BV bắt giữ có khả năng còn có thể bị nhà cầm quyền Hà nội sử dụng vào các mục tiêu quân sự, kinh tế cho hiện tại hay lâu dài.
Khả năng của những tù binh Hoa Kỳ, theo lời Bác sĩ Đặng Tấn, không những chỉ được khai thác tại BV mà còn được tận dụng ở các quốc gia khác trong khối CS.
Bác sĩ Tấn tiết lộ rằng Bắc Việt đã vi phạm nghiêm trọng Quy ước Genève 1949 về tù binh chiến tranh bằng cách cho phép các quốc gia thuộc khối Cộng sản như Liên Sô, Trung cộng, Cuba khai thác các sĩ quan tù binh Mỹ về mặt tình báo chiến lược và tuyên truyền.
Do đó Bác sĩ Tấn tin chắc rằng BV sẽ không bao giờ phóng thích đầy đủ cả số tù binh Mỹ mà hiện họ đang giữ vào khoảng hàng ngàn người.

Dùng phương thức tẩy não tù binh Mỹ
Về phương cách đối xử đối với tù binh Mỹ của BV, ngoài các phương thức tra tấn thông thường, Bác sĩ Đặng Tấn nhận xét rằng phương thức độc ác nhất mà BV áp dụng đối với tù binh Mỹ là tẩy não. Theo phương thức này, người tù binh luôn luôn ở trong một tình trạng căng thẳng tinh thần và họ bị gieo vào đầu ý tưởng luôn luôn sợ sệt vì mang mặc cảm phạm tội trước những cái nhìn thù hằn của dân chúng BV.
Bác sĩ Tấn tiết lộ rằng, chính người bạn thân cận của ông là Thiếu Tướng Nguyễn Đôn, Cựu Tư Lệnh Quân khu 4 VC được giao phó nhiệm vụ tổ chức đường dây xâm nhập vào Nam qua ngả Lào và hiện nay BV đem cả sư đoàn CSBV sang Lào để bảo vệ đường mòn HCM. Ngoài ra, BS Tấn cũng cho biết cán bộ CS Lào cũng đã từng được Đảng Lao Động Hanoi đưa về BV huấn luyện để trở lại hoạt động trên quốc gia họ.
Như vậy, Bác sĩ Tấn kết luận chiến tranh VN sẽ không bao giờ chấm dứt nếu Lào Miên còn chưa bị cộng sản xích hóa.

Sau cùng nhận định về "Mặt trận Dân tộc Dân chủ và Hòa bình" [ * ], Bác sĩ Tấn cho rằng đây là một trong những âm mưu của Cộng sản và khi đề nghị chính phủ liên hiệp, CS hy vọng có thể cướp chính quyền một cách dễ dàng hơn.

Tại Trung tâm quốc gia Báo chí sáng nay, Bác sĩ Đặng Tấn cho biết ông đã trở về chính nghĩa quốc gia từ tháng 9-69 nhờ lợi dụng một cơ hội của cuộc hành quân Việt Mỹ tại Pleiku.
Sở dĩ đến hôm nay mới ra mắt báo chí là vì cũng như tất cả các hồi chánh viên khác, Bác sĩ Tấn đã phải trải qua những thủ tục hồi chánh. Hơn nữa, qua một năm ở miền Nam tự do, Bác sĩ Tấn mới có dịp nhận xét so sánh chế độ của 2 miền Nam Bắc.
Bác sĩ Đặng Tấn được kết nạp vào đảng cộng sản từ năm 1948, được chọn lựa học khóa y sĩ từ năm 1952 và tốt nghiệp năm 1962. Ông đã từng giữ các chức vụ Giám đốc Bệnh viện của Tổng Cục đường sắt, Trưởng phòng kế hoạch và Nghiệp vụ của Ty Y Tế v.v....
Từ năm 1965 Bác sĩ Đặng Tấn được đưa vào Nam và theo lời hứa hẹn của Tr. tướng Nguyễn văn Vịnh, ông sẽ giữ một chức vụ quan trọng trong cái gọi là Chính phủ CS miền Nam sau khi "giải phóng".
Nhân dịp này, Bác sĩ Tấn đã đưa ra một số nhận định về những điều mà CS đã làm từ trước đến nay. Theo đó Bác sĩ Tấn đã phải suy nghĩ về những gì mà CS gọi là đoàn kết hòa giải dân tộc.
Đoàn kết theo kiểu CS, Bác sĩ Tấn nhấn mạnh, là kết nạp các thành phần bất mãn chống Chính phủ VNCH để tạo lập Mặt trận Dân tộc Dân chủ Hòa bình đấu tranh đòi hỏi những quyền lợi phi lý. [ ** ]

Đề cập đến vấn đề Lào và Miên, bác sĩ quan niệm rằng không bao giờ CSBV thực hiện chủ nghĩa cộng sản thành công tại VN nếu Lào và Miên không làm cuộc cách mạng vô sản, do đó mặc dù cố tình bưng bít, theo lời Bác sĩ Tấn, ngày nay không ai còn thắc mắc về mức độ quân đội BV hoạt động tại Lào và Miên.



[ *: LTC CHÚ THÍCH về Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, Một vài nét chánh về tổ chức Cộng sản đội lốt này:

Những danh từ Dân chủ, Hòa bình, Dân tộc tự quyết v.v.. là danh xưng quen thuộc dễ nhận ra của phe thân Cộng, tay sai Cộng sản hoặc Cộng sản nằm vùng tại miền Nam ưa xài.

Bối cảnh chung: Lợi dụng bầu không khí Tự do Chánh trị tại miền Nam dưới chánh thể Tự do Dân chủ VNCH hoàn toàn tôn trọng quyền Tự do Ngôn luận, Tự do Lập hội của mọi thành phần công dân, Chủ của bọn thân Cộng này là chế độ CSBV chuyên bày mưu tính kế cho đàn em, tay sai trà trộn vào bầu khí tự do trăm hoa đua nở đó để quấy phá, gây xáo trộn, đầu độc nhân tâm, và chúng đã đẻ ra được một vài thành phần thiểu số bị u mê hết còn phân biệt được đâu là Chánh đâu là Tà, để Cộng sản chen vào tuyên truyền láo cho chế độ Cộng sản miền Bắc. Nhức nhối đỉnh điểm của thứ đầu óc trên mây trên gió, u mê đó là vụ ô Linh mục Chân Tín, là chủ báo (nguyệt san) Đối Diện, vào tháng Giêng 1971 đã đăng bài có nhan đề là “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” trên tờ báo này, tác giả là Linh mục Trương Bá Cần [ 1 ]. Ngày 22-2-1971, ô. Chân Tín bị Tòa Sơ Thẩm Saigon tuyên án tù 9 tháng và đóng cửa báo Đối Diện 6 tháng.

Đấy có thể xem là hình ảnh đại diện cho thảm cảnh bị lừa gạt rất đau đớn oan uổng mà nhiều giới trí thức, tôn giáo sống trên mây tại miền Nam đã ngu dại cắn bã cộng sản đến nỗi cúc cung làm đầy tớ cho giặc rước giặc vào phá nhà đốt bàn thờ vào black April 1975.
Sau black April 1975, màn tuồng ảo giác rẻ tiền kia hạ xuống và bọn người này lại nháo nhào leo lên ghe chạy ra biển thoát thân: chạy thoát Cộng sản!!! Trương Như Tảng là tay cộm cán nhất trong số bọn này, từng leo lên chức Bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ ma Việt cộng PRG, và cũng là kẻ bỏ chạy gần như đầu tiên và ngay lập tức sau khi Saigon thất thủ, năm 1976. Sang Pháp, Tảng viết Hồi Ký có tựa "Mémoire d'un Vietcong" (Hồi ký của một Việt Cộng) xuất bản tại Pháp năm 1981 do NXB Jean-Claude Lattès ở Ba Lê.

Bối cảnh riêng, có lai lịch từ thời 1964, điểm qua vài mốc chính sau đây:
➯ Vào tối ngày 14-2-1965, Hội đồng Quân Lực chọn bác sĩ Phan Huy Quát, là người mà lúc trước bị Bảo Đại gạt ra để chọn ông Diệm. Bác sĩ Quát lên nắm quyền Thủ tướng vào ngày 16 tháng Hai, 1965.
không khí xã hội lúc bấy giờ rất căng thẳng. Người Công giáo thì bất bình người Phật giáo, còn người miền Nam thì kình địch với người miền Bắc. Ông Quát ủy cho tôi đến gặp Tâm Châu và Trí Quang để đả thông mối giao hảo với phe Phật giáo. Ông Quát nghi là NLF (National Liberation Front = Mặt trận Giải phóng, còn gọi là Việt Cộng, một nguỵ danh khác của Cộng sản Bắc Việt) đã cài người của họ len lỏi vào phe Phật giáo nhưng chúng tôi không có bằng chứng. Dù Bác sĩ Quát không phải là Phật giáo đồ thuần thành, nhưng khi người Công giáo biết chuyện tôi đi gặp phe Phật giáo, thì họ lại ngờ ông Quát có khuynh hướng thân Phật giáo (Bùi Diễm trả lời một cuộc Phỏng vấn ngày 2-6-2016 tại Mỹ)
➯ Trưa 19-2-1965, tên đặc vụ làm nội tuyến cho Cộng sản Phạm Ngọc Thảo (Đại tá, cựu Tùy viên Báo chí Tòa Đại sứ VNCH tại Mỹ thời ô. Trần Thiện Khiêm làm Đại sứ từ tháng 10-1964 đến tháng 10-1965) phát động cuộc đảo chính cốt hạ bệ Đại tướng Nguyễn Khánh (đang đương chức Tổng Tư lệnh Quân Lực VNCH) nhưng cú biến loạn bị thất bại cấp kỳ. Im hơi lặng tiếng không một phát súng, phe chủ mưu biến loạn cũng không bắt được tướng Nguyễn Khánh, không một đơn vị quân đội nào khác ủng hộ Thảo, cũng không quần chúng Sài Gòn nào nổi dậy mà ngược lại cú biến loạn còn bị Nhóm Tướng Trẻ dẹp tan mau chóng.
Tướng Nguyễn Cao Kỳ lấy phi cơ đưa tướng Nguyễn Khánh ra khỏi đô thành, và tướng Nguyễn Chánh Thi từ Đà Nẵng được Saigon gọi vào lo phản đảo chính. Tướng Thi tập hợp các cánh quân trung thành lại và loan báo trên Đài Phát thanh rằng lực lượng đảo chính nên quay trở về đơn vị, nếu không sẽ lãnh đòn. Nghe thông báo đó, biết mưu toan đã tan thành mây khói, một lần nữa Thảo liền lủi trốn mất dạng. Tuy nhiên, rốt cuộc cú chính biến bất thành mới này khiến Nguyễn Khánh phải đi lưu vong, vào ngày 24-2-1965.

➯ Chẳng mấy chốc, cơn thịnh nộ về vụ Thảo, Khiêm và Khánh trở nên lắng dịu hơn với một tình hình sôi nổi mới phát sinh: các phe nhóm đứng ngoài chính phủ bắt đầu công khai bàn về một giải pháp ngoại giao cho cuộc chiến thay vì mưu cầu một chiến thắng quân sự.
Với người Quốc gia thuần thành thì chỉ duy một chủ trương chiến thắng toàn diện, hoặc Cộng quân phải hoàn toàn triệt thoái khỏi VNCH, ngoài ra mọi ý kiến khác đều bị lên án, phỉ báng. Đường lối chính sách đó của VNCH được khơi nguồn từ Bác sĩ Quát.

➯ Vào trung tuần tháng Hai 1965, có mấy tăng ni Phật giáo và giới sinh viên biểu tình bắt đầu tung ra những đòi hỏi lơ mơ không đâu vào đâu kêu gọi mở cuộc đối thoại với NLF, nhưng chẳng mấy ai để ý. Tuy nhiên chuyện bỗng sôi lên khi ngày 28-2-1965, một Thượng toạ Phật giáo ở Sài Gòn là Thích Quảng Liên [ 2 ] tuyên bố thành lập một nhóm Phật giáo nguyện mưu cầu hòa bình cho Việt Nam. Nhóm ấy, với cái tên khá kỳ quặc là «Phong trào Tranh đấu Bảo vệ Hòa bình và Hạnh phúc Dân tộc», do Quảng Liên chủ trương yêu cầu cả quân Cộng sản và quân đội Mỹ phải đồng thời rút khỏi VNCH, tiếp đến là việc nói chuyện giữa người Việt Nam với nhau. Quảng Liên không được Trí Quang hay Tâm Châu chính thức tán thành lập trường đó, nhưng ông ta không đếm xỉa và cứ tiến tới. Ông ta phát động chương trình của mình từ chùa Ấn Quang, Sài Gòn. Lúc bấy giờ ngôi chùa này là hang ổ của của phe Trí Quang chống Chính phủ, còn chùa Xá Lợi vẫn là tổng hành dinh của cánh Phật giáo đồ miền Nam mà không theo phe Trí Quang.

Phiên họp Nội Các ban đầu của ông Quát tập trung vào đề xướng của Quảng Liên. Thảy các Tổng Bộ trưởng đều đồng thanh thừa nhận một xu hướng đại chúng đang được hưởng ứng chính thức đầu tiên thời hậu Diệm nhân danh ý tưởng Dân tộc Tự quyết đòi thương thuyết với Cộng sản. Bùi Diễm nhận xét rằng “Bác sĩ Quát là người chống trung lập hoặc chính phủ liên hiệp. Nội Các bày tỏ một ý kiến thống nhất rằng vì lập trường của Quảng Liên sặc mùi thân Cộng cho nên Thủ tướng Quát cần phải có lập trường cứng rắn không nhân nhượng. Trong phiên họp này ông Thiệu khá ít nói và không góp ý bàn bạc gì”. Qua đó ta thấy ý tưởng dự liệu ban đầu về hòa bình của miền Nam là do cánh dân sự bày ra trước tiên chứ không phải do phe quân nhân, và những xu hướng này sẽ còn sống dai dẳng cho đến phút cuối cùng.

Trong cương vị Thủ tướng, Bác sĩ Quát chủ tọa một cuộc họp báo khởi đầu, được dành trọn để hồi đáp Quảng Liên. Bác sĩ Quát đồng ý “chuyện thương lượng hoàn toàn là chuyện tự quyết của người Việt” nhưng đó là “chuyện Chính phủ chưa hề đặt ra cho nghị trình phải tính tới”. Rồi ông phơi bày hết đường lối của VNCH về chuyện điều đình. Về vấn đề hòa bình, VNCH không có ý dàn xếp một “thoả ước ngừng bắn đơn thuần”, vốn là thứ Cộng sản rất thích nhắm vào đó để khai thác, lợi dụng. Miền Nam đang phải tự vệ trước cuộc xâm lăng từ miền Bắc, và nếu Hà Nội thực tâm thiện chí muốn có hòa bình, thì các yêu cầu của Sài Gòn rất ư là giản dị. Cộng sản phải “chấm dứt chiến tranh, ngưng mọi hoạt động xâm nhập, lật đổ và phá hoại” và phải “bảo đảm an toàn cho miền Nam”. Bác sĩ Quát nói rằng nếu có một miền Nam Tự do cứ đòi hòa bình bất chấp “những thủ đoạn tuyên truyền xảo trá” của Cộng sản thì miền Nam đó chỉ là một thứ giả danh đánh tráo “dư luận”. Cuối cùng, ông bác bỏ mọi “giải pháp quốc tế nào chưa nhận được sự đồng tình của Chính phủ và nhân dân Việt Nam”, thẳng thắn đả kích những kẻ kêu gọi nối lại Hiệp định Genève hoặc những ai dính líu đến người Pháp.

➯ Vào ngày 2-3-1965, phi vụ đầu tiên của chiến dịch oanh tạc mở rộng có tên Rolling Thunder được thực hiện bởi hơn 100 phi cơ của Không lực Hoa Kỳ và 19 chiếc Skyraider của Nam Việt Nam nhằm vào các mục tiêu ngay bên kia giới tuyến. Căn cứ vào tình hình chiến sự leo thang nhanh chóng, Tướng Westmoreland từ trước đã yêu cầu và rồi được phép đưa quân Mỹ đến bảo vệ an ninh cho căn cứ không quân trọng yếu tại Đà Nẵng. Vào ngày 8-3-1965, 2 Tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến Mỹ đổ bộ vào bờ biển Đà Nẵng, đánh dấu mốc can dự đầu tiên của lực lượng Bộ chiến Hoa Kỳ.
Nếu việc Hoa Kỳ oanh tạc Bắc Việt làm mạnh thêm quyết tâm của Nam Việt Nam, thì cả Bác sĩ Quát lẫn thành phần Nội Các VNCH đều miễn cưỡng cho phép lực lượng chiến đấu chính quy của Hoa Kỳ vào Việt Nam, vì sợ sẽ tạo điều kiện cho bộ máy tuyên truyền mồm mép của Cộng sản chĩa mũi dùi “ly gián… chính phủ với dân chúng”. Các vị đã không sai chút nào khi biết trước Cộng sản sẽ lợi dụng sự hiện diện của người Mỹ để khai thác tối đa nhược điểm nội tại ngó thấy của miền Nam.

Trong hồi ký, Trương Như Tảng kể lại rõ rằng NLF vừa muốn đánh bại miền Nam trên chiến trận vừa đẩy mạnh “đấu tranh chính trị” để xô chính phủ đến chỗ sụp đổ. Tảng đã góp sức lập ra "Phong trào Dân tộc Tự quyết", với người cầm đầu là Nguyễn Long, một luật sư. Một nhóm thứ hai, gọi là "Ủy ban Vận động Hòa bình" cũng được lập ra theo cùng sự vụ này. Ý tưởng của các nhóm này là để gây một “áp lực mang khí thế quần chúng nơi các đô thị về chuyện thương nghị” từ đó tạo ra “một khủng hoảng chính trị mà người Mỹ không có cách gì tác động được. Giai đoạn đầu theo hướng này là phải đẻ ra cho được một phong trào công khai và hợp pháp để huy động nhiều ý kiến và kích thích chuyện thương thuyết và chấm dứt chiến tranh — một phong trào như thế thì không ai thấy có mối quan hệ nào với NLF cả” [ trích Trương Như Tảng, Hồi ký của một Việt Cộng, trang 92 ].

➯ Cuộc đổ bộ đã trao cho các tiểu tổ đặc công cộng sản võ trang và phe cánh tả chống chính quyền Quốc Gia một cơ hội không khác gì dịp may trời cho bọn con bạc khát nước. Vài giờ sau khi Thủy quân Lục chiến Mỹ đổ bộ, "Ủy ban Vận động Hòa bình" liền mở cuộc họp báo. Họ đòi quân đội Hoa Kỳ rút về và xúc tiến việc điều đình giữa Chính phủ Việt Nam với NLF.
Người cầm đầu nhóm này là Phạm Văn Huyến, người miền Bắc và là bác sĩ thú y tốt nghiệp bên Pháp, vào Nam năm 1955, từng giữ chức vụ Tổng Uỷ Phụ trách Đồng bào Tị nạn của Chính phủ Ngô Đình Diệm [ (nhưng) đã từ chức vào ngày 17-5-1955. Người lên thay là Phụ tá Bùi văn Lương ].
Con gái của Huyến, Phạm Thị Thanh Vân, một luật sư, cũng tham gia buổi họp báo. Năm 1948, bà Vân lấy chồng là một người Bắc, là Ngô Bá Thành, để rồi rốt cuộc bà Ngô Bá Thành sẽ thành một nhân vật đối lập hung hăng và đình đám nhất ở Nam Việt Nam, song song với lãnh tụ sinh viên tranh đấu Huỳnh Tấn Mẫm. Dù bà ta chưa hề có chút ảnh hưởng trong chính giới Việt Nam, nhưng vừa được tiếng là khéo vận dụng báo chí phương Tây vừa có tiếng khắp thế giới, phần nào nhờ vào chút vốn Anh ngữ khá học được thời bà theo học Luật ở Đại học Columbia. Theo tài liệu của Toà Đại sứ Mỹ tại Saigon phác lược tiểu sử của bà Ngô Bá Thành thì trong 10 năm tiếp theo, bà đã “không ngừng đem sức lực lên tiếng phản đối nẩy lửa chống lại ‘bè lũ tham nhũng, làm giàu trên chiến tranh’ đang cai trị miền Nam theo ‘lệnh đế quốc Mỹ’”.

➯ Ngày 12-3, ông Quát một lần nữa công khai lên án phong trào Vận động Hòa bình, với lời lẽ cực kỳ thận trọng để không gây ngộ nhận là đánh đồng phe Phật giáo với nhóm của Huyến thành cá mè một lứa. Ông khẳng định chính phủ của ông cam kết thực hiện "cuộc đấu tranh toàn diện, triệt để" chống Cộng để thủ thắng cuộc chiến này. Ông Quát đã thành công, và vì Quảng Liên không được giới lãnh đạo Phật giáo ủng hộ, nên vào ngày 17-3, ông ta từ chức Chủ tịch "Phong trào Tranh đấu Bảo vệ Hòa bình và Hạnh phúc Dân tộc" và lên đường sang Nhật Bản dự một hội nghị.
Thủ tướng Phan Huy Quát bổ nhiệm Trung tá Phạm Văn Liễu làm Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia [ vào ngày 23-2-1965, thay Đại tá Trần Thanh Bền ] và ông cũng kịp thời ra lệnh Trung tá Liễu bắt giữ những kẻ cầm đầu Ủy ban Vận động Hòa bình và Phong trào Dân tộc Tự quyết, trong đó có Trương Như Tảng và bà Ngô Bá Thành.

➯ Ngày 19-3, Phạm văn Huyến và hai kẻ cầm đầu khác [ ký giả Cao Minh Chiếm và giáo sư Tôn thất Dương Kỵ ] bị trục xuất qua cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị và giao cho Cộng sản Bắc Việt. Những hội viên còn lại của Phong trào Hòa bình này [ gồm 21 bị can ] bị đưa ra Tòa án Mặt trận Quân khu Thủ đô & Vùng III Chiến thuật xử án chiếu theo các điều khoản của Sắc Lệnh ngày 7-8-1964 do Thủ tướng Nguyễn Khánh ban hành. Phiên tòa được mở vào tháng 8-1965. Một số được tha bổng còn Nguyễn Long và 3 người khác bị tống giam. Bà Ngô bá Thành và Trương như Tảng được hưởng án treo. [ trích #Thời Luận ngày 5, 6-8-1965: Phiên toà khai diễn ngày 3, bế mạc ngày 4 tại Pháp đình Quân sự, số 3 bến Bạch Đằng Saigon; Nguyễn Long: 10 năm khổ sai, 5 năm biệt xứ; Trần hữu Khuê: 20 năm khổ sai; Nguyễn quý Hương: 10 năm khổ sai. Cả ba đều can tội danh “phá hoại tinh thần Quân đội vả Quốc dân”, “lập Hội bất hợp pháp” Trương như Tảng: 2 năm tù treo về tội “phá rối cuộc trị an”; Phạm thị thanh Vân, Trịnh đình Thảo được tha bổng. ]

Mặc dù cú đụng độ lần này giữa Chính phủ với nhóm đối lập thiên tả không đạt được mục tiêu mà NLF đề ra là dọn đường cho một tiến trình điều đình, hoặc ít ra cũng ngăn chặn người Mỹ đổ quân ồ ạt vào miền Nam, nhưng nó vẫn được việc. Đó là nó đã đẻ ra xu hướng lên án "việc đàn áp" của Chính phủ Việt Nam ra khắp thế giới. Luận điệu đả kích này sẽ còn dương cao một cách hết sức phường tuồng suốt nhiều năm tháng khi giới phê bình cho rằng Chính phủ chụp mũ Cộng sản bất cứ ai tìm kiếm giải pháp hòa bình và rồi quấy nhiễu hoặc bỏ tù họ. Kiểu lên án này – cho rằng Mỹ đang yểm trợ một chế độ độc tài – trở thành một trong những cái cớ chủ yếu của phong trào phản chiến toàn cầu. Họ thản nhiên vu vạ bêu xấu việc VNCH chống điều đình, trong khi đó cứ nhắm mắt làm ngơ bàn tay của đảng Cộng sản dùng chiêu bài đòi hòa bình để tranh dành quyền thống trị cả nước, lấy chiêu bài đó phụ hoạ cho phong trào phản chiến ồn ào nhưng thực chất là nhắm mục đích đánh đổ quyền hành chính danh của Chính phủ Nam Việt Nam.
Từ trước black April, những gì Chính phủ VNCH khẳng định khi trỏ tới bọn Hội nhóm, Phong trào Cộng sản đội lốt này, đều hoàn toàn xác đáng. Cũng đúng luôn với hầu hết những thành phần đối lập sống tầm gởi trong lòng miền Nam, vì nhiều kẻ cầm đầu cái phong trào đòi hòa bình mới toanh kia đều là cán bộ chìm của Cộng sản.
Sau black April, Cộng sản mới bạch toẹt hết cả ra trong một quyển sách chính thức của chúng, trong đó kê rõ Nguyễn Long đã là đặc vụ Cộng sản tuốt từ thời năm 1948, và rằng: “ông được giao nhiệm vụ tiến hành các hoạt động bí mật ở Huế. Từ năm 1953 đến năm 1972, ông là hội viên của Hội Luật gia tại Sài Gòn, làm cố vấn luật pháp và các chức vụ khác. Nhờ đó ông ta được khoác một lớp vỏ bọc để tiến hành các hoạt động nội tuyến cho cách mạng trong lòng địch”.

➯ Nếu bảo Thích Quảng Liên không phải là Cộng sản, thì một trong những đặc vụ chìm của NLF gây nhiều lũng đoạn nhất là Trịnh Đình Thảo [ 3 ], một luật sư, lại là Phó Chủ tịch "Phong trào Tranh đấu Bảo vệ Hòa bình" của Quảng Liên. Theo hồi ký của Trịnh Đình Thảo, ông ta cũng là một tay hoạt động nội tuyến từ cuối những năm 1940. Thảo có nói úp mở rằng mình từng tham gia phong trào Phật giáo Tranh đấu trong các cuộc biểu tình chống Diệm và để cho người biểu tình dùng trang trại nhỏ của ông ta làm nơi ẩn náu an toàn. Thảo, kẻ chịu làm bàn đạp cho việc bày ra cái Ủy ban Vận động Hòa bình của Long và Huyến, cũng bị bắt, bị đưa ra Toà xử nhưng được tha bổng (cùng với Phạm thị thanh Vân hồi năm 1965, như trên đã đề cập).

➯ Ngày 23-6-1967, Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia VNCH đã tổ chức một cuộc họp báo và cho công bố bản chụp tài liệu của một nhân vật Việt cộng cao cấp giao nộp và cung khai khi y bị Cảnh Sát bắt giữ từ trước. Nội dung chánh của Tài liệu đó của Việt Cộng là một mưu đồ, nêu rõ cách thức chi tiết nhằm thôn tính miền Nam bằng võ lực kết hợp với các phong trào Cộng sản đội lốt xách động dân chúng biểu tình làm loạn. Tổng Nha Cảnh Sát cũng cho biết, hiện nay, cơ quan An Ninh của VNCH đã triệt hạ gần hết những cơ sở hoạt động của VC tại nội thành do đó chúng chẳng còn gì để có thể thực hiện mưu đồ đó.

➯ Ngày 30-6-1967, Tổng Nha Cảnh Sát lại loan báo thêm nhiều tin tức quan trọng mới trong đó cho biết đã phá vỡ hoàn toàn tổ chức Trí Vận của VC tại đô thành, đã bắt được từ trước, ngày 25-6-1967: Trương Như Tảng (Tổng kiểm soát Công ty Đường Việt Nam), tên VC Lê ngọc Lân tự Ba Trà, Phó trưởng ban Trí vận khu ủy Saigon-Gia Định; và hiện nay bắt được thêm: Trịnh đình Thảo, luật sư; Đinh Xáng, kỹ nghệ gia, Hồ văn Bửu, kỹ sư.
Những tên VC và nhân vật ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản tức bọn thân cộng nằm vùng hoạt động nội tuyến cho Cộng sản đều cung khai (cung từ đều được Tổng Nha Cảnh Sát chụp lại hết và cung cấp cho báo chí) rằng, chúng được lệnh ráo riết thành lập thêm nhiều phong trào dưới danh nghĩa là «hòa bình» để chui vào đó công khai hoạt động xách động quần chúng đi theo Cộng sản. Loại phong trào «hòa bình» na ná như thế này hoặc các tư tưởng «hòa bình» tương tự như thế trong lòng miền Nam được người Quốc Gia gọi là «bọn Ngụy Hòa».

➯ Ngày 20-4-1968, khi khói lửa của cuộc đánh trộm Tết Mậu Thân của cộng sản còn chưa kịp lắng thì một đám người xuất hiện tại thủ đô Saigon xưng danh thành lập "Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình", thực chất đây là một tổ chức Ngụy Hòa Cộng sản trá hình, và bọn này đã bị bắt. Những tên đứng đầu của Tổ chức này gồm Trịnh đình Thảo, Chủ tịch (nhờ được tha bổng, ngay sau khi trận VC tổng công kích Tết Mậu Thân, Trịnh đình Thảo bèn trốn vô bưng đi theo Cộng sản), Thích Đôn Hậu, Phó chủ tịch (Thích Đôn Hậu từ Huế đi theo Cộng sản luôn ngay trong đợt VC tổng công kích Tết Mậu Thân), Tôn thất Dương Kỵ, Thư ký (đã bị trục xuất ra Bắc hồi năm 1965).

➯ Ngày 12-7-1968, Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Vùng III Chiến thuật tại Saigon đã nhóm phiên xử 10 tên thuộc "Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình". Tất cả bọn này đều bị lãnh án tử hình và tịch biên gia sản, kể cả Trịnh đình Thảo và Tôn thất Dương Kỵ (xử án và tuyên án khiếm diện), ngoại trừ Thích Đôn Hậu (cũng bị xử khiếm diện nhưng không tuyên án tử hình).

──✿──

[ 1: Có một số linh mục Công giáo ở miền Nam Quốc Gia - VNCH - thân cộng hoặc làm tay sai cho Cộng sản thậm chí bí mật kết nạp Cộng đảng luôn. Thiệt là oan nghiệt!
Những cái tên Cha xứ Catholics mặc áo đen ở VNCH hoạt động rôm rả, đình đám công khai cho Cộng sản nổi bật ngoài Phan Khắc Từ có thể kể: Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần, và Vương Đình Bích. Bên cạnh các ông áo đen này, có 2 ông nổi cộm khác là Chân Tín (Dòng Chúa Cứu Thế, 38 Kỳ Đồng, Saigon) và Nguyễn Ngọc Lan.
Nguyễn Ngọc Lan còn lưa lại 1 câu nói tuyệt kỹ giang hồ, đó là: "chế độ Cộng sản miền Bắc là một chế độ KHÔNG CÒN MỐI MỌT"! Tương truyền, ông Lan nói câu này ở Dalat trong một lần hội tụ các tay trí thức, Sinh viên Học sinh thiên tả, phản chiến, trong lần đó có cả Trịnh Công Sơn, đâu khoảng 1966 - 1967.

Năm 1974, có 1 ông áo đen khác bỗng nổi lên chống chính quyền Quốc Gia, cũng với chiêu bài chống tham nhũng, là ông Trần Hữu Thanh. Ông Thanh câu kết với Nguyễn Cao Kỳ và các thế lực đang bị ra rìa khỏi sân khấu chính trị miền Nam, được người Mỹ hậu thuẫn sau lưng, bịa ra những tài liệu tham nhũng tố giác Chánh phủ Tổng thống Thiệu, rôm rả đình đám với cái gọi là "Bản Cáo Trạng Số 1", trong đó toàn là những chứng liệu phịa, một phần do Cộng sản mồi cho, một phần do CIA Mỹ mồi cho (với dụng ý xô đổ chính phủ VNCH bởi vì Mỹ xô mãi mà không ngã) để Mỹ hoàn thành nước bài Tháo Chạy (do Kissinger và Nixon đi tiếp nước bài của Johnson (từ 1965 - 1968 bằng những cuộc đi đêm với Cộng sản Bắc Việt do thực dân Pháp cho mượn đất ở Ba Lê làm chỗ chứa) ngay từ khi Nixon lên nhậm chức Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 1 (1968 - 1972).


[ Để biết thêm đầy đủ chi tiết việc Mỹ xô đổ VNCH để tháo chạy, mời bạn đọc Post Vụ Tướng Lavelle năm 1972: Vết Nhơ Mở Màn Tấn Tuồng 'Đồng Minh Tháo Chạy' của Mỹ by Le Tung Chau, Oct. 10, 2024. ]

Khi Việt cộng dép râu nhào vô được Dinh Độc Lập vào black April rồi thì các ông áo đen này [kể cả hàng đống ông áo vàng mang danh nghĩa Phật Giáo] bị VC tỉa từng tên một. Trong đó, số phận bi thảm nhứt phải kể là ông Thích Thiện Minh, đệ của Thích Trí Quang, bị VC đánh đến chết năm 1977. Còn về nhì thê thảm là ông Trần Hữu Thanh, bị VC đày ra Bắc cô lập trong 8 năm. Đến cuối thập niên 1980 ông Thanh mới được thả lỏng khi đã tuổi già thân bịnh. Ông Thanh chết tháng 10 năm 2007 ngoài Bắc một cách âm thầm không kèn không trống.

Tạm tóm tắt như vậy để nói rằng, những kẻ hoặc ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, hoặc hoang tưởng cho mình là ông trời ông thánh, đang vui hưởng Tự do đang được trọng vọng không ai dám động đến cái lông chưn, thì không ưng, lại ưng bắt tay với Quỷ dữ Cộng nô, rước chúng nó vô đốt nhà phá bàn thờ, rồi im mồm chết trong nhục nhã (như ô. Thích Trí Quang là 1 điển hình nhục nhã rõ nét).



[ 2: Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra đời (1964), Thích Quảng Liên là Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ Pháp sự (Văn hóa - Giáo dục - Xã hội). Ông cũng là người sáng lập hệ thống Trường Bồ Đề (tư thục) khắp miền Nam và là Hiệu trưởng Trường Trung học Bồ Đề Sài Gòn - Chợ Lớn.
Sau black April, Quảng Liên im hơi lặng tiếng không dám hé môi chống lại những bất công và đường lối độc tài vô nhân đạo của Cộng sản cho đến năm 2000 Quảng Liên mới được sang Mỹ thăm học trò cũ là Thích Chơn Thành, từ năm 2008 có chân trong Hội Đồng Trưởng Lão Viện Tăng Thống của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (ở hải ngoại), vốn là Giáo Hội đã từng ăn bã Cộng sản và hung hăng chống chính quyền Quốc Gia trước black April 1975 để rồi bị Cộng sản đàn áp, dẹp bỏ vào năm 1981. Khi đến Mỹ, Thích Quảng Liên mới lên tiếng thóa mạ Cộng sản, Ôi! Thật là một vở bi hài kịch rẻ tiền và hạ cấp của những tên giặc trọc!!! ]

[ 3: Cuộc đời Trịnh đình Thảo thật là vô cùng bi đát:
Căn nhà và khu đất rộng của Trịnh đình Thảo nằm trên đường Công Lý (số 192) Saigon, là gia sản của Thảo bị Tòa Án VNCH tịch biên.
Sau black April, Thảo từ trong bưng Cộng sản ra lại đô thành nhưng Căn nhà và khu đất đó của Thảo đã bị tà quyền Cộng sản chiếm lấy. Thảo cầy cà cầy cục xin lại nhà nhưng vô hiệu.
Năm 1986, Thảo chết. Căn nhà và khu đất đó vẫn không đòi lại được.
Đến năm 2020 tức đã 45 năm sau khi CSBV cướp được Saigon, bây giờ đã trôi liên tiếp tới 2 đời con rồi cháu của Trịnh đình Thảo xin đòi lại nhà và đất nhưng đều vô vọng, không đòi lại được gia sản của cha ông mình.
Còn gì bi đát hơn cho những kẻ ngu dại nghe theo cộng sản???


❊❊❊

[ **: LTC CHÚ THÍCH: Không chỉ phi lý mà tệ hơn là, những thành phần nghe lời ngon ngọt của Cộng sản đề đấu tranh chống Chính quyền Quốc gia đã bị lọt vô tròng lừa bịp của Cộng sản Bắc Việt quá dễ như một đứa con nít.
Như một bảng tạm kê làm bổ túc một phần nào cho tập hồ sơ còn chưa đầy đủ của cái thực trạng bị Cộng sản lừa bịp này, dưới đây là một đoạn trích từ Phan Nhật Nam — Chương chót-Chương 19: "NHỮNG LỜI KẾT" là phần viết thêm khi ông cho tái bản thiên Bút Ký Tù Binh và Hòa Bình của ông, do NXB SỐNG tại Hoa Kỳ, 1995 [ ấn bản lần thứ nhất do NXB Hiện Đại, Saigon, 1974 ]
Bảng tạm kê của Phan Nhật Nam cho chúng ta nhìn rõ thêm thực trạng rồ dại cùng thân phận bi đát của đám người u mê hoang tưởng này:


. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Dân Tộc Việt đồng bị xiên ngược trên giàn lửa bởi chính những người đồng chủng được ngụy danh nên thành “ Người cộng sản Việt Nam ”. Chung bàn tiệc máu kia còn xuất hiện vô số những người rất mực hân hoan và kiêu hãnh; họ lạc quan và chủ quan một cách bất bình thường rất đỗi kinh ngạc - Những kẻ được gọi là thành phần tiến bộ, ưu tú của miền Nam.

... Ngày 24 tháng 7, 1973, tại địa điểm trao trả tù binh ở Lộc Ninh, những người tuổi trẻ như Võ Như Lanh, Trịnh Đình Ban, Cao Quế Hương, Trần Thị Lan, Trần Thị Huệ... ngồi dưới gốc cây cao su vỗ tay hát lời ca hàm xúc... “ Nếu là chim tôi sẽ là một loài câu trắng. Nếu là hoa... Sẽ là một đóa hướng dương. Là người, sẽ chết trên quê hương tôi!!
Suốt hai thập niên 70, 80, những người tuổi trẻ đấu tranh cho Hòa Hình, Tự Do, Hạnh Phúc, Công Bằng, Huynh Đệ kia..., những người đã cùng vỗ tay hòa nhịp với Trịnh Công Sơn hát “... Từ Bắc vô Nam tay lại nắm tay...” Nối vòng tay lớn mừng “ bộ đội cách mạng giải phóng Sài Gòn ”; những người tay mang băng đỏ như Cung Tích Biền, Nguyễn Hữu Đống ( Chủ Tịch sinh viên Đại Học Kiến Trúc ), Kim Cương đi lùng Ngụy, bắt “ văn nghệ sĩ Sài gòn phản động ” trong buổi sáng ngày 30 tháng 4, năm 1975... Tất cả những người nầy đều được chứng kiến, hoặc tự thân dự phần vào cuộc “ vượt chết ” bi tráng kỳ vĩ của Dân Tộc Việt - Hai triệu người xé thân trên đường vượt biên-vượt biển với cái giá máu sáu trăm ngàn người chết.
Người Việt ra đi từ mũi Cà Mau đến biên giới sáu tỉnh phía Bắc... Hai đứa bé tuổi vừa quá lên mười vượt biển với chiếc thuyền thúng, hướng về Hồng Kông. Bà ngoại ôm cháu chết nghẹt trong chiếc ghe bị công an bắn chìm nơi cầu Rạch Chiếc ngay trên Xa Lộ Biên Hòa.
Không một tiếng lời nào của tuổi trẻ, của văn nghệ sĩ ở Sài Gòn, ở Việt Nam nói về Một của tổng số Sáu Trăm Ngàn lần chết đau thương này.
Trịnh Công Sơn thêm một lần nổi tiếng là người tài hoa lãng mạng với bài hát “ Huyền Thoại Mẹ ” có lời dạo đầu... “ Mẹ ngồi dưới hầm sâu nghe từng đêm đạn nổ...” Anh ta cũng có Người Mẹ hóa điên vỗ tay hoan hô Hòa Bình chiều đi qua Bãi Dâu, nơi CSBV chôn sống người ở Huế sau Tết Mậu Thân 1968, khi người Cộng sản rút đi.

NGƯỜI CHỈ MỘT LẦN SỐNG.
NGƯỜI CHỈ MỘT LẦN CHẾT.
NGƯỜI CHỈ CÓ MỘT NGƯỜI MẸ.
CÓ NHIỀU MẸ LÀ MẸ NUÔI-ĐÓ LÀ CON HOANG.

Năm 1990, ông dân biểu một thời nổi tiếng đối lập chống 'độc tài Nguyễn Văn Thiệu': Lý Quý Chung, Bộ Trưởng Thông Tin cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng Hòa-miền Nam Quốc Gia, khi trả lời báo chí thiên tả Pháp, đã nói lên niềm hân hoan của người trí thức dưới chế độ xã hội chủ nghĩa “...Hôm nay có điều kiện để viết hơn bao giờ hết!! ” Người này đã nói thật - Anh ta là người viết chuyện đá banh khéo nhất [ lấy bút danh là Chánh Trinh ], cũng là chủ tiệm ăn đông khách nhất của Sài Gòn. Có một điều người nầy quên kể ra, anh ta là thành phần thứ ba - Đã một lần thuộc lực lượng tranh đấu cho Hòa Bình và Hòa Giải Dân Tộc. Danh xưng đưa đến sự nghiệp vinh quang của hiện tại. Thành Phần Thứ Ba, đứa con hoang đẻ vội mà người Cộng sản đã đạp xuống dưới đế dép lốp xe hơi một cách thậm tệ khinh miệt ngay trong buổi sáng ngày 30 tháng 4, 1975.

Cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng. Cái gọi là Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam cùng với những Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo, Lâm Văn Tết, Trần Văn Trà, Nguyễn Hộ, Nguyễn Thị Bình, Dương Huỳnh Hoa... tất cả cũng đã cùng bị tống chung vô hố rác vô dụng và tầm phào, đừng nói gì cỡ Nguyễn Long, Tôn Thất Dương Kỵ, Huỳnh Văn Trọng, Phạm Thị Thanh Vân ( Vợ Ngô Bá Thành ).
Riêng những kẻ ăn ké đồ thừa “ cách mạng chống Mỹ cứu nước ” - loại Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Lý Chánh Trung... tức đám ruồi nhặng vây vo quanh tờ Đối Diện; báo Tia Sáng của nhóm Ngô Công Đức... thì được một năm ân huệ. Sau năm 1976, hai tờ báo này nhận lệnh đóng cửa; những kẻ gọi là “ trí thức cấp tiến yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội...”, thứ chuyên viên xuống đường “ đòi quyền sống và cải thiện chế độ lao tù ” ở đường phố Sài Gòn suốt thời gian của 1973, 1974 được nhận chức đại biểu nhân dân hữu danh vô thực. Để rồi tất cả đồng bị ném đi như một loại cặn bã tồi tệ phải loại trừ khẩn cấp - Nếu cần thiết cho vào trại cải tạo thì cũng không ngại ngùng!
Điều đơn giản tàn nhẫn này không lạ:
Hãy xem gương Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường... Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm có thiếu mặt ai trong chín năm kháng chiến chống Pháp?! Chống Mỹ cứu nước, chống 'tham nhũng Nguyễn Văn Thiệu' kiểu các linh mục cấp tiến dòng Chúa Cứu Thế có là bao công trạng mà đòi chuyện đền bù. Dòng Chúa Cứu Thế ở bãi biển Nha Trang bị đem biến thành phòng ngủ và chỗ giải trí - Trừng Phạt của Thiên Chúa hiện thực nơi năm tháng đang phải sống. Ngay hôm nay.
Cũng năm 1990 nầy, Huỳnh Tấn Mẫm bị hạ tầng công tác vì vợ đi buôn lậu, móc nối tham nhũng, hối lộ. Chức vụ có được cũng chẳng cao sang ghê gớm gì. Ngang với một chức Trưởng ty. . . . . . . . . . . . . . . .


$pageOut$pageIn
Phân đoạn 12

#Tien Tuyen May 18, 1971 trang ba
Tù binh Cộng sản lên án chiến thuật biển người của CSBV
#Tien Tuyen May 18, 1971 trang ba
Tù binh Cộng sản lên án chiến thuật biển người của CSBV
✦ Quân Lực VNCH là lực lượng duy nhất có thể đánh gục Cộng quân tại chiến trường trắc nghiệm Kampuchea


CHIẾN TRƯỜNG KPC 17-5. Tin từ ở chiến trường cho biết hiện nay chưa một ai có đủ thẩm quyền lên tiếng về chiến thắng quân sự tại chiến trường máu lửa KPC. Đó là việc đã hạ gục các lực lượng chính qui BV. Một lực lượng đang được thế giới ... mô tả là «quỷ quyệt» với dã tâm thực hiện cho mưu đồ xâm lược của họ dưới bất hình thức nào. Trong đó phải kể đến 1 tội ác tàn bạo nhất là việc tung quân vào «lò sát sinh» Kampuchea hàng chục ngàn quân trong chiến thuật thí quân biển người của họ bởi các cuộc giao tranh đẫm máu với Quân lực VNCH tại đây.
Nhưng dù muốn dù không thì vấn đề đối diện với binh đội quỷ quyệt CS/BV trực tiếp tại chiến trường đã được nêu ra với Quân lực VNCH, là đối thủ của 4 Sư đoàn chính qui BV đang tham chiến tại vùng này trước khi có 1 bản kết luận chính xác hợp thời để xác định vị trí địch và ta, lực lượng nào chiếm phần tiện nghi chung cuộc kết thúc trận chiến trong vinh, nhục v.v. Trên đây là những nét chấm phá chính của cuộc diện chiến tranh trận chiến trong vinh, nhục …

Trên đây là những nét chấm phá chính của cuộc chiến tranh Đông Dương. Trận chiến trắc nghiệm giữa binh đội BV - VNCH. Một trận chiến thử lửa giữa phe CS và Thế giới Tự do trong «địa ngục trần gian» Kampuchea.

Còn quá sớm để nhận định chiến thắng của Quân lực VNCH tại Kampuchea.
Phái viên TV [ * ] từ Kampuchea trở về sau khi tham dự nhiều cuộc giao tranh ác liệt trên chiến trường Đông bộ Snoul. Trong dịp theo chân các lực lượng Bộ binh VNCH, một trong những cánh quân của Tướng Nguyễn văn Minh đang được tung vào chiến trường này để truy lùng 2 sư đoàn Cộng quân BV.
Người viết bài đã có những nhận xét, một cái nhìn khách quan về chiến thắng cuối cùng trong trận giặc thử lửa giữa binh đội BV và Quân lực VNCH.
Một nhận định tuy hơi sớm và chủ quan nhưng những chi tiết xác thực nhất tại chiến trường đã cho phép người viết bài được trình bày một kết luận hồi chung cuộc: «Quân lực VNCH là lực lượng duy nhất đánh gục binh đội BV tại chiến trường trắc nghiệm KPC trong thời gian tới đây».
Nếu như thắng trận này chưa đến hồi kết thúc là bởi những lý do đặc biệt của nó. Một vài nhận định mới đây cho hay chiến trường KPC là «mấu chốt đưa đến những quyết định trên bàn hòa đàm từ phía các lực lượng tham chiến tại KPC» ... Đây cũng là một trong những lý do đặc biệt khiến chiến trận Kampuchea vẫn còn kéo dài. Đồng thời cùng là những phác giác mới trước khi viết bài đưa ra nhận định còn quá sớm đáng lẽ chưa nên được đề cập trong lúc này.

Lý do thất trận của binh đội BV.
Người ta được biết trong các trận đánh nổi danh từ Hạ Lào vừa qua và chiến trường Kampuchia hiện nay, quân BV luôn luôn sẵn sàng thi hành các kế hoạch tàn bạo nhất trong các chiến dịch đánh phá của họ nhằm đối phó với hỏa lực phi pháo và khoảng 40 ngàn tay súng thiện chiến thuộc các Quân, Binh chủng VNCH tham chiến tại đây.
Cũng nên biết rằng, các lực lượng được chọn tham chiến ở cả 2 trận địa Hạ Lào và Kampuchea đều là những tay súng từ các quân binh chủng thiện chiến trong Quân lực VNCH.
Ngoài ra, các cấp chỉ huy quân sự cũng đã được trang bị hóa về kinh nghiệm chiến trường, quan niệm hành quân, tiếp vận, lãnh đạo chỉ huy trước khi họ nhận trọng trách.
Mục đích kể trên là không ngoài việc giúp cho cấp cấp chỉ huy có cái nhìn mới tổng quát về chiến lược, chiến thuật của CS đang áp dụng tại chiến trường ngoại biên hầu đối phó với địch. Trong đó còn phải kể đến việc gìn giữ mạng sống của binh sĩ là điều đáng quí.
Có lẽ không ai ngờ rằng yếu tố «nhân đạo» đã giữ vai trò quan trọng trong cuộc chiến máu lửa với quân chính qui BV tại đây. Lý do chính đã khiến Quân lực VNCH giữ được thế đứng lâu dài đối đầu với các chiến thuật tàn bạo mà binh đội CS đè xuống đầu các «đồng chí» của họ trong các trận chiến vang danh vừa qua.
Phải chăng đây là động cơ thúc đẩy khiến binh đội BV sa lầy tại chiến trường, trong các mưu đồ quân sự của họ mới thoạt ló dạng đã bị bẻ gẫy từ trong trứng nước.

Tại sao lại diễn ra tình trạng này?

Những tay đao phủ thủ trong cuộc chiến Đông Dương.
Trong khi đó, cấp chỉ huy quân sự BV lại là những kẻ giết người không gớm tay, là «Đao phủ thủ» xếp hàng thứ nhất trong lịch sử chiến tranh nhân loại. Chưa bao giờ người ta nhận thấy cán binh Bắc Việt lại chịu bị hy sinh nặng nề về nhân mạng kinh khủng như trong trận chiến Đông dương hiện nay. Hơn cả sự hy sinh của cán binh BV trong các trận đánh hồi Tết Mậu Thân tại VNCH mà dân chúng đã có dịp chứng kiến.
Nếu từ hậu phương những ai có dịp qua đây ghé thăm chiến trường Hạ Lào giai đoạn vừa qua và Kampuchea hiện nay, chính mắt nhìn thấy những phi vụ không tập khổng lồ của hàng chục phản lực cơ B52, hàng trăm phản lực cơ chiến đấu, bên cạnh đó là sự tham chiến hữu hiệu của trực thăng và hỏa lực pháo binh, thì mới thấy hình ảnh tàn bạo của chiến trường. Hình ảnh này đập vào mắt chắc chắn sẽ khiến những người dù không yếu tim cũng phải «mất hồn vía».
Chúng ta có thể nghe lời kể lại của những binh sĩ trực tiếp tham dự các trận đánh «mặt đối mặt» với Cộng quân thì sẽ hình dung thấy nguyên một bãi chiến trường trong đó sự thiệt hại của Cộng quân về quân số là không thể tưởng tượng được...
Cán binh BV bị chết bởi sự chống trả của binh sĩ ta thì ít, nhưng bị giết hại bởi hỏa lực phi pháo thì không biết đâu mà kể.
Tội cho binh đội BV là trong những cuộc giao tranh với ta, các cán bộ CS thường hay hối thúc họ nhảy vào những họng súng đã chờ sẵn. Cho nên, giải pháp duy nhất của họ - xem là phản ứng thông thường tại mặt trận - binh đội CS hoặc chọn lựa 1 trong 2 diễn kiện: Chấp nhận giao tranh để tìm cái chết; Hoặc chấp nhận đầu hàng mà hậu quả không biết sẽ đi về đâu. Đằng nào cũng nguy hiểm thì thà cứ chiến đấu trước rồi hậu xét. Một tù binh BV đã tiết lộ như vậy.

Hậu quả của chiến thuật thí quân biển người.
Đó là không kể những cuộc tấn công qui mô của họ vào các căn cứ hỏa lực của VNCH. Hậu quả ra sao thì dường như ai cũng biết. Xác địch phơi đầy trên hàng rào kẽm gai. Vắt vẻo trên ngọn cây. Sình thúi bên giao thông hào v.v...
Một tù binh BV bị bắt tại mặt trận mới đây đã lên án nặng nề về chiến thuật thí quân của cấp lãnh đạo BV. Nhưng chỉ là những lời lên án như muối bỏ biển trước một sách lược xâm lăng của nhà cầm quyền miền Bắc. Lúc thì núp dưới chiêu bài «Giải Phóng miền Nam»; lúc dưới chiêu bài «giải phóng Khờ Me»; Hay «Nhân dân giải phóng Lào» như chúng ta đã thấy. Tiếc rằng tù binh BV đã chết trước khi lời lên án của đương sự kịp đến tai tập đoàn lãnh đạo Bắc Việt — những tên đao phủ thủ giết người không gớm tay. Và dĩ nhiên, có thể đây là 1 trong những lý do chính dẫn đến sự thất trận của binh đội CS/BV tại chiến trường Kampuchea.
Một hậu quả của việc chủ chiến vô nhân đạo, một địa ngục trần gian mà dường như ai cũng đoán được phần thắng bại ngã về phe nào trong cuộc chiến Đông dương (TV).

[ * TV = Hãng Tin Việt do ông Đỗ Nguyên Chi làm Giám Đốc. Trong làng báo chí miền Nam, khá nhiều tờ báo lớn, có uy tín, thường hay dẫn lại tin từ Hãng Tin Việt và hay viết tắt TV ở đầu hoặc cuối bản tin.



#Tien Tuyen May 26, 1971 trang nhất
#Tien Tuyen May 26, 1971 trang nhất
QK3/Cộng Sản tại U Minh đánh điện ra Bắc xin bổ xung quân số và tiếp vận
TRUNG ĐOÀN 18B/CSBV XUỐNG U MINH
ĐỂ TĂNG VIỆN CHO ĐỒNG BỌN BỊ ĐÁNH TAN GIỮA ĐƯỜNG
▣ Chiến sĩ « Sét miền Tây » nỗ lực tạo chiến công đón mừng sinh nhật thứ 12 của Đại Đơn Vị.

◙ NGUYỄN-ĐỨC-HIẾU

CÀ MAU (NĐH). — Sau nhiều tháng bị cầm chân tại vùng Thất Sơn, trong tháng qua Trung đoàn 18B CSBV có 2 đơn vị trực thuộc xâm nhập được xuống vùng rừng rậm U Minh theo đường dây 1C từ mật khu Trà Tiên qua các trạm giao liên, nhưng đã bị lực lượng hành quân của SĐ21BB chặn đánh những đòn chí tử khiến các đơn vị Cộng sản phải tan rã hoàn toàn ngay trên đường xâm nhập U Minh.
Theo lời cung khai của các tù binh CSBV vừa bị bắt sau các trận đụng độ mới đây cho biết, Trung đoàn 18B có nhiệm vụ bằng đủ mọi cách phải xâm nhập vào U Minh để bổ xung quân số cho Quân khu 3 Cộng sản trước mùa khô 1970-71.
Tưởng cũng cần ghi lại là, trước đây sau khi bị Sư đoàn 21BB liên tiếp giáng lên đầu nhiều trận đánh « sấm sét », Quân khu 3 Cộng sản xâm lược và các Trung đoàn chủ lực BV đã bị dồn vào thế bị động không còn nơi trú quân an toàn nào trong U Minh, một vùng rừng rậm hơn 2.800 cây số vuông.
Từ đó, các cán binh Cộng sản xâm lược phải phân tán mỏng trước tình trạng thiếu hụt cả quân số và tiếp vận trầm trọng. Tướng Cộng sản Sáu Nam, chỉ huy trưởng Quân khu 3 CSBV đã phải đánh điện khẩn cấp về Hà Nội xin bổ xung quân số và tiếp vận cho Quân khu 3 Cộng sản trong sự nguy ngập hiện tại.
Lãnh nhiệm vụ bổ xung quân số cho Quân khu 3 Cộng sản xâm lược tại vùng U Minh ở miền Cực Nam nước Việt, Trung đoàn 18B C SBV đã được lệnh tìm cách xâm nhập cho được xuống vùng U Minh trước mùa khô; nhưng nay đã sang mùa mưa mà Trung đoàn 18B mới chỉ đưa được 2 đơn vị 35 và 36 xuống tới U Minh mà bị chặn đánh tan rã tại vùng Kiên Bình Tỉnh Chương Thiện.
Ngoài ra, theo tin tình báo ghi nhận: Bộ phận của bộ chỉ huy Trung đoàn 18B và Đại đội Trinh sát của đơn vị CSBV này cũng hiện có mặt tại vùng rừng rậm U Minh. Lực lượng hành quân của SĐ21BB dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Thiếu tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, đang ngày đêm săn tìm dấu vết Trung đoàn 18B để tiêu diệt chúng làm quà đón mừng sinh nhật thứ 12 của đơn vị vào ngày 1 tháng 6 sắp tới.
Nhiều tin tức chiến thắng dồn dập từ các nơi gọi về Bộ chỉ huy hàng ngày đã làm nức lòng người chiến binh mang trên vai áo huy hiệu « Sấm Sét ». Từ ngày 2-5 đến nay, nhiều địa điểm đụng độ xảy ra được ghi nhận trong vùng hành quân tại vùng Vàm Răng, Kinh Xáng, Lung Cô Sáu, Xóm Rẫy v.v...
Kết quả chung được ghi nhận sau nhiều trận đụng độ được mô tả là dữ dội trong khoảng thời gian từ ngày 2-5 đến ngày 25-5, các lực lượng hành quân tham dự giai đoạn 2 chiến dịch U Minh do Sư đoàn 21 BB tổ chức đã loại khỏi vòng chiến trên 200 địch quân và tịch thu 175 vũ khí đủ loại.
Ngoài ra, nhiều tài liệu và đạn dược của Cộng sản BV cũng bị lực lượng hành quân của Sư đoàn 21 BB tịch thu. Hiện cuộc hành quân truy kích theo dấu vết của Trung đoàn 18B Cộng sản BV đang được tiếp diễn.



#Tien Tuyen May 27, 1971 trang nhất
#Tien Tuyen May 27, 1971 trang nhất
Trực thăng bị trúng đạn
THIẾU TƯỚNG TRƯỞNG VÀ TƯỚNG MỸ THOÁT NẠN
✦ Đây là lần thứ 5, Thiếu Tướng Trưởng thoát nạn trực thăng rớt


SAIGON (VTX). — Thiếu tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân đoàn IV kiêm Quân khu IV, sáng 25-5 đã thoát hiểm khi phi cơ chở ông trúng đạn Cộng quân bắt buộc phải đáp xuống rừng U Minh ở 8 cây số phía Bắc Cà Mau.
Trung tá Đỗ Việt, phát ngôn viên quân sự cho hay chiếc phi cơ nói trên là loại trực thăng phản lực UH-1 do phi hành đoàn Hoa Kỳ điều khiển. Cả phi hành đoàn này đều bị thương trong khi Thiếu Tướng Ngô Quang Trưởng và tướng Mỹ Cushman, Cố vấn trưởng tại Quân đoàn IV, đều được an toàn.
Ngay sau đó, 1 trực thăng khác loại UH-1 dành riêng cho Thiếu Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư Lệnh Sư đoàn 21 BB, đã tức tốc được phi hành đoàn VN bay đến cứu thoát Thiếu tướng Tư lệnh khỏi vùng hiểm nghèo.
Được biết, đây là lần thứ 5 Tướng Ngô Quang Trưởng thoát nguy trong khi dùng trực thăng thị sát chiến trường.



#Tien Tuyen May 28, 1971 trang nhất
#Tien Tuyen May 28, 1971 trang nhất
TẢO THANH Ở DƯỚI VÙNG PHI QUÂN SỰ
Khám phá 1 hầm hỏa tiễn hạng nặng chưa từng thấy
★ 44 người thiệt mạng vì CS khủng bố tại Cao nguyên


SAIGON (TV) 27-5. — Các lực lượng VNCH hôm thứ Tư trong khi tảo thanh ở dưới vùng phi quân sự đã tìm thấy 1 hầm chứa hỏa tiễn hạng nặng, 1 loại hỏa tiễn mà hai tướng lãnh đồng minh cho biết họ chưa từng nhìn thấy nó trên chiến trường miền Nam VN.
Bộ binh VNCH đã tìm thấy hầm chứa 18 hỏa tiễn lạ ở phía dưới vùng phi quân sự 5 cây số sau khi hạ 60 Cộng quân trong suốt một trận đánh dữ dội diễn ra ở gần đó. Ngoài ra cũng trong khu vực này, bộ binh VNCH còn tịch thu được 120 hỏa tiễn 140 ly, khoảng 1 ngàn quả mìn, thủy lôi và hơn 1 ngàn đạn súng không giật. — (TV).

44 người thiệt mạng vì Cộng sản khủng bố
PLEIKU (TV) 27-5. — Các viên chức chính phủ hôm thứ Tư cho biết có ít nhất 44 người đã bị thiệt mạng trong 1 loạt các cuộc tấn công khủng bố của Cộng quân vào những buôn làng của đồng bào sơn cước gần Pleiku, miền Cao nguyên Trung phần Việt Nam. Các cuộc tấn công này đã xảy ra đêm thứ S áu tuần qua và được 1 viên chức mô tả là cao điểm của lực lượng Cộng quân tại tỉnh Pleiku, nơi mà mới đây các cuộc tấn công khủng bố vào các làng mạc và thôn ấp đã gia tăng.
Các toán đặc công CS và các toán khủng bố đã nhất loạt mở các cuộc tấn công vào 4 ngôi làng và 1 ấp định cư. Số nạn nhân gồm có 16 thường dân, 18 NDTV, 6 Địa phương quân và 1 cán bộ tại ấp định cư. Ngoài ra còn có 29 người bị thương và 20 người mất tích hoặc bị cộng quân bắt đi. (TV).



#Tien Tuyen May 30_31, 1971 trang nhất
Mời Bạn đọc qua Post Đọc Báo Miền Nam 1965 - 1975 part I để đọc bài tường thuật Đại Hội Nhạc Trẻ tại Sân vận Động Hoa Lư, Saigon vào ngày 29-5-1971, đã đăng trên trang nhất số báo Tiền Tuyến này.

#Tien Tuyen May 30_31, 1971 trang nhất
Với sự yểm trợ hùng hậu của Không Quân, Q.L. Việt Nam Cộng Hòa đã hoàn toàn làm chủ chiến trường
KHÔNG CÒN BÓNG 1 TÊN CỘNG SẢN NÀO TRONG THỊ TRẤN SNOUL
★ 219 quân Bắc Việt bỏ xác sau 3 ngày giao tranh đẫm máu ▣ 3 Sư đoàn BV định tiến về biên giới VNCH đã bị chặn đứng.


SAIGON 29-5 (Tổng hợp). — Các nguồn tin quân sự ở Saigon hôm 28-5 đã cho hay rằng với sự yểm trợ vô cùng hùng hậu của không quân, pháo binh và các lực lượng thiết kỵ, lực lượng bộ binh VNCH đã hạ sát 219 quân BV sau 3 ngày giao tranh đẫm máu ở thị trấn Snoul, một cứ điểm có các đồn điền cao su ở đông bộ Kampuchea, nằm trên quốc lộ 7 cách Saigon 145 cây số về phía bắc, cách biên giới 16 cây số.
Nguồn tin quân sự mới nhất cho hay là hiện các lực lượng của quân BV đã bị đánh bật ra ngoại ô và quân VNCH hoàn toàn làm chủ tình hình trong thành phố.
Theo trung tướng Minh cho biết thì hiện tại vùng Snoul có khoảng 2 trung đoàn gồm 4000 quân BV hoạt động. Lực lượng VNCH trấn giữ thị trấn Snoul gồm 2000 quân thuộc Sư Đoàn 5BB nhưng số đó là chưa kể đến các lực lượng tăng phái.
Nguồn tin quân sự cũng cho biết rằng để giải tỏa áp lực của cộng quân tại Snoul, trong những ngày qua Hoa Kỳ đã tung hết lực lượng không quân đủ loại oanh tạc cơ từ B-52 đến các trực thăng chiến đấu, trong khi đó thì không lực VNCH cũng đã vận dụng đến 70% không lực chiến thuật.
Nguồn tin quân sự cho biết, trong các cuộc giao tranh mới, địch đã tung vào chiến trận nhiều tiểu đoàn trong đó có cả các lực lượng trừ bị.
Cũng theo nguồn tin quân sự, các oanh tạc cơ VNCH đã tấn công dữ dội các lực lượng quân BV tập trung ở cách Snoul 1.600 thước về phía Bắc, trong khi đó thì cùng với các oanh tạc cơ loại khác, các B52 cũng đã chuyển mục tiêu về Snoul để tấn công các trại hậu cần và các cứ điểm tiếp tế của quân BV đang hỗ trợ cho các lực lượng địch vây hãm Snoul.
Phía Hoa Kỳ cũng cho biết rằng trong 2 ngày qua, trực thăng Hoa kỳ đã thực hiện đến 600 phi vụ yểm trợ tại Snoul.

Giao tranh tiếp diễn ở ngoại ô Snoul
Theo tin của các thông tín viên chiến tranh ngoại quốc ở Nam Vang đánh đi cho hay thì đến hôm thứ Sáu, các cuộc giao tranh dữ dội vẫn còn tiếp diễn ở cách thành phố 500 thước.

Ác chiến 36 giờ tại khu chợ nhỏ
Nguồn tin quân sự cho biết, cộng quân đã xâm nhập vào và cầm cự ở khu chợ thị trấn Snoul 36 tiếng đồng hồ trước khi địch bị quét sạch khỏi cứ điểm này và rút ra ngoại ô.

Phi cơ đã san bằng một số tòa nhà xi măng cốt sắt ở trung tâm thành phố
Nguồn tin của AP cho biết rằng phi cơ Đồng Minh đã san bằng một số các tòa nhà lầu 2 tầng bằng xi măng cốt sắt ở trung tâm thành phố Snoul và hiện chỉ còn một dãy cửa hàng đứng trơ trọi.

Ngăn chặn 3 sư đoàn BV vượt biên giới vào VNCH
Quân BV có ý định tái chiếm Snoul?
Theo tin của UPI thì các nguồn tin ở Nam Vang cho hay rằng quân BV rất có thể sẽ làm dữ nhằm tái chiếm Snoul, một thị trấn mà địch đã chiếm từ nhiều năm, trước khi bị quân Đồng Minh hành quân qua Cambốt đánh bật ra cách đây 13 tháng.
Trung tướng Nguyễn văn Minh Tư Lệnh các lực lượng đặc nhiệm gồm 20.000 quân VNCH hiện đang hành quân ở Cambốt hôm 28-5 đã cho phóng viên AP biết rằng các cuộc hành quân tảo thanh và tấn công của quân VNCH hiện nay trên các quốc lộ 1, 7 và 13 ở Cambốt là để nỗ lực ngăn chặn không cho 3 sư đoàn quân BV trở lại chiến trường Nam VN.

—⚜—

Nhằm bẻ gãy kế hoạch nuôi quân của Cộng Sản
8 TIỂU ĐOÀN BỘ-BINH tiến vào Mật khu Đỗ-Xá
★ Một Tiểu đoàn trưởng cùng nhiều cán bộ cao cấp Liên khu 5 Cộng Sản, trong đó có một nữ bác sĩ, đã bị bắn hạ trong một hội nghị «tăng gia sản xuất»


QUẢNG TÍN (TV) 29-5. — Lần đầu tiên sau 6 năm, kể từ năm 1964, Sư đoàn 2 BB VNCH đã tung lực lượng hùng hậu gồm 8 Tiểu đoàn BB thuộc 3 Trung đoàn 4, 5 và 6 được trực thăng vận nhảy xuống vùng Tam biên giáp ranh tỉnh Kontum thuộc Mật khu Đỗ Xá của VC, nhằm bẻ gãy kế hoạch «Nông Súc» của Liên khu 5 Cộng Sản. Lực lượng VNCH bắt đầu cuộc hành quân đặc biệt này từ ngày 4-5 và kéo dài 21 ngày, trong đó 80 lần chạm súng với Cộng quân.
Tin tức cho biết trong đợt đầu tiên, các lực lượng VNCH đã chạm trán với địch quân tại một vùng rừng núi hiểm trở và lực lượng bộ binh đã nhảy xuống đầu một hội nghị cao cấp của Cộng sản đang bàn về kế hoạch «Nông Súc» của Liên khu 5, hạ sát tại chỗ 32 Cộng quân trong đó có 1 Tiểu đoàn trưởng tên là Công Thành cùng 10 cán bộ cao cấp khác, trong số đó có 1 nữ Bác sĩ tên là Nguyễn thị Thu Bồn, sinh quán tại Hà Nội, 30 tuổi, thuộc bệnh xá tiền phương Liên khu 5 VC. Ngoài ra lực lượng hành quân còn tịch thu 8 súng Colt K54.
Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4, Đại tá Lê Bá Khiếu, cho phái viên TV biết cuộc hành quân đặc biệt này nhằm hai mục tiêu: phá vỡ kế hoạch Nông Súc của Cộng Sản tại Liên khu 5 và làm giảm tiềm lực của Cộng Sản tại vùng Tam Biên, để giải tỏa áp lực của Cộng quân tại vùng giáp ranh Quân Khu II và I VNCH. Vẫn theo Đại Tá Khiếu thì đây là cuộc hành quân khó khăn và gay cấn nhất vì từ 6 năm nay chưa có lực lượng nào của ta nhảy vào vùng này.
Mặt khác, trong một cuộc thuyết trình trước phái đoàn báo chí trong và ngoài nước được Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 5 mới đến quan sát, Trung Tá Nguyễn Hữu Lữ, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 5 Bộ Binh cũng cho biết thêm là Cộng Sản tại Liên khu 5 đang gặp khó khăn về vấn đề lương thực, do đó Cộng Sản dồn nỗ lực tăng gia sản xuất. Theo vị sĩ quan này thì mỗi tháng Cộng Sản chuyển vận vào hai tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi 500 vũ khí đủ loại và ít nhất 5 tấn lương thực và dụng cụ khác. Theo báo cáo thì Cộng Sản hiện tồn trữ tại vùng này gần 3.300 khẩu súng lược được đưa vào từ miền Bắc Cộng Sản trong thời gian 6 tháng qua, cùng với 1.300.000 viên đạn.
Sau cuộc hành quân này, lực lượng VNCH đã phá vỡ ít nhất 20 ngàn tấn hoa màu, lương thực của Cộng Sản, hủy diệt 50 căn nhà và 1 xưởng quân nhu, hạ sát 30 cán bộ chuyên may áo quần cho Cộng quân. Cũng theo tin tức tình báo tiết lộ thì Bộ Tư lệnh liên khu 5 Cộng Sản đặt ngay tại Mật khu Đỗ Xá này, do tên tướng VC Chu Huy Mân tức Mạnh điều khiển, với Bộ Tham Mưu gồm có Phạm trọng Bình Đại Tá, Võ chí Công Tư lệnh Phó và Chính ủy Liên khu.
Tổng kết sơ khởi về cuộc hành quân này có 238 cộng quân bị hạ, 19 bị bắt sống; quân ta tịch thu 12 súng cộng đồng, 40 súng cá nhân và 6 máy truyền tin. Các lực lượng hành quân của ta đang tiếp tục truy kích những đơn vị thuộc hai Trung Đoàn 230 và 231 Vận Tải Cộng sản tại khu vực này. Có 1 Thượng cộng đã ra hồi chánh với quân đội Quốc Gia với cây đàn 2 dây và nói anh sẵn sàng giúp quân lực VNCH chỉ dẫn những vị trí có Cộng quân trú đóng. (TV)

—⚜—

#Tien Tuyen May 30_31, 1971 trang 3
CÁN BỘ CAO CẤP V. C. CỠI NGỰA NHƯNG PHẢI BỎ NGỰA CHẠY CÓ CỜ
★ Bộ Tư lệnh Quân khu 2 VC bị đánh tan ▣ Chiến thuật di động tối đa của Tướng Minh, Tướng Thịnh


SAIGON (THT) 29-5. — Phóng viên chiến trường THT vừa điện về cho biết các bộ Tư lệnh QK.30, Phân khu 2 và Phân khu Long An VC trên đất Miên đang lùi dần phía Tây Bắc sau khi 2 Chiến Đoàn thiện chiến của SĐ25BB được gửi đến với sứ mạng lùng và diệt lùng các bộ Tư lệnh cao cấp nói trên.
Tại Sâm Rong, Trung đoàn 429 VC, 1 Trung đoàn tương đối đầy đủ lực lượng, đã được lịnh dàn thành phòng tuyến ngăn chặn sức tấn công của Chiến Đoàn 46, 49 QLVNCH để bộ Tư lệnh Quân khu 30 VC có đủ thì giờ rút lui về hướng Tây Bắc.
Đoàn xung kích của Chiến Đoàn 46 chạm địch ngày đầu tại Tà Nốt với cấp Đại đội và Tiểu đoàn. Nhưng quân Cộng sản đã phải lùi sâu bởi hỏa lực khá hùng hậu của Thiết kỵ quân đội Quốc Gia.
Các bộ cao cấp VC hiện sử dụng ngựa để di chuyển đã phải bỏ ngựa mà chạy trong khu vực gần Tà Nốt. Chiến Đoàn 46 đã giết 5 con ngựa tại chỗ, thu được một số tài liệu, bản đồ loại nhỏ chứng minh cho biết là ngựa của cán bộ chỉ huy Cộng sản, có 5 tên cán bộ Cộng sản đã kịp chạy thoát.
Tại khu vực này, Cộng sản có 2 trạm quân y, phòng mổ, phòng cấp thuốc, và Trung tâm Huấn luyện do cục R Việt Cộng trực tiếp điều khiển.
Được biết những cán bộ đặc công Cộng sản xâm nhập vào các thị trấn và đô thành Saigon đều xuất thân từ Trung tâm này.

Chiến thuật di động của Tướng Minh, Tướng Thịnh
Vị Tư lệnh Quân khu 3 và Tư lệnh SĐ25/BB đang áp dụng chiến thuật di động tối đa, cho phép các đơn vị hành quân chỉ ở một địa điểm tối đa 3 ngày. Nhờ đó địch không có đủ thì giờ dùng trận địa pháo và vận dụng khả năng bao vây. Trực thăng được sử dụng để chuyển dụng cụ, đạn được và võ khí nặng, nhờ đó binh sĩ không phải chịu đựng quá nặng nề bởi tính chất lưu động này.

Việt cộng đang tiến tới Miên hóa chiến tranh
Tài liệu thu được trong thời gian hành quân cho biết số quân Khmer đỏ đào ngũ rất nhiều và lính thì quá trẻ (có 16 tuổi, thiếu kinh nghiệm chiến đấu, chỉ có ưu điểm là dễ dạy, dễ mê hoặc, dễ nhồi sọ). Một số cán bộ Cộng sản cấp Tiểu đội, Trung đội thâm niên thì thường có nhận xét thực tế và hoài nghi về chủ trương giải phóng miền Nam. Khi thấy có lệnh phải rút lui sâu vào nội địa Kampuchea (xa biên giới Việt Nam khoảng 50 cây số) họ đã bàn tán xầm xì: «Sao càng ngày càng xa đất Việt miền Nam, vậy thì biết bao giờ mới giải phóng».
Bộ Tư lệnh QK 30 Cộng sản đang nghiên cứu dự án hóa chiến tranh, viện cớ rằng Cán bộ VC càng ngày càng thiếu, hậu cần suy bại, không đủ lương thực cung cấp nên phải dùng Khmer đỏ chiến đấu trực tiếp với địch (VNCH) nhưng do Cán bộ VC chỉ huy và tổ chức. Hiện 1 tiểu đội VC đã có từ 1 đến 3 lính Khmer đỏ.
Đài kiểm thính của cán bộ hành quân của quân ta thỉnh thoảng bắt được tín hiệu trên hệ thống truyền tin liên lạc của VC, trong đó cán bộ VC gọi nhau và xin đạn dược vì hiện rất khan hiếm.
Chiến sĩ Chiến đoàn 49 quân đội Quốc Gia đang đối diện với Công trường 9 CSBV, 2 bên chỉ cách có 6 cây số đường chim bay.

Được biết, trong 1 tháng qua, các Chiến Đoàn VNCH đã diệt được 325 tên địch, bắt sống 26 tên; 8 ra hồi chánh; tịch thu 6 vũ khí cộng đồng, 76 vũ khí cá nhân cùng nhiều thực phẩm, đạn dược, chất nổ, quân trang quân dụng và tài liệu.



#Tien Tuyen Jun. 3, 1971 trang nhất
Lữ đoàn 3 Thiết kỵ và chiến đoàn 9 được lịnh tăng viện để « khai tử » Cộng sản tại Snoul
Trước khi lên trực thăng sang mặt trận KPC, Trung tướng Minh tuyên bố với BBĐPV
CHÚNG TÔI SẼ TRỞ LẠI SNOUL
Địch vào đó như đút đầu vô rọ
★ Dân chúng Snoul sẽ bị thiệt hại nặng nề về sinh mạng nếu trận đánh trong thành phố kéo dài. ★ Mặc dầu vào được thị trấn Snoul, Công trường của CSBV không thể xâm nhập lãnh thổ QK 3.

Tin điện của BBĐPV Phạm Quốc Hùng và Chinh Lữ

CHIẾN TRƯỜNG SNOUL, KPC (TT). — Tại Tây Ninh, trước khi lên đường tăng phái cho chiến trường Snoul, khi được hỏi về cuộc rút quân của Chiến Đoàn 8/VNCH ra khỏi thị trấn chiến lược này, Trung tướng Nguyễn Văn Minh đã tuyên bố rằng: «Chúng tôi sẽ trở lại Snoul sau khi tiêu diệt hết 2 Trung đoàn của Công trường 5 CSBV đang tham chiến tại đây.
Theo ông, «cộng quân tiến vào Snoul sau khi Snoul bỏ ngỏ thì coi như chúng đã đút đầu vào rọ. Để từ đó, Chiến Đoàn 8 và 2 đơn vị tăng viện là Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ và Chiến Đoàn 9/VNCH dễ dàng tiêu diệt chúng ».
Về danh từ «điều quân chiến thuật», Trung tướng Minh giải thích rằng, «Đó là một thuật ngữ-danh từ quân sự. Tuy nhiên, BTL/QĐ III trong cuộc rút quân ra khỏi Snoul phải có những mục đích chiến thuật của nó, đặc biệt là để bảo vệ sự an toàn cho các đơn vị, sau khi rút ra khỏi Snoul phải có những biện pháp cần thiết để bảo vệ tính mạng cho dân chúng Khmer trước những cuộc đụng độ trong thành phố.»
Sau đó, Trung tướng Minh nhấn mạnh rằng, «các đơn vị Thiết Kỵ và Không Quân chiến lược cùng Pháo Binh của quân đội quốc gia dư điều kiện tiêu diệt địch khi chúng chun đầu vô rọ Snoul và sau khi dân chúng đã rời khỏi thành phố này.»

Ai sẽ lật tẩy ai tại mặt trận sôi động Snoul?
Trước những vụ pháo kích và phục kích của cộng quân tái hiện trong lãnh thổ QK3, ông nói, có thể đó là do những bộ phận nhỏ của Công trường 5 Cộng sản đã xâm nhập được vào nội địa VNCH.
Trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Quân Đoàn III và Quân Khu 3 cho biết:
— Chúng ta đang đánh và dồn địch sâu vào lãnh thổ KPC, và chúng ta luôn có những đơn vị biên phòng ngăn chặn địch trên những vị trí yết hầu xâm nhập nội địa VNCH. Vì vậy, những hoạt động được ghi nhận của địch ở một vài nơi thuộc QK 3 chỉ là những đơn vị địa phương còn sót lại đang cố cựa quậy theo chỉ thị cấp trên của họ.
Căn cứ theo nhận định của Trung tướng Minh, chúng ta thấy rằng mọi ước đoán về sự hiện diện của một vài bộ phận nhỏ của CT 5/CSBV tại nội địa QK 3 đều sai lầm. Tuy thế, theo tin tức khai thác tù binh, Công trường 5 CSBV vẫn quyết không từ bỏ tham vọng đánh chiếm Snoul để từ đó làm bàn đạp hỗ trợ cho chiến trường vùng 3 biên giới đang trong thời kỳ sôi động, cũng như sẽ thừa cơ xâm nhập các bộ phận nhỏ để bổ sung cho những đơn vị địa phương của chúng còn nằm kẹt lại trong nội địa QK 3.
Vì vậy, trước những mưu định của 2 phe đấu chiến trên cùng một mặt trận Snoul, các quan sát viên chiến trường đã không ngần ngại cho rằng sẽ có một trận... xả láng giữa 2 Sư đoàn cùng lấy số 5 làm danh hiệu, một của VNCH và một của CSBV.
Hiện nay các cấp chỉ huy của VNCH cũng như của CSBV, nhất là Công trường 5 Bắc quân, đã và đang điên đầu để tìm cách... lật tẩy nhau trên chiến trường mà Snoul đang được chọn làm lá bào chót của canh bạc đấu trí và đấu lực này.

Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ và Chiến Đoàn 9 tăng viện cho Snoul
Cho đến nay lực lượng của Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ đã được gửi đến tăng viện cho Chiến đoàn 8 VNCH tại mặt trận xung quanh thị trấn Snoul. Lực lượng này trên đường chuyển quân trên quốc lộ 13 nối liền Lộc Ninh và Snoul. Đồng thời một cuộc chuyển quân Trực thăng vận đang được Chiến đoàn 9 VNCH thực hiện nhằm mở cuộc tấn kích gọng kềm song song với lực lượng Thiết kỵ của Lữ Đoàn 3 để giải tỏa áp lực địch đang đè nặng lên Snoul và CĐ8BB/VNCH. Các cánh quân tăng viện của Lữ Đoàn 3 Thiết kỵ, ngày 30-5, đã hạ 20 Cộng quân trên trục tiến quân dọc theo QL13. Qua ngày 31-5 một cuộc chạm súng ác liệt khác đã xảy ra cũng trên QL13 tại 13 cây số đông nam Snoul, và kéo dài từ trưa đến khoảng chiều tối cùng ngày mới im tiếng súng.
Sau cuộc chạm súng, Lữ đoàn 3 Thiết kỵ đã mở cuộc lục soát và đã tìm thấy 54 xác địch nằm rải rác quanh trận địa, tịch thu 1 thượng liên, 3 B40, 5 AK47. Những đơn vị tăng viện thuộc CĐ9/VNCH cũng đã liên tục gặp phải sức kháng cự nhỏ của Cộng quân ngay trên trục tiến quân tại vùng 10 và 14 cây số đông nam Snoul. Hiện nay Chiến đoàn 8 VNCH, đơn vị đã giao tranh ác liệt cùng những Trung đoàn thuộc Công trường 5 CSBV tại Snoul hơn tuần qua, vẫn còn giao tranh ác liệt với những đơn vị địch và hiện vẫn chưa bắt tay được với 2 đơn vị tiếp viện nói trên đang tiến đến Snoul từ mặt đông nam và đông bắc thị trấn đang trong cơn biến động này.

Trung Đoàn E51/CSBV quyết dùng chiến thuật tiêu hao với C.Đ 5/BBQ/VNCH trên quốc lộ 7
Song song với âm mưu cắt đứt quốc lộ huyết mạch 13 nhằm cản trở những đơn vị tiếp viện của VNCH cho mặt trận Snoul, theo tin tức từ những hồi chánh viên cho biết hiện Trung đoàn E51 thuộc Công trường 9 CSBV đang đặc biệt rình rập CĐ 5/BBQ để tổ chức những vụ phục kích hầu làm tiêu hao Chiến đoàn này. Song song với mục đích trên, Trung đoàn E51 hiện có tham vọng cắt đứt Quốc lộ 7, một trục lộ huyết mạch nối liền biên giới Việt Miên qua ngả Thiện Ngôn, Tây Ninh dẫn đến tỉnh Kampong Cham ngang qua Ph. Thmey và vùng đồn điền Chup. Từ đó giới quan sát quân sự đã cho rằng thế có trong một tương lai rất gần, 2 Công trường 7 và 9 CSBV sẽ tái hoạt động sau một thời gian dài cố tránh né đụng độ để bổ sung quân số. Và nếu có thể, 2 Công trường này sẽ rút quân vào mặt trận Snoul để tăng viện cho Công trường 5 CSBV hầu có nuốt mặt trận này như chúng vẫn hằng theo đuổi.



#Chinh Luan Jun. 10, 1971 trang ba
4 VC bị thương bị cấp chỉ huy chôn sống tại trận.
#Chinh Luan Jun. 10, 1971 trang ba
Hồi chánh viên kể lại:
4 V.C. bị thương bị cấp chỉ huy CHÔN SỐNG TẠI TRẬN


SAIGON 9-6 — Hồi chánh viên Nguyễn Phê 28 tuổi, từng theo VC 10 năm trời, nguyên Đại đội Phó Đại đội đặc công Cộng sản tỉnh Darlac, đã thuật chuyện VC chôn sống 4 cán binh bị thương nặng trong một trận đánh cách đây 3 tháng ở Darlac, nhằm mục đích che giấu tổn thất để không trái với đường lối tuyên truyền của đảng.
Theo lời anh kể, hôm 23/3/08, Đại đội Phê được lệnh phối hợp với Tiểu đoàn K.39 tấn công 1 đồn của VNCH trong tỉnh Darlac. Lực lượng VC bị thua, tháo chạy vào rừng với 19 cán binh bị thương, trong số có 4 bị thương nặng. Cấp chỉ huy ra lệnh chôn sống 4 cán binh bị thương nặng cùng với một số bị tử thương trong trận đánh mà đơn vị không mang xác đi được.
Phê kể rằng lúc 4 cán binh bị thương bị đẩy xuống hố để chôn sống, «những người bị thương còn thở mạnh, hai người mở mắt van xin chúng tôi một cách yên lặng nhưng không ai biết đáp ứng như thế nào. Những đôi mắt to trừng lên, tôi sẽ không bao giờ quên được. Cũng vì thế mà tôi đã về hồi chánh». (TV)



#Tien Tuyen Jun. 23, 1971 trang nhất
Tướng VC Trần Độ Thú Nhận Cộng Sản Đang Gặp Khó Khăn Trầm Trọng

TƯỚNG V.C. TRẦN ĐỘ THÚ NHẬN:
Cộng Sản đang gặp khó khăn trầm trọng
★ Giới lãnh đạo Cộng Sản hoạch định tăng cường công cuộc chỉnh huấn để đối phó với tinh thần cán binh suy sụp.


Những tài liệu mật của Cộng sản tiết lộ rằng nỗ lực quân sự và bình định của VNCH và Đồng Minh đã gây ra những khó khăn trầm trọng cho các lực lượng Cộng sản về tinh thần và kỷ luật.
Tướng BV Trần Độ, trong một bài viết dài dưới bút hiệu Cửu Long mới đây nêu lên một loạt các dấu hiệu cho thấy tinh thần Cộng sản đang xuống dốc. Tướng Trần Độ cũng là một chính ủy cao cấp của các lực lượng Giải Phóng, tức là lực lượng phụ thuộc của CSBV đang chiến đấu tại Nam VN.
Bài của Cửu Long, được Đài Phát Thanh VC lén lút phát thanh làm 4 kỳ vào cuối tháng 4, lên án «hiện tượng hữu khuynh đã nhiều khi xuất hiện dưới nhiều hình thức dưới mọi đơn vị, địa phương và cá nhân».
Tướng Trần Độ nhận định rằng «Hữu khuynh» và tư tưởng thụ động, đã khiến cho các lực lượng Cộng sản «đánh giá địch một cách nhầm lẫn, và đôi khi tin tưởng sai lầm vào một thành công dễ dàng, và những lúc khác thì lại e ngại thời gian kéo dài và khổ cực, rồi tạo ra những tư tưởng và hành động phản cách mạng, tiêu cực và phản tiến bộ».
Theo Trần Độ, những khuyết điểm này đã khiến cho nhiều đơn vị «không quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ của chúng ta vào một thời gian khi cuộc chiến đấu của các lực lượng và nhân dân của chúng ta đang trở nên ngày càng khó khăn và cam go hơn».
Viên tướng BV này dùng cách ám chỉ rằng «phần lớn sự khó khăn là do sự khổ cực gây ra» là muốn nói tránh đi sự thật là “từ áp lực quân sự của VNCH và đồng minh đặc biệt đánh vào những vùng căn cứ an toàn trước kia của Cộng sản”; Trần Độ viết: «nhiều đơn vị [ Cộng quân ] đã phải chiến đấu trong những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn với sự thiếu thốn về mọi mặt...«
Trần Độ khẳng định, để đối phó với vấn đề tinh thần, công cuộc chính huấn cần phải được tăng cường; chiến tranh chính trị và chiến tranh tâm lý của VNCH và đồng minh cần phải được đối phó «ngõ hầu ngăn chặn những ảnh hưởng tai hại trong hàng ngũ của chúng ta.»

Chương trình chiêu hồi của VNCH đã có sức thu hút khiến cho hơn 10.000 người trong hàng ngũ Cộng sản ra hồi chánh trong năm nay, 1971. Trong năm 1970, có hơn 30.000 cán binh Cộng sản đã đào ngũ, và từ 1963, con số này đã lên tới hơn 180.000.

Các lãnh tụ chế độ Hà Nội đã đưa ra nhiều lời báo động chống lại sự yếu kém về ý thức hệ trong những năm gần đây, trong năm 1969 chẳng hạn, Nghị Quyết số 9 do Trung Ương Cục Miền Nam gửi đi ra chỉ thị «thực hiện 1 giai đoạn học tập chính trị rộng lớn cho toàn đảng, cho toàn thể quân đội và cho toàn thể nhân dân.»
Những lời cảnh cáo tương tự cũng đã được ban hành ngay từ năm 1963 khi Tướng BV Nguyễn Chí Thanh báo động các sĩ quan cao cấp BV về «những tư tưởng chống đối vẫn hãy còn tồn tại trong nhân dân và trong cả quân đội ta».

Tuy nhiên, rõ rệt là vấn đề vẫn còn tồn tại. Những thú nhận mạnh mẽ của Cửu Long có nghĩa rằng thực sự áp lực quân sự và chính trị của VNCH đã gây ảnh hưởng mạnh vào tinh thần các lực lượng quân sự và chính trị của Cộng sản tại Nam VN.



$pageOut$pageIn
Phân đoạn 13

#Tien Tuyen May 30_31, 1971 trang 3
VC phịa câu chuyện "liệt sĩ Nguyễn văn Bé" - bài 01
#Tien Tuyen May 30_31, 1971 trang 3
Ngày 20-5-1971, HÀ NỘI KỶ NIỆM OANG OANG LIỆT SĨ NGUYỄN-VĂN-BÉ
Đặc phái viên Tiền Tuyến nói chuyện với Nguyễn văn Bé từ đầu câu chuyện mà mặt trận G.P.M.N. đã bịa đặt gửi về Hanoi

★ BẮC PHƯƠNG ★

Tôi đã gặp gặp «Liệt sĩ» Nguyễn văn Bé
Khi đặt chân lên vùng núi rừng Quảng Ngãi, tôi được xem nhiều tờ truyền đơn và nghe loa từ máy bay L.19 nói về «liệt sĩ Nguyễn văn Bé» hãy còn sống. Song, tôi tin làm sao được, vì mới cách đây mấy năm, hồi còn làm việc ở báo «Văn nghệ» Hà Nội, tòa soạn tôi có nhận được tấm hình «liệt sĩ Nguyễn văn Bé» do bên Thông tấn xã gửi, cơ quan này nói là nhận bằng vô tuyến của Thông tấn xã «giải phóng». Để đánh đúng tính hiếu kỳ của lớp trẻ miền Bắc, nhà thơ Hoàng Trung Thông đưa cho tôi bức hình và bảo:
«Đồng chí viết lời giới thiệu rồi gửi sang bên ‘Tiền Phong’ cho họ đăng thì hợp hơn». Báo Tiền Phong là cơ quan Trung ương của đoàn thanh niên lao động BV. Báo này xuất bản vào thứ hai, thứ tư, thứ sáu hàng tuần.
Tôi thi hành lệnh của Đảng ủy viên Tòa soạn Hoàng Trung Thông như một cái máy. Hai hôm sau, tức ngày 7-12-66, báo «Tiền Phong» cho đăng tấm hình của «liệt sĩ Nguyễn văn Bé» với lời «quảng cáo» của tôi viết ở dưới.
Từ giữa tháng 12-1966 đến đầu năm 1967, tất cả các Chi đoàn Thanh niên trên toàn miền Bắc nhận được chỉ thị của Đảng là phải phát động 1 phong trào «Học tập gương chiến đấu đến viên đạn cuối cùng của Nguyễn văn Bé». «Dám đánh, quyết đánh và biết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược» như «quả mìn Nguyễn văn Bé».
Trong thời gian có phong trào học tập này thì các tờ báo như: «Quân đội nhân dân», «Thống nhất», «Văn nghệ», «Nhân dân»... đều đăng tải các tin tức về tiểu sử gia đình và bản thân Bé, những chiến công do Bé đạt được và đặc biệt là «quả mìn cuối cùng» của «liệt sĩ Nguyễn văn Bé»...
Trong tài liệu học tập, các cán bộ Chính trị nói rằng: «Hồi 16g ngày 30-5-1966, trời mưa như trút nước, khi đang trên đường vận tải đạn và mìn cho bộ đội thì đơn vị của Bé gặp ổ phục kích của gần 50 xe bọc thép M.113 và xe tăng M.118 của Mỹ-Ngụy tại Kênh Cái Bèo xã Mỹ Quý quận Mỹ An quận Kiến Phong. Sau trận chiến đấu, tiểu đội Bé có 6 chết, 5 chạy thoát và Bé bị bắt sống cùng một số mìn và lựu đạn. Nhưng vốn xuất thân trong một gia đình tá điền thuộc vùng Đồng Tháp, gia đình Bé lại «đội ơn cách mạng». Bé lại được «cha truyền lại» lòng căm thù sâu sắc bọn cướp nước và bán nước nên khi bọn cố vấn Mỹ trông thấy trong đám mìn mà chúng tịch thu được có 1 cái có cầu, thấy lạ liền bảo Bé:
— Mày có biết sử dụng loại mìn này không?
Mắt Bé sáng lên, anh cầm trái mìn có cầu xoay trên tay và liếc nhìn «bác nông dân» gần đó như có ý bảo: «Bác hãy đi chỗ khác» (cán bộ chính ủy giải thích là «bác nông dân» đang đang gieo lúa gần chỗ mà đơn vị Bé bị phục kích, cũng bị bắt giữ đưa về quận Mỹ An).
«Bác nông dân» rất ngạc nhiên vì sự thay đổi thái độ đột ngột của anh chiến sĩ «giải phóng quân». Lúc đầu bị tra tấn rất dã man, nhưng «chú ấy» vẫn hiên ngang. Nhưng tại sao từ lúc về tới đây, tụi kia dỗ ngọt, «chú ấy» lại hiền lành dễ bảo mà lại còn hướng dẫn cho giặc biết sử dụng vũ khí của đồng chí mình? «Bác nông dân» liếc nhìn như muốn ngăn cản việc làm tội lỗi của Bé. Bác xin phép tên lính gác ra ngoài «mua bánh mì» vì «chưa ăn cơm chiều»! Bác nông dân đi khỏi, tức thì Bé đứng phắt dậy tiến lại gần 1 chiếc xe bọc thép đậu gần đống mìn, Sức mạnh căm thù dồn hết lên đôi cánh tay «thép» của Bé. Anh giơ quả mìn cầm khỏi đầu và mắt quắc lên ghê sợ.
Sự việc xảy ra quá nhanh, làm đảo lộn cả thế cờ. Bọn giặc chỉ còn biết đạp chân lên nhau thằng nào thằng nấy chạy thoát thân (?)
Nhưng «chậm» (!?) mất rồi, đôi cánh tay «thần» của người dũng sĩ ấy đã giáng cật lực chiếc cần cung của quả mìn vào thành chiếc xe bọc thép. Một tiếng nổ như sét đánh ngang mày. Quả mìn 10 kí nổ làm kích thích cả đống mìn và lựu đạn nổ tung. Tiếng nổ làm rung trời, chuyển đất cả quận lỵ Mỹ An. Lũ giặc và cả đoàn xe bọc thép chìm trong khói lửa mịt trời... (?)
«Bác nông dân», người còn sống sót nhắc đến hành động anh hùng của Bé không cầm được nước mắt. Bác nói:
— Nghĩ mà thương «chú ấy» vô chừng. Đến giờ phút cuối cùng mà «chú còn nghĩ đến tôi»! «Quả mìn Ng. v. Bé» đã diệt 10 tên giặc trong đó có 12 tên cố vấn Mỹ và 20 sĩ quan Ngụy, 1 xe bọc thép tan nát và 2 xe khác hỏng nặng v.v....

❊❊❊

Thế rồi... tôi về Saigon và bây giờ đã đến mùa ve kêu râm ri trên những hàng me thẳng tắp. Nhưng không phải ở Hà Nội mà là ở cái «Hòn Ngọc Viễn Đông» này! Tôi bâng khuâng mỗi khi gửi tâm tư về miền Bắc, và tâm sự với một bạn trai ở phòng làm việc.
— Này anh Quý, dịp này chắc ở miền Bắc đang chuẩn bị kỷ niệm ngày giỗ lần thứ 5 của «liệt sĩ Ng. văn Bé»!
Nghe tôi nói vậy, anh giật bắn người và trố mắt nhìn tôi với dáng điệu hết sức sửng sốt. Anh hỏi tôi u bàng như máy:
— Uả ! Thế Phương Bắc chưa biết «liệt sĩ Nguyễn Văn Bé» của cậu hãy còn sống à? Anh vừa nói đến câu «sống à» thì đôi mắt ếch của tôi lại dương lên nhìn xoáy vào mặt anh. Tôi chưa kịp nói gì, anh lại buông 1 câu rất đanh thép:
— Phương Bắc không tin à? Cậu có muốn gặp «liệt sĩ Nguyễn Văn Bé» không? Nói đến câu cuối cùng và cũng chẳng cần biết là tôi «không» hay «có», anh nhấc điện thoại và 30 phút sau, phòng làm việc có người gõ cửa. Cửa bật mở và 1 thanh niên mảnh khảnh bước vào. Đôi mắt tôi lượn dài trên bộ quần áo mới của chàng thanh niên ngờ ngợ nhớ ra hình như có gặp anh ta ở đâu một lần rồi thì phải.
— Phương Bắc! Cậu có nhận ra ai đây không?
Tôi chưa kịp trả lời gì thì anh Quý lại lạnh lùng nói tiếp:
— Đấy ! «Liệt sĩ Nguyễn Văn Bé» của cậu đây này!
Tôi «à» lên một tiếng và mặt nóng bừng. Tôi thấy ngượng và mắc cỡ khi gặp lại anh Bé. Người mà Đảng Cộng sản Hà Nội đã dựng đứng và tôn lên làm «liệt sĩ» rồi bắt nhân dân và thanh niên miền Bắc phải học tập, noi gương, sản xuất, chiến đấu như anh hùng «liệt sĩ Nguyễn văn Bé», thừa thắng «xốc tới» như «quả mìn Nguyễn văn Bé». Dám «chiếu đấu» và «hy sinh» đến cùng như quả mìn Nguyễn văn Bé vân vân và vân vân...
— Xin giới thiệu với liệt sĩ Bé. Đây là ký giả Phương Bắc, cựu phóng viên tòa soạn báo «Văn nghệ» Hanoi. Người mà cách đây mấy năm đã bị CSBV buộc phải dùng ngòi bút để «tô» câu chuyện «Quả mìn Nguyễn văn Bé» cho sôi động, hấp dẫn, ly kỳ... thêm.
Tiếng anh Quý oang oang như vừa «diễu» vừa thanh minh dùm tôi với «người liệt sĩ» —người mà tôi cũng như bao thanh niên miền Bắc tôn sùng lên bậc «Đại anh hùng».
Sau lời anh Quý, tôi cảm thấy vững tâm và đỡ sượng. Tôi gật đầu chào và đứng dậy siết tay anh Bé một cái thật chặt:
— Chào anh! Anh đã từng ở «bên kia», chắc anh hiểu và thông cảm cho tôi nhiều hơn phải không?
— Không những thế mà tôi còn hiểu cả số phận của mình nên bây giờ nên mới tìm về và sống giữa Saigon này! «Liệt sĩ» Bé vừa dứt câu 3 chúng tôi đều cười rộ.
Anh Quý đứng dậy đi ra ngoài.
Tôi, người bị bắt buộc phải nói láo (không phải để ăn tiền) mà để «vắt trên» vai thêm tuổi Đoàn, tuổi đảng — bắt đầu san sẻ bầu tâm sự:
— Này anh Bé! cái gì đã qua chẳng bao giờ trở lại nữa phải không?
Bé gật đầu. Tôi nói tiếp:
— Thế chúng ta làm lại từ đầu nhé!
Nghe tôi nói vậy «Liệt sĩ» Bé hỏi tôi 1 câu bâng quơ:
— Được! Nhưng ý anh Phương Bắc nói «làm lại» là «làm lại» cái gì?
— Tôi vốn trước kia nói láo nhiều quá! Nay muốn anh giúp để tôi «bắt đầu nói thật» về anh. Tôi «làm lại» mà!
— Ồ! Cái gì chứ chuyện này nếu anh không «làm lại», tôi cũng khuyên anh nên nói sự thật ra cho dân chúng cả nước ta hay biết.
«Liệt sĩ» Bé dừng lại 1/10 giây và nói tiếp:
— Thế bắt đầu được chưa?
— Vâng! Xin anh cứ tuần tự kể. Tôi có «nghề» nên viết nhanh lắm!
(CÒN NỮA)



– Ảnh chụp “liệt sĩ” Nguyễn văn Bé đang cầm tờ báo Tiền Phong (Dec. 7, 1966) của chế độ Cộng sản Bắc Việt, trong đó ca tụng anh Bé là liệt sĩ anh hùng.
Ảnh đăng trên tạp chí Viet Nam Bulletin số 6 ra ngày Jun. 1, 1967, trang 121.
Viet Nam Bulletin là ấn phẩm của Tòa Đại Sứ VNCH tại Hoa Thịnh Đốn.
collected & reformatted by Le Tung Chau Mar. 2026
#Tien Tuyen Jun. 1, 1971 trang 3
VC phịa câu chuyện "liệt sĩ Nguyễn văn Bé" - bài 02
#Tien Tuyen Jun. 1, 1971 trang 3
NGÀY 30-5, HÀ NỘI KỶ NIỆM OANG OANG LIỆT SĨ NGUYỄN-VĂN-BÉ
Đặc phái viên Tiền Tuyến nói chuyện với Nguyễn văn Bé từ đầu câu chuyện mà mặt trận G.P.M.N. đã bịa đặt gửi về Hanoi

★ BẮC PHƯƠNG ★
(TIẾP THEO)

Chúng tôi châm điếu thuốc. Tôi nhìn «liệt sĩ Nguyễn văn Bé» qua màn khói xanh lam của điếu Cotab. Tôi nghĩ anh ngồi trước mặt tôi, và «quả mìn Nguyễn văn Bé» tưởng tượng do bọn Cộng sản Hà Nội dựng lên ở miền Bắc. Sao 2 thế giới xa lạ thế?!...
Giọng «liệt sĩ» Bé làm cắt ngang điều mà tôi đang theo đuổi, đang phân vân, suy tính.
— Tôi sinh trưởng trong một gia đình nông dân thuộc xã Kim Sơn, Quận Châu Thành, tỉnh Định-Tường. Cha mẹ tôi sinh được đứa con và tôi là con đầu. Nhà neo người mà chỉ có mười công đất nên năm tôi còn đang học dang dở lớp ba trường làng, tôi đã phải gác việc đèn sách đi làm mướn giúp đỡ thêm cho cha mẹ. Cha tôi vốn trước kia đã từng cầm súng chống Pháp, sau ông bị Cộng sản quay lại thanh trừng — có lẽ vì ông bất mãn cái chính sách của Việt Minh. Ngược lại, tôi vốn có tính hiếu thắng của tuổi trẻ vào tháng 4-1965, tôi xin phép ba má cho tôi đi «làm cách mạng».
Ông bà già tôi không chịu. Cuối tháng ấy, tôi trốn khỏi nhà đi vào mật khu.
Chúng tôi cùng cười. Tôi nói:
— Hồi ở miền Bắc, Đảng bảo với dân chúng rằng «Chính cha mẹ Nguyễn văn Bé đã khuyến khích và động viên Bé tham gia cách mạng để cứu nước, cứu nhà» (?)
Bé khoát tay gạt đi rồi nói:
— Ở mật khu được 2 ngày, «cách mạng» cho tôi đi học xạ kích rồi thuyên chuyển về 1 đơn vị vận tải súng đạn cho bộ đội.
Mới đầu tôi được bổ xung về tiểu đội 8 Trung đội 4, ĐĐ 650x16. Đơn vị tôi dưới quyền lãnh đạo của Trung Tá Trần Trung chủ nhiệm hậu cần tiếp vận phân khu 2.
Tại tiểu đội 8 có 1 đồng chí nữ tên Nhung. Tôi và tiểu đội phó Quốc-Hùng đều mang lòng yêu thương nàng.
Nhưng tôi tư cách là cán bộ, hơn nữa Quốc Hùng lại là «Đoàn viên đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng» nên dịp tôi phải đi chỉnh huấn chính trị và tu nghiệp thêm về xạ kích, ở nhà, vì muốn chiếm đoạt Nhung nên Tiểu đội Phó Quốc Hùng đề nghị thuyên chuyển tôi về Trung đội 3 khi tôi mãn khóa tu nghiệp trở về (Sau này cả Quốc Hùng và «đồng chí nữ» ấy đều chết).
Ngày 30-5-1966, trời mưa tầm tã. 10 người chúng tôi đi áp tải nửa tấn mìn và lựu đạn đựng trong 6 chiếc xuồng từ Kiến Phong về Định Tường. Khoảng 16g cùng ngày, Tiểu đội tôi bị 49 chiếc xe bọc thép M113 và xe tăng M118 phục kích. Gặp lực lượng quân đội Quốc Gia hùng hậu như vậy mà 10 đứa chúng tôi chỉ có 3 khẩu AK47, 2 khẩu CKC và 5 khẩu súng trường Trung cộng K44.
— Chúng tôi không bắn lại phe Quốc Gia được 1 phát nào. Mạnh ai người nấy chạy. Tôi nhảy xuống kênh Cái Bèo thuộc xã Mỹ quý, quận Mỹ An, tỉnh Kiến Phong thì bị lính Quốc Gia trên 1 chiếc xe M113 ập tới bắt sống. Đơn vị Thiết Kỵ này thuộc Sư Đoàn 9 Bộ Binh QLVNCH.
Sau mấy trận phục kích, mấy ông lính Quốc Gia dẫn tôi đến nhận diện xác đồng chí Cộng sản của tôi. Tôi đếm được 8 xác và hiểu rằng Tiểu Đội tôi chỉ có một “đồng chí” là thoát thân được. (Còn nửa Tấn mìn và lựu đạn cũng nổ xuống đã bị tịch thu và phá hủy hết).
Tôi hỏi «liệt sĩ»:
— Ơ ! Sao ở ngoài miền Bắc họ bảo tôi rằng «đồng chí chiến đấu đến viên đạn cuối cùng cơ mà?
Cặp lông mày của «liệt sĩ» nhíu lại:
— Nói láo hết!
Bé châm thuốc và thở ra một hơi thật dài, sau đó anh nói tiếp,
— Đoàn xe về đến Quận lỵ Mỹ An được 7 phút thì máy bay «lên thẳng» của Mỹ đến «bốc» tôi về bộ Tư lệnh Sư Đoàn 9. Tôi ở đấy được 10 bữa thì họ đưa về trại giam Tỉnh lỵ Kiến Phong. Tại Trại giam Kiến Phong, tôi gặp bác Sáu Đây (bác này vốn là cán bộ «Nông Hội» 9 năm chống Pháp, Bác ấy có 2 con đi tập kết ra miền Bắc hồi năm 1954. Đến năm 1963 cả hai đều hồi kết trở về. Một làm chính trị viên Tiểu đoàn có lon Đại úy. Một là Trung úy Bác sĩ Quân y. Cả 2 đều phục vụ tại mật trận Kiến Phong).
Vốn cùng một thôn và ở sát cạnh nhà tôi nên khi bác được thả về, tôi nhờ nói dùm hộ với mẹ tôi là báo cho bà biết và lên trại giam Kiến Phong thăm tôi... Mẹ tôi từ xã Kim Sơn, quận Châu Thành lên gặp tôi ở nhà giam. Tôi thấy bà có cử chỉ và thái độ lạ quá! Bà chừng chừng nhìn tôi như một con quái vật. Mãi đến gần 5 phút sau, tôi thấy bà lảo đảo như muốn xỉu tới nơi. Tôi ôm chân lấy bà và mồm lắp bắp: «Má! Má làm sao thế? Con đây mà! Bé đây mà!» Bà mẹ tuổi 54 của tôi già nua, gầy guộc nằm gọn trong vòng tay bé bỏng và run lẩy bẩy của tôi. Mãi đến 10 phút sau, bà đưa tay sờ người, sờ mặt, sờ tai, sờ mũi tôi ... rồi hồi lâu sau bà mới nói qua nhịp thở không đều:
— Con ! Bé ! Mày bây sống à ! Con tôi còn sống... thực là...! Con! Con ơi!
Những câu cuối cùng, giọng bà nghẹn lại. Kể từ ngày sống ở đời cho đến hôm ấy, tôi vừa 24 tuổi, tôi mới biết thế nào là tình mẹ. Và cũng từ hôm ấy tôi mới biết thương mẹ tôi. Tôi nói nhanh, giọng khàn khàn:
— Má, con đây má! Bé đây mà! sao con lại không sống hả má? Má! Má...!...
Gần nửa giờ sau, mẹ tôi mới hồi tỉnh trở lại. Hai tay nhìn nheo với những đường gân chằng chịt, bà lắc mạnh vai tôi nói:
— Đúng rồi! con tôi thật đây rồi, con tôi hãy còn sống! Ôi Lạy Trời phật!
Tôi dương mắt nhìn má tôi:
— Ủa! Má làm sao thế? Con không sống thì không lẽ con chết à?!
— Tao nghe ông Sáu Đây nói mày hãy còn sống và ba mày!
— Sao lại không hả má?
— Ông Sáu Đây được tha về Xã thì ở Xã và cả Quận Châu Thành, «Mặt trận giải phóng» đang làm lễ truy điệu mày. Họ căng biểu ngữ, treo cờ quạt, gọi mày là «anh hùng của thế hệ cụ Hồ», là «quả mìn Nguyễn văn Bé»...
Họ bảo mày bị tụi Mỹ và ngụy bắt cùng với mìn và lựu đạn rồi đưa về Mỹ An.
Mày đập quả mìn có cần vào xe bọc thép giết 69 thằng và làm bị thương nhiều người khác ..
Tao thấy bà con lũ lượt kéo nhau đi mít tinh rồi họ cúng mày. Tao và ba mày với mấy đứa nhỏ ở nhà cứ nghĩ mà rầu, lòng đau như cắt...!
— Thế bác Sáu Đây không nói cho mấy ông xã uỷ biết con còn sống hả má?
— Có! Nhưng họ không tin. Họ bảo có một ông khác cũng bị bắt một lượt với mày trông thấy mày đập quả mìn vào xe có xích! Ông Sáu Đây nói: «Tôi sống với nó 22 năm trời, nhà nó cạnh nhà tôi, làm sao tôi lại «nhầm» được (mấy ông xã ủy biểu ông Sáu Đây là ông nhìn nhầm mày rồi. Chứ mày đã «anh dũng hy sinh đến viên đạn cuối cùng rồi!»
Sau đó, ông sáu Đây lại sang nhà chơi. Ông nói với ba mày là mấy ông xã uỷ có đến gặp riêng và nói với ông «Thôi! ...
(CÒN NỮA)



#Tien Tuyen Jun. 2, 1971 trang 3
VC phịa câu chuyện "liệt sĩ Nguyễn văn Bé" - bài 03

NGÀY 30-5, HÀ NỘI KỶ NIỆM OANG OANG LIỆT SĨ NGUYỄN-VĂN-BÉ
Đặc phái viên Tiền Tuyến nói chuyện với Nguyễn văn Bé từ đầu câu chuyện mà mặt trận G.P.M.N. đã bịa đặt gửi về Hanoi

★ BẮC PHƯƠNG ★
(TIẾP THEO)

... Ông thông cảm vì «Chính phủ cách mạng đã trót «lỡ» rồi»!? Họ còn nói với ông Sáu Đây: «Vì nhiệm vụ và hoàn cảnh chung của “cách mạng”, mong ông đừng “nói gì nữa”!?»
Mấy hôm sau, du kích VC tới bắt ông Sáu Đây đưa về «vành đai trắng» (vùng tác xạ tự do của Q.L. VNCH và Mỹ). Tao lại còn nghe ba mày nói là ở miền Bắc «Bác Hồ» cũng khen mày và thưởng cho mày huân chương, huân chiếc gì đó thì phải (?).
Nghe má tôi nói, tôi tưởng tôi như đang sống trong một vở «bi hài kịch» mà tôi bị «đóng vai chính». Còn «Mặt trận giải phóng» và «Chính phủ lâm thời» đứng ngoài làm «đạo diễn».
Tôi hỏi mẹ tôi:
— Thế bây giờ họ đã dẹp chuyện «cúng» con chưa?
Má tôi thở dài sườn sượt, đoạn bà chép miệng:
— Lúc tao sắp đồ chuẩn bị đi thăm mày, Ba mày còn dặn đi dặn lại: Bà đi Kiến Phong cẩn thận! Khéo lại «trông nhầm» đấy?
Ba tôi sợ Bé ấy là «Nguyễn văn Bé giả»? Huống chi là mấy ông xã ủy và dân trong vùng...
. . . Sau 105 ngày nằm ở trại giam Kiến Phong, họ đưa tôi về Mỹ Tho, là Quê hương tôi mà.
Ở đấy được hai ngày thì ba tôi tới thăm. Đã ba năm — kể từ ngày tôi trốn nhà đi «chống Mỹ cứu nước». Thế mà nay những câu đầu tiên ba tôi lại nói như thế này:
— À ! Thằng Bé đây rồi! Tao cứ tưởng mẹ mày «trông nhầm»! (?) Thôi! Thế là yên trí. Nhà ta không còn có «Quả mìn Nguyễn văn Bé» nữa.
Ba tôi kể cho tôi nghe đủ mọi chuyện.
Ông bảo có người quen ở Quận Mỹ An nói cho ông biết rằng sau khi tôi về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 9 thì có 1 lính Mỹ thấy cái dây lòng thòng của quả lựu đạn «chày» thòi ra. Y lấy máy rút dây làm kích tâm lưu đạn nổ.
Nghe nói vừa chết vừa bị thương đâu ba, bốn người — cả Mỹ và VN.
Ông còn cho biết, ở Xã Kim Sơn, cán bộ xã ủy bắt ông đi học tập gương chiến đấu và hy sinh «đến hơi thởi cuối cùng» của «liệt sĩ Nguyễn văn Bé». Tất nhiên bắt toàn dân chúng cả vùng học tập nữa. Nhưng Ba tôi ổng cương quyết không đi. Cán bộ giải thích. Ông cãi:
— Tôi đẻ nó ra. Tôi dạy dỗ nó. Đời thuở nhà ai mà ông bố phải đi «học tập và noi gương» thằng con không?
Sau đó mấy hôm, xã ủy có đến khuyên ông nên «bịt mồm bịt miệng». Việc này không có hại gì đến gia đình ông, mà «cách mạng» thì đã lỡ? Hơn nữa, việc tuyên truyền này còn có lợi là kêu gọi thanh niên hăng hái tham gia giết giặc trong sự nghiệp «Giải phóng miền Nam» hiện nay (?)
Ngoài ra ba tôi cũng cho biết ông đã quyết định cho cả gia đình trở về Mỹ Tho để tị nạn Cộng sản.
Đến tháng 4-1967. Chuẩn úy Xuân Ba, Trung đội trưởng Trung đội tôi đã trở về Hồi chánh với chánh quyền Quốc Gia.
Tôi gặp «xếp» cũ của tôi tại Trung Tâm Chiêu Hồi Mỹ Tho. Tính «đồng chí cụ» vẫn mãnh như xưa. Chuẩn úy VC Xuân Ba cho biết từ lúc tôi bị bắt cho đến lúc anh ra Hồi chánh, ở đơn vị lúc nào cũng bắt học tập để noi gương «Quả mìn Nguyễn văn Bé». Anh và hầu hết các «đồng chí» cùng quê với tôi thì không tin tôi là «liệt sĩ» nhưng không dám phản đối.
Cuối tháng 3-1967. Xuân Ba nói với Trung úy Hoài Thanh là chính trị viên Trưởng Đại đội tôi tức «860 x 16» rằng:
(CÒN NỮA)

#Tien Tuyen Jun. 3, 1971 trang 3
VC phịa câu chuyện "liệt sĩ Nguyễn văn Bé" - bài 04

Đặc phái viên Tiền Tuyến nói chuyện với Nguyễn văn Bé từ đầu câu chuyện mà mặt trận G.P.M.N. đã bịa đặt gửi về Hanoi
★ PHƯƠNG BẮC ★
(tiếp theo)

— Mỹ và Ngụy có thể làm giả hình, giả người chứ làm sao làm giả được tiếng nói (Xuân Ba bảo là nghe tôi nói từ máy bay L19 vọng xuống, anh và đồng đội của tôi nhận ra tiếng «liệt sĩ Ng văn Bé» ngay.)
Trung úy Hoài Thanh thở dài không nói gì và chỉ 36 tiếng đồng hồ sau, đơn vị nhóm họp và họ chụp cho Xuân Ba cái mũ là «phản tuyên truyền»? «không tin cách mạng»!? Ngay đêm đó, Chuẩn úy Xuân Ba đã tìm đường về... Mỹ Tho.
Cũng tại Trung tâm Chiêu Hồi Mỹ Tho. Cuối năm 1967, tôi may mắn gặp lại người bạn «nối khố» từ thời cắp sách ở cùng xóm. Đó là anh Nguyễn v Thọ. Công binh đặc công thuộc đơn vị «330 X Y Z». Thọ đi «làm Cách mạng» từ năm 1963. Bạn bè bốn năm mới gặp nhau, mà vừa trông thấy tôi, Trung sĩ Ng văn Thọ đã văng tục:
— Tao biết ngay mà! Mày thì có «liệt sĩ». «Anh hùng» cái con mẹ gì?! Chỉ có «liệt tình» mới con Lan thôi?
Tôi phì cười và thấy mắt «liệt sĩ» Bé đỏ như gấc. Anh mắc cỡ và phân bua với tôi rằng: «Lan là cô gái đầu tiên mà tôi đặt cái hôn nồng cháy yêu thương lên đôi môi mọng đỏ đầy hương vị miền xứ dừa...». Nhưng ... Nàng đã ... qua đời trong khói lửa hận thù rồi!...
Nói tới đây mặt anh đượm vẻ suy tư. Anh châm thuốc và ngó đồng hồ rồi hỏi tôi:
— Ký giả Phương Bắc! Bây giờ anh có rảnh không?
Tôi gật đầu dù chẳng biết anh hỏi thế để làm gì.
— Thế thì hay ! Mới có 11g20. Mời Phương Bắc về xứ dừa Mỹ tho chơi! Tôi bật khỏi ghế như 1 chiếc lò so và đếm bước theo anh như một cái máy.

...Tại Mỹ Tho. Khi đặt chân lên con đường mòn rợp mát bóng dừa dẫn về nhà anh, «Liệt sĩ Nguyễn v Bé thở dài nói lí nhí:
— Phải chi má tôi mà còn sống thì vui biết mấy!
— Thế... (tôi định hỏi bà cụ mất bao giờ ?) Nhưng chưa nói hết câu Ng v Bé đã ngắt lời:
— Má tôi mất năm ngoái sau khi hạ sanh được đưa em gái cuối cùng của tôi! Bà bị ung thư ruột.

CÒN NỮA



#Tien Tuyen Jun. 4, 1971 trang 3
VC phịa câu chuyện "liệt sĩ Nguyễn văn Bé" - bài 05 (bài cuối)

Đặc phái viên Tiền Tuyến nói chuyện với Nguyễn văn Bé từ đầu câu chuyện mà mặt trận G.P.M.N. đã bịa đặt gửi về Hanoi
★ BẮC PHƯƠNG ★
(tiếp theo và hết)

Đi được 20m, anh gặp bà Cô sau 7 năm xa cách. Hai Cô cháu gặp nhau bất ngờ làm tôi cũng thấy mủi lòng. Bà Cô rưng rưng nói qua nước mắt:
— Các em ở nhà nó nhặt được truyền đơn do máy bay thả, nó nói với tao «Má ơi! má! Đúng anh Bé đây rồi! Anh hãy còn sống mà.» Chúng nó cắt ra bao nhiêu là hình của mày rồi kẹp vô quyển sách...
...Tới nhà, tôi may mắn được gặp người em thứ ba của «liệt sĩ», là Bé Ba (ở miền Bắc, chính quyền Hà Nội tuyên truyền rằng: «anh (tức Bé) đã hy sinh vì dân vì nước. Bây giờ đến lượt «Bé Ba» đã «học tập» và «noi gương» anh tham gia tòng quân cầm súng giết giặc để trả thù cho «liệt sĩ Nguyễn văn Bé»).
Bé Ba cao và to hơn «liệt sĩ» nhiều. Đúng là Bé Ba đã «noi gương» anh trai của mình cầm súng thật. Nhưng cầm súng để «chống Cộng cứu nước». Hiện Bé Ba là lính lái xe bọc thép M113 và có điều đặc biệt là lại được chuyển về SĐ9BB QLVNCH.
Tại đây, tôi còn được gặp ông già thân sinh ra «liệt sĩ Nguyễn văn Bé».
Sau lời Bé giới thiệu, tôi hỏi ông:
— Thưa bác ! Công việc mần ăn vẫn bình thường chứ ạ?
— Cám ơn cháu cũng tạm đủ!
— Thế «chuyện kia» coi như xong rồi chứ ạ?
Với vẻ mặt suy tư, Bác trả lời tôi chậm chạp:
— «Mấy ổng» cứ đe dọa tôi hoài! Cuối cùng tôi cho các em về đây sống cho yên.
Giữa nhà là 1 bàn thờ lớn có tấm hình cụ bà cỡ 9x12. Không cần hỏi tôi cũng biết đấy là bà cụ thân sinh ra «liệt sĩ» Bé.
Ngoài ra tôi còn gặp vợ của «liệt sĩ».
Hai người đã sanh được 1 cháu trai kháu khỉnh và đặt cho nó một cái tên thật hay «bé Hùng». Bé Hùng đã được 1 tuổi và tôi tin rằng với cái trán rộng rãi của Bé Hùng nhất định sau này cháu sẽ noi gương cha, noi gương chú «chống Cộng đến hơi thở cuối cùng».
Tạm biệt gia đình «liệt sĩ» một cách vội vàng, tôi cho xe chạy như bay về hướng Saigon để còn kịp viết bài và rửa ảnh «chào mừng ngày giỗ lần thứ 2 của «Quả mìn Nguyễn văn Bé» 30-5-1966 – 30-5-1971.
Lúc sắp tạm biệt, tôi mới sực nhớ ra và vỗ vai Bé:
— À ! Còn cái «bác nông dân gieo lúa gần đấy» theo như «Nguyễn văn Bé» của nhà văn Nguyễn Sáng đăng trên báo «Tiền Phong» hồi tháng 4-1967 ở Hà Nội là «bác nào», thế là «liệt sĩ»?
«Liệt sĩ» Bé buông 1 nụ cười vô cùng hài hước. Anh nắm chặt tay tôi và cũng chẳng tỏ vẻ gì là ngạc nhiên cả. Anh đáp:
— Ký giả Phương Bắc! Từ Mỹ Tho về đây chắc cũng hiểu bây giờ là mùa mưa. Thế «Gieo lúa» trên mặt nước à!? Đấy «liệt sĩ Bé» hỏi: là mấy ông nhà văn, nhà báo «cấy» bác nông dân vào cho câu chuyện thêm ly kỳ thôi. Nhưng các ông «cấy» không đúng mùa nên «mạ bị thối rồi»!
Mặc dù từng ông mây xám xịt đang hối bà rủ nhau về giăng mắc trên bầu trời Saigon, nhưng qua tấm kính cửa xe rồi cũng nhận ra một «mặt trời nhân tạo» đang bừng lên ở phía Tây.
Đấy là bộ mặt ngượng ngùng của những thằng «bốc láo» như tôi và của nhiều thằng đang oang oác mồm ở Hà Nội. Nó cố muốn bừng lên một lần cuối để rồi bị giông tố cuốn đi vĩnh viễn.
_____________
MÙA PHƯỢNG 71
PHƯƠNG BẮC



#Tien Tuyen Sept. 23 1970 trang ba
#Tien Tuyen Sept. 23, 1970 trang ba
Một ký giả Tân Tây Lan tố cáo sau khi tiếp xúc với công nhân tại các đồn điền cao su nơi từng là chiến địa.
V.C. chặt đầu binh lính họ để rêu rao là đầu quân thù
ĐỂ LÀM NHẸ ĐI SỰ TỔN THẤT VÀ PHỤC VỤ TUYÊN TRUYỀN


SAIGON. — Dưới tiêu đề «Việt cộng chặt đầu binh sĩ của họ» (VC beheads own men) đăng trên nhật báo «The Dominion» ở Tân Tây Lan mới đây, ký giả Arthur Dommen đã tố cáo những hành vi tàn bạo của quân Cộng sản Bắc Việt trên lãnh thổ Kampuchea.
Ông Arthur Dommen, thông tín viên phụ trách vấn đề Đông Dương của nhật báo «The Dominion» đã thuật lại lời của các công nhân đồn điền cao su cho biết, trong các trận giao tranh với QLVNCH, nếu có 1 cán binh Cộng sản nào tử trận các cấp chỉ huy của quân BV liền chặt đầu xác chết này rồi mang phần còn lại của thân hình vào làng trưng bày cho dân coi và bảo đó là xác chết của 1 binh sĩ Nam Việt Nam bị họ bắn hạ. Các dân làng ở phía Bắc thành phố Kompong Cham cho biết quân Bắc Việt xuất hiện trong vùng này thường mặc đồng phục màu đen, không có dấu hiệu đơn vị và chỉ phân biệt giữa cấp chỉ huy với lính bằng một số các khoanh vải tròn đeo trên túi áo ngoài. Chính các ký giả bị quân BV bắt trước kia tại Kampuchea cũng đã xác nhận như vậy.
Quân Bắc việt đã đòi dân làng cung cấp gạo, cá khô cho họ và những người nào từ chối hay phản đối đều bị chúng thủ tiêu sau đó.
Ngoài ra, mỗi nhà còn phải đóng góp cho Cộng quân mỗi tháng một số tiền vào khoảng 20 đồng Ri.
Trong những vùng sống dưới sự kiểm soát của quân BV và VC ở Kampuchea, dân làng ta thán rất nhiều vì những cuộc khủng bố do Cộng quân gây ra.
Theo một con số chính thức, ký giả Arthur ghi nhận đã có 70 giáo viên trường làng ở trên lãnh thổ Kampuchea bị giết chết kể từ tháng 3-70.



#Tien Tuyen Jun. 3, 1971 trang nhất
Bắt được 1 VC giả dạng Trung Úy QLVNCH tại Đà Nẵng
PHÁT GIÁC KẾ HOẠCH ĐÁNH HÓA TRANG CỦA CỘNG SẢN TẠI CÁC THÀNH PHỐ
▣ Cộng quân sẽ chia từng toán nhỏ từ 6 đến 9 người với quân phục VNCH, trang bị súng Mỹ và giả đi tuần tiểu...


ĐÀ NẴNG. — (TV) 2.6 — Lực lượng an ninh Đà Nẵng vừa tóm cổ 1 cán bộ Cộng sản trong lớp quân phục và cấp hiệu Trung úy QLVNCH.
Nguồn tin an ninh cho hay, tên cán bộ Cộng sản này đã được lệnh về hoạt động tại Đà Nẵng từ lâu. Cơ quan an ninh cũng phát giác một kế hoạch mới của Cộng sản theo đó Cộng quân sẽ mở liên tiếp nhiều cuộc gọi là “cao điểm Hè” đánh phá từ nay đến ngày có các cuộc bầu cử, và kế hoạch đánh phá này được thực hiện dưới hình thức mệnh danh là «đánh hóa trang».
Theo kế hoạch của Cộng quân «đánh hóa trang» nghĩa là chia VC ra thành từng toán nhỏ khoảng từ 6 đến 9 người mỗi toán, mặc quân phục VNCH, trang bị súng Mỹ và giả đi tuần tiểu, rồi thừa cơ đánh chớp nhoáng vào một vài cơ sở quan trọng ở các vùng phố thị vùng Quốc Gia. Kế hoạch này Cộng quân trù liệu thực hiện kể từ đầu tháng 6-71 và chấm dứt vào cuối tháng 11-71.
Nguồn tin an ninh tại Quân Khu I cũng cho biết, hiện nay kế hoạch của Cộng quân chú trọng vào những thành phố mạn Bắc VNCH từ Quảng Trị vô Đà Nẵng và đến Quảng Ngãi, là những mục tiêu chúng nhắm tới đầu tiên của kế hoạch «đánh hóa trang» này.
Mặt khác, trong tuần qua, Cảnh sát quốc gia Đà Nẵng đã bắt được 1 cán bộ đặc công Cộng sản, tịch thu 7 lựu đạn và 2 kí chất nổ.
Trong khi đó, tin tức tình báo ghi nhận là CSBV đang xâm nhập vào vùng biên giới Lào – Việt, hàng tháng trung bình có 1.500 quân chính quy Bắc Việt xâm nhập và sẽ mở những trận đánh mới để hỗ trợ cho giai đoạn mà Cộng sản cho rằng đó là «giai đoạn chín mùi» của cuộc hội đàm Balê về VN.
Tin tình báo nói trên cũng tiết lộ rằng, Cộng quân đã chỉ thị cho cán bộ đặc công của chúng ở thành phố là phải đánh nhanh, đánh trúng theo kế hoạch Cao điểm Hè 71 «đánh hóa trang» ở các thành phố. (TV)



$pageOut$pageIn
Phân đoạn 14

#Chính Luận Jul. 9_10, 1972 trang nhất
VOA: ĐÔN QUÂN VÉT LÍNH QUÁ CỠ
CSBV hành động giống hệt như Hitler trong những ngày tàn
VOA: ĐÔN QUÂN VÉT LÍNH QUÁ CỠ
CSBV hành động giống hệt như Hitler trong những ngày tàn


HOA THỊNH ĐỒN, 7.7 (VOA). — Lâu nay một phong trào đôn quân bắt lính đã được phát động rầm rộ tại khắp Bắc Việt. Sau đây là bài nhận định của biên tập viên đài Tiếng Nói Hoa Kỳ.

Đã cả năm trời nay, nhà cầm quyền Hà Nội phải động viên phụ nữ để thay thế trai tráng bị đi lính cho Đảng và Chính phủ trong các hoạt động kinh tế và sản xuất hàng ngày. Tuy các cơ quan thông tin báo chí CSBV không loan tin một chiến sĩ nào tử trận cả, nhưng những người này ra đi ít có kẻ trở về. Không những thế, ít lâu nay ta lại thấy Đảng cho phát động tích cực một phong trào đôn quân bắt lính khác, lần này nhằm vào lớp trẻ tuổi hơn nữa, tức là lớp sinh viên học sinh còn đang cắp sách đến trường.
Phong trào bắt thiếu niên hiện nay ở BV khiến người ta nhớ lại vụ bắt lính của Hitler trong giai đoạn cuối cùng của chế độ Đức Quốc Xã, tuy nhiên dưới chế độ Cộng Sản, nó được ngụy trang dưới hình thức tình nguyện, sau những đợt học tập giáo dục chuyển xuống địa phương trong nhân dân để động viên khí thế lên đường chiến đấu.
Theo tờ Quân Đội Nhân Dân ngày 2-5, «thanh niên khắp nơi đã ùn ùn làm đơn tình nguyện tòng quân». Có người học lớp 10, lớp 9 tức là khoảng 15, 16 tuổi, lại cũng có sinh viên sắp sửa ra trường «cũng tình nguyện vào bộ đội», theo tờ Quân Đội Nhân Dân ngày 26-5.
Trong một nước chậm tiến cần nhiều chuyên viên như BV mà phải bắt cả những sinh viên kỹ thuật đã đào tạo gần xong ra trường để đi lính thì sự thiếu hụt quân số phải nghiêm trọng tới mức nào.
Nhà cầm quyền CSBV tận tình vơ vét thanh thiếu niên để đưa ra chiến trường tới mức có lẽ từ xưa tới nay chưa nước nào đã làm như thế cả.
Trong bài «Cả nhà là chiến sĩ» nhật báo Nhân Dân ngày 14-5 thuật chuyện ông bà Nguyễn Văn Đăng được nhân dân thị trấn Bố Hạ, huyện Yên Thế, tỉnh Hà Bắc đến chúc mừng vì nhà có 9 người con, 6 trai-3 gái thì đã hết tới 8 người vào bộ đội, cô con gái út năm nay học lớp Sáu tức là còn quá nhỏ, tuổi độ lên 10, tuy chưa đến tuổi nhưng cô đã lăm le tình nguyên đi bộ đội.
Cũng tờ Nhân Dân ngày 29-5 lại cho biết cụ Phạm Nhân ở xã Minh Kiến, huyện Phù Cừ, tỉnh Hải Hưng có 5 người con trai và 2 người con dâu thì cả 7 người đều đã vào bộ đội; và bà Nguyễn thị Tỵ ở xã Hạnh Phúc có 3 người con trai thì 2 người con lớn đã đi lính và đã chết trận, bà Tỵ góa chồng, còn người con thứ ba nó cũng lại đi bộ đội, tuy nhiên hình như cho thế vẫn còn chưa đủ, có đứa cháu gái tức là con gái người con lớn nhất, người cháu Nội duy nhất có thể giúp đỡ bà lúc tuổi già thì nay cũng lại đi lính nốt, bỏ bà trơ trọi một mình.
Ngần ấy câu chuyện cũng đủ cho thấy cái cảnh thiếu lính, bắt bừa thanh thiếu niên ở BV như thế nào, có điều chua xót là như Đảng và Chính phủ đã bắt tới cả nhà, cả ổ người ta ra chiến trận, mà cũng vẫn không đủ để bù đắp cho số quân bị chết trận ở miền Nam.

#Chính Luận Jul. 9_10, 1972 trang ba
Báo ngoại quốc: lần đầu tiên trong chiến tranh VN
CSBV VỨT CẢ SÚNG ỐNG MÀ CHẠY

#Chính Luận Jul. 9_10, 1972 trang ba
Báo ngoại quốc: lần đầu tiên trong chiến tranh VN
CSBV VỨT CẢ SÚNG ỐNG MÀ CHẠY
Đào ngũ hàng loạt, cả 1 đơn vị tan
★ CSBV thú nhận: Các sĩ quan cấp dưới quá non kém
⚫ CSBV thiếu thực phẩm mà còn thiếu cả nước uống
✺ Quân dân V.N.C.H. đoàn kết chiến đấu tuyệt vời


HOA THỊNH ĐỐN, 7.7 (VOA). — Tờ báo tại Mexico City viết rằng phép lạ của chương trình Việt hóa đã được Hoa Kỳ thực hiện cũng tốt đẹp như các chuyến du nguyệt cầu của họ.
Chiến sĩ VNCH với hàng ngàn thanh niên mới nhập ngũ đã anh dũng bền bỉ chống đánh các binh lính CSBV. Cuộc tấn công mạnh mẽ và có tổ chức kỹ lưỡng của CSBV đã bị tê liệt. Lần đầu tiên trong lịch sử của cuộc chiến này, các binh sĩ CSBV đã bỏ chạy. Vứt bỏ súng ống và để lại những chiến cụ cùng các ổ phòng không do Liên Sô viện trợ … tràn khắp các ngọn đồi và phơi bày trước họng hỏa pháo của các chiến hạm Hoa Kỳ nằm ngoài khơi vịnh BV.


Tại khắp vùng An Lộc, hàng ngàn dân chúng đã quá biết rõ những lời hứa hẹn của Cộng sản là thế nào, và đã lựa chọn chia sẻ số phận với quân đội VNCH và chống lại các cuộc tấn công. Các thường dân này không muốn rơi vào ách thống trị của Cộng Sản và thái độ mới này nói lên sự thành công của công cuộc Việt hóa. Tất cả các lực lượng CSBV ném vào cuộc chiến đã bị ngăn chặn và đánh bại, điều này chứng tỏ rằng chương trình Việt hóa hẳn là một thành công rực rỡ.

Tờ báo Christian Science Monitor trong một bản tin gửi về từ Phong Điền, Huế, nói rằng quân CSBV đã bắt tất cả những trai tráng từ 15 đến 35 tuổi trong tỉnh Quảng Trị đi dân công cho chúng tức là đi đào chiến hào và chuyển vận đạn dược. Thông tín viên của báo này ở Nam VN viết rằng phần lớn các gia đình trong tỉnh Quảng Trị đều bị buộc phải nộp đủ gạo cho CSBV để nuôi các du kích quân. Các dân tỵ nạn nói rằng quân VC lại còn nghiêm khắc hơn là quân CSBV. Tờ báo này viết rằng VC lấy gạo của dân tỵ nạn thì chúng trả bằng tiền BV, thứ tiền không giá trị gì ở Nam VN. Tờ Christian Science Monitor nói rằng quân CSBV bảo với các dân tỵ nạn rằng VC đang giải phóng bốn tỉnh địa đầu của Nam VN và thành phố Huế.

Bản tóm lược một bài bình luận đăng trên tờ Washington Post đề cập đến các vấn đề mà CSBV hiện đang phải đương đầu. Bài báo viết, một tiểu đoàn phòng không của CSBV đã thiệt mất 40 phần trăm quân vì thương vong và đào ngũ. Tờ Post nhận định là mức đào ngũ đang gia tăng cho thấy là quân đội CSBV không còn như trước nữa, và viết tiếp là mặt khác quân đội VNCH trong cuộc phản công tại Quảng Trị còn chứng tỏ một tinh thần hăng hái muốn đụng độ với địch quân.
Bài báo của tờ Washington Post trích thuật một bài đăng trong số báo ra tháng 5 là tờ Tạp chí Quân Đội của CSBV thừa nhận một cách hết sức chân thật là sự thiếu sót của các hạ sĩ quan trẻ trong quân đội CSBV phần lớn đều hiếu kinh nghiệm tác chiến.
Tờ Washington Post cho là ngoài những vấn đề chỉ huy kém cỏi, quân đội CSBV xâm lược còn bị trở ngại về những vấn đề tiếp tế ngày càng trầm trọng hơn và tờ báo trích thuật đài phát thanh Giải Phóng đặt tại Hà Nội rằng một vài đơn vị trọng pháo đã lâm vào tình trạng thiếu hụt thực phẩm và nước uống trầm trọng.
Tờ Washington Post cũng đã trích dẫn tờ Quân đội Nhân Dân của CSBV số ra ngày 15-6, theo đó thì công tác kiếm lương thực tại các khu vực tiền tuyến chỉ đạt ở dưới mức nhu cầu rất xa.
Trong phần kết luận, bài báo trên tờ Washington Post viết tình trạng của tiểu đoàn phòng không đang bị tan biến dần với một mức độ đào ngũ cao có thể là một dấu hiệu tan rã thực sự trong quân đội CSBV và đó sẽ là một yếu tố có tầm quan trọng sâu xa trong cuộc chiến tranh bất tận này.



#Tien Tuyen Jul. 12, 1972 trang nhất
Josep Alsop: lính CSBV quăng súng bỏ chạy như lũ thỏ chết nhát
#Tien Tuyen Jul. 12, 1972 trang nhất
Ký giả Josep Alsop nhận định:
Các nhà lãnh đạo Hanoi hoang mang và thất vọng
★ Lính CSBV quăng súng và bỏ chạy như lũ thỏ chết nhát


Bình luận gia Josep Alsop tiên đoán là «TT Nixon còn có 1 cơ hội là ông sẽ chấm dứt được chiến cuộc với những điều kiện hợp lý trước ngày tuyển cử».

Bình luận gia này viết tiếp:
«Lẽ tất nhiên, người ta phải bắt đầu bằng câu hỏi là cuộc đánh cá này ra sao. Chẳng hạn như, nó sẽ trở thành ngớ ngẩn nếu đánh cá là bí thư Lê Duẩn và những người lãnh đạo cứng răn khác tại Hanoi sẽ chịu thay đổi ý nghĩ của họ. Trong lúc này, những người đó phải một mực chứng tỏ mạnh là họ quyết tâm bám víu lấy niềm hy vọng Thượng nghị sĩ Mc Govern sẽ thắng cử và sẽ tới «mặc cả» tại Hanoi như lời ông ta đã công khai hứa hẹn.
«Thay vì thế, hiện nay còn có cuộc đánh cá là sự thất vọng về cuộc tấn công lớn này sẽ tạo nên một sự thay đổi quan trọng về thế quân bình giữa 2 phe lãnh đạo ở Hanoi. Nếu điều đó xảy ra thì những kẻ thua cuộc chính là Lê Duẩn và những người khác thuộc phe cứng răn. Và kết quả nếu những người này mất địa vị nắm giữ chính sách thì TT Nixon có thể dễ dàng đạt được mục tiêu ông mưu tìm từ lâu …, vì ba lý do hoàn toàn khác nhau.
«Trước hết là thành công sáng chói của TT trong việc chia cách Hanoi với Bắc Kinh và Mạc tư Khoa bằng mọi đường lối. Mạc tư Khoa và Bắc Kinh không cần «làm áp lực» với Hanoi như Johnson trước đây thường hy vọng. Cuộc phong tỏa [ Vịnh Bắc Việt ] và oanh tạc của Hoa Kỳ đang làm áp lực mạnh hơn bất cứ người "anh em vĩ đại" nào của Bắc Việt. Nhưng Bắc Kinh lẫn Mạc tư Khoa đều cảnh giác Hanoi rằng TT Nixon có thể tái đắc cử và sự thương lượng với ông sẽ còn khó khăn hơn nữa khi cuộc tuyển cử kết thúc.
«Hay là thương lượng bây giờ đi trong khi xác đồng chí còn có thể thương lượng, đó là lời khuyên mà họ đã đưa ra. Lời khuyên này tự nó cũng đủ làm cho Hanoi hoang mang rồi. Hanoi lại càng thêm hoang mang khi đã chứng kiến các đơn vị Bắc Việt trước đây hăng say nhưng nay đang quăng súng bỏ chạy như bầy thỏ chết nhát khi gặp sức tấn công của binh sĩ VNCH, điều đó đã xảy ra luôn luôn trên những nẻo đường hành quân tiến ra Quảng Trị. Một trong những đơn vị đang lâm vào tình trạng đó cũng là đại đơn vị trừ bị cuối cùng của Hanoi tức SĐ325».

Bình luận gia Alsop đã duyệt lại những cuộc tranh luận giữa các lãnh tụ ở Hanoi:
1) năm 1965 về việc xâm nhập thêm quân vào Nam;
2) năm 1968 những hy sinh to lớn phải chịu trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân;

3) năm 1971 về việc tăng cường quân sự mới.

Alsop kết luận: «trong những lần đó, lần nào Lê Duẩn và bọn theo đường lối cứng rắn cũng thắng khi tranh luận. Nhưng lần nào thì diễn tiến và kinh nghiệm sau đó đều chứng tỏ Lê Duẩn và bọn cứng rắn cũng sai lầm một cách thảm bại.
Tuy nhiên, nay thì cuộc tổng tấn công này đã khiến cho Bắc Việt bị oanh tạc trở lại, các hải cảng bị phong tỏa và đã đem lại một tai họa còn lớn hơn hồi Tết Mậu Thân.
Người ta đã có thể thấy tại sao bọn cứng rắn ngoài Bắc sẽ khó mà biện bạch gì được»

~~~~~~~~~~~~~~

#Tien Tuyen Jul. 13, 1972 trang nhất
Xâm Lăng Trên 3 Tháng Mà Bộ Binh Và Chiến Xa Bắc Việt Vẫn Chưa Phối Hợp Nhịp Nhàng
«Vua diệt chiến xa địch» của Thiết Đoàn 18:
Xâm Lăng Trên 3 Tháng Mà
BỘ BINH VÀ CHIẾN XA BẮC VIỆT VẪN CHƯA PHỐI HỢP NHỊP NHÀNG
★ Đụng trận là Bộ binh CSBV bỏ chạy trốn để mặc cho Thiết Giáp chạy khơi khơi. ⚫ 6 ngày phép đặc biệt cho thành tích hạ 4 chiến xa T-54

⚀ Anh Nhân

QUẢNG TRỊ.– Theo nhiều sĩ quan và hạ sĩ quan am tường của Thiết đoàn 18 Kỵ binh và nhất là Trung sĩ Thạch Suon, người chiến sĩ xuất sắc của Thiết đoàn, đã tiết lộ «Cho đến nay sau hơn 3 tháng xâm nhập miền Nam, Thiết giáp và Bộ binh Bắc Việt vẫn chưa phối hợp nhịp nhàng như Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong các cuộc hành quân bộ chiến. Nhờ vậy ma lực lượng bộ binh VNCH rất có kinh nghiệm đè bẹp đối phương trong nhiều trận giáp chiến với thiết giáp của địch.

Hạ 4 chiến xa đợi lấy sáu ngày phép
Trung sĩ Thạch Suon là xạ thủ của chiến xa M41 thuộc chi đoàn 1/15 biệt phái cho Thiết đoàn 18 hành quân phối hợp với TQLC hoạt động trong vùng duyên hải phía Đông Quảng Trị - Thừa Thiên.
Trung sĩ Thạch Suon, người xạ thủ duy nhất đã bắn hạ 4 chiến xa T-54 trong trận Xa chiến chiều ngày 3-7 tại vùng đồi cát quanh quận lỵ Triệu Phong.
Nhờ sự gan dạ và bình tĩnh phi thường, anh đã lật ngược được thế cờ với vòn vẹn có 2 chiến xa M41 mà phải đương đầu với 7 chiến xa và xe lội nước của giặc. Anh đã được tưởng thưởng 6 ngày phép đặc biệt giữa lúc chiến trường còn sôi sục.

Anh nói tiếp: «Nhờ địch thiếu khả năng và thiếu phối hợp yểm trợ lẫn nhau cho nên đã giúp cho các đơn vị VNCH thành công mau lẹ. Bằng chứng cho thấy rõ là có nhiều sự lúng túng của các đơn vị bộ binh tháp tùng chiến xa bên phía giặc. Mỗi khi chúng bị quân ta áp đảo bằng đại liên thì chúng co giò phóng chạy tìm chỗ ẩn núp bỏ mặc cho chiến xa chạy khơi khơi mà không có Bộ Binh đi dọc hai bên. Nhờ vậy, đã giúp cho các đơn vị VNCH thanh toán địch quân và bắt sống lai rai chiến xa giặc.»

~~~~~~~~~~~~~~

#Tien Tuyen Jul. 14, 1972 trang nhất
1 Thượng Úy CSBV Bị Hạ Sát Sau Thảm Bại Mỹ Chánh
#Tien Tuyen Jul. 14, 1972 trang nhất
Nhật ký của 1 lính BV bắt được tại Quảng Trị cho biết:
1 THƯỢNG ÚY CSBV BỊ CẤP TRÊN BẮN HẠ SAU THẢM BẠI MỸ CHÁNH
vì chưa đầy 24 tiếng đồng hồ đã để mất 26 chiến xa


SAIGON (HT) 13-7. – Thông tín viên đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) tối qua đã đề cập đến những thật bại của Cộng quân tại Quảng Trị, dựa vào một cuốn Nhật Ký của một cán binh Bắc Việt và một Báo Cáo mới nhất của quân CSBV về tình hình chiến trận tại chỗ.

Bộ Chỉ Huy Dù VNCH tại Quảng Trị vừa cho biết, cách đây 2 ngày, sau khi lục soát làng La Vang Thượng, quân Dù đã tìm thấy một cuốn Sổ Tay của 1 cán binh Cộng sản mà sau đây là 1 đoạn nói về sự thất bại của Cộng quân khi chúng gặp Tiểu đoàn 11 Dù, đoạn này đã gởi về Hanoi ngày 25-6-1972:

«Mến gởi tất cả các đồng chí thuộc Sư đoàn 243 và Thiết đoàn 31 quân kháng chiến chống Mỹ Ngụy.
«Từ ngày 1-4 tới nay, quân ta đã chiếm xong thành phố Quảng Trị, và hiện giờ quân ta đang chiếm cố đô Huế để hoàn thành sứ mạng của quân và dân kháng chiến ta. Đêm hôm 21 rạng 22, Thiết đoàn 31 đã vượt sông Mỹ Chánh để đánh phá Pháo đội 155 của Sư đoàn 3 và Pháo đội 105 của TQLC ngụy. Không ngờ khi qua tới sông Mỹ Chánh, ta đã đụng một đơn vị Nhảy Dù. Với sức kháng cự khá mạnh của quân Dù, cho nên ta đã để lại 1 chiến xa loại T.38 và hư hại 25 chiếc khác đủ loại do phi cơ và pháo binh cũng như là quân Dù ngụy phá hoại. Còn sót lại Thượng úy Nguyễn viết Thương chạy về được. Thượng úy cho biết không ngờ quân Dù ngụy đã tiến ra sâu như vậy. Nếu biết Dù ngụy đã có mặt ở đó, ta nên tránh thì hơn. Vì lệnh cấp trên cho hay là nếu đánh Dù ngụy thì phải biết rõ mục tiêu chắc chắn, đánh nhanh đánh lẹ. Còn nếu ta đi tìm Dù ngụy mà nó phác giác ta trước thì coi như là tiêu.
«Khi Thượng úy về trình diện Trung tá thì bị Trung tá bắn chết tại chỗ. Lý do: để mất 26 chiến xa hùng mạnh dẫn đầu mà không giết được tên Dù ngụy nào, đã vậy còn bị tụi nó tiêu diệt hết trong vòng không đầy 24 tiếng đồng hồ»

~~~~~~~~~~~~~~

#Tien Tuyen Jul. 13, 1972 trang năm
Nạn Trai Thiếu Gái Thừa Tại Bắc Việt
Vương Duy Diễn kể
#Tien Tuyen Jul. 13, 1972 trang năm
Nạn Trai Thiếu Gái Thừa Tại Bắc Việt
Vương Duy Diễn kể

Đàn ông ở ngoài Bắc hiện còn rất ít. Thanh niên miền Bắc bị đưa vào Nam cũng giống như suối chảy một chiều. Đi thì có về thì không. Có người đi cả mấy chục năm mà gia đình vẫn không hay biết một chút tin tức nào cả.
Do đó, đồng bào miền Bắc mới có câu hát rằng:

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Đàn ông chết hết đàn bà nằm không
Bao giờ giải phóng thành công
Đảng cho phép cưới một ông mười bà.


Một anh cán bộ có ba bốn cô tình nhân hoặc những ông già năm sáu chục tuổi mà vẫn còn đèo bồng thêm đôi ba vợ bé thì đó không phải là chuyện hiếm hoi gì.

Anh Nguyễn Việt Phương 28 tuổi, sinh quán tại Phố Mới, Lao Kay, Chuẩn Úy bộ đội Bắc Việt và là Đội phó đội Kinh Tài Việt Cộng ra hồi chánh với Trung Đoàn 30 Nghĩa quân VNCH ở Buôn Ea Knir, Quận Ban Mê Thuột hồi cuối tháng rồi, cho biết thêm rằng, tình trạng “cưới nhau xong là đi” hầu như trên đất Bắc nơi nào cũng có.
Các chị em thanh nữ cũng biết rằng “lấy chồng thời chiến chinh mấy người đi trở lại” nên ít có người giữ được lòng chung thủy.
Có chăng thì cũng một số ít, và chỉ được 5, 7 năm mà thôi. Nhưng lại gặp phải nạn trai thiếu gái thừa nên tình trạng chửa hoang đã trở thành một phong trào lan tràn khắp nơi.

Đời sống miền Bắc
Được hỏi về đời sống nhân dân miền Bắc ra sao, hồi chánh viên Nguyễn việt Phương cho biết: về vật chất, sự đói thiếu khổ cực không sao tả xiết được.
Anh đưa ra ví dụ, một nông dân, phải làm việc đầu tắt mặt tối mỗi ngày 14 tiếng đồng hồ mà cơm ăn không đủ no áo không đủ mặc, vẫn phải làm việc bằng hai bằng ba, vẫn phải “thắt lưng buộc bụng nín thở chống Mỹ cứu nước", hoặc là “ngày làm không đủ tranh thủ làm đêm”.
Dân chúng thì vừa phải lao động sản xuất vừa phải thi hành đủ thứ nghĩa vụ dân công cho nhà nước. Và lao động sản xuất thì lợi tức được tính theo công điểm. Ví dụ, một gia đình có hai vợ chồng là lao động chính và năm đứa con là năm lao động phụ, nên nếu con cái không làm việc được thì cho mẹ phải làm thế vào.
Nhưng lợi tức hằng năm nhiều lắm mỗi vụ mùa cũng chỉ được bốn tạ lúa mà thôi. Với bốn tạ lúa thì dù ăn tiêu dè xẻn cần kiệm, trộn thêm ngô khoai, cũng vẫn bị thiếu chứ đừng nói đến việc may sắm quần áo hay sửa chữa nhà cửa.
Vì vậy dân phải vay của hợp tác xã (nếu được nhân dân bình nghị) và phải trả hết số nợ đó vào vụ mùa năm sau. Do đó mỗi năm số tháng thiếu ăn lại càng tăng thêm, lại phải vay nợ thêm, lại phải nỗ lực sản xuất thêm để trả nợ. Những gia đình có nhiều lao động chính thì tương đối được no hơn. Nhưng bù lại họ phải lao động nhiều hơn.
Hầu hết thanh niên trai tráng từ 17 tuổi trở lên đều đã bị đưa vào Nam chiến đấu nên việc sản xuất và các nghĩa vụ khác đều đổ lên đầu ông già và đàn bà phụ nữ. Ai cũng nản lòng bất mãn.

Nhân dân thì như vậy còn cán bộ lại chẳng biết lao động là gì mà vẫn ăn sang mặc sướng tự do phè phởn. Vì vậy mới có những câu ca truyền miệng trong dân chúng như là:

Một người làm việc bằng hai
Để cho cán bộ mua đài mua xe
Một người làm việc bằng ba
Để cho cán bộ xây nhà xây sân
Một người làm việc bằng năm
Để cho cán bộ ăn nằm đi chơi.


Đời sống vật chất đã vậy, đời tinh thần lại còn khổ hơn. Suốt năm làm việc không bao giờ được nghỉ ngơi, giải trí. Hết giờ lao động thì lại phải đi họp, hội nghị, học tập, kiểm thảo. Người ta làm mọi cách để kiểm soát tư tưởng của nhân dân. Đảng ngự trị trong đầu óc và len lỏi vào cả những ý nghĩ thầm kín nhất của mỗi người dân.
Các buổi thuyết pháp truyền đạo đều bị theo dõi. Các Linh mục bị coi là phản động, phải bị đưa đi tẩy não nếu trong các bài giảng không lồng vào việc truyền bá tư tưởng của bác của đảng. Giáo hữu thì bị cản trở gián tiếp bằng nhiều cách để không thể đến nhà thờ được.
Tình cảm cá nhân cuả vợ chồng, cha con, bè bạn cũng đều bị bóp chết. Tổ chức tình báo nhân dân của đảng đã gieo rắc nghi ngờ đố kỵ trong mọi gia đình, không ai còn biết tin tưởng vào ai nữa.

Trên đường vào Nam
Thuật lại cuộc viễn chinh vào Nam, hồi chánh viên Nguyễn việt Phương cho biết sau khi tốt nghiệp khóa bồi dưỡng bổ túc Hạ Sĩ quan ở Kỳ Sơn Hòa Bình, là một thanh niên thuộc thành phần cốt cán, thành tích học tập tốt, anh được thăng cấp Chuẩn úy và đưa vào Nam kể từ ngày 15-2-1970.
Với vẻ mặt rất thành khẩn anh cho biết tiếp rằng trước khi vào Nam thì cứ tưởng vào đó để giải phóng đồng bào ruột thịt đang bị «Mỹ ngụy kèm kẹp và khổ sở mọi bề», Anh lại còn được cán bộ cho biết rằng trong Nam, ta đã giải phóng 3/4 đất đai và 2/3 dân số.
Vậy rồi đoàn trai mang hào khí nhiệt huyết, chẳng quản gian lao 4 tháng hành quân khổ cực, dù chỉ được cấp 5 lạng gạo mỗi ngày, họ hăng hái trèo đèo vượt suối băng rừng.
Nhiều người không đủ sức chịu đựng, bị đau ốm chết dọc đường, có kẻ rơi từ trên đèo cao xuống vực thẳm, không mất tích thì cũng gãy tay gãy chân. Nhuệ khí lúc ban đầu bay giờ đã tan biến.
Khi vào đến miền Nam (mặt trận B 3 Kontum) cũng vẫn thấy núi rừng trùng điệp, không có lấy bóng dáng một người dân nào. Vậy mà mấy đồng chí làm văn nghệ kháng chiến trong Nam dám viết nào là nhân dân tấp nập đón mừng, nào là những cô gái mong sao đem quà nước mời anh.
Đến mặt trận B3 chưa kịp nghỉ ngơi, tiểu đoàn anh lại được lệnh chuẩn bị tăng cường cho mặt trận B2, anh em ai cũng bất mãn phản đối. Thủ trưởng Trung đoàn phải đến giải thích, trấn an và đe dọa. Nhưng rồi ngay trong đêm tạm dừng chân đó, Tiểu đoàn anh bị B 52 cho ăn bom tơi bời. Trên 100 người chết, số bị thương cũng xấp xỉ chừng đó, trong đó có cả anh.
Mặc dù đã được đưa đến điều trị tại bệnh viện 84 (giữa biên giới Miên Lào) hơn ba tháng trời nhưng anh vẫn bị hư mất một cái tai. Điều trị xong, tưởng rằng là thương binh thì anh sẽ được trở về quê, không ngờ anh lại bị đưa vào bổ xung cho cơ sở tiếp liệu T73 ở mặt trận B3. Anh được giao nhiệm vụ tiếp nhận thực phẩm từ miền Bắc vào và thu mua lương thực tại địa phương để phân phối cho các đơn vị.
Vì ăn uống quá khổ cực, thiếu bổ dưỡng, nhất là anh vừa bị thương chưa bình phục hẳn nên không thể thỏa mãn nhu cầu công tác cho bộ đội như đã được giao phó. Đến tháng 7-1971 anh được đưa đến làm Đội phó Kinh tài H.6 thuộc tỉnh ủy Darlac.

Cảm động vì được đón tiếp niềm nở
Bất mãn vì bị khai thác một cách dã man như vậy cho nên anh nảy sinh ý định ra hồi chánh. Thêm vào đó là các cuộc tiếp xúc với dân chúng địa phương, và qua các truyền đơn hồi chánh, anh có dịp so sánh đời sống con người dưới hai chế độ Tự do và Cộng sản như thế nào rồi.
Nước da đen chì và sạm nắng, đầu tóc hớt cao, Nguyễn việt Phương có cái vẻ đặc biệt Cộng sản còn hơn bất cứ cán bộ Cộng sản nào. Vậy mà anh đã rơm rớm nước mắt khi nhắc lại cảnh anh được vồn vã đón tiếp mà anh em Nghĩa Quân Quốc Gia đã dành cho anh khi anh ra hồi chánh.
Trong câu chuyện tâm tình, hồi chánh viên Nguyễn việt Phương nói rằng mặc dù anh đã có dịp đọc qua một số truyền đơn Chiêu Hồi có lời kêu gọi của các Thượng tá Tám Hà, Huỳnh Cự, Lê Xuân Chuyên v.v… nhưng anh vẫn chưa hết nghi ngờ và phập phồng lo sợ, nghi ngờ vì sợ bị lừa phỉnh, sợ bị tra tấn tù đày, phập phồng vì không biết đi có thoát được không.
Chính vì mang tâm trạng đó cho nên anh đã vô cùng sung sướng và cảm động khi gặp được một đơn vị Nghĩa Quân và được đón tiếp một cách rất niềm nở.
Trần việt Phương kể lại rằng, tối hôm 18-6 lợi dụng người bên cạnh sơ hở, anh giả vờ bảo là mang súng đi săn, cứ thế anh đi suốt đêm theo đường đã định trước.
Sáng hôm sau anh mới tìm được đến đường lộ. Mặc dù vô cùng mệt mỏi nhưng anh vẫn cố lê gót. Trong thâm tâm anh chỉ mong gặp được xe hơi hay một đơn vị nào của Quân lực VNCH.
Nhưng đi mãi đến chiều mệt lả, vì đói anh phải tìm vào làng để dọ hỏi tin tức và kiếm ăn. Đến lúc gặp một chiến sĩ Nghĩa Quân, anh mới biết đây là vùng Quốc Gia an toàn và anh nói rõ anh là Việt Cộng xin ra hồi chánh.
Lập tức anh lính Nghĩa Quân này ôm chặt lấy anh và la lớn: Việt Cộng. Việt Cộng, có Việt Cộng ra hồi chánh. Anh ấy làm như bắt được bửu bối và sợ người ta lấy mất. Vậy là đồng bào mình ùn ùn kéo tới, trong số đó có cả toán Nghĩa Quân phòng thủ Ấp.
Kẻ hỏi thăm chuyện này, người hỏi thăm chuyện nọ. Trong khi đó, người này mang cơm, người kia mang quần áo đến cho anh tắm rửa và ăn uống trong khi chờ đợi phái đoàn Quận đem xe đến đón anh về.

~~~~~~~~~~~~~~

#Tien Tuyen Jul 14, 1972 trang hai
VÕ NGUYÊN GIÁP ĐÃ GIẢI BÀI TOÁN SAI ĐÁP SỐ
#Tien Tuyen Jul 14, 1972 trang hai
Ký giả Rickurt của tờ «Washington Post»
VÕ NGUYÊN GIÁP ĐÃ GIẢI BÀI TOÁN SAI ĐÁP SỐ
Sau đây là bài đầu tiên trong loạt 3 bài viết về cuộc tấn công của Bắc Việt vào miền Nam VN đã được báo Washington Post đăng tải hôm 8-7. Ông Rickurt là một trong những Ký giả có tiếng trong ban biên tập của tờ Washington Post về vấn đề VN. Trong bài này ông Rickurt bắt đầu phân tích chi tiết về chính cuộc tấn công. Trong những bài sau ông sẽ thảo luận về những sự thăng trầm của chiến cuộc và tác phong của Sĩ quan và binh sĩ VNCH.

"Sự lầm lẫn của BV trong cuộc tấn công cũng gần giống như những lầm lẫn của họ hồi Tết Mậu Thân”. Ông John Paul Vann nói với các Ký giả tại Pleiku ngày trước khi ông bị thiệt mạng hồi tháng trước.
Những bạn đồng nghiệp của ông bất đồng ý với ông. Thực vậy, sau khi những sự việc đã xảy ra với các Cố Vấn Hoa Kỳ ngoài mặt trận thì các bình luận gia tại Saigon đã đồng ý rằng, về tình hình quân sự, Hànội đã trở thành địch thủ đáng sợ nhất của chính mình khi họ mở cuộc tấn công quy mô vào ngày 30-3-72. Các lãnh đạo cao cấp và cộng tác tham mưu của họ đã tỏ ra không thích nghi với võ khí mới do Nga Sô cung cấp và (không đánh giá thích đáng) khả năng chiến đấu mạnh của binh lính chính quy trong quân đội của họ.
Do đó dù sao hơn nữa trong lúc này các nhà lãnh đạo quân sự Hoa Kỳ như Bộ trưởng Quốc phòng M. Laird đã có thể tuyên bố “Chúng tôi đã nói với quý vị như vậy rồi".
Ngay sau cuộc tấn công vào Lễ Phục sinh, cả ông Laird lẫn Tướng Abrams đều tiên đoán rằng sẽ có những thành tích gây tiếng vang của Hànội như việc chiếm thị xã Quảng Trị chẳng hạn, nhưng cuộc tấn công chung sẽ thất bại, cùng với những tổn thất nặng nề hiện nay cuộc tấn công của Hà nội dường như đã suy giảm vì cao điểm của họ không đạt được. Các giới chức Hoa Kỳ và Việt Nam có thể đi vào việc thẩm định phản ứng của đồng minh trước cuộc tấn công đẫm máu của chiến cuộc Đông Dương kể từ khi Hoa Kỳ tham chiến một cách mạnh mẽ vào năm 1965.

Bắc Việt đã đổ máu vô ích.
Theo sự ước lượng của Hoa Kỳ thì khoảng 50 ngàn binh lính Bắc Việt trong số 150 ngàn binh lính tham chiến đã bị hạ hay bị thương quá nặng không thể trở lại chiến trường. Đây là cuộc đổ máu vô ích. Tướng Abram đã tiên đoán thế khi cuộc tấn công mở màn. Tuy rằng Hà Nội bị thiệt hại nặng, đây không phải là cuộc đổ máu một chiều. Các lực lượng VNCH cũng bị thiệt hại đáng kể.
Có thể Bắc Việt phải mất 1 năm mới phục hồi hoàn toàn được số tổn thất của họ. Một Bình luận gia cao cấp của Hoa Kỳ đã nói thế khi khẳng định cuộc tấn công của Hanoi. Một Bình luận gia khác viết rằng, ít nhất trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, Hànội đã đánh đổi được việc ngưng oanh tạc trên lãnh thổ của họ. Còn lần này, tướng Võ Nguyên Giáp đã tung vào chiến trận 11 trong cả thảy 15 Sư đoàn Bắc Việt, và đã thu hoạch được ít hơn, ít nhất là cho tới nay.

Một số trọng pháo địch xử dụng là của VNCH
Nhưng điều gì đã làm cho lệch lạc như vậy? Điểm đầu tiên để trả lời câu hỏi này là danh sách những tiêu sản và tích sản lớn lao của Hànội trước khi họ mở cuộc tấn công qua vùng phi quân sự vào ngày 30-3. Trước khi có cuộc tấn công ngày 30-3, Bắc Việt đã dành lại được vài vùng căn cứ tại biên giới Kampuchea bị Đồng minh chiếm giữ năm 1970. Do đó, họ có được địa điểm xuất phát để tấn công. Nhưng họ không tái chiếm được thành phố Sihanoukville, hải cảng của Kampuchea, mà phần lớn các chiến cụ của họ đã được tích trữ sẵn tại đây vào các năm 1966 đến 1969.
Do đó, cho dù các lực lượng Bắc Việt tại đây hay tại gần phần đất phía Nam của VNCH thì đều phải trông cậy vào việc tiếp tế bằng xe vận tải qua đường mòn Hồ chí minh dài 600 dặm Anh chạy từ Bắc Việt qua Lào. Điều này khiến cho tiếp vận của Hànội trở nên phức tạp chẳng hạn như việc tiếp tế đạn được cho pháo binh của họ. Tại khu vực phía Nam Huế, quân đội Bắc Việt hoàn toàn không có xử dụng đại bác 130 ly mới được Nga Sô cung cấp. Các hỏa tiễn, bích kích pháo và các đại bác 105 và 155 bắt được của VNCH đã cung cấp hỏa lực này cho Bắc Việt tại An Lộc ở phía Bắc Saigon.

Võ nguyên Giáp đã giải bài toán sai đáp số
Hơn thế nữa, trái với năm 1968, hiện nay Bắc Việt đang tấn công uể oải từ một số lực lượng đồn trú tại các mật khu trước kia của VC tại miền Trung và vùng Châu Thổ. Không ai biết là tướng Giáp tin tưởng tới mức nào vào một cơ cấu quân sự thuần phát của VC hiện còn tồn tại tại miền Nam mà có thể khích động một cuộc nổi dậy của dân chúng? Nhưng nếu tướng Giáp mà tin vào điều này thì ông ta đã lầm to. Hiển nhiên, cuộc tấn công Tết Mậu Thân và chương trình Bình Định đã làm hao mòn VC rất nhiều với những tổn thất lớn lao về quân sự cũng như dân sự.
Khi cuộc tấn công ngày 30-3 xảy ra đã có những cuộc quấy rối. Các thành phố bị pháo kích bằng bích kích pháo, một vài cây cầu bị phá sập, nhiều đồn bị thất thủ. Nhưng không có đốt, phá hoại hay phục kích nào kéo dài xảy ra ảnh hưởng tới các cánh quân Đồng minh. Các đoàn quân xa của VNCH có thể di chuyển một cách tự do tới các trục lộ chính tại nhiều nơi. Tại Huế, Kontum hay chung quanh Saigon, các cuộc tấn công du kích như hồi 1968 lại tái phát, được kèm theo bởi các cuộc tấn công cuả quân chính quy Bắc Việt từ phía ngoài có thể có tính cách quyết định. Nhưng cuộc tái phát các cuộc tấn công du kích thì chưa xảy ra. Trong bất cứ trường hợp nào, Bắc Việt đã tỏ ra có nhiều tham vọng hơn sự thẩm định của họ.
Có thể họ đã đánh giá quá thấp khả năng phản ứng của Nam Việt Nam vì họ đã dựa vào sự thẩm định này qua sự lúng túng của Bộ Tư lệnh VNCH tại Ai Lao và Kampuchea hồi năm 1971.
Hoa Kỳ đã rút khỏi cuộc chiến trên bộ. 2 Sư đoàn Đại Hàn đã không có mặt tại các vùng biên giới, đã giữ 1 vai trò bất động tại bờ biển miền Trung. 11 Sư đoàn bộ binh VNCH khác như thường lệ được bố trí trên khắp nước trong các vai trò bảo vệ lãnh thổ. Chỉ có 2 Sư đoàn Tổng Trừ bị TQLC và Nhảy Dù đã được xử dụng linh hoạt, và vào ngày 30-3, hai phần ba các lực lượng ưu tú này đã được tung ra khỏi Saigon để bảo vệ vùng giới tuyến.

Thực lực của địch trên chiến trường miền Nam
Kế hoạch của Bắc Việt dường như chỉ nhằm mở các cuộc tấn công mạnh mẽ tại các điểm cách nhau khá xa mà quân đội VNCH không thể bảo vệ khắp mọi nơi. Hànội đang xử dụng một lực lượng mạnh. Một lực tương đương với 4 sư đoàn 304, 308, 324B cộng thêm các Trung đoàn biệt lập từ vùng phi quân sự tiến về Nam vào Quảng Trị và tiến về Đông vào thị xã Huế từ các thung lũng An Hữu ở Lào. Các đơn vị lúc đầu đã được yểm trợ bởi 10.000 đạn trọng pháo và hỏa tiễn, một hàng rào hỏa lực mạnh nhất của Hanôi trong cuộc chiến tranh và các chiến xa chạy trước mở đường một lực lựng tương đương với 3 Sư đoàn tiến đánh các Căn cứ Hỏa lực của VNCH ở gần Dakto, Tân Cảnh và sau đó là Kontum. Chiến xa, hỏa tiễn và bích kích pháo đã được đem ra xử dụng.
3 sư đoàn 5,7 và 9 cũng như chiến xa, hỏa tiễn và bích kích pháo dồn tập trung vào Lộc Ninh và vào thị xã nhỏ bé An Lộc 100 cây số về phía Bắc Saigon.
Trong các cuộc tấn công dương Đông kích Tây khác ít quan trọng hơn tại các nơi khác, Sư đoàn 711 gồm có 3 Trung đoàn chiếm quận Đệ Đức [ * ], đe dọa bờ biển và cầm chân một phần của SĐ 2 VNCH tại tỉnh Quảng Tín.
Sư đoàn 3 địa phương chiếm phía Bắc tỉnh Bình Định. Sư đoàn 1 thiếu quân số của họ tiến vào vùng Châu Thổ Cửu Long từ phía Đông Nam Kampuchea làm hậu thuẫn cho VC tấn công Hà Tiên. Các lực lượng ít quan trọng hơn đã tấn công tỉnh Hậu Nghĩa phía Đông Nam Saigon.

[ * ] tham khảo báo #Tien Tuyen Jul. 25, 1972 trang ba, bài Sau chiến thắng Hoài Nhơn, trên đường tiến chiếm Tam Quan, Hoài Ân, Quân Ta Đã Tái Chiếm Căn Cứ Đệ Đức, tiếp nhận 116 lính Cộng sản hồi chánh tập thể: Đệ Đức không phải là Quận. Đệ Đức là một Căn Cứ của QLVNCH có vai trò chiến lược quan trọng bảo vệ 2 Quận Hoài Nhơn và Tam Quan thuộc tỉnh Bình Định, miền duyên hải Trung phần Việt Nam. Đệ Đức cũng là bản doanh của Bộ Chỉ huy một Trung đoàn Bộ Binh VNCH nằm sát Quốc lộ 1 về phía Bồng Sơn.

Địch thua về vận chuyển, ông Thiệu táo bạo!
Nhưng cũng có những khuyết điểm. Trước hết, sau khi xử dụng các lực lượng của họ tại những vùng riêng biệt, Hànội đã không thể chuyển các lực lượng này tới các vùng khác một cách mau lẹ để củng cố chiến thắng. Hànội có chiến xa, máy phát thanh, trọng pháo xe vận tải, hỏa tiễn tầm nhiệt, súng phòng không. Nhưng họ không có phương tiện chuyển đi bằng hàng không.
TT. Nguyễn Văn Thiệu nhờ Không quân Hoa Kỳ có thể di chuyển binh sĩ và vũ khí bằng phi cơ vận tải C130 của Hoa Kỳ và bằng các phi cơ C123 nhỏ hơn của Không quân VNCH.
Hơn thế nữa, TT Thiệu lần đầu tiên trong chiến cuộc đã phản ứng một cách mạnh bạo. Ông đã chuyển một Sư đoàn gồm các tân binh động viên từ vùng Châu Thổ tới phía Nam An Lộc. Các đơn vị tân binh động viên khác cũng được chuyển tới các nơi khác. Công cuộc phòng thủ địa phương lưu động, ngay cả trong việc chống lại các đơn vị chính quy Bắc Việt được trao lại cho Đại đội hay Tiểu đoàn ĐPQ đảm trách. Thành tích đã đạt được trong công tác này hoàn toàn có thể biện minh cho hành động mạo hiểm của TT Thiệu. Thực vậy, nhiều Tiểu đoàn ĐPQ được trang bị vũ khí nhẹ tại Quảng Trị đã đảm trách một phần phòng tuyến chính chống lại các chiến xa Bắc Việt cho tới khi áp lực trở nên quá nặng nề (HT).

~~~~~~~~~~~~~~

#Tien Tuyen Jul. 15, 1972 trang nhất
Cộng sản thú nhận gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp tế
NHIỀU CÁN BINH CSBV Xin Về Bắc vì không dám chiến đấu
#Tien Tuyen Jul. 15, 1972 trang nhất
Cộng sản thú nhận gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp tế
NHIỀU CÁN BINH CSBV Xin Về Bắc vì không dám chiến đấu
★ Thương bệnh binh Cộng sản không có thuốc men, một số lại mang bệnh về … tư tưởng

✦ TIẾN CHÂU

SAIGON (TT) 14-7. – Trong một tài liệu của Cộng sản do QLVNCH tịch thu được, có một báo cáo của Phòng Hậu cần Phân khu 5 Cộng sản (thuộc khu vực Bình Dương và Biên Hòa), Chủ nhiệm hậu cần Cộng sản báo cáo lên cấp chỉ huy trực tiếp của chúng như sau:

«— Chúng tôi hiện nay gặp một khó khăn mà giải quyết chưa được tốt, có ảnh hưởng đến chính sách chung về vấn đề thương bệnh binh. Hiện nay Trung đoàn Đồng Nai có một số lớn bệnh binh mất sức và có một số bệnh về tư tưởng.
— Khó khăn thứ hai là qua hai đợt tấn công nổi dậy, địa bàn cửa khẩu bị địch ngăn chận, do đó việc mua lương thực từ bên ngoài bị thất thường, có lúc coi như không có lương thực.
— Về tài chánh, không thu đặng mà do chi tiêu nhiều nên có lúc có gạo thì không có tiền, lúc có tiền thì hông có gạo, nhưng về tiền thì luôn luôn bị thiếu, không có tiền để cấp tiền ăn»

Báo cáo viết tiếp:

«Ba khó khăn trên xin báo cáo đến các anh giúp đỡ một phần nào để chúng tôi giải quyết cho anh em đặng tốt.
Hiện nay toàn Phân khu có từ 280 đến 300 đồng chí đau yếu không chiến đấu đặng mà cũng không đi tải đặng, cộng với một số không dám không dám chiến đấu, xin về miền Bắc gồm 50 đến 80 đồng chí, tổng số như vậy trên dưới 400.»

Tài liệu nêu trên của Cộng sản cho thấy chúng gặp khó khăn trong việc tiếp tế cho đoàn quân viễn chinh của chúng xâm lăng miền Nam và cả bọn bộ đội tại chỗ (địa phương) của chúng nữa.
Hiện nay, sau báo cáo thất bại về quân sự trên chiến trường miền Nam nhất là khi hậu phương miền Bắc đang bị nguy khốn vì các cuộc oanh tạc nhằm cắt đứt các đường giao thông vận chuyển tiếp tế lương thực từ Bắc vào Nam, thì những khó khăn càng thêm chồng chất khiến cán binh CSBV mất hết tinh thần chiến đầu và đòi về Bắc như báo cáo trên đây của Phòng Hậu cần Phân khu 5 Cộng sản đã tiết lộ.

~~~~~~~~~~~~~~



$pageOut$pageIn
Phân đoạn 15

#Tien Tuyen Jul. 15, 1972 trang ba
Nỗi đau thương của đoàn quân CSBV
#Tien Tuyen Jul. 15, 1972 trang ba
Sổ tay của một cán binh CSBV tiết lộ
Nỗi đau thương của các đoàn quân CSBV xâm nhập miền Nam
★ Biên tập viên Hoài Sơn của tuần báo «Văn nghệ» ở Hanoi ra hàng cho biết về nạn buôn lậu vặt và cao bồi du đãng ở Hanoi


SAIGON (TT) – Khai thác cuốn Sổ Tay của một cán binh CSBV thuộc đoàn 2002 (tức TĐ 34/BTL Đặc công CSBV), nội dung có nhiều đoạn nói lên tình trạng bịnh tật, bị thương và gian khổ của cán binh CSBV trên đường xâm nhập miền Nam, như sau:

Sau 1 tháng hành quân xâm nhập miền Nam, đoàn 2002 (tức TĐ 34 Đặc công CSBV) đến được Trạm 43 vào ngày 9-12-1971.

Cán binh này tiết lộ:

«trên đường vô Nam, gặp rất nhiều Đoàn xâm nhập khác, hết đoàn này đến đoàn khác tiếp theo nhau nhộn nhịp như trẩy hội.
«Nhưng mỗi ngày cũng gặp cảnh tải thương chuyển về Bắc trung bình từ 1 đến 3 chuyến mỗi ngày. Gồm người cụt chân, kẻ cụt tay, đôi khi mất cả 2 tay hay 2 chân phải khiêng đi. Đám người này da dẻ xanh xao, mặt trắng, răng vàng môi thâm, bước đi ủ rũ. Họ đã chiến thắng trở về, đã cống hiến cho tổ quốc xương máu của họ và hôm nay mình cũng đang lao vào con đường đó. Con đường tương lai nhất của thế hệ hiện nay. Nói như thế đúng chưa nhỉ? Đúng hoặc không đúng cũng không cần.

«— Từ ngày 29-12-1971, khi đến Trạm 71, cả Đoàn bị hết gạo phải ăn cháo. Cán binh than thở: Ăn đói quá, và đã gần 2 tháng không ăn được miếng thịt mỡ nào.
«Tại Trạm 86, toàn Trung đội 1 “lâm vào tình trạng căng thẳng, 1 người ốm nặng phải khiêng 4 tên khác, bị mệt có khả năng sẽ phải khiêng nữa. Hiện nay đa số cán binh đều bị mệt, toàn Tiểu đoàn lại bị đói, phải đi ăn cắp sắn khoai của Trạm. Đã đến lúc nguy hiểm!”
— Trong những ngày cận Tết Nhâm Tý (1972), tình trạng đơn vị lại bi đát hơn: nhiều cán binh “bị sốt rét phải khiên nhau hoặc dìu nhau đi”. 1 giờ đêm 29 Chạp, đơn vị mới đến được Tram 13 mà chỉ còn phân nửa quân số, phân nửa thì một số nằm lại tại rừng, một số ngày 30 Chạp vẫn còn đi rải rác uể oải dọc đường. Đó là những ngày chuẩn bị đón Xuân.
— Chính ngày mồng 1 Tết Nhâm Tý, Ban chỉ huy Đoàn 2002 bắt bọn còn khỏe mạnh phải đi cùng những tên còn lại ở Trạm sau cách khoảng 14 cây số.»

Tài liệu viết tiếp:
«Mỗi ngày Đoàn phải gởi lại tới 20 tên, rồi đây sẽ ra sao?!»

Chú ý bạn đọc: Xin xem bài có nội dung liên hệ tới tình trạng thiếu đói của lính Bắc Việt như thế này, nơi phân đoạn 6 của Post Hào Khí Quân và Dân miền Nam, trong loạt bài:
TRÍCH NHẬT KÝ CỦA 1 CÁN BINH/SĨ QUAN CSBV TỬ TRẬN TRÊN CHIẾN TRƯỜNG VÙNG TAM BIÊN
Hànội đặt tên Sư đoàn «Thép»
Nhưng cán binh Cộng sản cũng chỉ là người

◙ Bài của MAI HOÀNG
Hànội buôn lậu vặt và cao bồi du đãng
Cán binh Cộng sản ra hàng với quân đội Quốc Gia tại Cam Lộ, Quảng Trị vào ngày 4-4-1972, là Lê Khánh, bút hiệu Hoài Sơn tuần báo Văn Nghệ của Hànội. Theo cung từ của Lê Khánh tiết lộ:

Sau khi Hoa Kỳ ngưng oanh tạc miền Bắc (từ đầu năm 1969), dân chúng Hànội đã dần dần hồi cư, mặc dầu chưa có lệnh của nhà nước CSBV. Trong thời gian này, dân đi “sơ tán” trở về chưa tìm được việc làm vì các hợp tác xã thủ công chưa hoạt động đều đặn trở lại (như đan len, dệt chiếu, thảm cót …). Do đó, đã xảy ra tình trạng buôn lậu vặt các thứ hàng Trung cộng từ biên giới với Bắc Việt đưa về như dao cạo, dao con, đồ cắt móng tay v.v… đầy các hè phố Hànội. Dân chúng thường để hàng trên các cái mẹt ngồi lề đường hoặc bỏ trong người đi dạo dọc phố xem có ai cần thì đưa ra mời mua. Nếu gặp phải công an thì bỏ chạy.
Trường hợp bị bắt nhiều lần thì hàng mới bị tịch thu. Người bán tập trung nhiều nhất ở khu chợ Đồng Xuân ra đến bờ Hồ, ga Hàng Cỏ và các đường phố đông đúc. Những người buôn lậu vặt này đều là phụ nữ tuổi từ 30 đến 50 tuổi.
Ngoài ra, do tình trang “sơ tán” dân chúng khi Bắc Việt bị oanh tạc, nên một số thanh thiếu niên không bị gia đình kiểm soát, và khi hồi cư về Hànội đã sinh ra chơi bời lêu lổng. Tình trạng này sẽ sinh ra nạn cao bồi lưu manh trộm cắp móc túi ở các bến xe bến tàu, gây rắc rối cho việc trị an trong thành phố Hànội.
Mặc khác, vấn đề lương thực và thực phẩm tại Hànội bị khan hiếm nên dân chúng kêu ca, đời sống căng thẳng và thêm khó khăn.
Trước tình hình trên, CSBV tuy không kêu gọi dân chúng Hànội trở về nhưng khi thấy vấn đề hồi cư của dân là chính đáng nên đã cho phép các gia đình hồi cư được sát nhập sổ gạo và thực phẩm lại làm một, là bởi vì khi đi “sơ tán”, các loại sổ này bị phân chia theo nơi đến “sơ tán”./.

[ LTC: một ghi chú không thể không nêu lên ngay tại đây để giúp nhiều thế hệ hậu sanh hiểu được tình trạng «sổ gạo / lương thực» của miền Bắc Cộng sản là cái gì, và có ý nghĩa gì, bằng một giải thích vắn tắt như sau:

Tất cả mọi người sống dưới chế độ Cộng sản miền Bắc không kể dân hay cán bộ, đều được cấp cho một quyển sổ gọi là «sổ lương thực» mà dân Bắc hay gọi là «sổ gạo», là một thứ sổ có tính sống còn đối với họ. Loại Sổ này dùng để mua gạo, cùng với các thứ gọi là Tem phiếu khác dùng để mua các loại nhu yếu phẩm (như thịt cá mắm muối v.v…) tại các “cửa hàng quốc doanh” của nhà nước Cộng sản kiểm soát – dân chúng ngoài Bắc còn gọi là “cửa hàng thương nghiệp” – là những thức thiết yếu cho đời sống thường ngày theo “tiêu chuẩn” chết đói mà chính quyền Cộng sản áp đặt cho từng người, từng nhà tùy theo phân hạng loại do chúng tự tiện đặt ra. Ví dụ, thường dân thì “tiêu chuẩn” thiếu đói hơn, cán bộ thấp thì “tiêu chuẩn” khá hơn, cán bộ cao thì “tiêu chuẩn” no đủ hơn.
Vì bất cứ lý do gì, một gia đình mà bị đánh mất các loại sổ, phiếu này thì kể như gặp đại họa, sẽ bị đói chết chắc, trừ phi nhà đó có thừa tiền của quanh năm đi ra mua gạo mắm lậu ở bên ngoài hệ thống “thương nghiệp quốc doanh” của nhà nước Cộng sản.

Đây là một hình thức cai trị man dã tàn ác phi nhân mà những tên đầu lãnh Bắc bộ phủ đã copy nguyên xi từ Cộng sản Nga Tàu đem về xài lại với mục đích kiểm soát bao tử, siết chặt kẻ bị trị vào miếng ăn, mà người miền Nam Quốc Gia trước và sau black April thường gọi đó là chính sách «treo nồi cơm» của thiên đường Cộng sản Bắc Việt.
Hình thức độc tài tàn ác này của chế độ Cộng sản miền Bắc là một mặt khác, một chi tiết Sử liệu khác vô cùng dễ nhìn ra vì nó rõ mồn một tựa như một bằng chứng rành rành không thể chối cãi, chứng minh rằng, những tên đầu lãnh Bắc bộ phủ đã chặn mọi sự chống đối của dân bị trị ngay từ trong trứng nước bằng miếng ăn tối thiểu và đẩy đời người xuống hàng sinh vật tầm thường.
Nói cách khác, bọn tà quyền Hànội tự biết rất rõ chúng nó là kẻ gian tà, và biết rõ lòng dân phẫn uất chỉ chực tuôn trào nổi dậy làm loạn để tự giải thoát, do đó bọn đầu lãnh Bắc bộ phủ phải xài tới trò đểu cáng bóp họng gian ác của phường kẻ cướp hòng kềm kẹp và đàn áp dân để dễ bề ngồi yên trên cái ghế cai trị.
Trong khi đó, dân miền Nam Quốc Gia thừa mứa ê hề không riêng gì gạo muối vải vóc mà còn đủ thứ nhu yếu khác của đời sống khi toàn dân được hưởng một nền Kinh Tế Tự Do trù phú dưới một chế độ Tự Do Dân Chủ mặc dù miền Nam trong suốt hai mươi năm bị CSBV xâm lăng và ra sức phá hoại không ngừng nghỉ dưới mọi hình thức, bằng mọi thủ đoạn đê hèn của phường giết người không gớm tay.
Vậy nhưng CSBV không ngớt trẹo lưỡi nói ngược, ra rả tuyên truyền bịp bợm với dân miền Bắc rằng dân miền Nam bị “thiếu đói và kềm kẹp” cho nên 'ta phải đi vào giải phóng'.
Và điều còn mỉa mai ô nhục hơn cho một số trí thức, nhà báo, sinh viên học sinh trong Nam ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản no cơm rửng mỡ tin theo cái luận điệu giẻ rách hôi hám thế kia của bọn Cộng sản, đã u mê tiếp tay rước giặc vào đốt nhà phá bàn thờ!

Nếu chi tiết Sổ Gạo này không được phân giải cho rành rẽ (dù chỉ mới là vài dòng vắn tắt sơ lược như trên) thì tôi e rằng nhiều bạn đọc sanh sau black April – kể cả người ngoài Bắc – sẽ không hiểu câu viết trong bài báo bên trên:
cho phép các gia đình hồi cư được sát nhập sổ gạo và thực phẩm lại làm một, là bởi vì khi đi “sơ tán”, các loại sổ này bị phân chia theo nơi đến “sơ tán” là cái gì?!



#Tien Tuyen Jul. 25, 1972 trang ba
MỘT KÝ GIẢ MỸ SAU KHI THĂM HÀ NỘI VỀ CHO BIẾT
DÂN HÀ NỘI CÂM, ĐIẾC VÀ ĐUI trước những diễn tiến trên thế giới
★ Họ không được biết bao nhiêu về cuộc oanh tạc và phong tỏa Bắc Việt – Không biết tí gì về những thảm hại của lực lượng Bắc Việt tại miền Nam ⚀ Bắc Việt là Cộng sản độc tài nhứt thế giới.

#Tien Tuyen Jul. 25, 1972 trang ba
MỘT KÝ GIẢ MỸ SAU KHI THĂM HÀ NỘI VỀ CHO BIẾT
DÂN HÀ NỘI CÂM, ĐIẾC VÀ ĐUI trước những diễn tiến trên thế giới
★ Họ không được biết bao nhiêu về cuộc oanh tạc và phong tỏa Bắc Việt – Không biết tí gì về những thảm hại của lực lượng Bắc Việt tại miền Nam ⚀ Bắc Việt là Cộng sản độc tài nhứt thế giới.


Hà Nội (VT) 24-7. – Ký giả Mỹ Joseph Kraft sau một cuộc viếng thăm Hanoi quay về đây cho hay, hiện nay tại BV vẫn có người hút thuốc phiện mà theo ông rất có thể là cán bộ cao cấp.
Mặc khác, khi đề cập tới đời sống chánh trị tại BV, ký giả Joseph Kraft cho hay là dân BV gần như câm và điếc trước những diễn biến mới đây trên thế giới. Những chuyến công du của TT Nixon qua Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa, sự thăm dò của Viện Gallup đối với việc tranh cử sắp tới của TT Nixon và ngay cả việc Hoa Kỳ tái oanh tạc BV dường như dân Hanoi chẳng được biết gì mấy. Và dĩ nhiên, họ hoàn toàn mù tịt về sự thảm bại của lực lượng BV tại miền Nam. Vẫn theo lời ký giả Joseph Kraft, thì trong chuyến viếng thăm BV mới đây, ông đã tiếp xúc với 2 nhân vật quan trọng của Trung ương đảng BV là Lê đức Thọ và Nguyễn duy trinh. Nếu việc ông tiếp xúc với những nhân vật này không có gì khó khăn thì sự gặp gỡ những cán bộ trung và hạ cấp và ngay cả thường dân ở BV hầu như bị ngăn trở.
Ông cho hay, khẩu hiệu 3 Không gồm không nghe, không thấy và không biết đã được các giới cán bộ BV thi hành nghiêm chỉnh.
Còn dân chúng thì bị kiểm soát chặt chẽ mỗi khi gặp người lạ muốn hỏi thăm chuyện gì.
Ông cho biết, ông đã dùng tiếng Pháp để gợi chuyện với một phụ nữ tại Hanoi. Người này vừa định trả lời thì cũng ngay lúc đó, viên thông ngôn – là người được chính quyền Hanoi cử đi theo ông – đã tiến đến. Sau một hồi lời qua tiếng lại với người phụ nữ kia, viên thông ngôn nói với ông rằng, người phụ nữ kia vì bận việc phải đi nên không thể tiếp chuyện ông được.
Cuối cùng, ký giả Joseph Kraft kết luận, BV là một trong những chế độ Cộng sản có tính Cộng sản hơn bất cứ một chế độ Cộng sản nào khác trên thế giới nghĩa là một chế độ độc tài nhất!



#Tien Tuyen Sept. 9, 1972 trang nhất
Một Người Lính Bắc Việt Tiết Lộ: Biết Vượt Trường Sơn Là Nguy Hiểm Nhưng Cán Binh Cộng Sản Bắc Việt Vẫn Đi Vì …
#Tien Tuyen Sept. 9, 1972 trang nhất
Một Người Lính Bắc Việt Tiết Lộ: Biết Vượt Trường Sơn Là Nguy Hiểm Nhưng Cán Binh Cộng Sản Bắc Việt Vẫn Đi Vì …
MỤC ĐÍCH TỐI THƯỢNG VÀO NAM VÀ «QUYẾT TÂM MẠNH MẼ NHẤT» LÀ MUA RADIO VÀ ĐỒNG HỒ ĐEM RA BẮC
⚃ Ở miền Bắc, muốn nghe lén các đài Tự Do, Saigon, VOA v.v… phải mang radio ra những quãng đường vắng ở đến khuya mới về nhà …

★ Tiến Châu

SAIGON (TT). – Theo cung từ của hàng binh Nguyễn chánh Trực tiết lộ cho biết, những các bộ từ miền Bắc xâm nhập vào Nam đều có một «mục đích tối thượng khi vào Nam là để mua radio và đồng hồ đem ra Bắc», các cán bộ cho đó là «quyết tâm mạnh mẽ nhất» là «nguồn động viên lớn nhất» đối với họ trên chặng đường vượt Trường Sơn đầy gian khổ và nguy hiểm.
Theo cung từ thì dân chúng miền Bắc rất thích nghe các Đài Phát thanh, nhất là các đài VOA, BBC, Saigon, Tiếng Nói Tự Do, v.v. còn các đài Cộng sản thì vì chương trình khô khan, nhồi sọ nên không được dân chúng miền Bắc ưa thích. Bởi lẽ đó, Radio là 1 nhu cầu tối cần thiết đối với dân chúng miền Bắc.
Theo cung từ tiết lộ, số gia đình có máy thu thanh riêng ở thành phố Hanoi chiếm khoảng 50% đến 60%; còn ở nông thôn thì chắc chắn dưới 10%. Thành phần được coi là có nhiều máy thu thanh là những cán bộ trung, cao cấp của nhà nước và giới trí thức, Trong số ấy những máy thu thanh trong gia đình của tầng lớp "trí thức cũ” đều mang nhãn hiệu sản xuất từ 1954 và đều là của Pháp, Mỹ, Hòa Lan, Có lúc người ta thấy nhiều gia đình bán đồ đạc, đồng hồ, xe đạp để cố mua lấy một chiếc máy thu thanh chạy pin với giá chợ đen rất đắt, để được nghe tin tức của con cháu họ trên đài VOA và đài Tiếng Nói Tự Do.
Việc nghe các "đài địch" rất khó khăn vì nhà cầm quyền miền Bắc nghiêm nhặt cấm đoán. Tuy vậy, dân chúng nhất là một số ít gia đình có nhà riêng thường tìm mọi cách để nghe lén những đài bị cấm như Tiếng Nói Tự Do, đài Saigon, đài BBC, đài VOA.., để tìm hiểu tin tức của “phía bên kia", để theo dõi tình hình chiến sự Miền Nam, nơi mà chồng con em của họ đang ở đó để biết số phận của những người ấy ra sao, nếu may mắn ra hồi chánh hoặc bị bắt qua mục Nhắn Tin Cho Thân Nhân (đài Tiếng Nói Tự Do), ngoài ra cũng là để tìm một phút nghỉ ngơi thoải mái trong chương trình ca nhạc êm dịu trữ tình (như của đài Tiếng Nói Tự Do).
Còn đối với các gia đình sống tập thể, không có nhà riêng kín đáo thì thật phiền phức, phải khó khăn mới nghe lén được đài trong Nam từ Hanoi. Những người này phải đem máy thu thanh nào những quảng đường vắng để nghe lén đài tới khuya mới về: Đó là biểu hiện của những kẻ chẳng ưa gì cái chế độ mà họ đang sống, lòng luôn mơ tưởng một cuộc sống tự do dù chỉ tưởng tượng trên âm thanh.
Cùng từ tiết lộ thêm rằng “biết được sự việc như vậy, nhà cầm quyền miền Bắc đã cho bắc loa cỡ đại ở những nơi công cộng như khu Phố Chợ, Xí nghiệp, Cơ quan, công trường, nơi tập trung nhiều người mua bán qua lại như khu Cửa Nam xung quanh bờ Hồ Hoàn Kiếm v.v… để phổ biến tin tức, xã luận tuyên truyền, nhưng cũng không được dân chúng hưởng ứng trừ phi vô tình đi ngang qua và «phải bị» nghe. (TC)



#Tien Tuyen Mar. 28, 1972 trang hai
CÒN GÌ CHO ĐẢNG - Hồi Ký Của Hồi chánh viên Trần Ngọc Minh - lính Đặc Công CSBV
Phương Bắc ghi
[ đăng làm 4 kỳ từ #Tien Tuyen Mar. 28, 1972 đến #Tien Tuyen Mar. 31, 1972 ]
#Tien Tuyen Mar. 28, 1972 trang hai
CÒN GÌ CHO ĐẢNG - Hồi Ký Của Hồi chánh viên Trần Ngọc Minh - lính Đặc Công CSBV
Phương Bắc ghi
Kỳ 1

Theo đúng kế hoạch, 12 giờ đêm nay đơn vị tôi phải nổ súng tấn công vào Minh Long. Tiền đồn này nằm về phía Tây Tỉnh Quảng Ngãi. Trận này tôi nhận nhiệm vụ chỉ huy 3 chiến sĩ đặc công khác, bí mật bò vào trong đồn, dùng B40 và plastic đánh sập 2 lô cốt để mở đường cho Tiểu Đoàn BB xung phong tràn ngập.
Sau 3 tháng huấn luyện tại Trường đặc công, đây là lần đầu tiên, tôi nhận nhiệm vụ khó khăn và khá nguy hiểm như vậy. Mặc dù là đảng viên chính thức hơn một năm nay, thế nhưng tôi cũng thấy phập phồng, lo sợ.
Trên đường hành quân từ Gò Chè xuống đồn Minh Long, tôi cảm thấy trong lòng như đang dâng lên một nỗi niềm gì khó tả. Tim tôi đập mạnh và chân tay lẩy bẩy run. Có lẽ vì quá hồi hộp nên tôi đánh bạo hỏi Thượng sĩ Học, một trong 3 người dưới quyền chỉ huy của tôi trong trận đánh này:
— Cậu liệu đêm nay mình làm ăn có trót lọt không?
Học thở dài trả lời:
— Báo cáo chuẩn úy! Tôi ngán quá! Nhất là những bãi mìn dưới hàng rào!
Nghe giọng trả lời của Thượng sĩ Học không được tự nhiên, tôi giật mình và thấy mấy trái B.40 lạnh ngắt đeo bên hông mà bụng bảo dạ, nghĩ đến những chuyện may rủi trong trận đánh đêm nay.
Vòm trời đồn Minh Long sáng lờ mờ, nhô lên khỏi màn đêm đen đặc trước mắt chúng tôi. Đoàn quân vẫn lặng lẽ đếm những bước đi thận trọng. Khi đến tuyến tản quân quy định, các mũi bắt tay vào việc đào công sự.
Đất núi pha lẫn sỏi đá, công việc lại làm rất khẩn trương nhưng tuyệt đối không ai được làm phát ra một tiếng động nhỏ. Đồn cách chỗ chúng tôi có hơn 200 thước, chỉ cần một tiếng xẻng va mạnh vào đá là 500 mạng người sẽ chầu Diêm Vương ngay.
Phía sau chúng tôi là rừng hoang tĩnh mịch, phía trước là ánh sáng huyền ảo của hỏa châu rồi vụt tắt đi ngay. Một không khí rợn người đang bao trùm trên trận địa.
Toán đặc công 4 đứa chúng tôi được gọi lên Ban chỉ huy Tiểu đoàn để kiểm tra trang bị vũ khí. Thiếu tá Tiểu đoàn Trưởng Nguyễn văn Vinh hỏi từng người một:
— Chuẩn úy Minh đem mấy quả B40?
— Báo cáo thủ trưởng 14 trái.
— Thượng sĩ Học mang mấy bánh plastic?
— Báo cáo Thiếu Tá! 20 bánh! Mỗi bánh nặng 250gr.
Cứ thế, lệnh hỏi và báo cáo được đối đáp nhau cho đến người thứ 4. Tất cả các câu trả lời của chúng tôi với Tiểu đoàn Trưởng đều ngắn gọn và chính xác.
Đúng 11 giờ 49 phút, Thiếu tá Vinh ra lệnh cho chúng tôi bắt đầu tiếp nhận trận địa theo kế hoạch đã lập trên sa bàn ở Mật khu.
Tôi và Thượng sĩ Học đi sau. Trung sĩ Phú và Long đi trước để cắt rào kẽm gai và gỡ mìn. Thỉnh thoảng, đèn pha trong đồn lại lè lưỡi liếm qua đầu chúng tôi. Lúc như vậy chúng tôi đều nằm sát đất như một khúc gỗ, tim đập thình thịch như trống Sư tử múa Tết Trung Thu.
Bỗng hàng rào thứ nhất hiện ra ngay trước mặt chúng tôi qua ánh hỏa châu. Tôi và Học hồi hộp chờ Trung sĩ Phú và Long cắt rào nơi phía trước. Khẩu B40 đang nằm cạnh tay tôi run lên bần bật. Phía trước, tiếng kềm bấm kẽm gai và máy dò mìn không phát ra một tiếng động nào. Bỗng Thượng sĩ Học khẽ đập vào vai tôi 1 cái. Mật hiệu trên qua hàng rào thứ nhất đã được quy định trong kế hoạch. Tôi thở dài nhẹ nhõm, vì biết hàng rào thứ nhất đã giải quyết xong. Đoạn tôi đang dùng 2 đầu ngón chân cái làm điểm tựa để nhích người lên phía trước từng phân 1.
Bỗng có tiếng vỏ đồ hộp khua vang ở hàng rào thứ hai. Biết nguy hiểm, tôi và Thượng sĩ Học nằm ép người xuống sát đất. Một vật sáng trong đồn chiếu ra ngay chỗ tôi. Chúng tôi nín thở, như cá nằm trên thớt, chờ ăn đạn. Quả nhiên, chỉ 5-10 giây sau, từng loạt đạn trong đồn vãi ra nghe chiu chiu trên đầu tôi. Tôi có cảm tưởng như bàn tay mình lúc đó nổi da gà, toàn thân lạnh như xác chết, tóc dựng ngược như lông dím. Đèn pha chuyển hướng, màn đêm lại phủ xuống chỗ chúng tôi.
Chưa bao giờ tôi cảm thấy yêu thương đêm đen như lúc này. Nó là ân nhân, là cứu tinh cho chúng tôi thoát chết.
Sau vài loạt súng thăm dò, không gian lại trở về tĩnh mịch. 10 phút sau, bỗng có tiếng huýt gió ở hàng rào thứ 2. Mật hiệu ra lệnh cho tôi và Học bò lên phía trước. Trước khi hành động, tôi khẽ dặn Thượng sĩ Học:
— Vừa bò, vừa rà mìn. Coi chừng bọn nó gỡ sót thì chết!

(Còn nữa)

#Tien Tuyen Mar. 29, 1972 trang hai
CÒN GÌ CHO ĐẢNG - Hồi Ký Của Đặc Công CSBV Trần Ngọc Minh – Phương Bắc ghi
Kỳ 2

Tôi nói xong, Học ấn vào tay tôi. Mật hiệu chỉ đồng ý.
Mặc dù trời không lạnh lắm thế mà đầu gối tôi cứ run bần bật. Chúng tôi đã bò qua hàng rào thứ 2 được vài thước, bỗng thượng sĩ Học nằm lại, tôi tưởng hắn ta mệt nên dừng lại lấy hơi. Do đó, tôi cứ tiếp tục nhích lên. Tôi vừa vượt qua Học chừng 2m, bỗng có tiếng kêu:
— Coi chừng! Khéo vướng mìn giây!
Tôi giật mình chùn lại. Nhưng lúc ấy, chân tôi đã vướng sợi giây nhùng nhằng. Sự việc xảy ra quá đột ngột, tôi vội thét lên:
— Mìn nổ! Học ơi!
Dứt câu, tôi lăn người sang mé trái. Tiếp theo là một tiếng nổ chát chúa vang lên. Tôi còn kịp nhận ra một khối lửa khổng lồ trùm kín cả người mình.
Súng trong đồn bắn ra dữ dội. Tôi nằm im và cố mở mắt để tìm hướng rút lui. Nhưng một con mắt đã tối mù và tôi thấy nước ròng ròng chảy xuống má. Nhờ ánh hỏa châu, tôi nhận ra máu đỏ và vội lấy khăn tay bịt chặt lấy con mắt ấy. Mặc cho đạn trong đồn đang bay ra, tôi nghiến răng bò về phía thượng sĩ Học đang nằm.
— Học ơi! Cậu có sao không?
Vừa gọi, tôi vừa đưa tay sờ soạng tìm hắn. Hắn đây rồi! Tôi lắc hắn thật mạnh, miệng hỏi:
— Mày có sao không? Mày bị thương ở chỗ nào hả Học?
Hắn vẫn không đáp, tôi sờ lần lên mình, lên tay, lên cổ và bỗng rợn người với cái đầu của Học! Đã bay đi đâu mất rồi. Máu nhơm nhớp dính đầy bàn tay tôi. Tôi thở dài nằm lặng người bên xác Học.

Trên trời, hỏa châu treo lơ lửng từng chùm soi sáng cả trận địa. Máy bay trực thăng quần sát hàng rào để tác xạ. Phía ngoài đơn vị tôi nổ súng để kháng cự mỗi lúc mỗi rát hơn.
Trên bắn giống trong bắn ra ngoài bắn vào, chúng tôi nằm giữa giơ lưng ra chịu tất cả. Tôi khẽ cựa mình thấy toàn thân nhức nhối, buốt tê. Tôi đoán có lẽ còn nhiều vết thương trên người tôi nữa.
Lợi dụng những lúc hỏa lực địch chuyển về hướng khác, tôi nhích dần về phía chân đồi. Cứ mỗi lần tiếng súng ngớt, tôi lại nghe thấy tiếng ai đang rên hừ hừ. Chẳng lẽ Trung sĩ Phú và Long bị thương và mắc kẹt trên đó chăng?
Tôi chưa bò được bao xa, thì một số chiến sĩ bộ binh xung phong định vượt hàng vào thứ nhất. Hỏa lực bên ngòai bắn yểm trợ thật là ghê. Trực thăng thì gần như đứng lơ lửng trên không bắn chặn quân xung phong. Hỏa châu được bắn lên tới tấp. Trận địa sáng như ban ngày.

Hai bên đang lúc xử dụng hỏa lực tối đa thì có tiếng gọi tôi:
— Minh ơi! Minh ơi!
Giọng nghe ồ ồ nên tôi chẳng nhận ra ai. Tôi dương con mắt trái còn lại quan sát thì nhận thấy một người mặc quần đùi ở trần đầu quấn chiếc áo từ hàng rào thứ ba đang bò nhanh đến nơi tôi. Vừa kinh ngạc vừa lo sợ, tôi rủa thầm: «Tiên sư cái thằng nào ngu đến thế! Hỏa châu sáng rực, đạn bắn như mưa, thế mà bắn không chịu bò áp cái bụng xuống đất. Bò lồm ngồm như mả thằng ăn mày thế kia thì “tịch” sớm con ạ!»
Trông hắn bò mà tôi phải nín thở mấy lần. Cuối cùng, chịu không được tôi gầm lên: Đồ ngu! Nằm xuống bò!
Nhưng hắn vẫn thản nhiên dùng tay và đầu gối tiến về hướng tôi. Lúc hắn đến gần, tôi chồm lên giật tay hắn xuống thật mạnh và quát:
— Sao con ngu thế!
Vừa dứt câu, một chòm hỏa châu khác lại phóng lên. Qua ánh sáng, tôi rùng mình nhận ra một tia máu ở cổ hắn đang phun ra xối xả. Tôi vội xé quần đùi đang mặc băng cho hắn. Khi băng xong, mắt hắn đã trợn trùng. Hắn chính là Trung sĩ Long. Có nằm trong lửa đạn mới chứng kiến được nhiều cái chết thật quái dị, kinh hồn khiếp vía.
Thế là 2 trong 4 đặc công của mũi tôi đã qua đời không kịp trăn trối.
Quân xung phong đơn vị tôi có lẽ vì trực thăng bắn rát quá nên không còn ồ ạt như trước nữa. Hỏa châu mờ dần, tiếng súng thưa thớt hẳn. Lợi dụng thời cơ này, tôi bò nhanh xuống phía chân đồi. Vừa bò qua khỏi hàng rào thứ nhất bỗng mắt tôi đau nhói, máu chảy ướt đẫm cả chiếc khăn đang buộc. Vừa lúc đó, tôi nghe có tiếng chân người chạy thình thịch phía sau. Tôi đoán biết Trung sĩ Phú tranh thủ tháo chạy.
Tôi đoán biết Trung sĩ Phú tranh thủ thảo chạy. Khi hắn chạy gần tới, tôi với gọi.
— Phú! Nằm xuống tao nhờ một chút!
Nó nhát gừng trả lời tôi:
— Nhớ cái gì?
Tôi nổi điên quát lại:
— Băng hộ tao con mắt bị thương chứ cái gì!
Tôi vừa dứt câu, Phú cũng vừa xé xong miếng vải áo. Đoạn hắn đè đầu tôi ra băng vội vào mắt trái. Tôi hét lớn:
— Tao bị mất phải cơ mà!
Mặc cho tôi la, Phú vụt đứng dậy và trước khi chạy, hắn còn nói nhanh như cháo chảy:
— Báo cáo chuẩn úy ! Tôi bị mảnh M 79 ở lưng! Chuẩn úy «tha» cho tôi. Chịu khó chờ dân công cáng vậy nhé!
Tôi vừa tức, vừa buồn cười. Tôi rủa thầm “Tổ sư thằng khôn nạn! Đặc công gì mà nhát như thỏ”
Mặc dù bị thương nặng như vậy, nhưng tôi vẫn phải bò dần về tuyến tập kết. Hỏa lực trong đồ đã thôi nhả đạn. Đơn vị tôi đã rút lui.
Khi bò ra đến ngoài, tôi nhìn đồng đội tôi nằm chết đủ các kiểu. Người thì nằm ngửa như đang ngủ. Kẻ hãy còn ôm AK chĩa nòng và hướng đồn. Có anh như lại ngồi đang suy tư... Còn súng đạn, quân trang... vất rải rác khắp trận địa.
Bỗng tai tôi lại nghe như đâu đây có tiếng ai rên khóc. Mặc dù vậy, tôi đã hoàn toàn kiệt sức không tài nào nhúc nhích nổi. Nếu cứ thế này, chắc sáng ra tội sẽ bị địch bắt mất.
Tôi đang phân vân thì bỗng có bóng người lù lù đi tới. Tôi lên tiếng tự giới thiệu:
— Minh đây! Minh đây!
Nghe tôi nói xong, người kia lên tiếng:
— Trời ơi! Thượng sĩ Quyết đây này! Để tớ cứu!
Thượng sĩ Quyết nguyên là chiến sĩ cũ của tôi. Tôi được cử đi học đặc công, còn anh vẫn ở bộ binh với chức trung đội phó.
Khi Quyết cõng tôi trên lưng, tiếng rên khóc lại càng lớn hơn. Quyết nhạc nhiên hỏi tôi:
— Kìa! Tôi tưởng tiếng rên lúc nãy là của anh. Nói xong, Quyết cõng luôn tôi về chỗ phát ra tiếng khóc.
Chúng tôi tìm ra một người nằm sau một bờ đất. Tôi đưa tay lần lên người anh ta để tìm vết thương.
Bỗng Quyết rú lên:
— Trời ơi! Đồng chí này bị mất cả 2 chân rồi!
Anh thương binh giọng run run, nói ngắt quãng từng chữ:
— các đồng … chí … cứu … tôi … với!
Tôi cảm động chảy nước mắt và thầm nghĩ: «chẳng lẽ mình lại may mắn hơn anh này?»
Sau khi Quyết đưa tôi và anh cụt 2 chân về tuyến tập kết, tôi gặp ngay Thiếu tá chính trị viên trưởng Tiểu đoàn Huỳnh Ba. Huỳnh Ba nói câu đầu tiên khi gặp tôi:
— Nếu đồng chí chưa hy sinh thì về đơn vị ráng mà chịu kỷ luật. Thất bại trận này là do Tổ đặc công gây ra, mà đồng chí là người chỉ huy!

( còn nữa )

#Tien Tuyen Mar. 30, 1972 trang hai
CÒN GÌ CHO ĐẢNG - Hồi Ký Của Đặc Công CSBV Trần Ngọc Minh – Phương Bắc ghi
Kỳ 3

Mặc dù đang đau và mệt, nhưng nghe hắn nói, tôi chịu không nổi nên quát lại:
— Kỷ luật gì? Thân xác tôi chẳng còn gì để mà đáng kỷ luật!
Nói xong máu nơi mắt tôi lại rỉ ra, đầu tê buốt. Quả thật, tôi muốn chết ngay lúc này. Tôi không phải vì sợ lời hăm dọa của tay chính trị viên trưởng, nhưng cái chết lúc này có thể mang đến cho tôi một cái gì thanh thản hơn, êm dịu hơn.
Sự uất hận và đau nhức vết thương làm tôi ngất lịm đi. Không hiểu là bao nhiêu tiếng đồng hồ, chỉ biết khi tỉnh lại, đã thấy mình nằm bên mặt bờ đất. Phía trên có lùm cây bao phủ.

Trời bắt đầu rạng đông... Tôi thấy Thượng sĩ Quyết nằm bên cạnh nên hỏi:
— Đơn vị ta đâu rồi?
Quyết trả lời gọn lỏn:
— Bọn chúng rút hết rồi!
Nghe Quyết nói, tôi cảm thấy lạnh lạnh nơi xương sống. Đoạn hỏi lại anh ta:
— Có những ai bị bỏ lại?
Thượng sĩ Quyết thở dài rồi trả lời tôi:
— Gần 100 người.
Tôi nắm chặt tay Quyết, một hồi hỏi tiếp anh:
— Thế sao cậu không về?
Quyết nở một nụ cười chế giễu rồi buông một câu:
— Báo cáo là vờ bị sai khớp xương để được ở lại với anh đấy!
Vừa dứt câu, Quyết lớn tiếng gọi to:
— Đồng chí y tá ơi! Lại đây băng cho đồng chí này với.
Tôi sờ mắt bị thương rồi hỏi lại Quyết:
— Chứ hồi đêm đến giờ nó chưa băng bó gì cho tôi sao?
Quyết lắc đầu chửi thề:
— Tiên sư cái thằng y tá! Nó cứ tìm mấy thằng cùng quê để săn sóc trước.

Trên trời, chiếc L-19 đang nghiêng ngả ngó nhòm. Nghe tiếng nó kêu thật đáng ghét. Thỉnh thoảng, tiếng đại bác bắn chặn đường rút lui của đơn vị lại cuộn lên từng cơn dữ dội.
Quyết dụi võng tôi sát vào bụi cây rồi lẩm bẩm:
— Đ. Mẹ không khép lại chết cả đám bây giờ!
Chiếc L19 vụt qua, tay y tá lù lù đến. Hắn nhìn qua các vết thương của tôi. Đoạn lắc đầu chán ngán: — Vết thương khắp mình thế này thì lấy thuốc đỏ đâu mà bôi cho đủ!
Quyết trợn mắt:
— Chú cậu mang thuốc gì mà không đủ? Bộ muốn để dành cho mấy thằng cùng quê hả.
Không nói lại một câu, tay y tá dùng bông lẫn giẻ rách để lau vết thương rồi băng bó cho tôi. Thuốc đỏ có ít nên khi thấy hắn đổ thêm nước trắng vào, Quyết gặng hỏi:
— Bộ đổ nước lã vào thuốc đỏ hả?
Tay y tá gân cổ cãi:
— Đâu có! Nước đã đun sôi rồi!
Xoa xong một lượt thuốc đỏ pha nước lã, tay y tá dùng cồn 90o lau các miệng vết thương của tôi. Tôi như tê dại toàn thân. Song cũng cố hỏi hắn:
— Này đồng chí! Đồng chí xem hộ con mắt phải của tôi có sao không?
Với giọng trọ trẹ Hà Tĩnh, tay y tá đáp:
— Bây giờ thì bị thương rồi chứ còn làm sao nữa.
Quyết ngồi cạnh chịu không nổi lên hét vào tai hắn:
— Đồng chí Minh hỏi con mắt có sao không nghĩa là sau này có trông thấy được nữa không?
Tay y tá thản nhiên đáp:
— Thấy chứ! Mắt đồng chí Minh chỉ bị mảnh mìn «lạng» qua thôi!
Y tá vừa dứt câu, Thượng sĩ Quyết xì một hơi dài:
— Đ. mẹ! Toàn ăn nói theo kiểu chữa bệnh bằng “chính trị” thôi. Đui thì nói đui cha nó cho rồi.
Tay y tá điểm một nụ cười mếu máo. Đoạn hắn nói:
— Báo cáo chuẩn úy và thượng sĩ! Nói thật thì lại sợ động đến “chính sách” của đảng. Tôi mong chuẩn úy và thượng sĩ “thông cảm” cho.
Tôi hồi hộp hỏi lại tay y tá:
— Ừ thì thông cảm! Thế đồng chí nói thật đi. Mắt tôi có làm sao không?
Hắn nhíu lông mày rồi lắc đầu trả lời:
— Báo cáo chuẩn úy không?
Mặc dù đã biết trước như vậy, nhưng khi nghe chuối những ý tôi nói ra, tôi vẫn choáng váng và tim như ngừng đập.

———

Khi mặt trời lách qua khe lá, chiếu thẳng tia yêu ớt xuống chiếc võng đẫm máu của tôi, thì tiếng máy bay nghe đã rền trời. May là khu vực này nhiều cây và bụi rậm nên L19 khó quan sát. Tuy nhiên, một vài trực thăng vẫn nhả tràng đại liên vu vơ xuống đất.

———

Lúc này, quân dân Đồn Minh Long kéo ra lục soát chắc thì cũng tóm gọn được bọn thượng binh này. Đột nhiên, cơn khát nước bỗng dâng lên. Tôi xin Quyết một túi nước nhưng hắn nhất định không cho mặc dù nước đâu có thiếu.
Cổ tôi như cháy, tôi khát đến độ cứ nhắm mắt và là toàn thấy trời mưa, sông suối, thấy bơi lội. Cuối cùng, vì tôi năn nỉ và cả chửi rủa nữa, Quyết mới chịu rót cho tôi một hớp vào nắp bi đông. Hắn đang rót vào miệng tôi thì có tiếng ồn ào. Tôi ra hiệu cho Quyết biết và hắn liền chạy đi trinh sát. Đoạn quay về báo cho tôi biết là có Đội tới tải thương binh. Tôi mừng quá liền quên cả cơn khát đang hành hạ.
Khi có bốn năm người vác đòn đến gần chỗ tôi, mắt họ láo liên, liếc ngang dọc. Quyết liền gọi:
— Đồng chí này bị thương nặng, đề nghị các đồng chí ưu tiên cáng trước đi.
Trong đám có một tiếng đáp lại:
— Biết rồi! Ở đây không có ai có quyền ra lệnh cho chúng tôi đâu!
Dứt câu, tôi còn nghe cả mấy tiếng bàn tán thì thầm:
— Coi bộ thằng đó nặng lắm chúng mày ạ!
Có tiếng đáp lại:
— Thằng nào nặng bỏ lại, khiêng sau. Tìm thằng nhẹ khiêng trước đã.
Thế là tôi bị Đội tải thương bỏ qua vì cái hình hơi to con. Thượng sĩ Quyết tức quá chửi đổng:
— Sự bố mấy cái thằng chó má này. Chúng mày cạn lương tâm con người rồi phải không? Máy bay không «chiếu cố» đến chúng mày cũng uổng.
Vừa dứt câu, Quyết cõng tôi tới đội tải thương. Cho đến bây giờ, tôi mới thấy tủi hổ cho cái thân phận cầm súng chiến đấu cho Đảng để «giải phóng miền Nam.»
Tôi hy sinh cả thể xác tôi để dâng hiến cho cách mạng. Rút cuộc, bị đồng chí dọa bỏ rơi.
Khi đến Đội tải thương, mặc dù Quyết đã xuống nước năn nỉ, trình bày đủ mọi lý do. Nhưng họ vẫn cương quyết từ chối và bỏ tôi ở lại.

***

Khi 30 cáng thương lên đường, tôi bảo Quyết nằm lại chờ nhưng hắn không chịu. Quyết cố cõng tôi theo đoàn tải thương. Lúc này, tôi thấy thương Quyết hơn bao giờ hết.
Tôi nhớ lại một trận đánh trước đây ở Nghĩa Hành, khi Quyết còn là chiến sĩ của tôi. Hắn bị thương nơi chân đi không được. Đơn vị tháo chạy hết, tôi phải cõng Quyết về hậu cứ mất 6 ngày đường rừng.
Cho đến bây giờ, Quyết lại một mình cõng tôi.
Trên đường theo đoàn tải thương về bệnh viện, có những đoạn băng qua trảng trống, Quyết phải mím môi cõng tôi chạy hết lực để theo kịp đoàn tải thương.
Đi được gần 3 tiếng phải vượt qua một đồi cỏ gianh khá rộng. Toán tải thương vượt qua nửa chừng thì bị L19 phát hiện. Một trái khói màu đỏ được ném xuống. Trong giây lát, 2 chiếc HU1A lao tới, ngay khu đồi tranh thi nhau vãi đạn.
Những cáng thương bị quăng vội xuống đất để chạy thoát thân. Trong khoảnh khắc, toàn khu đồi tranh biến thành biển lửa. Tôi nghe tiếng kêu khóc, cầu cứu của 30 đồng chí vang ra từ trong biển lửa đó.
May mà Quyết mới cõng tôi tới bìa rừng. Hai chúng tôi thoát chết nhờ một gốc cây cổ thụ. Thượng sĩ Quyết nằm cạnh tôi than:
— Có lẽ các đồng chí thương binh nằm bó tay chờ chết Minh ạ!
— Đồng chí bị cụt 2 chân, đội tải thương có cáng đi chuyến này không?
Quyết thở dài đáp:
— Anh ta chết ngay từ đêm qua rồi! Trước lúc chết, anh ta khóc và cứ gọi lảm nhảm “Mẹ ơi! Mẹ.” Rồi nấc lên một tiếng thật to nằm im trên vũng máu.

( còn nữa )

#Tien Tuyen Mar. 31, 1972 trang hai
CÒN GÌ CHO ĐẢNG - Hồi Ký Của Đặc Công CSBV Trần Ngọc Minh – Phương Bắc ghi
Kỳ 4

(Tiếp theo và hết)

Sau cuộc tác xạ của 2 trực thăng đó, chúng tôi không liên lạc được với ai để về hậu cứ của bệnh viện. Quyết bàn với tôi nên tìm đường về. Nhưng tôi không đồng ý. Mặc dù ở lại sẽ gặp nhiều khó khăn như: Thú rừng, thiếu lương thực, thuốc men...
Sở dĩ lỗi không chịu theo Quyết vì nếu đã lạc trong rừng thì trăm phần trăm là chết. Bằng cách nằm đợi tại đây tuy gặp khó khăn như Quyết nêu ra nhưng vẫn còn hy vọng.
Chiều hôm nay, Quyết đặt tôi nằm trên vòng rồi hắn đi kiếm những loại rau gì có thể ăn được ở rừng. Nhân tiện, tìm xem có gặp ai ở đội tải thương hoặc thương binh còn sống sót không?
Khoảng 5 giờ chiều. Quyết ôm một bó rau má và rau tầu bay cùng một củ chuối rừng to bằng bắp đùi trở về. Trông thấy vẻ lầm lì của hắn, tôi biết rằng, không tìm thấy một ai cả.
Hắn luộc rau má với muối xong, thì tôi cũng vừa lên cơn sốt. Các vết thương nhức nhối và mùi hôi xông lên. Riêng về thương ở mắt, tôi thấy buồn buồn như có con gì đang cựa quậy. Tôi bảo Quyết mở tấm băng bằng vải quần rách ra thử xem sao. Tháo đến vòng cuối cùng, hắn kêu tiếng lên làm tôi giật mình.
– Trời! Toàn bọ lúc nhúc trong mắt anh!

Khoảng nửa đêm, tôi tỉnh giấc đã thấy Quyết dựa gốc cây ngủ gật. Tôi chưa kịp gọi Quyết để xin hợp nước thì dã nghe thấy tiếng động mạnh ở đồi gianh vang lại. Tôi hoảng hốt đánh thức Quyết dậy và nói nhỏ với hắn:
– Có tiếng động gần lắm, khéo biệt kích hay cọp thì khốn.
Quyết úp tai xuống đất lắng nghe. Tôi luống cuống tụt xuống đất rơi bịch một cái. Tuy đau điếng, nhưng không dám kêu to.
Đoạn tôi nghe từ xa vọng lại tiếng rên rỉ. Quyết quát lớn:
– Ai? Đứng lại! Tiến lên sẽ nổ súng.
Sau tiếng hô của Quyết, tiếng rên lại càng lớn hơn. Đoạn có tiếng nói lào phào ngất quãng vang lại : – Tôi bị thương nặng ... cứu..tôi… với!
Quyết đáp lại:
– Ở đơn vị nào mà bị thương?
Có tiếng lắp lại run và lớn hơn:
– Họ cáng tôi chạy qua đây! Có máy bay! Họ vứt tôi... rồi bỏ... chạy!
Tôi thở phào nhẹ nhõm. Thế là đoàn chúng tôi có thêm một người. Thật là nan giải, có 2 người mà giải quyết ăn uống thuốc men còn bí huống chi bây giờ lại thêm một mạng nữa.
Tất cả nhờ vào Quyết.

Đồng chí mới đến bị cụt tay trái. Ngoài ra, còn có 1 viên đạn lọt vô phổi. Máu me be bét đầy người. Để cứu chữa cấp thời, Quyết đem nước sôi rửa vết thương và xé quần băng bó tạm.
Sau ba ngày chịu đựng đủ thứ khốn nạn ở trên đời giữa rừng hoang, sang sáng ngày thứ tư mới có người ở đơn vị quay lại tìm. Khi họ gặp chúng tôi, anh thương binh cụt tay mới bò đến tôi hôm nọ đã qua đời.

Riêng tôi đang ngấp ngoải vì các vết thương, dòi bọ đang đục khoét bò lúc nhúc...

Tôi cũng không nhớ họ khiêng tôi đi bao nhiêu ngày mới đến bệnh viện. Chỉ biết khi mở mắt ra, đã thấy tay áo trắng đang sờ mó nơi mắt tôi.
Trước khi giải phẫu, Trung úy Bác sĩ Bùi Lâm ghé sát tai tôi hỏi nhỏ:
– Đồng chí có đồng ý cho chúng tôi múc con mắt thối ra không?
Tôi lo sợ mặc dù đã biết là phải như vậy, song vẫn cứ phân vân vì bị mất một con mắt. Chuẩn úy Ngọc Minh đẹp trai như thế này mà lại bị chột ư? Tôi thở dài trả lời:
— Chẳng lẽ tôi hy sinh một mắt à?
Ông Bác sĩ mặt lạnh như tiền buông một câu:
— Điều đó là cái chắc!
Tôi bực dọc trả lời:
– Nếu như vậy, đồng chí còn cần múc mắt tôi ra làm gì?
Bác sĩ lại điềm nhiên trả lời:
— Không múc ra để cho nó thối à?
Vừa dứt câu, ông ta ra lệnh cho y tá khiêng tôi quăng vào phòng mổ. Tôi được đặt trên chiếc giường tre ọp ẹp. Hoảng sợ, muốn chống cự, nhưng phần vì kiệt sức, phần vì 4 y tá đã dùng dây trói chặt tôi vào các chân giường.
Bởi vậy, tôi hét lớn:
– Các đồng chí không được múc mắt tôi.
Tất cả mọi người có mặt như không nghe thấy tiếng la hét của tôi. Một người dùng miếng vải bố trùm lên mắt tôi, Miếng Miếng vải có lỗ hổng vừa vặn bằng chỗ mắt tôi bị múc.
Thường thường, tôi nghe nói khi mổ, người ta dùng thuốc tê hoặc thuốc mê để giảm sự đau đớn. Hôm ấy, tôi cũng hy vọng như vậy.
Nhưng thật bất ngờ, khi tôi đang chờ đợi thuốc mê thì bỗng đầu tôi bị đè cứng, một vật gì nhòn nhọn ấn vào mắt tôi nghe sụt một cái. Tôi đau điếng và đầu như muốn nổ tung ra. Tôi hự lên một cái rồi quằn quại và nằm bất tỉnh trên giường tre...

..... Khi tôi tỉnh dậy, thấy chỗ nào cũng có băng dầy cộm Tôi nghe loáng thoảng mấy thương binh nằm cạnh bên bàn tán:
— Ông này là chuẩn úy đặc công đấy. Có lẽ biết đặc công là gan lỳ, nên bác sĩ nhân dịp không có thuốc mê đã mổ tất cả các vết thương của ông ta bằng phương pháp “tiết kiệm” đấy!
Khoảng 20 phút sau, tôi thấy tiếng con gái Nam nhỏ nhẹ bên tai:
– Đồng chí Minh ơi! Tỉnh dậy ăn cháo đi! Tôi cố gắng lắm mới cọ được vành mi con mắt trái còn lại. Tôi thấy mình nằm trên gường tre, nhưng 2 bên có thêm nhiều thương binh khác nữa.
Bên cạnh giường có một chén cháo trắng và ít muối. Tôi vẫn còn đau dữ dội và thấy khát nước. Tôi nghiêng mình hớp chén cháo lỏng một hơi hết sạch. Bỗng lại có tiếng thương binh bên cạnh nói xì xào.
– Đồng chí này nặng, nên được ưu tiên cháo «nguyên chất» chứ bọn mình thì sức mấy. Phải ăn cháo nấu với củ chuối dài dài!



Đêm về khuya, tiếng gió reo hòa cùng tiếng thú dữ gầm thét trong rừng hoang nghe thật não nề, man rợ, Lúc này, tôi mới thấy nhớ nhà, nhớ quê hương. Những con đường xinh xinh dẫn về thôn xóm. Mái trường thân yêu tôi đã gặp và thương vụng nhớ thầm nàng Cẩm Anh. Những đêm trăng thanh, gió mát, tôi ngập ngừng nắm gọn tay Cẩm Anh trong lòng bàn tay nóng bằng yêu đương của tôi. Buổi tôi lên đường vào Nam “chống Mỹ”, nàng khóc và dặn dò tôi:
– Anh đi cố lập thành tích. Em hy vọng chờ anh trở về trên ngực toàn màu đỏ của huân chương “chiến thắng".
Hết những hình ảnh về quê hương miền Bắc xa xôi ấy, lại đến lượt những lần mịt mù lửa đạn nơi chiến trận, Bao đồng đội tôi đã vĩnh viên nằm xuống không mồ không mả, bao thương binh đã oan uổng qua đời vì thiếu thuốc men, chữa chạy.
Những chiến sĩ mất đầu, cụt chân. Người cán bộ của đảng lỗ mãng và hung hăng … 1 Đoàn tải thương 60 người và 30 thương binh ngã gục trên đồi cỏ gianh. Đoàn trực thăng đang rà sát xuống ngọn cây nhả đạn. Tiếng trực thăng trinh sát L19 kinh khiếp …
Ôi! Thật khủng khiếp! Tất cả sự hy sinh ấy của chúng tôi mang lại gì cho Tổ quốc VN đau thương này? Chợt tôi bằng nghĩ tới giờ này Cẩm Anh cùng những thân nhân khác của đồng đội tôi ở ngoài Bắc chắc đang nuôi hy vọng ngày chiến thắng. Tôi chua xót và nước mắt bỗng tuôn trào. Tôi chẳng còn gì để tin vào những lời Đảng nói.
Bởi vì, tôi đã quyết định sau khi ra viện, tôi sẽ đi tìm một con đường chiến thắng khác, con đường chiến thắng của toàn thể nhân dân miền Nam.

3-1972
~~~~~~~~~~~~~~

$pageOut$pageIn
Phân đoạn 16

#Tien Tuyen Jul. 27, 1972 trang năm - Tri Vũ phụ trách
Những Lý Do Yếu Kém Của Các Sư Đoàn CSBV
#Tien Tuyen Jul. 27, 1972 trang năm - Tri Vũ phụ trách
NHỮNG LÝ DO YẾU KÉM CỦA CÁC SƯ ĐOÀN BẮC VIỆT

Một bản phân tích khả năng hiện nay của quân lực Cộng sản đang hoại động tại VNCH cho thấy tất cả 10 sư đoàn chính quy tham gia cuộc xâm lăng quy mô hồi tháng 4 đã bị suy yếu và hiệu năng tác chiến của ít nhiều sư đoàn ấy đang lâm vào tình trạng kiệt quệ.
Khó khăn đó của Cộng quân dường như bắt nguồn phần nào từ sự kiện Bắc Việt chuyển qua chiến tranh quy ước. Cộng sản áp dụng trận địa chiến có thể là để tiết kiệm nhân lực sau 7 năm chịu nhiều tổn thất nặng nề, nhưng sự thay đổi chiến thuật ấy lại khiến cho các đơn vị lâm chiến phải tùy thuộc vào tiếp vận nặng nhiều hơn bao giờ hết. Mà tiếp vận nặng thì nay đang trở thành 1 vấn đề nan giải bởi lẽ Hoa kỳ đã gia tăng oanh tạc và thả thủy lôi tại các Hải cảng Bắc Việt.
Còn phải thêm vào nguyên tố đó những sự kiện này nữa: Không lực Hoa kỳ và VNCH đã gây thêm nhiều tử vong cho địch, chiến sĩ VNCH tiếp tục chiến đấu thắng lợi và việc Cộng quân không được nhân dân Nam VN hậu thuẫn.
Nhiều sư đoàn và trung đoàn Cộng quân đã bị đánh tơi bời. Họ lâm vào cảnh thiếu thực phẩm và tiếp liệu. Trên 400 chiến xa đã bị tiêu diệt. Hàng ngàn binh lính của họ đã ngã gục trên chiến trường. Và nay những kẻ sống sót đang phải bắt đầu rút lui và cả đầu hàng nữa.

Sa Lầy
Cuộc tấn công bắt đầu với những thành quả ban đầu tại Quảng Trị đã sa lầy. Và sau 4 tháng chiến đấu với cái giá quá đắt, bộ chỉ huy Cộng sản hiện đã phải đối đầu với bộ binh Nam Việt Nam phản công tại bất cứ địa điểm then chốt nào mà họ đã hy vọng rằng, từ đó họ có thể áp đảo quân đội Nam Việt Nam.
Sau đây là nhận xét của những nhà quan sát tinh tường về tình hình hiện nay của những đơn vị Cộng sản tại Nam Việt Nam (Tiền Tuyến lược dịch)

Sư đoàn 304 với những đơn vị trọng pháo và xe tăng yểm trợ đã bị tổn thất nặng nề tại mặt trận Quảng Trị. Được coi là 1 trong số những đơn vị xuất sắc nhất của cái được gọi là “Quân đội Nhân dân” mặc dầu sự bại trận của họ vào năm 1968 tại Khe Sanh, đội quân này «chưa bao giờ đương đầu với mọi thứ hỏa lực trong cuộc tiến công hiện nay.»
Trung đoàn 9 của họ đã bị những trận oanh kích của phi cơ B.52 tiêu diệt. Trung đoàn 66 trong cuộc giao tranh kéo dài đã bị tổn thất nặng nề vì số thương vong, và Trung đoàn 24-B dù không tổn thất bằng 2 Trung đoàn kia nhưng được báo cáo là đã mất tinh thần khi dân chúng Quảng Trị đã quyết định chạy trốn khỏi Tỉnh chứ không ở lại hoan nghênh “giải phóng”. Trung đoàn Trọng pháo yểm trợ 38 đã không thể chống cự được những cuộc tấn công của quân đội VNCH và phi cơ đồng minh.
Sư đoàn 308 được thành lập năm 1949 và nổi danh là “bách chiến, bách thắng” nhờ tài chiến đấu giỏi lúc chống lại quân Pháp, rõ ràng là đã đánh giá quá thấp khả năng chống trả của binh sĩ VNCH. Nhưng Sư đoàn này đã phải kinh ngạc khi Trung đoàn 36 của họ đã bị đánh bật ra khỏi Đông Hà hồi tháng Tư.
Thế rồi khi Trung đoàn 102 thuộc Sư đoàn 308 lâm trận thì cũng bị chiến sĩ VNCH đánh tơi bời. Tới lượt Trung đoàn 88 cũng lại bị phi cơ và đại bác băm nát.
Trong 2 tháng Năm và Sáu nhiều đơn vị của Sư đoàn này đã bị phi cơ, trọng pháo và bộ binh tấn công tới tấp. Nói riêng thì Trung đoàn 88 có Trung đoàn Thiết giáp 202 trợ chiến đã bị tổn thất rất nặng hồi cuối tháng Năm trong khi mưu toan chọc thủng phòng tuyến Sông Mỹ Chánh. Nay, sau khi đã bị tổn thất hàng ngàn người, người ta không tin là Cộng quân có thể giữ được những thắng lợi lúc đầu trong tỉnh Quảng Trị trước sự phản công của Quân Lực VNCH.
Một quan sát viên đã nói: « Ngày nay Sư đoàn 308 nên cải danh là Sư đoàn "bách chiến bách bại” »

Hoang mang
Được tổ chức lại năm ngoái và tái xâm nhập miền Nam tháng Giêng và tháng 2 năm nay, Sư đoàn kỳ cựu 324-B có nhiệm vụ mở các cuộc hành quân quấy rối và tấn công Sư đoàn I BB VNCH trong tháng 3, tức đơn vị đã ngăn cản không để cho Trung đoàn 29 của Sư đoàn Cộng sản này hoàn tất tổ chức cuộc xâm lăng tỉnh Thừa Thiên và tấn công Huế.
Trung đoàn này đã bị Trung đoàn 803 cũng thuộc Sư đoàn 324-B thay thế hồi tháng Năm, nhưng tinh thần của Trung đoàn này cũng đã xuống thấp vì 30% sĩ quan và hạ sĩ quan đã bị chết tại Quảng Trị. Bị tan rã bởi các cuộc tấn công đáp trả liên tiếp của Quân đội VNCH đã tái chiếm lại được những vị trí bị mất lúc đầu, Sư đoàn này đang lâm vào tình trạng hoang mang.
Một Trung đoàn của đại đơn vị này – Trung đoàn 29 – chỉ còn lại không đầy 130 người. Hơn nữa, 2 trung đoàn 803 và 612 thường xuyên bị ăn đạn trọng pháo của QLVNCH nên đã không thể xâm nhập các vị trí phòng thủ đọc đường 547 ở phía Tây Huế.
Sư đoàn 320, 1 đơn vị bị tan rã khác mà cũng đã nổi tiếng 1 thời nhờ trận Điện Biên Phủ, đã nuôi hy vọng biến Kontum thành 1 Điện Biên Phủ nữa cho chiến sĩ VNCH. Nhưng các đợt xung phong của các Trung đoàn 48, 52 và 64 đã bị đẩy lui sau khi đã bị tổn thất nặng nề ngay tại mặt trận ấy.
Trong tháng Tư và Năm, 2 Trung đoàn 64 và 48 đã bị thiếu hụt lương thực trầm trọng nên khả năng chiến đấu bị ảnh hưởng theo. Vào trung tuần tháng Năm, chính Trung đoàn 48 cũng đã bị tổn thất 50% vì nhiều nguyên do. Một Tiểu đoàn của Trung đoàn này chỉ còn lại không đầy 200 người. Còn Trung đoàn 52 cũng bị hao hụt quân số tương tự. Vì thế Sư đoàn 302 buộc lòng phải rút lui để bổ sung, giao trách nhiệm tấn công Kon Tum lại cho Sư đoàn 2.
Tuy nhiên SĐ 2 cũng lại bị sa sút tinh thần và có nhiều người bị bệnh sốt rét nên cũng chẳng hơn gì. Sư đoàn này tấn công Kon Tum từ ngày 25 đến 28-5 nhưng lính tráng ô hợp mà còn thiếu chuẩn bị về trọng pháo. Vì thế sau khi vào được thị trấn Kon Tum lần đầu, cả 2 Trung đoàn 1 và SĐ 2 bị đánh bại hoàn toàn và cuối tháng Sáu có Sư đoàn đã phải rút lui để củng cố lại.
Chiến cuộc kéo dài tiếp tục bị giới hạn và tổn thất lên cao đã làm giảm khả năng tác chiến của Sư đoàn 3 trong tỉnh Bình Định, hoạt động trong tỉnh này từ năm 1966. Các đơn vị của Sư đoàn này bị đẩy lui với những tổn thất nặng nề trong cuộc tấn công quận lỵ Phù Mỹ hồi trung tuần tháng Sáu.
Các Trung đoàn 2, 12 và 21 nay đang phải lẩn trốn ở mạn Bắc tỉnh Bình Định và các nơi xa xôi hẻo lánh khác thuộc tỉnh này. Vì thiếu sự phối hợp hữu hiệu của các đơn vị Cộng sản địa phương nên Sư đoàn này đã không thể xâm nhập khu vực Nam Bình Định.
Sư đoàn 5, mang tên là đơn vị VC hay MTGP, đã hoạt động trong tỉnh Bình Long từ hồi đầu cuộc tổng tấn công Mùa Hè Đỏ Lửa này. Đơn vị này được giao phó nhiệm vụ chiếm An Lộc sau khi Sư đoàn 9 đã bị đánh bại. Nhưng rồi đơn vị này cũng lại thất bại khi đã bị tổn thất nặng và phải rút sang Kampuchia qua ngả Kiến Tường. Ít nhất thì Trung đoàn 174 của Sư đoàn này cũng đã bị tổn thất đậm trong cuộc tấn công Quận Tuyên Bình và dọc hương lộ 29 trong tháng ấy. Sư đoàn này được chỉ định quấy phá vùng Tiền Giang, nhưng đã không thu được kết quả đáng kể nào một tháng hoạt động. Sư đoàn này đã chịu nhiều tổn thất trong mấy năm qua cho nên phần lớn quân số hiện nay đều gồm các tân binh chưa có kinh nghiệm và không được huấn luyện đầy đủ từ ngoài Bắc đưa vào.
Sư đoàn 7 của Cộng sản, chiến đấu dọc quốc 13 giữa Lai Khê và An Lộc trong gần 3 tháng, đã gặp nhiều khó khăn trầm trọng. Mỗi ngày chỉ được tiếp tế có 1 lần, thuốc men không đủ, và sự phối hợp giữa Thiết giáp với bộ binh thì thảm hại. Các Trung đoàn 141, và 209 đã bị tổn thất 50 phần trăm số quân so với lúc mới kéo vào Nam, vì luôn luôn bị phi pháo và trọng pháo. Riêng Trung đoàn 209 thì số tổn thất còn nặng nề hơn, ít nhiều đại đội lúc đầu quân số còn đầy đủ nhưng nay mỗi đơn vị chỉ còn lại không đầy 20 người. Số bổ sung đưa đến vừa chậm vừa không đủ để trám vào chỗ trống. Trong cả một tháng Năm mà chỉ có 300 lính bổ sung, và trong hai tuần lễ đầu tháng Sáu thì lại không nhận được một tên lính điền khuyết nào cả.
Các quan sát viên cho hay Sư đoàn 7 này chỉ còn là cái bóng mờ.

Con mồi ngon
Sư đoàn 9, cũng như Sư đoàn 5, mang tên là đơn vị của Việt cộng hay Mặt trận Giải phóng, nhưng vì trong mấy năm qua đã bị tổn thất nặng nên quân số của họ hiện nay phần lớn là lính Bắc Việt.
Sư đoàn 9 đã mở nhiều cuộc tấn công vào An Lộc trong tháng 4, nhưng các Trung đoàn 95-C, 271 và 272 của Sư đoàn này bị đánh bại và đã bị tổn thất rất nhiều. Sư đoàn này có 300 lính bị hạ và 20 chiến xa bị bắn gục. Tin rằng An Lộc đã được “giải phóng”, các đoàn thiết giáp này cứ lù lù tiến vào thị xã, pháo tháp để ngỏ cho nên đã trở thành những con mồi ngon cho chiến sĩ VNCH. Bị thảm bại nhục nhã, bị Trung Ương cục miền Nam chỉ trích nặng nề về tội không đạt được mục tiêu giao phó, Sư đoàn này bị coi như không còn khả năng tác chiến nữa.
Sư đoàn 1 của cái gọi là "Quân đội Nhân dân" đã từng hoạt động ở Kampuchea với chút ít thắng lợi. Nhưng khi vượt biên giới tiến vào VNCH thì đó lại là vấn đề khác. Khi các đơn vị của Sư đoàn này tấn công Quận lỵ Kiên Lương thuộc tỉnh Kiên Giang, các chiến sĩ VNCH đã chống trả mãnh liệt và đã đẩy lui Cộng quân qua trở lại Kampuchea.
Cùng với 10 Sư đoàn chính quy kể trên, bộ Tư Lệnh Cộng quân còn tung ra trên lãnh thổ miền Nam một số đơn vị đặc biệt và Trung đoàn độc lập. Trong số này có Trung đoàn 27B, 31 và 270, tất cả là quân chính quy Cộng sản Bắc Việt xâm nhập miền Nam và hiện đang hoạt động tại mặt trận Trị Thiên. Nhưng vì dân chúng không chịu hỗ trợ cho Cộng quân nên Bắc Việt đã phải bổ xung cho 2 đơn vị này bằng những thiếu niên Bắc Việt. Cả 2 đều bị thất bại nặng trong 3 tháng chiến đấu tại 2 Tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên.
Tại 2 tỉnh Quảng Nam và Quảng Tín, Cộng quân đã cố gắng tổ chức Sư đoàn mới lấy tên là 711 gồm có các Trung đoàn 31, 38 và 270. Sư đoàn này đã đạt được chút ít thắng lợi trong tỉnh Quảng Tín hồi tháng 4 nhưng do gặp khó khăn đáng kể trong tháng 5 và tháng 6, bị phi cơ và các đơn vị VNCH trừng phạt nặng nề dọc tỉnh lộ 535 từ Quế Sơn tới QL1.
Trên mặt trận Kon Tum, các Trung đoàn bộ binh 28, 66 và 95 và Trung đoàn pháo binh 40 đã rút lui sau khi đã bị nhưng tổn thất nặng nề do B52 tấn công. Trung đoàn 271 bị tan nát ở Tây Ninh và Hậu Nghĩa, đã phái rút ra khỏi các khu vực đông dân cư và chạy qua Kampuchea.
Trong tỉnh Bình Long, đa số các khẩu trọng pháo của bộ chỉ huy Pháo binh 69 đã bị phi cơ tiêu diệt và mấy khẩu còn lại đều được kéo qua Kampuchea.
Trung đoàn 101 hoạt động trong tỉnh Bình Dương nay thực tình không còn hoạt động nữa sau khi bị đại bại lúc tấn công quận lỵ Tri Tôn.
2 Trung đoàn 33 và 274 hoạt động trong tỉnh Phước Tuy đã cố gắng mà chỉ sát hại được có một số thường dân vô tội, thiêu hủy nhà cửa của dân tại Bình Giã, Đức Thạnh, Đất Đỏ, Long Lễ và Xuyên Mộc. Trong tháng 5 và 6, 2 đơn vị đó đã bị tổn thất rất nhiều và không thể chiếm giữ được 1 thị xã nào.
Còn một ít Trung đoàn độc lập trong miền Châu thổ Cửu long như Trung đoàn 83, 18B và 95A và một số trung đoàn khác thường xuyên thay đổi tên gọi để tránh bị phát giác. Các đơn vị này cũng đã bị tổn thất nặng. Trung đoàn 88 chẳng hạn đã bị hạ sát trên 500 tên khi giao chiến tại Kiến Tường và phía Tây Định Tường. Trung đoàn 18B tại Chương Thiện đã bị nhiều tổn thất do phi cơ oanh tạc. Những đơn vị này đã gia tăng hoạt động tại các khu vực hẻo lánh, chứ không chiếm giữ được 1 khu vực đông dân cư nào.

Cộng quân đã phải trả 1 cái giá rất đắt bằng mạng người, chiến cụ và võ khí, phần thu về thực sự lại chẳng có là bao.



#Chinh Luan Sept 12, 1972 trang ba
Tinh thần Cán binh Cộng sản suy sụp
#Chinh Luan Sept 12, 1972 trang ba
Tài liệu Cộng sản phát lộ tình hình tư tưởng cán binh Cộng sản suy sụp

SAIGON. 10-9. – Quân lực VNCH vừa tịch thu 1 tài liệu quan trọng của Cộng Sản ở tỉnh Kiến Hòa cho thấy rằng có hiện tượng cán bộ Cộng sản bất phục tùng kỷ luật, không theo lãnh đạo của Đảng mà còn giao động trước tình trạng chiến tranh ác liệt nên có nhiều cán binh Cộng sản đã đầu hàng Quân lực VNCH.
Tài liệu nói trên nhan đề là «một số nét về tình hình nội bộ» có đoạn cho biết rắng trước tình hình chiến tranh ác liệt cũng là lúc VNCH «đẩy mạnh mưu lược tâm lý chiến» cho nên cần phải phát động, củng cố tư tưởng, chi bộ, chỉ đạo cụ thể kế hoạch chống lại mưu lược này.
Sau đó, tài liệu nói trên vạch rõ rằng «một số cán bộ chiến sĩ bị ảnh hưởng nên đi tới chỗ cầu an, thỏa mãn, ngả sang tư tưởng tự do bất chấp bất phục tùng kỷ luật và sự lãnh đạo của tổ chức, bất đồng nội bộ, diễn biến tư tưởng».
Tài liệu nhấn mạnh «cấp ủy chi bộ xã cũng như cơ quan chưa giải quyết gì được, do đó thường xuyên có những cán bộ có những diễn biến không tốt đi đến việc đầu hàng địch, gây khó khăn cho Đảng».



#Chinh Luan Jun. 8, 1972 trang ba
Hànội để lộ cho thấy Thực trạng Bi đát tại Bắc Việt
Bị oanh tạc, Hết xe cộ, đường sá, nhà máy điện

Đài Phát thanh Hanoi kêu gọi dân chúng «có thể phải đi bộ, có thể phải dùng đèn bấm, có thể phải chỉ ăn cháo mà vẫn không từ bỏ chiến tranh … »
Hànội để lộ cho thấy Thực trạng Bi đát tại Bắc Việt
Bị oanh tạc, Hết xe cộ, đường sá, nhà máy điện

Đài Phát thanh Hanoi kêu gọi dân chúng «có thể phải đi bộ, có thể phải dùng đèn bấm, có thể phải chỉ ăn cháo mà vẫn không từ bỏ chiến tranh … »

LUÂN ĐÔN, 6.6 – Các nhật báo xuất bản ở Luân Đôn hôm nay đã lưu ý tới những lời Hoa Kỳ báo cáo về những kết quả của những vu oanh tạc của Hoa Kỳ ở miền Bắc và đến những lời bàn bạc về hậu quả của những vụ oanh tạc BV.
Báo Telegraph đăng bài của biện tập viên báo ấy chuyên về các vấn đề Cộng sản, đã căn cứ vào bài bình luận của báo Nhân Dân do dài Hà Nội loan đi mà suy luận ra nhiều điều.
Trong bài báo do đài Hà Nội loan đi có nhận rằng BV đương tập phải các vấn đề kinh tế khó khăn vì Hoa Kỳ gia tăng oanh tạc. Và biên tập viên báo Telegraph bình luận: Bài báo Nhân Dân này hầu như xác nhận nhiều tin nói rằng các khó khăn của BV ngày một thêm nhiều.
Trong bài phát thanh, đài Hànội nói «Chúng ta đã tiên liệu và tính trước được tình hình rất khó khăn và những mưu mô vô cùng độc ác và nguy hiểm của địch khi chúng leo thang cuộc chiến dữ dội. Nhân dân ta có thể phải đi bộ, có thể chỉ dùng đến đèn bấm, có thể chỉ ăn cháo mà vẫn đánh bại được quân xâm lăng Mỹ. Và mặc dầu oanh tạc, địch không thể nào làm tê liệt nền kinh tế của ta tới độ không cho ta sống còn và tiếp tế cho miền Nam được.»
Những lời nói đến đi bộ, dùng đèn bấm và ăn cháo có vẻ như là một chỉ dẫn rõ rệt cho thấy là việc Hoa Kỳ oanh tạc đã làm thiệt hại các đường giao thông, các các nhà máy điện và nông nghiệp đến mức nào.
Ngoài nỗi khó khăn trong việc duy trì tiếp liệu cho bộ đội ở miền Nam, nền kinh tế sinh hoạt cho miền Bắc có vẻ cũng gặp nhiều điều khó khăn. Từ trước đến nay BV đã phải chật vật mới sản xuất được thực phẩm cho đủ dùng.



#Chinh Luan Jun. 27, 1972 trang nhất
Hà Nội hạ lệnh dẹp hết quà bánh để đánh đến cùng
#Chinh Luan Jun. 27, 1972 trang nhất
Hà Nội hạ lệnh dẹp hết quà bánh để đánh đến cùng

SAIGON. 26.6.– Nhật báo Nhân Dân, cơ quan trung ương của đảng CSVN trong số ra ngày 28-5-1972 đề cập việc tiết kiệm lương thực đã nói rằng, hiện miền Bắc còn phí phạm lương thực và báo đó kể rằng: «chỉ cần nhìn vào những hàng quà hàng bánh, đã thấy có nhiều thứ quà bánh chế biến từ lương thực. Nào bánh chưng, bánh tẻ, bánh nếp. Nào bún, miến, cháo…» và báo Nhân Dân kêu gọi «những thứ nào cần để và có thể để được thì để. Thí dụ như những thứ không phạm nhiều đến lương thực chính. Còn thì nên dẹp bớt nó đi hoặc đổi cách chế biến bằng những lương thực phụ.»
Ở một đoạn khác, báo Nhân Dân viết: «ở một số tỉnh, bà con thị xã đi sơ tán lại không chịu vào trong các thôn xóm, cứ ở rệch ven mấy đường cái chính. Rồi hàng quà, hàng bánh mọc lên vô tội vạ. Việc quản lý thị trường thêm phức tạp. Và lương thực thì lại bị hao phi nhiều hơn.»
Lên án những người bán quà bánh vô kỷ luật, báo Nhân Dân viết tiếp: «Họ hoạt động đàng hoàng. Họ chạy theo lời lãi không chút ý thức tiết kiệm lương thực. Có việc sơ tán, họ cũng không sơ tán …»
Và báo đó kết luận, riêng ở Hànội nếu dẹp bớt hàng quà hàng bánh không cần thiết thì chắc Hà Nội có thể tiết kiệm được cả tấn gạo và mì.
Trước dây trong một bài xã luận, báo Nhân Dân đã kêu gọi dân chúng “đốt đuốc, đi bộ, ăn cháo đánh Mỹ tới cùng".



#Chinh Luan Jul. 16_17, 1972 trang ba
Mặc dù mỹ đã sẵn sàng loại bom gây mất dưỡng khí, Quân VNCH muốn tự tay lấy lại Quảng Trị, Không muốn dội bom vì sợ làm chết dân
#Chinh Luan Jul. 16_17, 1972 trang ba
Mặc dù mỹ đã sẵn sàng loại bom gây mất dưỡng khí
Quân VNCH muốn tự tay lấy lại Quảng Trị
Không muốn dội bom vì sợ làm chết dân
🟐 Quân CSBV sống dưới hầm sâu, chạy quạt bằng ắc quy
🟐 Hiện còn có 1 trung đoàn CSBV cố thủ trong Cổ Thành
🟐 1 ký giả Pháp được CSBV thả nhân ngày 14-7


HUẾ, 14-7 (AFP). – Trung Uý Terry Griswold, một cố vấn Mỹ trẻ tuổi, lần đầu tiên đã lọt được vào Quảng Trị và ở lại thị xã luôn mấy ngày, trong một công tác thám sát, hôm thứ Năm tuyên bố tại Huế rằng: «Bằng vào cách thức quân CSBV trang bị các công sự hầm hố của chúng, người ta thấy rõ là chúng có ý định ở lại thành phố này.»

Một điều hết sức ngạc nhiên là binh sĩ VNCH đã phát giác tại một vài công sự CSBV bỏ lại, những máy quạt và máy lạnh không cần đến Trung Tâm phát điện (vừa bị hư hại nặng trong trận chiến mới đây). Những máy của địch toàn chạy bằng bình Accu xe hơi.
Từ ngày 1-5 binh sĩ CSBV sống dưới hầm sâu tại Quảng Trị để tránh bom và đạn trọng pháo của Mỹ. Nhưng cuộc sống theo loài chuột đất này không ngăn cản một vài tên binh sĩ có tài xoay xở biến chế ra có những tiện nghi, lẽ ra chỉ dành cho những vùng thái bình an lạc hơn.
Cuộc hành quân của VNCH nhằm tái chiếm Quảng Trị và các vùng chung quanh càng ngày càng dữ dội. Bộ Tư Lệnh Việt Nam Cộng Hòa ước lượng có khoảng 1 Trung đoàn CSBV ẩn phục trong khu Cổ Thành ở trung tâm thành phố. Người ta cũng ước lượng phải 4, 5 ngày nữa binh sĩ VNCH mới hoàn toàn làm chủ chiến trường vì chỉ khi nào chiếm được khu Cổ Thành thì mới thật là kiểm soát được Quảng Trị.
Cho đến nay Mỹ vẫn chưa oanh tạc Quảng Trị bằng B52 vì lẽ hãy còn dân trong Thị xã. Gia dĩ VNCH muốn tự đánh chiếm lấy Quảng Trị dù phải trả giá nào chăng nữa, hơn là tìm chiến thắng nhờ vào không lực Mỹ. [ Gia dĩ: Sở dĩ; Vả lại, Hơn nữa ]
Người Mỹ đã chỉnh bị loại bom mới mà khi nổ sẽ làm tan mất hết chất dưỡng khí trong không khí. Loại bom này sẽ rất hiệu lực đối với những binh sĩ trốn dưới hầm sâu vì sẽ bị chết ngạt.
Hoạt động gia tăng của quân đội Quốc Gia tại Quảng Trị dường như đã làm giảm bớt áp lực của quân CSBV vào Huế. Theo Bộ Tư Lệnh quân sự VNCH, quân CSBV đã bị tổn thất hết sức nặng nề trong tuần qua khi toan cản đường tiến quân của VNCH.
Một nguồn tin ở Saigon hôm thứ Sáu cho hay một ký giả Mỹ của tạp chí Newsweek ông Alexander Shimkia đã mất tích tại tỉnh Quảng Trị từ hai hôm nay.
Shimkia, 27 tuổi, hôm thứ Tư vừa qua đã cùng một ký giả khác dùng xe Jeep đi trên Quốc lộ 1 và bị lọt phục kích của CSBV.
Ký giả thứ hai là ông Chad Huntley hãng UPI đã thất lạc với bạn đồng hành và bị thương nhẹ vì mảnh lựu đạn. Tuy nhiên, anh ta đã trở về được phòng tuyến VNCH sau hai ngày đi bộ.
Tại Saigon, Ký giả Pháp Michel Dumont mất tích hơn 3 tháng nay ở quận Lộc Ninh và vừa trở về được, tuyên bố ông ta bị CSBV bắt làm tù binh và chúng đã phóng thích ông ta nhân ngày lễ của Pháp 14-7. Ông thuật lại là CSBV đối với ông ta rằng “Chúng tôi trả tự do cho ông để ông có thể ăn mừng kỷ niệm ngày giải phóng nước Pháp và chứng tỏ sự liên lạc tốt đẹp giữa chúng tôi và nước Pháp.” Sau đó ông được phóng thích và chúng chỉ đường cho ông đi vài cây số đến một tiền đồn VNCH.
Michel Dumont thuật rằng ông bị bắt cùng với 2 cố vấn Mỹ. Hai người cũng bị thương vì mảnh đạn trái phá và đạn trực thăng như ông. Hai người Mỹ đã bị thương trong một cuộc tấn công của phi cơ Hoa Kỳ, toan bỏ trốn. Họ bị bắt lại và cả ba bị đưa sang KPC vùng Snoul, bằng chiếc xe Jeep của một cố vấn Mỹ. Tên lính CSBV lái xe có lẽ lần đầu tiên cầm lái bánh xe Jeep, và lái một cách quá tệ. Cuộc hành trình thật nguy hiểm, và một trong hai người Mỹ đã luôn mồm đòi trả tay lái lại cho ông ta.
Michel Dumont nói ông ta được đối đã tử tế. Trong những ngày đầu, ông ta bị giam riêng, không được gần 2 Cố vấn Mỹ. Ông ta bị thẩm vấn nhiều lần và phải điền vào nhiều tờ khai nói rõ ông ta không làm việc cho người Mỹ.
Michel Dumont mong được nghỉ ngơi và viết lại về những ngày bị giam cầm. Ông cũng tỏ ý tiếc đã bị mất hết cả phim ảnh và cuốn nhật ký trong những ngày tù, vì bị các tên lính gác BV đã lấy mất.

————— ୨୧ —————

1 chú lính B.V. sống sót nhờ nhớ kỹ lời cha dặn

HOA THỊNH ĐỐN, 14.7 (VOA): Nhiều tin tức đáng chú ý từ các mặt trận phát ra, đặc biệt là từ các vùng giới tuyến. Sau dây, thông tin viên đài Tiếng Nói Hoa Kỳ tường thuật một vài nguồn tin liên hệ tới các cán binh CSBV.
Tiểu đoàn Thiết giáp 297 CSBV hoạt động tại mặt trận B3 đương phải đối phó với vấn đề tinh thần của cán binh Cộng sản. Cấp chỉ huy và binh sĩ của tiểu đoàn đã thảo luận vấn đề là làm thế nào để sống sót trong một trận đánh. Các binh sĩ thì muốn mang theo quân trang cá nhân như là võng và quần áo đề để tháo chạy khi chiến xa bị phá hủy, còn cán bộ thì ra lệnh là nếu binh sĩ nào bỏ xe tháo chạy giữa trận chiến thì sẽ bị bắn bỏ.
Tin từ mặt trận An Lộc cho biết có một chú lính Cộng sản BV đã ra đầu hàng với cây súng còn nguyên đủ đạn không thiếu một viên nào, chốt an toàn ở súng cũng chưa mở, nghĩa là chú không kịp bắn phát nào thì đã vội ra hàng. Báo chí khi tiếp xúc với chú đã gọi chú ta là chú, bởi vì người hàng binh Bắc Việt này tuổi hãy còn quá nhỏ, cỡ chừng 14, 15 nhưng chú khai là 16 tuổi.
Khi một sĩ quan VNCH hỏi chú sao chưa bắn một phát nào mà đã hàng thì chú linh Bắc Việt thành thật kể lại là trước khi lên đường theo chân đoàn quân viễn chinh vào Nam, ông thân sinh của chú gọi chú vào phòng kín dặn nhỏ là vào đó thì đừng có dại dột bắn giết gì hết, cứ ôm súng mà chui vào một cái hố nào đó và hễ thấy thuận tiện có cơ hội là chạy ra hàng ngay thì chắc chắn sẽ được sống.
Suốt thời gian xâm nhập, chú lính này luôn luôn tâm niệm lời căn dặn của cha, vì vậy chú không giám bắn một phát đạn nào mà chỉ rình cơ hội để ra đầu hàng, hầu bảo vệ mạng sống, và quả nhiên là chú đã sống sót, còn được nuôi nấng tử tế, trong khi các bạn đồng đội của chú lần lượt chết gần hết.
Các chiến sĩ Dù ở Hải Lăng đã cho biết lính Cộng Sản Bắc Việt phần đông còn nhỏ tuổi quá nên vừa không biết đánh trận vừa nhát. Những lính Cộng sản này chưa đánh đã chạy, có nhiều chú bỏ xe tăng mà chạy trong khi xe không bị tấn công và máy vẫn còn nổ.
Và cũng có chú lính Bắc Việt ra hàng với khẩu súng còn nguyên cả băng đạn không kịp bắn phát nào, tuy nhiên chú lính Bắc Việt thì lại khai là: «Em có bắn nhưng súng không nổ», mà thật ra là vì chú chưa mở chốt an toàn.



#Tien Tuyen Jun. 13, 1972 trang hai
GẠO ... GIÃ
by Nguyễn Kim Phượng
#Tien Tuyen Jun. 13, 1972 trang hai
GẠO ... GIÃ
by Nguyễn Kim Phượng

Trong rất nhiều nhật ký của cán binh Cộng sản (CS) ta bắt được, thường có bài thơ sau đây của «Bác Hồ»: “Gạo bỏ vào giã bao đau đớn / Gạo giã xong rồi trắng tợ bông / Sống ở trên đời người cũng vậy / Gian nan rèn luyện mới thành công”.
Nếu lấy khẩu khí mà nói, bài thơ sặc mùi «bần cố nông lao động», và đượm một tinh thần chịu đựng tối đa, đồng thời gây một ảo tưởng «thằng Bờm», nghĩa là đưa miếng cơm tới miệng vô sản…
⚫ Nhưng như đã biết, «Bác Hồ» không bao giờ đã là bần cố nông cả, nên đây không thể là bài thơ khẩu khí! À, nếu vậy chỉ là thơ «Bác» làm để đốt đít mấy anh cán bộ vào Nam…
“Thế là, hết từ nay CON đi mãi / Còn mong chỉ ngày trở lại BÁC ơi”.
Hai câu thơ của Tố Hữu, sửa vài chữ, rất ăn hợp với thơ «Bác Hồ». Vậy là thành phần thượng lưu lao động toa rập nhau thống trị và giã gạo giai cấp vô sản đi Nam…
⚫ Thay vì ông chủ không sợ chết để được làm ông chủ, thì ở đây nô lệ lại không sợ chết để làm nô lệ. Trong tiến trình chủ tớ, thay vì nô lệ sẽ dần dần phản tỉnh để làm cách mạng tới chỗ đạt thân, ra khỏi vong thân, thì lại cứ cắm đầu cắm cổ chúi mũi đi tới chỗ đến chết để … ô hay … vẫn cứ làm nô lệ cho Bác, Đảng!. Đó là cái ngụy sự trong biện chứng nền tảng của Marx, hay nói đúng của thầy của Marx.
⚫ Đều nói vậy mà chơi chứ tụi cán binh cộng sản biết chó gì nền tảng, lý luận duy vật này nọ. Giỏi lắm đảng nhét cho dăm câu lý luận «bần cố», rồi cứ thế mà suy ra trong cõi mù tịt, mịt mờ lao đi, tìm thắng lợi cho Duy Vật…
Hồ Chí Minh đã chơi khăm, biết cái dân Việt Nam nông nô ưa ca hát, ngâm ngợi (mà học giả thường gọi là gia tài thi ca bình dân, đầy thi sĩ tính), nên ông và các cán bộ cao cấp chuyên môn làm thơ tặng cho nông nô đi công trường, nông trường ca hát…
⚫ Gạo trắng trăng thanh của thuở bình yên cũ nay trở thành «gạo trắng bao đau đớn» … Cứ thế, chừng nào «gạo trắng tợ bông» thì đã có Đảng thu hoạch tòm tem … Chán cái mớ đời cán binh cộng sản….
⚫ Trong nhà Phật có một cái kiến gọi là Tà Kiến. Sau Tà Kiến có một cái kiến gọi là Kiến Thủ Kiến. Mấy anh cán binh, suy theo đạo Phật, đã thâm nhập tà kiến, tức là cứ thấy «là ta» một bên, nhứt định chỉ thấy một bên, không thấy có hai bên… Còn Bác, Đảng ôm lấy kiến thủ kiến, tuy có thấy rõ hai bên, bốn bề, nhưng tại đã phóng theo triết của Marx, thân danh, tư tưởng, ngôn luận, kiến thức gì gì đều thủ vào Marx… Nên họ nhứt định, là Marx sẽ thay Phật, Chúa dẫn nhân loại vào thiên đường tương lai … có gạo trắng tợ bông do các cán binh lấy xương trắng mà giã trong «gian nan rèn luyện»...
⚫ Ô hô! Ai tai! ai chẳng biết “sống ở trên đời người cũng vậy, gian nan rèn luyện mới thành công”, nhưng thành công cốc thì rèn luyện làm cái mẹ gì cho nó đau đớn thêm cuộc nhân sinh vẫn đã nhiều đau khổ!.
Thênh thang một cuộc đời, lại cứ chui nhủi đi tìm thiên đàng tối mịt. Hà vi? «ấu vi cán binh lão hà vi?» Ta giận quá, xổ nho bậy chơi vậy…

Nguyễn Kim Phượng




updating

$pageOut$pageIn Phân đoạn 17

$pageOut$pageIn
$pageOut $pageIn$pageOut $pageIn$pageOut $pageIn$pageOut $pageIn$pageOut $pageIn$pageOut các Phần tiếp theo ==>
.


Related Articles:
Chứng Tích bên phía CSBV part 2 - written & collected by Le Tung Chau - ngày khởi đăng Mar. 15, 2025
Hào Khí Quân và Dân miền Nam - written & collected by Le Tung Chau - ngày khởi đăng Jan. 4, 2025
Vụ Tướng Lavelle năm 1972: Vết Nhơ Mở Màn Tấn Tuồng 'Đồng Minh Tháo Chạy' của Mỹ - by Le Tung Chau, Oct. 10, 2024
Chứng Tích bên phía CSBV - written & collected by Le Tung Chau - ngày khởi đăng Jun. 9, 2024
Sách, Tài liệu VNCH by Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng - ngày khởi đăng May. 11, 2019
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu - LTC tổng hợp - ngày khởi đăng Jun. 10, 2022



No comments:

Post a Comment

Enter you comment ...