. .

Thursday, March 26, 2009

ĐƯỜNG ĐI KHÔNG ĐẾN - Hồi Ký của Xuân Vũ

ĐƯỜNG ĐI KHÔNG ĐẾN
Hồi Ký của Xuân Vũ

CẢM NGHĨ
về tác phẩm
“ĐƯỜNG ĐI KHÔNG ĐẾN” của Xuân Vũ
::: Bác sĩ Hồ Văn Châm :::


Tôi nghĩ rằng khi đọc xong tập hồi ký vượt Trường Sơn này của nhà văn Xuân Vũ, mỗi độc giả tùy theo thân thế và tâm sự riêng biệt của mình, có thể có những cảm nghĩ rất khác nhau. Người thích phiêu lưu mạo hiểm, say mê những chân trời xa lạ, những câu chuyện sôi nổi được tác giả ghi chú rất linh động trong tập sách. Kẻ ưa mơ mộng, thương cảm nỗi vất vả nhọc nhằn của người nữ vũ công có đôi bàn chân sáp đúc trầy trụa vì đá tai mèo trên những đỉnh núi cụng trời. Chính khách thời thượng gật gù khen nội dung tốt. Độc giả khó tính tặc lưỡi cho là sách tuyên truyền.
Tôi lại nghĩ rằng mỗi độc giả chúng ta, dù khen, dù chê văn tài của tác giả, dù chăm chú, dù hời hợt theo dõi diễn biến câu chuyện, đều không thể chối cãi một sự kiện hiển nhiên là nội dung cuốn sách đượm tính chất xác thực, không dài dòng lê thê, không hoa hoè hoa sói, không bịa đặt, không xuyên tạc, không phỉ báng ai mà cũng không ca tụng ai. Người viết chỉ ghi lại những điều mắt thấy tai nghe cùng những cảm nghĩ của mình trên đường vượt Trường Sơn trở về Nam thi hành nhiệm vụ giao phó. Tính chất xác thực nầy, những ai đã từng leo đèo vượt núi, những ai có liên hệ ít nhiều với dãy Trường Sơn trùng điệp đều làm chứng cho tác giả. Nói một cách khác, tập hồi ký này ghi lại trung thực một đoạn đời của nhà văn Xuân Vũ trong sự nghiệp phục vụ quê hương.
Tôi gặp nhà văn Xuân Vũ giữa năm 1971, sau khi anh đã thành công vượt mọi gian khổ, vượt dãy Trường Sơn, nhưng không vượt được nỗi khủng hoảng ngày đêm dằn vặt tâm tư. Đưởng Đi Không Đến . Trên đường vô Nam, anh đã đến nơi đến chốn, nhưng trên đường tiến tới sự nghiệp phục vụ quê hương đường đi đã bế tắc. Đau đớn cho anh, anh đã tiêu phí 20 năm trời đã đi trên con đường ngày nay bí lối đó. Cơn khủng hoảng thật là trầm trọng, khủng hoảng tâm thần, khủng hoảng lý tưởng.
Tôi nghĩ rằng trường hợp của nhà văn Xuân Vũ không phải là một trường hợp cá biệt. Một số độc giả chúng ta cũng như rất đông anh chị em ruột thịt chúng ta còn ở bên kia chiến tuyến ngày đêm cũng khắc khoải suy tư về một lối thoát vẹn toàn cho cơn khủng hoảng thời đại đó. Khắc khoải suy tư, khủng hoảng tâm thần, khủng hoảng lý tưởng… bởi lẽ chúng ta còn là người Việt Nam và dòng máu sôi sục trong huyết quản chúng ta, đầy ắp truyền thống Việt Nam hào hùng của biết bao nhiêu thế hệ tiền bối Việt Nam.
Tôi nhớ là đã nói chuyện nhiều với nhà văn Xuân Vũ về Đưòng Đi Không Đến của anh, của số đông chúng ta, và khuyến khích anh cố gắng vượt qua cơn khủng hoảng tâm thần để tìm đi đúng con đường vì dân vì nước . Để dẫn chứng, tôi đã tâm sự với nhà văn Xuân Vũ về việc gia tiên ngày xưa đương chức tri huyện Lê Thủy, Quảng Bình, lúc Vua Hàm Nghi xuất cung truyền hịch đã khẳng khái treo ấn từ quan, hưởng ứng việc Cần Vương, để rồi ngậm ngùi, thống hận tử trần, tuổi chưa được 40. Sau này, gia nghiêm khăng khăng không chịu ném bút lông cầm bút sắt, tuy giữ được khí phách sĩ phu, nhưng cơn khủng hoảng lý tưởng càng trầm trọng hơn, đường đi hoàn toàn nghẽn lối.
Tôi đã nói cho nhà văn Xuân Vũ biết là kinh nghiệm dòng họ khiến cho tôi ngày nay nghĩ rằng chúng ta không thể quá khích mà cũng không thể tiêu cực. Đường đi của chúng ta phải là con đường thích nghi với hoàn cảnh năm châu họp chợ, thích nghi với trình độ kỹ thuật không gian và thế quân bình lực lượng của các đại cường.
Đành rằng chúng ta yêu nước nồng nhiệt, đành rằng chúng ta lập chí lớn lao, nhưng chúng ta phải biết lượng sức dân, sức nước. Yêu nước thì phải thương dân, trước hết phải lo cho dân có cơm áo. Yêu nước nhất quyết không phải là mưu đồ sự nghiệp cá nhân, mặc cho dân chúng lầm than, quê hương tan nát. Yêu nước càng không phải là điên cuồng nhắm mắt đưa toàn dân vào con đường đấu tranh ngu xuẩn và vô vọng có thể mang tới hậu quả diệt quốc, diệt chủng. Yêu nước lại càng không phải là cưỡng bức nhân dân thắt lưng buộc bụng, nhịn đói, nhịn khát để tập trung tài nguyên nhân lực vào việc dùng vũ lực mưu toan áp đặt một nền nếp suy tư và những phương thức hành động đã được đúc khuôn mà dân chúng không mong muốn. Các nhà cầm quyền Miền Bắc nên ra khỏi tháp ngà để ngẫm nghĩ về điều đó.
Tôi lại cũng nghĩ rằng yêu nước không phải là tiêu cực chống đối. Những lời phê bình vô trách nhiệm, thái độ bất hợp tác hoặc lề lối buông xuôi, chỉ biết thở ngắn than dài, ưu thời mẫn thế, không phải là phương châm hành động của con cháu những người đã xông xáo ra Bắc vào Nam, bình Chiêm phạt Tống, gây dựng nên cơ đồ ngày nay để lại cho chúng ta. Yêu nước thì không thể thản nhiên nhắm mắt ngồi bất động để mặc bọn ma đầu phá hoại cơ nghiệp của cha ông. Yêu nước thì phải tích cực hoạt động, xây dựng đổ vỡ, vun quén tình hình, loại bỏ bọn sâu dân một nước, dạy dân, nuôi dân, cho dân sinh dân trí mỗi ngày một thêm phát triển. Các bậc có trí thức tại Miền Nam tự do này nên nghĩ tới trường hợp Vua Chiêu Hoà nước Nhật Bản sau ngày bại trận, khôi phục lại địa vị đại cường. Ai bảo hành động của Vua Chiêu Hoà từ năm 1945 đến nay lại không sáng suốt và ích lợi cho quốc dân Nhật Bản như công cuộc duy tân của Minh Trị Thiên Hoàng 100 năm về trước.
Trên con đường sự nghiệp phục vụ quê hương, đi như Xuân Vũ đi trong tập hồi ký này thì đường đi nhất định không đến, đi như Xuân Vũ đang đi ngày nay thì đường đi nhất định phải đến.

Saigon, ngày 2 tháng 7 năm 1973
Bác sĩ HỒ VĂN CHÂM




CHƯƠNG 1




….Bộ đội ở phía sau đi tới. Họ khiêng, họ vác, họ gánh. Lặng lẽ, nặng nề, từng nhóm, từng người, có khi năm bảy chục thước mới có một tốp, một người. Cự ly hành quân chẳng rõ được qui định là bao nhiêu.. Đó là vì Trường Sơn hiểm trở, nhưng trước nhất là vì đôi chân…

Thấy bộ đội đi, tôi và Lâm nhường bước, nép vào đường. Quần áo họ mốc cời, có cái vai áo rách toạc xuống nửa cánh tay, nhiều mái đầu như rú rậm, họ đi ngang đã nghe thấy một mùi chua khét lạ lùng. Nòng súng họ nhét giẽ rách, hoặc để trống hốc, sét rơi ra vàng oách. Nhiều ngườl gánh hẳn hoi bằng một thanh tre tươi. Ba lô một đầu súng và cạt-túc-se một đầu, như gánh những xâu thịt lợn. Người đi sau chót vừa đi vừa rên khừ khừ.

Tưởng đơn vị đã đứt đuôi, tôi sửa soạn cho đoàn của tôi tiếp tục đi nhưng nhìn lại thì thấy đơn vị còn lục tục ở phía sau.

Đột nhiên Lâm hỏi tôi :

- Này về tới Nam Bộ, anh sẽ ăn món gì trước nhất?

- Chè đậu! – Tôi đáp không cần suy nghĩ.

Vì sao tôi không suy nghĩ? Bây giờ, khi nhớ lại, tôi mới hiểu ra rằng đi đường mất calori nhiều quá, lúc nào cũng thèm đường. Đâu chỉ có một kí lô đường cát trắng được phát cho từ Hà-Nội mà đi hơn 1 tháng, trèo đèo lội dốc suốt ngày mà không dám đem đường ra ăn. Đường được xem như một thứ tiên được. Lúc sắp quỵ xuống kìa mới dám nghĩ tới thứ thuốc tiên đó! Cái cách ăn đường cát của những gã chân chỉ lội Trường Sơn đã làm cho nó trở thành tiên dược. Đâu có phải bỏ nó vô nước khuấy cho tan ra rồi uổng, mà phải chờ đến lúc khuya canh vắng, bên cạnh mình không còn ai thức mới sẻ lén mở ba lô ra lấy cái túi đường còn kha khá đó ra rồi mở sợi dây buộc túi đường một cách vô cùng cẩn thận, kẻo người bên cạnh nghe thì chết. Xong, mới bằng một cử chỉ vừa cẩn thận, vừa trang trọng, dốc ngược cái túi lên, tay giữ miệng túi sát vào mồm, tay bóp đít cái túi khe khẽ cho đường chảy vào mồm. Những hạt đường của Cu-Ba anh em (!) lăn trên thành túi ni lông nghe như những hạt sõi lăn trên sườn núi. Đợi đến khi số hạt đường nhất định đã rơi vào mồm thì chủ nhân mới bèn bóp cái miệng túi lại và khãy nhè nhẹ cho những hạt còn vô tình hay cố ý dính lại đấy rơi hẳn vào mồm chủ nhân, rồi mới buộc thắt nó lại. Những hạt đường đã nằm trọng miệng của chủ nhân rất yên trí rằng chúng không bao giờ bị thương, bởi lẽ rất giản đơn là chủ nhân không bao giờ dám nhai, bởi lẽ rất giản đơn nữa là nếu nhai thi đường sẽ chạm vào răng và gây nên những tiếng động và một khi cái tiếng động ấy bị lọt vào tai của một anh chàng ‘Vô Ngại Tưởng Quân’ nằm bên cạnh thì không chóng thì chầy chủ nhân của túi đường sẽ đau khổ vì bị vị tướng quân này không ngần ngại xỉn… đường. Mà trên đường Trường Sơn này thì những vị vô ngại tướng quân đó ở chỗ nào cũng có.

Vl thế cho nên ăn đường cũng phải cần thận tối đa, nghĩa là để cho những hạt đường tự tan chảy ra trong mồm một cách tự nguyện. Điểm nầy cũng còn thêm một ý nghĩa là như vậy chủ nhân sẽ có đủ bình tỉnh và thời gian mà thưởng thức cái vị ngọt ngào của đường Cu-Ba và nghe tình đồng chí xã hội chủ nghĩa anh em đi vào máu huyết của mình (!)

Nhưng đó chỉ đó là một lối tiêu thụ bình thường – để đề phòng các Vô Ngại tướng quân thôi. Còn nhiều cách khác nữa.

Vì đường nó quý quá làm vậy cho nên khi được Lâm hỏi ăn gì thì tôi đáp ngay rằng “chè”. Không phải tiếng nói của lá phổi, cổ họng mà là tiếng nói của tâm tư, của nguyện vọng.

Vì sao? Vì lâu nay, mỗi lần cảm thấy sức khoẻ mình xuống dốc trông thấy một cách thảm hại, tôi chỉ nghĩ có một điều: “Ăn”! Ăn là khoẻ ngay, là đi nhanh, là vượt dốc trèo đèo như gió, là chống được sốt, là lạc quan yêu đời, là tin tưởng Đảng Bác thêm ngay, nhưng ăn thì có cả trăm món, làm sao tạo ra ngay cho được giữa rừng thẳm núi cao này? Chỉ có đường là đơn giản nhất. Nhiều khi tôi chỉ cần nếm một muỗng nhỏ đường mà cảm thấy khoẻ lên rất chóng, như vừa uống thuốc tiên.

Cái tiếng ‘chè đậu’ của tôi tung ra như một quả khói mù, nhưng đồng thời cũng như một giọt nước mát xối vào mặt mọi người giữa trưa nắng cháy. Những người đứng gần tôi tựa hẳn ba lô vào vách đá cho đỡ nặng đôi vai lắng nghe tôi nói tiếp.

Tôi cảm thẩy tôi thông minh hơn chính tôi ngày thường gấp bội, thông minh hơn cả Tào Tháo khi ông ta thấy binh sĩ khát cháy cổ thì gạt chúng bảo rằng phía trước một có một vườn mơ – nhưng tôi không giống Tào Tháo vì chính tôi cũng thèm chè như mọi người trong đoàn, chứ không như họ Tào hoặc họ này họ khác ngồi mát ăn bát vàng mà xua lũ con cháu vào con đường đi không đến mà bảo rằng sắp đến nơi rồi và sẽ có mâm cao cổ đầy ở cái đích sắp trông thấy đó.

Tôi nói tiếp để phát triển thêm cái mòn chè của tôi :

- Chè đậu trắng, các bạn ạ! Hạt to hơn đầu đũa ăn, hạt lép đã nhặt hết rồi, chỉ còn hạt trộng – tôi nói tiếp – đem nấu với đường móng trâu, chớ không nấu với đường thốt nốt, vì đường thốt nốt hơi chua, để ăn sống thì tuyệt vời còn đem nấu chè thì không bằng đường tán đâu. Nấu phải cho thật ngọt, ngọt gắt cổ họng, nếm vô một miếng là tằng hắng ngay. Đấy.. nấu xong nhắt xuống múc ra từng chén, chén trứng sáo to nhé, rồi mới rưới nước cốt dừa lên – nói đến đây tôi dừng lại nhìn từng người một. Gương mặt người nào người ấy sáng rỡ lên.

Tôi cũng thấy hăng hái hơn lên. Tôi đưa hai tay ra phía trước, hai bàn ấy úp vào nhau làm như đang vắt dừa. Tôi nghiến răng và bóp vặn hai bàn tay vào nhau tỏ vẻ quyết vắt cho thật khô với một sự vui sướng thèm thuồng ác liệt, với sự tưởng tượng trông thấy món chè đặc biệt đang dọn ra trước mắt mình.

Nhưng than ôi! qua cái cử chỉ ấy tôi hiểu rõ sức lực của tôl. Nó đâu còn đủ cho tôi làm cái việc đó. Nói trắng ra là nếu có một trái dừa phải vắt ở giữa lưng Trường Sơn này thì tôi không thể vắt lấy nổi nước cốt. Tôi cảm thấy hai cánh tay tôi rã rời, một sự rã rời làm tôi phải ngạc nhiên.

Giờ đây tôi vẫn còn nhớ hình đáng của hai cánh tay và hai bàn tay tôi lúc ấy. Màu da vàng vì sốt, sạm vì nắng, thâm vì sương gió và chướng khí núi rừng. Tôi không có chữ để gọi chính xác cái màu hổn hợp của ba màu kể trên. Tôi ngậm ngùi, nhưng vì là người có trách nhiệm nên tôi cố giấu sự bi quan, mà vẫn vui vẻ lao theo cái món chè.

Tôi đã “vắt dừa” xong và hăm hở nói tiếp:

- Nước cốt đặc quẹo giống như sữa. Nếm thử một miếng xem, ôi chao béo ngậy. Đây tùy thích của từng người, ai muốn béo thì “thím xực” luôn hai muỗng. Đấy, chè đã dọn ra rồi mời các bạn cùng múc nước cốt dừa rưới lên ai muốn xơi mấy chén cứ xơi… Xơi ngay trong lúc chè hãy còn nóng để cho nước cốt dừa quến vào thành một khối vừa béo vừa ngọt nuốt đến đâu nghe bổ đến đấy!

Lâm nói:

- Riêng tôi thì tôi muốn ăn một chén, còn xin một chén.

- Úy, lố tiêu chuẩn sao?

- Không! Một chén xin sau là để phơi sương, sáng mai dậy tập thể dục nhảy xuống sông tắm rồi lên ăn liền.

- Có súc miệng không? – Một người hỏi.

- Khà.. khà khà.

- Cái thằng nói làm nhớ nhà Má Chín ở Cai Lậy quá!

Chúng tôi ăn chè gió xong, bộ đội cũng vừa dứt đuôi. Tôi bảo:

- Thôi, anh em mình chuẩn bị đi!

Người nào người ấy mặt nhăn như bị, cất ba-lô lên vai, đành để lại bát chè đậu nước cốt dừa ấm hổi phía sau lưng.

Nhưng kìa có một người lê tới cùng đi về một phía với chúng tôi – nghĩa là Miền Nam.

Bất giác tôi ngó xuống đất. Tôi sợ hãi quá. Tôi sợ nhìn thấy tôi trong cái con người ấy. Đó là một người, vâng, đúng là một con ngưòi vì anh chàng có đủ tất cả những gì mà một con người bình thường nhất cũng có, và có cái mà con vật không có, nhưng anh ta không còn giống bất cứ một người bình thường nào trên trái đất, mà chỉ có thể đồng hoá vói chúng tôi trên dãy Trường Sơn này thôi.

Đó là một người gầy đét, gầy nhom, gầy như chiếc que, nói theo tiếng Nam Bộ, ốm tong ốm teo. Nói tóm một câu là gầy đến mức độ không thể gầy được nữa.

Má anh ta không còn thịt, để lòi ra những góc cạnh trên mặt, mắt anh mở thau láu, không phải vì tỉnh táo mà có lẽ vì đôi mi cứng đờ không khép lại được nữa. Bộ răng trên còn nguyên, nhô hẳn ra ngoài càng gây cho mọi người một sự gớm ghiếc của người chết với chiếc môi trên nhếch lên. Trong người anh cái bộ phận không gầy, vì không gầy đi được là bộ răng nầy.

Mái đầu anh che kín dưới làn mũ tai bèo. Vành mũ cong chụp xuống che kín đôi tai, đồng thời như cũng muốn che lấp lấy đôi tai, không cho nó thu nhận bất cứ sự việc gì bên ngoài, vì tất cả sự việc gì bên ngoài cũng không hay ho cả. Nên làm một kẻ mắt mù tai điếc mà lên bước trên con đường tối đại vinh quang nầy.

Còn chiếc mũ nữa, tôi không thể chỉ nói về nó có bấy nhiêu thôi, vì đó là chiếc mũ tai bèo của giải phóng quân “bách chiến bách thắng”. Nó có điểm hay là muốn dùng nó làm gì cũng được: khăn lau mồ hôi, giẻ nhắc nồi, thấm chí (mà lại rất thông dụng) chỗ ngồi không đẹp người ta cũng không ngần ngại dùng đến nó. Chiếc nón của bạn này được giữ dính vào đầu anh ta bởi một cái quai nhỏ bằng chiếc đũa choàng qua hầu. Điều đó rất bình thường nhưng ở đây anh bạn lại treo một chiếc khăn lông nhỏ ướt lòng thòng xuống trước ngực như bộ râu vĩ đại của lão già Noël.

Chân anh lê đi, khỏi phải nói, với sự tiếp sức của hai chiếc gậy bằng mây mà hai tay anh cố chống tới đều đều – một thứ chân giả mà trông ra có vẻ có nhiều sức lực hơn đôi chân thiệt của anh ta. Anh ta đi qua trước mặc chúng tôi, không nhìn ai.

Không hiểu anh ta thuộc đơn vị nào, đau ốm từ bao giờ và nhất là anh ta suy nghĩ những gì, khi lê bước chân trên con đường vào Nam theo lệnh của Đảng-Bác giải phóng Miền Nam.

Tôi đã gặp anh ta trên nhiều chặng đường cho nên tôi quen mặt anh ta, nhưng tôi muốn xem đó là một điều gì không có thực mà đó chỉ là một cái bóng, một cái vong hồn vất vưởng hiện lên như một thứ ma quái giữa chốn hoang vu mà thôi.

Bởi vì làm sao lại có thể có một cán bộ, một đội viên hay một dân công với hình hài tư thế và bước đi như vậy được trên con đường tối hậu vinh quang này? Vâng, anh ta đang đi giải phóng Miền Nam trong một cuộc hành quân thần tốc.

Nhưng cuộc đời vẫn công bằng chính trực. Nó không để cho ai phải chịu riêng đau khổ một mình. Cho nên không những trên đường này có ông già Noël mà còn có cả bà Noël nữa.

Bà Noël đó là cô Thu trong đoàn tôi. Cô vừa trật chân bốn hôm nay nhưng cô không dám nằm lại vì sợ cái nỗi đêm khuya thân gái dậm trường, ở giữa núi rừng ma thiêng nước độc và đầy những cọp hùm rắn rết này, một thân gái bồ liễu như cô thì làm sao mà dám nằm lại?

Hơn thế nữa khi ra đi, ông chủ nhiệm ủy ban thống nhất – Trung Tướng Nguyễn Văn Vịnh có đến gặp chúng tôi và bảo rằng đoàn chúng tôi về đến nơi sẽ có Chính Phủ Liên Hiệp, tình hình sáng sủa hơn bây giờ nhiều. Như vậy ai mà nằm lại cho được. Còn một giò cũng phải nhắc cò cò đi tới chớ.

Lâm nhìn tôi và Thu, nói:

- Bà Noël đi trước đi! Đụng đầu mãi mà chẳng có tí quà nào cả!

Thu không cười. Cũng không ai cười. Vì cười cũng là một hình thức vận động làm cho mất nhiệt lượng đi. Đã không cười, Thu lại còn hơi cáu. Thu chống gậy lê cái chân sưng phù đi tới và càu nhàu:

- Buốt tận tủy đây còn quà với cáp!

Tôi thấy thương tâm quá. Với lại cũng có một phần trách nhiệm, nên tôi không nở bỏ Thu rơi lại phía sau.

Cứ bước một bước Thu lại nhăn mặt. Thu phải cân nhắc từng bước một, phải tìm một chỗ phẳng rồi mới từ từ đặt chân lên. Thu sợ tất cả mọi hòn đá trên mặt đường. Mà cái mặt đường vinh quang, đường giải phóng Miền Nam này có chỗ nào là không lởm chởm đá và gai?

Thu quen đi guốc cao gót nhảy múa trên sạp phẳng như mặt hồ Gươm và uốn mình theo những điệu nhạc làm rung động lòng người. Thu quen trình diễn dưới ánh điện rực rỡ và quen nghe những tràng vỗ tay tán thưởng tài nghệ của nàng. Đôi chân của nàng làm bằng sáp chứ đâu phải đúc bằng đồng bằng sắt như chân pháo binh bộ binh.

Ấy vậy mà chưa học xong chương trình múa ba-lê nàng đã xung phong đăng ký vào Nam biểu diễn cho đồng bào Sàigòn xem (!).

Tôi nhìn bàn chân và cổ chân của Thu. Thật đáng ngại. Nó bầm xanh. Thịt da có lẽ đã thối ở bên trong. Nó đang mưng mủ. Tôi nghĩ dại, đời cô văn công ca múa này, thế là hết. Nó mà xì mủ ra, gì chưa biết chớ phải lấy Trường Sơn làm nhà ít nhất là nửa năm.

Anh em khặc khừ qua mặt chúng tôi hết. Tôi cũng không nhớ rõ lúc bấy giờ là bao giờ. Chúng tôi không thích mặt trời, mặt trăng và ngay cả mặt người, người thân đi bên cạnh cũng không thích nhìn nốt. Có gì hay ho đâu?

Chỉ còn tôi và Thu sót lại sau rốt. Tôi thấy Thu không thể đi nổi nữa. Tôi bèn bảo Thu cởi ba-lô đưa tôi mang hộ. Thu không ngần ngại tí nào. Có lẽ nếu tôi không bảo, Thu cũng sẽ nhờ tôi. Ba-lô tôi đã nặng, lại còn đeo thêm dùm người ta. “Ốc không lo phận ốc lại còn làm cọc cho rêu” là thế. Tôi và Thu bỗng trở nên đôi bạn đồng hành khắn khít không phải vì tình cảm mà vì hoàn cảnh.

Vậy là tôi không lo bị cô đơn dọc đường. Nhưng mỗi đứa đau một bệnh. Tôi thì sốt, còn Thu thì què. Đứa nào cũng sợ bệnh mình cứ nặng thêm lên và lo bạn mình chóng lành hơn mình và bỏ mình lại với rùng núi và người ngợm không quen.

Hai đứa chỉ đi một quảng ngắn thì Thu ngôi phệt xuống và kêu nhức. Thu rưng rưng nước mắt và ôm cái bàn chân như ôm một cục than lửa, muốn bốc nó lên mà trái lại không dám sờ đụng nó.

Tôi hỏi trỏng:

- Không ráng lên nổi chút nữa à?

Thu lắc đầu mếu máo. Tôi hơi bực mình nhưng cũng thương tâm. Tôi hỏi:

- Thu có dầu nóng không?

- Không!

- Có thuốc đỏ không?

- Không, anh ạ!

- Có cù-là không?

- Có … nhưng hết rồi!

Tôi bực mình quát to:

- Cái gì cũng không vậy ?

Thu cúi đầu. Thu nhìn hai bàn chân của mình sưng to như một chiếc bánh bò. Đi Trường Sơn không gì đáng sợ bằng sốt rét, không gì quý hơn đôi chân. Thế mà Thu lại đau chân.

Tôi ngồi xuống bên Thu, nhìn cô nàng. Đây là lần đầu tiên từ một tháng nay tôi mới có dịp nhìn kỹ một người con gái, hay đúng ra, nhìn kỹ một con người.

Thu đã biến đổi rất nhiều so với Thu trước đây hơn một tháng. Cái cổ Thu cao lên trông thấy, và những ngón tay thì gầy đi, để lồi lên những đốt xương, còn những ngón chân, hai bàn chân, niềm tự hào của Thu, bây giờ trông đến thảm hại. Tôi không dám nhìn nữa.

Thu tự hào vì đôi chân Thu đẹp. Thu biết rõ điều đó là vì chính nó nâng Thu bay lên như đôi cánh. Cho đến bây giờ tôi mới thấy xót thương. Cứ nghĩ lại cuộc sống trước đây một tháng của Thu thì tôi thấy thương người con gái vô ngần. Chân vũ nữ múa ba-lê mà lại mang ra thử thách với đồi núi, với đá tai mèo Trường Sơn. Hà Nội đã đạt kỷ lục trong lối dùng người của họ. Phải nói thêm rằng lối dùng người tàn nhẫn của họ.

Tôi hỏi Thu:

- Bây giờ em tính thế nào?

- Anh hỏi thế nào là thế nào?

- Nghĩa là … – Tôi ngập ngừng không muốn nói rõ ý. Tôi muốn hỏi nếu đôi chân của Thu không lành thì Thu tính thế nào? Nhưng câu hỏi đó là cây kim sẽ chích vào bọc nước mắt đầy ứa của đôi mắt Thu cho nên tôi lặng thinh và rẽ sang ý khác.

Tôi hỏi:

- Sao em không có chuẩn bị gì hết vậy?

- Anh cũng biết vì sao mà!

- Ờ. Phải! Cái thằng cha bí thư toàn nói láo. Đi Trường Sơn cái gì cũng ..cha Tây. Cứ ăn no phè phè rồi đi như đi dạo. Chặng nào cũng có căng-tin!

Thu thở dài, Thu đưa tay gãi mấy vệt bùn trên bàn chân đau, lại thở dài và lắc đầu. Còn tôi thì cứ căm gan thằng cha bí thư.

Thu ngước lên nhìn tôi và nói:

- Vì cả tin cho nên em đâu có chuẩn bị làm cho cho vô ích. Em còn khuyên bạn em về Hà Nội chỉ nên lượn phố cho bõ những ngày xa cách sắp tới; mình phải đi xa hồ Gươm, hồ Trúc Bạch, tuy nói là đi giải phóng Miền Nam ắt sẽ có ngày về, nhưng ngày đó là ngày nào ai mà đoán trước cho được. Về Hà Nội thì em mặc áo dài, hết cái này đến cái khác, đi luợn phố cho mệt mới về.

Thu lặng thinh giây lâu rồi mới tiếp:

- Không biết các anh có tình cảm đó không, chứ riêng em thì thật là trẻ con như vậy đó. Nhiều khi em ứa nước mắt, em nghĩ chắc bây giờ mấy cái áo của em chúng nó đang nhớ em lắm. Chậc! bây giờ rủi mà phốc được về Hà Nội thì không dám chường cái mặt ra đâu. Và mặc áo dài đâu có được nữa, nó rộng thùng thình ai mà xem cho?

Thu bị lôi cuốn theo tình cảm của Thu về Hà Nội. Sự thực tôi thấy thương Thu và nhớ Hà Nội. Không biết thương Thu hơn hay nhớ Hà Nội hơn, có lẽ hai tình cảm như nhau, bởi vì trong Thu có Hà Nội mà Hà Nội bao giờ cũng in đậm bóng hình Thu. Tôi còn thương Thu vì càng đi Nam thì Thu càng xa quê, còn tôi thì càng gần. Cuộc đi này có phải chăng chỉ có lợi cho tôi?

Đôi lúc tôi cũng có cái tình cảm lạ kỳ này: tại sao lại bắt Thu phải bỏ nhà trường mà đi trên con đường khổ ải này? Và phải chăng khi ra đi Thu tỏ ra rất tự nguyện, bây giờ đây Thu vẫn còn tự nguyện hành quân và vẫn còn thấy những điều của các vị lãnh tụ nói với Thu là đúng? Nếu thế thì Thu khóc làm chi khi nhìn thấy đôi chân ngọc của mình sưng húp?

Tôi nói với Thu:

- Anh đâu có đồ gì đâu mà mặc đi bát phố như em. Mùa hè thì sơ-mi trăng pôpơlin quần kaki, mùa đông thì cũng thế, thêm một bộ áo bông vĩ đại khoác bên ngoài, nếu có mưa thì trùm một cái áo đi mưa dày mo may bằng hai tấm vải bạt Trung Quốc, đầu trùm một cái kê-pi có tai, thế thôi! Anh ra đi đâu có để lại cho bạn bè cái gì đâu, ngoài đôi giày hả họng và cái áo “tố lãm” của anh?

Thu cười:

- Vậy em tưởng anh có ít nhất vài ba com-lê chứ?

- Làm gì!

- Còn xe đạp anh để lại cho ai?

- Cho anh em trong xưởng Thống Nhất.

- Sao anh lại cho những người công nhân trong xưởng là những người dễ mua xe hơn những người khác?

Tôi phì cười:

- Em ngây thơ quá. Là vì anh chưa mua nổi nghe chưa?

- Anh chưa mua nổi hay là anh chưa có phiếu?

- Chưa mua nổi mà cũng chưa có phiếu em ạ.

- Vậy càng hay, còn em thì thật oái oăm. Lúc mình có tiền thì bình bầu không được phiếu, còn khi có phiếu rồi thì lại hết tiền. Cho nên mãi tới em lên đường chiếc xe đạp vẫn còn năm trong giấc mơ.

Rồi chúng tôi lại đi, càng lúc càng chậm chạp, còn câu chuyện thì cứ nhạt dần.

Hôm qua anh chị em bị một trận mưa suốt dọc đường. Ở rừng núi mà lại đi với giao liên thì làm sao mà nghỉ được, vả lại có nghỉ thì cũng không có chỗ đứng cho nên mưa thì cứ mưa, đoàn cứ phải “can đảm” “anh dũng” xông pha mưa gió vậy. Cho nên bây giờ tôi đã bắt đầu nghe ơn ớn trong nguời rồi. Cơn sốt đến rất nhẹ nhàng dễ biết. Dễ biết hơn nữa vì nó đã đến với tôi nhiều lần và tôi đã cắn răng chằn mắt mà tống cố nó đi một cách hết sức dũng cảm. Nó đi nhưng tôi biết nó sẽ trở lại bởi vì nó biết chắn chắn sẽ có một lần nào đó, tôi sẽ đón lấy nó hoàn toàn. Lần đó là lần này đây.

Hôm qua, đến nơi, sau khi mắc tăng căn võng tôi thay quần áo ngay, và lần đầu tiên trong đời tôi biết kí-nin đắng như thế nào. Rồi tôi nấu cơm ăn xong ngủ cũng rất ngon, sáng dậy trước khi lên đường tôi lại uống thêm hai viên kí-nin loại nặng nữa.

Khi rời Hà Nội tôi định không mang cái túi thuốc của nhà trường cấp cho- cái gói nặng hơn kí-lô và gồm bằng mấy chục thứ thuốc, có cả thuốc trị rắn cắn- vì tôi cho rằng tôi không thể ngã bệnh được với cái quá trình mười hai năm ở Hà Nội, không hề đi bệnh viện của tôi. Chẳng ngờ cái quá trình đó không còn uy lực trên chặng đường này nữa. Với con sốt rét rừng voi cũng ngã.

Miệng tôi bắt đầu thấy đắng, những đốt xương sống như rời ra, tay thấy lười cử động, chân thì cứ lê đi nhưng càng lúc càng chậm, đầu choáng váng và mắt hơi hoa lên.

Nắng loang lổ trên đường đá lởm chởm. Tôi tìm những chỗ nắng mà bước. Nắng chạm vào da tôi, gây nên một phản ứng khó chịu. Tôi cảm thấy gây gây ngần ngật không ấm áp tí nào như mọi khi sau cơn mưa gặp nắng. Lũ vi trùng trong máu tôi, tôi như trông thấy rõ từng chú một như những chú kiến chạy hàng đàn, mỗi chú ngạm một hồng huyết cầu của tôi như mỗi chú kiến tha một hạt gạo. Sự chuyển động của hằng triệu con vật li ti đó làm cho tôi mất thăng bằng, cơn lạnh nổi lên từ trong máu, trong tủy, làm thể nào ánh mặt trời xoá tan đi được?

Các bắp thịt của tôi như bị dãn ra hết không còn sức bật nữa và tôi nghe máu tôi loãng ra như có ai pha nước lã vào đấy. Tôi vung tay gồng mình thoi vào thinh không như bốc-xơ tập võ một mình. Tôi vặn mình sang bên này sang bên kia. Tôi cố vận chuyển tất cả những bắp thịt của tôi để chống lại cuộc tấn công thầm lặng của lũ vi trùng nhưng cuối cùng, tôi đã run lên.

Và cuối cùng tôi phải bảo Thu chờ tôi đi rẽ vào rừng đốn lấy một chiếc gậy. Tôi rút con dao trong lưng ra, một con dao găm, cán gỗ có ngấn, đánh vẹc-ni màu nâu, lưỡi dao dầy như lưỡi búa. Đó là con dao của hợp tác xã xứ xã hội chủ nghĩa rèn, trao cho mỗi con người đi giải phóng Miền Nam, con dao mà chúng tôi đã nguyền rủa ngay từ khi đốn cái cành tre đầu tiên làm đũa. Tôi chọn một cái cây nhỏ, ít nhánh và ngay ngắn trong một bụi của nó. Đó là một thứ cây rất giống cây mật cật của rừng U Minh nhưng thu nhỏ lại còn độ một phần mười. Tôi tưởng nó mềm lắm chỉ độ vài dao là hạ được rồi, chẳng ngờ tôi giạng thẳng cánh tay bổ đến hơn mười lăm phút mà chẳng ăn thua. Đối với một việc nhỏ như vậy còn tính nhầm thay huống gì những chuyện lớn ví dụ như chuyện vượt Trường Sơn này. Tôi nhìn theo con dao, khổ quá cái lưỡi của nó dày ù, tôi đã mài mấy lần, hễ nó càng mỏng, đem đốn cây thì nó lại càng mẽ. Thực tình những người thợ rèn cũng rất đáng thương. Họ đâu có đủ thép pha vào sắt kia. Nhà máy nấu thép ở Thái Nguyên chưa xây xong. Nghe đâu người ta có nấu thử một mẻ tốt lắm đạt yêu cầu quốc tế, không thua thép Trung Quốc và Triều Tiên, nhưng khổ thay họ chỉ nấu có một mẽ để coi chơi thôi, chớ không nấu nhiều. Thật là bực mình, cũng như tôi rất bực mình khi thấy trong những tủ kính mậu dịch, hàng bán thì ít mà hàng mẫu “miễn hỏi giá và không bán” thì nhiều.

Vâng, thép trong con dao găm này không đủ làm cho con dáo bén đến độ cần thiết cho người đờì, nói đúng chữ nghà nghề là con dao non. Cũng như những kẻ đi trên con đường này khi mới xuất phát thì tưởng mỗi người như một lưỡi gươm linh, chém một nhát là rụng đầu đối phương, nhưng khi đi được ít chặng thì cái lưỡi gươm đó bỗng nhiên trở thành non nhão lạ thường, cũng như con dao găm nầy đốn mãi không ngã đến cái cây lớn hơn ngón tay cái.

Tôi lôi được cái gậy ra đường thì tay chân rụng rời. Thu biết tôi sốt. Tôi mà đi gậy là chuyện không thường. Thu hỏi:

- Anh sốt phải không?

Tôi gục đầu giữa hai đầu gối và không đáp.

Chung quanh tôi, trời đất tối sầm lại. Đốn một cái cây, đó là cái thước đo sức mạnh khỏe của tôi. Tôi quá tự tin cái sức khỏe của mình. Trên đường đi tôi luôn luôn nhắc nhở anh em không nên uống nước suối sống nhưng chính tôi lại làm việc đó một cách vô cùng hồn nhiên. Tôi ngủ ít khi nằm gọn trong màn vì màn mắc trên võng thì tù túng quá, tôi luôn luôn thò đầu ra ngoài. Đó là hai cách rước vi trùng sốt rét vào mình nhanh chóng và nhiều nhất. Vì thế, là người khỏe nhất đoàn, tôi lại là người ngã ngựa sớm nhất của đoàn.

Bây giờ thì tôi không còn cần gì hết. Tôi không muốn cử động, không muốn ai động đến tôi. Nếu tôi ví một cách chính xác thì tôi là một cái bánh tráng nhúng nước treo trước gió. Tôi chỉ muốn nằm quặp xuống đây gối đầu lên một hòn đá, và hoá đá luôn. Tôi muốn lịm đi rồi chết hẳn không biết đau đớn gì càng tốt.

Nhưng tôi là đứa cháu của Bác và Đảng, và con yêu quí của nhân dân Miền Nam, là bạn của Ốt-Trốp-Xơ-Ki nhân vật anh hùng của Thép Đã Trui, thì làm sao có tư tuởng lạc hậu như thế được.

- Đi anh, đi – Thu giục tôi.

Tôi cố ngóc cổ dậy và mở mắt nhìn. Chung quanh tôi như tẩm kí-nin một màu vàng oách. Tôi chống tay lên cái đầu gối đứng đậy với sự giúp sức của Thu. Thu đã mang lấy ba-lô của nàng, không để cho tôi mang giúp nữa. Quả tình là bây giờ tôi yếu hơn Thu, và bây giờ tôi mới biết thế nào là cơn sốt.

Chúng tôi lê chân đi với nhau, chậm chạp như nhau và đau đớn rên siết như nhau.

- Anh sốt lắm phải không?

- Như có lửa trong máu – tôi tiếp – nhưng đối với anh thì sốt dễ chịu hơn rét.

Tôi sợ Thu chần chờ bận bịu với tôi nên tôi bảo:

- Em đi trước đi!

- Em đi với anh chứ.

- Không nên lướng vướng với kẻ ốm. Thu cứ đi đi.

- Cả đoàn không ai ở lại đây hết.

- Được rồi, chừng nào tôi tới thì tôi tới.

Tôi biết Thu là cô gái rất đôn hậu, ăn ở có tình nghĩa, Thu rất khổ tâm vì Thu không giúp được gì tôi trong buổi này.

Hôm Thu ngã trặc chân không đi được thì chính tôi là người đề ra ý kiến đầu tiên khiêng Thu đi. Ý kiến đó được đề ra, trước tiên trong chi bộ bị phản đối dữ dội nhưng tôi đã cương quyết giữ ý kiến của tôi bằng nguyên tắc tổ chức, bằng tình cảm và bằng cử chỉ thực tế. Tôi đã xung phong đi chặt cây đòn đầu tiên và khiêng chặng đầu tiên. Sau đó thì mọi người dù bất mãn cũng phải kê vai vào đòn khiêng.

Thu thấy tôi đứng dậy và liếc nhìn tìm chỗ ngã lưng thì Thu sa sầm mặt lại:

- Anh ở lại một mình thì làm sao?

Tôi cứ lặng lẽ ngồi phệt xuống đất như một tảng đá bị đứt giây rơi xuống đất.

Thu không nở rời tôi. Nàng hỏi:

- Em còn nước đây anh có uống không?

Nước ở trên đường Trường Sơn mà sao không uống. Có bao giờ ai dám mời ai. Đã không mời lại còn giấu và không bao giờ dám nhận mình còn nước dù nước khua lỏng bỏng trong bi-đông đó. Nước là máu đối với người, là thuốc bổ đối với cơ thể, ai đi cho máu và đem thuốc bổ của mình cho người khác bao giờ? Ấy vậy mà Thu cho tôi, cho tôi một cách thật sự, thật tình và tôi thì không dám nhận.

Tôi nói:

- Anh không khát em ạ!

- Sao lại không khát. Anh đang sốt, anh cần nước hơn em.

- Bao giờ khát anh sẽ xin…

Thu mở nút bi-đông và ngồi xuống để kê miệng bi-đông vào miệng tôi. Thu không cởi cái bi-đông ra được vì khi mang đồ đạc, Thu cũng như mọi người đều mang bi-đông vào trước rồi mới quàng ruột tượng và các món khác chồng lên. Đó là một sự cố ý, để khỏi bị mất bi-đông (mất vì rơi rớt, vì bỏ quên hoặc bị ăn cắp) và để mỗi khi nâng bi-đông lên miệng của chính mình cũng khó khăn và vì thế người ta sẽ ít uống nước.

Thu ngồi xuống một cách khó khăn vì chân đau nhưng Thu đành chấp nhận một sự hy sinh con con. Thu ngồi trên một chân và đưa bi-đông vào mồm tôi. Tôi vẫn lắc đầu, tôi thấy cơn khát tan biến đi mất.

- Cám ơn em!

Rồi tôi bảo:

- Thôi em cứ đi trước đi cho kịp đoàn (mặc dù tôi biết không thể nào Thu bắt kịp) còn anh thì ngồi tại đây…- Tôi bi quan đến nỗi muốn nói rằng: nằm lại đây và làm phân bón cho cây Trường Sơn thêm xanh và đỉnh Trường Sơn thêm cao, cho vinh quang của Bác và Đảng cao ngất và chói lòa khắp biển Đông. Nhưng tôi tốp lại cái ý nghĩ đó kịp thời và tôi nói với giọng lạc quan hơn–…anh nằm lại đây đến mai anh sẽ tiếp tục đi, sốt một cơn có nghĩa lý gì!

Thu càng bận bịu tôi càng giục càng gắt gỏng và cuối cùng có lẽ Thu nhận ra rằng tôi nói đúng nên Thu đi.

Trên Trường Sơn này bỏ nhau là chuyện tất nhiên. Người bỏ đi hình như cũng không ân hận gì hết. Còn người bị bỏ lại cũng không – hoặc không nên – lấy đó làm buồn, vì cái luật chung là ai cũng là kẻ bị bỏ rời và ai cũng sẽ bỏ rơi người khác, cho nên cuối cùng rồi không ai ân hận, không ai trách ai.

Vì ở lại làm gì? Thuốc men thì đứa nào cũng có, còn nấu cơm nấu cháo thì dễ dàng thôi, ai mà chẳng tự làm lấy được? Nếu rủi có chết thì cứ nằm đấy vài hôm rồi cũng rã tan.

Tôi nhìn Thu chống gậy lê bước trên con đường nhấp nhô những hòn đá. Tôi nghĩ đến một màn múa tuyệt đẹp trên sân khấu nhà hát lớn thành phố Hà Nội, cũng đôi chân ấy, nhưng giờ đây nhiều khi qua suối, tôi được nhìn rõ hơn – đôi chân đẹp nhất Hà Nội.

Rồi Thu khuất hẳn trong mắt tôi. Tôi gục đầu xuống trên hai đầu gối, môi thấy khô khan. Tôi đã không uống ngụm nước của Thu mời – tôi cũng không hiểu tại sao – trong lúc tôi đang khát cháy cả ruột gan, có lẽ vì tự ái và tự trọng.

Tôi định gục đầu ngồi như thế cho đến bao giời thì đến, nhưng tôi ngồi chưa yên thì tôi đã ngạc nhiên: cái mặt phẳng mà tôi ngồi tự nãy giờ, ô hay không phải bằng đá núi mà là bằng sắt. Nhưng tại sao lại có một tảng sắt to thế nằm giữa chỗ này? Câu hỏi đó làm cho tôi tỉnh dậy và bắt đầu tìm hiểu. Sự tìm hiểu đó kéo dài không quá cái tích tắc thì tôi đã nhận ra đó là cái đế súng cối. Nó bằng sắt thép thật. Đáng lẽ nó phải được nâng niu lau chùi và luôn luôn ở những nơi thích đáng nhưng vì nó bị vứt ở đây cho nên nó mới ra nông nỗi ấy. Nó mất hết chức năng, mất hết giá trị. Ai đi qua cũng dẫm lên, ai muốn ghé đít ngồi thì cứ ghé. Mấy ai còn nhìn ra nó như tôi. Mà dù có nhìn ra nó đi nữa thì phỏng tôi đã làm được việc gì đối với nó? Nó đã rỉ sét. Màu sét làm cho nó tiệp với màu đất nâu. Tôi bỗng thấy tỉnh người và tôi chua xót nghĩ đến số phận của tôi một cách duy tâm, rằng sự “gặp gỡ” giữa tôi và cái đế cối này là một điềm gở cho tôi. Tôi vốn là một con người hay suy nghĩ thì làm sao tôi không suy nghĩ cho được khi tôi ngồi ở đây mà sốt.

Anh binh sĩ nào đã vứt cái đế cối xuống đây? Cái đế súng cối này đã từ trên vai một binh sĩ nào tuột xuống đây? Nó không muốn rơi xuống đây nhưng vì người ta vứt nó xuống nên nó phải nằm ở đây, nhưng binh sĩ đó tên gì? Ở đâu? Anh ta đã vác cái khối sắt này từ bao lâu và anh ta đã nghĩ gì khi trút cái quả núi con này xuống đây?

Trời ơi! Tôi không hiểu được cái sức lực nào đã chuyển nỗi cái đế cối 82 ly qua những dãy núi trùng điệp này. Trong khi tôi chỉ mang có một cái ba-lô đựng toàn của riêng tôi, nghĩa là những đồ ăn, đồ ngủ mà chỉ tôi xài, không ai có quyền động tới. Trong khi mà tôi tìm từng những mẫu giấy trong cái vỏ lưỡi lam, và tất cả những đồ vật có sức nặng bằng cái nút áo trở đi để giảm chính. Trong khi mà tôi chỉ mang giúp cho anh bạn chí thân của tôi một cái áo mỏng nặng không đến 300 gờ-ram và chỉ trên một quảng đường ngắn thì anh chiến sĩ này đã vác, ngoài cái ba-lô của anh ra, cả cái đế cối này, một cái món đồ vật của anh nhưng không phải là của anh, không phải trên một quảng đường mà là suốt cả con đường.

Đừng ai chê trách anh, đừng ai buộc tội anh. Tôi xin làm biện hộ sư cho anh tới cùng. Anh chiến sĩ ấy là con người, anh ta phải biết suy nghĩ, phải có lương tri, vì thế anh ta đã vứt cái gánh nặng đó đi. Anh vứt nó đi là phải. Bất cứ anh bộ độ con cháu Cụ Hồ nào trên đường Trường Sơn này vứt súng đi cũng đều không đáng chê trách. Người ở ngoài cuộc không thể hiểu được con người đã lao lực như thế nào. Tôi chua xót nghĩ đến cái vai gầy không còn thịt đã bị cái đế cối kia cạp cho tận xương, tới cái xương sống nhu lưng đê sông Hồng uốn lượn nao núng vào mùa nước đổ, tới hai hàng xương sườn nỗi vòng lên và suýt bật tung ra mỗi lần chiếc đế cối kia, vì một cử động nhanh hoặc bất thường, đè nặng xuống vai anh ta hơn, tới hai cái chân cũng bị những mảnh đá tai mèo róc hết thịt để lộ ra những chiếc xương cong dưới sức nặng cũng của chiếc đế sắt và mỗi bước đi, những cái khớp xương cứ khua lụp cụp như những ổ đạn của những chiếc xe lâu ngày không vô mỡ bò, tới những ngón chân như những cây gậy toè đầu đã để lại máu trên những phiến đá. Tôi nghĩ đến những bộ phận của con người bình thường nhất từ cái tóc, từ cái tai cho đến cái răng, cái mũi của anh chiến sĩ, quả tình đáng thương hại. Anh ta là một người không còn giống người nào trên trái đất kể cả tôi, là đồng bào, đồng hành, đồng chí của anh. Tôi vụt đứng dậy vì không hiểu sao tôi lại nghĩ rằng cái đế cối này là một nấm mộ dưới đó là một bộ xương đang rã ra và vong hồn còn treo lơ lửng đâu đó trên những cành cây trên đầu tôi.

Anh chiến sĩ đã không trút khỏi cái khối nặng của Bác và Đảng đặt trên lưng anh vì anh đi giải phóng Miền Nam với cái đế cối kia mà. Anh đã vấp ngã, tôi nghĩ vậy. Mà khi cái đế cối kia sau khi đã nằm chễm chệ trên lưng anh mấy tháng trời, nó nhân dịp đó mà trả ơn cho anh bằng cách là đè anh bẹp dí như một chiếc rập nhẹp đề một con chuột. Và trung thành với chủ nó cho đến giờ phút cuối cùng, cái khối sắt ấy đã lấy thân ra làm nấm mộ che đậy sương gió cho anh.

Tôi chua chát nghĩ đến nhân vật anh hùng của truyện dài Paven Coóc-sa-ghin trong “Thép Đã Trui”. Vâng, thép trong xứ Việt Nam cũng đã trui như thế đấy và con người được gắn thêm cái danh hiệu vinh quang “đi giải phóng Miền Nam” cũng đã được trui như thế ấy.


CHƯƠNG 2

Bỗng nhiên tôi có cái mặc cảm: mình cũng nằm lại đây, lấy tấm đế cối này làm mộ bia.

Một người đi ngang qua trước mặt tôi, ném một câu cụt ngủn:

- Sốt à?

Tôi khẽ gật đầu, mà hình như tôi chỉ ngồi im, không đáp lại. Tôi nghe cách phát âm thì tôi biết đó là người Nam Bộ. Tôi thấy hơi đỡ khổ, bớt cô đơn, tôi hơi tỉnh lại. Tôi hỏi vói theo:

- Đồng chí ở tỉnh nào?

- Bến Tre – Anh bạn quay lại đáp.

- Tôi ở Mỹ Tho

Tôi trả lời vào một câu không phải là câu hỏi. Tưởng đó là một hòn đá ném xuống vực thẳm không nghe tiếng đáp lại chẳng ngờ lại có âm vang:

- À, có Mỹ Tho đi tới kia kìa.- nói xong anh chàng bước lùi lại và vẫy tay kêu to: – Ê, ê!… có đồng hương đây mau lên – rồi lại hỏi tôi:

- Anh về Ông Cụ phải không?

Tôi gật. Anh bạn lạ mặt kia – một cán bộ quân đội – vỗ đùi kêu to:

- Sướng quá trời đất ơi!

Anh bộ đội nói tiếp:

- Thằng bạn của tôi kia nó ở Mỹ Tho. Mười mấy năm nay nó chưa gửi được một lá thư về gia đình cũng không nhận được một lá thư nào của gia đình. Vợ con nó không biết ra sao. Nghe nói hình như ả đã lấy chồng rồi. Nó buồn lắm, cố nhiên, vợ đi lấy chồng vui sao được nhưng buồn một nỗi nữa là cái tin không biết có đúng vậy không. Nếu rõ vậy thì nó ở ngoài nầy kiếm vợ chẳng khó khăn gì nhưng nếu không phải vậy thì tội nghiệp cho người đàn bà. Người ta chờ đợi thủy chung té ra mình quất ngựa chuối đi mất, khổ quá!

Anh bạn mới quen nói tía lia, vừa nói, vừa bình luận, vừa cười và sầu não với tôi như với một người quen cũ. Anh khoa tay:

- Anh ngồi đây để tôi chạy đi kêu. Nó đang nướng mì ăn đằng kia kìa.

Rồi anh ta chạy phốc đi, một chốc trở lại với một người bạn mới. Anh ta vừa thở vừa nói:

- Nó là Chính Trị Viên tên Thành, còn tôi Đại Đội Phó cũng xin tự giới thiệu luôn. Tôi tên Cu bí danh Tư Ớt vì lúc nào ăn cơm cũng phải có ớt. Anh em còn cho tôi cái tên nữa là Cu Ớt Hiểm- Anh ta nói tự nhiên không có vẻ gì xấu hổ vì cái tên không văn hoa của anh, rồi anh ta vỗ vai tôi và tiếp – Còn đây là anh bạn sốt người Mỹ Tho đang trên đường “về nước”

Thành hỏi tôi ngay:

- Mỹ Tho mà quận nào anh?

- Cái Bè – Tôi đáp.

- Tôi ở châu thành gần bến bắc Rạch Miễu. Anh biết bến bắc Rạch Miễu không?

- Có chớ! Tôi có qua lại vài lần.

Tôi bỗng nhiên thấy tỉnh hẳn lại. Những cái tên đất, tên làng của quê hương không có gì tất cả. Đó là những cái tên bình thường, quá bình thường đi nữa là đằng khác. Nhưng đó là tất cả.

Nhưng ở đây, những bộ mặt xanh nanh vàng, những cặp môi tím ngắt thốt ra những cái tên ấy, run run như da thịt người chạm phải làn điện nhẹ, nó run lên, những âm thanh ấy, như những tiếng đàn bất tuyệt ngân lên và lay động đến tận những nơi sâu xa nhất trong lòng.

Tư Ớt Hiểm cảm thấy bơ vơ khi thấy tôi và Thành không nhắc đến y. Có lẽ vậy! Cho nên y xen vô, tự giới thiệu:

- Còn tôi ở Bến Tre, quận Giồng Trôm, anh có biết không? Từ Mỹ Tho xuống Bến Tre đâu có mấy cây số. Qua bắc Rạch Miểu thế là tới “Bến Tre quốc” rồi!

Tôi đáp:

- Hồi 9 năm tôi có tới đó. Tôi sống ở Bến Tre cũng lâu lắm. Tôi biết rất nhiều. Có phải Giồng Trôm của anh có những làng Tân Hào, Thạnh Phú Đôn, Cái Mít không?

- Phải! Phải nhưng Cái Mít không phải là làng mà chỉ là tên chợ thôi. Chợ Cái Mít nhưng làng Thạnh Phú Đông! Hồi đó tôi ở bên Tân Hương thường chèo xuồng qua Thạnh Phú Đông. Hai cái vàm Tân Hương và Cái Mít gần ngang nhau. Sông Hàm Luông rộng lắm nhưng nó có rất nhiều cồn. Tôi không nhớ hết. Mà không biết mấy chục năm nay cù lão cũ có bồi ra thêm không . Còn cù lao mới chắc mọc lên bít cả con sông Hàm Luông nối liền chợ Tân Hương và chợ Cái Mít nữa là khác.

Đôi mắt Tư Ớt mơ màng ngó mông lên đầu núi, dường như ở sau rặng núi hiểm trở này là quê hương anh, dòng sông đó, cồn đất đó. Tư Ớt nói liên miên, không để ý đến sự chú ý của những người chung quanh nữa.

- Bây giờ mà cho tôi đi về thì tôi đi một mạch tới ngay. Đây đó có bao xa mà về không được, gần hai chục năm rồi. Ở nhà, cha mẹ chết hết mình cũng không hay!

Tôi nhìn cái khuôn mặt buồn bã và vàng sậm của Tư Ớt mà đau xót. Tôi biết y hoạt động rừng núi đã lâu ngày rồi. Nước da của anh xấu quá. Tôi thương Tư Ớt vô cùng, một tình thương bất ngờ, đột biến, sôi lên.

Tôi hỏi:

- Anh không về à?

- Không được về chớ không phải không về đồng chí ạ!

- Tại sao không được?

- Vì người ta không cho.

- Nhưng tại sao không cho mới được chứ ?

- Tại vì người ta nói Đảng Bác chưa cần, tôi ở đây đã 4 năm rồi.

Tôi ngã ngữa ra. Vậy ra có những người như Tư Ớt, cứ ở đây mãi không được về xứ.

- Mình phải đấu tranh chứ!- tôi gắt.

- Đấu thế chó nào được, không đấu thì còn “lon” còn “gáo” mà mang. Đấu thì đi Hỏa Lò và lon gáo rụng hết. Quân đội mà, anh có hiểu không? Anh không nghe nói vụ Thiếu Tá Phan Thanh Nhàn, người Bến Tre, ở Hà Nội à? Cũng vì hăng hái đấu tranh cho quyền lợi anh em đó mà đi tù. Gần chục năm nay rồi. Vợ ở ngoài đi lấy chồng. Anh em có thương tình cũng chẳng dám đi thăm, sợ liên lụy. Đó, kết quả của sự đấu tranh là thế đó .

Tư Ớt thở dài thườn thượt làm cho tôi có cảm giác là y chán chường mọi sự đời đến mức cùng cực, kể cả cái nhiệm vụ thiêng liêng mà anh được giao cho trên đường dây này.

Thành chờ đợi cái chấm câu của Tư Ớt tự nãy giờ. Thành nói:

- Thôi được rồi cha nội! Để cái cồn lá cồn lạp của anh qua một bên đi, để cho tôi nói chuyện với anh bạn một chút.

Thành ngồi xuống bên tôi xòe bàn tay vàng ngoách như vừa nhúng trong nước kí-nin ra và nói:

- Tôi sẽ viết cấp tốc một bức thư với 10 chữ thôi, không nặng đâu đồng chí ạ. Tôi biết các đồng chí đi đến đây là kiệt sứt rồi, một sợi tóc cũng làm nặng thêm một kí-lô. Đồng chí ạ, đồng chí có về tới Mỹ Tho và có dịp đi ngang qua xã Đạo Thạnh thì hỏi dùm tên ông già tôi.. Ờ..ờ… tôi sẽ ghi trong thư kỹ lưỡng, rồi đưa dùm cái thơ nhé. May ra gia đình tôi nhận được thư mà biết tin tôi còn sống. Còn nếu không tìm được thì thôi chẳng quan trọng gì. Đời tôi coi như bài cào bù trất rồi, may ra còn kiếm được hai ba nút, vậy thôi!

Rồi Thành lấy chiếc võng quấn tròn như đòn bánh tét đeo trên lưng và tháo ra buộc vào hai cái cây bên đường rồi dìu tôi lên nằm:

- Nghỉ khỏe đi, bây giờ mới 12 giờ 5 phút thôi, còn sớm chán! Mà đoàn của đồng chí đâu?

- Đi trước rồi!

Thành hơi ngần ngại:

- Vậy làm sao đồng chí theo kịp?

Tôi nói dối để cho Thành yên tâm mà không nói tía lia nữa. Tôi không muốn nói cũng không muốn nghe. Tôi nằm, cơ thể hoàn toàn ngơi nghỉ. Tay chân buông thỏng. Tôi có cảm giác là tất cả những bộ phận trong người tôi không còn ăn khớp với nhau nữa.

Tư Ớt đưa tay sờ trán tôi:

- Cỡ 39, 40 độ!

Tôi bắt đầu run lên. Sốt xong đến rét. Người ta gọi sốt rét mà lại! Cái rét có hình tượng. Nó như con vật có hằng vạn bàn chân li ti chạy từ trong máu, trong tủy tôi toả ra khắp châu thân. Tôi biết rằng đó là cuộc tấn công của những toán vi trùng vào những khối hồng huyết cầu theo như lời bác sĩ giảng, nhưng tôi không tin như vậy. Tôi cứ tưởng như tôi bị nhúng nước lạnh, mà cũng không phải nữa, bởi vì giữa trưa nắng mà đắp chăn vẫn cứ run. Hai tay ôm ngực, hai chân co lên sát bụng, hai hàm răng nghiến chặt, càng co càng rút thì càng run, răng càng đánh bò cạp.

Hai mắt lại nóng bừng như hai hòn lửa và không trông thấy rõ nét một vật gì. Tôi chúi đầu vào mép võng như chỗ tựa để chống lại cơn sốt đang hoành hành.

Tôi nghe loáng thoáng bên tai:

- Tôi nghiệp! Chắc đồng chí mới sốt lần đầu phải không? Ở đây là như vậy đó. Tụi tôi coi sốt như cơm bữa, “phi sốt rét bất thành giải phóng” mà! Kí-nin uống như trẻ cơm nguội có ăn thua gì. Nhiều khi mình sốt mà giống như là giả bộ vậy, đang ngồi chơi bỗng run lên, đang đi bỗng rã rời tay chân mắc võng không kịp mà nằm. Hì, hì.. trong người tụi tôi bây giờ vi trùng sốt rét hàng tá bắt nấu canh chua không hết.

Tôi còn nghe ngòi bút của Thành chạy sột soạt trên mặt giấy, một chốc lại nghe Thành kêu lên gay gắt:

- Nghẹt ngòi rồi! Bực quá! Có bút đó không Ớt?

- Không! Lâu rồi đâu có viết cái gì mà bút với mực.

- Mẹ!…Hồng Hà làm giống in Parker 91 mà dở ẹc. Ngòi viết có hơn tháng đã toè mẹ nó ra rồi.

- Ai bảo mua rồi la?

- Thấy có đứa bảo tốt lắm, nó mua đem về cho bạn bè Miền Nam.

- Ờ, vậy cũng tốt, nó được cái tinh thần.

- Tinh thần gì?

- Tinh thần tự túc tự cường. Ta làm ra ta xài chẳng hơn mua cây bút “Anh Hùng” của Trung Quốc à?

- Chà, chà! Nổi lập trường lên rồi đó hả?

- Khì..khì! Thôi viết đi, hết cơn sốt ông bạn đồng hương lại chỗi dậy đi mất bây giờ!

Thành đập đập mép võng hỏi tôi:

- Đỡ chưa đồng chí? Tôi viết thư rồi đấy! – Thành vừa nói vừa xếp lá thư nhỏ lại bằng một ngón tay và nói – Chỉ có bây lớn đây thôi, không có nặng gì đâu! Coi như nó là miếng giẻ rách vá cái áo cho đồng chí vậy thôi. Tôi cũng biết các đồng chí nặng lắm rồi, nhưng đây là vấn đề tình cảm của mình, tôi không bao giờ quên ơn đồng chí.

Rồi thao thao bất tuyệt, Thành nói:

- Tôi đi bộ đội hồi năm 1947 lận đấy đồng chí ạ! Đánh trận nào ở Mỹ Tho mà không có tôi, cả cái trận đánh với tụi Lê Dương mặt gạch ở Gò Công cũng có tôi. Trận đó hai bên đều hết đạn, đập nhau bằng súng và ôm vật nhau! Cái bọn Lê Dương mặt gạch cái mặt đen thui mà gạch ngang gạch dọc như mặt thớt vậy, cái đầu thì tóc quăn xoắn lại và cặp môi đen sì như cặp đỉa trâu bằng bắp tay nằm ngang. Gớm, trông thấy mà rợn người. Tụi nó đánh gan lắm! Chết bao nhiêu cũng không sợ, cứ nhào vô ào ào ngay họng đại liên, trung liên. Đồng chí có biết Phan Thanh Nhàn không? Nhàn Râu đó! Ông ta đấu tranh với bộ Tổng bị tù đó, ai cũng biết. Ban đầu tôi ở tiểu đoàn của Nhàn Râu, rồi sau này tôi sang Trung Đoàn Đồng Tháp đi lung tung càng ngày xa không về xứ được. Cuộc cách mạng của mình kỳ cục quá. Mới ban đầu mình tưởng chừng vài tháng thì xong, vài tháng không xong, rồi lại đến vài năm. Mới đầu tưởng ra khỏi làng thôi, ai dè đi lên tỉnh rồi đi lên miền, rồi ra Bắc cho tới bây giờ nghĩ tới ngày về mà vô cùng ngao ngán. – Thành nói chậm hẳn lại – Bây giờ thì bọn tôi không còn có ngày về. Vì thế cho nên tôi mới nóng lòng mà gửi bức thư này vậy. Nếu đồng chí có về ngay xã tôi, đến bến đò An Thạnh thì xin hỏi tên ông Hai Trí, đó là Ông già tôi và đưa thư này dùm tôi, tôi cám ơn lắm.

Cái thằng Nam Bộ ít hay nói tiếng cám ơn lắm. Nó cám ơn tự trong lòng, nó nhớ ơn và đợi lúc trả ơn. Ở đây Thành nói cám ơn là chuyện không thường rồi.

Tôi cầm lấy bức thư, đúng ra là mẩu giấy con không có vẻ trang trọng gì hết, nhưng trong đó gói trọn cả một trái tim, một nỗi niềm.

Anh ta khóc chăng? Tôi trông thấy anh ta quay mặt đi, người chính trịnh viên, thằng Thành con Bác Hai Trí ở Mỹ Tho! Có lẽ anh ta đau lắm khi nói những câu trên với giọng run ngập ngừng. Bỗng nhiên Thành quay lại, cố gắng nói giọng bình thường:

- Thôi, chúc đồng chí đi cho tới nơi. Độ hai tháng nữa là cùng, sẽ gặp lại ông già bà già cho ổng bả mừng. Còn tụi tôi thì… – Thành nghẹn ngào nhưng cố nói cho trọn câu – còn tụi tôi thì kể như bỏ xác nơi rừng Lào này đi!

Gương mặt tròn trịa của Thành trông thương hại quá. Đôi má phính không phải vì béo mà vì sỉn, run run theo những tiếng nghẹn ngào của Thành, hai hàng nước mắt của người chính trị viên quê ở Mỹ Tho chảy xuống chầm chậm và càng lúc càng nhiều. Thành vụt đưa mu bàn tay quệt ngang và tiếp:

- Thôi, tạm biệt nhé!

Tôi ấm ức thay cho Thành, cho Tư Ớt và cho tất cả những người miền Nam không được về quê. Tôi hỏi:

- Nhưng các đồng chí sao không được về chứ?

Tư Ớt rất uất và sự uất ức đó dường đã được khơi dậy. Tư Ớt nói:

- Họ bắt chúng tôi cứ ở lẩn quẩn trên con đường chết tiệt nầy xích ra xích vô, lết tới lết lui, thấy các anh em “về nước” mà tủi thân vô cùng. Trước đây tụi mình đâu có muốn đi mà vẫn phải đi, bây giờ mình muốn về thì lại cũng không được về. Không biết cách mạng Lào trở thành căn đày kiếp đọa gì cho lũ Miền Nam tập kết này, và không biết tới bao giờ mới dứt?

Tôi cố đứng dậy khỏi chiếc võng vì tôi đã biết câu chuyện sắp kết thúc.

Đứng dậy xong tôi phải vịn cái cây ở đầu võng, rồi một cách may rủi, tôi chụp lấy cây gậy của tôi lúc nãy không biết ai đã dựng sẵn đó cho tôi và tôi chống gậy lảo đảo đi lại ngồi phệt lên cái đế cối lúc nãy. Bây giờ thì tới phiên Tư Ớt tâm sự, trong lúc Thành bước lại cuốn cái võng. Tư Ớt nói với cái giọng khàn khàn có lẽ vì khát?

- Tôi nhớ từng gốc cây anh ạ! Ở gần nhà tôi có cái gốc cây gọi là cây Quéo, từ ngã ba đi vô độ hơn hai chục cây số. Đi xa ngó về vẫn trông thấy ngọn của nó vượt hẳn lên những rặng vườn. Tôi đi bộ đội được vài năm thì nghe nói bà con ở nhà đã hạ nó xuống để không còn chuẩn cho máy bay bỏ bom nữa. Nghe nói đốn nó phiền phức lắm vì nó là loại cây to bóng mát mà, có Bà ngự, hạ nó xuống đâu phải là chuyện chơi! Thầy pháp phải cúng, phải cầu, bà con phải đốt nhang khấn vái dữ lắm… Dù tôi đã biết người ta hạ cái cây Quéo xuống hơn hai mươi năm nay nhưng mỗi khi nhớ nhà, nhìn những chân vườn xa trước mắt thì tôi lại cứ thấy nó đứng sừng sững trước mặt tôi, trong tâm tư tôi.

Ở đàng kia có một tốp binh sĩ vừa lố dạng. Thành ngoắc ngoắc:

- Đem lại đây, tôi tặng cho ông bạn đồng hương một củ.

Tôi nhìn đoàn người đang khuân vác lôi thôi lếch thếch đi về phía tôi. Miệng tôi đắng như lúc nãy tôi nuốt còn sót một viên kí-nin trong cổ họng tôi, tôi cứ khạc nhổ mãi mà không hết đắng. Bây giờ tôi nghe cái củ của ông bạn đồng hương sắp cho, tôi không biết là củ gì. Củ khoai, củ mì, củ chụp …củ gì cũng ăn được. Vậy là được lắm rồi. Ở giữa chốn này dễ gì ai nhận mang cho ai cái gì, dễ gì ai cho ai món gì ăn được, vậy mà tôi nhận mang cho Thành cả một lá thư. Có lẽ vì vậy mà Thành cho tôi cả một củ…

Một anh bộ đội mặc áo cổ vuông ướt đẫm mồ hôi ở phía trước ngực lẫn sau lưng, gánh một sọt khoai mì, củ nào củ ấy to bằng bắp đùi người lớn (chưa vượt Trường Sơn!). Tôi hết sức ngạc nhiên. Không hiểu sao ở xứ này lại có thứ mì to của đến thế, một người chỉ vác nổi một củ mà thôi.

Hồi ở Hà Nội, tôi nghe các vị trong ban Thống Nhất Trung Ương kể chuyện về rừng mì giải phóng mà mê như một bài thơ xã hội chủ nghĩa trữ tình. Các vị kể rằng ở dọc Trường Sơn có những rẫy mì đã trở thành rừng không thể nào ăn hết nổi. Vì theo tinh thần xã hội chủ nghĩa thì những kẻ ra Bắc vào Nam ngang qua những rẫy xã hội chủ nghĩa đó cứ tha hồ lấy củ mà ăn, nhưng lấy bao nhiêu phải dọn đất trồng lại bấy nhiêu, lâu ngày chầy tháng ăn không hết, vả lại vì tinh thần xã hội chủ nghĩa quá cao cho nên có những đoàn ăn một trồng lại mười, vì thế rẫy mì thay vì eo hẹp lại giờ mở rộng ra mà … thành rừng.

Nghe thì hay quá, nhưng thực tế đâu phải như vậy.

Thành trỏ vào sọt mì ngao ngán nói:

- Tụi tôi sống bằng toàn cái ngữ này! Thỉnh thoảng mới được cơm trắng. Coi vậy mà ăn nhiều hại lắm! – rồi Thành bảo tôi – Anh ăn bao nhiêu cứ lấy mà ăn.

Nhưng tôi thấy lòng vẫn chua xót khi thấy mình vừa ngồi trên cái đế cối. Càng chua xót khi tôi ngồi trên cái đế cối mà lại trước mặt những nhà chỉ huy quân sự.

- Tại sao anh em mình lại vứt cái đế cối như thế này anh?

- Nó vác không nổi nữa thì nó vứt chứ sao !

- Rồi cái nòng làm sao?

- Kê vô đầu gối mà bắn… khì khì… nói đùa vậy chớ cái nòng nó cũng vứt luôn chớ giữ làm gì?

Thành tiếp:

- Đường dốc đường đèo như thế, sức đâu mà vác? Cái này là đế 82 nặng không dưới 50 kí-lô. Rồi còn ba-lô gạo muối nữa lấy sức đâu mà vác? Anh vào một vài chặng nữa rồi mà xem súng đạn nó vứt đầy hai bên đường. Đi không nổi mà vác sắt khối như thế vác làm sao? Có trượt chân ngã, nòng súng đè gãy xương sườn, trật khớp xương sống. Lính Trường Sơn! Chậc! Chết còn sướng hơn!

Tôi đánh Pháp 10 năm chưa lúc nào khổ thế này. Cái khổ nhất là cái mất liên lạc cá nước với đồng bào. Ở ngoài kia quan điểm nhân dân này nọ nói nghe mát bụng lắm …”dễ mười phân không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong.” nhưng vào đây, lâu nay đồng chí có gặp người dân nào không? Thế cho nên tụi tôi sửa lại: “dễ 10 phân kêu dần không lại, nặng trăm lần khiêng bại cả lưng!” Ở rừng riết rồi xem thấy khỉ cũng đẹp, và tưởng chừng mình cũng hoá thành khỉ nay mai.

Thành bắt tay tôi mãi không muốn rời. Có lẽ Thành muốn truyền đạt những tình cảm của mình về gia đình qua lời nói và hơi thở của tôi. Thành muốn tôi kể lại cho cha của Thành về Thành với những chi tiết đầy đủ nhất trong buổi gặp gỡ hôm nay.

Rồi chúng tôi chia tay.

(Cho đến hôm nay – 7 năm sau cuộc gặp gỡ đó – tôi mới có dịp viết lại cái ký ức về một chặng đường của Trường Sơn mà nét mặt vàng vọt cùng với giọng nói của Thành không hề phai nhoà trong tôi. Tôi viết những dòng này không phải với mực thường mà với thứ mực khác thường. Tôi mong nếu Thành còn sống và đọc được những dòng này. Tôi đã làm tất cả những gì tôi đã hứa với Thành năm đó, chỉ có một điều tôi không làm được là tôi không tìm thấy Ông Hai Trí và cái bến đò Anh Thạnh của Thành. Hơn mười lăm năm tang thương biến đổi mà lại là một thứ tang thương trong chiến tranh, nó bất ngờ và tàn nhẫn vô cùng, tôi làm sao tìm thấy được một cụ già trong cái biển lửa ngút trời của Miền Nam, tôi làm sao tìm thấy cái bến đò nhỏ bé của Thành với những cái rể cây đã mòn vì những bàn chân bước xuống đò – trong lúc mà đến cả rừng già còn hoá thành bãi trắng.

Có lẽ giờ đây, nếu sau 7 năm chịu đựng ở rừng Lào, Thành còn sống sốt thì Thành cứ nghĩ rằng người bạn đồng hương của Thành đã đi về tới nơi và trao thư của Thành cho gia đình Thành ngày đêm mong đợi Thành về. Riêng tôi thì vô cùng chua xót khi nghĩ về những người lính gốc Miền Nam cứ hằng ngày nhìn thấy người ta nối đuôi nhau đi trên đường về Nam, còn mình thì cứ trấn thủ rừng Lào để “Ủm hộ” cách mạng thế giới đang triển khai trên xứ Vạn Tượng. Hằng vạn thanh niên Miền Nam rũ xương trên đất Lào một cách phí uổng, trong lúc gia đình họ không được một mảnh giấy báo tin.

Thành ơi! không biết giờ nầy anh còn sống hay đã nằm yên trong một cuộc chạm súng vô nghĩa lý nào rồi?

Lá thư của anh tôi vẫn còn giữ đây, tôi đã học thuộc từng chữ, nhớ cả tuồng chữ và chữ ký của anh. Lâu nay gặp ai tôi cũng gợi chuyện để may ra tìm thấy cha anh nhưng tôi không hề thấy có ai, không thấy ai nhắc đến cha anh cả. Gia đình của anh ở đâu làm sao tôi tìm được? Củ khoai mì to tướng của anh đã bồi cho tôi bao nhiêu sinh tố, nhưng còn lá thư của anh thì tôi không biết làm sao gởi đi. Tôi mang nó trong người tôi như một món nợ mà tôi phải trả, như một đau khổ của riêng tôi và của hàng chục vạn người cũng như anh sống trong rừng Lào không phải “đêm Nam ngày Bắc” mà “đêm Nam ngày cũng Nam”.)


CHƯƠNG 3



Không hiểu bằng cách nào mà tôi đã theo kịp đoàn tôi trong chiều hôm đó, cố nhiên là tôi đến sau tất cả mọi người. Tôi nghĩ, nếu người ta mà biết được tôi đã cố gắng đến mức độ nào để tới đây thì họ sẽ thưởng cho tôi cái mề-đay bự nhất. Bây giờ viết lại cái ý nghĩ có vẻ mỉa mai này của tôi trên giấy tờ, tôi hãy còn lợm giọng khi nghĩ đến cái vinh quang mà người ta đã dành cho tôi trước khi tôi cất bước lên đường.

Cơn sốt rét đã lắng xuống nhưng sự mệt nhọc thì vọt lên cao độ.

Ai cũng lo công việc của mình, không còn thời giờ để mừng đón tôi, mà cũng lạ thật, tôi đã vất bỏ đi cái thói xấu công thần một cách dễ dàng. Đến nơi, tôi chỉ mong mắc võng và nằm, yên chí rằng trong đêm nay mình không cô độc giữa rừng.

Phần lớn anh chị em đang bận rộn bào chế các món ăn bằng khoai mì, những mẩu khoai mì vụng mà họ đã phải đi trên một tiếng đồng hồ để mót lấy, trên ruộng rẫy mà bộ đội đã nhổ trụi những khẩu phần của họ rồi.

Bây giờ thì thiên hạ bận rộn như ngày có giỗ. Kẻ thì tìm một phiến đá để đập và nghiến mì ra thành bột rồi nặn thành từng bánh đem nướng trên lửa than. Kẻ thì dồn vào trong ống nứa non đem đốt như kiểu người thiểu số nấu cơm nếp giữ nguyên hương nguyên chất. Hoặc kẻ thì vì không đủ sức làm hay vì tính giản dị, cứ đem luộc và ăn ngay.

Lâm đến mắc võng gần bên tôi và hỏi:

- Muốn ăn cái gì tớ làm cho?

Tôi trỏ tay dưới đít võng. Lâm nhìn theo và ngạc nhiên kêu lên khi thấy một củ mì quá ngon lành nằm trườn trườn trên mặt đất.

Tôi nói:

- Cậu muốn làm gì thì làm tùy thích!

Tính Lâm tỉ mỉ và hay vẽ vời. Lâm say sưa nhìn củ mì, cầm nó lên và vuốt ve mà nói:

- Ta nấu chè, chén một bữa đi bạn!

Tôi gắt:

- Làm sao đủ đường mà nấu?

- Mình còn!

- Úy trời đất!

- Ừa, thiệt mà! – Lâm tiếp – Hồi trước khi đi mình có mua thêm 250 gờ-ram. Đó là nhờ thằng bạn cho phiếu mình mua cả tháng của nó. Chớ không thì phải chạy đi mua cái phiếu đó giá cũng em em giá của 250 gờ-ram đường.

Tôi nghe đến chè thì nước miếng nước mồm tuôn ra không kịp nuốt. Thời buổi này giữa Trường Sơn còn 250 gờ-ram đường, không khéo bị “ăn cướp” đánh nhà chớ phải chơi đâu. Nhưng tôi lại lắc đầu:

- Đừng có phí như vậy cậu ạ! Nhỡ có ốm thì lấy gì!

- Thì cậu ốm rồi đấy, còn chờ chừng nào nữa? Hay là mình đâm nhuyễn ra vò viên nấu canh nêm mì chính (tức bột ngọt) rồi ăn cơm cùng với mắm ruốc!

Nói xong Lâm xem như đó là quyết định cuối cùng và sáng suốt nhất. Lâm hăm hở soạn bếp núc của Lâm, vừa hí hoáy vừa hỏi thăm tôi hoặc vừa pha trò để dò xem phản ứng của tôi mà đoán sức khoẻ của tôi.

Còn tôi thì cố gắng ghếch đầu lên mép võng mà trả lời câu được câu chăng với Lâm. Lâm là thằng bạn rất tốt đối với tôi. Chúng tôi quen nhau từ thuở bé, và Ông Trời cứ bắt hai đứa phải gần nhau luôn, không mấy khi xa nhau. Vì thế, gây gỗ, đụng chạm, cự nự nhiều hơn bất cứ đối với ai. Có lần giận nhau hằng năm, nhưng đó là sự hờn giận của những người yêu – tan rồi hợp, hợp rồi tan, và cuối cùng lần này hai đứa lại đi chung trên con đường mà sự vinh quang chúng tôi phải chia nhau gánh đội đến oằn cả vai, còng cả lưng, tối cả mặt mày.

Lâm vừa thổi lửa vừa nói:

- Mình nghĩ thương cô Oanh quá cậu ạ!

Tôi lặng thinh nhưng Lâm không cần sự đáp lại của tôi ở đây. Tôi đã biết thừa cái chuyện của cô Oanh cũng như chuyện của bao nhiêu cô khác. Nhưng Lâm yêu nhất cái tình nghĩa cô Oanh nên vướng bận mãi cho đến ngày ra đi.

- Tao mà còn ở lại năm nay ngoài đó thì nhất định tao lấy con Oanh, không có cách gì khác. Con gái Bắc ngoan, dễ yêu; con gái Nam hồn nhiên, chân thật. Đằng nào cũng hay cả! Ấy chết, con Thu nó có ngồi gần đây thì nó nghe.. nó yêu mình mất.

- À, được rồi. Mai họp đoàn em báo cáo anh phá hoại đoàn kết Nam Bắc nhé! – Thu đang ngồi o bế cái chân đau, vọt miệng đáp ngay.

- Ừ, cứ báo mạnh vào! Cái chân sưng mủ kia kìa không lo mà đắp, mà vặt, mà xoa bóp đi… à mà em có cần anh bóp không nào?

- Cậu bóp thì có mà sưng to thêm! – Một người nhạy miệng đáp, làm tiếng cười nổi lên họa theo.

Một người khác lại nói xen vào to hơn:

- Nào, nhà nữ múa sĩ Ngọc Thu có đồng ý cho võ sĩ Lâm bóp…không?

Anh bạn kéo dài tiếng “bóp” làm cho tiếng cười lúc nãy lại phát lên, chỗ thì rúc rích, chỗ thì sằng sặc. Có người đang ăn phun cả cơm ra ngoài.

- Không bóp thì cũng sưng rồi mà. – Một giọng lè nhè của một ông cụ – Bây giờ coi chừng nó chảy.. nước … trắng nước vàng ra đó!

- Nó sưng lâu quá rồi mà, để nguyên nó cũng chảy!

Câu chuyện pha trò cứ kéo dài mãi, nhưng không làm cho tôi hứng thú chút nào. Tôi loáng thoáng nghe tiếng cười, nhưng đầu óc tôi mơ đến những chuyện khác thiết thực hơn.

Tôi mơ ước có trước mặt tôi có một cái quán bán các thứ dưa chuối, chè đậu, bánh dày, bánh giò rất mất vệ sinh với những đàn ruồi xanh như những đàn phi cơ làm xao động cả buổi trưa.

Làm gì nhiều thế? Tôi chỉ cần một bà lão bán chè xanh dưới một gốc cây bã đậu rợp mát với những cái chén sứt mẽ vằn vện những cốt trà cũ, với những cái tủ kính nhỏ đầy ghét cáu và vỡ nát, bên trong có đựng những chiếc bánh chè lam có rắc một ít đậu phộng và mè rất cứng, mà bình thường ở ngoài đó không bao giờ tôi nghĩ tới việc phải để mắt tới.

Hay tôi lại thèm một ít nước béo cho vào tô phở , chỉ một ít thôi cũng đủ. Tôi như ngửi thấy mùi hương của những bát phở gà với những miếng mỡ mà tôi ưa thích nhất. Những con gà vàng ngậy kinh người treo trong những lồng kính. Tôi thèm tất cả, mơ tất cả những gì có thể cho vào mồm để mà nhai. Đời giản dị chỉ có thế thôi.

Biết bao ý nghĩ trước kia tôi không hề có nhưng một cơn sốt đổ xuống tôi, mang đến cùng với sức nóng và sức rét của nó, bao nhiêu là siêu vi trùng trong tư tưởng. Những ước mơ tôi mang nặng hôm qua bây giờ hoàn toàn phủi sạch.

Nằm ở đây giữa Trường Sơn này với một cơn sốt dài lê thê hàng chục cây sô đường rừng, tôi chỉ còn nghĩ tới một điều cụ thể nhất là cái gì để cho vào mồm và nuốt được.

Tôi chỉ cần một khẩu phần cơm cơ quan ba hào chẳng hạn với cục bột mì sừn sựt với bát ngô sền sệt một thỏi cá tanh rình bằng ngón tay và vài cọng rau muống dai nhách tua tủa những gốc rễ.

Thiên đường ở đâu? Thiên đường của người chiến sĩ vượt Trường Sơn là cái khẩu phần đó đó.

Ba lon gạo tối hậu dành để chống càn buộc thắt ngang trong ruột tượng cũng đã cạn rồi. Có người lượm gạo mục ở dọc đường của ai nứt ruột tượng đổ ra và giũ ruột tượng của mình lấy nốt những hạt gạo còn sót, cho tất cả vào canh cho có mùi gạo tí ti, húp cho cứng gối.

Phiền lòng quá, tủi thân quá!

Đây là chặng đường Kontum có lẽ. Tôi có cái bản đồ con con có hình nước ta nhưng nó bé nhỏ quá, nó chỉ chiếm hết lòng bàn tay tôi thôi, cho nên những địa danh của nó cũng không được ghi đầy đủ. Và không có địa bàn, không có làng, có xứ thổ dân nào, tôi làm sao biết được tôi đang ở cách xa những người tôi vừa chia tay là bao xa và những người tôi sắp được bắt tay là bao xa. Chỉ biết rằng tôi đang đón nhận cái phần thưởng đầu tiên cấp trên gửi tặng tôi là cơn sốt vừa qua cùng với một nồi cháo mì của một thằng bạn khổ – không có cái gì hơn là tấm lòng để giúp tôi.

Bừng mắt ra, tôi thấy rừng vây quanh tôi. Hoàn toàn xa lạ. Cái cảm giác đầu tiên của tôi là tôi đang lọt tõm giữa mênh mông. Và tôi sắp tan ra trong cái mênh mông đó.

Tôi phải mất ít nhất là vài giây để hiểu những sự việc vừa qua kể từ khi Thu chống cái gậy lê chân đi từng bước biến dần trước mắt tôi. Cái hình ảnh đầu tiên tôi nhớ ngay về buổi trưa hôm qua là cái hình ảnh của Thu.

Vì chung quanh tôi không có ai hết cả ngoài Thu.

Nhưng, thế thôi cũng đủ. Hình như Trời còn ngó lại cho tôi. Trời không muốn tôi quá cô đơn giữa cái rừng sâu nầy. Nhưng tôi chỉ hưởng được cái giây phút êm đềm đó trong một thoáng thôi rồi lại rơi vào cái khổ triền miên, cái khổ đeo đẳng, dằng dặc chặt không đứt, bứt không rời của Trường Sơn: đó là cái đi, cái đứng, cái ăn, cái ngủ, cái bệnh, cái tức, cái giận, cái thương, cái ghét … thực là một trăm thứ cái, mà cái nào cũng kỳ cục, khác thường, nó xoi, nó mói, nó cạo, nó gọt tâm tủy con người.

Giữa chúng tôi, hai đứa còn sót lại sau đoàn đây, một đứa Nam, một đứa Bắc, đứa đàn ông, đứa đàn bà, một đứa bệnh, một đứa tật, khác nhau cả, nhưng có điều giống nhau quá là đứa này sầu, đứa nọ cũng rầu.

Thu ngồi quay lưng ra tôi cho nên tôi thức mà Thu không biết. Những đốm nắng vàng vọt rời trên những phiến đá ẩm ướt rêu mốc mà hơi người không làm ấm lại nổi. Tóc Thu hồi còn ở Hà Nội tôi nhớ là đẹp lắm mà. Tóc con gái là đẹp lắm rồi, dù màu vàng hoe hay màu đen huyền, dù kẹp ngang vai hay uốn xoăn cũng đẹp, nhưng hôm nay thì tóc Thu không đẹp nữa rồi. Mắt tôi đâu còn tinh anh để nhìn tóc nàng?

Thu có đôi chân tuyệt đẹp của một diễn viên múa mà tôi chưa từng trông thấy ở bất cứ ai. Tôi thấy Thu là tôi đã nhìn đôi gót chân để mong có thể nhìn lên cao hơn ống chân, cao hơn tí nữa, như có lần tôi đã thấy gần trọn vẹn bộ đùi của Thu khi Thu xăn quần lội qua con suối.

Bây giờ đây đâu phải là tôi quên rằng tôi đã có một dịp hay ho như vậy, đâu phải tôi quên rằng người con gái ngồi trước mặt tôi đó đã có một cặp chân tuyệt mỹ! Nhưng tôi không buồn nghĩ đến cặp chân ấy nữa.

Người ta không còn thì giờ, đúng ra là không còn tâm hồn nào để nhìn cái đẹp nữa. Tôi còn phải dành trí khôn để ước lượng xem phải uống bao nhiêu kí-nin nữa để cắt cơn sốt, xem nếu tôi đi thì có đi nổi không, xem cây gậy của tôi có nặng so với sức lực của tôi bây giờ không, nhất là làm thế nào để cùng với cái cô diễn viên múa kia đuổi kịp theo đoàn v.v.. và v.v…

Và nếu tâm trí tôi có bắt buộc phải nghĩ tới đôi chân đẹp đó chăng đi nữa thì đôi mắt tôi, chúng cũng từ chối.

Chỉ sau vài hôm đi trên đường Trường Sơn thì mắt tôi bắt đầu không thấy núi đẹp như trong thơ nữa. Núi ôm ấp mây, núi quàng khăn tuyết … tất cả những nét đó hình như vô lý. Mắt tôi cứ hau háu như mắt cú vọ để tìm kiếm một cái đọt bứa, một cái mục chuối rừng còn sót lại hay một cái quai dép, một mẩu ni-lông của ai làm rớt dọc đường. Mắt tôi hễ mở ra thì bắt đầu nhìn những hòn đá chơm chởm gập ghềnh chỗ thấp chỗ cao, nhìn những bộ mặt vàng nẫu, những cặp chân cà tong cà teo run run khiêng pháo lên dốc.

Tất cả những gì đẹp đẽ cũng không cần thiết, đúng ra cũng không cần có ở đây.

Và dù là cái đẹp đó là cái riêng của tôi đi nữa, tôi cũng không cần. Tôi không cần nó, tôi không khát nó, tôi không thèm nó. Tôi cần, tôi khát, tôi thèm cái khác: ăn! Ăn cái gì thì ăn, nhưng núi đẹp và cặp chân vũ nữ tuyệt vời kia thì không thay cho món ăn được.

Hình như ánh mặt tôi gọi Thu cho nên Thu quay lại. Tôi không tỏ vẻ ngạc nhiên về sự ở lại của hai đứa và cũng không có vẻ vui mừng vì chỉ có hai đứa ở lại mà thôi.

Thu cố nhấc cái chân què đi tới ngồi phệt xuống bên võng của tôi và thở dài:

- Đoàn đi cả rồi anh!

Tôi nhìn Thu không đáp.

- Khổ quá đi mất!

Tôi cũng không đáp.

- Không biết rồi phải làm sao?

Sự lặng im vẫn kéo dài.

Tôi ngạc nhiên về sự sắt đá của tôi trước những câu than thở đồng cảnh ngộ của một cô gái. Tôi biết tôi phải nén lòng vì nếu tôi nói ra thì tôi sẽ nói những lời không đúng đắn về lập trường, về tình nghĩa, về sự có lý hay vô lý. Nếu tôi nói ra một câu thì những tiếng đầu tiên phải là những tiếng không có văn hoa, văn hoá.

Nhưng chửi ai, văng tục với ai?

- Anh hết sốt chưa? Thu hỏi.

- Qua cơn rồi em ạ!

- Không biết rồi ngày mai em ra sao, anh nhỉ?

- Thu chưa bao giờ bị sốt nên đâu hiểu sốt là thế nào!

Thu ngồi lặng thinh. Bây giờ thì chỉ còn có hai đứa, hai đứa bé mồ côi, khát sữa bú tay.

Một chốc Thu mới nói lại nguyên văn câu nói lúc nãy:

- Đoàn đã đi hết rồi anh ạ!

- Anh biết rồi.

Rồi hai đứa lặng thinh.

Tôi cố mở hai mí mắt nặng nề dày cộm của thằng sốt rét ra mà liếc nhìn chung quanh. Cảnh tượng thật là áo não, buồn thảm, bi đát, đau thương. Tất cả những chữ na ná như thế trong ngôn ngữ Việt Nam gom lại cũng không đủ tả cái cảnh chung quanh tôi lúc bấy giờ.

Những cái cọc hôm qua kín những võng và những tăng, những màn, những cái giàn nhỏ đầy những ba-lô, khăn túi, những cái bếp thì khói lửa tuy phải che đậy từng tí nhưng vẫn ấm áp tươi vui với ánh lửa và hương củi lửa. Tôi nghĩ rằng chỉ có những người đi rừng biền biệt xóm làng như chúng tôi mới hiểu nổi giá trị của lửa.

Hôm qua là cả một không khí hoạt động bánh trái vui nhộn, nhưng hôm nay đây, họ đã đi, mang theo họ cả khung trời. Chưa một lần nào tôi thấy vừa cô đơn vừa buồn tủi như hôm nay.

Thu đưa cho tôi hai mẩu giấy. Tôi không đọc ngay nhưng tôi biết đó là của anh đoàn phó và của Lâm – của Lâm, mảnh giấy tó hơn…

Chung quanh tôi mấy cái võng mắc tòng teng mà dưới mắt giao liên là những cái của nợ, vì những người này thường hay mò vào trạm của họ để căn nhắn, xin xỏ hoặc ỳ ra không chịu đi, tệ hơn nữa có những người nằm ngủ luôn không dậy, họ phải khiêng đi chôn cho khỏi thối trạm, có lẽ đó cũng là những người bị rơi rớt trên đường mà đoàn họ gửi lại núi rừng thiêng này – cũng như lũ chúng tôi đây.

Tôi nhìn xuống cái ga-men của tôi ngay đầu võng. Tôi không buồn nhặt nó lên. Vì cái kỷ niệm chiều hôm qua còn hơi ấm giữa tôi và Lâm sẽ làm cho tôi khổ hơn. Cái bánh làm bằng khoai mì, canh mì nêm bột ngọt… tất cả mâm cổ mà Lâm làm hôm qua, tôi không có thụ hưởng một tí gì. Cái củ mì to tướng của tôi vẫn còn nguyên đó. Vậy là Lâm chỉ dùng mì lượm mót của mình mà thôi. Đó là một nghĩa cử mà tôi phải ghi nhớ. Trên con đường này người ta chơi xấu với nhau từng chút một, nhất là miếng ăn. Miếng ăn là miếng tồi tàn! Lâm đã để lại cho tôi một tí đường trong số 250 gờ-ram của anh ta đang mang theo từ Hà Nội. Tôi không giỡ nắp ga-men ra, nhưng tôi vẫn trông thấy những hạt đường lấp lánh tình bạn. Lâm tốt đến thế đối với tôi vậy mà Lâm vẫn bỏ tôi mà đi với đoàn.

Bất giác tôi đưa mảnh giấy của Lâm lên mắt.

“Mình đi nhé! Thế nào cũng “nằm” lại ở vài trạm trước. Cậu sẽ bắt kịp. Đừng buồn nhé!”

Tôi buông mảnh giấy trên ngực tôi. Tôi nghe nước mắt ứa ra và từ từ trào ra tràn xuống má! Tôi biết Lâm cũng buồn, nhưng tôi hiểu nó lắm. Nó cũng không muốn bỏ tôi mà đi nhưng nó phải đi, và cơn sốt của nó (mà tôi đã thấy trước) bắt nó phải chờ tôi. Rồi lại tới phiên tôi phải bỏ nó mà đi và phải viết những lời như nó viết cho tôi hôm nay.

Thật tình tôi không thấy đói, không thấy buồn, không thấy cái gì cả. Tôi đã hoàn toàn biến thành một khối xương thịt vô tri. Tôi muốn nằm yên rồi chết… nếu không có tiếng the thé của Thu gọi tôi:

- Anh có ăn cháo không em nấu?

Trời ơi! Cái gương mặt của Thu bây giờ sao xấu đau xấu đớn thế? Bây giờ tôi trông thấy mà giật mình, không hiểu tại sao Thu đã xấu ra, hay tròng mắt tôi bị méo mó vì cơn sốt? Đằng nào thì cũng đáng buồn cả.

Tôi giụi mắt nhìn lại. Thực tình Thu xấu đi nhiều quá. Đôi mắt sâu và đôi môi tái nhợt cũng đủ làm cho vẻ đẹp của Thu mất hết sự lộng lẫy ngày xưa rồi. Mà có xưa gì cho lắm? Mới hơn một tháng đây thôi. Hồi ở nhà trường ai cũng ve vãn tán tỉnh nàng. Còn bây giờ người ta xa lánh vì đàn bà ở đây không dùng được vào việc gì cả, ngay như sắc đẹp là cái món ngon lành nhưng ở đâu chứ ở đây thì cũng vô dụng nốt. Mà cũng may, cái đó không còn có ở đây.

Tôi đáp:

- Anh cũng đang đói, từ trưa hôm qua tới giờ đâu có cái gì vô bụng.

Thu soạn cái ga-men của tôi ra. Quả thật Lâm đã để lại cho tôi một nhúm đường cát. Đây là lần thứ hai tôi nhận của Lâm thức ăn. Lần thứ nhất, lúc đó đi được hơn mươi ngày. Anh chị em còn sức. Một hôm trạm mời đoàn vào múa hát phục vụ cho giao liên, không rõ anh chị em được tặng món gì mà khi tan cuộc, Lâm rỉ tai tôi: “Chốc nữa tớ cho cậu món ăn đặc biệt”… Chiều hôm đó khi tôi sắp ăn cơm, Lâm đến gần bên tôi và thừa lúc không ai chú ý, Lâm xộc tay vào túi quần nắm ra một nắm rồi chúm lại rót xuống bàn tay tôi đang xoè ra để nhận lấy.

Tôi chú ý xem là cái gì. Đó chỉ là những hạt đậu phộng rang với muối. Chỉ có dăm hạt thôi vậy mà Lâm phải rót đến hai lần. Lần thứ nhất ba hạt, rồi chắc Lâm cảm thấy còn ít quá, Lâm lại hở mấy ngón tay ra vừa vặn cho hai hạt nữa rơì xuống. Thế cũng đã nhiều, trên đường này.

Mấy hôm sau đổi được mấy trái chuối rừng (giống như chuối hột trong Nam, nhưng trái chuối đầy hột chát ngầm không nuốt được) tôi cũng tuyên bố với Lâm: “Tớ sẽ cho cậu một món đặc biệt”. Đợi cho ai nấy đều ngủ hết tôi mới mò sang võng Lâm và dúi vào ngực Lâm một trái chuối rừng.

Bây giờ Lâm cho tôi mấy muỗng đường cát. Chỉ vậy thôi mà nước mắt tôi ứa ra, tôi không chùi kịp.

Thu nhúm lửa với mấy mụn củi nứa đêm qua Lâm còn bỏ lại và hơ mớ cháo khoai mì đủ âm ấm rồi sớt ra cái nắp ga-men trao cho tôi.

Thu nói:

- Bỏ vào một ít đường cho ngọt để ăn anh nhé, chắc anh đắng miệng lắm.

Tôi nâng chiếc nắp ga-men lên, ngửi mùi khói bốc từ mớ cháo, tôi biết rằng trong đó đã có đường rồi. Tôi kê miệng húp một miếng. Quả thật, cháo ngọt. Tôi muốn nuốt vào nhưng không hiểu vì sao, như bên trong như có một cái gì đang tràn ra, đẩy ngụm cháo phọt ra ngoài, tủa ra đầy đất.

Thu vội vã đỡ lấy nắp ga-men và kêu lên:

- Sao vậy anh? Ơ kìa?

Tôi khoác tay ý bảo không có chuyện gì đâu đừng cuống lên. Tôi biết sức khoẻ của tôi mất đi gần hết sau cơn sốt dồn dập khởi đầu từ ban trưa, ngưng một chập rồi lại sốt suốt đêm. Cho nên lúc sáng, đoàn cuốn tăng võng ra đi tôi hãy còn mê man, anh em từ giã tôi không hay biết gì hết.

Tôi định ngồi hẳn dậy, nhưng cái xương sống của tôi cứng đơ cứng ngắt như một khúc xương liền không có khớp. Nhưng tôi quyết không chịu thua, tôi nghếch đầu lên mép võng và lần này đến phiên cái cổ của tôi không giữ được cái đầu tôi nữa. Tôi gục hẳn xuống, mắt tôi nhìn mặt đất xoay vần. Tôi nôn, nhưng trong bụng tôi không có gì để mà nôn!

Thu vội vã ôm đầu tôi đặt vào võng. Bất giác tôi gào lên:

- Đ.m. chúng nó!

Quả tình tôi không thể im lặng lâu hơn được nữa. Đó là kết quả sự đè nén lâu ngày, kết quả của lòng tin bắt buộc.

Tôi thấy ân hận vì đã bôn ba hơn ba mươi ngày để đến đây, trên quãng đường không có cột số, cũng không có tất cả những gì cần thiết tối thiểu cho người đi đường. Nằm giữa chốn đây không có một tấc sắt trong tay, lấy gì bảo vệ thân sống chống lại cọp hùm rắn rít, chống lại những tên “bê quay” đã trở thành thổ phỉ còn hung ác tàn nhẫn hơn cả bọn phỉ mà người ta thường nguyền rủa. (Chữ “bê quay” này chốc nữa thì tôi sẽ giải thích, dẫn chứng với hằng trăm sự việc ly kỳ.)

Cha mẹ tôi sinh tôi ra cho tôi theo cách mạng chín năm chống Pháp rồi cho tôi đi ra Bắc để xây dựng lực lượng đặng trở về Nam thống nhất đất nước với lòng tin tưởng vô biên, có ngờ đâu tôi được đối xử như thế này? Tôi không còn nghĩ đến cái điều vinh quang mà người ta gắn cho tôi lúc tôi sắp ra đi – cái vinh quang chói lọi tưởng chừng bằng tất cả sự vinh quang của dân tộc ta trong thế kỷ đau thương này góp lại – nhưng lạy Chúa, con lạy Đức Mẹ nhân lành, nếu có thể, con xin quỳ gối mà trả lại tất cả cho người đã ban phát cho con, hoặc con xin lấy nó ra làm hiện vật để đánh đổi một sự nhỏ hơn nó gấp vạn lần, đó là tránh cho con cơn sốt sắp tới đây mà con cảm thấy nó đang lù lù đi tới.

Bây giờ tôi mới biết sốt rét rừng, mới hiểu tại sao người Pháp có đồn điền cao su trên rừng luôn luôn bao lưới tất cả các cửa ra vào, tôi hiểu rồi, hiểu rồi, hiểu bằng chính sự chịu đựng của thân xác tôi.

Trời ơi! sốt gì mà sốt vậy! Chỉ một cơn sốt thôi mà tôi cảm thấy tôi không còn cái gì nguyên vẹn trong người cả, từ lá phổi buồng tim, bộ óc cho đến những khớp xương, làn da và đến từng lỗ chân lông một. Tất cả đều hở ra, ọc ạch, xiêu vẹo.

Trời đất ơi! sốt gì mà sốt thế! Chỉ một cơn sốt thôi tôi đã nhìn trời ra màu xám ngoẹt. Từ vui đến buồn, từ buồn đến bi lụy. Tôi bây giờ đang gục xuống dưới cái lưỡi búa bi lụy của chính mình. Tôi chỉ còn nghĩ một điều: hận.

Tại sao người ta ném một cán bộ hai mươi năm chiến đấu, mười lăm tuổi đảng vào khu rừng này mà không cho một bước rút lui phòng thủ, không cho một thứ vũ khí trong tay? Con người là vốn quí nhất, Lê Nin hay Mác đã nói vậy, và Đảng Lao Động cũng lập lại câu đó bất cứ ở đâu.

Thì vỡ lẽ ra ở trên con đường Trường Sơn này cái vốn đó được đem ra xài với sự trân trọng nhất. Như hiện giờ nầy đây, như cái thằng tôi hiện giờ đang nằm đây này!

Mờ mờ trước mắt tôi, Thu vẫn ngồi ủ rủ, không rõ Thu nghĩ gì. Tội nghiệp! Cô nàng chắc hẳn là nhớ Hà Nội lắm. Gái Hà Nội mà! Xa Hà Hội một ngày đã thấy mất đi một tí gì trong người rồi, một tí duyên dáng, một tí lẳng lơ, một cái ý thơ mộng trữ tình do phong cảnh, do sinh khí, do cái đất ngàn năm văn vật gây nên, hiến dâng và thấm vào mà không người con gái Hà Nội nào không có, và không một người con gái nào có.

Thu như con cá nước ngọt bị ném ra biển.

Tôi không nhìn cũng biết cái chân Thu như thế nào rồi. Cái chân ngọc ngà, xoay bật như lò xo trên sân khấu phẳng như mặt hồ Gươm và mịn như nhung. Thu hãnh diện vì cái đẹp của đôi chân, cái tài ba của chúng nhưng bây giờ đây Thu lại nhìn nó như một tai vạ vô cùng. Đây! Thu cũng chính là cái “vốn quí” được sử dụng vô cùng trân trọng đấy!


CHƯƠNG 4


Những người nằm rải rác chung quanh tôi im lìm. Vài tiếng khua ga-men, vài tiếng ho húng hắng, không ai nói chuyện vói ai, tôi cũng không muốn tìm hiểu họ. Rồi tôi lại thiếp đi trong cơn mê sảng khác.

Khi tôi bừng mắt ra lần thứ hai thì tôi không còn trông thấy ai chung quanh tôi nữa. Đột nhiên tôi nhớ tới Thu, nhớ một cách ghê gớm mà tôi không ngờ tới. Khi có Thu ở bên cạnh tôi không chú ý gì cả, đôi khi còn cau có và bực mình vì sự rên siết bất mãn của Thu, tưởng chừng như không có Thu bên cạnh tôi thì sung sướng lắm. Chẳng dè vắng Thu thì tôi thấy thiếu thốn quá đổi. Nhưng vì không thể đi đâu để tìm Thu và cũng không còn sức há mồm ra mà gọi một tiếng to.

Bỗng nghe có tiếng xì xào ở ngay đầu võng của tôi. Tôi cố lấy hết sự sáng suốt để xem ai đang nói chuyện.

Một người nói:

- Trạm mình đâu có thuốc gì ngoài kí-nin. Đây là cái ải địa đầu do đại tướng Đòn Xóc và Thương Hàn chống giữ mà lại! Ai qua ải mà không khỏi nộp thuế chứ?

Một người khác chép miệng:

- Chịp! Bỏ thì thương mà vương thì tội .. cho mình. Mình lo cho mình còn không nỗi mà định cõng khiêng ai?

- Cái trạm mình là cái trạm “ó đâm”. Cứ lâu lâu lại phải chôn một cái xác vô thừa nhận.

Hình như có một người hút thuốc cho nên tôi nghe vài câu lại ngưng một chốc. Câu chuyện lại tiếp:

- Mới cách vài hôm đây mình khiêng thằng y sĩ ăn vỏ khoai mì chết thì hôm nay lại có thằng này.

- Thằng này là thằng nào? – người kia hỏi.

- Thằng nằm trên võng đây chớ còn thằng nào nữa? Thằng này chắc chết quá! Tôi sờ trán nó lúc nãy thấy nó sốt ít nhất là 40 độ, mê man nói sảng cái gì lung tung.

- Ở đàng kia cũng có một thằng nằm liệt, không ai cơm cháo hết. Đoàn điếc gì mà bỏ đồng đội vậy!

- Thằng này có một con nhỏ ở lại nuôi.

- Nuôi cái con khỉ! Con nhỏ văn công trặc chân ở lại đó. Mầy có nuôi rước về mà nuôi! Mẹ kiếp, ở giữa chốn này mà được một con như vậy mày hỉ? Chịp! Chịp!

Hai đứa nó cười hô hố với nhau một chập rồi lại tiếp tục:

- Thằng này chắc ác tính quá!

- Không hiểu tại sao ở đây hễ sốt là hết phân nửa bị ác tính.

- Chịp! Không biết gia đình nó ở đâu.

Rồi thôi, im bặt. Chúng nó biến mất, bỏ tôi nằm lại một mình với câu chuyện của chúng còn vang lên trong tâm trí tôi.

Tôi bình tĩnh vô cùng, bình tĩnh tới mức độ tôi không còn hiểu tại sao tôi lại bình tĩnh đến thế nữa. Bình tĩnh để mà đối chiếu cái bản thân của mình với sự nhận xét của hai thằng kia. Tôi biết tôi chưa chết, khó chết nhưng tình trạng rất nguy kịch. Tôi cũng không muốn nói điều đó cho Thu biết. Để chứng minh một cách hùng hồn là tôi không thể nào chết được và để cho Thu không cảm thấy tôi đã trở thành gánh nặng cho Thu, tôi đưa tay nắm mép võng và cố cất mình lên. Tôi đã ngồi dậy được.

Một cách nặng nhọc, tôi giăng hai tay ra nắm hai đầu võng, cái võng lắc lư làm cho tôi thấy vùng đất trước mặt tôi cũng nghiêng ngữa. Tôi nhắm mắt lại để định thần và cố giữ thăng bằng trên chiếc võng.

Đấy, tôi có làm sao đâu. Tôi vẫn ngồi võng chơi đây, mắt tôi vẫn nhìn chung quanh mọi người và cảnh vật. Đầu óc tôi còn phản ảnh mọi hoạt động bên ngoài. A ha! như vậy là tôi không có việc gì cả. Đồ láo! Tôi đâm ra ghét cay ghét đắng hai thằng vô loại vừa rồi. Chúng chỉ ném ra mấy câu vô trách nhiệm chơi rồi bỏ đi không hề quan tâm đến một kẻ mà chúng cho rằng chắc chết.

Trên rừng này người ta sống chung với những giống vật bốn chân, có lẽ vì thế người ta cũng mất đi quá nhiều nhân tính.

Tôi muốn chứng minh một mức cao hơn nữa rằng tôi không thể chết. Tôi từ từ thò một cái chân xuống đất đặt bàn chân vào chiếc dép đã bị nhiều lá vàng và bùn đất phủ lên. Tôi nhìn theo bàn chân tôi theo cái cử động đó. Tôi nhìn rõ bàn chân, nó nối liền với ống chân tôi bởi cái cổ chân, trên cái cổ chân là ống chân rồi đầu gối, rồi bắp đùi. Tất cả những bộ phận đó được gắn liền vào người tôi bằng cả một hệ thống máu thịt, đúng là cái chân tôi. Vậy bàn chân vừa đặt trên chiếc dép đây cũng là bàn chân của chính tôi chứ đâu phải là bàn chân nào khác. Vậy mà trời ơi, tôi cứ nghĩ là bàn chân của ai chứ không phải là bàn chân của tôi.

Nó không giống bàn chân của tôi hôm qua tí nào. Nó gầy khô, nó vừa xanh vừa vàng. Nó đúng là bàn chân của người chết. Nhất là khi tôi đặt bàn chân xuống chiếc dép thì nó không truyền lấy một tí cảm giác nào lên óc tôi.

Tôi vụt nghĩ: tôi đang chết, bắt đầu từ bàn chân?

Và để chứng minh rằng sự thật không phải như vậy tôi lại thọt nốt bàn chân kia vào dép. Quả thật, tôi không có sự hiểu biết gì qua sự đụng chạm của bàn chân vào dép.

Bực mình, tôi đứng phắt dậy để đi, để đi thật nhanh, để đi lại lều của Thu và để làm mọi việc khác với hai bàn chân, hai bàn tay của tôi. Hai cái bàn chân tôi đâu có nghe theo ý muốn của tôi. Chúng cứ cứng đờ ra như cặp chân gỗ, tôi đã ngã quỵ xuống ngay bên võng nhu một cái áo rũ.

Mồm tôi lẩm nhẩm như lời trối trăn sau cùng:

- Đ.m. chúng nó!

Tất cả mọi hệ thống thần kinh tôi đều tê liệt hoàn toàn, nhưng trí óc của tôi hãy còn một đốm ánh sáng bằng đầu cây kim để tôi ý thức rõ rệt rằng tôi nói câu đó – không một tí gì vì mê sảng và bây giờ đây dù cảnh rừng núi đối với tôi đã lùi về dĩ vãng quá xa vời, nhưng tôi vẫn còn nghe lại câu đó với nét mặt của một kẻ hấp hối của tôi lúc bấy giờ.

Tôi biết rằng tôi đang tha thiết muốn sống, mong ước được sống. Tôi sợ tất cả những gì gợi cho tôi cái chết, nhất là cái gì làm cho tôi nhớ tới những cái chết mà tôi trông thấy trên đường này. Ấy vậy mà có những người lại muốn chết, lại tự hủy hoại thân thể họ một cách hết sức tàn nhẫn và ý thức hẳn hoi.

Tôi đã chứng kiến một việc như vậy ở trạm vừa qua.

Số là hôm đó đường dây bị kẹt, khách không đi được cho nên anh giao liên đưa cả đoàn vào một cái khe suối để cho chúng tôi tạm trú.

Nhiều người thuộc địa dư bảo rằng đây là vùng Ba Na, Ba Ná gì đó, mà cũng không biết đúng hay không đúng. Chỉ biết rằng hằng trăm con người bị nhét vào trong một cái khe suối mà hai bờ suối dốc đứng lên, cây cối rậm rì, không thể nào cư trú được. Cho nên người ta chỉ treo võng ven bờ suối. Nội cái chuyện đại tiện không thôi cũng gây thành hằng trăm vụ cãi nhau hàng ngày. Rồi thì chuyện tát suối bắt cá, chuyện lấy súng bắn cá, chuyện đàn bà con gái tắm rửa, giặt quần áo trên dòng… Sự phức tạp xà ngầu không kể xiết.

Trong cái bối cảnh như vậy thì tôi lại gặp một anh thanh niên chán đời đến mức độ kinh khủng. Ban đầu tôi cũng không rõ chàng ta đang sống trong tâm trạng đó.

Anh ta nằm trên một phiến đá to bằng mặt bàn, chung quanh cắm những cành cây đã héo. Bên cạnh anh ta là một khẩu AK mà nòng súng đã rỉ sét vàng oách. Người và của trông có vẻ xa lạ như không hề có một sự liên quan mật thiết nào với nhau. Tôi vừa đi qua khỏi anh ta, thì có người gọi tôi tới và nói ngay:

- Đồng chí có tài gì, giác ngộ dùm anh ấy với!

- Giác ngộ gì? – Tôi hỏi.

Anh bạn nói với tôi:

- Đồng chí vừa trông thấy cái anh chàng nằm trên phiến đá đó phải không? Anh ta đang tự tử đấy!

Tôi hỏi:

- Tự tử gì? Nằm ngủ ngon lành như thế mà?

Anh bạn lại giải thích tiếp:

- Không rõ anh ta ở đơn vị nào, mà khi tôi vô đây đã trông thấy anh ta nằm ở đấy rồi. Anh ta đã đổi hết tất cả mùng, chăn, vải bạt, dép.. tất cả cái gì đổi được anh ta đều đem ra đổi lấy thức ăn. Không tin đồng chí lại xem cái ba-lô của anh ta xem. Không còn món gì trong đó. Vừa rồi có người kể lại cho tôi nghe rằng anh ta vô xóm người thiểu số ở chung với họ cả tháng trời. Chỉ có cây súng không đổi được nên mới còn đó thôi. Anh ta tự vận bằng cách cứ ngủ trần như vậy cho muỗi đòn xóc cắn cho sốt rét.

Tôi rùng mình. Trời đất! Tự tử thiếu chi cách mà chơi cái trò đó. Thiệt là anh chàng này quá bất công với cái thể xác của chàng ta.

Cho muỗi đòn xóc cắn thì sẽ sốt rét. Đó là điều không thể khác đi được. Ở trong cái khe suối này, không khí dày đặc thán khí như trong một cái hang hoang chưa ai đến. Đá xám xịt, cũng có vẻ mục ra như gỗ mục. Đây là cái ổ sốt rét và thương hàn. Có người vừa sốt vừa bị thương hàn một lúc. Chỉ cần vài chú đòn xóc chui vào màn là mình đủ rước lấy cơn sốt rồi. Bây giờ nhắc lại chuyện muỗi đòn xóc chích, tôi hãy còn rùng mình.

Anh bạn không quen bảo tôi:

- Đồng chí, tôi coi đồng chí có vẻ chính trị lắm. Đồng chí hãy đến tìm lời khuyên dứt cho anh kia bỏ bớt cái tư tưởng bi quan đi. Đến đây đã được một phần đường rồi, hãy ráng chút nữa. Nếu không chịu đi thì xin dừng lại nghỉ, tội gì lại đày đọa tấm thân cha sanh mẹ đẻ của mình?

Tôi đã từng thấy những bộ xương rủ trong hốc núi, những cái xác nằm nguyên trên võng có mắc màn, kiến bu đen hai con mắt nhưng chưa thấy anh chàng nào tìm cái chết kỳ lạ như vậy. Nghe anh bạn nói xong tôi bèn quay trở lại, đến ngay bên phiến đá, tôi ngồi ngay bên con người kỳ cục kia.

Tôi mở đầu bằng câu nói xã giao:

- Này! Anh bạn người Hà Nội phải không? Xa Hà Nội từ tháng nào? Tôi cũng người Hà Nội đây! Dậy nói chuyện chơi.

Nghe có người đến quấy rầy, anh thanh niên mở mắt ra một cách nặng nhọc và nhìn tôi, nhưng chỉ nhìn tôi một thoáng rồi nhắm lại ngay dường như sự có mặt của tôi bên cạnh anh ta là thừa, là vô lý.

Tôi nắm chân anh ta và lắc mạnh:

- Dậy chơi mà! Đi, dậy chơi! Ban ngày mà ngủ, sốt chết!

Anh thanh niên buộc lòng phải ngồi dậy. Đầu tóc ủ rủ, mặt mũi hốc hác. Anh ta khẽ lắc đầu, tỏ vẻ chán nản đến cực độ.

Tôi vào đề ngay:

- Tôi đã nghe anh em chung quanh đây kể về anh rõ ràng. Tôi cũng vô Nam chiến đấu như anh, cho nên tôi xin khuyên anh không nên làm như thế, thiệt thân mà còn ảnh hưởng xấu cho đơn vị.

Anh thanh niên vẫn không nhìn tôi và lại lắc đầu. Tôi lại cố thuyết phục anh ta với niềm tin rằng lời lẽ hay ho của mình sẽ dựng anh thanh niên trở đậy, sống như mọi người. Tôi triết lý cuộc sống, lấy kinh nghiệm bản thân, lấy thực tế trên đường dây và lấy cả lý tưởng cao đẹp của thanh niên ra mà tương vào tai anh thanh niên. Tôi nói rất dài, rất là dài. Có thể mất cả tiếng đồng hồ.

Thấy anh ta ngồi lặng thinh, tôi cho rằng anh thanh niên đã thấm bài. Mà thật, đang ngồi lặng lẽ như tượng đá, bỗng anh ta đứng phắt dậy xốc ba-lô lên vai và cầm lấy súng.

Tôi nói tiếp một cách hăng hái:

- Tôi có quen trong trạm, nếu anh có mất hết đồ đạc thì tôi đưa anh vô đó, người ta sẽ cấp lớp mới cho anh. Rồi thì anh trở về đơn vị với anh em.

Nói xong, tôi lôi tay anh thanh niên cùng đi.

Tự nãy giờ anh thanh niên không nói một tiếng nào. Dọc đường tôi vẫn thuyết phục anh ta bằng đủ thứ lý luận. Nom anh cũng có vẻ xiêu lòng.

Khi hai đứa tôi đi qua mặt những người nằm bên bờ suối thì ai nấy đều nhìn tôi với những cặp mắt thán phục. Tôi vô cùng sung sướng vì đã làm được một việc không ai làm nổi. Tôi thấy đau đớn thật sự. Vì sao anh thanh niên này đi tìm cái chết vô lý?

Đến chỗ rẽ, tôi bảo:

- Anh đi theo con đường này độ 30 phút sẽ đến trạm. Anh trình bày hoàn cảnh của anh rồi sẽ được cấp phát. Nhé! Anh nên nghe lời tôi.

Anh thanh niên cũng không nói rằng mà cứ lầm lủi đi theo ngã tôi chỉ. Tôi đứng nhìn theo. Thật là thối cả ruột gan. Cái ba-lô lép kẹp dán sát vào lưng anh ta, cái hộp lon treo ở phía sau bằng một sợi dây kẽm, có lẽ anh dùng để nấu cơm, cứ mỗi bước đi của anh, nó lại đập vào ba-lô đánh cạch một tiếng làm như một thứ nhạc điệu mỉa mai.

Độ nửa giờ sau, khi xong việc tôi trở lại, đi ngang qua đường cũ thì mọi người cười rần lên. Tôi dừng lại và nói một cách tự hào:

- Đó! Các đồng chí có thấy không? Tôi dựng anh ta dậy rồi đó!

- Ừ! Đồng chí công tác chính trị tài thật!

- Từ Hà Nội vô Vĩnh Linh anh ta nhảy tàu 3 lần, đều bị bắt lại hết đó.

Mỗi người nói một câu, nhưng nụ cười của họ có vẻ bí hiểm trêu chọc chứ không tán thưởng việc làm của tôi vừa qua.

Quả thật, khi tôi trở lại phiến đá, thì hỡi ôi, giữa những cành cây khô héo một thân hình héo khô không kém nằm dài đểnh ra đấy với tất cả sự chán chường, bất chấp những cặp mắt của người qua kẻ lại.

Tôi hơi giận, tôi ngồi xuống và nói:

- Tôi đã bảo, sao anh không nghe lời tôi vậy hả anh bạn?

Anh thanh niên lập tức ngồi dậy và nói năng sốt sắng chứ không đến nỗi tệ như lúc nãy. Anh ta nói với tôi những lời tâm sự của một người bạn:

- Tôi thú thật với anh là tôi rất cám ơn anh. Tôi biết anh rất thương tôi. Nhưng tôi đã quyết định rồi, tôi quyết định hy sinh tôi. Tôi biết làm như vậy là bậy bạ, nhưng tôi không muốn cái gì hết, ngoài cái chết. Tôi muốn xem cái chết từ từ đến với tôi, vuốt ve tôi hoặc nhai tôi ngấu nghiến. Tôi bây giờ là một tế bào chết của cuộc cách mạng này. Anh có xem phim “Tiểu Thư Mary” của Liên Xô không? Pê-sô-rin xem cái chết như một sự tất nhiên “như một cổ xe song mã đến rước mình sau buổi dạ hội chán ngán…” Ở đây tôi cũng muốn một sự gì giống giống như vậy…

Anh thanh niên nói tiếp:

- Tôi xin lỗi anh vì lúc nãy tôi đã lừa anh. Tôi nói thật, tất cả những lời anh nói với tôi, lúc đầu tôi đã đều nghĩ tới cả, nhưng tôi ngấy lắm rồi cho nên, để màng tai tôi khỏi bị những lời nói như hòn sỏi rơi vào làm nhức nhối, tôi vờ nghe nghe lời anh, một là cho anh vui lòng, hai là tôi khỏi phải nghe theo.

Tôi không còn nói thêm câu gì nữa. Tôi đành chịu thua trước sự quyết định quá vững chắc của anh thanh niên. Đúng là hết chỗ nói.

Từ đó về sau tôi không gặp lại anh thanh niên đó nữa


CHƯƠNG 5


Bây giờ là tháng năm, con én ở vùng rừng núi nầy không thấy đưa thoi dệt mộng cho ai cả bởi vì màu trời thâm thấp chì chì như cái bát xám ngắt úp lên trên đầu chúng tôi, lúc nào cũng cho chúng tôi cái cảm giác là trời sắp tuôn xuống những trận mưa tràn trề ngập lụt.

Cơn sốt vẫn kéo dài. Lỗ chân lông của tôi hở ra hút nước vào làm cho thân thể tôi giống như một cục cơm mắc mưa vậy. Tôi cũng không còn biết so sánh thân thể tôi với cái gì cho đúng. Tôi chỉ cảm thấy nó sắp rả ra từng mảng một.

Như vậy là tôi ngã sốt vào những ngày cuối xuân 1966, một cái năm còn đầy những dư âm của các trận Bình Giả, Đồng Xoài, Pleime… , cái năm đầy sự kiện lịch sử của nước ta, vào những ngày tôi hy vọng sẽ được nhìn thấy lại quê hương và gia đình tôi trên mặt đất.

Cơn sốt đang hoành hoành tôi vô kể. Trong tôi mùa xuân đang chống lại cơn sốt, còn cơn sốt thì muốn vươn tới tràn ngập mùa xuân. Cuộc vật lộn của những “kẻ ngoại lai” đó làm cho tôi rã rời tứ chi.

Đêm qua tôi nằm giữa mưa. Các bạn ơi, ai đã đi rừng đi núi, hãy cùng tôi nhớ lại những đêm mưa rừng. Chao ơi! Mưa gì mưa thế, mưa nặng hạt, mưa mau, mưa dai dẳng, mưa mịt mùng. Giữa một cái trời mưa như vậy mà con người nằm im chịu dưới một cái tăng bốn bề gió táp. Mưa tạt hết hướng nầy đến hướng khác. Có bao giờ giọt mưa rơi thẳng góc xuống nóc tăng cho mình nhờ. Bao giờ nó cũng rơi xiên, rơi xéo lọt vào màn, vào võng mình. Cho nên tấm tăng căng trên đầu mình cũng chỉ là một mái nhà tượng trưng, một thứ vinh quang cụ thể của cấp trên ban cho mình mà dù muốn dù không mình cũng phải hưởng (!).

May sao tôi còn một người bạn, ngoài Thu. Người nầy cũng nằm một võng với tôi, không nói những lời tâm sự mà những câu lập trường, những câu hứa hẹn chiến thắng ngày mai.

Thật khó mà tưởng tượng được rằng tôi đã trải qua những cơn mưa như vậy. Mưa vây kín cả người tôi rớt vào ngực và mặt tôi những giọt băng giá và vào tâm tư tôi những đau buồn vô hạn. Cây trên rừng bắt đầu gãy đổ rắc rắc ầm ầm quanh tôi không ngớt. Tôi lại bị cái tai nạn trời giáng đó đe dọa. Tôi phải dựng cả cái thính giác tôi dậy để lắng nghe để đối phó hoặc để trốn thoát nếu tôi cảm thấy trời giáng xuống cái con người bất hạnh của tôi.

Tôi nhìn ra trời. Thấy gì đâu, một màu đen dày đặc như một bức tường sơn hắc ín dựng ngay trước mũi tôi. Suối bắt đầu tràn nước đổ ầm ầm dưới chân tôi. Tôi không trông thấy nhưng tôi biết ở trên tảng đá mà anh em thường tới đó múc nước hoặc giặt giũ, nước đang cuộn lên trắng xoá.

Tôi thấy tôi bé lại như một hạt mưa rơi xuống từ vô tận, vỡ ra và trôi theo cái dòng nước sôi ấy. Và đời tôi đâu còn biết bám tựa vào đâu nữa.

Người bạn của tôi như muốn uốn nắn lập trường tư tưởng của tôi đã không ngớt nói với tôi: “Các đồng chí là những người yêu quí của Miền Nam, đi giải phóng Miền Nam khỏi sự áp bức bốc lột của đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng là chính quyền Saigon. Các đồng chí mang trên vai sứ mạng vĩ đại của dân tộc. Chiến thắng đã ló dạng kia rồi!”

Từ lâu tôi không còn thích nghe những lời na ná như vậy nữa. Tôi cũng không còn suy nghĩ theo cái Kim Chỉ Nam đó nữa. Tôi đã nghĩ theo cái sự thông minh mà cha mẹ tôi đã cho tôi, chớ không phải là kẻ nào khác, dù kẻ đó nó là ai đi nữa.

Người bạn này, tôi mang theo cũng là một sự bất đắc dĩ, bởi vì không ai muốn đeo trên lưng, vác y trên vai, hoặc đèo y bên hông mình nữa. Tất cả đều chán chê y cho nên y mới còn ở lại đây mà làm bạn với thằng bất đắc chí này.

Nói vậy nhưng cũng có nhiều lúc y cho tôi những lời an ủi, những tiếng tơ lòng khá êm dịu. Chính vì thế, chính vì có những khi y nói khác hẳn tiếng nói của Đảng mà tôi còn giữ y lại bên người tôi cho đến ngày hôm nay.

Hay tôi cứ nói quách ra rằng đó là cái ra-đi-ô “ết-tăng-đa” mà nhà trường đã phát cho chúng tôi trước khi lên đường. Một cái ra-đi-ô trăng-si-to như vậy ở Hà Nội đâu có phải dễ kiếm. Ít ra anh phải đi ngoại quốc và với mọi sự khéo léo luồn lọt thì anh mới mang nó nhập nội miền Bắc được.

Ấy vậy mà nằm trong tay tôi giờ đây, chưa chắc tôi sẽ giữ nó đến ngày mai. Cái bộ pin Văn Điển trong ruột nó hầu như đã hết điện, cũng như những con người đi tới đây thì hết sinh lực vậy.

Hai tiếng Văn Điển đến với tôi trong lúc này thật là điều không hay ho chút nào. Bởi nó gợi lên cho tôi cái tên của một bãi tha ma: nghĩa trang Văn Điển.

Cái khí lạnh của Trường Sơn cùng với cái khí âm của nghĩa trang Văn Điển đè nặng, vây riết lấy tôi.

Hiện lên trước mặt tôi hàng ngàn ngôi mộ với những tấm mộ bia cái thấp cái cao, cái mới cái cũ, cái xanh cái vàng. Đó là nơi gửi xương thịt của một số cán bộ Miền Nam tập kết ra Bắc.

Ngoài đó những người bệnh tật hoặc có tuổi hết mong ngày về xứ thường than thở với bạn bè :-“Chắc tao phải ở lại Văn Điển rồi!”

Tôi thì tôi không phải ở lại Văn Điển nhưng tránh khỏi cái Văn Điển của Hà Nội, tôi lại phải nhìn thấy cái Văn Điển của Trường Sơn, cái thứ Văn Điển không có mộ bia và không có khói hương trống kèn . Hay nói đúng ra Trường Sơn giờ đây đã trở thành một Văn Điển kéo lê thê hằng ngàn cây số.

Chao ôi! Trong một cơn mưa mả nảy lên trong tôi bao nhiêu tâm sự, bao nhiêu dằn vặt. Bất giác tôi nghĩ đến chiếc xe tang với những nét sầu tủi của Huy Cận : “… thì ngựa ơi đi nhịp đầm chó nhảy, kẻo thân đau chưa quên nệm giường đời. Ai đi đưa xin đưa đến tận nơi…” Chập chờn trước mắt tôi một cái đám ma …

Nghĩa là người chết được nhiều người đưa đi tới phần mộ, cũng có những người đi nửa chừng rồi trở lại.

Còn tôi, nếu tôi nhắm mắt lịm luôn giữa cơn mưa này thì ai hay? Ai đưa? Ai quay lại và đưa tôi về đâu ? Cái nơi tôi muốn đến thì ngoài tôi ra không ai đưa tôi đến được, còn cái nơi tôi đến được lại là cái nơi tôi không muốn đến. Chết đi giữa lúc trong lòng còn mang nặng bao nhiêu hoài bảo về quê hương, về sự nghiệp thì xót xa quá.

- Chắc thằng này chết !

Câu đó lại văng vẳng bên tai tôi như một sự đánh giá xác thực vô cùng về bệnh trạng của tôi. Trời mưa ghê quá, đang khi tôi thèm nắng ấm, thèm nhìn thấy mấy con gà mổ lúa trên sân, những chú gà con liu chiu lít chit bên mẹ, thì tôi lại phải chịu đựng một cơn mưa dai dẳng nhất vào một đêm dài nhất của đời tôi.

Không biết tôi vặn đài hồi nào mà tiếng nói từ trong loa cứ rì rì, tiếng của người con gái cố hò hét, nhưng đã mõn hơi, giống như một tiếng nói thoát ra từ một nấm mộ hoang đâu đây. Tiếng nói là dấu hiệu của sự sống nhưng ở đây nó lại làm cho tôi nghe cái chết đến càng gần hơn.

Tôi nằm trên chiếc võng kaki dày cộp như da trâu này ngày đêm không lúc nào khô ráo vì trời cứ mưa lê thê, mưa rất to. Sốt mà nằm trên chiếc võng như vậy có lẽ không nên thuốc gì, nhưng nếu tôi không nằm ở đó thì tôi nằm ở đâu? Không thể có nơi nào khác cho tôi nằm cả. Cho nên tôi phải nằm trên cái võng ướt đó mà thôi.

Thu đã dời võng nàng lại gần tôi, hai cái võng song song nhau. Khi tôi tỉnh ra nàng kể lại rằng có lần tôi mê sảng bò xuống bờ suối mà uống nước rồi nằm gục trên bờ suối đó. Nếu nàng không trông thấy thì không hiểu tôi sẽ ra sao? Chính ra cũng không phải nàng trông thấy mà một gã nào đó trông thấy và gọi nàng ra. Không biết làm sao mà Thu dìu tôi lên được với cặp chân bất đồng của nàng? Gã nào đó trông thấy tôi nằm đó cũng không buồn ngó tới. Cuộc đời ở đây đã đi đến sự vô lý cùng tột.

Tại sao sốt mãi mà không cắt được cữ sốt ?

Tại sao phải ăn lạt hằng tháng trời, không có tí muối ? Anh phấn đấu muốn đi, anh không thể đi nổi. Đó là chưa nói tới chứng bệnh phù thũng mù loà đến với anh. Nhiều người đã trở thành quáng manh, chỉ cần có vài viên dầu cá thì mắt sáng lại, nhiều người thũng chỉ cần vài chục viên sinh tố là khỏi ngay. Thế mà không có. Không có thật tình.

Sự hy sinh là một điều cao quý. Đến một mức độ mà con người còn chấp nhận thì nó còn là một sự cao quý nhưng một khi bắt buộc người ta phải chịu đựng quá sức thì nó trở thành một sự dã man.

Nằm giữa mưa, giữa đêm dày đặc như vậy mà nghe một bài xã luận của đài Bắc Kinh như tôi vừa nói trên kia thì cả một sự đại bất hạnh cho một anh cán bộ giải phóng. Tôi đâu có muốn nghe, nhưng từng tiếng nói của cô xướng ngôn viên cứ rơi vào màng tai tôi như những hạt sỏi rơi trên mặt trống căng thẳng. Những tiếng dội của nó bốc lên tận não cân của tôi vốn đã vàng úa vì kí-nin làm cho nó phải suy nghĩ- những sự suy nghĩ bắt nguồn từ bài chửi trên đây, những sự suy nghĩ vơ vẩn lẩn quẩn, cùng quẫn, miên man không dứt mạch , không có câu giải đáp.

Mưa vẫn rơi. Những hạt mưa nặng tâm tư rơi trên nóc tăng lộp độp rào rào không át nổi tiếng nói ri rỉ từ đài phát thanh Bắc Kinh do cái ra-đi-ô này truyền lại cho tôi.

Con suối từ chân tôi cứ tràn trề. Nước đổ ầm ầm. Những thân cây từ trên nguồn cuốn phăng phăng theo nước chảy xuống tìm lối thoát va vào những gộp đá làm nên những tiếng động kinh hồn. Nước như bị chặn lại ở quảng hẹp nên nó gào lên như sôi, như giận.

Giận ai hỡi suối ngàn? Từ nguồn, mi lao xuống như một thằng điên, thằng dại. Lao đầu vào tất cả nhưng không vỡ sọ nát đầu, mi vẫn còn sống nhăn ra với những nụ cười trắng xoá, kiêu ngạo khinh đời. Mi giận nỗi gì, mi ức nỗi gì? Chẳng những người ta xua mi đi trên con đường thiên lý này mà chính mi cũng tự nguyện tự hào vì đi theo tiếng gọi thiêng liêng. Sinh lực của mi bồi đắp da thịt cho cỏ cây, cho cả người và vật, làm vinh thân phì gia hàng nghìn kẻ cao sang quyền quý.

Khi mình còn tràn trề sinh lực hữu ích cho đời thì thiên hạ đến với mi, quỳ gối bên mi mà uống lấy, mà múc lấy nguồn sống của mi ban phát cho họ với lòng quảng đại vô biên. Và chính họ cũng không cần biết ơn kẻ đã làm lợi cho họ vì họ luôn luôn nghĩ rằng Trời sinh mi ra để làm lợi cho họ mà thôi. Nhưng đến khi sức mi đã cùng, lực mi đã kiệt thì chẳng ai còn nói tới mi nữa. Họ dẫm trên người mi, không hề biết đây chính là kẻ làm giàu cho họ, vun bồi cho cái ghế của họ lên cao chót vót. Mà đúng vậy, họ đến với mi làm gì khi mà họ không còn hút của mi một chút sinh lực nào nữa? Vì vậy suối ơi! Khi mi còn thanh xuân, còn tràn trề sinh lực thì đừng phung phí nó, đừng có bốc tếu, đừng có dễ nghe lời. Người đời lợi dụng vô cùng. Maxime Gorki đã từng nói: “Vinh quang thay con người! Hai tiếng nghe vang vang kiêu hãnh….” Nhưng cũng chính ông ta đã viết rách toạc cả mặt giấy trắng: “… Chó đểu là con người!” Người ta biết tính vui bộc lộ sôi nổi của mi. Người ta chỉ dí một phát điện vào cái lòng “tự hào” của mi thì mi ào ào tuôn ra tất cả lưu lượng của mi không chừa lấy một giọt để nuôi thân. Rồi một ngày kia khi đã dốc cạn cả sức trai ra rồi thì mi chỉ còn là bộ xương rắn chết khô ngoằn ngoèo ở giữa sườn dốc chân núi trước những con mắt lạnh nhạt ngó nhìn.

Tôi nghĩ miên man vô bổ và phản động quá nữa là đằng khác nhưng tôi không thể bắt tôi dừng – nhất là trong một đêm mưa cô đơn mà hai lỗ tai phải hứng đầy những tiếng chửi. Chửi nhau, điều đó đâu có gì hấp dẫn, nhưng những lời qua tiếng lại động đến trái tim tôi, một trái tim đã tím bầm vì bị nhồi nặn, dằn vặt, ê chề chỉ còn lại một tí mảnh tươi hồng để nuôi sống cái cơ thể tàn rụi của tôi.

Nhưng giờ đây cái mảnh hồng huyết cầu ấy cũng đã bị đám siêu vi trùng nuốt phăng đi vào cái dạ dày trăm túi của chúng. Những hạt mưa to rơi lộp độp trên nóc tăng làm cho tôi có cảm giác đó là những tràng bom B52, mà tới đây may phước cho tôi chưa được nếm lần nào.

Nhưng Lạy Chúa tôi, không có tràng bom nào ác liệt hơn những lời chửi rủa hằn học của cô xướng ngôn viên đài Bắc Kinh. Cô ta đang thay mặt cho hàng chục triệu đảng viên Đảng Cộng Sản Trung Hoa nói tiếng nói Mao Chủ Tịch, kết tội Chủ Tịch Lưu Thế Kỳ – một người có 50 tuổi đảng giờ đây trở thành tên phản đảng. Thật khó hiểu hơn cả những chuyện Tào Mạnh Đức thích khách Đổng Trác, chuyện Bàng Quyên chặt chân Tôn Tẩn và chuyện Ravaillac ám sát Henri IV.

Ở thế giới Tư Bản, và ở thế giới Cộng Sản cũng vậy thôi: chuyện gì mà không có thể xảy ra?

Và rồi dần dần người ta cũng hiểu. Cũng như 10 năm trước đây Mao Trạch Đông và Krouchev choảng nhau, tốn hao đến hằng tấn nước bọt, rồi tốn hằng suối lệ và máu. Chuyện đó làm kinh ngạc năm châu một thời nhưng bây giờ thì nó có còn làm ai chú ý nữa đâu. Sự đời hễ thiêng liêng hoá quá rồi ra sẽ trở thành hèn kém quá. Nên giữ con người ở vị trí của loài vật hai chân mà thôi. Thật là một điều mong muốn Voltaire nói, được đi bằng bốn chân.

CHƯƠNG 6



Trời sáng lúc nào tôi cũng không rõ nữa. Tảng nặng bóng đêm đã được bàn tay kỳ diệu của hoá công nhấc đi mà đặt vào chỗ khác không phải trên ngực tôi, để cho trái tim tôi đập thong thả hơn.

Thì tôi biết rằng tôi chưa chết. Cái chết vừa là kẻ thù vừa là bạn thân của tôi, đã đeo đuổi ve vãn rình mò tôi suốt đêm qua. Cuộc sống đối với tôi bây giờ có nghĩa là chịu đựng cái chết dần mòn. Tôi vừa sung sướng lại vừa đau khổ nhận thấy mình còn sống.

Một vật vàng vàng như màu ký-nin pha loãng kia có lẽ là ánh nắng. Tôi còn nhận thấy cả màu xanh của lá cây và những bọt nước dưới chân suối.

Đột nhiên tôi thèm một cái giò gà, không phải là cái giò gà của lão Tào Tháo ban cho Âu Dương Tu mà là cái giò gà thật sự, đã luộc rất mềm trong cháo nấu bằng gạo mới thơm phức.

Chao ôi! Cầm lấy nó mà cạp vừa gặm vừa nhai da nó – vừa dai vừa dòn – nếu có kèm thêm một ít lá rau răm nữa thì ngon tuyệt.

Tôi mới hiểu vì sao anh chàng hồng quân trong truyện “Số Phận Một Con Người” của Cholokhov bị quân Đức bắt làm tù binh đã đưa hai tay nhận lấy một mẩu xương do một tên sĩ quan Đức từ bàn tiệc ném ra và ngoạm lấy, cạp lấy từng mẩu thịt còn sót lại một cách ngấu nghiến.

Tiếng nói chua lòm của cô xướng ngôn viên như một thứ độc dược đã tiếp sức với những ổ vi trùng tàn phá cơ thể và cân não tôi và làm cho chúng cứ mỗi giây nhão ra gấp triệu triệu lần.

Tôi ăn Tết ở Hà Nội cách đây hơn bốn tháng. Tôi ra đi giữa mùa xuân và cho đến bây giờ mùa xuân hãy còn kéo dài. Những ngày qua còn để sót lại trong trí óc tôi một mớ ký ức hỗn độn về những núi đồi rừng rậm, trảng trống, suối sâu, dốc cao, sông rộng, về những chặn đường ghê gớm nhất, kỳ cục nhất, tàn nhẫn nhất, bất ngờ nhất, khó hiểu nhất, đói khát nhất của cả loài người từ tạo thiên lập địa cho tới nay.

Tôi cố ngồi dậy. Cơ thể tôi ruỗng nát như cái bọng của cây bần trong có một con chim cú làm tổ, và thỉnh thoảng báo hung tin cho xóm làng.

Không hiểu bằng cách nào, tôi đã ngồi dậy được. Hai tay tôi nắm hai mép võng run run như con chim đại bàng rả cánh trong bão táp vừa đáp xuống một ngọn cây quá yếu mềm. Nước mưa từ người tôi chảy xuống ròng ròng. Tôi có hay đâu suốt trận mưa đêm qua cái võng kaki của tôi trở thành cái bồn nước ngâm cả người tôi giống như cái bồn chứa nước đá của bác sĩ Tôn Thất Tùng ngâm bệnh nhân cho xuống nhiệt độ trước khi đưa họ lên bàn để giải phẫu tim.

Vâng, trái tim của tôi không cần phải giải phẫu mà cần thay đổi cả trái tim khác.

Chiếc radio không còn kêu nữa. Cô xướng ngôn viên chắc mặc áo hồng vệ binh đi đến nhà Chủ Tịch Lưu Thiếu Kỳ mà tiếp tục tấn công vào nhà ông ta bằng cách mắc hàng trăm chiếc loa phóng thanh chung quanh. (mãi về sau tôi mới đọc thấy chi tiết này trên tờ báo ngoại quốc).

Ở đây là Văn Điển của tôi. Một cái Văn Điển không mộ chí và kéo dài hằng ngàn cây số mà mỗi tấc đất là một lóng xương.

Không hiểu sao tôi không muốn gọi Thu. Có lẽ vì lòng tự ái của một thằng đàn ông, hay vì tôi muốn so gươm với Thần Chết lần cuối cùng. Tôi đã xuống tận bờ suối và ngồi trên một phiến đá. Mặt nước tương đối phẳng lặng. Tôi nhìn xuống thấy đáy nước trong veo, thấy những đàn cá nhỏ lội thảnh thơi, nhưng bất giác tôi đưa tay khuấy nước lia lịa làm nước toé cả vào người tôi.

Tôi ôm mặt kêu lên, kinh hãi. Tôi lặng người ra, hoá đá. Tôi đã nhìn thấy một con ngợm ở dưới đáy nước đang nhìn lại tôi chòng chọc. Con ngợm đó giống hệt như tôi, nó là em tôi hay là anh tôi cũng nên.

Không, nó không là ai khác cả. Nó chính là tôi, chính tôi đã dội chiếu bóng hình xuống đấy.

Chập sau tôi lặng lẽ trở về lều trút nước trong võng ra và không đủ sức để vắt khô võng. Tôi đành nằm vật ra trên chiếc võng ướt với bộ đồ ướt vừa nước mưa vừa nước suối.

Ánh nắng hiện lên một cách hà tiện và dè dặt qua những kẹt cây. Đầu óc tôi tỉnh ra dần.

Tôi căm giận những tên nói dối. Chúng nói dối đã thành nghề. Chúng nói dối đến mức độ không còn phân biệt đâu là thực đâu là giả nữa. Chúng lừa mọi người và sau cùng chúng phỉnh gạt chính bản thân chúng nó.

Nắng lên, làn da tôi âm ấm. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng nhưng ghê ghê rờn rợn. Quả thật cơn sốt dài liên miên trong mấy ngày qua đã làm tôi thay đổi cả sinh lý lẫn tâm lý.

Tôi khẽ đưa tay thọc vào chiếc ba-lô trên đầu võng để lấy ra chiếc gương soi, để xác định lại một lần nữa những gì đã làm tôi kinh hãi lúc tôi nhìn xuống lòng suối lúc nãy.

Tôi khẽ lau chiếc gương tròn vào ngực và nâng nó lên mặt.

Tự nhiên tay tôi rụng rời, tôi đánh rơi chiếc gương con xuống đất. Mắt tôi tối sầm lại. Tai tôi nghe ù ù như có hằng trăm chiếc phi cơ vút qua. Trời đất xoay vần, đất dưới chân tôi như sắp sụp xuống. Gương mặt của tôi mà tôi tưởng không phải là của tôi. Không bao giờ một cái khuôn mặt trước kia như vậy, giờ đây lại hoá ra như thế được. Nhưng đau đớn thay, đó chính là của tôi, cái gương mặt ấy, vì chả lẽ nó là của ai cho được khi mà tôi đưa chiếc gương ngay lên mặt tôi. Nhưng, nếu đó thật là gương mặt của tôi thì làm sao tôi hiểu được?

Điều tôi nghĩ đến trước tiên là sự mong nhớ của cha mẹ tôi. Nếu cha mẹ tôi biết rằng tôi nằm giữa rừng và lâm trọng bệnh như thế này thì cha mẹ tôi sẽ làm gì?

Tôi có thể chết âm thầm, vô danh, vô nghĩa lý, nhưng còn những người sống sẽ nghĩ gì khi biết con cháu mình, chồng cha mình đi giải phóng Miền Nam – sự giải phóng không ai mong đợi – mà lại ra thần hồn đó?

Tôi không có ý định nhặt chiếc gương lên nữa vì nó làm tôi sợ hãi. Nó làm tôi trông thấy rõ gương mặt kỳ dị của tôi, cho tôi thấy rằng chỉ qua một đêm mưa và một cơn sốt, tôi đã bạc hết nửa mái đầu.

Nhưng đây không phải chỉ là một cơn sốt tầm thường, một cơn sốt hơn mọi cơn sốt. Cơn sốt vàng kí-nin; cơn sốt đỏ của những nốt muỗi đốt; cơn sốt của thế kỷ 20; cơn sốt của lòng tin và sự đổ nát; cơn sốt của chủ nghĩa và sự suy đồi trông thấy; cơn sốt của những tượng đá có hồn và cái hồn đó đã vụt bay mấy; cơn sốt của những canh bạc mù quáng; cơn sốt của chủ nghĩa cá nhân và những bài giáo điều; cơn sốt của những con vẹt ăn phải quả dại giờ bỗng nhiên câm mồm; cơn sốt của những bạo chúa khoác áo thánh thần; cơn sốt của những kẻ khố rách áo ôm đang loá mắt vì một cái thiên đường tự vẽ ra trước mắt; cơn sốt của những đứa trẻ con ngây thơ bị lường gạt quá dễ dàng; cơn sốt làm nóng bức cả loài người; cái cơn sốt đã làm nhơ uế không gian bằng một thứ bụi phóng xạ đặc biệt. Một cơn sốt như thế đó đã giáng vào tấm thân còm cõi kiệt sức của tôi.

Tôi bỗng nghe tiếng hớt hãi của Thu:

- Anh ơi! Ghê quá! Eo ơi!

Tôi trông thấy Thu vừa đi vừa bưng kín lấy mặt và lảo đảo bước vào lêu rồi rơi phịch xuống võng.

Tôi hỏi:

- Cái gì mà ghê gớm thế?

- Có một người chết!

Tôi nghe như có một làn gió vút qua gáy tôi. Tôi nghĩ có lẽ một người nào đó chết vì sốt, vì cơn mưa dầm đêm qua, cho nên tôi không hỏi tới nữa vì chết như thế là thường. Thu nằm im một chập rồi lại kêu lên:

- Eo ơi! Em sợ quá!

- Cái gì vậy chớ ?

- Đã bảo là chết mà. Anh thật!

- Chết là hết khổ, thế thôi.

- Nhưng ở đây kỳ cục lắm

Thu lại im một chốc rồi hỏi tôi:

- Đêm qua anh có nghe cây đổ không?

- Anh mê man không nghe gì ráo! – Sự thực thì tôi có nghe nhưng tôi đã quên.

- Em không nghe cây đổ mà sáng ra lại có người chết vì cây đổ. Eo ôi, khiếp quá đi mất!

Tôi nghĩ đến cảnh tượng cái cây đè lên người một anh bạn nào đó. Chết như thế thật là oan, thật là khủng khiếp. Nhưng không phải như vậy.

Thu nói:

- Cái nhánh cây tách ra như một lưỡi kiếm và cắm thẳng đứng xuống… eo ơi! Khiếp!…

Tôi kêu trời và lặng thinh. Còn Thu có lẽ đã vượt qua cơn sợ hãi, cho nên nàng ngồi dậy và kể tiếp một cách tỉ mỉ:

- Cái cây cắm ngay bụng anh ấy như người ta xiên cây lụi qua mình một con nhái và cắm luôn xuống đất. Bây giờ anh ấy bị dính cứng đó không biết làm sao gỡ ra. Kẻ thì bàn phải đào đất rất sâu mới lấy xác anh ta lên mà chôn được, kẻ thì bảo nên đốn ngang nhánh cây đi mà kéo anh ta lên. Cái nào cũng có lý nhưng ở đây không ai có cuốc có dao để có thể làm những việc đó cả.

- Nhánh cây to không? – Tôi hỏi.

- Bằng cây cột!

- Úy trời! Nát làm đôi còn gì?

Thu tiếp:

- Còn một nhánh khác rớt xuống làm đổ tăng của một anh nằm bên cạnh nhưng nó cong như vòng cầu cho nên anh kia không sao cả. Cái phần giữa của nhánh cây vừa chạm anh ta thì hai đầu đã đụng đất, cho nên nó không xuống được nữa. Không chết nhưng hồn vía mất hết.

Khiếp thật!

Sống thì thê thảm mà chết thì khủng khiếp. Sống thì lây lất thiếu thốn, đói khát còn chết thì kỳ cục vậy đó!

Thu bảo:

- Anh đi lại xem một chút đi!

- Làm gì? – Tôi nói – Vấn đề là mình nên rút kinh nghiệm nên mắc võng xa những cây lớn.

Thu nói:

- Em tưởng tượng cái nhánh cây từ trên cao rơi xuống như trời giáng, thế mà rơi trúng mình thì còn gì thân thể. Đi giữa rừng em thấy mình nhỏ bé, bất lực và nhụt hết ý chí nhất là không tự chủ được.

Tôi lặng thinh.

Thu nói đúng và đầy đủ quá về cuộc sống ở rừng.

Nhưng bây giờ tôi phải lo liệu mà đi vì cái thiên chức của tất cả mọi người trên đường này là đi. Với ý thức “chân cứng đá mềm” hẳn hoi chớ đâu có phải chuyện thường.

Cuối cùng tôi nhặt chiếc gương lên rồi cuối cùng tôi cũng bỏ nốt cái ý định không xem mặt tôi nữa – nghĩa là dù sao tôi cũng phải xem lại cho kỹ cái mặt của tôi để biết rõ mình hiện nay ra làm sao. Thật là một điều ghê gớm.

Tôi nghiêng đầu ra mép võng, tóc tôi rũ theo cái cử động ấy, chiếc gương đang nằm dưới đất tròn trịa in hình một lõm trời tròn. Nhưng cái lõm trời ấy bị tôi áng mất ngay.

Khổ cho tôi, tôi phải trông thấy mặt tôi, mình trông thấy mặt mình mà phải khổ. Trên đời nầy có ai từng biết cái nỗi khổ đó như tôi không?

Loáng thoáng tôi trông thấy gương mặt tôi hay gương mặt nào hao hao giống tôi chẳng hạn. Tôi phải thu hết những mẩu can đảm rơi rớt còn lại của tôi để nhặt chiếc gương lên.

Tôi nghi ngờ sự phản ảnh trung thực của chiếc gương. Tôi lau nó vào ngực rồi đưa lên mắt. Tôi lại lau khô nó lại lần nữa, lần này thì lâu hơn, tôi lại đưa chiếc gương lên mắt. Dù tôi đã biết trước mặt mũi của tôi mà tôi vẫn cứ ngạc nhiên như thường.

Than ôi! Tiếng kêu than thầm lặng đau đớn thống thiết từ trong thâm tâm tôi nhưng chẳng ai nghe thấy cho ở giữa chốn rừng sâu hoang dại này. Tôi không muốn kêu to lên, tôi chỉ muốn dìm nó xuống để mà lắng nghe mọi nỗi đắng cay chua chát.

Hồi bắt đầu ra đi, tôi cân đúng 73 kí lô, nay không còn bao nhiêu. Khi xưa, tôi đi nặng phục phịch, anh em bảo “như vịt xiêm”, bây giờ thì cũng nặng nề nhưng không phục phịch nữa, mà nhẹ nhỏm như một cái que tre. Tôi không đánh rơi chiếc gương nữa mà tôi muốn nhìn mãi vào gương mặt tôi. Buồn thật!

Giá như cha mẹ tôi ở Miền Nam biết tôi ra thân thể này thì với giá nào ông bà cũng đem tôi về, về nhà hay về đâu cũng được, miễn là rời khỏi con đường danh tiếng này.

Tôi không hiểu vì sao tôi gầy nhanh đến thế. Mặt mũi hốc hác hơn cả mặt người ốm liệt giường. Tóc bù xù, rối nùi như tổ quạ dài xuống phủ kín cả mép tai. Ở đây không có cái gì cả, chỉ có một cái thừa thải: đó là sự vô lý. Tôi thấy có sự vô lý đã đi đến mức cùng cực của nó, không còn ai có thể giải thích được nữa, không có cái gì vô lý hơn nữa.

Tôi thấy thương thân, tủi phận và oán ghét đủ thứ trên đời, nhất là oán ghét những thằng hiện đang phè phỡn ô-tô, nhà lầu, luôn luôn chủ trương đánh nhau (bằng tay người khác) nhưng đến tiếng súng cũng không nghe thấy, đừng nói chi cầm súng. Con cháu họ thì đứa đi Nga, đứa đi Tàu – đi học để sau này về làm cha thiên hạ. Còn lũ con cái bần cố nông thì cứ lùa vào con đường vinh quang này, như người ta ném những que củi vào lò lửa không thương tiếc.

Tôi cũng từng biết hoàn cảnh vui vui của một bà già được mệnh danh là đồng chí cách mạng 30-40 chi đó. Mụ này thấy không có chồng mà lại có 2 con: một con gái hư hỏng nát bét cả Hà Nội ai cũng rõ, dắt trai vào nhà ăn bồ câu hầm với Cao Ly sâm như người ta hầm với củ cải. Còn một thằng con trai thì chán ghét cái cảnh giàu sang bất chính của gia đình, nên đang đi học lại đùng đùng xin về Nam chiến đấu.

Bà mẹ anh ta nghe tin con xung phong cảm tử như vậy, thay vì mừng rỡ hoan hô vì chính bà ta là một cán bộ rất cao cấp và lại là người Miền Nam nữa, nhưng bà ta lại rất đau khổ. Bà không biết nói với ai. Bà ta muốn ngăn đứa con mình lại, nhưng làm sao ngăn nó trong khi bà ta đang hô hào cho ai nấy cùng thi hành chủ trương “giải phóng Miền Nam” của Đảng? Mẹ bảo con chuyện gì cũng có thể được cả nhưng còn việc này thì bảo làm sao? Con nó sẽ phản đối. Mà nó có đầy đủ lý do để phản đối thì mới trả lời với nó làm sao?

Bà ta cũng thông minh. Bà ta chạy lên nhờ một ông lãnh tụ có uy tín hơn bà, gọi con bà tới và đem cái sự du học Đức-Tàu-Nga mà nhử nó. Bà ta lại đem thêm những gian nan chết chóc của chiến trường Miền Nam ra nói cho nó nghe để làm sự tương phản với cuộc sống nhung lụa của một du học sinh. Nhưng tội thay, con bà là một đứa trung thành với chánh sách của Đảng, nhưng đối với bà nó lại là một đứa con ngỗ nghịch. Nó đã bỏ bà, quảy ba lô mà gia nhập Trường Sơn để đi giải phóng Miền Nam. Nhưng than ôi, mặc dù trong ba-lô của cậu con cưng đó có hằng kí lô sâm Cao Ly củ nào của ấy to bằng củ cải, cậu ta vẫn chết bằng cơn sốt ác tính.

Chuyện đó đã xảy ra cách đây vài tháng ở quãng đường tôi đang nằm.


CHƯƠNG 7


Nghĩ quanh nghĩ quẩn mãi rồi cũng không thoát khỏi cái cực hình kéo dài không biết bao giờ chấm dứt: đó là ĐI. Phải đi! Và đi tới nghĩa là không thể lùi lại.

Dù sao thì cũng phải đi. Mà đi bằng cặp chân và cây gậy sau những cơn sốt và nằm ngoài mưa, kể ra cũng không phải là chuyện vui.

Nằm mà nhìn cảnh vật thì trông thấy cái cây, sườn núi cái gì cũng nghiêng như sắp đổ. Còn ngồi mà nhìn thì thấy nó xoay vần. Cây cối và sườn núi như cứ chạy quanh như vây chặt lấy mình.

Mắt tôi quen nhìn cái đầu võng của Thu. Ở trên đó có cái chân đau của Thu gác lên với những băng bó trắng xoá. Màu trắng gây thêm cảm giác buồn của thương tật.

Đôi khi Thu nằm nghiêng qua một bên, tóc xoả xuống chấm đất, như một hình ảnh trữ tình gợi ý thơ. Nhưng thú thật là tóc của Thu, hay gì gì đi nữa cũng không có thể kích động trong tôi một thứ tình cảm gì. Cũng như tôi, cái thân xác hiện tại của tôi chán chường ra trước mặt mọi người, nhưng đâu có gợi lên cho ai một thứ xúc động nào, kể cả sự thương hại. Bằng chứng là hôm nọ hai người nào đó đã cho rằng tôi chết, nhưng cuối cùng họ không thèm đến nhìn mặt tôi và bỏ ra đi như rời một tảng đá, một gốc cây mục.

Mấy hôm rày Thu buồn lắm. Thu đặt vấn đề xin trở về Hà Nội hẳn hoi. Tôi biết vậy nhưng tôi không an ủi nàng bởi vì cái gì to lớn nhất đã vỡ tan rồi.. Nỗi buồn lan ra từ đó.

Có lẽ Thu buồn nhất vì thấy sắc đẹp của mình tan biến đi một cách quá chóng vánh.

Tôi càng sợ soi gương bao nhiêu thì Thu lại soi gương thường bấy nhiêu. Tôi để ý lúc nào Thu cũng nâng chiếc gương lên trước mặt hoặc vuốt sửa tóc hoặc nặn một nốt mụn, hoặc xoa xoa những vết thâm vừa xuất hiện trên gương mặt. Tôi biết Thu thở dài luôn. Có một hôm Thu tưởng tôi ngủ cho nên cô xăn quần lên quá hai đầu gối rồi đưa tay vuốt ve đôi đùi của cô. Đôi chân của Thu cũng như đôi chân của Phương, tôi từng nhìn ngắm, là đôi cánh thiên thần của người diễn viên ca múa. Họ bay bổng lên là nhờ đôi chân.

Nhưng giờ đây chân của họ như đôi cánh cụt, lông lá xơ xác không thể cất lên nổi nữa. Huống chi chân Thu bị sưng và mưng mủ ra thế kia. Thu hết mong ngày vinh quang đến với Thu rồi. Một lần Thu đã tỏ sự đau khổ đó ra cho tôi nghe. Thu bảo rằng: vũ nhờ có cái cổ chân để xoay như cái trục vậy, nhưng giờ đây cái máy xoay đã hỏng rồi, có chửa cũng không như cũ được.

Tôi với Thu bây giờ như hai cây sậy đứng giữa mưa gió, không bên nào có thể tựa vào bên nào và chỉ chờ ngày ngã xuống – tệ hơn cả anh mù và anh què trong bài học thuộc lòng lớp đồng ấu. Họ còn có thể “hợp tác” công sức của họ với nhau, người nầy dùng mắt người kia, người kia nhờ chân người nầy. Còn chúng tôi hoàn toàn không nương tựa vào nhau được.

Thấy Thu nằm im lìm, tôi cất tiếng gọi. Cứ như thói quen, Thu nghe tôi gọi thì in như là chỉ để cho Thu hay rằng tôi sắp sửa sốt và sắp sửa nhờ Thu làm một việc gì, cho nên Thu hỏi lại ngay:

- Anh lại sắp sốt phải không?

- Không, chắc qua giờ đó rồi.

- Cha chả! Anh dứt cơn sốt được hôm nay nữa là hai hôm rồi. Như vậy là mai lên đường…

- Chân em như thế nào mà đòi đi?

- Ở mà chờ cho lành có mà hết cuối năm.

- Chân như thế mà đi thế nào? Đường có tráng nhựa như đường Trần Hưng Đạo đâu.

- Đừng có nhắc cái gì của Hà Nội cả, đừng có nhắc. Em van anh nếu anh muốn em đi tiếp đường này thì anh đừng có nhắc cái gì của Hà Nội cả, ngay cả hai tiếng Hà Nội cũng không nhắc. Em không muốn gợi lại những kỷ niệm của Hà Nội, em muốn như Hà Nội là một thành phố không có quan hệ gì với em cả, như Hà Nội không có trong đời sống của em.

- Tại sao vậy?

- Vì nếu nhắc đến Hà Nội, em sẽ quay lại tức khắc! Tức khắc, ngay bây giờ! Em không cần gì tất cả, ngoài Hà Nội.

Rồi Thu ôm mặt khóc nức nở, càng não lòng. Những ý nghĩa và tình cảm của Thu tuy không giống của tôi, nhưng những tình cảm ấy vẫn làm cho tôi suy đồi thêm. Hà Nội đối với tôi không phải là không gắn bó, không kỷ niệm, nhưng có lẽ nó ở lại sau lưng tôi rồi. Trước mặt tôi là Saigon, là Mỹ Tho, là bờ dừa, thửa ruộng thân yêu của tôi.

Dù quê hương tôi có nghèo nàn, hay không có những kỷ niệm tốt đẹp đối với tôi chăng nữa, và tôi ra đi vì những lý do gì đi chăng nữa, thì tôi cũng mong mỏi ngày về. Tôi phải về, tôi không thể nào trở lại. Dù trong lòng tôi có não nề, dù thân xác tôi có rã rời, tôi cũng phải về. Dù có chết tôi phải chết ở nơi gần Saigon nhất.

Tôi gượng gạo nói với Thu, một cách giả dối lộ hẳn ra:

- Em càng yêu Hà Nội thì em càng phải đi Miền Nam. Con đường vinh quang dắt em về Hà Nội là con đường em đang đi đây. Nó sẽ vạch qua Miền Nam Giải Phóng và đưa em về Hà Nội.

Thu phá lên cười quái đản. Giọng cười vừa chế nhạo vừa chán ngán làm cho tôi như bị một cơn gió độc lướt qua. Tôi biết mình nói không thật, không lừa nổi người khác, mong chi lừa được chính mình.

Thu nói:

- Anh có dám lập lại những lời anh vừa nói đó không?

- Để làm gì vậy? Em không nghe rõ sao?

- Em nghe rõ lắm chứ!

- Thế thì anh đâu phải uổng công.

- Anh lập lại để anh nghe.

Tôi lặng thinh, tôi thấy hơi xấu hổ. Tôi nói:

- Đối với anh thì anh phải về Nam em ạ. Anh nghĩ em cũng thế thôi!

- Không! – Thu ngồi bật hẳn dậy – đối với anh khác, đối với em khác chứ! – Thu nhìn quanh quất xem có ai không. Thấy chiếc võng mắc chung quanh đều im lìm, Thu tiếp – Tôi đối với Hà Nội khác anh đối với Hà Nội. Anh với Saigon khác tôi với Saigon. Đành là tổ quốc quê hương, nhưng mỗi con người đều mang trong tim mình một cái gì riêng tư và độc nhất. Tôi ví dụ như ở quê anh có bờ sông, ở quê tôi cũng có, bờ sông Hồng chẳng hạn, nhưng nó không bao giờ giống sông Cửu Long trong anh. Đứng về mặt địa dư, nếu có giống chăng đi nữa, thì dưới mắt anh, dưới mắt tôi, con sông Hồng tuy là một nhưng vẫn cứ là hai vì mắt anh nhìn nó, anh xúc động khác tôi, còn tôi trông thấy nó hằng ngày với phù sa trôi theo sông, với mùa nước lên nước xuống với những kỷ niệm vui buồn của riêng tôi, không giống với ai. Có người nói: “người ta không đi xa quê hương được vì tiếng chim kêu ở đầu rào”.

Chính vì thế, anh ạ, mà anh bôn ba về Nam, còn em thì đến chặng đường này, em có những ý nghĩ kỳ lạ…

Thu ngưng lại một giây rồi tiếp ngay:

- Anh nghĩ lại xem, em xin lỗi anh nhé, có phải vì lý tưởng cao siêu mà anh đi về Nam, hay chỉ vì tiếng chim kêu ở đầu rào? Em không phải là đảng viên, cho nên có thể em suy nghĩ lệch lạc…

Tôi ngồi lặng người ra, càng ngạc nhiên về những tình cảm sâu đậm đối với quê hương và sự thông minh của cô gái.

Tôi hỏi Thu:

- Nhưng bây giờ em định thế nào?

- Định thế nào?

- Nghĩa là…

- Em biết anh muốn hỏi em gì rồi – Thu tiếp – Nghĩa là anh muốn hỏi em có đi Miền Nam không chứ gì? Em thú thật với anh rằng em thấy khổ tâm . Vào đó để làm gì? Để ca múa. Em thì chỉ làm được có mỗi việc múa thôi! Không múa được thì em vào đó để nấu cơm à? Miền Nam có cả chị Ba Định tài giỏi như thế, chẳng lẽ lại thiếu người nấu cơm?

Tôi cười không nói được gì.

Thu tiếp:

- Anh xem cái chân của em đây. Bây giờ nó đã thế này vào đến đó thì nó sẽ ra sao? Em đã thành con chim chỉ còn có một cánh thôi anh ạ!

Mặc dù ngồi hơi xa, nhưng vẫn trông thấy những hạt nước mắt long lanh trên khoé mắt Thu. Thu khóc là phải, bởi sự nghiệp của Thu xem như bắt đầu mỏng manh, xám xịt.

Tôi nói:

- Nhưng em trở về sao được? Em thấy từ hôm mình đi đến nay chỉ thấy người ta toàn vào, chứ có ai trở ra đâu? Thời buổi này ai lại đi ra?

- Người nào cũng có lý do. Em cũng có lý do của em.

- Nhưng không ổn đâu em ạ!

- Sao? Anh nói thế nào?

- Giao liên họ đâu có dẫn em đi trở ra.

- Anh đã thấy vấn đề chân cẳng của Phương và của các em từ khi đi được vài hôm. Hồi còn đi chung, đêm nào anh cũng lén đoàn đi ra suối tìm chỗ vắng và nấu nước đổ xuống một cái trũng đã lót sẵn vải ni-lông để cho Phương ngâm chân, có khi phải ngâm cả giờ đồng hồ. Chân dày chân dép đã quen từ bé đến lớn, giờ bỗng nhiên mang dép râu, leo vách đá, làm sao sống được. Ngâm nước nóng cho máu mau tan ra, chứ không nó sưng vù lên như hai cái bánh bò. Nhờ vậy mà Phương ráng đi tới chỗ rẽ xuống Khu 5.

Đêm nào Phương cũng khóc. Anh cố lờ đi, hoặc đôi khi anh phát cáu la ầm lên. Anh bảo đi làm cách mạng thì phải chịu cực khổ chớ phải ở nhà với má hay sao mà sướng được?

Phương đã trả lời ngay: “Em cũng biết làm cách mạng là khổ thật, nhưng cái khổ nầy là cái khổ vô lý, thà bắt em đi tù, em còn sướng hơn vì ở tù là mất tự do nhưng mình biết trước như thế cho nên khi mình mất tự do thì mình không lấy gì làm khổ. Còn cái này mình đi giải phóng Miền Nam mà rốt cuộc mình không làm gì được hết, thậm chí chỉ thêm gánh nặng cho người ta, thử hỏi cái việc đi vô Nam của mình có ích gì?

Đem cặp chân diễn viên múa mà trèo núi thì em nghĩ không có gì vô lý hơn!

Đêm nào anh nấu nước cho Phương ngâm chân, Phương cũng phàn nàn, càng ngày càng nặng lời và day dứt hơn.

Một hôm Phương nói thẳng ra rằng, nếu dè như thế này thì Phương đã không đi. Phương đã nói rất thực lòng. Và đó chính là nỗi lòng của hằng vạn người trên đường này. Nếu biết thế này thì chắc chắn không ai đi. Thà ở lại miền Bắc làm tên cán bộ mất tinh thần, làm tên lính đào ngũ còn hơn.

Tôi hỏi Thu:

- Nếu người ta không đưa Thu trở lại thì sao?

- Ai biết đâu được!

- Phải dự phòng chứ!

- Ở cái xứ này không thể dự phòng cái gì hết. Đang khi tưởng nắng to, mình đi giặt quần ao, thì ùn ùn trời đổ mưa. Đang khi mình tưởng mình sắp sửa ăn một bữa cơm ngon thì lại đổ kềnh ra sốt rét, cũng như biết đâu chốc nữa máy bay chẳng đến rải chất độc xuống vùng nầy?

- Thôi bây giờ đề nghị thế này nhé.

- Anh cứ nói xem.

- Mình cứ vô trạm.

- Vô thế nào được? Trước nhất mình phải biết đường.

- Cái đó thì không lo. Hai hôm nay anh đã chú ý lối ra vào của nó rồi. Ở phía bờ suối có một tảng đá, bước lên tảng đá thì đụng nhằm một nhánh cây ngã ngang rào đường. Giở nhánh cây đó chui qua sẽ thấy một con đường mòn, cứ theo đường đó thì đến trạm.

Thu hỏi vặn:

- Nhưng vào để làm gì?

- Để kiếm một tí thức ăn, thịt rừng chẳng hạn và một mái nhà để núp mưa!

- Anh không biết là họ rất kỵ khách vô trạm họ sao?

Tôi cười:

- Khách cũng tùy. Có loại khách họ rất kỵ, nhưng cũng có loại chúng nó cầu cạnh rước vào nhà mà nuôi như cu cu!

- Anh giỏi có suy luận thôi!

- Anh thực tế lắm em chớ em! – Tôi nói tiếp – Bây giờ như thế này nhé, vào trạm lúc này thân tàn thì dù có cái giấy “A” cũng bị trạm nó tống ra ngoài như thường. Vậy bây giờ chỉ có em vào được.

- Eo ơi! Em sợ đi một mình lắm! Em sợ những cái gì mới lạ huống chi là giữa rừng núi hoang vu này mà em phải đi một mình.

- Ấy! Em sao hay lo xa quá! Anh không bảo em đi một mình đâu. Em đi trước chừng vài ba bước thôi, rồi anh đi theo liền. Nếu anh đi trước thò cái mặt vàng ẽo của anh ra thì nó xua đi ngay. Cho nên em phải đi trước…Hì hì em rõ chưa?

- Nhưng em đâu có giấy tờ mà trình?

- Cần gì! Em sao ngây ghơ qua vậy? Nó trông thấy em thì nó quên tất cả giấy tờ rồi.

- Em chịu thôi! – Thu phụng phịu – Ai làm kỳ cục vậy.

- Có gì mà kỳ cục? Em cứ vào, nó thấy chân em đau, tự nhiên nó xúc động, nó thương hại cô văn công chân yếu tay mềm mà cũng đi giải phóng Miền Nam, tự nhiên nó thương, nó sẽ cho vào trạm ngay.

Thu nói:

- Thôi, anh muốn làm gì thì làm miễn sao cho chân em mau lành và anh hết sốt rét thì thôi!

- Anh không làm mất cái giá trị của em đâu mà sợ! Gặp nguy hiểm thì phải tùng quyền em hiểu không?

Không biết đang trưa hay đã chiều rồi. Nó cứ âm âm lạnh. Ở bờ suối, đá cũng có vẻ mục, chỉ cần động tới là nó rã ra ngay. Còn người thì cứ gây gây sốt. Cứ mỗi lần gió mạnh thì làn da sởn lên rờn rợn. Con người có vẻ mong manh quá. Lúc nào cũng như sắp sốt tới nơi. Tôi nằm yên trên võng có khi hàng mấy giờ liền chỉ để lắng nghe xem cơn sốt có đến với mình không và lúc nào cũng có cảm giác là nó đang đến.

Chung quanh đây, những bệnh nhân rơi rớt lại từ những đoàn khác nhau, vẫn còn nằm nguyên đó. Có người hôm trước thấy còn ngóc dậy nấu nướng, hôm nay thì nằm bẹp. Có người hôm trước nằm liệt trên võng, nay đã thấy ngóc dậy đi đi lại lại. Không ai nói gì với ai. Dường như họ không cảm thấy sự có mặt của những người đồng loại, đồng bệnh bên cạnh họ có lợi ích gì.

Một chặp sau thì quả nhiên có hai cậu giao liên tới. Một cậu băm sáu băm bảy, còn một cậu chừng mười chín hai mươi. Cả hai đều sốt rét da vàng oách nhưng hơi ngả màu xám. Có lẽ họ chịu đựng sốt rét đã quen và cái chướng khí của rừng núi làm cho nước da họ xạm lại.

Hai người vừa đi ngang qua võng tôi vừa càu nhàu:

- Để cho nó chết!

Người kia gắt:

- Để cho nó chết thì chúng mình tù mọt gông bố à!

Cả hai đều xăm xăm đi lại phía võng của Thu.

Tôi bèn gọi giật hai anh chàng lại. Cả đều do dự nhưng tôi ngoắc thật nhanh, có vẻ quan trọng, cho nên hai anh chàng đều trở lại và đến bên tôi.

Tôi bảo ngay:

- Các anh đưa cô kia vào trạm. Nếu không thì có việc gì Trung Ương sẽ khiển trách đường dây này nhé!

Cả hai cậu cùng có vẻ thú vị, mắt sáng rực lên, chờ đợi tôi nói tiếp. Tôi bảo:

- Cô ta là diễn viên múa của Văn Công Trung Ương đó, đã từng đi Liên Xô, Trung Quốc danh tiếng như cồn. Miền Bắc chỉ có vài cô như vậy. Trung Ương gởi vào Nam để biểu diễn ở Saigon đấy. Saigon giải phóng mà không có cô ta biểu diễn thì nguy to.

Trông cách nai nịt của hai anh chàng tôi quả quyết đúng là giao liên: lựu đạn giắt quanh lưng, vải cao su gói ghém rất gọn, khẩu cạc-bin lấp báng đôi buộc bằng dây thun và nhất là hai ống quần quấn “xà-cạp” trông như lính tẩy. Tôi đưa nốt hai anh chàng vào vòng trách nhiệm:

- Cô ta đau chân, nên đoàn đã gởi cô ta lại đây. Mặt khác đã điện về Trung Ương báo cáo. Nếu Hà Nội hay thì sẽ chỉ thị cho trạm xá nào gần đây nhất đến đem cô ta về điều trị!

Cậu trẻ đáp:

- Gần nhất cũng phải hai ngày đường, đồng chí ạ!

- Vậy thì làm sao?

- Dạ trong trạm em y tá xoàng thôi cũng không có!

Tôi đã mừng thầm rồi nhưng hãy còn kỳ kèo:

- Cậu có thể đi rước bác sĩ ờ cái trạm xá gần đây không? Đi hai ngày mà có được bác sĩ chữa chân cho cô thì cũng đáng cái công. Chân của diễn viên múa – mà là diễn viên ưu tú – là chân ngọc chân ngà các cậu có biết không? Ở Liên Xô mỗi diễn viên múa như vậy có một bác sĩ theo để săn sóc đôi chân.

Cái gì chứ cái nghề bịa đặt tán khoét thì tôi học rất nhiều trên đường Trường Sơn này.

Tôi biết rõ rang sở dĩ hai cậu ta nghe lời tôi một cách ngoan ngoãn và kiên nhẫn như vậy là vì bệnh nhân mà trạm của các cậu sẽ rước về là một người con gái đẹp, chứ nếu ngược lại, thì dù cho tôi có là đại tướng đi nữa cũng không khiển nổi hai gã lính núi này.

Phép vua thua lệ làng. Luật lệ đường dây ở đây còn hơn thế nữa. Giao liên hoạt động độc lập, mỗi trạm tự do hùng cứ một giang sơn, muốn làm gì cũng ai hiểu nổi. Có trạm lấy gạo tiêu chuẩn – mà mỗi hạt là một giọt mồ hôi pha máu – đem bán hoặc nuôi heo v.v….

Cho nên trên đường đây , khách sợ nhất là giao liên, Họ bảo: “nhất trạm, nhì trời”.

Khách đi đường đừng có dại dột mà động tới các ông trời đó. Các ổng mà ghét anh rồi thì các ổng làm đủ thứ trò để trả thù. Mà các ổng trả thù thì chết. Ví dụ đến một khúc đường tốt, đáng lẽ để cho anh đi thong thả lấy sức thì các ổng lại hô là bãi pháo và hét anh chạy vắt giò lên cổ. Các ổng cho anh chạy hộc máu mồm ra và đồ đạc rơi rớt hết. Hoặc đường mòn không cho đi mà các ổng cho anh lội toàn gai góc, đá tai mèo và thay vì đi 20 phút, các ổng cho anh trèo dốc vài tiếng đồng hồ. Cho nên gọi họ là trời cũng không có gì quá đáng.

Tôi quay sang Thu, nói to với giọng cấp chỉ huy:

- Trong lúc chờ đợi bác sĩ và mưa gió lê thê thế này, hai đồng chí giao liên có ý muốn đưa cô về trạm để cho y tá săn sóc cái chân đau của cô. Cô thấy thế nào?

Thu từ từ ngồi dậy, tóc Thu hơi rối. Thu cau mặt và khẻ thòng cái chân đau xuống đất, nhưng hai cậu giao liên đâu có nhìn cái nơi không đẹp đẽ ấy làm chi. Hai cậu sửng sốt trước gương mặt của cô Văn Công Trung Ương, mặc dù đang ốm đau nhưng vẫn cứ đáng nhìn như thường.

Thu biết tôi đã khơi mào nên nàng tiếp thêm:

-Điện gì mà lâu thế? Mọi lần em ở Mạc Tư Khoa, thưa thủ trưởng, em nói thẳng về Hà Nội được cơ mà. Em nói chuyện 4, 5 phút cũng không ai cắt.

- Đó là chuyện thời bình, còn ở đây là chiến tranh. Nhưng đối với em, Trung Ương cho cái đặc ân đó là quá xá rồi. Chứ ở đây có ai mà được như vậy, em cũng phải thông cảm Trung Ương một chút.

Thu lại nhăn nhó:

- Vậy em đề nghị thủ trưởng cứ cho em nằm lại đây chờ người tới rước, bây giờ em không tài nào đi nổi, thủ trưởng cứ trông đây cho rõ.

Thu đưa chân lên.

Tôi cứ xuýt xoa mãi. Tôi nói:

- Đành rằng Trung Ương sẽ có người tới rước, nhưng bây giờ hai đồng chí trạm có nhiệt tình, em cũng không nên từ chối, phải không hai đồng chí?

Tôi đưa hai cậu đến lều của Thu và nói ngay:

- Điện về tới Trung Ương ít nhất là hai ba hôm rồi. Chắc chắn như vậy. Nhưng còn từ Trung Ương điện vào đây phải vòng qua Khu 5 rồi Khu mới cho người tới. Và theo hai đồng chí này nói thì trạm xá gần đây nhất cũng mất hai ngày đường.

Thu lại cau mặt nhẹ nhàng:

- Khổ quá!

- Khổ thật! Nhưng biết làm sao bây giờ. Cũng may là có hai đồng chí đây… Bây giờ một mặt cứ vào trạm nằm, một mặt mình chờ Trung Ương.

Hai cậu giao liên thấy Thu quan trọng đến nỗi chân đau mà phải điện về Trung Ương, mà Thu lại gọi tôi là thủ trưởng thì tôi quan trọng đến chừng nào nữa? Cho nên hai anh chàng nài nỉ xin mời chúng tôi về trạm. Tôi cũng thừa biết rằng sở dĩ tôi quan trọng là vì tôi chỉ huy một cô gái đẹp. Thế thôi!

Cuối cùng Thu “nhận lời” vào trạm.

Những người nằm chung quanh đều nghễnh cổ lên nghe câu chuyện của chúng tôi. Có lẽ họ lấy làm ngạc nhiên về sự quan trọng của cô diễn viên múa, hay lấy làm lạ sự đãi ngộ đặc biệt đối với Thu, một bệnh nhân xoàng trong khi cả bọn họ đã nằm liệt mà có ai thèm để mắt tới cho đâu!

Nhưng ở đây không thể đối xử nhân đạo với ai hết, không thể bỏ qua một cơ hội để chụp lấy những quyền lợi bất ngờ, nhất là quyền lợi về vật chất: một mẩu cơm, một chỗ ngủ hay một viên thuốc. Ở đây người ta quen tàn nhẫn với nhau, quen lấn lướt nhau, quen hơn thua tranh chấp với nhau từng tí một có khi chỉ để được một mẩu cơm cháy. Chao ôi, thế thì tôi và Thu đâu có gì phải nghĩ suy cho mệt đối với những người bệnh đang nằm ngoài mưa kia khi chúng tôi được trân trọng rước vào trạm.

Tôi thú thật rằng tôi cũng chẳng xấu hổ chút nào. Họ có hiểu đâu là múa, đâu là Trung Ương, đâu là Liên Xô gì gì…Tôi thấy cần phải nói dối nhiều hơn nữa, hay hơn nữa để họ tin, để cuối cùng tôi được ngủ yên không ướt, được ăn no, hết sốt rét. Tóm lại trong một chữ: “sống”. Thế thôi! Ai muốn lý tưởng hoá cuộc trường kỳ lội bộ trên con đường kỳ cục này thì hãy cứ nhảy vào, ngay cả người đã lấy xương máu người khác để vạch ra đường này nữa, hãy vào, nhảy vào đi, rồi sẽ thấy.

Rồi sẽ thấy cái lý tưởng mà họ đặt ra cho những người khác tôn thờ sẽ chẳng bằng nắm cơm thiu hay những ngụm nước trong bi-đông trên con đường này.

Chớ ai trách tôi nói dối, tôi lừa gạt. Từ ngày tôi đi lên đường Trường Sơn tôi nói dối tất cả. Bạn tôi hỏi: còn muối không, tôi nói đã hết. Ai hỏi tôi: mệt không, mệt ít tôi nói mệt nhiều. Ai hỏi tôi gì gì tôi cũng tìm cách nói dối, trừ khi nói thật có lợi hơn nói dối thì tôi mới nói thật. Tôi thấy mọi người đều nói dối rất hồn nhiên, ngay cả những người lớn nói những chuyện tày trời, nói lừa nói đảo, thì việc gì mình thẳng ruột ngựa cho thiệt thân.

Một người quảy ba-lô và đồ phụ tùng cho Thu. Họ tỏ ý miễn cưỡng giúp đỡ tôi nhưng tôi lập tức chối từ vì sợ lạm dụng lòng tốt của họ.

Đi được một quãng thì phải qua suối. Chao ôi đó là một vấn đề khó khăn gian khổ (nhưng nhất định thắng lợi!). Tôi gài vấn đề ngay:

- Chân của cô Thu bị ướt có thể bị nhiễm trùng đấy!

Thu chống gậy đứng dừng lại bên bờ suối. Bóng Thu in dưới nước lăng tăng theo những gợn sóng bỗng nhiên làm tôi bồi hồi.

Tôi chợt nghĩ: Nếu không có tôi đề ra chủ trương khiêng Thu đi mấy ngày đầu và nếu bây giờ không có tôi ở đây thì Thu sẽ ra sao. Đêm khuya thân gái dậm trường.

Cậu giao liên trẻ bảo:

- Để tôi chặt cây bắt cầu cho chị qua.

Tôi gạt ngay:

- Đi đất còn không vững nữa là đi cầu!

- Thế thì chặt đòn khiêng.

- Gì mà phải khiêng, có mấy bước thôi, nhảy phốc cái là qua bên kia ngay. Chậc!

Tôi ngắm nghía một lúc rồi hăm hở lột ba-lô cùng thắt lưng ra trao cho cậu trẻ và bảo:

- Cậu mang hộ tôi.

- Chi vậy?

- Để tôi cõng cô ấy sang cho mau.

Cả hai đều nhìn tôi. Tuy không nói ra, nhưng họ đều cho tôi định làm một chuyện không thể làm được.

Tôi giục:

- Lại đây Thu. Anh cõng em qua. Chần chờ ở đây mưa trút xuống ướt như chuột bây giờ.

Thu chần chờ, không nói không rằng, vẻ mặt buồn hiu. Có lẽ Thu ngao ngán đến cực độ con đường vinh quang này. Đường gì mà đường vậy. Đi không được, đứng không có bóng mát. Còn mưa thì nhánh đổ đâm lòi ruột. Đêm ngủ thấp thỏm sợ kẻ gian phi ăn cắp dép và bi-đông.

Thu lắc đầu cương quyết:

- Nhiễm trùng thi nhiễm, em lội qua thôi!

Tôi quát to:

- Tôi ra lệnh cho đồng chí phải để tôi cõng!

Thu rơm rớm nước mắt.

Cậu giao liên trẻ đau khổ ra mặt. Còn anh kia thì nhìn tôi, chắc anh ta biết tôi cái thân còn không muốn nổi, tôi mà cõng Thu thì sẽ dìm Thu ngay xuống nước.

Anh này bảo cậu trẻ:

- Thôi em cõng chị ấy đi!

Cậu trẻ ửng vành tai, ngó xuống.

Thu hất mái tóc ra phía sau như để lấy lại bình tĩnh. Còn tôi thì tôi đã thấy kết quả nắm chắc trong tay rồi. Tôi nói tiếp giọng nhỏ nhẹ:

- Thu không nên e ngại. Thu coi cậu ấy như em của Thu vậy. Vả lại có gì đâu, chân Thu đau, còn cậu ấy thì tự nguyện giúp Thu như giúp một người yếu đuối hoạn nạn.

Thật là khóc hổ người, cười ra nước mắt.

Cậu giao liên trẻ khom lưng xuống và Thu chậm chạp bước tới với chiếc gậy, đôi mắt Thu không rời bàn chân đau đang chọn những chỗ phẳng để đặt xuống một cách vô cùng thận trọng.

Thật là não lòng, chua cay, tủi hận. Đó, phương tiện di chuyển thương binh của bọn tôi như vậy đó, có hơn gì thời Bà Trưng Bà Triệu hay không? Vậy mà phình bụng chơi với phản lực trực thăng. Đánh với thằng giặc nó đi hành quân máy bay, chở cả gà quay và giấy vệ sinh theo. Nó toàn bay trên đầu; còn mình thì cứ ngóng cổ cò lên mà dòm và phản đối bằng mồm, chuyên môn chui rút lén lút, một đóm lửa cũng không dám nhóm, một làn khói cũng phải quạt cho tan. Hỏi chiến thắng lấy đâu mà có?

Thu đang đi bỗng dừng lại. Thu lắc đầu nguầy nguậy:

- Thôi anh à! Để em lội tốt hơn. Chả sao đâu, có ướt thì lát nữa khô!

Cậu giao liên trẻ nhìn Thu. Có lẽ từ lâu nay cậu ta chưa thấy người con gái nào đẹp như vậy. Cậu ta đã tự nguyện cõng Thu qua suối, nhưng dù sao cậu cũng hơi ngượng.

Còn anh kia thì không giục thêm tiếng nào nữa, có lẽ y thấy cũng hơi kỳ kỳ cho Thu.

Tôi không biết làm sao nữa. Đã lỡ đến đây rồi không lẽ lại bảo thôi, nhưng nếu không giục thì chưa chắc Thu đã nhận lời. Chính tôi cũng thấy nó làm sao ấy.

Thu đứng nhìn dòng nước ra dáng suy nghĩ lung lắm. Bỗng Thu kêu lên:

- Em đã có cách rồi anh ạ!

- Làm sao?

Thu làm thinh đi lại chỗ cậu giao liên trẻ đứng, lấy cái ba-lô và mở ra lấy một tấm vải mủ. Xong Thu ngồi xuống xăn quần lên rồi không nói không rằng Thu quấn chặt tấm vải mủ chung quanh bàn chân sưng của Thu.

Vậy là Thu có lối thoát. Hai anh giao liên đều hoan nghênh cái sáng kiến của Thu, nhưng có lẽ cả hai cùng tiếc rẻ … cơ hội để giúp đỡ người ngọc qua suối, để lấy đó làm các nhịp cầu giao cảm về sau.

Cái sáng kiến đó thực hiện xong một cách chậm chạp, nhưng chắc chắn. Thu hỏi tôi, sau khi đã nai nịt kỹ lưỡng bàn chân đau:

- Như thế này nước vô được không anh?

Tôi nói:

- Nếu lội qua nhanh thì nước vô không kịp còn lội chậm thì nhất định nước vô ngay.

Thu không nói gì, nàng chống gậy chậm chạp đi xuống mí nước rồi bước xuống nước.

Tôi cảm thấy tê buốt đến tận tủy. Nhưng Thu cứ từ từ đi ra dòng suối.

Thu từ từ xăn quần cao lên cho khỏi ướt. Làn da trắng nuốt làm cho tôi thấy mà phải chạnh lòng. Trắng quá đi mất từ gót chân trở lên vẫn cứ một màu trắng như tuyết, như bông bưởi.

Có lẽ Thu hơi ngượng nên Thu không xăn nhanh mà chờ cho nước đến đâu Thu xăn lên đến đó. Có khi Thu phải dừng lại mà xăn để khỏi trượt ngã . Tôi cũng chờ nàng một cách tự nhiên. Thu không hề biết tôi đã dừng lại để nhìn đôi chân của nàng. Hai cậu giao liên cũng đưa mắt xoáy vào mục tiêu ấy.

Bỗng đùng !… Thu đang lội vụt trợt chân ngã xuống nước. Rõ tai hoạ thật! Hai người giao liên bương bả chạy tới. Tôi cũng cuống lên nhưng không thể đi nhanh được, vì tôi vừa dứt cơn sốt. Người sốt tối kỵ là trầm mình dưới nước. Tôi đã cố gắng hết sức để lội xuống nước. Những lỗ chân lông của tôi hở ra, hút nước vào tận tủy, cả người tôi tê dại, buốt lên, mất hết cảm giác.

Một chàng sốt rét lại muốn nâng đỡ một người bệnh thì làm sao? Cho nên tôi đã trượt chân và ngã xuống nước trước khi tới với Thu. Một cậu giao liên đã tới nơi và đỡ Thu dậy. Thu ướt loi ngoi. Thu nhìn tôi có vẻ buồn nản, trách móc hờn tủi. Tất cả tình cảm của một con người hay một con vật bị hy sinh đổ ra cái nhìn đó.

Cậu giao liên trẻ quàng tay qua lưng Thu, còn một tay thì nắm tay Thu một cách tự nhiên để đưa Thu đi tới. Hình như Thu cũng vui lòng về cái cử chỉ ấy

Thu ướt đẫm. Quần áo dán sát vào người. Bây giờ tôi mới biết rằng trong máu tôi còn nhiều hồng huyết cầu. Bởi vì tôi nhìn Thu, tôi thấy Thu đẹp và dường như tôi thấy hơi tiếc sao tôi không đến kịp để đỡ Thu.

Rồi cuối cùng Thu cũng qua được con suối. Sang đến bờ kia, Thu ngồi phệt xuống đất mà thở dốc. Mặt Thu tái lại trông tội nghiệp hết sức. Tôi vội vã đến mở những lớp ni-lông trên chân Thu ra. Thiệt là khốn nạn. Cái bàn chân thon nhỏ bây giờ tôi mới nhìn tận mắt. Nước lọt qua những kẽ hở ni-lông ướt cả vết thương. Những ngón chân đã quen những mặt phẳng và nhung lụa giờ đã tòe ra, móng xước lên và trầy trụa, tím ngắt.

Thu nhìn tôi săn sóc bàn chân cho Thu với vẻ hài lòng dễ chịu. Hơn tháng nay trên đường đá tai mèo này đâu có ai ngó ngàng tới Thu. Ai lo thân nấy! Còn lũ đàn ông vốn nịnh đầm, nhất là đối với các nữ văn công thì cũng quên bẵng đi cái đức tính thiên phú đó . Lâu nay đi chung với họ (các cô nữ văn công ấy) tôi nhiều lúc hay bực mình về sự yếu đuối, sự chậm chạp, sự nhỏng nhẽo của họ hơn là cảm thấy thơ thới vì sự tươi mát của họ mà ai cũng thích khi còn ở ngoài kia trong cuộc sống bình thường.


CHƯƠNG 8



Độ hơn một giờ đi bộ trải qua những đoạn đường vừa lầy lội vừa gồ ghề, chúng tôi đến trạm. Đây cũng là lần đầu tiên tôi được trông thấy cái mà người ta gọi là trạm. Đó là mấy cái nhà lợp bằng những tấm ni-lông rách nát, vá víu, đứng co ro dưới tàng lá rậm rạp của rừng xanh. Ấy vậy mà chủ nhà còn sợ máy bay trông thấy nên họ bẻ nhánh cây xếp trên nóc. Cái điều đặc biệt thứ hai là nhà không có vách.

Hồi ở ngoài Hà Nội chúng tôi tưởng rằng trạm là những dãy nhà như chùa trăm gian ở Hà Đông, trong đó có những sạp nứa tuy ọp ẹp nhưng năm ngã lưng rất thần tiên. Trong những cái trạm đó có những lò rất to nấu cơm cho hằng trăm người ăn một lúc. Khách đến trạm rồi chỉ cần bỏ ba-lô xuống sạp nứa, nằm nghỉ và chờ cơm dọn ra thôi. Cái gì cũng tuần tự, khoa học, thân ái như hồi kháng chiến chống Pháp. Nhưng khi tôi được biết cái trạm đầu tiên ở làng Ho thì tư tưởng và tình cảm của tôi hoàn toàn tan biến.

Trạm có nghĩa là không có nhà cửa bếp núc. Trạm có nghĩa là một nơi nào đó để cho khách dừng lại nghỉ ngơi hoặc một giờ, hoặc một ngày hoặc một tháng, trong đó xảy ra vô số việc phức tạp kể cả sự ăn cắp và lừa gạt lẫn nhau.

Người ta bảo rằng Miền Nam đã giải phóng ba phần tư đất đai và bốn phần năm dân chúng. Vậy mà đi hằng tháng trời, chúng tôi không gặp một cái nhà, không gặp một người dân. Đúng ra, gặp rất nhiều dân chúng, khoảng vài mươi người nhưng những người này không phải dân Việt Nam và khi gặp mặt chúng tôi thì họ đâm đầu chạy chứ không phải đến gần để biểu lộ tình “cá nước”.

Cho nên chiều nay mà tôi gặp được một cái mái nhà của trạm thật là một hạnh phúc lớn cho tôi.

Tôi và Thu mắc võng gần bên nhau, trên những chỗ cũ người ta vừa đi nên không phải sửa sang nhiều cho lắm. Bên cạnh chúng tôi là một con suối chảy ngoằn ngoèo. Vì trời mưa to liền mấy hôm qua, cho nên con suối cũng to, nước lên lé đé mặt bờ. Tôi định vào trạm hỏi xem y tá có ống tiêm không để nhờ họ tiêm dùm một mũi thuốc quinine 0,40 mà tôi đã mua và mang từ Hà Nội.

Nhưng khi tôi vào trạm để tìm y tá thì tôi lại thất vọng vì anh trạm trưởng cho hay rằng cái ống tiêm 5 phân khối hiệu Ideal của Hoa Kỳ vừa bể xong, cho nên bây giờ nhân viên trong trạm ốm cũng không có ống tiêm, phải đợi ít nhất 5, 6 tháng mới hy vọng có được.

Như vậy tôi đành cất ống thuốc vào ba-lô và nơm nớp chờ những cơn sốt. Mà quả thật như vậy, hôm sau tôi sốt. Tôi sốt 2 ngày thì dứt cơn. Đó là một điều đáng buồn vô cùng. Vì có lẽ là liều lượng ký-ninh mà tôi nuốt vào bụng không đủ sức để chế ngự những ổ vi trùng.

Tôi nằm trên võng thấy rờn rợn thì biết nguy to. Chập sau trán tôi hâm hấp, vành mắt nóng lên và mắt rơm rớm nước mắt, rồi tôi lại ngáp dài. Thôi! Đích thị hắn rồi! Thằng sốt rét lại đến viếng tôi!

Tôi hình dung rõ từng đợt vi trùng. Chúng hình tròn hay hình lưỡi lam theo lời bác sĩ giảng. Chúng xông vào cắt những túi hồng huyết cầu vỡ ra, hoặc quấn lấy những túi ấy và cũng làm cho nó vỡ ra, rồi xoắn lấy từng túi mà tiêu diệt.

Sau cuộc ác chiến, khi hồng huyết cầu chống trả lại có kết quả thì con người cứ eng eng không lên cơn hẳn, còn khi lũ vi trùng lấn lướt hoàn toàn thì bệnh nhân run lên ngay và xác hồng huyết cầu trôi bập bềnh trong máu. Vì thế sau mỗi cơn sốt, hằng triệu hồng huyết cầu bị tiêu diệt và do đó mà bệnh nhân cứ xanh lướt ra.

Tôi rất bình tĩnh nhưng lại vô cùng ngao ngán, bởi vì tôi biết bản thân mình đang lao vào một cuộc chiến đấu mà tôi biết trước kẻ chiến bại sẽ là tôi.

Tôi mơ màng nghĩ: phen này chết thật đây. Sốt gì sốt vậy, vừa ngóc đầu dậy được hai hôm lại ngã sốt. Mà đúng hai hôm. Nghe người ta nó cách nhật hoặc sốt cái kiểm 2, 3 hôm sốt một cơn như thế khó chữa lắm. Người ta ở rừng kinh nghiệm thế chứ không có sự giải thích khoa học nào hết. Tôi rầu rĩ vô cùng. Tuy sốt mà vẫn suy nghĩ lung tung, nào đường đi còn quá dài, nào quê hương, nào sự nghiệp, gia đình…

Nếu mà nằm lại đây trên dãy Trường Sươgn này thì hiu quạnh cho linh hồn và lạnh lùng cho nấm đất quá! Nhưng bây giờ thì biết làm sao bây giờ? Lỡ chân trót đã đi rồi. Đi rồi còn biết trở lại làm sao? Trường Sơn, cái tên đó hùng vĩ thật, nghe thì thích lắm, xem ảnh thì ai cũng mê say cảnh lạ kỳ thú, nhưng than ôi! Trường Sơn xanh bạt ngàn, xanh vô tận mà chẳng bới đâu ra được một lá rau, còn nấm của Trường Sơn nhiều người thèm quá, ăn bừa, ăn xong lỗ chân lông ra máu, một hộc máu ra mà chết. Nước Trường Sơn uống to bụng, phải nấu thật kỹ rồi mới dám nuốt vào. Mưa Trường Sơn thì bất ngờ và dai dẳng thúi đất, thúi cả thịt da.

Trường Sơn đứng về mặt dinh dưỡng thì không có gì đáng ca ngợi cả, ngoại trừ những bầy khỉ, voi và trâu rừng rất nhát, rất nguy hiểm. Tôi biết rằng con đường về là con đường đầu thai một lần nữa. Con đường về là con đường đói khát, con đường sấm sét, con đường đau khổ và gian khổ, con đường dốc, con đường dài, con đường đi không đến mà rồi vẫn phải đi, trên vai phải mang theo những sứ mạng bày đặt, không biết ai trao cho, một thứ vinh quang không có, một thứ tình cảm ái quốc giả tạo nốt, chỉ còn lại có tình cảm gia đình là thực mà thôi!

Bây giờ tôi nằm đây cách Hà Nội hằng ngàn cây số, cách quê hương cũng hằng ngàn cây số, trở ra thì không bao giờ, còn đi vô thì xa quá.

Đột nhiên tôi nhớ tới Lâm. Một chiều nọ trên đường đi mưa lâm râm. Lâm đi sau lưng tôi, Lâm nấc lên và nói mấy lời ngắn ngủi:”Lần đầu tiên tao cảm thấy đi không tới nơi!” — và lần này thì đến phiên tôi phải nói câu đau buồn đó.

Tôi nghe tiếng nói xì xào phía võng của Thu. Tôi nghiêng đầu nhìn sang. Một người đàn ông ngồi quay lưng lại phía tôi. Ồ lạ nhỉ! Sao có thằng nào vừa xấn đến mà lại trò chuyện thân mật với Thu thế kia. Kể ra nếu ở Hà Nội thì tôi không lưu ý đến làm gì, nhưng ở đây thì không phải thế. Tôi đang chỉ huy một người con gái, mà cô ta lại đẹp nữa, thì đâu có phải là chuyện chơi.

Cho nên tôi phải biết sử dụng cái quyền hạn của tôi chứ. Nếu chàng nó là một trong toán giao liên thì hay lắm, còn nếu là một kẻ nào khác mà mình chẳng có xơ múi gì được thì cho hắn lui ngay.

Nghĩ vậy tôi bèn gọi:

- Thu sang anh bảo, em!

Tôi cũng không nhớ là tôi bỏ tiếng “cô” mà dùng tiếng “em” đối với Thu từ bao giờ nữa. Tự nhiên hai bên xưng hô một cách thân mật. Mới nghe và nhìn hai người chúng tôi đi cặp với nhau, người ta có thể nghĩ đây là vợ chồng. Ý nghĩ này mới ban đầu không lấy gì làm cho tôi thú vị! Hơn nữa Phương mới rẻ xuống Khu 5 chưa đầy hai tuần- nhưng lần này sự xuất hiện của hai anh giao liên làm cho tim tôi thỉnh thoảng lại đập nhịp bất thường, cho nên khi trông thấy gã đàn ông kia thân mật với Thu thi chẳng trách gì tôi hơi bồn chồn.

Thu nghe tôi gọi thì quay lại. Trông gương mặt tươi cười của Thu tôi càng không vừa lòng chút nào hết. Tại sao tôi sốt nằm đây mà Thu lại vui được. Thu không chạy đến tôi như mọi lần. Thu chỉ nói vọng sang:

- Anh Việt đây này!

- Việt nào?

- Đoàn mình có mấy Việt?

Nghe nói đến cái tên Việt tôi muốn sỡn da gà. Bây giờ lại nghe hắn còn ở lại trạm này và gặp Thu thì thiệt là… Sự có mặt của chàng Việt ở đây còn hơn cả sốt rét.

Nếu ai muốn viết tiểu thuyết và xây dựng điển hình về một thằng ba que xỏ lá, dở trí thức, dở bần cố nông, dở Nam dở Bắc, quân sự ba rọi, văn chương lèm nhèm, tài ba vay mượn, đạo đức hạng bét thì xin đến gặp anh này. Chỉ trong vài câu chuyện, bạn sẽ nhận ra ngay những nét điển hình, khỏi phải mệt lòng điều nghiên. Nếu bạn là một cán bộ quân sự thì hắn sẽ nói chuyện chiến trường Điện Biên Phủ cho bạn nghe. Trong chiến trận ấy theo hắn kể thì hắn có tham gia tấn công hầm tướng Đờ-Cát-Tri và sau đó thì hắn được thưởng một cây súng ngắn Liên Xô mà người trao tặng là Cụ Hồ! Nếu bạn có chiến đấu ở Lào thì tức khắc hắn sẽ kể cho bạn nghe về thổ phỉ Lào. Nếu bạn là nhà văn thì hắn sẽ hứa đưa cho bạn xấp bản thảo độ 500 trang hắn vừa viết xong và chưa đưa cho nhà xuất bản nào hết, hoặc khoe rằng Nguyễn Tuân vừa mời hắn tới nhà chơi hôm qua để khen hắn về một bài nào đó của hắn sắp sửa “ló ra” trên báo…

Hắn biết Thu đau chân đi sau nên hắn sụt lại ở trạm này để chờ.

Bây giờ thì hắn đang nói chuyện với Thu. Thu nói chuyện một chốc rồi chạy sang tôi. Tôi hơi hờn, chả là mình cũng có hơi khó chịu vì sự thân ái đó mà! Tôi nhắm mắt lại và vờ nằm mê.

Nhưng Thu đã lắc vai tôi gọi rối rít:

- Anh… anh … ngủ à? Anh vừa gọi em có việc gì thế? Anh cần gì không?

Tôi mở mắt ra. Chập chờn trước mắt tôi là một người con gái, chỉ hương tóc thôi cũng đủ làm cho tôi tỉnh hẳn lên rồi. Thu nom sát mặt tôi và chìa ra một vật gì ngon lành.

- Anh có đắng miệng thì ngậm cái này.

Rồi Thu dúi vào tay tôi. Tôi không nhìn cũng biết ngay là một chiếc kẹo.

Trời đất! Ở chốn này mà có một chiếc kẹo cầm trong tay. Đâu phải là chuyện đùa. Mà dám cho người khác một chiếc kẹo như vậy lại là một chuyện phi thường hơn nữa.

- Em vừa móc túi anh Bảy Việt đó.

Thu nói “anh Bảy Việt” với giọng chế diễu và khinh miệt. Thì ra Thu đã thi hành cái chí sách của tôi rất kết quả. Tôi nghe cơn giận hơi nguôi nguôi và thấy mình vô lý.

Thu vui vẻ nói:

- Em đoán anh ta còn nhiều thức ăn trong ba-lô lắm. Anh nằm đấy để em xem nhé. Thế nào em cũng moi cho bằng được.

Rồi Thu vội vã ra đi.

Tôi nhìn Thu đi mà lòng buồn vô hạn. Thu là một người con gái rất đoan trang, tuy ở văn công nhưng không bị tai tiếng gì. Tính tình Thu rất phóng khoáng nhưng rất mực thước, người lạ mới biết Thu tưởng cô gái này bở xơi lắm.

Bây giờ, theo tôi đạo điễn, và có lẽ Thu thấy là có lý, Thu phải đưa những sự độc đáo của Thu ra để câu nhữ bọn đàn ông để lợi dụng chúng từng hạt muối, từng ngụm nước trở đi, để mà sống, để mà đi tới, không biết tới đâu nhưng phải đi tới, tới đâu thì tới.

Kể ra thì cũng hạ mình quá nhưng nếu không như vậy thì khó tìm được những thuận lợi “để phục vụ cách mạng”(!). Nghĩ như vậy mà tôi an tâm và cứ dùng Thu như một món hàng quý đem ra câu người mua cho họ nhìn ngắm, nghiên cứu nhưng không cho cho họ mó đến bao giờ.

Thu nói chuyện với anh Bảy Việt. Còn tôi thì nhìn chiếc kẹo trên tay tôi. Để nhìn cho rõ hơn, tôi đưa chiếc kẹo lên tận mắt mà nhìn. Chiếc kẹo cam to bằng cái đầu vặn trục đàn màu vàng ngậy. Tôi thấy thèm.

Tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện kỳ cục là trong một hoàn cảnh nào đó chính mình sẽ phải thèm một chiếc kẹo hạ cấp như thế kia! Ồ cái lý tưởng cao đẹp quá, bây giờ tôi không còn nghĩ tới nữa, không có gì dựng tôi đậy bằng chiếc kẹo con này. Xin mọi người hãy tin đó là sự thật.

Tự nhiên tôi vuốt ve chiếc kẹo, một khối lượng đường ít ỏi chỉ đủ đánh tan chất đắng trong lưỡi tôi thôi. Nhưng tôi đâu ăn chiếc kẹo đó ngay. Tôi phải suy tính xem nên đưa cho nó vào mồm lúc nào, để có thể hưởng thụ cao nhất đứng về mặt tâm lý cũng như về mặt sinh lý.

Nghĩa là trong tôi thoảng qua ý định là sẽ nhai chiếc kẹo đó khi Việt sang thăm tôi. Chắc chắn y sẽ nhận ra đó là tài sản của y bị sang đoạt một cách êm ái và đau đớn.

Và tôi chờ lúc ăn được tí cháo có chất mặn tráng qua môi lưỡi rồi sẽ xơi cái kẹo, lúc đó thì mình mới tiếp thu được vị ngọt một cách đầy đủ nhất.

Cuối cùng tôi mở giấy kẹo đưa lên mắt nhìn. Tôi không hiểu sao bỗng nhiên tôi vứt chiếc kẹo ra rừng.

Tôi nằm lặng người ra, đau khổ, bức rức , nặng nề và thấy nhục. Không phải vì ăn chiếc kẹo của Bảy Việt. Tất cả những người tìm ra con đường xuyên qua hàng ngàn cây số rừng sâu núi thẳm để đưa quân về “giải phóng Miền Nam” thật là giỏi chớ chẳng phải chơi đâu. Nhưng vạch đường là để cho người ta đi. Muốn cho người ta đi một con đường dài 100 ngày thẳng thét, liên tục như vậy và là con đường núi, đường đèo, đường lội, đường trèo, đường đi đêm không đốt đèn, đường đi hai ngày với một bi-đông nước và mấy vắt cơm thiu, con đường vác khổ sai mà không đủ muối gạo ăn, con đường qua sông không thuyền, con đường chưa ai đi và sẽ không ai đi nếu người ta biết trước và v.v…. Muốn cho hằng vạn quân sĩ hành quân trên một con đường nguy hiểm như vậy ít ra phải cho nó ăn nó uống, phải có thuốc có men, có bóng cây, có nhà có trạm nghỉ ngơi thì mới hòng mong nó đi tới nơi được. Đằng này thì không có gì cả, ngoài con đường trơ ra đó với những người dẫn đường bất mãn hà khắc, đôi khi ác nghiệt và lúc nào cũng muốn rời bỏ chức nghiệp của mình. Một con đường đầy những người bệnh liệt võng bên đường (không phải liệt giường vì ở đây không có giường) với bom đạn máy bay không ngớt với những toán đào ngũ trở lui do cả cán bộ tiểu đoàn “lãnh đạo” với những tên bất mãn tự gây thương tích để khỏi đi tới nơi v.v… Một con đường như vậy bảo sao người ta vui vẻ hy sinh mà đi cho được? Trước khi đánh nhau, có lẽ người ta nên nghĩ đến hai chuyện: phương tiện và tinh thần. Phương tiện ảnh hưởng rất lớn đối với tinh thần, nhưng tinh thần không thể thay phương tiện.

Chỉ nội cái sốt rét thôi cũng đủ đánh tan một nửa lực lượng vô Nam rồi.

Vượt Trường Sơn vai đeo ít nhất 30kilô súng đạn mà trong lưng chỉ có mỗi kilô muối và mươi viên quinine. Tôi nghĩ lại mà rùng mình.

Và kia nữa một cái hình tượng làm cho tôi nghĩ ngợi và bị cuốn hút theo: hình ảnh một chiếc xe đạp.

Ở giữa rừng núi đồi dốc đi một bước đã khó khăn mà lại có chiếc xe đạp thì chẳng khác nào như người ta đem lót bộ ván gõ lót giữa chuồng gà. Sang thì cũng có sang thật nhưng một sự sang trọng vô ích không cần thiết cho ai ráo trọi.

Ai đã đem chiếc xe đạp đến đây vậy kìa?

Nó có muốn đi không? Núi rừng này có phải là nơi hoạt động của nó không?

Có lẽ người ta bảo với nó rằng đi đến đây, nhiệm vụ của nó vinh quang và thiêng liêng hơn. Nó không còn là chiếc xe đạp cọc cạch ngày hai buổi chở người chủ đến sở làm nữa, mà nó đã trở thành một con chim đại bàng, một loại linh điểu có sức mạnh xớt cả nàng công chúa bay đi vượt cả đại duơng với đôi cánh lướt trên đầu người.

Cho nên bây giờ trông thấy chiếc xe đạp nằm gục bên bờ suối, tôi chạnh lòng. Nó đã đưa rước hằng trăm chuyến trên đường này, đã từng lướt qua mặt đồng đội một cách kiêu hãnh, nhưng bây giờ nó đã trở thành mớ sắt vô dụng không xê dịch được và cam tâm nằm đây như một thứ trò hề không mất tiền cho người qua lại.

Người ta đã dùng chiếc xe sắt.. như dùng chiếc xe người.

Thật trông thấy mà thảm thương!

Chiếc xe rả bèng ra. Tất cả bộ phận không còn dính vào nhau bằng bất cứ thứ keo nào.

Đời thằng cán bộ, có khác gì chiếc xe đạp kia? Nghĩ cho cùng tất cả những kẻ sống và những kẻ không còn sống trên Trường Sơn kỳ cục này, tất cả những kẻ chết rồi và những kẻ sắp chết trên con đường này đều là những nạn nhân của một người, một vị, một ông, một đấng, một ngày hay một thằng mà thôi.

Ngài ấy, đấng ấy, thằng ấy có tên mà có không tên như mọi người, có mặt mũi nhưng không ai nhận diện ra được nó. Nó khi tên Tâ, khi tên Tàu, khi mũi lõ, khi mũi tẹt, khi nó ngã sang bên này, lúc nó ngã sang bên kia, nó, nó, nó! Nó giết người lên đến số triệu, xương hàng triệu người kết ghế cho nó ngồi.


CHƯƠNG 9


Tôì nghễnh cổ nhìn về phía bên kia, mơ hồ nghe tiếng cười của Thu và Việt. Họ đang vui vì chuyện gì? Trên cái không gian Trường Sơn này không có gì đáng cho mình cười cả nếu không là cười ra nước mắt. Tôi đang tơ lơ mơ thì có người đến.

Tôi muốn gọi Thu về hay kêu rên lên tỏ rõ sự cần thiết có Thu bên tôi, nhưng cuối cùng tôi vẫn nằm im. Thì cái con người đến bên tôi tự nãy giờ lên tiếng. Không phải Thu mà là cậu giao liên trẻ lúc nãy đã dìu Thu qua suối. Cậu ta tên Chân. Tôi biết tên cậu ta nhờ lúc qua suối, người giao liên kia gọi cậu ta.

Chân đến bên võng tôi và hỏi:

- Anh sốt à?

Tôi khẽ gật đầu, không muốn cử động nhiều cho mệt xác, bởi vì cái câu hỏi đó thừa, và tôi đã trả lời không biết bao nhiêu lần rồi.

Trên con đường này có ai không sốt mà phải hỏi. Nhìn gương mặt hắn, tôi đoán hắn ra đây không phải tìm tôi, mà tìm người khác để “trao đổi tình cảm”. Nhưng vì tôi là chỉ huy của cái nhân vật mà hắn muốn gặp kia cho nên hắn phải xã giao với tôi.

Nghĩ vậy tôi từ từ nhắm mắt lại với sự rã rời tận cùng của tâm hồn và của thể xác.

- Anh ạ, anh có ăn cái này được không ?

Tôi mở choàng mắt ra ngay. Khốn nạn thân tôi, thú thật vì nghe tiếng “ăn” mà tôi mở mắt ra, chứ tiếng gì khác thì không mang lại được một kết quả như thế đối với tôi, cho dù tiếng đó là tiếng gì đi nữa.

Cái tiếng “ăn” bây giờ nó quan trọng làm sao, nếu không nói nó là trên hết.

Ai đã đi Trường Sơn đều thấy rõ việc ăn là như vậy. Người ta thèm ăn như một con vật. Các bạn đừng nghĩ rằng tôi bôi nhọ ai hay tôi xỉ vả những người vượt Trường Sơn trong đó có tôi. Đó là một sự thật. Bây giờ tôi quay nhìn lại và xác nhận điều đó một lần nữa rằng đó là sự thật hơn cả mọi sự thật.

Có người thèm ăn quá mà ăn cả tai nấm độc rồi chết, có người ăn vỏ khoai mì mà chết, có người sau những cơn đói khủng khiếp đã ăn quá no, tưởng nứt bụng mà chết, làm y tá phải cho uống thuốc ói ra. Tôi có nghe chuyện một người nọ ăn đến nứt bao tử mà chết.

Ngay như tôi nữa, đã có lần tôi nhặt những hạt gạo rơi trên vết xe thồ để nấu cháo loãng húp cho cứng gối.

Tôi nhìn thấy trong tay của cậu Chân có một cái “ca” (đít bi-đông i-nốc Mỹ) bốc khói. Và tôi ngóc đầu dậy ngay.

Chân nói:

- Em đem ra cho anh cái này.

Tôi ngồi bật dây và nhìn thẳng vào cái hiện vật kỳ lạ ấy không chút ngần ngại.

Chân nói:

- Anh ráng mà ăn. Chỉ có ăn thì mới đi được, còn ngoài ra thì thuốc tiên cũng không giúp được chân anh bước đi nổi đâu!

Vừa nói Chân vừa ấn ca cháo vào tay tôi. Sức ấm của nhôm truyền qua tay tôi, làm tôi tỉnh hẳn dậy. Không phải chỉ vì ca cháo, mà còn vì bất ngờ.

Trên vùng ma thiêng nước độc đầy ma quỷ này có ai lại cho ai một vật gì có giá trị đến thế. Đến đổi bạn thân thiết nhất đời cũng chỉ cho nhau được vài hạt đậu phộng rang.

Vậy mà anh giao liên này đã cho tôi cả một ca cháo nóng. Và lại là cháo thịt lợn. Thế mới lạ lùng .

Cậu giao liên ngồi xuống bên võng đợi tôi ăn. Cậu ta nói:

- Anh ăn đi để em lấy cái ca đem về trả lại cho anh trạm trưởng kẻo mất ảnh la em.

Cậu Chân chờ tôi húp hết ca cháo thì lấy cái ca đem xuống suối rửa rồi trở lên ngồi bên cạnh tôi.

Chân nói:

-Hễ anh ăn được thì thấy khoẻ ngay!

Tôi ngồi ngây ra trên võng. Chao ôi, tôi mất hết mọi cảm giác, tôi không thấy ngon, hay có lẽ vì nó quá ngon tôi không còn biết ngon nữa.

- Phải – Tôi khẽ gật đầu.

Mồ hôi tôi rơm rớm trên cổ và thấm ra ướt cả áo. Ca cháo làm tôi sống lại. Tôi có cảm giác như trong đời tôi chưa bao giờ ăn hai món gì ngon đến thế. Đó là món cháo nấu với ngọn rau, một thứ rau rừng giống như lá dừa nước thu nhỏ lại và những đọt non của nó queo lại như con cuốn chiếu. Nấu nó chung với gạo cho đỡ tốn gaọ. Tôi nói có mặt đèn làm chứng, mặt đèn tắt thì tôi tắt theo. Khi tôi vớt một ngọn rau lên thì chỉ có vài hạt gạo dính theo và khi tôi lấy muỗng quậy lên thì dưới đáy ca lồng lên những hạt gạo nở toè loe không múc được vào lòng muỗng . Như vậy cũng đủ đượm tình đồng chí lắm rồi, huống chi lại còn thêm mấy lát thịt heo.

Chao ôi! thịt heo tươi ở giữa rừng không hiểu làm sao lại có được. Nhưng rõ ràng mắt tôi trông thấy và khi nhai nó giữa những chiếc răng của tôi thì tôi biết đó là thịt heo.

Tôi nhỉn cậu Chân mà bàng hoàng hết cả người, không hiểu tại sao mình lại được cái đặc ân trên đời dưới thế không ai có được như vậy?

Tôi bèn chấp tay lại ngữa mặt lên trời cao thăm thẳm và, trong lòng còn bao nhiêu thành kính tôi vét hết ra mà vái lạy về phương Bắc và nói lên một ngàn lẻ một lần cái câu mà xưa nay tôi chưa hề nói:

- Ơn Bác, ơn Đảng!

Bác đã cho con đi vào con đường tối đại vinh quang này để cho con tận hưởng hương vị sốt rét và chịu đói đến tận cùng, rồi Bác mới cho ca cháo loãng này. Ơn ấy con nguyện kết cỏ ngậm vành! Ngày nào con sống con nguyện đền đáp!

Sau khi húp hết ca cháo và niệm xong mấy câu thần chú ấy, tôi khoẻ hẳn lên (!)

Cậu thanh niên tự nhiên xổ bầu tâm sự:

- Em đang học ở đại học anh ạ! Bỗng nhiên nhà trường bảo Đảng cần thanh niên xung phong, thế là chúng em tình nguyện ra đi bỏ cả sách vở và gia đình. Nhà trường hẹn rằng chỉ trong vài tháng đánh Mỹ xong thì em sẽ trở lại…

Chân ngồi im lặng. Có lẽ cậu ta sắp tố khổ đây. Ừ, thì cứ tố, tôi đâu phải đối tượng mà tôi lo. Người nghe không có tội gì, cứ nói!

Tôi hỏi:

- Thanh niên xung phong thì chỉ đi vài tháng rồi về chứ!

- Vâng, xưa nay vẫn thế!

- Nhưng bây giờ thì không phải vậy, phải không?

- Em nằm đây ngót năm rồi.

Tôi nhảy nhổm người lên.

Bây giờ tôi mới nhìn rõ lại người thanh niên. Tôi biết cậu ta là thanh niên bởi vì tất cả những cậu thanh niên trên đường dây này đều giống như cậu.

Nhưng khi nghe nói hai tiếng ĐẠI HỌC thì tôi giựt mình. Hồi nhớ lại cái khung cảnh trường Đại Học rộn rã tiếng nói tiếng cười, phất phơ nếp áo nếp khăn và mơn mởn những khuôn mặt tươi trẻ tràn đầy sinh lực, thì tôi mới thấy rằng cậu Chân sinh viên Đại Học Hà Nội trước đây một năm hiện đang ngồi trước mặt tôi chỉ còn là một con ngợm. Chân tự nhiên giở mũ lên và nói:

- Anh xem đầu em đây!

Trời đất, sao kỳ cục vậy? Tóc cậu bé đã bạc phơ hết, nói bạc gần hết có hơi quá đáng, nhưng nó đã hoa râm, đúng là hoa râm hay muối tiêu cũng thế.

Một mái tóc bạc như thế trên khuôn mặt non nớt vàng ẽo và cái cổ cao nhòng. Đó, hình dáng của một sinh viên lý tưởng của phong trào ba nhất, ba khoan, hai chống, mười tám xây, ba chục đừng và ở đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên!

Tôi hỏi:

- Sao mà dữ vậy?

- Em chỉ sốt có hai cơn thôi anh mà tóc em ra thế đó.

- Trời đất! Sao mà kỳ cục vậy? – Tôi vói tay sờ mái tóc của cậu thanh niên, để xác nhận thêm lần nữa cái sự thực kỳ quái đó.

Rõ ràng tay tôi sờ đụng những sợi tóc bạc trên mái tóc của cậu thanh niên giữa cuộc đời Trường Sơn này chứ đâu phải là trong vở kịch Lu-ba diễn trên sân khấu nhà hát lớn Hà Nội người ta chào một ông giáo sư già mà nhầm tưởng là Các Mác tái sinh!

Cậu thanh niên Hà Nội ngao ngán:

- Hồi đó đi em tưởng chỉ đi vài tháng rồi về học tiếp, không ngờ mới ban đầu thì chỉ đi tới làng Ho vận tải vũ khí, sau đó ít lâu em ngã sốt. Sau cơn sốt em không còn sức khoẻ để thồ nữa cho nên ban chỉ huy chuyển em qua giao liên.. Họ bảo công tác này sướng lắm, không cần sức khoẻ. Em cũng tin như vậy, định làm vài tháng rồi về. Chẳng ngờ sau khi trở thành giao liên, người ta lại thuyên chuyển em từ trạm này sang trạm kia. Bây giờ thì em biết em đã xa Hà Nội lắm rồi, không biết đường về nữa. Vả lại em cũng không thể về vì người ta không cho.

Thì ra trên đường này còn có những trường hợp bất đắc chí kỳ lạ như vậy nữa! Vậy là trên đường này, những con người đi đi lại lại, súng súng gươm gươm hùng hùng hổ hổ đây đâu có phải đều là tự nguyện đi “giải phóng Miền Nam”. Tâm tư của họ vô cùng ly tán, mỗi người một hoàn cảnh, một tư tưởng.

Kiểm điểm lại riêng tôi, từ Hà Nội ra đi, nghe ông Trung Tướng Nguyễn Văn Vịnh, thứ trưởng quốc phòng Chủ Tịch Ủy Ban Thống Nhất và hơn thế nữa, Ủy Viên Trung Ương Đảng nói chuyện, nghe như Giải Phóng Miền Nam sắp dọn mâm dọn bát ra ăn mừng rồi. Lúc đó tôi cũng phấn khởi lắm. Nhưng chỉ được vài ngày thì cái cục phấn khởi đó bị ngọn đồi “Ngàn linh một” xơi tái mất một phần rồi đến cơn sốt này nó gặm gần hết!

Chân nói:

- Khi em sốt, em cũng như anh bây giờ. Cho nên em hiểu những người sốt. Có thế thôi.

Tôi ngồi lặng thinh mà nước mắt tôi tuôn xuống ròng ròng, tôi không ngăn được. Tôi để cho những dòng nước mắt của một thằng đàn ông 15 tuổi đảng rơi chảy tràn trề trên má, trước mặt một cậu bé. Thế mà tôi không thấy chút xấu hổ, nước mắt của một kẻ tưởng sắp thành dã thú và chung quanh mình toàn là dã thú.

Thật vậy, một vị cán bộ cũng đi trên đường này, trình độ chính trị thừa lá mít, kém lá nho, có cây súng lục không biết lượm ở đâu lúc nào cũng đeo lên trên cần cổ, anh cán bộ đó nói một câu có giá trị xem như lời tuyên bố của Lênin trong Cách Mạng Tháng 10, rằng: “Chung quanh đây (tức Trường Sơn) toàn là loài thú, chỉ có tôi (tức anh ta) là người!” Ghê gớm thật!

Tôi không hiểu nổi tại sao Chân lại cho tôi cả một ca cháo như thế ở chốn này.

Thì ra còn có những con người còn là người, chưa đến nỗi nào!

Chân nói tiếp:

- Khi em dứt cơn sốt em thấy khô hết nhựa sống trong người, em đã trở thành một người khác hoàn toàn. Cho đến một hôm em soi gương mới hay mình bạc hết mái tóc.

Chân nói một cách thản nhiên hết sức. Có lẽ giờ cậu đã quen với mái tóc bạc trên đầu rồi. Nỗi buồn đã đi qua chăng?

Thiệt là hiện tượng lạ, hơn 20 tuổi đâu, vài cơn sốt và mái tóc bạc! Thế này thì cổ kim lịch sử ở đâu có? Hoạ chăng Ngũ Tử Tư tái sanh!

Tôi thương Chân quá! Tôi thấy ân hận tràn lòng. Tôi cứ tưởng ra đây là vì có “chất tươi” mà thôi.

Khi Chân từ giã tôi, tôi mới thấy ca cháo đã thấm vào cơ thể tôi một cách trọn vẹn và viên mãn lạ lùng. Tôi thấy khoẻ hẳn lên. Ước chừng có vài tô cháo xoàng xĩnh như vậy thì tôi sẽ đi được ngay.

Tôi không muốn nghe những chuyện mông lung, tôi muốn “lấy cơ sở vật chất quyết định tinh thần” chứ không phải nói một đằng làm một nẻo.

Việt và Thu kéo lại võng tôi. Thấy tôi có mòi tươi hơn chút, Thu cũng vui lây:

- Có thêm anh Việt, mình đi đường có bạn thì hơn anh nhỉ!

- Ừ, Việt cũng bệnh à câu? – Tôi hỏi.

- Tôi thấy hơi yếu, nên nghỉ lại một vài chuyến nhân tiện chờ anh và Thu đến và cùng đi.

Tôi biết Việt không thích gì tôi cả, trái lại Việt rất ghét tôi. Cái ghen ghét tầm thường của một thằng đàn ông bị con gái chê và yêu đối thủ của hắn. Thế thôi! Bây giờ Việt ở trạm này là để chờ Thu.

Việt hỏi tôi:

- Anh cắt cử được mấy hôm rồi?

- Vài hôm! – Tôi hỏi lại – Sao cậu vô đây được?

- Được chứ!

- Làm cách nào?

- Cho nó vài viên đá lửa.

- À ra thế! – Tôi nghĩ thầm – Chỉ bỏ ra vài viên đá lửa mà vào được chỗ đặc biệt này thì cũng không lấy gì làm khó.

- Vài viên là mấy viên? – Tôi hỏi tiếp.

- Hai viên thôi.

Tôi quên lững đi rằng ở chung quanh đây không có mậu dịch Tiền Phong (như người ta nói !) thì làm sao có đá lửa được. Tôi đã từng đổi một viên đá lửa được một nải chuối, một viên đá lửa cho một miếng bí đỏ. Vậy mà tôi còn những 40 viên đá lửa trong túi áo trên. Tôi bắt đầu quí cái hiện vật này từ khi tôi đổi chác được thức ăn với nó.

Việt ngồi gần bên đầu võng của tôi và hỏi:

- Thế nào! Nhà văn có đầy đủ cảm hứng để xây dựng đề tài chưa?

- Thừa rồi!

- Anh định viết gì?

Tôi hỏi lại Việt:

- Cậu thì viết gì?

- Tôi đã làm xong tập thơ “Trường Sơn vinh quang” gồm hơn 20 bài.

- Nhanh thế?

- Chậc ! Hứng mà!

- Tôi thì nguợc lại. Mất mẹ nó hứng!

- Thế anh chưa viết gì à?

- Từ ra đi đến giờ chưa có lấy một chữ. Giấy mang theo để làm bản thảo nhóm lửa hết rồi.

- Trời đất!

- Thư tình tôi còn đốt nữa là.

- Trời đất!

- Tôi thú thật với cậu điều này nhé!

- Vâng!

- Tôi không còn trí tuệ để nghĩ việc gì ngoài sự ăn. Lúc nào tôi cũng nghĩ đến ĂN và ĂN!

- Anh là người có tâm hồn và hoải bảo lớn lắm, theo chỗ tôi biết.

Tôi cười nhạt:

- Những thứ ấy tôi đã mang ra đổi chuối, đổi bí hết từ lúc nào rồi.

- Anh nói vậy chớ an tâm ngẫm một tiểu thuyết vĩ đại.

- Đó là do tài tưởng tượng của cậu chớ hiện giờ bút không mực và tim chỉ rung rinh khi nghe tiếng cơm cháo sôi bốc lên thôi!

- Anh đùa thật kỳ cục.

- Tôi nói rất thật.

Lẩm nhẩm một chốc rồi Việt lại tiếp tục câu chuyện văn học. Nói chuyện văn học với Việt thì chẳng khác gõ một cái mõ điếc., nhưng tôi vẫn không lẩn trốn được. Việt hỏi:

- Anh bất mãn nhà xuất bản Quân Độ Nhân Dân lắm phải không?

- Sao cậu biết?

- Biết chớ sao không biết!

- Biết rồi còn hỏi.

- Hỏi để biết thêm!

- Ừ thì nó vậy đó không hơn không kém nghĩa là tôi suýt độp vào mặt thằng cha trung tá Lữ Giang, giám đốc nhà xuất bản Quân Đội. Có thế thôi! – Tôi tiếp: – Cậu nghĩ coi mình mang tác phẩm mình đến cho nó in là do sự mời mọc cầu khẩn lạy lục của nó chớ đâu phải mình đi ăn mày. Hơn thế nữa khi tôi đến nhà xuất bản, thằng cha giám đốc Lữ Giang nó rót nước mời tôi và khen rằng:”đây là lần đầu tiên nhà xuất bản nhận được tác phẩm hay nhất nói về cuộc chiến đấu chống Pháp ở Nam Bộ” và hứa sẽ in trong dịp kỷ niệm Nam Bộ kháng chiến 1962. Tôi yên trí như vậy. Vậy mà rồi dằng dai mãi gần hai năm trời nó bắt tôi sửa đi sửa lại mười tám lần, rồi nó vẫn không in.

Nghe tôi kể xong câu chuyện, Việt bèn hỏi tôi:

- Anh biết tại sao nó không chịu in cho anh không?

- Tại sao?

- Vì nó sợ anh trở thành tư bản.

- Nghĩa là sao?

- Anh không hiểu gì hết à?

- Không! Tôi mà trở thành tư bản thì làm sao mà hiểu được?

- Anh có biết quyển tiểu thuyết của HVB không?

- Quyển gì tôi quên rồi.

- Tôi cũng không nhớ, nhưng đại khái với quyển đó, tác giả lãnh trên 2000$, hai ngàn đồng mua được năm chiếc xe đạp Thống Nhất, một lúc. Trong lúc một cán bộ trung bình phải để dành tiền một năm mới mua được một chiếc thì anh ta có thể mua được ngay năm chiếc, như vậy không là tư bản à?

Tôi phì cười:

- Tư bản kếch xù thế giới !

- Vì thế cho nên nó kiếm cách không in sách của anh, tôi nghe nói dày hơn sách của HVB, anh sẽ có nhiều tiền hơn.- Việt cười khè khè – Do đó anh có thể sắm ruộng, nhà lầu, thuê công nhân và bốc lột công nhân và trở thành đối tượng của cách mạng.

Tôi nghe xong cái lý do đó mà bàng hoàng. Tôi lặng người đi một lúc lâu rồi mới khẽ gật đầu và nói:

- Hèn chi!

- Hèn chi cái gì?

Tôi chẫm rãi kể:

- Số là lúc sắp tập trung vô trường đi B, tôi có lãnh tiền bản quyền một quyển sách được một ngàn đồng. Sau khi mua sắm các thứ, tôi còn dư một ít, với lại tôi bán chiếc xe đạp của tôi được 350 đồng. Như vậy là tư bản chưa?

- Tư bản cá kèo được rồi!

- Tôi nghĩ rằng đi đường sức khoẻ là chính yếu, phải bồi dưỡng sức khoẻ để đi. Bằng bất cứ giá nào, mình cũng phải đi cho tới quê hương mình. Mà muốn có sức khoẻ thì phải có thức ăn và thuốc men. Còn ở Hà Nội ăn ngon được ngày nào thì cứ ăn, còn lại bao nhiêu thì mua thuốc mang theo.

Một anh bạn của tôi cũng là nhà văn được gọi tập trung cùng khoá với tôi cũng đồng ý cái lối sống đó của tôi, cho nên hai đứa mới rủ nhau sớm thì cơm rang, chiều cơm tám giò chả, hết phố Huế đến Phú Gia, rồi Hàng Buồm. Rượu gì cũng uống từ bia hơi tới Mao Đài tửu, đến rượu sâm Triều Tiên.

Tôi và ông bạn nhà văn của tôi đang hưởng thú về cuộc sống có vẻ phiêu lưu giang hồ của mình rất là hiện sinh, thì một hôm, cậu chánh văn phòng của cơ quan rỉ tai bọn tôi: Này các cậu ăn xài làm sao mà công an nó theo dõi đấy!

Tôi ngơ ngác không biết họ theo dõi cái gì. Cậu chánh văn phòng cho biết rằng công an theo dõi tụi tôi là ai mà ăn xài tung hê như thế. Tụi tôi đặt nguyên cái bàn thường trực tiệm cơm tám gìò chả ở phố Huế. Tụi tôi quên rằng các cô mặc bờ-lu trắng toàn là nhân viên công an. Cho nên các cô xem số xe đạp của tụi tôi và biết tụi tôi ở hội nhà văn. Cậu chánh văn phòng phải giải thích cho họ nghe rằng tụi tôi là nhà văn độc thân viết được sách báo rất nhiều mà lại chẳng phải nuôi ai cả, cho nên tiêu xài như thế đó! Kể ra họ theo dõi cũng phải thôi vì người cán bộ bình thưòng ăn cơm chỉ 6 hào một ngày mà tụi tôi mỗi đứa ăn 2, 3 đồng một bữa, bảo sao nó không để ý ?…

Tôi kể xong câu chuyện cho Việt nghe rồi kết luận:

- Thì ra người ta không muốn cho mình sung sướng hơn người thường.

Việt nói:

- Cái đó không có văn kiện nào nói công khai hết, tuy nhiên,những sự việc đó làm cho mình nghĩ như vậy.

Việt lại cười và tiếp:

- Anh in được quyển tiểu thuyết đó rồi anh lấy tiền anh mua nhà, tậu ruộng; không phải là anh phá chánh sách hợp tác hoá nông thôn hay sao? Đảng đang chủ trưởng diệt địa chủ, trấn áp phú nông và kiềm chế trung nông cũ, hướng dẫn trung nông mới đi lên sản xuất tập thể mà anh mua nhà, tậu ruộng như vậy anh là địa chủ rồi!

Thấy tôi làm thinh, Việt lại nói tiếp:

- Anh đã thấy trường hợp của nhà văn PT và NCH đó. Cả 2 vị này sau khi xuất bản sách đã mua nhà tậu ruộng. Điều đó gây một luồng dư luận sôi nổi.

- Trong giới nhà văn đâu có dư luận gì xấu?

- Khô….ông! Trong giới lãnh đạo …

- Văn nghệ?

- Tôi nghe trong một cuộc họp Hội Đồng Chánh Phủ khi bàn đến đời sống dân chúng, các ổng có đề cập đến sinh hoạt của văn nghệ sĩ. Các ổng bảo là văn nghệ sĩ đang trên đường tư sản hoá. Các ổng nêu trường hợp của nhà văn NQS và anh là những nhà văn trẻ Miền Nam và cho rằng hai nhà văn nầy có sinh hoạt cao nhất ở Miền Bắc, hơn cả thủ tướng và bộ trưởng, vì hai nhà văn này không vợ con lại viết được nhiều sách, phim v.v… Các ổng bảo rằng đó là một hiện tượng không hay trong sinh hoạt xã hội chủ nghĩa, đại khái là một loại tư sản văn chương…!

Tôi cười nhạt:

- Nói vậy chẳng hoá ra trong chế độ xã hội chủ nghĩa của mình cái thiên đường của thế gian trong đó con người sẽ được ăn ngon mặc đẹp, sự sung sướng cá nhân là một điều tối kỵ hay sao?

Câu chuyện vừa đến đó thì Thu đến.

Thu nói ngay:

- Ở đây có bản, đi đổi đồ ăn được, anh ơi!

- Ai bảo?- Tôi hỏi ngay.

- Cậu Chân bảo mà! – Thu tiếp _ cậu ấy bảo rằng có cả lợn.

Tôi chợt nhớ ra trong ca cháo lúc nãy có mấy miếng thịt lợn.

Việt thêm vào:

- Tôi đã biết chuyện đó rồi. Tôi định chờ anh và Thu đến sẽ hợp tác với nhau đi đổi một chuyến, lớp ăn, lớp làm lương khô đi đường.

- Cậu định bao giờ đi? Đi mau đi mau!

- Anh đi được à?

- Tôi phải đi thôi.

- Tôi trông anh còn yếu lắm!

- Nhưng Thu đau chân, vả lại phụ nữ đi vào bản, có việc gì không đối phó được.

Việt biết ngay ý của tôi là ngăn chặn không cho Thu đi chung với Việt, cho nên y vội vã nói ngay:

- Nếu anh đi được thì còn gì bằng! Vậy Thu ở nhà coi đồ đạc, anh em mình đi, đi ngay đi!

Việt nhanh nhẩu trở về lều soạn đồ và quay lại với một mớ áo quần trên tay. Việt nói:

- Tôi định mang bộ đồ bà ba lụa về tới xứ Nam-Kỳ-Cuốc mặc chơi nhưng bây giờ thì những cái ý tốt như vậy đều nhường chỗ cho thịt heo cả.

Thu về soạn đồ và mang lại. Tôi cũng đem đồ theo rất nhiều, có thể nói là mang đi hầu hết ba-lô, kể cả đá lửa. Với cái lý thuyết phải ăn mới mạnh, tôi có ý định sẽ đổi tất cả số quần áo này với một giá bất cần để có cái ăn. Còn cái mặc thì còn cái quần tiều về tới nơi cũng tốt.

Công việc được quyết định và thực hành chớp nhoáng.

Thế là hai đứa tôi lên đường, y như là một cuộc phiêu lưu. Tôi và Việt đi vào trạm để hỏi đường đi nước bước.

Anh trạm trưởng bảo vắn tắt:

- Các anh cứ đi cặp bờ suối này ngược lên mãi, cứ đi mãi là đụng bản. Ở cái bản này cũng có nhiều đoàn đi qua đây, ghé lại đổi chác cho nên họ khôn lắm mình khó lòng gạt họ được như trước đây.

- Caí áo này đổi được cái gì? – Tôi hỏi.

- Tôi cũng không rõ. Tùy cơ ứng biến thôi, nhưng nên nhớ rằng họ biết hỏi tới đồng hồ Wyler và Printania đấy nhé.

Rồi chúng tôi đi.


CHƯƠNG 10




Thiệt là ghê gớm mà lại buồn cười. Bây giờ nhớ lại tôi còn rùng mình. Tôi không còn nhớ rõ hồi đó trạng thái sinh lý của mình ra sao mà lại bị lôi cuốn một cách ghê gớm đến thế. Tôi không nhớ mình đang sốt nữa. Nghe đến tiếng heo, gà, thức ăn là tôi cuống cả lên, không giữ được bình tĩnh.

Tôi cần ăn quá. Các bạn chớ cười. Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Tôi cần ăn tới mức độ thấy không cần thiết cái gì nữa cả.

Tôi và Việt đi ven theo bờ suối. Nước đổ ào ào. Nước trong như lọc. Những hòn đá mòn nhẵn đủ thứ hình hài nằm trải dưới chân tôi như những chữ đã gọt giũa của một trang thơ mênh mông.

Có những quãng cát mịn phẳng lặng trên đó in vài dấu chân người thật đẹp như những dấu chân in trên phiến đá của những truyện thần thoại nào, những dấu chân của một vì tiên nữ chẳng hạn, nghe chúng tôi đói rét bèn từ trên cảnh tiên bước xuống đây với chiếc bình vàng đựng cơm trên tay, sẵn sàng bố thí…

Tôi rất mừng vì tôi biết ở đây có sự sống, một cuộc sống hẻo lánh đìu hiu xa cách với mọi cuộc sống. Vậy mà con người vẫn sống, họ không muốn ai đụng tới. Bất cứ sự đụng chạm nào dù hay ho tới đâu cũng sẽ quấy rầy họ.

Đây là lần thứ hai sau hơn một tháng lội rừng vượt suối, tôi khao khát hơn bao giờ hết: gặp người! Hôm trước, khi đi bộ hơn tuần lễ, tôi cảm thấy mình lạc lõng vào chốn quá mông lung không biên giới. Bỗng nhiên tôi gặp giữa đường một cục phân heo và nghe tiếng gà gáy.

Tôi đinh ninh rằng sắp tới xóm làng, sau một thời gian cô đơn, mình sẽ được sưởi lòng với tình người dù những người đó không cùng dân tộc với mình. Nhưng hỡi ơi, càng đi càng thấy mình vẫn đi vào sa mạc.

Thì ra cục phân heo là phân heo rừng và tiếng gà gáy kia là tiếng gà…rừng nốt. Tôi thất vọng hoàn toàn nhưng không dám nói ra vì nếu tỏ ra những điều mình cảm nghĩ về con đường kỳ cục này thì ít nhất các cô gái sẽ oà lên khóc.

May sao sau đó ít lâu, chúng tôi lại gặp được một lũ người không rõ dân tộc nào, ngồi ở vệ đường mòn. Lần đó tôi còn ghi khắc trong lòng tôi như một kỷ niệm vô cùng sâu sắc.

Chúng tôi đổ dốc. Đến dưới chân dốc, cả đoàn chúng tôi tràn tới vây kín lấy họ, những người đi sau thấy không thể chen chân vào được nên bỏ đi.

Toán người thiểu số này có lẽ đã từng đổi đồ của khách qua đây, nên họ nhìn đoàn của tôi vây quanh mà họ không bỡ ngỡ. (Ở nhiều nơi, những người thiểu số trông thấy khách là chạy biến vô rừng.) Tất cả phẩm vật của họ đều do một người đàn bà có con mọn và một đứa con gái giữ trong một cái gùi bằng mây.

Người đàn ông ngồi bên cạnh, trên cái rễ cây đang hút thuốc. Vốn là tay nghiện nên Lâm hỏi anh ta có thuốc không? Anh ta lừ lừ nhìn Lâm. Lâm đưa tay vào miệng bập bập ra dấu. Anh ta gật gật đầu tỏ vẻ hiểu nhu cầu của Lâm.

Tóc anh ta phủ đến cổ, toàn thân trần trụi đen như một khối than hầm, không chỗ nào trắng hơn chỗ nào. Hai trái tai anh ta, hai cái khoen nứa, to bằng miệng chén chung nong ra mỏng dính như sợi chỉ. Lâm cởi ba-lô ném xuống trước mặt anh ta. Anh ta nhìn Lâm bằng cặp mắt trắng dã rồi có lẽ hiểu rằng người khách này muốn tìm thuốc hút, anh ta vội đưa cái ống điếu cho Lâm. Nhìn cái ống điếu, Lâm xua tay lắc đầu lia lịa.

Cái ống điếu to bằng cái bắp tay của Lâm. Nó đúng là một cái gốc tầm vông, chỗ nhét thuốc to bằng nắm tay. Toàn bộ chiếc ống điếu nổi nước láng bóng và khi chủ nó cần, nó có thể trở thành vũ khí.

Thấy Lâm từ chối, anh ta bèn móc ra một mớ thuốc để xuống đất. Lâm nhéo lấy ít sợi đưa lên ngửi. Lâm không nghĩ rằng Lâm có thể hút được thứ thuốc này. Anh ta thọc tay vào túi lấy một nắm khác dồn vào đầu ống điếu rồi cầm lấy một que củi, tưởng là củi thường chẳng ngờ anh ta chỉ gạt qua lớp tro đã thấy hòn than đỏ rực. Anh ta châm vào đầu điếu và kê mồm vào đuôi điếu, miết vào mà rít. Mắt anh ta dần dần nhắm, rồi nhắm nghiền lại. Má anh ta cóp dần, cóp hẳn vào . Gân cổ anh ta căng lên, khói hai bên mép anh ta tuôn ra cuồn cuộn. Một tay anh ta vẫn nâng đầu ống điếu, một tay đưa hòn than chạy quanh châm lửa cho liều thuốc cháy đều. Bỗng que than tuột ra khỏi tay anh ta, hai tay anh ta ghì hẳn vào chiếc ống điếu đang run lên với cái đầu đỏ rực như mòng của con rắn thần. Mồm anh ta vẫn không rời đuôi điếu, má anh ta phùng ra và cóp vào liên tục, càng ngày càng gấp. Mũi anh ta thở ra hai vòi khói cùng một lúc với hai bên mép khói vẫn trào ra. Cả làn khói ấy như bao kín anh ta vào một thế giới kỳ lạ và làm cho người xem sợ rằng máy bay có thể phát hiện mục tiêu. Anh ta vẫn rít liên tục, càng ngày càng nhanh, càng mạnh. Má anh ta cóp hẳn vào, và lần này không phùng ra nữa.”Bậc”! một cái, anh ta ngã quật sang một bên như bị kinh phong giật, nhưng tay vẫn nâng chiếc điếu lên như một dũng sĩ vẫn bám vũ khí trước khi ngã xuống… sa trường và không quên dâng vũ khí lại cho đồng đội. Người đàn bà có lẽ đã quen thuộc cái cử chỉ đó, chị ta thản nhiên đưa tay ra, nhận chiếc điếu và đưa lên mồm, hít một hơi dài, một hơi dài nữa, nhấc mồm ra khỏi đuôi điếu, phun khói ra từng làn ngắn, rồi quay lại chúm mồm miết gọn vào đuôi điếu, rít một hơi tưởng không bao giờ dứt, tưởng chừng đôi vú chảy xuống đến rốn của chị ta cũng run lên trong hơi rít ấy. Thằng nhỏ bị mẹ bỏ rơi nãy giờ tụ tìm lấy vú rúc đầu vào ngực mẹ, trong lúc chị ta vẫn như không hay biết gì, cứ rít mãi, hai tay chị như muốn vặn nát chiếc điếu ra, tóc chị như muốn dựng đứng lên, cặp chân mày xếch ngược lên, và đôi mắt cứ trắng ra như mắt của người sắp nhảy dựng lên mà chết.

Thu cầm nãi chuối cứ nhìn chị trân trối, đợi cho chị tỉnh lại, Thu mới đưa cho chị xem mấy món kim chỉ v.v… Chị gật đầu, chị vồ lấy, chị cầm cây kim với tất cả sự ngạc nhiên thích thú. Chị đưa cây kim lên với tất cả sự cẩn thận mà nhìn. Cả đứa con gái cũng chồm lên nhìn theo mẹ.

Chị ra dấu bảo Thu xỏ chỉ. Thu làm theo ý chị và trao lại cho chị. Chị cầm lấy sợi chỉ để luồng vào đít kim và rút qua rút lại. Hai mẹ con reo lên vì cái hiện tượng lạ lùng này.

Đứa con gái vụt thấy cái kim Tây cài trên túi áo tôi, nó chỉ chỏ vào chiếc kim tỏ ý ham thích. Tôi nhìn thấy trên cổ nó những chiếc kim Tây xâu vào nhau như một sợi dây chuyền.

Tôi lắc đầu, vì tôi chỉ còn có một chiếc. Tôi thấy xót thương nó qua, tôi mở ba lô lấy cho nó một sợi dây chuyền vàng. Đứa con gái reo lên, vồ lấy, nó đặt sợi dây chuyền trên lòng bàn tay rồi lại sang qua bàn tay kia. Mẹ nó chụp lấy đưa lên tận mắt. Hai mẹ con nói líu lo những câu gì không hiểu. Thằng bé con rời vú mẹ quay mặt ra, quơ quơ tay với lấy. Người đàn ông như bị đánh thức dậy bởi những tiếng reo ngạc nhiên vừa rồi. Anh ta ngồi bật đậy và dán mặt vào sợi dây chuyền, anh ta cầm lên tay, để cho sợi dây chảy dài xuống, giơ nó lên cao quá đầu và niểng đầu qua mà nhìn lên. Đoạn anh ta quàng sợi dây chuyền vào cổ đứa con gái. Cả ba cùng nhìn cái vật màu vàng lấp lánh kia và dù chẳng hiểu gì về giá trị của nó, họ vẫn cười, nụ cười vừa sung sướng vừa ngỡ ngàng…

Người đàn ông trỏ cả gùi chuối chín, sắn và gùi thuốc của anh ta, tỏ vẻ ưng thuận đổi cả những thứ ấy với sợi dây chuyền vàng.

Chúng tôi chia nhau kẻ mang, người xách. Xong lại ra đi như vừa thu một món chiến lợi phẩm khổng lồ. Đi đã xa mà tôi còn ngoảnh lại, tôi muốn nhìn lại những nụ cười của những người rừng.

Tôi vừa bóc vỏ một khúc sắn, đưa lên miệng nhai rau ráu và nói:

- Sở dĩ mình biết cái mánh khoé là do một ông bạn từ trong Nam mới ra kể laị. Chậc! Mình tàn nhẫn thật. Đồ giả đem đổi lấy đồ thiệt của người ta. Vậy mà ăn ngon lành!

- Nhưng họ vẫn vui lòng! Điều quan trọng nhất là không ai ép buộc ai. – Lâm đáp và lại bóc vỏ một quả chuối, đưa lên miệng cắn nhai ngồm ngoàm.

Lâm suýt phun ra. Chuối toàn là hột và cay như có lẫn hạt tiêu, nhưng Lâm vui vẻ : nuốt cả không được thì ta nhai nuốt lấy cái nước. Dù sao cũng là vitamin C.

Lâm đang đi bỗng rẽ sang một bên. Lâm kêu to lên:

- Quăng xuống cho mình một nhánh với!

Tôi rẽ vào, thấy một cậu đang leo lên cây bứa và hái những lá non. Lâm không nói không rằng, cởi ba-lô ném xuống đất và leo một mạch lên cây. Rắc rắc rào rào. Lâm bẻ lia lịa quăng xuống đất:

- Tha hồ chiều nay nấu chua nêm bột ngọt!

- Nữa thôi?

- Còn khả năng thì cứ bẻ! Mai ăn!

Lại rắc rắc rào rào. Lâm leo chót vót ngọn cây, bẻ trụi hết những tượt non quăng xuống. Lâm nói:

- Một cái đọt bứa này có thể giúp ta qua cả một bãi sa mạc.

Rồi chúng tôi lại đi.

Tôi vừa đi vừa nhớ cặp vợ chồng anh thiểu số với sợi dây chuyền vàng giả. Tôi tự hỏi: Trang điểm với ai ở giữa rừng này?

Phải chăng con người trong lúc vươn lên muốn trang điểm cho mình một bộ mặt thật đẹp đẽ để hãnh diện vói cỏ cây, nhiều khi chỉ bằng đồ trang sức giả hoặc đồ trang sức giả mà họ không biết. Để đạt được mục đích này họ dùng tất cả những thủ đoạn, kể cả sự chế tạo ra những lý thuyết, những tà thuyết – và họ dùng những thuyết đó như những đồ nữ trang…

Bỗng nhiên tôi sực nhớ ở ngoài miền Xã Hội Chủ Nghĩa có một cặp vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Bà vợ công tác trong cơ quan, nhưng anh chồng thấy chị vợ không “tiến bộ” nghĩa là chưa vô đảng. Một hôm anh chồng trong canh khuya gà gáy mới rỉ tai chị vợ rằng: sao mãi mà chưa thấy em được “chiếu cố”? (!)

Chị vợ đáp: em thấy không cần thiết!

Anh chồng hơi bực mình, nhưng dù sao cũng không thể trấn áp được cô nàng vì đó đâu phải là kẻ phản động, hơn nữa, đó lại là … nàng!

Nàng nói tiếp:

- Anh đừng tưởng ai cũng thích vào đảng!

Tóm tắt câu chuyện là vậy. Có lẽ câu chuyện này nên được viết ra và xuất bản bằng tất cả ngôn ngữ trên thế giới và điều cần yếu nhất là các vị chủ tịch Đảng nên đọc!

Vì thế cho nên trước khi có ý định giải phóng Miền Nam thì những người bày đặt ra cái chuyện đó phải tự hỏi mình: “Miền Nam có cần giải phóng không?” Giải phóng xong họ sẽ mang đến Miền Nam những gì, nếu không là phiếu đường, phiếu vải, nếu không là những cuộc họp liên miên và những nghị quyết, những chỉ thị như những cái nôm sắt chụp vào đầu thiên hạ, nếu không là một cuộc cải cách ruộng đất tái diễn mà kết quả không có gì khác hơn là một cuộc sửa sai, sửa những sai lầm không đời nào sửa được . Các vị ấy đã thua và sẽ thua trận vì bệnh chủ quan. Đó là điều chủ yếu!


CHƯƠNG 11


Đang đi bỗng tôi dừng lại lắng tai nghe. Cái gì hình như có tiếng người rên rỉ. Tôi lắng tai nghe kỹ lại rồi nói với Việt:

- Có tiếng người thật cậu ạ!

- Sao tôi không nghe gì hết?

- Đấy …. Cậu phải lắng tai thật kỹ.

- À…à…!

- Có lẽ một người bị thương hay bị nạn gì đó.

Tiếng rên bỗng to lên. Hình như nạn nhân nghe chúng tôi bàn tán với nhau nên kêu to lên để cầu cứu.

Tôi nói:

- Mình đi vào hướng này chừng vài bước thì sẽ thấy ngay.

Nói xong tôi bước về hướng có tiếng rên. Việt bảo:

- Thây kệ nó anh, làm quái gì cho mệt!

- Coi có ai bị thương, bị nạn, mình cứu dùm! Trên đường này toàn là anh em mình chớ ai vô đây!

Nghe tôi nói, Việt bèn đi theo tôi – Quả thật chỉ cách bờ suối vài mươi bước có một cái củi phủ đầy lá, mới nhìn tôi ngỡ rằng đó là cái chuồng lợn. Tiếng người rên rỉ trong cái củi ấy phát ra làm cho tôi sửng sốt. Sao lại có chuyện kỳ cục vậy? Tôi bước tới và nhanh tay giở một cành lá nom sát vào song củi. Tối om, không thấy gì hết chỉ thấy hai chấm sáng phản chiếu về phía tôi, làm cho tôi hơi ái ngại. Tôi lùi lại, thì trong cái bóng mờ mờ đó thấy có sự cử động. Tôi giở tung một cành lá lên, thì trời ơi… đúng là một con người …một thằng người đã hoá thành con vật, hay con vật đang hóa ra người? Hắn chìa tay ra xin tôi nhưng không rõ hắn muốn xin gì. Tôi định thần nhìn kỹ. Và Việt reo lên:

- Mỹ! Mỹ anh ạ!

- Hả… cái gì?

- Thằng Mỹ mà.

- Thế hả… ờ ờ…

- Anh xem mặt mũi râu ria nó kìa …há há…. Mẹ kiếp sao lại chui gọn vào cái củi này mà nằm vậy?

Hắn nằm trong một cái củi trông như một con dã nhơn, tay chân dài lõng thõng, lông lá rậm rì. Hắn lại chìa tay ra xin. Nhưng chúng tôi có cái gì đâu mà cho hắn?

Việt hỏi:

- Anh có biết tiếng Mỹ không, nói với nó vài câu xem tại sao nó lại vô nằm nghỉ mát ở đó vậy?

Tôi bèn ngẫm nghĩ một lúc rồi lục soát lại trong trí tôi lôi ra mấy câu tiếng Ăng-Lê mà tôi đã bỏ lấp trong bụi bặm thời gian mấy chục năm qua…

- Sao anh nằm đây? Anh tên gì?

Nhưng tên Mỹ kia chỉ nhóp nhép miệng thôi, hắn nói không ra tiếng.

Thiệt là khó xử cho bọn tôi. Làm gì bây giờ? Cứu hắn ư? hay đi báo cho anh trạm trưởng?

Chắc chắn có một người nào đó đã bắt được hắn và đã ban cho hắn cuộc sống “vui vẻ” thế này.

Thật tình tôi không thêm không bớt. Cái củi nhốt hắn chẳng khác cái chuồng lợn. Những chấn song to bằng cái cột nhà. Cái nắp chuồng làm bằng những thân cây to hơn và cái chân phải của hắn bị xích vào một gốc cây sống mà người ta dùng làm 1 trong 4 cái cái trụ chuồng. Nếu không bị xích, tên Mỹ kia cũng không thể tung ra nỗi vì cái khối lượng gỗ trên đầu hắn quá nặng, so với sức lực cùng kiệt của hắn.

Tôi nói với Việt:

- Về cho anh trạm trưởng hay đi.

- Làm quái gì! Kệ nó anh ạ! Hơi nào mà nhân đạo.

- Làm thế này coi kỳ quá. Ai lại đối xử với tù binh như vậy.

- Ở cái xứ rừng này mà…

- Rừng thì rừng, cũng phải văn minh một tí chứ.

- Anh toàn lo những việc bao đồng .

Nói xong Việt lôi tôi đi. Tôi còn dùng dằng nửa ở nửa đi thì có tiếng người đi tới rồi tiếng gắt gỏng:

- Ai đó?

- Tôi.. tôi đây!

Tiếng chân dẫm trên nhánh khô nghe răng rắc có vẻ hấp tấp lắm

- Ai? … Tới thả thằng Mỹ hả?

- Không, tôi coi thôi mà!

Tôi vừa dứt thì anh trạm trưởng ló mặt tới:

- Ủa sao không đi đổi thịt đi?

- Thấy chuyện lạ, tôi mới ghé đây xem.

Tôi vừa nói vừa nhìn anh trạm trưởng. Tay anh xách một cái gà-mên và mấy món chi chi khác.

Tôi nghĩ thầm chắc anh ta đem thức ăn cho thằng Mỹ, phải vậy mới được chứ. Dù nó là kẻ thù nhưng bây giờ nó ở trong tay mình rồi, mình phải đối xử tử tế với nó.

Anh trạm trưởng nói ngay:

-Anh xem ngộ không? Khà khà….

Tôi được nghe anh trạm trưởng kể lại về tên Mỹ này và lý do tại sao hắn phải chịu sự trừng phạt như sau:

- Một hôm hai anh chiến sĩ từ quân y về đơn vị đi ngang qua trảng, ở gần đây có một cái trảng lớn lắm. Cả một vùng đất rộng, không có cây mọc. Nó trọc lóc như sân bay vậy. Mà thật, máy bay trực thăng đáp xuống đó nó bắt anh em mình luôn. Bởi vậy cho nên người ta ngán, không dám băng qua cái trảng đó. Mà nếu không đi băng qua trảng thì phải đi vòng. Thay vì mất một tiếng đồng hồ, đi vòng phải mất 3 tiếng.

Thế cho nên hai anh em thương binh mới bàn nhau là băng qua trảng cho khoẻ. Bệnh mới ra viện mà! Thế là hai anh em rủ nhau đi. Xin nói thêm là hai anh có mang cả súng theo. Quả thật cái gì mình sợ thì thường hay xảy đến cho mình.

Hai anh đi được một phần trảng thì có tiếng máy bay. Mà ở đây máy bay trực thăng độc lắm anh ơi! Nó qua trảng trống thì nó bay rất chậm và bay sát mặt đất để xem hể có người thì đáp xuống ngay. Trời đất! Nó bắt người ta như diều xớt gà vậy anh ơi! Nó bắt người ta luôn. Có lần nó xớt một cô y tá.

Ăn quen cho nên chồn đèn mắc bẫy, anh cũng rõ là khi người ta thuộc quy luật thi người ta tìm cách đối phó chớ! Dại gì để cho nó chơi mãi.

Hai anh thương binh lính quýnh không biết làm thế nào, vì bốn phía đều không có lấy một cái bóng cây để núp, mà chiếc trực thăng đã tới nơi rồi. Một anh nhanh trí bèn rút khăn ra vẫy vẫy. Còn anh kia thì giấu súng trong bụi cỏ và ngồi chờ. Quả thật trực thăng thấy khăn trắng thì tưởng có người muốn về chơi bên xứ Mỹ với hắn cho nên đáp xuống ngay không chút ngần ngại. Một tên Mỹ nhảy xuống… chưa kịp làm gì thì đoành đoành… Anh chiến sĩ kia giương súng bắn máy bay. Thằng phi công hoảng quá bèn cất cánh lên, bỏ thằng này lại.

Bỏ mẹ rồi, nó bay lên đâu dám bắn xuống bởi vì nó sợ trúng cái thằng ở dưới này. Nó bay thẳng về báo cáo. Chập sau chúng nó kéo nhau trở lại hàng đàn nhưng không còn ai hết!

Thế là tham thì thâm. Muốn bắt người ta, chẳng dè bị người ta bắt. Cuối cùng thì tôi phải nuôi báo cô cái thằng ôn dịch này.

- Là vì..- Anh trạm trưởng kể tiếp – hai anh thương binh kia giải nó về đơn vị, dọc đường trong lúc nghỉ trưa, nó đã giật súng AK và đập một anh suýt bể đầu, bây giờ loạn thần kinh không chữa được. Hai anh đều chủ quan vì thấy thằng Mỹ hiền lành quá, bảo cái gì cũng làm theo, cho nên hai anh không trói nó lại. May mà nó không biết bắn AK, chứ nếu nó biết bắn thì chết cả rồi. Và bây giờ nó nằm ở đây!

Để đáp lại tấm thạnh tình của ông Mỹ, đơn vị của hai anh chiến sĩ kia đã làm cái củi này… Sau khi đã giã cho mềm xương, họ mới tống vào đây và giao cho tôi … khì … khì…. Họ còn giao cho tôi một ít gạo và bảo cho nó ăn vừa đủ sống, lại còn bảo tôi lâu lâu nhớ xối cho nó vài thùng nước cho nó tắm. Đó, nó cứ tắm theo kiểu đó cho nên quần áo mục hết còn mình mẩy thì ra thế đó!

Anh trạm trưởng nói tiếp, giọng anh rất thản nhiên trước những cực hình mà thằng Mỹ chịu đựng. Anh ta cười khoái chí:

- Tôi như lũ sơn thần thổ địa trong Phong Kiếm Xuân Thu vậy, anh nhớ không?

- Ờ.. ờ… trong Phong Kiếm Xuân Thu…

- Anh nhớ cái hồi Tôn Hành Giả bị Phật tổ nhốt nằm dưới Ngũ Hành Sơn không ? Hàng ngày sơn thần thổ địa vâng lệnh Phật tổ đem đá cục tới cho ăn và đem nước suối đến cho y uống …đó!

- À, tôi nhớ ra rồi!

- Tôi bây giờ cũng vậy – Anh trạm trưởng vui vẻ tiếp – Ngày nào tôi cũng mang cơm tới cho nó ăn đủ sức để ngo ngoe thôi, đừng để nó chết. Đại khái là như vậy. Kể cũng vui vui, nhưng tôi không dám cho anh biết vì anh làm văn nghệ mà, anh biết được thì anh về anh làm văn, anh nói lung tung ra ảnh hưởng không tốt.

Tôi cười:

- Bây giờ tôi biết rồi thì làm sao?

- Tùy anh! Anh cứ nói cho đúng lập trường thì thôi!

Rồi anh giao liên lấy cơm trong gà-mên ra cho tên Mỹ ăn. Trông thiệt thảm hại hết sức, tôi không dám nhìn. Anh trạm trưởng ném vắt cơm vào trong củi. Thằng Mỹ vội chụp lấy, không cần xem đó là vật gì, đút vào mồm nhai ngấu nghiến và thau láu cặp mắt nhìn bọn tôi. Anh trạm trưởng cắt nghĩa:

- Nó ăn như vậy hơn hai tháng rồi đó. Không hiểu các chả nuôi nó làm gì, đem mà “bụp” cho rồi cho khoẻ cái thân nó. Trước sau gì cũng phải chầu trời mà, nhưng các chả muốn hành tội nó để trả thù, cho nó nếm đủ mọi cực hình giữa cái Trường Sơn này, chớ nếu cho nó chết ngay thì nó sướng hơn mình hay sao?

Tôi hỏi tên của tên Mỹ lần nữa, nhưng hắn không đáp. Có lẽ hắn quên mất đi tên tuổi của hắn, hay hắn không muốn xưng hô ra làm gì.

Tên Mỹ ăn cơm xong hồi lâu nhưng anh trạm trưởng cứ dần dà không cho hắn uống nước. Anh trạm trưởng nói:

- Lâu lâu các cha trong đơn vị ra đây. Ối chao! Đó là ngày xấu nhất của hắn. Các cha làm đủ thứ trò. Nào là đem cơm ra ăn trước mặt hắn, nào hút thuốc phà khói vào củi v.v… Thằng này ghiền tợn lắm đồng chí ạ! Nghe khói thuốc là tỉnh dậy ngay. Các chả chơi ác lắm, các chả cho nó điếu thuốc mà không bao giờ cho lửa. Nó cứ cầm trên tay hoài nhưng không biết làm sao hút. Rốt cuộc nó bỏ vào mồm nhai ngấu nghiến và nuốt luôn.

Có lẽ muốn được xem lại cái cử chỉ đó tái diễn Việt bèn móc thuốc cuộn thành điếu rồi đưa cho hắn. Việt vừa thò tay qua song củi thì hắn chộp lấy ngay. Hắn đưa lên mũi hít hít, cặp mắt hắn sáng lên như cặp mắt của người mới chết được hồi sinh.

Việt lại móc thuốc châm lửa hút. Tôi không thể chịu nổi cái trò chơi như vậy, tôi bảo:

-Cho nó tí lửa đi, tội nghiệp nó! Không biết con cái nhà ai vậy?

Tự nhiên tôi đâm ra thương thằng này. Không biết cha mẹ nó ở đâu, giờ này có hay con mình đang lâm đại nạn…

Chắc chắn thằng này sẽ chết nay mai. Cái chết là đã đành rồi, nhưng còn cha mẹ nó? Ai mà báo tin?

Anh trạm trưởng đi ngoài suối một chốc rồi trở vào với một thùng nước trên tay. Anh cầm thùng nước xối ào lên đầu thằng Mỹ. Thằng này vừa sợ lại vừa mừng. Hắn ngữa hai bàn tay ra hứng lấy và cho vào mồm nuốt ừng ực. Anh trạm trưởng giải thích:

- Vừa tắm vừa cho nó uống nước luôn.

Tôi đột nhiên nghĩ đến tôi. Mình có hơn gì nó? Chỉ khác với nó là mình không bị nhốt trong củi mà thôi.

Hai đứa tiếp tục đi đổi thức ăn. Loài người xâu xé nhau đổ máu chỉ vì ăn. Mới nói qua, nghe hơi thô lỗ nhưng suy cho kỹ quả là đúng như thế. Cái món ăn có khi là một quốc gia, một cái nhà máy, một đồn điền, hay thật sự chỉ là nắm cơm, một mẩu thịt.

Phải chăng dưới mắt một số người, Miền Nam của Tổ Quốc ta là một miếng ăn, một mâm cỗ , người thì muốn giữ, người thì muốn giật lấy tọng vào mồm. Thằng Mỹ kia và tôi đây là nạn nhân thảm khốc của sự tranh giành ấy. Máu đổ ra, người chết vô lý, nhưng ai cũng có lý của mình, cho nên hằng mấy chục năm, người vẫn chết, máu vẫn đổ, không ai ngăn được, không ai chịu ai!

Việt cười thích thú vì cái trò cho thuốc hút mà không cho lửa của anh ta, còn tôi thì càng nghĩ càng buồn. Miền Nam ta quả là mâm cỗ ngon lành. Những kẻ lôi thôi lếch thếch vác súng đeo gươm đi trên đường này chịu nắng mưa mang bệnh mang tật là để chiếm cho được cái mâm cỗ kia theo ý định của một số người. Còn thằng Mỹ kia ở phương trời nào không biết, dẫn xác đến đây là để giữ cái mâm cỗ kia, cũng theo ý định của một số người. Mâm cỗ quá to nên người tranh cũng đông mà người giữ cũng đông.

Cái xã hội loài người trên dãy Trường Sơn này bị ném vào một sự hèn mạt tột cùng của vật chất. Họ chỉ nghĩ tới ăn. Không nên trách cứ, chê bai, khinh bỉ họ, bởi vì ai sa vào cảnh của họ thì cũng sẽ như họ mà thôi. Chắc chắn như thế! Chắc chắn!


CHƯƠNG 12


Cuối cùng, chúng tôi đi đến một chỗ quanh của con suối bên một hốc rễ cây. Tôi nhìn thấy những trái bầu khô xếp bên cạnh nhau rất thứ tự. Đó là những quả bầu đựng nước suối, miệng quả bầu nhét nút bằng một loại lá cây cuộn tròn. Bên cạnh quả bầu này là một cái hố con đào trên bờ cát. Nước suối thấm vào đấy và được lọc ra những lớp cát, trở thành nước uống.

Chúng tôi đang lom khom quan sát những quả bầu thì có tiếng chân người.

Tôi quay ra thì thấy một người Mọi trần truồng như nhộng, khi nhìn kỹ thì thấy anh ta có choàng một cái khố đơn sơ tiệp hẳn với màu da của anh ta.

Tôi biết rằng mình đã gặp đối tượng rồi.

Tôi vung tất cả quần áo khăn khíu lên và run run vẫy vẫy. Người Mọi trố mắt ra nhìn, với vẻ ngạc nhiên thèm muốn hậm hực lạ kỳ.

Anh ta xáp lại gần tôi rồi không chút ngần ngại, anh ta cầm lấy một cái áo nâng lên tận mũi hít hít.

Tôi tỏ vẻ muốn vào tận buôn của anh ta để đổi đồ nhiều hơn bằng cách vung mớ đồ đạc lên và trỏ vào cái mồm mà nhai với hai hàm răng trống trơn.

Anh Mọi đi phía trước. Bọn tôi đi theo sau. Anh ta tỏ vẻ ưng chịu một cách tự nguyện. Có lẽ anh ta cũng đang thèm muốn những món đồ này.

Anh ta vừa đi, chốc chốc quay lại nhìn với cặp mắt biểu lộ sự tốt bụng hể hả, không chút nghi ngờ. Có lẽ đây là lần đầu tiên anh ta bắt gặp những món đồ kỳ lạ này.

Tôi bảo Việt:

- Cậu có ngại gì không?

- Không! Ngại cái gì chớ?

- Tôi cũng không ngại, nhưng phải đề phòng.

- Đề phòng cái gì chớ?

- Biết đâu đấy!

- Biết đâu cái khỉ gì. Mình đến đây đồi đồ của nó, chứ mình có giật của nó đâu?

- Mình không giật của ai, chuyện đó đã đành nhưng ngộ người ta giật của mình thì sao?

Việt dẫy nảy :

- Hừm! Tầm bậy!

- Sao tầm bậy?

Việt im lặng, không có câu trả lời. Tôi tiếp:

- Nhất là ở trong vùng hoang này, không có chính quyền. Ai can thiệp được?

Tôi biết Việt hơi chùn bước nhưng Việt làm ra vẻ mạnh dạn.

Việt nói:

- Tôi đoán chắc tụi nó ngán mình lắm. Vì mình đường đường thế này mà.

- Đường đường một con ma sốt rét phải không?

Hai đứa lặng lẽ đi trên bờ suối cát trắng, cát vàng từng mảng, từng vùng có lúc cũng nên thơ, nhưng rồi sự lo sợ đắn đo làm cho tứ thơ vụt bay đi hết. Tôi trỏ con dao rừng đeo lủng lẳng bên hông anh Mọi mà nói với Việt:

- Con dao đó với cái cổ mình gần lắm.

- Anh chỉ việc nói gở !

- Khì… khì…

Tôi cũng hơi ân hận vì đã gợi lên những điều mà chính mình cũng sợ. Thà giữ nó trong lòng.

Tôi càng tức giận hơn cái anh cán bộ trung ương nói chuyện trên trời dưới đất. Nói mười chuyện chưa nghe một, còn chin chuyện kia thì sai hết đủ vừa chin. Nhập vào đường Trường Sơn này, chúng tôi giống in như là những con kiến bị ném vào một cái chảo nước, mạnh con nào con ấy bơi, bơi tới đâu thì tới, càng bơi thì nghe nước càng nóng, và cuối cùng theo qui luật của chảo nước trên lửa là nước sôi. Nước sôi đối với một lũ kiến!

Một thứ tổ chức vô tổ chức, một sự phản khoa học, phản tình cảm của con người, xem mạng người không bằng mạng kiến.

Thà rằng mình đi vào một cuộc phiêu lưu mà mình biết trước rằng đó là cuộc phiêu lưu. Thà rằng mình như cái lá trôi theo dòng, mà mình biết trước thân phận mình như cái lá ấy, nước trôi tới đâu thì trôi, thà như thế mà mình vui lòng. Còn đằng này cái gì nói ra nghe cũng chắc như đinh đóng cột nhà vậy mà khi đi ra rồi thì không có cái đinh nào đóng cột nào cả.

Hành quân chiến đấu gì kỳ cục vậy? Giống y như là chuyện chơi, chuyện bời, chuyện hài, chuyện huớc.

Đang đi mà cứ nghĩ chuyện lung tung thì cũng đỡ lo.

Anh người Mọi đi lóm thóm trước mặt tôi, lưng anh ta hơi còng đầu bỗ tới, hai cái chân gầy như hai que củi và thanh dao rừng đeo bên hông cứ gõ vào cái đít gùi đeo trên lưng như một thứ nhịp trường canh cho anh ta đều bước.

Đang đi bỗng anh ta quay lại:

- Ớ … ớ…. – Anh ta chỉ vào thắt lưng của tôi.

Tôi không hiểu việc gì. Tôi rợn người. Tôi nghĩ là anh ta chỉ vào con dao găm của tôi. Cha chả! Muốn gì mà anh ta chỉ vào con dao găm, con dao mà có lần tôi đã trình diện với độc giả. Nhưng dầu sao nó cũng là cái dao găm.

Tôi nhìn trong đôi mắt anh Mọi. Một tia sáng kỳ quặc ánh lên báo hiệu điềm chẳng lành. Trong lúc anh ta chưa có thêm cử động nào thì tôi rút con dao găm ra cầm tay, thủ thế.

Nhưng anh ta đã sờ lấy chiếc thắt lưng của tôi mà rên rỉ, như tiếng kêu rên của một con vật bị tử thương.

Tôi càng sợ hãi. Có lẽ anh Mọi này còn mang trong mình mối quốc thù của một dân tộc ly tan và không quên mối thù nước đó.

Họ không thể nào rửa hận cho non sông của họ thì họ thoả mãn cá nhân họ: giết vài người Việt Nam trong cái dịp may hiếm có này!

Vì vậy cho nên tôi càng thấy anh Mọi dẫn đường vui vẻ bao nhiêu tôi càng ái ngại bấy nhiêu. Tôi cứ nghĩ rằng anh ta lừa chúng tôi vào một cái bẫy mà đến lúc này dù có muốn thoát cũng khó.

Có thể bọn Mọi cắt cổ tế sống chúng tôi trong một buổi lửa trại huy hoàng để rửa hận cho đất nước chúng. Chúng sẽ nhảy múa suốt sáng bên xác hai thằng Việt Nam.

Đột nhiên tôi bảo Việt:

- Quay lại cậu à!

- Sao?

- Tớ ớn quá, linh tính báo trước thế nào ấy.

- Linh quái gì, đói bỏ mẹ rồi còn linh với tính.

- Nếu có chuyện gì xảy ra thì sao?

- Chết là cùng!

- Lý sự cùn thế!

- Chớ anh muốn làm sao? Rút lui à? Muộn rồi!

Tôi thở dài. Quả thật hai đứa đã đi quá xa trạm, kêu sao thấu được?

Thôi đành nhắm mắt đưa chân.

Đã thấy những mẩu lá giống như rau muống, những ống nứa đen thui dùng nấu cơm nếp và những cái xương còn dính thịt vương vải ở ven bờ suối.

Người Moị bản xứ kêu ré lên. Anh ta giơ cánh tay khẳng khiu lên run run và thét những câu không rõ nghĩa gì. Tôi có cảm giác hắn như một tướng cường sơn gào thét ra lệnh với lâu la.

Người ta ào ào chạy tới, mang theo cùng với họ mùi hôi tanh của những cái khố lâu năm không giặt, những thân hình nhớp nhúa, bệnh tật đến đổi ruồi nhặng cũng không đậu vào.

Họ không ngần ngại xáp lại gần bên tôi và Việt, giật ngay những món hàng trên tay tôi. Tôi không chần chờ giương những món hàng lên vai lên ngực tôi. Nói tóm lại chúng tôi trở thành những con man- nơ- canh (mannequin) sống, quơ múa mặt hàng khêu gợi khách: những cái quần, cái áo lụa Hà Đông, những chiếc áo cổ vuông, những bộ đồ kaki còn mới nguyên, những cái khăn sọc rằn kiểu Nam Bộ….

Họ cầm lấy ướm thử vào mình một cách khoái trá, tự nhiên, như trong đời họ chưa từng thấy những vật này bao giờ.

Một chị đàn bà tay bế con, quơ lấy cái áo lụa trên vai tôi phất lên người chị. Có lẽ chị chưa biết xỏ tay vào áo bao giờ. Chị kêu lên the thé, tỏ vẻ ngạc nhiên thích thú đến cực độ.

Tôi nhìn chiếc áo lụa phủ trên vai chị mà xót xa. Da của chị là một sự tương phản tàn nhẫn đối với màu lụa Hà Đông mịn màng.

Người đàn bà gọi ngay đàn gà của mình lại.

Chúng chạy nhảy dưới sàn nhà. Một con gà mẹ đang xù lông lên gọi đàn con đang chạy chung quanh nhà kiếm ăn.

Lâu quá tôi không trông thấy cảnh gà mẹ túc gọi gà con xúm xít, mổ thóc trên sân. Chúng tôi đang đi trên con đường dẫn chúng tôi vào sự man rợ.

Bỗng anh Mọi khi nãy nhảy xổ đến nắm lấy thắt lưng tôi vừa kêu lên:…Ù ơ ơ…ư….ư vừa ra dấu.

Tôi không rõ anh ta muốn nói gì chỉ biết anh ta thèm sợi thắt lưng của tôi để đeo con dao rừng.

Tôi suy nghĩ mất một phút. Cái thắt lưng này là một loại hàng chiến lược vô cùng quan trọng. Chung quanh nó bám đầy những hàng chiến lược khác như: vải che mưa, bông băng phòng khi bị thương, dao găm, cây rút dép. Nhiều người đeo cả bi- đông vào đấy v.v… . Không có thắt lưng thì đeo các thứ đó vào đâu?

Ví dụ như trời mưa bất ngờ thì vải mủ đấy, lấy ra mà choàng. Dép sút bất ngờ thì cây rút dép lấy ra mà xỏ vào mà đi ngay.

Và còn một tác dụng lớn nhất là…khi đói thì uống nước suối và thắt lưng buộc bụng lại mà đi!

Ấy vậy mà tôi phải gật đầu đồng ý đổi chiếc thắt lưng cho anh Mọi.

Tôi mở ra ngay. Tôi thấy những khó khăn hiện ra trước mắt khi không có cái thắt lưng, nhưng cái thắt lưng đẻ ra bao nhiêu là thịt thà, cơm gạo. Những cái này thì cần thiết hơn cả những gì gì cao quý nữa kia chứ đừng nói là cái thắt lưng.

Cho nên tôi trao cái vật quý đó cho anh Mọi một cách khá tự nguyện. Anh ta nịt ngay và buộc chiếc dao rừng vào đấy, rồi vừa đi, anh vừa ngắm con dao đong đưa bên hông có vẻ hào hứng lắm.

Bỗng Việt vỗ vai tôi:

- Mình làm một con cầy đi anh!

- Cầy gi?

- Cầy chớ cầy gì!

Tôi ngẩn người ra một lúc mới nhớ lại cái tiếng quen thuộc đó. “Cầy”!

Tôi gật đầu. Việt chỉ cho tôi xem một trự mặc “com- lê” đen mướt dưới sàn nhà. Tôi thích quá! Tất cả các món nấu tuyệt ngon trong cái bếp thịt cầy bốc lên mũi tôi.

Chú Mực vẫn nằm im nhìn chúng tôi không tỏ vẻ ngạc nhiên.

Việt vỗ vai anh Mọi và trỏ vào con Mực.

- Đổi cái đó nghe!

Anh ta đang ngắm nghía sợi thắt lưng với cái “búc” bằng đồng sáng loáng và tự ngắm nghía bộ tịch của mình khi được mang sợi thắt lưng ấy. Thấy anh Việt trỏ con chó, anh ta gật ngay, ú ớ mấy tiếng và cười khoe hàm răng dưới vàng ệch khói thuốc còn hàm răng trên thì cưa mài đến sát nướu.

Tôi có kinh nghiệm, khi đổi đồ với họ, họ đòi món gì mình chịu món ấy thì mình đòi lại món gì của họ cũng được. Ví dụ như sợi thắt lưng có đáng giá là bao nhưng mình có thể đổi bắt con chó. Còn nếu họ không thích thì dù mình cho cả bộ đồ mình vẫn không lấy được của họ một trái chuối.

Anh Mọi hăm hở vào nhà rồi trở ra với một vắt cơm trên tay. Anh ném vắt cơm xuống đất, vẫy tay gọi con chó lại. Con chó ngây thơ men đến bên vắt cơm giữa tiếng cười khúc khích của đám người.

Con chó vửa dí mõm vào mớ cơm thì nhanh như sóc, anh Mọi nhảy tới. Như có võ nghệ, anh ta chộp một chân sau của con chó, rồi trong lúc nó chưa ngoái cổ lại kịp để đớp vào tay anh thì anh đã nhoài tới hai tay chận ngang cổ con chó thật chặt và giở hổng nó lên khỏi mặt đất.

Khốn nạn, con vật bị lừa, bị tóm ngang cổ. Cái lưỡi của nó thè ra dài nhằng, cặp mắt nó lòi ra như hai hạt nhãn. Một người khác trẻ tuổi hơn đã thủ sẵn một sợi dây, nhảy tới và trói giật cánh khuỷu hai chân trước của con chó lên trên lưng.

Xong anh Mọi ném con mực xuống đất. Nó nằm kêu ri rỉ bên đống cơm chưa ngửi được hạt nào.

Tội nghiệp! Nó bị chủ nó lừa.

Nó tưởng được ăn ngon, chẳng dè bữa ăn được thay bằng cái chết.

Tôi mừng quá đưa luôn cho anh Mọi cả bộ đồ lụa Hà Đông. Đối với tôi bộ đồ lụa này chỉ là một gánh nặng, chứ không có nghĩa lý gì. Trên đường này không ai mặc đồ lụa, không ai chữa sốt rét bằng lụa, cũng không ai giải quyết cơn đói bằng lụa, và cũng không ai ràng rịt đôi chân rã rời bằng bộ đồ lụa bao giờ.

Một con chó! Từ đó tôi giải quyết được tất cả, kể cả cái mộng tưởng của tôi là về đến tận quê nhà. Bao món ăn, một bữa cỗ giành cho chúng tôi, và ba-lô của chúng tôi sẽ phình ra vì những gói ruốc chà bằng thịt chó.

Nhưng chưa đủ! Một con chó không đủ cho chúng tôi cứng đầu gối suốt con đường đi Ông Cụ. Tôi ngó quanh quất. Tôi lại trỏ vào lũ gà đang chạy lao xao dưới sàn nhà.

Một người đàn bà lấy chiếc quần đùi bằng vải thôi trên tay tôi và gật đầu ngay. Chỉ trong giây lát tất cả đồ đạc của chúng tôi tan biến đi ngay và chúng tôi được một số gà, một con chó và một trái bí đao rất to.

Việt cởi luôn quần áo đang mặc, chỉ chừa lại cái quần tiều, ném cả xuống đất và ra dấu đổi đồ. Tôi bảo:

- Đổi thì đổi luôn một thể!

Tôi thấy số thực phẩm nhiều quá không biết làm cách nào chở chuyên cho hết. Tôi bèn nghĩ cách làm thịt con chó tại chỗ rồi khiêng thịt về nhà cho nhẹ nhưng Việt phản đối. Việt đi chặt một cái đòn dài rồi tất cả gà và chó xỏ qua cây đòn, mỗi đứa khiêng một đầu.

Bỗng nhiên anh Mọi đến đứng trước mặt tôi và xoè một bàn tay ra trợn hai con mắt lên trắng dã trông rất khiếp đảm và quát:

- Đá lửa!

Anh ta nói rất rõ tiếng, và xoè một tay ra như biểu hiện quả quyết bắt tôi phải cho hắn. Đá lửa trong túi tôi còn đến những 40 viên nhưng biết chừng nào đến nơi mà cho được? Đi rừng không thể thiếu lửa!

Vì vậy tôi hơi lưỡng lự nhưng tôi thấy cặp mắt trắng dã của anh ta thì tôi hãi quá. Tôi lấy ra một viên. Chỉ một viên thôi, ruột tôi cũng đã thắt lại. Trông thấy viên đá của tôi đặt trên bàn tay anh Mọi tất cả những người đứng chung quanh reo lên mừng rỡ, bằng thứ tiếng riêng của họ nghe rất đáng sợ.

Rồi tôi và Việt bắt đầu lạch bạch khiêng mớ chiến lợi phẩm về. Vừa đi, tôi cứ nơm nớp lo. Chúng sẽ phục kích ở ven suối. Chúng chỉ cần lẫy tôi và Việt mỗi đứa một mũi tên thuốc độc. Pạch! Không nghe tiếng động, thế là xong đời, chúng tôi ngã gục xuống suối và hồn lìa khỏi xác. Thế là hết về quê!

Tôi cứ thấy trước mặt tôi cái anh Mọi lưng mang gùi lom khom đi như cuốc lủi. Cái bộ mặt anh ta trông hì hợm đáng ngại quá! Và con dao rừng bên hông anh ta nữa, cái lưỡi nó dài và sáng loáng quá đi mất.

Tôi đang nghĩ như thế thì nghe có tiếng chân sột soạt phía sau lưng. Tôi quay lại thì đúng thật anh Mọi đang sải những bước dài đuổi theo chúng tôi.

Tôi bảo Việt:

- Nhanh lên cậu!

- Nặng bỏ mẹ, nhanh gì nổi anh!

- Tớ sốt đây mà còn đi nổi.

Tôi không muốn nói với Việt cái hiện tượng nguy hiểm ở phía sau lưng chúng tôi, sợ truyền sang Việt sự sợ hãi.

Cho nên tôi chỉ giục suông anh ta chớ không nói lý do. Nhưng Việt cũng là người thông minh, có lẽ anh ta nghe trong giọng nói của tôi điều gì bất thường.

Việt quay lại và nói ngay với tôi:

- Làm gì anh ta có vẻ đuổi theo mình dữ vậy anh?

Tôi muốn trấn tĩnh Việt nên chối quanh:

- Có lẽ anh ta vội ra nương rẫy gì đấy thôi.

Nói xong tôi quay lại thì thấy anh Mọi chạy lúp xúp.

À, chết rồi, hắn đuổi theo chặt đầu mình lấy đá lửa và tìm muối. Tôi vụt nhớ chuyện những anh Mọi đổi một cái thủ cấp lấy 1 kí lô muối.

Trong nhà họ có một cái ống tre bộng trong đó chỉ có vài hạt muối. Những lúc bệnh nặng họ mới lấy muối ra ăn. Những buổi giỗ lớn họ ngồi quanh đống lửa chuyền tay nhau một cục muối, mỗi người liếm một cái đến suốt lượt rồi lại bỏ vào ống tre treo lên bếp như một thứ thuốc quí, một vị thần linh.

Anh Mọi này biết chúng tôi có muối nhưng giấu anh ta. Có thể là như thế!

Nghĩa vậy hai đứa chúng tôi bảo nhau bắt đầu chạy nhanh lên. Tôi quay lại thì thấy anh Mọi cũng đuổi theo. Đích thị anh ta định làm thịt chúng tôi rồi. Thế nào sau lưng anh ta cũng có một đoàn chạy theo tay nỏ tay cung.

Qua suối, gặp chỗ nước tràn, Việt vừa lội xuống thì vấp ngã. Tôi cũng ngã theo. Lũ gà và con chó dẫy dụa nước văng trắng xoá và kêu ré ầm lên như một bản nhạc loạn.

Anh Mọi đã đến sát bên tôi khi tôi mới vừa lồm cồm ngồi dậy, chưa kịp thủ thế. Anh ta cười. Anh ta đưa cái nón của Việt bỏ quên.

Tôi thở phào, hú hồn hú vía!

Tôi cầm cái nón đưa cho Việt và gật gù tỏ vẻ cảm ơn anh ta. Anh ta lại xoè bàn tay ra theo cái kiểu lúc nãy.

- Đá lửa!

Ý anh ta muốn đòi trả công.

Mặc kệ, tôi không đắn đo, tôi chỉ biết móc túi đưa cho anh thêm một viên đá nữa. Tôi liếc nhìn, gương mặt anh ta rất hả hê. Có lẽ mục đích mang cái mũ ra là thế.

Tôi và Việt nhấc đòn đặt lên vai. Gà và chó bị nhúng nước ướt mèm. Chúng kêu vang động. Gà đập cánh, chó dẫy dụa nước văng đầy mặt chúng tôi. Thiệt là một pha đặc biệt trong cuộn phim dài Giải Phóng Miền Nam.

Đến vừa đúng chỗ khúc quanh thì gặp một lão chài cá. Trong gùi lão ta có mớ cá to. Tôi bảo Việt ngay:

- Kiếm thêm mớ cá cậu ạ!

- Thịt nhiều quá rồi, ăn ngả nào cho hết?

- Cậu đừng tưởng việc ăn uống trong vài hôm mà nên nghĩ tới cái khả năng vài tháng.

- Ừ, nhưng mà nặng ba-lô quá thì sao?

- Cái gì nặng chớ mang thức ăn thì không nặng.

- Nhưng mà, có cái gì đâu mà đổi.

- Lột quần áo ra mà đổi chớ.

Chúng tôi để gánh thực phẩm xuống và men lại lão già đang chài. Tôi vừa đi vừa cởi áo cởi quần ra. Chỉ còn cái quân xà lỏn dính da. Tôi đưa bộ quần áo vừa lột ra khỏi người tôi và vẫy vẫy . Lão già vứt chài trên phiến đá và đi nhanh về phía tôi ngay.

- U…u…ơ…ơ…

- U…u…ơ…ơ… – Tôi vừa lên tiếng vừa trỏ vào cái gùi cá.

Lão già gật đầu ngay. Không suy tính thiệt hơn gì hết, tôi vứt cả bộ đồ trên phiến đá và mó vào mấy con cá trong gùi.

Chao ôi! Thiệt là mát tay, nhớt cá nhầy nhụa như truyền cho tôi sinh lực mới. Nhớ hôm trước đây cũng có lần đi qua suối có một cậu bất ngờ bắt được một con cá không rõ là cá gì.

Hình thù nó không giống loại cá nào ở đồng bằng hết. Khi đến chỗ nghỉ quân, cậu ta đem con cá ra đánh vảy thì một cậu khác gắt ầm lên:

- Sao lại đánh vảy, hả? Cứ rửa sơ sơ thôi, miễn có chất tanh vô người thì gân cốt khoẻ lên thôi!

Và cậu kia ngoan ngoãn nghe lời. Của đáng tội, con cá chỉ bằng ngón tay cái thôi!

Chất tanh ! Đó là cái chất gì?

Trên đường dây này đã phát minh ra cái “chất tanh” đó. Nó bổ dưỡng vô cùng.

Có biết bao nhiêu chất tanh trong gùi của ông lão chài cá.

Tôi cầm từng con cá ra xem. Mùi tanh của nó phất vào mũi làm tôi khoẻ thật. Mồm tôi ứa ra bao nhiêu là nước dãi.

Tôi cứ tha hồ chọn và bắt. Tôi bắt một con cá chép rõ to. Vảy nó ánh lên như bạc, mắt nó long lanh. Chỉ nội vảy của nó cũng đủ nấu nồi canh chua.

Việt bắt được một con cá chài đuôi đỏ, mình nó thon dài như ống trúc, nung núc những thịt.

Lão chài được cả một bộ đồ hình như không thiết tới gì nữa, để cho hai vị khách quý tha hồ bắt cá của lão.

Lão đang loay hoay có lẽ không biết làm sao để mặc áo quần. Tôi thấy vậy bèn đến chỉ cách cho lão ta. Chỉ một loáng lão ta đã mặc xong bộ áo quần vào người . Lão cứ đứng xoay bên này xoay bên kia, tự ngắm mình mãi với sự ngạc nhiên kỳ lạ.


CHƯƠNG 13

Chúng tôi về đến trạm được một lúc thì anh trạm trưởng và cậu Chân ra chơi. Hai người tỏ vẻ vui mừng khi trông thấy mớ thực phẩm sống của chúng tôi rất phong phú.

Tôi hỏi một cách rất ngây ngô:

- Ở đây sao các anh không đi đổi về dùng?

- Chúng tôi biết chớ, nhưng thú thật với các anh, chúng tôi đâu có cái gì để đổi chác?

Anh trạm trưởng tiếp:

- Các đồng chí thấy đó, ở trong vùng rừng núi này sắt đá gỗ lim còn mục nữa là quần áo. Quần áo của chúng tôi không đủ mặc, lấy gì mà đổi? Tôi làm trạm trưởng gần hai năm chỉ lãnh được một bộ đồ.

Công tác giao liên, các đồng chí coi đó, dầm nước mưa, nước suối suốt ngày, đâu có mấy tháng thì rã hết. Trước kia chúng tôi còn có một bộ nghiêm một bộ nghỉ. Đi về thì thay bộ đồ tác chiến ra treo trên nhánh cây đó, mặc bộ đồ khô vào, sáng hôm sau, bộ kia có khô hay chưa khô cũng cứ tra vào.. Cả năm này tháng nọ như thế. Nhưng bây giờ tụi tôi mỗi đứa chỉ còn một bộ, hễ ướt cởi ra phơi thì phải mặc “bộ đồ da”. Anh biết “đồ da” chưa? …

Chúng tôi mừng chưa dứt, Thu chưa hết ngạc nhiên thì lại có chuyện.

Có một cái võng đưa bệnh nhân vào trạm. Hai người khiêng và một người quảy ba-lô cho bệnh nhân.

Anh chiến sĩ quảy ba-lô mặt hầm hầm hỏi chúng tôi:

- Anh biết trạm ở đâu không?

Tôi thấy anh ta không có lễ độ nhưng ở cái xứ này mấy ai có lễ độ với ai, bởi vì ở đây toàn là những người đang bực dọc, thối chí, bất mãn hằn học. Nhưng tôi tiếc gì mà không ném cho hắn một câu trả lời tương xứng với sự quạu quọ của hắn.

- Không!

Anh ta hất hàm bảo hai người khiêng:

- Để xuống nghỉ đi!

Hai người khiêng đã chuẩn bị sẵn cho nên đặt võng xuống giá một cách mau lẹ. Người bệnh vẫn nằm võng lưng không đụng đất.

Anh chàng mang ba-lô cũng trút chiếc ba-lô ra khỏi lưng ném xuống đất và bắt đầu phun ra những câu bực bội.

- Đ.m. mấy thằng giao liên rút vào cái lỗ đếch nào mà tìm mãi không ra thế này? Bình thường thì bảo “nhất trạm nhì trời” mà! Sao hôm nay không ló ra cho gặp mặt, hừ! Nó dẫn mình đi thì nó nói nhẹ nói nặng, nó xem mình không bằng con chó. Bây giờ mình cần nó thì nó chui đi đâu mất hết. Tôi mà còn gặp phen này ít ra là một thoi ba đá.

Anh ta cứ cằn nhằn mãi. Chúng tôi không đáp lại, còn anh trạm trưởng và Chân cũng im thin thít.

Anh kia càng đi đi lại lại tay chống nạnh, miệng la bài hãi:

- Chiến đấu cái đếch gì thế này mà chiến đấu được kia chứ ? Một đại đội hết phân nửa sốt rét. Ngày nào cũng khiêng vài đứa. Còn lính đâu mà chiến đấu? Thuốc men không có, sốt đứa nào nằm lại đứa ấy! Chậc! Trốn mất thôi.

Rồi anh ta bảo hai người kia:

- Trông chừng coi nó thế nào?

Hai người kia giở chăn nghiêng đầu xem người nằm trên võng rồi nói:

- Cũng thế thôi!

- Sốt cái gì sốt ác thế, sốt một người mất bốn người khiêng vậy thì làm sao? Trời!

Chúng tôi vẫn lặng lẽ tính toán công việc của chúng tôi, tức là mần gà mần chó.

Bất thình lình…đoành …đoành…đoành…đoành..!

Anh chàng quân nhân giơ súng lên làm một loạt ngắn, lá lả tả bay xuống quanh chúng tôi.

- Tao bắn gọi giao liên đấy. Không ra thì tao bắn miết, bể ổ nó hết cho coi. Cho mầy giỏi mầy trốn.

Đoành … đoành….đoành!

Anh trạm trưởng vùng đứng đậy với cây súng cạc-bin đã lên đạn lăm lăm trong tay, anh quát:

- Vô kỷ luật! Quân ở đâu vậy hả?

- Ở đâu tao ở. Hỏi làm gì?

- Hỏi đặng trói đầu bây lại.

- Trói cái này này! – Anh chàng quân nhân vừa nói vừa nẩy ngực ra và cười thách thức.

Tôi thấy câu chuyện gay gắt sẽ đưa tới hậu quả rất tai hại. Tôi bèn chạy tới nói với anh trạm trưởng để điều đình, nhưng anh trạm trưởng gạt ngang. Tôi bèn chạy đến anh quân nhân, anh này lại càng làm già. Bên nào cũng có mòng có mỏ cả. Hễ họ gõ với nhau thì mình mệt. Nếu không liên quan đến chúng tôi thì chúng tôi đứng ngoài nhìn, như xem gà đá nhau chơi.

Tôi nói với anh quân nhân:

- Anh đó là anh trạm trưởng đó.

- Vậy hả? – Anh bạn quân nhân cười khoái chí – Vậy ra mấy loạt súng của tôi gởi về làng đâu phải là vô ích.

Rồi anh xếp súng lại đi tới bên anh trạm trưởng giọng hết sức khiêm tốn:

- Chúng tôi biết rằng chúng tôi vô kỷ luật, nhưng không còn cách nào để tìm các đồng chí cho nên chúng tôi đành phải làm như vậy, đồng chí thông cảm cho tôi. Tôi là quân nhân không phải không biết kỷ luật là gì, kỷ luật đường dây càng nghiêm hơn…

Bây giờ tới anh trạm trưởng phùng sè:

- Các anh ẩu quá mà. Tự động vô trạm chúng tôi, đó là một sự trái với nguyên tắc bí mật. Chúng tôi bắt trói ngay các đồng chí bây giờ và đưa vào Bộ Tư Lệnh Quân Khu.

- Dạ, bắt trói cũng được.

- Ít ra các đồng chí phải biết điều chứ. Địa điểm đóng quân của các đồng chí, ai đến nổ súng được không?

- Chúng tôi có việc cần quá đồng chí ạ!

- Cần thì cần chứ!

- Chúng tôi có một bệnh nhân cấp cứu mà không có tí thuốc trong tay.

- Đã đành bệnh! Nhưng chúng tôi đâu phải là hậu cần của các đồng chí? Trạm của chúng tôi đâu phải là bệnh viện của các đồng chí? Hừ! Các đồng chí còn chửi tụi tôi như một lũ hèn nhát – Anh trạm trưởng sôi máu lên – Các anh thử đi đưa khách như chúng tôi xem? Đây chức trạm trưởng đấy, 21 lon gạo mỗi tháng đấy, thằng nào cứ nói miệng tài thì cứ nhảy vào làm chơi. Chiến đấu võ trang của các anh không khó đâu, thằng này đã 8 năm cầm súng chống Pháp. Đừng ỷ có súng trong tay…

Tôi xen vào ngay:

- Thôi hai bên cũng là đồng chí cả vì chưa biết nhau. Vả lại cũng có chuyện gấp!

- Gấp thì gấp, tôi không biết. Đó không phải là việc của tôi, tôi đéo giải quyết. Thằng nào làm gì thì làm!

Thì đúng rồi. Nhứt trạm nhì trời là thế đấy. Ai mà đụng vào đó thì chết, chết ngay.

Bây giờ thì đến anh bạn quân nhân phải xếp giáp qui hàng, không sợ xấu hổ.

Anh ta nói giọng nhũn như bún:

- Đồng chí ạ! Không phải tôi muốn phá nội qui của đường dây đâu mà đang cơn bối rối tôi không tìm được trạm nên tôi phải bắn bừa…

- Anh bắn bừa như vậy, cho rằng anh tìm được trạm đi, rồi còn hậu quả về sau thì sao?

Anh trạm trưởng không gọi đối tượng bằng đồng chí nữa, mà gọi bằng anh. Anh trạm trưởng tiếp:

- Tôi đi làm giao liên dắt đường như làm dâu thiên hạ, cực hơn con chó mà! Đường đi trót lọt thì thôi, lỡ có việc gì thì thiên hạ hăm bắn, hăm đánh đủ thứ trò. Tôi đi làm việc cách mạng tôi chẳng phục vụ riêng cho thằng đéo nào. Phải thì tôi làm, không thì tôi nghỉ. Nếu không thì tôi về nhà vợ tôi nuôi tôi cơm tẻ ngày hai bữa cũng sống vậy!

- Thôi mà đồng chí! – Anh quân nhân càng mềm mỏng – tôi bắn súng với mục đích tìm trạm chứ đâu phải phá các đồng chí.

- Tôi chấp các anh phá tôi. Tôi dời trạm đi cho các anh đui con mắt. Phá đi! Phá đi xem nào!

- Thôi mà, tôi đã nói rồi mà đồng chí cứ chấp nhất mãi.

Đợi anh trạm trưởng hơi dịu dịu, anh quân nhân mới nói đến cái chỗ quan trọng nhất của mình:

- Tôi có một anh chiến sĩ ốm nặng không đi được, tôi nhờ các đồng chí…

Anh quân nhân vừa nói đến đó, anh trạm trưởng gạt ngang:

- Thôi thôi… tôi không có làm mẹ gì hết. Đó không phải là việc của tôi.

- Tôi không dám nhờ các đồng chí trông nom đâu! Chúng tôi xin các đồng chí cho chúng tôi buộc võng gần trạm, còn phần săn sóc thì có hai người kia luôn luôn ở bên cạnh bệnh nhân.

- Rừng thì chỗ nào chẳng buộc võng được, sao các đồng chí không buộc ở ngoài kia?

- Dạ..- Anh quân nhân có lẽ rành tâm lý hay vì công việc cần kíp bắt buộc anh ta phải giả dại qua ải, nên anh nhỏ nhẹ – Tôi xin thú thực với đồng chí rằng, không phải chúng tôi lánh nặng tìm nhẹ đâu, không phải đồng chí mình bệnh rồi bỏ rơi nhưng đơn vị có công tác khẩn cấp không mang bệnh theo được.

- Khẩn cấp à? – Anh trạm trưởng quát.

- Dạ!

- Khẩn cấp mặc kệ anh, tôi không biết. Anh đừng có đem ách giữa đàng mang vào cổ tôi. Tôi không phải trâu của anh nuôi cỏ.

- Dạ tôi đâu dám nghĩ như vậy nhưng kỳ thực là công việc khẩn cấp quá!

- Các anh chỉ giỏi bày đặt!

- Dạ thật mà!

Anh trạm trưởng cười phì:

- Khẩn cấp cái con khỉ!

Anh quân nhân trắng mắt ra nhìn nhưng anh trạm trưởng cứ thản nhiên:

- Các anh treo thì cứ treo. Chỉ có điều là tôi không chịu trách nhiệm, thuốc men tôi không có, người ngợm tôi cũng không .

- Được rồi – Anh quân nhân nói quả quyết – đây là một đồng đội của chúng tôi, chúng tôi không thể bỏ được .

- Cái đó thì tùy lương tâm của các anh, tôi không rõ. Bỏ hay không điều đó không có hại gì cho tôi hết thẩy!

Hai người lính kia coi mòi câu chuyện xuôi xuôi nên đem võng bệnh nhân treo trên hai cái cây cọc ai đã bỏ, rồi căn tăng lên chu đáo.

Anh quân nhân cám ơn trạm rối rít rồi từ giã. Nhưng bỗng một con gà kêu lên quang quác làm cho anh ta quay nhìn lại.

Anh ta đứng lại rồi trở lại.

Mặt trời đã lặn từ lâu. Chúng tôi đang bận rộn với lũ gà chó như bận họp tham mưu tiền phương. Anh quân nhân đến và nói với chúng tôi không chút ngần ngại:

- Tôi xin thú thực với đồng chí là tôi thèm thịt quá. Đồng chí có thể nào chia lại cho chúng tôi một con hay không đồng chí?

Thiệt là khổ tâm, không có gì làm chúng tôi khổ tâm bằng.

- Đồng chí tìm ở đâu mà hay vậy? – Anh ta hỏi.

- Ở trong bản. – Tôi đáp cụt ngủn.

- Cũng gần đây thôi.- Việt tiếp một cách lơ là, không ngó lên và chăm chú nhìn bếp lửa.

Còn tôi thì thấy bối rối quá, không biết làm sao lánh mặt. Tôi biết Thu lẫn Việt không muốn ai nói đến số chiến lợi phẩm của mình.

Tự nãy giờ tôi nghe anh quân nhân và anh trạm trưởng xưng hô với nhau, nhất là tiếng “đồng chí” của anh quân nhân dùng để gọi anh trạm trưởng thật là nhạt nhẽo.

Tôi thừa biết rằng sở dĩ anh gọi anh trạm trưởng là đồng chí là để đạt được mục đích gởi anh bệnh binh chứ chẳng thân thiết gì. Rồi bây giờ anh ta lại dùng cái tiếng ấy đối với tôi nữa, cũng với một mục đích cụ thể khác.

Tôi chưa bao giờ nghe hai tiếng “đồng chí” nó nhạt nhẽo và khó chịu như lúc nầy.

Có lẽ anh ta là một anh cán bộ chính trị cho nên anh ta biết dùng cái tiếng ấy vào những lúc cần thiết.

Tôi còn loay hoay chưa biết trả lời thế nào cho có vẻ chính trị vì tôi là người ít nói láo được trong lúc cần sự nói láo thì Việt đã đóng vai trờ chính trị thật khá. Việt nói:

- Tôi nói thật với đồng chí nhé! – Việt cười hề hề và Việt nói ngọt xớt những lời lẽ có vẻ cảm động- Tôi hiểu ngay là đồng chí cần một con gà để nấu cho bệnh nhân và các đồng chí ăn, tôi có thể chia ngay cho các đồng chí, biếu các đồng chí cũng được đâu có đáng bao nhiêu.

- Vâng, chúng tôi chỉ cần một con thôi – Anh quân nhân vui vẻ trông thấy – Thú thật với đồng chí chúng tôi đi bộ từ Bắc Kạn kia đấy, ba tháng mới tới đây, thấy thịt thèm đi không muốn nỗi.

- Tôi cũng đi bộ từ Hà Nội! (Việt nói dóc)

Việt tiếp:

- Các đồng chí người Bắc mà đi vào Nam giải phóng cho quê hương tôi, tôi cám ơn các đồng chí lắm nhưng ….

Việt nói vòng vo tam quốc để cuối cùng đi đến kết luận là không thể chia thịt được.

Anh quân nhân vừa ngượng vừa thối chí bèn đứng dậy gọi sang mấy người kia cho đỡ khổ.

- Thôi ở đó nghe, tớ về đây! – Rồi anh đứng dậy ra về, không chào hỏi ai hết.

Anh quân nhân vừa đi thì anh trạm trưởng vừa tới. Anh nói:

- Cái tốp này nói gạt tôi, tôi biết mà. Nhưng mặc kệ, không ăn thua gì đến tôi!

Tôi hỏi:

- Nó gạt làm sao?

- Chịp! Cái trò này tôi gặp hoài hoài. Tôi ở đường dây hai năm nay, những trò đó đâu qua mắt tôi được. Họ đem họ bỏ đó rồi đi luôn, coi như trút của nợ cho trạm.

- Nhưng nếu họ muốn bỏ luôn như vậy thì tốt hơn là họ cứ treo võng bất cứ chỗ nào cần gì phải đem vô trạm cho mất công?

Anh trạm trưởng cười, cái cười vừa mỉa mai vừa khinh bỉ:

- Như thế thì dễ quá! Nhưng ở đây nó muốn tìm một đỉểm tựa cho lương tâm, tức là nó đem thằng bệnh vô đây, nếu có người nào trách móc, nó sẽ nói rằng nó đã gửi cho trạm, hai là nó tự lừa nó rằng nó cũng không đến đổi tàn nhẫn với bạn bè đồng chí.

- Thế à?

Vừa dứt câu chuyện thì hai anh khiêng bệnh lại lúc nãy vừa tới. Một anh nói với trạm trưởng:

- Xin phép trạm trưởng cho hai đứa tôi ra ngả ba lấy ba-lô.

- Ba-lô gì mà lấy?

- Ba-lô của hai đứa tôi. Hồi nãy khiêng nặng quá nên chúng tôi giấu tạm ngoài rừng, bây giờ trở lại lấy.

Anh trạm trưởng cười:

- Nhưng tôi đâu có nghĩa gì với anh mà anh xin phép?

- Dạ..anh là trạm trưởng mà.

- Trạm trưởng các anh coi còn thua con c…của các anh, nhằm nhè gì mà xin phép.

Rồi hai người ra đi khuất sau những hàng cây cũng đã bắt đầu mờ trong bóng chiều.

Anh trạm trưởng nói với tôi:

- Để rồi anh xem có y như lời tôi nói hay không? Họ đánh bài chuồn đấy. Họ không trở lại đâu và cuối cùng là chúng tôi phải chôn cái xác nầy, thế thôi!

Anh trạm trưởng nói với một sự lạnh lùng quá sức tưởng tượng:

- Trước đây cũng có mấy người đem tới giao cho tôi một bệnh binh ốm liệt. Họ nói sẽ trở lại chăm sóc . Mình cũng thương tình, thấy ở giữa rừng sâu, lửa ấm nhưng tình người ấm hơn cho nên tôi mới nhận bệnh nhân, chẳng dè họ đi luôn, xem như đã gửi một món đồ thừa không cần lấy lại. Tôi phải nấu cháo cho anh ta ăn suốt tháng trời. Tôi phải nhịn khẩu phần của tôi. Nếu tôi bỏ, tôi không chăm sóc thì đứng về nguyên tắc không ai trách móc gì được tôi hết. Chúng tôi bịnh còn không có thuốc nữa là. Nhưng nếu tôi bỏ thì lương tâm của tôi không yên ổn được. Cuối cùng anh đó cứ nằm mãi, khi ăn được, khi ăn không được rồi chết, không thấy đồng đội trở lại nữa. Chúng tôi chôn anh ta ngay chỗ anh ta nằm. Ít lâu sau chúng tôi dời trạm, bây giờ thì không sao nhớ nỗi nấm mộ kia. Tôi còn giữ tấm chứng minh thư đi Ông Cụ của anh ta.

Anh trạm trưởng tiếp:

- Bây giờ tới anh này. Chắc chắn cũng như trước kia thôi.

Anh trạm trưởng nồi trầm ngâm chốc chốc lại lấy que cời than với một cử chỉ lơ đãng


CHƯƠNG 14

Tôi mời anh trạm trưởng và Chân ở lại. Chúng tôi làm thịt con gà béo nhất.

Anh bảo chúng tôi:

- Các anh nên làm lương khô để mang theo đường, không nên phí phạm! Trên đường dây này cái gì cũng không qua cái ăn. Anh có cái ăn rồi thì sẽ có tất cả, ngay cả bạn bè. Cho thì không thiếu kẻ xin, nhưng xin thì không ai cho, ngay cả bạn thân của anh.

Tôi tin lời anh trạm trưởng là đúng.

Cơm xong anh còn ngồi nán lại chơi. Câu chuyện anh bệnh binh lại được nhắc đến. Anh trạm trưởng nói:

- Anh chàng này không ăn uống được gì nữa hết, chứ nếu ăn được thì mai tôi lục ba-lô anh ta coi còn cái gì tôi sẽ đi đổi gà cho anh ta.

Tôi đâm ra ân hận vì lúc nãy nấu cháo gà mà tôi đã quên khuấy đi rằng bên cạnh mình có một người bệnh cần ăn cháo.

Tôi nói để chữa ngượng:

- Để mai coi anh ta có tỉnh dậy không, tôi sẽ nấu cho anh ta tí cháo.

- Phải đó, làm phước cho con cháu sau này.

Anh trạm truởng ngồi trầm ngâm lâu lâu mới nói vài câu. Tôi cứ tưởng anh ta sắp ra về nhưng trông chừng anh ta muốn nói chuyện gì.

Mãi lúc sau anh ta mới hỏi tôi:

- Các anh có nghe đài Bắc Kinh không?

- Có!

- Các anh nghe thế nào?

- Nghe như anh nghe vậy thôi.

- Tôi muốn hỏi thẳng các anh là có nghe vụ của đồng chí Lưu Thiếu Kỳ không?

- Có, có.

- Các đồng chí nghĩ thế nào?

- Còn biết nghĩ thế nào nữa! Bao giờ Trung Ương có chỉ thị thì mình học thế thôi!

Anh trạm trưởng lặng thinh. Tôi biết anh chàng này ít ra cũng trình độ tổ trưởng hoặc chi ủy.

Anh nói:

- Thiệt rầu các ông anh bà chị mình hết sức. Đất nước họ hoà bình, ăn no phè ruột ra ngủ, em út đánh giặc mệt ứ hơi, đã không lo giúp đỡ lại còn chơi cái mững đó. Năm 1957, nằm hầm bí mật lính nó đái trên đầu mình bầm gan tím ruột, muốn nhảy lên ăn thịt nó, vậy mà năm đó ông anh cả của mình lại phạm vào chủ nghĩa “xét đi xét lại” chi đó. Liệt cường trên thế giới không ủng hộ đã đành, ông anh mình lại cũng không ủng hộ. Thiệt là kỳ cục.

Anh trạm trưởng tiếp:

- Tôi nói thật với các anh nhé! Các anh không có ở Miền Nam trong những năm đó nên không biết nỗi đau thương của bọn chúng tôi.

Bị bắt, đày Côn Đảo gần hết. Còn sót mấy người không làm ăn gì, kẻ vô chùa tu, người mai danh ẩn tích. Ngày ngày ngóng trông Miền Bắc, ngóng trông các ông anh lớn. Rốt cuộc chẳng được cái cóc khô gì…

Phe mình nói chuyện tày trời, nào tình nghĩa vô sản rùm beng. Rốt cuộc Mỹ nó đánh mình mà không ai dám hó hé. Mình chửi nó, nhưng coi kỹ lại, mình không bằng nó.

Anh trạm trưởng trợn mắt như cãi nhau với tôi:

- Ừa, tôi dám nói vậy mà. Nhìn lại mà xem có đúng hay là không. Nó nói ít hoặc không thèm nói mà làm nhiều. Nó đâu có la ó gì hung đâu, vậy mà đùng một cái, nhảy vô năm trăm ngàn lính Mỹ ở Miền Nam làm thiên hạ trắng mắt ra mà nhìn.

Còn miền Bắc bị đánh tan nát như vậy đó, có anh Liên Xô nào lái máy bay đánh với phi cơ Mỹ không? Có anh Trung Quốc nào dám nhảy vô cầm súng bắn Mỹ không? Rốt cuộc ai cũng đứng đằng sau lưng thằng em út và lúc nào cũng hoan hô “thằng con nít ăn ớt giỏi quá, ăn thêm vài trái nữa đi! Ăn xong leo bẻ dùm mấy trái dừa kia nữa!”

Anh trạm trưởng cười mai mỉa:

- Mà cũng chưa hết, thằng nhỏ bắt cá cũng giỏi lắm! Thằng nhỏ vốn liếng thoắng thấy mấy anh lớn khen thì hừng chí, nhảy a vô thộp, tưởng cá lóc, không ngờ cá mặt quỷ gai góc đầy mình, mới vớ vô bị nó đâm la trời nhưng vì lỡ nhận là mình gan lỳ rồi, không lẽ chịu thua, ráng bắt con cá, bắt không được mà hai bàn tay sưng vù.. kêu cha kêu mẹ. Mấy thằng lớn đầu đứng xa xa nhìn nhau cười ha hả!

Anh trạm trưởng kể chuyện nghe thật hài hước cho nên người nghe càng chua chát.

Tôi ngồi lặng thinh.

Anh trạm trưởng dường như gặp được người bạn tri âm, bèn xổ thêm bầu tâm sự.

- Hồi tôi còn nằm trong tù, tôi thấy đau khổ cho cái số phận mình quá. Đang đánh giặc ầm ầm tự nhiên ký kết Giơ-neo. Mình là kẻ đang tung hoành ngang dọc bỗng nhiên lại xếp cánh nằm hang. Nghĩ thật bầm gan tím ruột. Tôi nói thật với các anh là hồi đó tôi không còn mong ngóng cái gì nữa hết. Cái sự xây dựng lực lượng hai năm ở Miền Bắc, rồi trở về thống nhất đất nước càng nhắc càng nghe nó xa vời.

Tôi ở trong tù đâu có biết tin gì. Có một hôm tên chúa ngục đập cửa gọi tôi vào lúc nửa đêm. Tôi đang ê ẩm cả mình mẩy, tôi lên phòng tra, bụng nghĩ chắc lãnh thêm một trận đòn nhừ tử, nhưng không phải! Hắn ta mời tôi ngồi uống nước trà rồi hắn cười ngạo nghể:

- Anh biết tin gì không?

Tôi đáp:

- Không biết!

Hắn phì phà điếu thuốc xì-gà rồi cười:

- Tôi cho anh hay tin mừng về sự xây dựng xã hội chủ nghĩa đại thắng lợi khà…khà… Nè, biết uống la-de không? Làm một chai đi rồi tôi nói cho mà nghe. Uống một chai để ăn mừng.

Hắn khề khà kéo dài câu chuyện một cách khó chịu, cuối cùng ra mới đứng dậy chống nạnh hai quai và nhìn thằng vào tôi mà hỏi:

- Anh có biết tổng số xe hơi Miền Bắc hiện nay là bao nhiêu không?

- Dạ không biết! – Tôi đáp.

Hắn xoè bàn tay ra và nói:

- Có tất cả là 6 chiếc, trong đó có một chiếc không chạy được mang tên là “Chiến Thắng”. Như vậy còn lại 5 chiếc tất cả. Thế nhưng vừa rồi, mới rồi đây, chỉ còn lại có 4 chiếc… Toàn Miền Bắc XHCN của các anh chỉ còn lại có 4 chiếc xe cam-nhông như vậy cũng nhiều quá chớ!

Tôi giận uất người lên, nhưng tôi làm gì được hắn, trong khi tôi nằm trong tay hắn.

Hắn gọi người mang la ve nước ngọt mời tôi và nói tiếp:

- Để tôi kể anh nghe nốt câu chuyện nhé!

Số xe trên Miền Bắc XHCN các anh bây giờ tôi cam đoan không quá 5 chiếc, là vì sao? Vì vừa rồi có một anh tư sản do chính phủ Bắc Kỳ bắt phải đi cải tạo ở Vĩnh Linh. Công việc mà y phải làm hằng ngày là xúc đá đổ đường.

Anh tư sản kia vì không phải là vô sản tay trắng nên anh ta có xe hơi và biết lái xe hơi. Vì thế cho nên từ việc xúc đá đổ đường anh ta được gọi lên cầm lái ô-tô chở đá đổ đường. Cha chả, cầm lái xe là thành phần lãnh đạo đó nghe. Như vậy là anh tư sản kia từ giai cấp bốc lột phải dìm xuống bùn đen mà ngoi lên được giai cấp lãnh đạo rồi nhé!

Bỗng một hôm nọ anh chàng lái xe “vỏ công nhân, ruột tư sản” kia không đời nào cái sự chỉnh huấn thay đổi được , vọt xe qua cầu Hiền Lương mà chạy thẳng về Sàigon… Đó nguyên nhân là như thế đó, cho nên toàn bộ xe hơi ở ngoài Bắc Kỳ hiện giờ chỉ còn lại có 4 chiếc…

Anh trạm trưởng thở dài, một chốc anh hỏi tôi:

- Ở miền Bắc có chuyện như vậy thật sao anh?

Tôi lại ngồi lặng im. Anh trạm trưởng thở dài não ruột.

- Nếu quả tình có việc đó thì ở Miền Nam này bọn tôi còn trèo đèo lội suối làm chi nữa?

- Tại sao?

- Là vì sự xây dựng cái chủ nghĩa xã hội đâu có hấp dẫn gì đâu.

Trong cái túi sắt của rừng thiêng nước độc này, tôi đã nhìn thấy không biết bao nhiêu mái đầu tóc đã muối tiêu, mặt mũi hốc hác, cặp mắt thau láu lúc nào cũng ngóng xem mặt trời ở hướng nào. Ở trong rừng, người đi đường, cả người dẫn đường cũng đều mất hướng.

Tôi biết họ cũng như tôi quá nửa cuộc đời theo “lý tưởng”, chân đã mòn, trí óc đã tiêu hao. Tôi biết họ cũng như tôi, giờ đây mỏi mệt nhưng đích thì chưa trông thấy đâu.

Anh trạm trưởng móc thuốc ra hút rồi sau khi đã nuốt trững mấy ngụm khói vào bụng, như muốn nén đi những nỗi thắc mắc kinh niên, anh nói lãng đi:

- Tôi còn mấy đứa nhỏ học ngoài đó…

- Anh có con lớn vậy à?

- Tôi đã 45 tuổi rồi chớ ít sao anh?

Tôi thấy anh trạm trưởng rủ xuống với mái tóc xám tro của anh. Từ khi tiếp xúc với anh tới giờ, tôi không nom thấy anh già nhưng bây giờ khi nghe anh nói có con lên học đại học thì tôi mới trông thấy anh già. Tội nghiệp! Con Bắc cha Nam!

Một chốc anh hỏi tôi:

- Tôi hỏi thật mà anh cũng phải trả lời thật nhé! Miền Bắc xây dựng XHCN có ngon hơn Miền Nam mình không?

Tôi cười và tìm cách nói loanh quanh, không trả lời thẳng. Điều tôi muốn nói với anh là: Chế độ nào nhiều cơm gạo, và thoả mãn người đời nhiều nhất thì đó là chế độ ta cần bảo vệ và vun bồi.

Chủ nghĩa Cộng Sản trên lý thuyết thì có vẻ hay thật nhưng nó chỉ thực hiện được khi nào nhân loại chỉ có một cái dạ dày chung. Đừng nghe lý thuyết bất kỳ của ai, hãy nhìn vào nồi gạo của họ. Goethe nói một câu tuyệt hay: “Tất cả lý thuyết đều trở thành màu xám, chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi.”

Anh trạm trưởng biết tôi dù có nói cũng không nói thật, cho nên anh tiếp:

- Tôi bi quan từ hằng chục năm nay anh ạ. Nhất là từ khi tôi ra tù. Tôi không nhìn thấy cái gì sáng sủa nữa.

Tôi hỏi vặn:

- Nghĩa là sao?

- Nghĩa là tôi như lục bình trôi như vậy đó.

Tôi không muốn khơi vào tâm sự của anh ta nữa. Bởi vì chích vào đó thì cũng là động đến tâm sự của tôi, cho nên tôi kéo câu chuyện rẽ sang lối khác.

Tôi nói:

- Nhưng, còn cả con cầy kia, mai ta làm một bữa. Anh nghe có lạc quan hay không?

- Khà..khà! – Anh trạm trưởng cười như đứa trẻ.

- Và kia nữa …

Tôi trỏ vào Thu đang đi từ suối lên. Vì sợ ướt quần nên Thu xăn lên quá đầu gối rất xa. Màu da trắng loáng thoáng qua những kẽ cây rừng. Tôi rỉ tai anh trạm trưởng:

- Cặp đùi đẹp nhất thủ đô đó, anh xem dùm một chút là hết bi quan ngay.

- Khậc..khậc!

Anh trạm trưởng nhìn theo tay tôi chỉ rồi quay lại, nét mặt hửng lên, thơ ngây như một anh chàng lần đầu mới nhìn thấy đàn bà.

Thu không trông thấy tôi và anh trạm trưởng nên cứ tự nhiên đi tới, càng lúc càng gần chúng tôi. Cái màu trắng mơ hồ lúc nãy bây giờ đã hiện lên gần quá. Có thể nom thấy những hạt nước còn đọng trên làn da như những hạt sương điểm trên những cành hoa bạch huệ.

Nhưng anh trạm trưởng không nhìn thẳng. Hình như anh bị loá mắt trước một hiện tượng kỳ lạ – xa lạ với cuộc sống lâu nay của anh.

Còn tôi thì có thói quen, khi thì công khai, khi thì lén lút (nếu nói theo danh từ thì “bí mật”), khi thì thiệt tình, khi thì vờ vịt, tôi đã nhìn cái hiện tượng đó, cái kỳ quan đó không biết bao nhiêu lần, mỗi lần mỗi rung động, mỗi ý nghĩa, mỗi diễn biến tâm trạng, mỗi dục vọng. Tôi đã tìm thấy tất cả an ủi trong cái hiện vật lạ lùng ấy. Thơ tứ ở trong đó và những ý nghĩa sôi nổi, những tình cảm nồng cháy cũng ở trong đó.

Tôi không tự nhận rằng tôi yêu Thu nhưng tôi thấy thiếu thốn khi Thu vắng bên tôi. Tôi không thấy hài lòng khi Thu nói chuyện thân mật với người khác, ngay cả với Việt là người mà tôi chắc chắn rằng Thu không yêu. Nói đến Thu là tôi nghĩ ngay đến thỏi ngà thon thon, không nó tròn quá cũng không mong manh quá, một cái gì gần như được cân tiểu ly cân đo và một bàn tay điêu khắc kỳ diệu nhào nặn tác hợp.

Thu: có nghĩa như vậy nhưng không phải chỉ như vậy mà thôi.

Tôi là kẻ đa tình. Tôi tự biết như vậy, mà ở giữa cảnh rừng này đâu có cái đẹp để mà nhìn. Cho nên quanh đi quẩn lại tôi chỉ còn có đôi chân của Thu.

Thu vẫn giữ đôi chân trần như thế đi đến bên cạnh chúng tôi và nói:

- Thôi.. đi ăn đi anh! Cháo chín rồi!

Tôi lặp lại lời của Thu mà mắt vẫn không rời đôi chân Thu.

- Thôi đi ăn đi anh!

Anh trạm trưởng nói:

- Ăn gì?

- Gà nấu cháo! Cháo nấu với gà!

- Thế à?

Không để cho anh ngượng ngùng, tôi lôi tay anh đứng dậy và nói ngay:

- Đi làm bậy một chén cho ấm bụng.

Anh chống chế:

- Để các anh tẩm bổ, các anh còn đi xa quá.

- Còn chơi, hết thôi ! Mà sao anh kỳ cục vậy?

Anh trạm trưởng miễn cưỡng đi theo tôi. Cháo gà nấu trong 3 cái cà-mên đang sôi ùng ục bốc lên sực nức.

Đây cũng là một kỳ quan nữa. Kỳ quan bên cạnh kỳ quan. Thu sợ ướt ống quần nên vẫn cứ xăn lên như thế mà chạy lăng xăng lo việc này việc nọ.

Bỗng dưng tôi lại được hưởng một loại hạnh phúc xấp đôi này.


CHƯƠNG 15

Không biết giờ này là giờ nào nữa nhưng nghe có tiếng gà cục tác. Trong mấy chú gà còn bị giam lại có cả một chú gà trống mới tập gáy như con trai mới bể tiếng. Nó kêu te te chứ chưa thành tiếng gáy. Vậy mà tôi nghe cũng vui, tưởng như mình ở giữa thôn xóm quê hương.

Bất giác tôi nhớ tới anh bệnh binh khi chiều. Nếu còn sống thì hắn ta đang ngủ hay thức? Nếu đang thức thì hắn ta nghĩ gì, ao ước gì? Có cái quân đội nào mà đứng về phương diện tổ chức kỳ cục vậy không? Hô đi, con người ta đi!. Con người ta ốm nằm dọc đường thế là bỏ phế không thuốc men, không săn sóc. Có thứ tình người nào kỳ cục vậy không? Mạnh giỏi thì chơi với nhau, khi đau ốm thì không ngó ngàng tới nữa. Có thứ người ngợm nào kỳ cục vậy không? Khi còn mạnh giỏi thì nai lưng ra khiêng vác trèo leo bất kể đêm ngày, sống chết, khi nằm xuống rồi nhìn quanh quất bạn bè đồng chí, lãnh đạo, chỉ huy chẳng thấy một ngoe.

… Chúng tôi đang nấu cơm sáng.

Nấu cơm hôm nay là niềm phấn khởi lớn nhất đối với chúng tôi bởi vì sau bữa ăn ngon chiều qua, bữa ăn sáng nay cũng sẽ rất ngon.

Ấy vậy mà nó lại không ngon. Chúng tôi đang ăn cơm thì có người đến. Đáng lẽ các ông này đến chiều hôm qua thì bây giờ các ông mới đến. Sau khi nghe họ tiếp xúc với bệnh nhân và họ nói chuyện với nhau thì tôi biết ngay rằng đó là các cán bộ chính trị trong đó có một trợ lý chính trị tiểu đoàn. Anh ta đến bên võng giỡ mí chăn lên xem hồi lâu rồi hỏi thật to:

- Cậu đau có nặng lắm không?

Tôi không nghe bệnh nhân đáp, nhưng tôi đoán là anh ta chỉ khẽ gật đầu thôi.

Anh ta hỏi tiếp:

- Có ăn cơm ăn cháo gì không?

Tôi lại cũng không nghe tiếng bệnh nhân đáp. Ai chớ ông trợ lý chánh trị thừa biết là những người khiêng bệnh nhân tới đây đều rút lui có trật tự hết rồi.

- Bệnh tư tưởng chứ bệnh gì! – Anh trợ lý tiểu đoàn ném ra một câu bông lông.

Tôi nhìn anh ta mà điếng cả người như bị roi da quật. Tôi không hiểu anh ta định nói ai.

Anh trợ lý tiểu đoàn quay sang chúng tôi:

- Các đồng chí nghĩ coi bệnh gì mà kỳ cục vậy? Mới hôm qua đây nó còn ăn cơm rõ ràng. Chiều lại thì ngã ra đau nặng. Đang đi lại nằm ỳ ra, bắt người ta khiêng như thế? Không có người khiêng súng, người đâu mà khiêng người? Phá sản cả kế hoạch hành quân! Bệnh gì? Bệnh tư tưởng chứ bệnh gì?

Anh trợ lý chính trị nói rất hăng làm như diễn thuyết cho nên vừa chấm câu xong, anh ta mệt thở hào hển như leo dốc.

Cả ba chúng tôi không bảo nhau mà đều ngồi im. Anh ta bèn ngồi xề lại gần chúng tôi và lải nhải:

- Thiệt là một thứ bệnh nguy hiểm các đồng chí ạ! Nó lây hơn tất cả các chứng bệnh khác. Anh này thấy anh kia làm có kết quả thì bắt chước làm theo. Rồi anh nọ lại bắt chước làm theo nữa không thể nào ngăn nổi. Các đồng chí xem trong một tiểu đội mà có hai người bệnh phải khiêng thì còn đánh đấm gì nữa?

Anh trợ lý phân trần với tôi làm như chúng tôi cũng chú ý nghe hoặc đồng tình với anh ta.

- Có một dạo có một cái dịch tự sát thương để nằm lại và sau cùng là “bê quay”. Đó là lúc qua giới tuyến. Họ làm như vậy để trở về Bắc. Bây giờ tới đây thì quá sâu rồi không thể trở về được nữa thì họ lại tìm cách lùi lại và dần dần không còn ai biết tới nữa. Rồi họ tự xoá tên trong đơn vị và trở thành người rừng, như một thứ thổ phỉ. Tôi làm cán bộ chính trị cho nên tôi thuộc hết tất cả ngóc ngách tư tưởng của họ, tuy nhiên tôi không làm sao chận đứng lại được.

Anh trợ lý nuốt nước bọt và trỏ về phía võng:

- Đó là một bằng chứng của những lời tôi nói. Hôm qua anh ta còn ăn cơm rõ ràng mà. Chính mắt tôi thấy! Đang đi bỗng nhiên lại khuỵu xuống không đi được nữa. Riêng tôi thì tôi không sợ vì tôi có biệt tài trị chứng bệnh này rất nhanh. Chỉ có một phương pháp thôi: đó là không phát gạo! Đói là đầu gối phải bò!

Nghe anh trợ lý mà anh chính trị cấp tiểu đoàn tuyên bố cái phương pháp trị bệnh của ông ta, tôi nổ lỗ tai.

Anh trợ lý chính trị tiểu đoàn nói tiếp:

- Phức tạp lắm anh ơi. Đi trên con đường này, lãnh đạo một tiểu đoàn bằng lãnh đạo một sư đoàn. Mỗi một binh sĩ là một cái nợ đối với chúng tôi. Mỗi người mỗi kiểu, mỗi người mỗi hành động để chống lại chuyện đi vô Nam, chống việc khiêng đạn vác súng. Cuối cùng giả đau là thần diệu nhất. Đau để nằm lại, để tìm cách quay về Bắc, đó là mục đích của cơn đau.

Anh chính trị viên giải thích cặn kẽ mạch lạc và đoan chắc mọi điều anh nhận định là đúng hoàn toàn. Anh nói tiếp:

- Như cái anh này đây, tôi nói rồi để các anh xem! Anh ta sở dĩ đau nặng như vậy là vì chặng đường sắp tới rất gay go. Hai ngày không có suối, do đó cơm ăn trong hai ngày tới phải nấu đem đi từ đây.

Tôi làm công tác chính trị quân đội nhiều không có chứ ít ra cũng 7, 8 năm cho nên anh lính nào nháy con mắt là tôi biết trong bụng anh ta muốn cái gì rồi. Tôi hứa chắc chắn với các anh một câu xanh dờn rằng anh binh sĩ này nằm lại đây cho đến sáng mai là khỏi ngay bởi vì sáng mai đơn vị hành quân rời khỏi chỗ này. Sau đó anh ta hoạt động lại ngay, lại đi đổi gà nấu cháo xơi phây phây ra thôi!

- Nếu họ “đau” cái kiểu đó thì cứ để cho họ ở lại chớ lôi kéo họ theo làm gì cho nặng hở đồng chí? – Thu hỏi.

Bị hỏi bất ngờ, anh trợ lý “già kinh nghiệm” bị chới với nhưng anh ta cũng trả lời ngay:

- Trời! Nếu bỏ họ ở lại hết thì còn ai đi?

Anh cán bộ chính trị đã nói một câu hết sức thành thật. Nhưng anh ta biết ngay rằng mình nói hớ nên anh ta bỏ đi ngay. Anh ta quay trở lại võng bệnh nhân. Anh lắc lắc cái võng vô tri mà nói với giọng chua lòm:

- Bịnh có nặng cũng cố gắng lên, không có ai khiêng nổi đâu!

Nói xong anh cán bộ chính trị ngoe ngoảy bỏ đi. Cái võng không động đậy, cũng không lên tiếng, cơ hồ như không hay biết chuyện gì đang xảy ra bên ngoài.

Khi anh cán bộ chính trị vừa khuất dạng thì chúng tôi cũng vừa bên cơm nước thịt cá dọn ra. Bữa ăn chúng tôi đang ngon lành thì bỗng có tiếng ú ớ đằng võng. Tôi buông đũa chạy sang, vì tôi nghĩ rằng bệnh nhân đang cần sự có mặt của một người.

Tôi mất hết sự ngon lành của bữa ăn. Người nằm trên võng là một cái xác không hơn không kém. Tôi không có can đảm nhìn lâu.

Tôi thấy đôi môi anh ta mấp máy nhưng không ra tiếng. Tôi chỉ đoán anh ta cần uống nước và ăn cháo. Tôi hỏi:

- Anh khát nước phải không?

Bằng đôi mắt và với cử động rất khẽ của mí mắt, bệnh nhân trả lời với tôi.

Tôi quay về lều và trở lại với ca nước trên tay. Tôi hỏi:

- Anh ngồi dậy được không?

Tôi thấy khổ tâm quá. Một tay tôi nâng bệnh nhân lên, một tay tôi cố giữ thăng bằng ca nước, và đưa ca nước vào đôi môi của anh khô như đất nẻ mặt ruộng trong kỳ đại hạn.

Chỉ vài hớp thôi bệnh nhân đã uống cạn nước trong ca, rồi ngã vật ra trên võng dường như bất tỉnh.

Tôi nom xuống và hỏi:

- Anh cần gì nữa không?

Bệnh nhân khẽ lắc đầu.

- Anh có ăn cháo chúng tôi nấu cho. Chúng tôi đang có thịt!

Mắt anh bạn đang nhắm nghiền bỗng mở to ra như chợt trông thấy điều lành xảy đến. Anh ta nhìn tôi rất đổi ngạc nhiên. Có lẽ anh ta nghĩ rằng anh ta nghe lầm điều tôi vừa nói.

Tôi vội vã trở về múc mớ cháo loãng nấu với xương chó đang sôi sùng sục trên bếp rồi mang sang cho anh ta…

Nghe hơi cháo phất qua, anh bạn ngồi bật dậy trước mặt tôi một cách không ngờ, một tay níu chặt mép võng, một tay run run đưa ra đỡ lấy ca cháo, rồi không ngần ngại đưa lên miệng húp lia lịa, dường như không biết đó là cháo sôi mới múc ra.

Anh bạn húp một hơi hết ca cháo.

Anh ta nằm vật trên võng, mồ hồi ướt trán, mồ hôi thấm qua lớp áo kaki dày mo, gương mặt anh ta sáng hẳn lên. Đột nhiên anh ta nói, tiếng nói rõ ràng và trong sáng:

- Dù sao tôi cũng có 3 đứa con rồi! 1 gái 2 trai.

Tôi hỏi:

- Quê anh ở đâu?

- Quãng Bình, hợp tác xã Đại Phong.

- Anh em đơn vị anh có hứa bao giờ đến rước anh không?

Anh ta ngơ ngác tỏ vẻ không hiểu gì hết về câu hỏi của tôi. Tôi kể vắn tắt lại sự việc vừa xảy ra ở đây cho anh nghe nhưng tôi cố ý không kể lại sự qui kết của anh trợ lý chính trị về “cái bệnh tư tưởng” mà anh ta đã cố gán cho bệnh nhân. Rồi tôi mới trở về lều.

Thu nằm trên võng nhưng nghiêng qua một bên mà lại cong queo lên như nằm trên giường và quay lưng hẳn lại Việt. Tóc Thu rơi một ít bên mép võng. Thu nhìn xuống đất có vẻ như theo dõi một chú rắn mối hay một đàn mối càng đang di chuyển trong đám lá khô.

Tôi thì nằm vặn mình như chiếc bánh quai chèo, chân thòi ra phía bên kia, đầu thì ngoặc sang phía bên này mép võng. Tôi không nhìn ai mà cũng không nhìn gì, cũng không muốn gợi chuyện với Thu.

Tôi đang nằm lim dim bỗng nghe phía võng có tiếng è è làm như có một bàn tay nào chặn cổ bệnh nhân vậy. Tôi bật dậy nhìn về phía võng thấy chẳng có ai ngoài chiếc võng xám xịt im lìm.

Tôi dự đoán rằng anh lính bất hạnh này sẽ chết nay mai.

Không hiểu tại sao tôi không biết sợ gì hết, tôi chạy ngay lại võng. Đến nơi thì thấy anh lính không còn thở nữa.

Tôi không sờ mũi, không sờ ngực nhưng quả quyết rằng tiếng è è lúc nãy là hơi thở cuối cùng của anh. Anh đã chết vì chứng “bệnh tư tưởng”!

Tôi gọi:

- Việt! Việt!

- Gì anh?

- Chạy vô trạm báo anh bệnh binh đã chết rồi.

Việt sững sờ. Thu cũng ngồi dậy ngơ ngác. Chúng tôi im lặng nhìn nhau như trao đổi với nhau nỗi buồn thảm vô tận.

Chập sau thì anh trạm trưởng và Chân ra. Và chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ sau anh trạm trưởng đến gặp tôi. Anh xoa hai tay một cách toại nguyện:

- Xong rồi!

- Vậy à đồng chí?

- Tôi nói có sai không?

- Chậc!

- Thiệt là vô nhân đạo! Đồng chí, đồng đội đó!

Tôi đứng lặng thinh lắng nghe anh trạm trưởng tiếp:

- Đấy, đồng chí thấy đơn vị có cho thằng nào trở lại không? Tôi đã nói là tụi nó đổ gánh nặng cho tôi mà!

Tôi thấy anh trạm trưởng không chút xúc động, chỉ thấy anh tức giận thôi. Anh nói:

- Tôi mà biết đơn vị nó đóng ở đâu, tôi tới níu đầu thằng chỉ huy xán cho nó mấy bốp tai và bảo nó nghỉ đi, đừng có chỉ huy lính tráng nữa.

Câu nói của anh làm cho tôi nghĩ đến những vị chỉ huy khác.

Tôi thấy eng eng muốn sốt. Tôi ngồi bật đậy và nói với Việt:

- Việt à!

- Chi anh?

- Tớ muốn hai đứa mình đi làm cái này một chút.

- Cái gì anh?

- Cậu với tôi đi xuống suối tìm một tấm đá phẳng khiêng lên đây rồi hãy hay. Có đồng ý không?

- Được rồi…nhưng để làm gì?

- Làm gì rồi sẽ hay mà!

Rồi hai đứa cùng đi. Tôi nói với Việt:

- Khắc cho anh ta một mộ bia cậu à! Tớ nói thật mà! – Tôi nói tiếp với sự kiên nhẫn – Mình nằm không sẽ bị sốt, đi hoạt động có lợi hơn!

Việt ngần ngại:

- Tôi đồng ý cái kinh nghiệm đó, nhưng khắc một bia đâu phải chuyện chơi.

- Không phải chuyện chơi nhưng ta nhất định làm được…Tội nghiệp anh ta chết không một người bên cạnh. Chỉ có cây rừng đứng lặng chung quanh. Tụi mình cũng vô tình quá…

Việt dảy nảy:

- Vô tình khỉ mẹ gì! Đến phiên mình rồi phải nằm ngay cán cuốc ra như hắn thôi, có ai ngó ngàng tới? Chôn người chưa chắc người ta chôn mình!

Tuy nói vậy nhưng Việt vẫn đi với tôi xuống suối. Hai đứa chọn mãi mới được một mặt đá phẳng.

Cái tấm đá không to lắm. Nó bằng gấp đôi tập vở học trò . Tôi cứ tưởng tôi xách một tay mà đi bon bon về nhà, nhưng khi tôi nhấc thử nó lên thì tôi mới biết là tôi không thể.

Việt thì có vẻ anh hùng hơn, Việt xăn tay áo và bảo:

- Để tôi vác cho!

Thế là cu cậu đỡ tấm đá lên vai vác về lều.

Tôi bèn chạy vô trạm, lục lạo một hồi mới được một cái lưỡi lê gãy và tên họ người xấu số. Tôi mừng quá xách cái lưỡi lê chạy về mà đưa cho Việt:

- Cậu đục trước đi, mỏi tay rồi tôi thay khắc tên tuổi quê quán của anh ta.

Việt đục cả tiếng đồng hồ, mồ hôi mồ hám ướt đẫm mà chưa xong một nét.

Việt ném dụng cụ và thở phào:

- Thôi! mệt bỏ mẹ! Cái thằng cha này nó lại báo hại mình. Chớ phải nó họ Lý họ Lê gì thì đỡ cho mình biết mấy, đằng này nó nhảy nó đè họ Nguyễn mới chết tươi mình chớ! Nội cái dấu ngã thôi khắc cũng đủ bỏ mạng mình rồi.

Tôi nói:

- Thì viết tắt.

Việt cãi lại:

- Còn tên nó làm sao viết tắt? Phải nó tên A tên B và quê ở Hà Nội cũng đỡ mệt cho mình. Đằng này cái tên đã dài cả cây số rồi, còn quê thì lại ở Quảng Bình, kéo thêm nửa cây số nữa. Khắc cái mộ bia này bằng đi một trạm!

Mãi tới chiều chúng tôi mới đục đẽo xong cái “mộ bia”. Tuy nó không ra cái hồn gì nhưng người đi qua có thể đọc và biết được kẻ nằm dưới mồ tên gì, mấy tuổi và quê ở đâu.

Tôi và Việt khệ nệ khiêng tấm bia đá đặt trên nấm mộ cách chỗ anh ta mắc võng nằm không xa.

Tôi hỏi anh trạm trưởng tại sao không đắp nấm cho người chết? Anh trạm trưởng hỏi lại tôi:

- Anh có sức đắp nổi không? – rồi anh lại tiếp – Đắp để làm gì? Sở dĩ người ta đắp nấm mộ cho người chết là để người sống tới thăm, dẫy cỏ, đốt nhang . Còn ở đây thì ai tới? Vả lại nay mai trạm chúng tôi cũng dời đi, con đường mòn này đâu còn. Ai mà đi qua đây? Tất cả đều chìm lắng, đều bị nuốt mất trong cái bụng thăm thẳm của rừng, tất cả sẽ trở thành đất … một cách vô danh.

CHƯƠNG 16

Trong lúc chúng tôi đang chuẩn bị cơm nước thì có hai vị khách đến, một nam một nữ. Cả hai đều tỏ ra rất thuộc đường rừng và quen cuộc sống ở rừng cho nên họ không cần hỏi chúng tôi một điều gì.

Một người đàn ông trạc 40 tuổi, da đen sạm với chiếc nón nỉ cũ không còn ru-băng sụp đến tận mắt. Anh ta mặc bộ đồ bà ba đen, ống quần thì túm lại cho nên nó phùng ra ở phía trên như y phục của một tay kiếm hiệp. Anh chàng mắc võng xong rồi mới đến giúp cô nàng. Cô ta mắc võng vào đúng hai cái cây của anh “bệnh tư tuởng” vừa mới ra đi. Hai người nói gì với nhau, tôi không nghe rõ, nhưng có vẻ bí ẩn lắm. Gương mặt cô gái không vui không buồn. Cô ta còn trẻ quá, thừa tiêu chuẩn về tuổi tác để làm con anh kia.

Suốt từ khi họ đến, tôi không nghe họ gọi nhau bằng ngôi thứ mà chỉ nói trỏng trỏng suông suông. Có lẽ cô ta là y tá, còn anh kia là cán bộ cao nên cô ta đi theo để phục dịch thuốc men. Cán bộ cao thì phải có gạc-đờ-co chứ! Các cha lớn đi ra thì khác nào ông nghè bái tổ vinh qui. Hay cô kia là con gái ông ta, nhân trong một chuyến về thăm gia đình, anh ta xúc nó theo đi làm cách mạng cho luôn tiện rau nào sâu ấy.

Không hiểu sao từ lúc hai nhân vật nầy xuất hiện ở đây, tôi cứ nghĩ hết giả thuyết này đến giả thuyết khác, không biết vô lý hay có lý, nhưng tôi không dứt tôi ra được khỏi vấn đề.

Tôi còn để ý thấy cô bé hơi bẻn lẻn. Cô không đến trò chuyện với Thu, cũng không ra khỏi tăng. Đến chiều khi được lệnh nấu cơm, thì họ chỉ dọn cơm ra ăn thôi chứ không nấu. Hai người ngồi cả trong tăng cô gái. Anh đàn ông quay lưng hẳn lại phía tôi làm như cố ý che kín cả cô gái và che cả những ý nghĩ của y. Cái lưng to bản của y quả thật là tấm vách tường chắn ngang, thỉnh thoảng tôi mới trông thấy được bàn tay hoặc một mép tóc của cô nàng thôi.

Cái áo của anh ta có lẽ đã mấy ngày không có dịp giặt cho nên mồ hôi đóng thành muối, in hình một tấm bản đồ rất rõ nét.

Tôi cũng không hiểu tại sao tôi lại chú ý người ta kỹ như vậy. Chuyện của người ta mà, đâu có dính dấp tới tôi?

Cơm nước xong, trời vừa tối. Đó là thời khắc thiêng liêng của những kẻ vượt Trường Sơn, đàn ông hay đàn bà kẻ khoẻ người yếu đều yên trí rằng mình sắp được nghỉ ngơi trọn vẹn. Chỉ còn có máy bay hoặc biệt kích mới đáng sợ mà thôi.

Tôi thấy anh chàng từ dưới suối đi lên, ngang qua võng của tôi, tay cầm cái bàn chải gõ gõ vào lòng bàn tay và quay mặt sang bên kia, không nhìn tôi. Anh chàng đã thay chiếc áo bà ba “có in bản đồ” và mặc cái áo thun trắng. Y làm dáng, tôi nghĩ vậy.

Rồi y ta đi vào lều. Tôi ngoài cổ nhìn theo, nhưng cái cử chỉ không được lịch sự cho nên tôi ngồi dậy và lẵng lặng nằm quay đầu lại để được nhìn sang bên kia tự nhiên hơn.

Bỗng Thu gọi:

- Anh còn nước uống không?

- Còn! Bi-đông treo ở đầu võng đây, có uống thì sang.

Tiếng chân Thu đi lào rào trên lá khô. Thu vào lều và rỉ tai tôi:

- Anh có thấy gì không?

- Không!

- Anh thì lúc nào cũng vờ. Đóng kịch tài lắm!

- Lại kiếm chuyện! Kịch với chả kẹt!

- Anh không thấy gì hết hở?

- Không thấy gì cả, ngoài em!

- Xùy! Ghét cái mặt anh quá!

Tôi cười và bảo:

- Thôi về an dưỡng đi.

Thu biết tôi đối xử với nàng rất thân thiết nhưng cũng rất mực thước, cho nên nàng không ngần ngại đến với tôi bất cứ lúc nào. Còn tôi thì cứ ôm cây đàn lòng, lắm lúc ở giữa núi rừng này cũng muốn trổi lên cái cung “mi-nưa” lắm, nhưng lại sợ tiếng đàn ngân lên mà không có tiếng vang, cho nên cứ lên dây, rồi lại so dây, mình chỉ dạo lên cho mình nghe mà thôi.

Khi Thu bước ra khỏi lều, tôi mới thấy rằng nàng đã mang theo với nàng sinh khí trong lều. Tôi thấy tôi chơi vơi, chới với. Tôi gọi nàng như hốt hoảng:

- Thu! Thu lại đây!

- Thôi, em về thôi.

- Bảo lại đây anh nói cái này..

- Mai đã!

- Rồi tối nay có chuyện gì gọi anh không sang lại đâu đấy nhé!

- Anh trả thù em hở? – Nói vậy nhưng Thu đã trở lại đứng ở mép lều của tôi rồi.

Tôi lại kỳ kèo:

- Vào đây! Chuyện bí mật quân sự mà!

- Anh chỉ tài bịa – Thu cũng chìu ý tôi, bước vào đứng ở chân võng.

Tôi có chuyện gì đâu mà nói. Thu đứng im. Có lẽ Thu cũng biết tôi gọi Thu lại để có Thu trong chốc lát. Và Thu trở lại vì nàng cũng thấy cần đến với tôi. Cả hai không nói lời nào, mà trong sự im lặng kia, có hàng ngàn tiếng nói, tiếng nhạc vang lên, tiếng to tiếng nhỏ., tiếng tơ tiếng đồng va chạm, hoà hợp nhau, đuổi bắt nhau, lẫn tránh nhau. Cả một vùng đầy âm thanh đó vây riết lấy hai đứa trong sự xao xuyến, náo nức, chờ mong, đau khổ và hy vọng. Nó như cái túi đã căng đến mức độ chỉ cần một mũi kim chích vào là vỡ toang ra ngập lụt.

Tôi nói:

- Này Thu ạ.

Nhưng khi tiếng nói sắp nẩy lên trên môi tôi, thì tôi lại mím lại và nén nó vào trong. Tôi lại nói sang chuyện khác ngay.

- Ở đây, em ngủ phải coi chừng nhé!

- Coi chừng gì anh?

- Coi chừng người ta ăn cắp bi-đông và dép – tôi tiếp – Bi-đông thì phải treo ở đầu võng, buộc thật chặt, còn dép thì phải giấu ở giữa nóc tăng.

Thu nói:

- Có thể mà cũng gọi. Anh thiệt!

- Còn nữa chứ!

- Em bao giờ cũng bị anh gạt.

- Không, anh bao giờ cũng bị em gạt.

- Lừa gạt hay gạt qua một bên? – Thu hỏi gặn.

- Cả hai!

- Bây giờ anh nói đi, em không gạt, cũng không gạt!

- Thôi, để mai hãy nói.

- Đấy, anh gạt em đấy!

- Không, tại lúc nãy em bảo để mai.

- Em không có sang đây nữa đâu! – Nói vậy nhưng Thu vẫn tần ngần đứng đấy.

Rồi thì đêm. Cái đêm muôn thuở của loài người, cái đêm mang đến cho chúng tôi cùng một lúc sự hãi hùng và sự yên tĩnh.

Đến nửa đêm thì tôi nghe tiếng rên rỉ. Theo thói quen của những người đi trên đường này, nghe chuyện gì thì chuyện, cứ phớt tỉnh Ăng-Lê.

Chuyện gì cũng không ăn thua, miễn nó đừng xảy ra cho mình thời thôi. Nghe tiếng rên tôi tưởng Thu sốt, nhưng lắng nghe kỹ lại thì không phải, vì Thu nằm ở hướng khác. Tiếng rên kia là của một người con gái. À, tôi sực nhớ ra người con gái bẻn lẻn lúc ban chiều. Nét mặt và tất cả những việc làm của cô, tôi chú ý từ chiều, bây giờ sống dậy. Sự nghi ngờ của tôi rất có lý.

Tôi nghĩ: cô sốt sao cái anh chàng chết tiệt kia nằm gần đó mà không lên tiếng?

Tôi bèn bạo dạn kêu lên:

- Ai sốt ai la đó hả?

Hồi lâu tôi không thấy trả lời. Tôi kêu hai ba lần và cùng tôi gọi thẳng người đàn ông mặc áo thun trắng.

- Đồng chí gì ơi !… Cô bạn của đồng chí sốt kia kìa.

Nhưng tôi không thấy ai trả lời trả vốn chi hết. Tiếng kêu của nạn nhân to hơn và rõ hơn:

- Ai cứu tôi với…Ai … ai … cứu tôi!

Tôi ngồi bật dậy và ném sang gã đàn ông:

- Đồng chí ơi! .. dậy mau… ngủ gì như chết vậy?

Người kia vẫn không đáp lại.

Tôi nghe tiếng rên rỉ bi thương quá nên buộc lòng tôi bấm đèn pin lên, rọi kỹ dưới đất, xong tôi mới rút dép trên nóc tăng xuống xỏ chân vào cẩn thận rồi mới từ từ đi sang tăng cô gái. Trời đất ơi! Bây giờ tôi mới bạt vía kinh hồn. Một cảnh tượng bày ra trước mắt tôi mà tôi không hiểu gì cả.

Cái võng bằng ni-lông xanh đứt làm đôi, còn cô gái nằm quằn quại duới đất. Mặt cô gái xanh nhạt ra và đôi mắt trợn ngược lên toàn tròng trắng.

Tôi đứng tần ngần giây lâu. Cô ta gắng gượng nói:

- Ông ta….!

À ra thế. Nhưng nếu thế thôi thì đâu có chuyện gì. Tôi bàng hoàng không biết làm gì nữa. Bất gíác tôi rọi sang lều của người đàn ông kia. Ở chỗ đó không còn tăng mà cũng không còn võng. Vậy ra ông ta đã biến đi rồi, với tất cả đồ lề của ông ta.

Bất thần tôi hỏi:

- Sao võng cô đứt mà cô không ngồi đậy? Ngồi dậy đi!

Người con gái khẽ lắc đầu. Tôi mới để ý thấy rằng quần áo của cô không giữ đúng vai trò của chúng. Thế mà cô ta vẫn không biết điều đó, cho nên cô không sửa sang lại.

Hồi lâu sau, cô mới nói, giọng run run, gắng gượng:

- Ông ta… y..êu…tôi!

Tôi đã hiểu ra rồi. Vì thế nên chiếc võng nó mới đứt làm đôi ra. Dưới sức nặng của hai cây thịt nhún nhảy linh tinh… Tôi phát mọc ốc lên đầy mình. Trước đây, lúc tôi hãy còn đi chung với Phương, nhiều đêm tôi và Phương đã từng dùng chiếc võng làm tổ uyên ương nhưng cũng may là võng của chúng tôi còn mới nên không xảy ra chuyện gì.

Nhờ kinh nghiệm bản thân cho nên nghe cô gái nói thì tôi hiểu vấn đề ngay. Mãi đến lúc sau tôi mới phát giác ra rằng cô gái không ngồi dậy được và hai tay cô cũng không còn cử động bình thường. Thì ra, dưới sức nặng của hai người mà hai người đang ngọ ngoạy thì cái trọng tâm hoạt động dồn xuống theo sức hút của trái đất, cho nên khi cái võng đứt làm đôi thì cái lưng cô gái bị nện xuống đất với một lực to gấp nhiều lần so với sức nặng của chính cô. Và nguy hại nhất là dưới lưng của cô gái có những hòn đá nhọn chĩa lên. Cho nên một trong những mắc xương sống bị dập đi.

Tôi cũng không biết làm gì hơn là bế xốc cô gái lên rồi nhìn quanh quất, không thấy nơi nào có thể đặt cô gái xuống được. Tôi bế cô về lều đặt trên võng của tôi rồi hoả tốc gọi Việt và Thu sang.

Sau khi Thu hiểu ra câu chuyện, Thu cũng đứng chết như trời trồng, không biết làm gì hơn tôi.

- Em chóng mặt quá…! – Thu kêu lên rồi quay trở về.

Tôi biết làm gì với một vết thưong như vậy? Thật oái oăm!

Tôi cũng không còn đủ bình tĩnh để mà chửi rủa tên đàn ông kia.

Tôi nói với Việt:

- Tôi đã đoán ngay từ chiều mà!

- Ghê thật! Võng rơi xuống hòn đá nhọn thì còn gì!

- Ai có ngờ!

- Ông kia lại bỏ đi đâu?

- Trốn chứ còn đi đâu!

Tôi ngồi dựa góc lều cho tới sáng. Việt vào gọi anh trạm trưởng ra. Tôi thuật lại đầu đuôi câu chuyện. Anh trạm trưởng chửi ỏm tỏi. Anh ta nói oang oang không kiêng nể ai hết:

- Thằng cha này là huyện ủy huyện ẻo gì đó. Nó dắt con nhỏ này đi nhong nhong hết trạm này đến trạm khác, đồ dã man. Chơi cho sướng rồi bỏ con người ta vậy đó. Huyện ủy cái con c….! Dắt qua đây mấy lần rồi, nhưng tôi không biết. Nếu tôi gặp là tôi đuổi đi liền tay.

Anh ta nói luôn một thôi dài:

- Còn cái con nhỏ này nữa. Đồ con gái nhí nhảnh, không biết thân cứ đeo theo cái thằng cha già ngắt như vậy kiếm cái gì? Đồ ngu! Rốt cuộc lại cũng tụi tôi chịu. Hừ!… Đây nè, bậy giờ tụi tôi vác, tụi tôi khiêng đây nè, chứ ai vô đây mà chia với tụi tôi?

Tôi thấy khổ tâm quá, vừa xấu hổ, vừa xót xa. Càng đi càng thấy những chuyện kỳ cục càng nhiều ra. Thật là một tai nạn không ở đâu có.

Anh trạm trưởng sang chỗ cô con gái bị đứt võng rồi trở lại ngay. Anh lắc đầu:

- Đá nhọn như chông mà. Cả trăm kí lô giằn lên, rơi xuống. Đá nhọn mà không gãy xương sống sao được? Gãy xương, tủy chảy ra dính đầy trên đá kia kìa. Ai nấy sang coi dùm một chút! Cái chỗ đó có cô hồn mà không biết, cứ lủi vào!

Cô gái cứ sống trong tình trạng hấp hối như vậy ba ngày không có thuốc men. Đến ngày thứ tư thì tắt thở. Lại cũng anh trạm trưởng và cậu Chân chôn.



(CÒN TIẾP :ĐƯỜNG ĐI KHÔNG ĐẾN (Phần 2)- Hồi Ký của Xuân Vũ)


NGUỒN: Blog Lê Thy