. .

Tuesday, April 21, 2015

Việt Nam 40 năm: Thắng cuộc Cộng sản đã thua cuộc Tha hóa Tư bản

Vietnam 40 years on: how a communist victory gave way to capitalist corruption" by Nick Davies - Nguồn: The Guardian April 22, 2015

Việt Nam 40 năm: Thắng cuộc Cộng sản đã thua cuộc Tha hóa Tư bản
Lê Tùng Châu dịch, May 4, 2015

Lời Người Dịch: Tôi tin số bạn đọc không "phục" bài viết này của Nick Davies là số nhiều. Và tôi cũng có trong số nhiều đó. Dù không đồng ý với ký giả kỳ cựu người Anh này vài điểm trong bài này nhưng xét toàn nội dung, bài viết đã cho độc giả người Việt thêm một cái nhìn khách quan của một người ngoại quốc am hiểu nội tình đất nước Việt Nam hiện tại. Đúng là chỉ Hiện Tại thôi chứ không phải Quá Khứ -hay như một yêu cầu cao hơn chính xác hơn chuyên nghiệp hơn- nghĩa là nhất thiết phải am hiểu diễn biến dọc một chuỗi dài 6, 7 chục năm qua để có thể nhận thức được nguyên do dẫn đến thảm cảnh kinh tế - văn hóa - chính trị Việt Nam bế tắc và vong bản như ngày hôm nay.
Đòi hỏi nơi một người ngoại quốc như thế thì quá sức họ và cũng không thực tế.
Đó phải là việc của chúng ta, những người Việt yêu quê hương, thao thức ngày đêm vận mệnh quê hương...phải làm, phải viết và phải nói cho công luận, cho các thế hệ di sau bị cộng sản đầu độc và cho toàn thể đồng bào Việt Nam ý thức nguy cơ tiêu vong của xứ sở nếu quyền chính vẫn còn tiếp tục nằm trong tay tập đoàn máu cộng sản ngu si độc ác và vô học Ba đình, Hà Nội.
Sau bài dịch này tôi sẽ có một bài viết chi tiết với tư liệu dẫn chứng công phu và quý hiếm...chỉ ra những chỗ kiến thức lịch sử thiếu sót nào của ký giả Nick Davies đã dẫn đến một vài nhận định, kết luận không đúng của ông về quá trình hình thành đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa, hoặc ở một chỗ khác non nớt và phiến diện khi ông nhắc tới nhà tù Côn Đảo....mong bạn đọc theo dõi.

Như thường lệ, các chú thích và ảnh dẫn chứng trong bài cũng như một vài dấu ngoặc [ ] là do người dịch


* * *

Lời Tòa Soạn The Guardian: Sau chiến thắng quân sự, mô hình xã hội chủ nghĩa của Việt Nam bắt đầu sụp đổ. Bị từ chối viện trợ tái thiết và bị cô lập bởi cấm vận thương mại mà dẫn đầu là Mỹ, đất nước này lao nhanh xuống hố bần cùng. Hiện nền kinh tế đang bung ra của nước này kèm theo biết bao bất công và tham nhũng.

Bài của Nick Davies trên The Guardian April 22, 2015
Nick Davies trong một một buổi nói chuyện với sinh viên tại City College Brighton and Hove, April 2011

Vào một sớm tháng Hai năm 1968 ở miền Trung Việt Nam trong thời điểm chiến cuộc leo thang khốc liệt, một tốp binh sĩ Nam Hàn mở cuộc hành quân tảo thanh, họ tiến vào một ngôi làng có tên gọi là Hà My, một quần thể dân cư với ruộng lúa và các mái nhà tranh thưa thớt, cách Đà Nẵng độ một giờ xe chạy. Họ là đơn vị có tên gọi là “Rồng Xanh” (Blue Dragon) vốn chiến đấu bên cạnh người Mỹ trong nỗ lực dập tắt các cuộc nổi dậy của cộng sản.

Trong nhiều tuần, họ đã dồn nông dân với các gia đình lại trong một khu định cư cưỡng bách mà người Mỹ gọi là "ấp chiến lược". Bằng cách đưa nông dân ra khỏi làng, họ hy vọng sẽ cắt đứt nguồn lương thực và nơi trú ẩn dành cho quân du kích cộng sản. Trong nhiều tuần tiếp, các nông dân và thân nhân đã vượt thoát ra, tìm đường trở về Hà My, phần vì không chịu nổi sự giam cầm của các ấp chiến lược, phần vì họ cần phải canh tác ruông nương. Lúc bấy giờ, đoàn quân “Rồng Xanh” cảm thấy hết chịu nổi. Trong vòng một giờ sau khi họ kéo đến Hà My, lính Nam Hàn lùa dân làng đang thức giấc chia thành các nhóm nhỏ và rồi tuần tự nổ súng. Một giờ sau, họ đã tàn sát cả thảy 135 người rồi nổi lửa đốt hết nhà cửa và xác chết, san bằng toàn bộ bãi chiến trường kia chung vào ngôi mộ tập thể. Nhiều năm qua, sự thật này cũng bị vùi chôn trong quên lãng như những gì chôn vùi trong ngôi mộ kia vậy.

Hiện nay có một đài tưởng niệm vụ thảm sát đó, hình thành 30 năm sau bởi toán lính “Rồng Xanh” khi xưa nay quay lại tự quyên tiền xây cất để bày tỏ niềm hối hận sâu xa. Nhưng có cái gì đó không ổn ở đây. Đài tưởng niệm đứng trang trọng, to lớn như một ngôi nhà, với mái lợp được trang trí công phu có thể che phủ cho hai ngôi mộ tập thể và một tấm bia đá lớn khắc tên của những người lớn và trẻ em đã chết. Nhưng không hề có một lời giải thích về những cái chết đó.

Phái đoàn Nam Hàn dâng hương tưởng niệm vụ thảm sát Hà My 2011
Đài tưởng niệm vụ thảm sát Hà My 2013 
Một nạn nhân may mắn còn sống sót phát biểu tại Lễ tưởng niệm Hà My năm nay 2015

Dân làng nói rằng khi tượng đài được xây dựng lúc đầu, mặt sau của bia mộ có trình bày một bản tường trình sống động về những gì đã xảy ra ngày hôm đó. Thậm chí trên đó còn có một bản sao thủ bút của tuồng chữ viết một bài thơ bi tráng nhắc lại cảnh máu lửa, thây người cháy tan hoang và bị dập vùi trong đất:
"Đớn đau thay khi nhìn Mẹ Cha tan thây dưới lửa đạn... 
Kinh hãi thay khi nhìn đàn trẻ và bé thơ gào khóc, tay chân chới với mà mồm vẫn còn ngậm chặt bầu vú người Mẹ đã chết ... "
Nhưng, dân làng nói rằng, một số nhà ngoại giao Nam Hàn đã đến thăm nơi này trước khi chính thức mở cửa đài tưởng niệm và tỏ ý không hài lòng về bài thơ; các quan chức Việt Nam thay vì tranh đấu với những phàn nàn đó thì lại ra lệnh phủ lên bài thơ kia một bức vẽ hoa sen.
Một nhà nhân chủng học Hàn Quốc, Heonik Kwon, người đã nghiên cứu Hà My vào thời điểm đó, ghi nhận, một dân làng nói rằng chối bỏ sự thật này thì cũng chẳng khác nào làm một vụ thảm sát thứ hai: "nó giết chết cái ký ức giết người".

Tại sao người Việt lại thỏa hiệp như thế? Tại sao người thắng cuộc chiến này lại để cho kẻ thua cuộc vẽ lại câu chuyện chiến tranh đó theo ý họ?

Dân làng cắt nghĩa: câu trả lời rất đơn giản rằng Nam Hàn đã trở thành một trong những nhà đầu tư ngoại quốc lớn nhất trong nền kinh tế của chính quyền này, và đã đề nghị nếu bài thơ kể vụ thảm sát được dẹp đi thì họ sẽ trả giá việc đó bằng cách xây cho địa phương một bệnh viện. Vì vậy, chính quyền Việt đã thoả thuận mà không chống cự.

Đó là tâm điểm những gì đã xảy ra ở Việt Nam kể từ khi chiến tranh kết thúc cách đây 40 năm, vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Bỏ ra một tháng đến thăm thú nơi đó vào đầu năm nay – tiếp xúc chuyện trò với nông dân, trí thức, chuyên gia, học giả và các cựu binh của cả hai bên – đã giúp tôi khám phá được rất nhiều điều dối trá cũng như những thỏa hiệp mà người Việt Nam đã bị cuốn vào bởi sự cám dỗ quá lớn của lợi tiền. Người Mỹ đã thành công khi rêu rao một phúc trình dối trá về động cơ tham chiến và quá trình tiến hành cuộc chiến của họ. Dù thua cuộc trong xung đột vũ trang, Mỹ và các đồng minh của họ đã quay lại với những vũ khí tài chính hùng hậu buộc Việt Nam phải chấp nhận một lộ trình mà Việt Nam không có quyền chọn lựa nào khác. Giờ đây những kẻ đứng đầu chính quyền Việt Nam đang thốt ra những lời nói dối vĩ đại hơn bao giờ hết.

Nguyen Hao Thu, 90 tuổi, đang sống trong một căn hộ sáng đẹp tại Hà Nội. Như một chú chim hót, bà nói huyên thuyên nhưng lưu loát bằng tiếng Pháp và cả với một thứ tiếng Anh hỏng, kể lại từ hồi còn trẻ, Bà đã thấy đất nước mình bị nghiền nát giữa hai kẻ thù hùng mạnh ra sao. Đầu tiên là người Pháp lúc cuối Đệ Nhị Thế Chiến đã từ chối không chịu buông tha xứ thuộc địa này. Năm 1946, lúc Bà 21 tuổi, Thu bỏ vào rừng gia nhập quân du kích, việc của bà là chuyên lấy axid trộn với Nitrat Natri và rượu để làm thuốc súng: "Tôi rất hạnh phúc trong rừng. Với bột chế bom, bạn có thể - bùm! – và thế là toại nguyện".
Và mong ước đó đâu chỉ là chủ nghĩa dân tộc, đánh đuổi ngoại xâm. Cái mà nó cốt nhắm tới là chủ nghĩa cộng sản và cách mạng. Thu nhớ lại thời ấu thơ, người Pháp đã bắt Cha cô đi, ông là một thầy giáo dạy mẫu giáo; cô thường mang thức ăn đến cho ông trong tù khi cô chỉ mới bảy tuổi. "Tôi ghét tất cả những ai đánh chiếm Việt Nam. Từ trong tâm trí tôi đã trở thành cộng sản" cô nói. Cô cho biết, gia đình cô thoải mái với giai tầng trung lưu, mà trong những năm 1930, nhà cô đã được dùng làm nơi họp kín của các đảng viên Cộng sản Việt Nam. Cô nhớ đã từng đọc Marx và Lenin, và khi cô 16 tuổi, người Pháp đã xử tử một người bạn của cô như thế nào. "Thật thế, tôi chính thị là một người cộng sản"

Lê Nam Phong, tuổi xấp xỉ với Thu. Lúc 17 tuổi ông đi lính để chống Pháp, năm 1945. Ông trải tiếp 30 năm trong chiến tranh, leo lên chức thiếu tướng trong quân đội Bắc Việt và một nhân tố chủ chốt trong đợt phá hủy máy quân sự Mỹ trong những giờ khắc cuối cùng. Vào một buổi tối ấm áp, vừa ngồi gọt xoài ngoài hiên nhà bề thế sung túc của mình, ông vừa nhớ lại động cơ tham gia cách mạng: "Chủ nghĩa xã hội? Vâng, dĩ nhiên rồi. Mục tiêu của mọi trận chiến là nhằm xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa, để đạt được tự do, độc lập và hạnh phúc. Trong những ngày đầu chống Pháp và chống Mỹ, trong trí chúng tôi đã có cái xã hội mà chúng tôi muốn tạo ra - một xã hội người không bóc lột người, công bằng, độc lập, bình đẳng"

Đây chính là chỗ phá sản hoàn toàn trong thái độ và cách đánh giá của người Mỹ. Trong cái nhìn của Mỹ về các sự kiện đó cho rằng khi Pháp bị đánh bại vào năm 1954, quân đội Mỹ đã tham gia để bảo vệ phe quốc gia ở Nam Việt Nam khỏi nguy cơ bị cộng sản từ miền Bắc thôn tính. Thực tế là người Pháp đối xử thù địch với dân chúng trên toàn quốc, nên đã đẩy họ sa vào vòng tay đảng cộng sản của Hồ Chí Minh. Và, quan trọng hơn, lúc ấy cũng chẳng có hai quốc gia riêng biệt. Năm 1954, dù bị quân Việt Nam đánh bại [Điện Biên Phủ], Pháp và các đồng minh phương Tây vẫn còn duy trì quyền lực tại thành trì miền Nam. Tại hội nghị quốc tế Geneva [1954], tất cả các bên sau đó đã đồng ý chia đôi đất nước thành Nam Việt Nam và Bắc Việt Nam, tạm thời, theo đó vào tháng Bảy năm 1956 sẽ có một cuộc tổng tuyển cử bầu ra chính phủ mới cho một quốc gia thống nhất.

Tổng thống Mỹ, Dwight Eisenhower, sau đó thừa nhận rằng nếu diễn ra bầu cử thật, thì khoảng 80% dân Việt sẽ bầu cho Minh và xã hội xã hội chủ nghĩa mới lạ kia - và người Việt với chúng tôi cũng đã đồng tình nhìn nhận thế. Thế nhưng Mỹ không để điều đó xảy ra. Thay vào đó, họ dùng một giải pháp phái đến một chuyên viên CIA cự phách, Edward Lansdale, người đã tiến hành sử dụng một phép kết hợp khéo léo của mua chuộc và bạo lực để dàn xếp một chính phủ mới ở Sài Gòn, đứng đầu là một nhà chính trị Công giáo Ngô Đình Diệm có khuynh hướng độc đoán và gia đình trị, nhưng chống cộng và ủng hộ Mỹ. Trong tháng 10 năm 1955, Lansdale tổ chức gian lận cuộc bầu cử ở miền Nam để Diệm đắc cử Tổng Thống. Cuộc bầu cử toàn quốc bị hủy bỏ. Việc phân chia "tạm thời" bây giờ đã trở thành một thực tế biểu kiến kéo dài mà Việt Nam thực sự là hai quốc gia khác nhau, miền Nam là nạn nhân hứng chịu tham vọng xâm lược từ miền Bắc.

Lúc đầu, Mỹ, vốn là kẻ tài trợ cho cuộc chiến của Pháp, nay chấp nhận rót tiền cho quân đội của Nam Việt Nam, đồng thời gửi quân đội riêng của mình đến, che mắt dưới cái vỏ "cố vấn" – chỉ 16.300. Đến tháng ba năm 1965, họ đã gửi quân chính quy vào chiến đấu. Tại đỉnh cao của cuộc chiến, năm 1969, họ đã tung vào 550.000 quân Mỹ, cộng với 897.000 quân Nam Việt Nam và hàng ngàn quân đến từ Nam Hàn và các quốc gia đồng minh khác. Cho đến lúc chiến cuộc kết thúc, số người chết không tính xuể, có thể lên tới con số 3,8 triệu, theo một nghiên cứu của trường Y Khoa Harvard và Đại học Washington.

Phóng viên ngoại quốc người Anh James Cameron mô tả hành động của Mỹ là "một hành vi tội phạm mang tầm quốc tế, vừa kinh tởm vừa vô lý". Viết vào năm 1965, ông điểm lại dẫn lộ đưa đến chiến tranh: "Nó vụng về, tàn nhẫn, khinh suất và thiếu cân nhắc. Từng bước từng bước, phương Tây đã mắc sai lầm và loạng choạng rơi vào một tình thế tiến thoái lưỡng nan mà họ không sao hiểu thấu không sao thực sự nhận ra: ngay từ đầu, họ đã viện những cái cớ sáo rỗng".

Bạo lực trong những năm tháng dài vẫn còn hiện diện nơi những người thời đó từng thống khổ vì bị vây hãm nặng nề. Trong một căn nhà nhỏ ở Sài Gòn, như nhiều người Việt quen gọi là thành phố Hồ Chí Minh, một cựu du kích quân cộng sản nhớ lại các máy bay Mỹ dội bom ầm ầm xuống các lán trại của họ trong rừng, và ông và các đồng chí phải ẩn nấp trong các hố cá nhân đào nông ra sao: "Chúng tôi đã có một thứ rượu gạo rất mạnh đến nỗi anh mà uống vào, có khi sẽ phải ứa nước mắt đấy. Chúng tôi thường gọi nó là "nước mắt của quê hương". Nó giúp chúng tôi hết sợ"

Mỹ đã thả lượng chất nổ có sức công phá lớn xuống chiến trường Việt Nam nhiều hơn lượng mà đồng minh đã dùng trên Đức và Nhật Bản trong Đệ Nhị Thế Chiến. Họ còn thả napalm đặc, có đặc tính bám dính vào cơ thể nạn nhân và làm bỏng da; phốt pho trắng, có tính đốt cháy đến tận xương; bom phân mảnh, thứ bắn vòng bi và mảnh ra mọi hướng; và 73 triệu lít hóa chất độc hại, bao gồm 43 triệu lít chất độc da cam, đã giết chết thảm thực vật và gây bệnh tật cho bất cứ ai tiếp xúc với nó.

Tệ hơn, Mỹ còn ném bom Hà Nội - một thành phố thuần dân sự không có khả năng không lực để tự vệ. Một người đàn bà lúc đó mới lên tám nhớ là đã ngụy trang đơn sơ với một nhánh lá trên lưng để chống đỡ những đợt oanh tạc của phản lực cơ siêu thanh F-111 – một loại phi cơ oanh tạc bay với tốc độ gấp đôi tốc độ âm thanh. Một người đàn ông từng là lính pháo binh ở một khẩu đội pháo chống máy bay nói ông về nhà sau một đêm phòng thủ không kết quả để chứng kiến khu xóm ông ở đã bị san bằng: dấu hiệu duy nhất để ông nhận dạng đứa con trai là nhờ ở vết sẹo trên một cẳng chân đã bị đứt lìa.

Các cuộc tấn công của Mỹ trên bộ mới đúng là kinh khủng. Một nông dân kể lại, dạo cuối những năm 60, bà đang ngồi yên ở nhà sàn bằng đất nung, trong một ngôi làng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Mẹ kế của bà đang làm đồng gần đó, đã mắc sai lầm là bỏ chạy khi tiếng gầm inh tai như dội xuống đầu của máy bay trực thăng Mỹ: thế là một phi đạn rocket đã phóng trúng chẻ người bà vỡ ra từng mảnh văng vào một thân cây dừa. "Chúng tôi đã phải đi nhặt nhạnh những mảnh vụn đó lại trong đó có cả một hàm răng nữa". Trực thăng vũ trang cũng phải giết chết thêm ba anh em khác của bà nữa là ít, bà kể. Trong những năm sau đó, bà nói thêm, bà vẫn không ngủ được, và đầy kinh hãi khi nghe thấy bất kỳ âm thanh nào của máy bay trực thăng”.

Nhiều người Mỹ cứ tưởng rằng cuộc thảm sát khét tiếng dân làng Mỹ Lai mới là một sự kiện độc đáo hiếm hoi, nhưng ký giả Nick Turse đã tìm thấy một sự thật khác trong Cục lưu trữ quốc gia Hoa Kỳ vào tháng Sáu năm 2001. Ông sưu lục lại các tài liệu ghi nhận những phát hiện của một Đơn vị Đặc nhiệm bí mật Hoa Kỳ, Nhóm Công tác Tội ác Chiến tranh Việt Nam. Nó cho thấy quân đội đã chứng minh có tới hơn 300 chứng cứ khẳng định các vụ thảm sát, giết người, hãm hiếp và tra tấn bởi quân nhân Mỹ.

Turse đến thăm Việt Nam sau đó. Viết trong sách của mình “Giết Bất Cứ Gì Chuyển Động”, ông kể lại một lần cố tìm đến vị trí diễn ra vụ 20 phụ nữ và trẻ em bị sát hại trong một làng ở Tây Nguyên theo một tập tài liệu ông sưu lục có nói tới. Ông kể, khi được dân địa phương ấy dẫn đi, chỉ mới trong một vùng nhỏ hẹp thôi mà đã tình cờ gặp một đài tưởng niệm năm vụ thảm sát khác: "Tôi tưởng như mình đang tìm kiếm một cây kim trong một đống cỏ chứ đâu ngờ lại tìm được cả đống kim"
Ông kết luận, cùng với sự coi thường yếu tố chủng tộc qua biểu hiện màu da, cộng với áp lực chính thức nâng cao số lượng "giết chóc", cộng với việc chỉ định vùng “tự do bắn” ở thôn quê đã mặc nhiên đồng nghĩa với việc “giết hại thường dân lan rộng, thường xuyên và liên quan trực tiếp đến chính sách cố ý của Mỹ ".

Những người còn sống sót đôi khi bị bắt làm tù binh và bị cưỡng bách ngược đãi nặng nề. Năm 1970, một nhóm các dân biểu Hoa Kỳ đến thăm nhà tù Côn Đảo khét tiếng. Ở đó, họ tìm thấy nhiều đàn ông đàn bà bị xích trong "chuồng cọp", bị bỏ đói, bị đánh đập, tra tấn và bắt phải ăn côn trùng. Khi dư luận phản ứng vì biết được những sự thật này, nhà tù liền thôi không mở cửa nữa.

* * *

Khoảng một vài năm trước đây, các nhà báo trong nhóm những tờ báo lớn ở Sài Gòn thường ghé lại gọi cà phê từ một người phụ nữ đáng yêu, cô ngồi cả ngày trên vỉa hè trước văn phòng tòa báo. Hầu như chẳng mấy ai biết cô tên gì. Họ cứ gọi cô là “Cà phê Lady”. Cô cũng có câu chuyện nhỏ của riêng mình về chiến tranh mà hầu như chủ yếu là về những gì xảy ra từ khi hòa bình lập lại. Đây là nội tình khả dĩ diễn giải những dối trá của đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.

Cô nhớ lại ngày giải phóng: niềm mừng vui vì chiến tranh đã hết; niềm tự hào tuyệt đối rằng phe cộng sản đã đánh bại đội quân lớn nhất trong lịch sử thế giới, và niềm kỳ vọng vào một cuộc sống tốt hơn. Cũng có nỗi hãi sợ nữa. Có những đồn đại về sự trả thù khốc liệt và cướp đoạt. “Cà phê Lady” lo lắng những kẻ phát rồ dễ dàng nhặt được những khảu súng nằm vương trên đường phố. Rồi cô thấy buồn vì chợt nhớ tới một cái cớ rất riêng.

Vài năm trước, cô làm nữ tiếp viên trên một căn cứ Mỹ tại ven biển Vũng Tàu, gần Sài Gòn, ở đó cô đã gặp một người lính tên là Ronald. Anh ở New York, bay qua Việt Nam và Campuchia trong những phái bộ giám sát. Họ đã phải lòng nhau. Chẳng bao lâu sau anh được cử về Mỹ, và viết thư cho cô ngay nói rằng anh sẽ bảo lãnh cho cô đoàn tụ với anh. Sau đó cô chẳng thấy thư từ gì nữa nên cô đoán rằng anh không có cơ hội về với cô nữa. Sợ giữ những lá thư của Ronald sẽ mang họa với chế độ mới, cô đành đem đốt hết và không còn nghe tin gì về anh nữa. Nhiều năm sau, khi đã 64 tuổi, tóc đã bắt đầu điểm bạc và lòng thôi dậy sóng, cô ngồi lặng lẽ bên ngoài một ngôi chùa Phật giáo mà gặm nhấm nỗi buồn.

“Cà phê Lady” chẳng đứng về bên nào trong cuộc tương tranh. Cô chỉ đơn giản là một người phụ nữ Việt yêu một người đàn ông Mỹ và mong cầu một cuộc sống đàng hoàng. Cô chẳng mấy lúc được dễ thở từ ngày giải phóng đến. Lúc đầu, cô tìm được việc làm ở một trong những hợp tác xã mới lập. Cô vùi đầu vào bàn máy may ở đó suốt 11 giờ mỗi ngày, thù lao chẳng nhiều hơn một tem phiếu khẩu phần lương thực với một lượng ít ỏi gạo kém phẩm chất, và thịt thì còn ít hơn nữa. Trong nhiều năm qua, cô phải ở chung trong ngôi nhà nhỏ với anh trai cô, người cũng lăn cả ngày trong một xưởng dệt khác. Trong vòng chục năm sau [1975] nền kinh tế trở nên lụn bại. "Cuộc sống quả là khó khăn ngay cả với những người bình thường" cô nói.

Mỹ rút đi bỏ lại một Việt Nam điêu tàn. Đường bộ, đường sắt, cầu cống, kênh mương đã bị bom đạn tàn phá. Đạn pháo và mìn chưa nổ còn rải rác khắp các vùng nông thôn, thường nằm chìm dưới nước trong những ruộng lúa nơi nông dân thường phải làm việc lao nhọc. Năm triệu ha rừng đã bị hủy sự sống bởi những trận oanh tạc và chất độc da cam. Chính phủ mới cho rằng, hai phần ba làng mạc ở miền Nam đã bị phá hủy. Tại Sài Gòn, những gì Mỹ để lại là hàng đàn trẻ mồ côi lang thang trên đường phố và nạn dịch ma túy. Trên toàn quốc, chính phủ mới ước tính phải đối phó với 10 triệu người tị nạn, 1 triệu góa phụ chiến tranh, 880.000 trẻ mồ côi, 362.000 thương binh, và 3 triệu người thất nghiệp.

Nền kinh tế đang rối loạn. Đến thời điểm ngày giải phóng, lạm phát đã lên đến 900%, và Việt Nam - một đất nước đầy ruộng lúa - đã phải nhập cảng gạo. Trong hòa đàm Paris, Hoa Kỳ đã đồng ý trả 3,5 tỷ đô la Mỹ viện trợ tái thiết để hàn gắn các cơ sở hạ tầng đã bị hư hoại. Không một xu nào được trả hết. Như cố ý xúc phạm thêm vào cảnh bần cùng, Mỹ lại khởi sự đòi chính phủ cộng sản phải trả hàng triệu đô la đã vay bởi chế độ Sài Gòn cũ, kẻ cựu thù của cộng sản. Trong khi Việt Nam khẩn thiết mong thế giới cung ứng thương mại và viện trợ hầu vực dậy nền kinh tế thì Mỹ đã làm hết sức mình để ngăn cản việc đó.

Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, Mỹ đã áp đặt một lệnh cấm vận thương mại, cô lập cái xứ sở vừa bị chiến tranh tàn phá, khỏi những lĩnh vực xuất nhập cảng không chỉ với Mỹ, mà còn với các quốc gia khác chịu áp lực của Mỹ. Hơn nữa, Mỹ còn nương vào các hội đoàn đa phương bao gồm IMF, Ngân hàng Thế giới và Unesco để khước từ viện trợ cho Việt Nam. Mỹ thừa nhận rằng chất độc màu da cam có khả năng gây bệnh tật và dị tật bẩm sinh nghiêm trọng và đồng ý trả 2 tỷ đô la bồi thường - nhưng khoản ấy chỉ dành cho các cựu chiến binh của chính mình. Còn các nạn nhân Việt - hơn 2 triệu người – thì hoàn toàn không có gì.

Chẳng hiểu sao mà cái mô hình kinh tế như thế lại có thể sống còn trong thù địch vây quanh. Nhất định cái đề án xã hội chủ nghĩa của Việt Nam đang trên đà sụp đổ. Nó bê nguyên xi chính sách cứng nhắc của Liên Xô mà ép người nông dân canh tác phải chuyển giao vụ mùa họ thu hoạch được chỉ để đổi lấy cái tem phiếu lương thực. Khi không có động lực sản xuất, thì nguồn cung phá sản, lạm phát tăng trở lại với khuynh hướng đạt mức thời chiến, và đất nước một lần nữa đã phải nhập cảng gạo. Vào đầu năm 1980, những kẻ cầm quyền đã buộc phải cho phép những người nông dân bung ra bán sản phẩm dư thừa, tức cũng đồng nghĩa với việc tái sinh chủ nghĩa tư bản. Vào cuối những năm 80, đảng này đã chính thức áp dụng ý tưởng gọi là "một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".

Sự chuyển đổi này cho phép các “Cà phê Lady” bỏ nhà máy dệt năm 1988 để trở thành một nhà kinh doanh. Mỗi sáng, cô dậy lúc 4 giờ sáng để chuẩn bị cà phê cho đúng giờ để qua thành phố. 5 giờ là cô đã ngồi trên ghế ngoài tòa báo. Quanh cô có biết bao thay đổi trong những năm 1990. Nhà đầu tư ngoại quốc được phép dự phần và các doanh nghiệp tư nhân được khuyến khích - thương mại tự do, thị trường tự do, người này sinh lợi thì người khác cũng được hưởng lây. Ở hậu trường, chính phủ đã gửi tín hiệu thỏa hiệp đến Washington. Chẳng còn đòi hỏi yêu cầu khoảng 3,5 tỷ đô la bồi thường chiến tranh hay bồi thường nạn nhân chất độc da cam. Thậm chí họ còn đồng ý trả nợ chiến phí của chế độ Sài Gòn cũ khoảng 146 triệu đô la. Năm 1994, Mỹ đã dịu dần và dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại đã bóp nghẹt Việt Nam trong gần 20 năm. Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ thế giới IMF và các nhà tài trợ khác đã bắt đầu trợ giúp. Nền kinh tế bắt đầu tăng trưởng đến 8,4% một năm, và Việt Nam mau chóng trở thành một trong những nhà xuất cảng lúa gạo lớn nhất thế giới.

Có điều đáng nói là trong suốt những năm 1990, vẫn còn có những phe phái mạnh trong đảng cộng sản ra sức kìm giữ chủ nghĩa xã hội và chống lại xu hướng thời đại thiên về chủ nghĩa tư bản. Cho dù kinh tế rối loạn, họ đã thành công phần nào việc xóa đói giảm nghèo. Khi chiến tranh kết thúc, 70% người dân Việt Nam sống dưới mức thực sự nghèo. Đến năm 1992 là 58%. Năm 2000 là 32%. Đồng thời, chính phủ đã lập được một hệ thống trung học địa phương và tiểu học phổ cập; họ cũng đã dựng được một hạ tầng y tế chăm sóc sức khỏe miễn phí. Có lúc phe xã hội chủ nghĩa vẫn có đủ lực lấn át để chỉ đạo các phương tiện tư bản mới. Trong đoạn cuối năm 1990, Ngân hàng Thế giới đề ra các khoản vay bổ sung trị giá hàng trăm triệu đô la với điều kiện Việt Nam chịu sang nhượng công ty quốc doanh và cắt giảm thuế quan thương mại. Thương lượng nào cũng không thành.

Nhưng từ năm 2000, tốc độ thay đổi nhanh hơn và cán cân chính trị cũng đổi chiều. Bị áp lực liên tục bởi các chỉ trích của giới tài trợ quốc tế và các nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam chấp thuận bán lại công ty quốc doanh. Họ cũng nhắm tới một thỏa thuận thương mại với Mỹ mà đỉnh cao là vào năm 2006 khi Việt Nam được chuẩn thuận gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đồng nghĩa với triển vọng thu được nhiều đầu tư và viện trợ nước ngoài hơn trước. Ba thập kỷ sau chiến thắng của cộng sản, Việt Nam phải hòa mình vào nền kinh tế tư bản toàn cầu. Cuối cùng phương tây đã thắng.

Trên vỉa hè Sài Gòn, “Cà phê Lady” đã chứng kiến hết những chuyển biến đang phô bày, thế nhưng cô chẳng thấy có gì thay đổi trong cuộc sống của cô. "Cũng cách mưu sinh đó, cũng ở căn phòng đó," cô nói. "Các cửa tiệm bày nhiều hàng hóa hơn, nhưng giá cả tăng không ngừng. Đất nước đã thay đổi, nhưng không phải dành cho những người như tôi. Nhiều người có các mối quan hệ quen biết nhiều thì trở nên giàu hơn". Trong bao nhiêu năm, cô vẫn kết chặt với cùng một thương hiệu cà phê do Việt Nam sản xuất, Trung Nguyên. Trong bấy nhiêu năm cô vẫn nghèo còn người chủ sở hữu của công ty [Trung Nguyên] thì cất cánh với xu hướng mới của doanh nghiệp tự do mà tài sản ước định khoảng 100 triệu USD.

* * *

Nguyễn Công Khế vốn đã yên vị trong một văn phòng trên thành phố. Ông ta làm biên tập báo Thanh Niên, là tòa báo mà vỉa hè phía trước là nơi “Cafe Lady” chăm chỉ buôn bán đã bao năm. Trong cương vị biên tập, Khế đã lật tung vài nhân vật có thế lực, phơi bày mối liên hệ giữa một băng nhóm phi pháp ở Sài Gòn với các quan chức nhà nước cấp cao, sau đó cho đăng báo chuyện bê bối gộc liên can tới người nhà của các quan chức thông đồng nhau để ăn cắp công quỹ. Khế đã làm một việc làm đầy rủi ro. Việt Nam áp dụng một hệ thống kiểm duyệt thô thiển mà chính thức, bằng cách gọi điện thoại cho các biên tập viên mỗi tuần - vào các ngày thứ Ba và thứ Năm tại Hà Nội ở Sài Gòn – ra lệnh làm ngơ hoặc che đậy những gì cần che giấu. Kết quả những công sức kia là Khế bị sa thải năm 2008.

Trong tháng mười một năm ngoái, Khế lại làm một mạo hiểm khác khi mượn đường tờ New York Times để kêu gọi chính quyền thực thi tự do báo chí. Chỉ ngồi trong văn phòng và điều hành một trang báo web, ông có thể hoạt động xa rộng hơn. Khi hiển danh mình trong lời kêu gọi này, ông tuyên bố điều mà người khác chỉ dám nói khi dấu mặt, đó là: tập đoàn lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam [ĐCS] đã phản nghịch lại sự nghiệp của họ.

"Khởi thủy, họ [ĐCS] làm cách mạng với ý tốt sao cho tạo lập được một chính quyền biết phát triển đất nước và đem lại giàu mạnh công bằng, nhưng rồi mọi thứ sai lạc hết. Những người tham gia cách mạng đã thề phải trong sạch – những người này cuối cùng đã phản bội lời thề và ý thức hệ".

Khế từng tham gia cách mạng. Là một sinh viên thời đầu thập niên 1970, ông bị lôi cuốn vào phong trào chống Mỹ và đã ngồi tù 3 năm. Là đảng viện [ĐCS] nhiều năm, ông vừa hiểu lý do vì sao giới chóp bu quyền bính phải vận dụng công cụ của chủ nghĩa tư bản để khởi động nền kinh tế, vừa thấy ra mặt tối của mãnh lực đồng tiền phóng túng mới, đó là tha hóa và bất công.

Bạn có thể nhận thấy điều đó trên đường phố. Dù cái quá khứ tối tăm mù mịt trước đó, giờ đây Sài Gòn đã bùng nổ thành một bầu khí sầm uất bán buôn. Nhưng dù sao đi nữa, như bao thành phố đang phát triển khác trên thế giới, Saigon vẫn kèm theo bao dấu hiệu đói nghèo từ mọi mặt. Đây là đường Đồng Khởi – như một ốc đảo trù phú vương giả trong lòng thành phố, nơi đây, giai tầng quyền thế mới có thể bỏ ra 500 đô la Mỹ để mua một T-shirt của Hermes, 15.000 cho một chiếc đồng hồ Versace, hoặc 65.000 cho một bữa tối riêng trong phòng với một bàn bốn ghế được nhồi lông ngỗng và bọc da bê trông như mạ vàng. Ở góc phố bên kia, khách sạn Continental bán các bữa ăn với giá tương đương với tiền lương một tuần của một công nhân, trong một nhà hàng gọi là Le Bourgeois, những thứ đó thật chẳng khác chi một cái tát ân huệ và mặt Hồ Chí Minh.

Khế cho rằng, cứ mỗi 10 đồng giao thầu cho bất kỳ dự án công nào, thì hết 7 đồng lọt vào túi riêng của ai đó. Thật thế không? Nếu vậy, 70% ngân sách nhà nước của Việt Nam đang bị đánh cắp? Đó sẽ là một hành vi ăn cắp có một tỷ lệ đáng kinh hoàng. Chúng tôi đã nói chuyện qua một người phiên dịch. Ông ấy gật đầu, lấy tay khoắng lên trời: "Giữa 50 và 70%".

Phúc trình của Tổ chức Minh bạch Quốc tế năm ngoái đã báo Việt Nam là một trong những nước tham nhũng nhất trên thế giới, còn tệ hơn 118 nước khác và chiếm số điểm 31/100 trong bản chỉ số điểm xếp hạng.

Không ai không biết rằng tham nhũng là có từ xưa. Một truyền thống lâu đời của các công chức ở Việt Nam là đem ảnh hưởng của họ và ưu thế gia tộc ra mà bán chác. Nhưng người ta cũng chỉ rõ dưới sự lãnh đạo hiện nay thì tham nhũng mới đạt đến một tầm mức kỷ lục mới. Ai cũng nói rằng tham nhũng lan tràn chính nhờ ở việc tư nhân hóa các công ty nhà nước lớn từ đó đã nẩy sinh cơ hội cho các quan chức cậy thế mạnh đã dễ dàng bổ nhiệm chính bản thân cũng như người nhà của họ vào chiếm những vị trí điều hành chủ chốt. Học giả người Anh Martin Gainsborough đã dành nhiều năm nghiên cứu thực địa ở Việt Nam cho công trình khảo cứu về phát triển ở Đông Nam Á của mình, đã viết: "Thay vì thúc đẩy “đổi mới”, các quan chức đã chạy theo những cám dỗ quá lớn của nạn mua quan bán chức tràn lan ... Càng nói “đổi mới” thực ra là càng nhiều phe nhóm đấu đá chính trị-kinh doanh hòng giành quyền kiểm soát tài chính và các nguồn lực khác mà thôi"


Khoảng ba tháng gần đây xuất hiện một trang web khác thường có tên là Chan Dung Quyen Luc ("Portrait of Power") đã công khai những cáo buộc chi tiết về tư cách đạo đức của đích danh những người trong thượng tầng quyền lực Việt Nam. Trang web còn trữ nhiều khẳng định với đầy đủ tài liệu kèm theo như các văn bản, các file âm thanh và cảnh quay video. Chưa có ai lên tiếng xác nhận gì về trang web này nhưng giới quan sát cho rằng đó là sản phẩm của một nhân vật có thế lực hàng đầu dùng thông tin nội bộ để đánh hạ đối thủ. Dù chỉ cung cấp ít nhiều dữ kiện nhưng sự việc này như khẳng định với công luận tình trạng biển thủ nhũng lạm trộm cắp khổng lồ còn đang nấp trong bóng tối.

Trang web tấn công một nhân vật chóp bu, nêu rõ rằng một cán bộ địa phương đã đem giao tận nhà ông ta một vali 1 triệu đô la Mỹ tiền mặt, đổi lại, ông đã lờ đi cho một công ty bất động sản vốn đã tham gia một "chương trình phát triển khổng lồ" khỏi phải nộp 150 triệu đô la tiền thuế. Công ty này còn biếu tặng ông ta và các quan chức địa phương nhiều biệt thự. Cũng trang web này đã điểm thẳng mặt hai nhân vật chóp bu khác, nêu rõ một người đã đình chỉ truy tố của một nhân viên ngân hàng tham nhũng, và hiện đang bị đầu độc, còn người kia đã điều chuyển 1 tỷ đô la Mỹ từ một công ty nhà nước vào tài khoản ngân hàng của em gái mình, người em gái này đang nắm quyền điều hành 20 doanh nghiệp khác. Nó cũng cáo buộc một nhân vật chóp bu quân đội mượn đường công ty của con trai mình để bán đất quân đội mà thu lợi cá nhân. Với trường hợp người này, trang web còn công khai trưng ra bức thư -từ nhân viên ngân hàng- đã khẳng định chính ông ta có chia phần trong một "đường dây tham nhũng cực kỳ quy mô", với các tài khoản ngân hàng trị giá tới hàng triệu đô la.

Đôi khi nhà nước cũng thừa nhận có tệ tham nhũng và có trấn áp. Trong phiên tòa cấp cao vào cuối năm ngoái, bốn giám đốc điều hành công ty nhà nước đã bị kết án tử hình vì tội hối lộ và gian lận; hai người khác bị kết án chung thân. Khế không tin rằng những phiên tòa này giải quyết được vấn nạn tham nhũng tràn lan. Anh nhún vai: "Chúng tôi đã trả giá bằng hàng triệu mạng sống cho độc lập và công bằng. Khi còn ở trong tù tôi tưởng tham nhũng sẽ bị quét sạch sau chiến tranh, nào ngờ điều đó đã không xảy ra. Vì đất nước phải tiếp tục phát triển nên chúng tôi không chống những ai làm giàu chân chính nhưng không thể nhắm mắt làm ngơ cho những kẻ trục lợi bất chính khiến dân chúng đã nghèo lại càng nghèo hơn"

Về chuyện đó, Khế nhấn mạnh với vẻ biểu cảm đau lòng. Dù vẫn còn đây những ghi nhận thành tựu trong phổ cập kinh tế tạm gọi là đồng đều, nhưng hiện Việt Nam không còn đứng về phía người nghèo như nó đã từng làm. Một báo cáo năm 2012 cho Ngân hàng Thế giới ghi nhận rằng "vấn nạn bất công đang tái xuất hiện trên chương trình nghị sự". Giữa năm 2004 và 2010, thu nhập của người nghèo nhất -chiếm 10% dân số- đã giảm đi một phần năm, trong khi những người giàu nhất – chiếm 5% ở Việt Nam- hiện chiếm gần một phần tư tổng lợi tức.


Ở các vùng nông thôn là nơi bất công tồi tệ nhất. Hàng triệu nông dân đã bị đẩy ra khỏi ruộng đất của mình để nhường chỗ cho các nhà máy, đường giao thông. Trong những năm 90, gần như tất cả các hộ gia đình nông thôn (91,8%) đều có đất đai. Đến năm 2010, gần một phần tư trong số họ (22,5%) mất đất. Một luồng nông dân nghèo không ngừng tăng đã đổ vào các thành phố, nơi họ nhập bầy lao động thặng dư với hàng trăm hàng ngàn người lao động bị các chủ sở hữu tư nhân (của những công ty quốc doanh cũ lập ra) sa thải trước đó để cắt giảm chi phí. Làn sóng người nam lẫn nữ đã quy tụ hết vào "khu vực kinh tế phi chính thức" – vốn ẩn đi trong những hãng xưởng tại nhà riêng, hoặc ngồi bán buôn trên vỉa hè – hoặc cuốn vào đoàn người vật vờ nơi các khu công nghiệp mới hay các khu chế xuất.

Trong khu vực kinh tế phi chính thức thì công nhân đừng mong được bảo hộ quyền lợi gì sất. Trong các khu công nghiệp, việc bảo hộ còn tệ hại hơn nhiều. Giáo sư Angie Tran Ngọc là một chuyên gia nghiên cứu về lao động ở Việt Nam, diễn giải trong sách Ties That Bind của bà rằng luật lao động của nước này - nơi từng nổi tiếng tiến bộ - đã trở nên lạc hậu, một phần là kết quả của vận động hành lang của các nhóm như Phòng Thương mại Hoa Kỳ. Các công đoàn do nhà nước bảo trợ đã chẳng làm nên tích sự gì, chưa bao giờ có một cái gì được gọi là đình công cả. Tran kết luận: "Tăng vốn vào Việt Nam bằng cách đầu tư nước ngoài và tư nhân hóa các doanh nghiệp quốc doanh đang biến nhà nước ngày càng chẳng còn chút gì là một chính quyền đại diện cho dân. Lắm khi một số cơ quan và các tổ chức nhà nước còn về bè với đám tư bản nữa"

Mỗi công nhân được bảo đảm với một mức lương tối thiểu. Ban đầu, vào năm 1990, việc này đã được thiết lập ở mức độ phù hợp "tiền lương đủ sống" - có nghĩa là nó có thể trang trải được cho một mức sống thiết yếu. Nhưng trong những năm qua, vì sợ mất đi nguồn vốn đầu tư nước ngoài, Chính phủ đã đồng ý thôi áp dụng chính sách đó, chủ hãng xưởng được phép cắt giảm lương, hạn định lương và cân đối lương công nhân theo với đà lạm phát; kết quả là vào tháng tư năm 2013, công đoàn của chính nhà nước đã phản đối rằng mức lương hiện nay của công nhân chỉ trang trải được có 50% chi phí thiết yếu cho đời sống. Với hầu hết công nhân ở thành phố, Liên đoàn cho biết, đã "nghèo khó và gầy còm đi tệ hại... Họ thuê những phòng ở tồi tàn rẻ mạt, và tiết giảm chi tiêu hàng ngày đến mức tối đa... khiến họ bị suy dinh dưỡng trầm trọng và nguy cơ sức khỏe bị đe dọa nặng nề"

Trong khi đó, y tế và giáo dục không còn miễn phí như trước. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới lưu ý rằng "thu nhập đang bắt đầu chiếm vị thế quyết định ai là người có khả năng dùng những dịch vụ cơ bản", và rằng chính phủ đã chi đáng kể để xây thêm bệnh viện dành cho người có thu nhập khá và bỏ lơ không đoái hoài tới các trung tâm y tế công dành cho người nghèo.

Mà Việt Nam nào phải kẻ bất tài vô dụng. Phục hồi kỳ diệu từ chiến tranh, đặc biệt là xóa được đói giảm được nghèo trong khi các nước phát triển như Anh không làm được. Nhưng thực tế giờ đây thành tựu đó đã kết thúc với sự tồi tệ nhất của hai hệ thống: nhà nước xã hội chủ nghĩa độc tài và ý hệ tân tự do phóng túng; cả hai đã cấu kết với nhau cướp sạch túi tiền và quyền lợi của người dân Việt trong khi một nhúm nhỏ ở thượng tầng quyền lực tay vơ đầy túi, mồm tụng kinh cách mạng. Cuối cùng chỉ có dối trá là vĩ đại hơn cả. Thủ thắng trong chiến tranh nhưng bị đánh bại trong hòa bình, những lu loa của những nguyên thủ Việt Nam về con người xã hội chủ nghĩa như những trò tuyên truyền trơ trẽn. Một cựu du kích đã liều mạng tuyên bố: "Chúng là những tên tư bản đỏ"


Bản quyền (copyright) thuộc về Thư Viện Phạm Văn Thành (TV PVT) - ©TV PVT 2015

Xin bạn đọc đối chiếu nguyên văn ở Nguồn: The Guardian April 22, 2015

-